Tính cần thiết của chuyên đề Phát huy giá trị tài liệu lưu trữ là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong thời gian gần đây để chỉ các hoạt động nghiên cứu, khai thác các thông tin có giá trị từ tài liệu lưu trữ nhằm phục vụ các lợi ích của xã hội. “Tài liệu lưu trữ là một trong những nguồn di sản văn hóa có giá trị đặc biệt của mỗi dân tộc. Tài liệu lưu trữ chỉ thật sự phát huy giá trị khi được khai thác sử dụng để phục vụ các mặt hoạt động khác nhau của đời sống xã hội”. Nói cách khác, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ là thông qua các hình thức tổ chức sử dụng tài liệu để đưa các giá trị thông tin từ tài liệu lưu trữ vào thực tiễn cuộc sống, nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước.“Vậy, có thể hiểu phát huy giá trị tài liệu lưu trữ chính là các hoạt động nghiên cứu, khai thác thông tin có giá trị từ tài liệu lưu trữ nhằm phục vụ các lợi ích của xã hội, nói cách khác, sử dụng tài liệu để đưa các giá trị thông tin từ tài liệu vào thực tiễn cuộc sống, đến gần hơn với công chúng, đáp ứng nhu cầu của người khai thác, sử dụng, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, góp phần bảo vệ đất nước”.Bảo quản an toàn và phát huy hiệu quả giá trị tài liệu lưu trữ luôn là hai mục tiêu lớn của ngành Lưu trữ nói chung. Trong những năm trước đây, do điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất còn gặp nhiều khó khăn, các hoạt động lưu trữ chủ yếu tập trung cho việc bảo quản an toàn, xử lý sắp xếp khoa học tài liệu lưu trữ. Vì vậy, công tác phát huy giá trị tài liệu hầu như chưa được quan tâm thỏa đáng. Những năm gần đây, trong xu thế phát triển chung của đất nước cũng như nhu cầu tiếp cận thông tin ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi công tác phát huy giá trị tài liệu lưu trữ cần phải được đẩy mạnh trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, đặc biệt là trong bối cảnh khoa học công nghệ đang phát triển ngày mạng mẽ ở Việt Nam, đây là cũng là mục tiêu chung được đặt ra trong một số buổi tọa đàm có nội dung liên quan đến chủ đề “Cách mạng công nghiệp 4.0 và những tác động đến công tác văn thư lưu trữ” do Bộ Nội vụ chủ trì trong năm 2018 và cũng là để phát huy tinh thần Củng cố “Văn thư – Lưu trữ truyền thống”, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương thức phát huy giá trị tài liệu, sẵn sàng cho lưu trữ điện tử.Ở Việt Nam, ngày 0172014, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số: 36NQTW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Các Lưu trữ lịch sử ở Việt Nam hiện nay đều rất tích cực trong việc phát huy giá trị tài liệu lưu trữ vì mục đích sau cùng của các Lưu trữ lịch sử khi chính là làm mọi cách để lan tỏa giá trị đặc biệt của tài liệu lưu trữ đến với mọi đối tượng độc giả trong xã hội.“Tài liệu lưu trữ là một trong những nguồn di sản văn hóa có giá trị đặc biệt của mỗi dân tộc. Tài liệu lưu trữ chỉ thật sự phát huy giá trị khi được khai thác sử dụng để phục vụ các mặt hoạt động khác nhau của đời sống xã hội”.Mặt khác, sự phát triển của công nghệ thông tin cũng đang đặt ra cho các Lưu trữ lịch sử những cơ hội và thách thức mới trong việc thu hút công chúng tích cực tham gia tổ chức khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ nhằm thực hiện hóa sứ mệnh phát huy giá trị tài liệu lưu trữ.“Vì thế phát huy giá trị tài liệu lưu trữ là một yêu cầu trọng tâm, đặt ra cho các Trung tâm Lưu trữ quốc gia nhiệm vụ tìm kiếm và lựa chọn biện pháp phát huy giá trị tài liệu lưu trữ hiệu quả”. Do đó, chuyên đề thực tập tốt nghiệp năm tư được thực hiện bởi các lí do sau đâyThứ nhất, việc ứng dụng công nghệ thông tin để phát huy giá trị tài liệu lưu trữ tại các Trung tâm Lưu trữ quốc gia nói riêng đang trở nên cần thiết hơn bao giờ hếtNhững năm gần đây, trong xu thế phát triển chung của đất nước cũng như nhu cầu tiếp cận thông tin ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi công tác phát huy giá trị tài liệu lưu trữ cần phải được đẩy mạnh trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, đặc biệt là trong bối cảnh khoa học công nghệ đang phát triển ngày mạng mẽ ở Việt Nam, đây là cũng là mục tiêu chung được đặt ra trong một số buổi tọa đàm có nội dung liên quan đến chủ đề “Cách mạng công nghiệp 4.0 và những tác động đến công tác văn thư lưu trữ” do Bộ Nội vụ chủ trì trong năm 2018 và cũng là để phát huy tinh thần Củng cố “Văn thư – Lưu trữ truyền thống”, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương thức phát huy giá trị tài liệu, sẵn sàng cho lưu trữ điện tử.Ở Việt Nam, ngày 0172014, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số: 36NQTW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Các Lưu trữ lịch sử ở Việt Nam hiện nay đều rất tích cực trong việc phát huy giá trị tài liệu lưu trữ vì mục đích sau cùng của các Lưu trữ lịch sử khi chính là làm mọi cách để lan tỏa giá trị đặc biệt của tài liệu lưu trữ đến với mọi đối tượng độc giả trong xã hội.“Tài liệu lưu trữ là một trong những nguồn di sản văn hóa có giá trị đặc biệt của mỗi dân tộc. Tài liệu lưu trữ chỉ thật sự phát huy giá trị khi được khai thác sử dụng để phục vụ các mặt hoạt động khác nhau của đời sống xã hội”.Mặt khác, sự phát triển của công nghệ thông tin cũng đang đặt ra cho các Lưu trữ lịch sử những cơ hội và thách thức mới trong việc thu hút công chúng tích cực tham gia tổ chức khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ nhằm thực hiện hóa sứ mệnh phát huy giá trị tài liệu lưu trữ.Thứ hai, các Trung tâm Lưu trữ quốc gia có nhu cầu cần được tiếp cận với những lý thuyết mới và biện pháp mới nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát huy giá trị tài liệu lưu trữ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LƯU TRỮ HỌC VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
VẬN DỤNG CÔNG NGHỆ TĂNG CƯỜNG THỰC TẾ ẢO AR TRONG VIỆC ĐA DẠNG HOÁ CÁC HÌNH THỨC TRUYỀN THÔNG MARKETING
LƯU TRỮ (QUA KHẢO SÁT THỰC TẾ VÀ NGHIÊN CỨU TẠI TRUNG TÂM LƯU
TRỮ QUỐC GIA III)
Giảng viên:
Sinh viên: Đinh Trung Hiếu Lớp: K62 Lưu trữ học Khoa: Lưu trữ học và Quản trị văn phòng
Mã sinh viên: 17032261
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp này, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ nhiệt tình từ các cán bộ đang làm việc tại Trung tâm Lưu trữ quốcgia III và các thầy cô của Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt đến đến giảng viên hướng dẫncủa tôi là TS Trần Phương Hoa và thầy Nguyễn Trung Đức, hai người đã dẫn dắtchúng tôi trong suốt đợt thực tập tốt nghiệm
Có thể kinh nghiệm của một sinh viên năm ba trong việc thực hiện chuyên
đề nghiên cứu khoa học chưa có nhiều cũng như công việc khảo sát, tiếp cận kiếnthức chuyên ngành cho đến tìm kiếm tài liệu vẫn còn quá nhiều hạn chế, vậy nênchắc chắn sẽ có không hề ít sự sai sót và tôi mong sẽ nhận được nhiều ý kiến đónggóp của thầy cô, anh chị, các bạn
Tôi xin được cảm ơn!
Hà Nội ngày 23 tháng 11 năm 2020 Sinh viên khóa K62 chuyên ngành Lưu trữ học
Đinh Trung Hiếu
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cần thiết của chuyên đề
Phát huy giá trị tài liệu lưu trữ là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biếntrong thời gian gần đây để chỉ các hoạt động nghiên cứu, khai thác các thông tin cógiá trị từ tài liệu lưu trữ nhằm phục vụ các lợi ích của xã hội
“Tài liệu lưu trữ là một trong những nguồn di sản văn hóa có giá trị đặc biệt của mỗi dân tộc Tài liệu lưu trữ chỉ thật sự phát huy giá trị khi được khai thác sử dụng để phục vụ các mặt hoạt động khác nhau của đời sống xã hội”.
Nói cách khác, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ là thông qua các hình thức tổchức sử dụng tài liệu để đưa các giá trị thông tin từ tài liệu lưu trữ vào thực tiễncuộc sống, nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệđất nước
“Vậy, có thể hiểu phát huy giá trị tài liệu lưu trữ chính là các hoạt động nghiên cứu, khai thác thông tin có giá trị từ tài liệu lưu trữ nhằm phục vụ các lợi ích của xã hội, nói cách khác, sử dụng tài liệu để đưa các giá trị thông tin từ tài liệu vào thực tiễn cuộc sống, đến gần hơn với công chúng, đáp ứng nhu cầu của
Trang 5người khai thác, sử dụng, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, góp phần bảo vệ đất nước”.
Bảo quản an toàn và phát huy hiệu quả giá trị tài liệu lưu trữ luôn là hai mụctiêu lớn của ngành Lưu trữ nói chung Trong những năm trước đây, do điều kiệnkinh tế, cơ sở vật chất còn gặp nhiều khó khăn, các hoạt động lưu trữ chủ yếu tậptrung cho việc bảo quản an toàn, xử lý sắp xếp khoa học tài liệu lưu trữ Vì vậy,công tác phát huy giá trị tài liệu hầu như chưa được quan tâm thỏa đáng
Những năm gần đây, trong xu thế phát triển chung của đất nước cũng nhưnhu cầu tiếp cận thông tin ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi công tác phát huy giátrị tài liệu lưu trữ cần phải được đẩy mạnh trên nền tảng ứng dụng công nghệ thôngtin hiện đại, đặc biệt là trong bối cảnh khoa học công nghệ đang phát triển ngàymạng mẽ ở Việt Nam, đây là cũng là mục tiêu chung được đặt ra trong một số buổitọa đàm có nội dung liên quan đến chủ đề “Cách mạng công nghiệp 4.0 và nhữngtác động đến công tác văn thư - lưu trữ” do Bộ Nội vụ chủ trì trong năm 2018 vàcũng là để phát huy tinh thần Củng cố “Văn thư – Lưu trữ truyền thống”, đẩy mạnhứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương thức phát huy giá trị tài liệu, sẵnsàng cho lưu trữ điện tử
Ở Việt Nam, ngày 01/7/2014, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số: NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầuphát triển bền vững và hội nhập quốc tế
36-Các Lưu trữ lịch sử ở Việt Nam hiện nay đều rất tích cực trong việc phát huygiá trị tài liệu lưu trữ vì mục đích sau cùng của các Lưu trữ lịch sử khi chính là làmmọi cách để lan tỏa giá trị đặc biệt của tài liệu lưu trữ đến với mọi đối tượng độcgiả trong xã hội
“Tài liệu lưu trữ là một trong những nguồn di sản văn hóa có giá trị đặc biệt của mỗi dân tộc Tài liệu lưu trữ chỉ thật sự phát huy giá trị khi được khai thác sử dụng để phục vụ các mặt hoạt động khác nhau của đời sống xã hội”.
Mặt khác, sự phát triển của công nghệ thông tin cũng đang đặt ra cho cácLưu trữ lịch sử những cơ hội và thách thức mới trong việc thu hút công chúng tích
Trang 6cực tham gia tổ chức khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ nhằm thực hiện hóa sứmệnh phát huy giá trị tài liệu lưu trữ.
“Vì thế phát huy giá trị tài liệu lưu trữ là một yêu cầu trọng tâm, đặt ra cho các Trung tâm Lưu trữ quốc gia nhiệm vụ tìm kiếm và lựa chọn biện pháp phát huy giá trị tài liệu lưu trữ hiệu quả” 1
Do đó, chuyên đề thực tập tốt nghiệp năm tư được thực hiện bởi các lí dosau đây
Thứ nhất, việc ứng dụng công nghệ thông tin để phát huy giá trị tài liệu lưu trữ tại các Trung tâm Lưu trữ quốc gia nói riêng đang trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Những năm gần đây, trong xu thế phát triển chung của đất nước cũng nhưnhu cầu tiếp cận thông tin ngày càng cao của xã hội, đòi hỏi công tác phát huy giátrị tài liệu lưu trữ cần phải được đẩy mạnh trên nền tảng ứng dụng công nghệ thôngtin hiện đại, đặc biệt là trong bối cảnh khoa học công nghệ đang phát triển ngàymạng mẽ ở Việt Nam, đây là cũng là mục tiêu chung được đặt ra trong một số buổitọa đàm có nội dung liên quan đến chủ đề “Cách mạng công nghiệp 4.0 và nhữngtác động đến công tác văn thư - lưu trữ” do Bộ Nội vụ chủ trì trong năm 2018 vàcũng là để phát huy tinh thần Củng cố “Văn thư – Lưu trữ truyền thống”, đẩy mạnhứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương thức phát huy giá trị tài liệu, sẵnsàng cho lưu trữ điện tử
Ở Việt Nam, ngày 01/7/2014, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số: NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầuphát triển bền vững và hội nhập quốc tế
36-Các Lưu trữ lịch sử ở Việt Nam hiện nay đều rất tích cực trong việc phát huygiá trị tài liệu lưu trữ vì mục đích sau cùng của các Lưu trữ lịch sử khi chính là làmmọi cách để lan tỏa giá trị đặc biệt của tài liệu lưu trữ đến với mọi đối tượng độcgiả trong xã hội
1
Trang 7“Tài liệu lưu trữ là một trong những nguồn di sản văn hóa có giá trị đặc biệt của mỗi dân tộc Tài liệu lưu trữ chỉ thật sự phát huy giá trị khi được khai thác sử dụng để phục vụ các mặt hoạt động khác nhau của đời sống xã hội”.
Mặt khác, sự phát triển của công nghệ thông tin cũng đang đặt ra cho cácLưu trữ lịch sử những cơ hội và thách thức mới trong việc thu hút công chúng tíchcực tham gia tổ chức khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ nhằm thực hiện hóa sứmệnh phát huy giá trị tài liệu lưu trữ
Thứ hai, các Trung tâm Lưu trữ quốc gia có nhu cầu cần được tiếp cận với những lý thuyết mới và biện pháp mới nhằm thực hiện chủ trương của Đảng
và Nhà nước về phát huy giá trị tài liệu lưu trữ
Nhận thức được giá trị của tài liệu lưu trữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, các Trung tâm Lưu trữ quốc gia đã lần lượt được ra đời nhằm thựchiện nhiệm vụ quản lý các tài liệu lưu trữ có ý nghĩa quốc gia hình thành trongnhững thời kỳ lịch sử khác nhau của đất nước Với nguồn thông tin quá khứ phongphú và đa dạng, các Trung tâm Lưu trữ quốc gia đã có nhiều đóng góp cho sự pháttriển của đất nước trong việc cung cấp các thông tin tài liệu lưu trữ phục vụ hoạtđộng kinh tế, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Nhiều tài liệu lưu trữ chứa đựngcác thông tin quan trọng đã giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết công việcnhanh chóng, chính xác Thực hiện chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát huy giátrị tài liệu lưu trữ quốc gia, các Trung tâm Lưu trữ quốc gia đã có nhiều đổi mớitích cực trong công tác tuyên truyền quảng bá và nâng cao chất lượng Tuy nhiên,
số lượng công chúng biết đến các Trung tâm Lưu trữ quốc gia và sử dụng tài liệulưu trữ chưa nhiều nên nguồn lực thông tin quý giá này chưa được khai thác tươngxứng với giá trị của chúng Bên cạnh đó, cùng với bối cảnh hội nhập và phát triểnkinh tế, các Trung tâm Lưu trữ quốc gia đang đứng trước nhu cầu đa dạng của côngchúng ở trong và ngoài nước về tài liệu lưu trữ, đòi hỏi các Trung tâm Lưu trữquốc gia phải tìm biện pháp để làm mới mình và cải thiện chất lượng dịch vụ
Trang 8Thứ ba, Marketing là một biện pháp quản trị đã đem lại thành cho nhiều Lưu trữ lịch sử trên thế giới trong việc thực hiện mục tiêu Do đó, nếu được các Lưu trữ lịch sử ở Việt Nam áp dụng, Marketing sẽ đem lại lợi ích về nhiều mặt trong việc thực hiện nhu cầu sử dụng của công chúng đối với các sản phẩm lưu trữ
Marketing lấy triết lý “khách hàng làm trung tâm” và “đem lại sự hài long cho người sử dụng” để tạo ra nhiều sản phẩm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau
trong xã hội Vì thế, Marketing trước hết đem lại lợi ích cho người sử dụng tại cácTrung tâm Lưu trữ quốc gia Bên cạnh đó, Marketing còn giúp các Trung tâm Lưutrữ quốc gia đạt được mục tiêu hoạt động, nhờ đó khẳng định vai trò và tầm quantrọng của các Trung tâm Lưu trữ quốc gia cũng như huy động được các nguồn lựckhác thông qua hoạt động phục vụ cộng đồng Các nghiên cứu đã được công bố ởtrong và ngoài nwosc cho thấy, nhiều Trung tâm Lưu trữ quốc gia trên thế giới đãvận dụng Marketing nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầucủa người sử dụng Ngoài ra các Trung tâm Lưu trữ quốc gia còn là địa điểm vănhoá, thu hút sự quan tâm của công chúng bằng những hình thức đa dạng và phùhợp với từng đối tượng khác nhau Tuy nhiên mỗi Trung tâm Lưu trữ quốc gia lại
có điều kiện về nguồn lực khác nhau nên chiến lược Marketing cụ thể cũng có sựkhác biệt Do đó, nghiên cứu các đặc điểm về nguồn lực bên trong và bên ngoàicủa các Trung tâm Lưu trữ quốc gia để xác định chiến lược Marketing phù hợp vớitình hình thực tiễn là điều cần thiết
Ngoài Marketing truyền thống, Marketing số (Digital Marketing) được coi làmột phương thức Marketing hiện đại có thể ảnh hưởng đến sự sống còn của mộtdoanh nghiệp, vậy Marketing số là gì? Digital Marketing được coi là giải pháp phổbiến nhất trên thị trường doanh nghiệp đây là phương thức sử dụng quảng cáo triệt
để và tối ưu hóa mạng Internet cũng như các phương tiện điện tử khác như: Email
Trang 9marketing, Social Media marketing (Facebook, Instagram, Twitter), Search enginemarketing (SEO – Marketing bằng các công cụ tìm kiếm).
Thứ tư, hệ thống lý thuyết lưu trữ học của Việt Nam cần được cập nhật và hoàn thiện bằng việc nghiên cứu những lý thuyết mới để hội nhập với hệ thống
lý thuyết lưu trữ học thế giới
Kể từ khi bắt đầu đào tạo ngành lưu trữ học đến nay, hệ thống lý thuyết vềlưu trữ học của Việt Nam đã được nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về các vấn đềcăn bản như tài liệu lưu trữ, công tác lưu trữ, nghiệp vụ lưu trữ và quản lý lưu trữ.Cùng với đó, các vấn đề mới của lưu trữ học có tính liên ngành đang được nghiêncứu bước đầu và được dự đoán sẽ đem lại diện mạo mới mới cho lưu trữ học ViệtNam mà Marketing là một trong số đó Việc nghiên cứu về Marketing lưu trữ đòihỏi xác định vị trí vấn đề này trong hệ thống lý thuyết, xây dựng được cách thứctriển khai, đặt ra các điều kiện để thực hiện cũng như mô tả quy trình thực hiện cụthể Những vấn đề này sẽ giúp hệ thống lý thuyết lưu trữ của Việt Nam được hoànthiện và cập nhật hơn với sự phát triển của lý thuyết lưu trữ học thế giới
Thứ năm, hoạt động nghiên cứu khoa học là quá trình con người thâm nhập vào thế giới của những sự vật, hiện tượng, mà họ chưa khám phá được
Quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học là quá trình hướng tới pháthiện hoặc sáng tạo mới, tìm ra cái mới là yêu cầu của quá trình nghiên cứu khoahọc là tiền đề, là cơ sở cho những phát hiện, sáng tạo của những công trình nghiêncứu tiếp theo
Từ những lý do xuất phát từ lý thuyết và thực tiễn cùng với sự quan tâm về
Marketing của người thực hiện, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề “Xây dựng chiến lược Marketing số tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III” để trở thành hướng nghiên
cứu chính cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp năm tư của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề
Trang 10Với hướng nghiên cứu về xây dựng chiến lược Marketing số tại Trung tâmLưu trữ quốc gia III, chuyên đề của chúng tôi hướng đến việc giải quy các mục tiêunghiên cứu chính sau:
- Một là, kết quả nghiên cứu của chuyên đề nhằm bổ sung và hoàn thiện
khung lý thuyết về Marketing số, cung cấp cơ sở khoa học cho Trung tâm Lưu trữquốc gia III trở nên linh hoạt hơn trong việc đa dạng hoá các hình thức và tổ chứccác hoạt động Marketing lưu trữ
- Hai là, trên cơ sở lý luận về Marketing số và cơ sở thực tiễn của Trung tâm
Lưu trữ quốc gia III, chuyên đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm giúp Trung tâmLưu trữ quốc gia III vận dụng Marketing số để đem lại hiệu quả thiết thực
3 Lịch sử nghiên cứu của chuyên đề
Trên thực tế, không có một công trình nghiên cứu khoa học nào được bắtđầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức, các công trình nghiên cứu khoa họcđều phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, theo nhìn nhận chung thì vấn
đề“Xây dựng chiến lược Marketing số tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III” là một
vấn đề mới, chúng tôi sẽ tập trung vào các nghiên cứu của nhiều tác giả khác có thểđem lại những thông tin bổ trợ cần thiết trong quá trình thực hiện nghiên cứu mới
này và tác giả cũng mong rằng vấn đề nghiên cứu “Xây dựng chiến lược Marketing số tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III” sẽ trở thành một loại hình tài liệu
lưu trữ khoa học vì bản chất của loại hình tài liệu lưu trữ khoa học vốn chứa đựngnhững thông tin về những phát hiện và sáng tạo mới của người nghiên cứu
“Từ tài liệu lưu trữ khoa học có thể gợi mở hình thành các ý tưởng nghiên cứu mới Tài liệu lưu trữ khoa học giúp cho nhà quản lý và người nghiên cứu trong việc xét, chọn đề tài để có thể kế thừa, phát triển, tránh trùng lặp và lãng phí trong nghiên cứu” 2
Một là, các nghiên cứu về Marketing:
2 Lê Thị Hải Nam (2013), Bài viết “Quản lý và phát huy giá trị nguồn tài liệu lưu trữ khoa học ở nước ta hiện nay”,
Tạp chí Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số ra tháng 2 năm 2013, trang 56
Trang 11Nội dung của các nghiên cứu này giới thiệu về Marketing, các định nghĩa về Marketing, lịch sử hình thành và phát triển của Marketing, vai trò của Marketing với xã hội hiện nay, các bước xây dựng chiến lược Marketing.
- Hai là, các nghiên cứu về Marketing số:
Nội dung của các nghiên cứu này giới thiệu về Marketing số, định nghĩa Marketing số, lịch sử hình thành và phát triển của Marketing số, vai trò của Marketing với xã hội hiện nay, các bước xây dựng chiến lược Marketing số.
- Ba là, các nghiên cứu về Marketing Lưu trữ:
Nội dung của các nghiên cứu này cung cấp nhiều thông tin cần thiết để tác giả có thể nhận biết được tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược Marketing cụ thể tại một Trung tâm Lưu trữ quốc gia.
Các nghiên cứu về Marketing:
- Bài viết “Marketing căn bản: Những khái niệm cốt lõi của Marketing” được
đăng trên Website: https://caia.vn/
=> Bài viết này có nội dung đề cập đến khái niệm Marketing cùng các khái niệm
có liên quan khác.
Trang 12- Bài viết: “Một số khái niệm về Marketing” được đăng trên Website:
https://ngoctranguyen.wordpress.com
=> Bài viết này có nội dung đề cập đến khái niệm Marketing
Các nghiên cứu về Marketing số:
- Bài viết: “Marketing kĩ thuật số (Digital Marketing) là gì? Các kênh marketing
kĩ thuật số” được đăng trên Website: marketing-la-gi-cac-kenh-marketing-ki-thuat-so-20191016092642615.html
https://vietnambiz.vn/marketing-ki-thuat-so-digital-=> Bài viết này có nội dung đề cập đến khái niệm Marketing số và khái niệm kênh Marketing số.
- Bài viết: “Digital Marketing là gì? Tìm hiểu tất cả các hình thức” được đăng trên Website: https://lamphimquangcao.tv
=> Bài viết này có nội dung đề cập đến khái niệm Marketing số và các hình thức Marketing số.
- Bài viết: “7 bước để xây dựng chiến lược marketing online thời đại số” được
trên Website: https://magenest.com/vi/chien-luoc-marketing-online/
=> Bài viết này có nội dung đề cập đến việc xây dựng chiến lược Marketing số qua 7 bước.
Nhóm nghiên cứu về Marketing lưu trữ:
- Luận án tiến sĩ “Tổ chức hoạt động Marketing tại các Trung tâm Lưu trữ quốc gia Việt Nam” của tác giả Trần Phương Hoa
=> Luận án này có nội dung đề cập đến tình hình thực tiễn và kết quả nghiên cứu
về việc tổ chức hoạt động Marketing tại các Trung tâm Lưu trữ quốc gia ở Việt Nam.
Chúng tôi mong rằng chuyên đề thực tập tốt nghiệp năm cuối “Xây dựng chiến lược Marketing số tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III” sẽ trở thành một nghiên cứu có
giá trị để đóng góp cho sự phát triển của ngành văn thư và lưu trữ Việt Nam chứ không chỉ riêng với Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
4 Câu hỏi nghiên cứu
Trang 13- Câu hỏi thứ nhất, Marketing số có cần thiết cho Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
hay không? Sẽ đem lại lợi ích gì? Nếu không áp dụng sẽ gây ra thiệt hại hoặc khó khăn gì?
- Câu hỏi thứ hai, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III đã biết và vận dụng Marketing
số hay chưa? Nếu có thì đã vận dụng ở mức độ nào? Nếu chưa thì tại sao?
- Câu hỏi thứ ba, Muốn xây dựng chiến lược Marketing số hiệu quả, Trung tâm
Lưu trữ quốc gia III cần phải thực hiện những công việc gì?
5 Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết thứ nhất: Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III là nguồn
thông tin riêng, phong phú và đem lại giá trị sử dụng về nhiều mặt Tuy nhiên Trung tâm Lưu trữ quốc gia III chưa được công chúng biết đến rộng rãi, điều này có thể bắt nguồn
từ việc các sản phẩm lưu trữ hiện có chưa đáp ứng được đúng nhu cầu của người sử dụng Mặt khác Do đó, nếu thực hiện chiến lược Marketing số, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
sẽ tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thoả mãn nhu cầu của người sử dụng trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên trong và bên ngoài Đồng thời, dưới góc độ xã hội, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III sẽ là một địa điểm văn hoá, thu hút sự quan tâm của công chúng mọi lứa tuổi nghề nghiệp cũng như công chúng ở trong và ngoài nước
- Giả thuyết thứ hai: Với chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc phát huy
giá trị tài liệu lưu trữ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III hiện nay đang rất nỗ lực trong việc tuyên truyền, quảng bá, công bố và giới thiệu tài liệu lưu trữ trên các phương tiện thông tin đại chúng Mặc dù vậy số lượng người sử dụng đến với Trung tâm Lưu trữ quốc gia III chưa có sự thay đổi lớn và chưa được hài lòng, một số sản phẩm lưu trữ mới chưa được biết đến rộng rãi Như vậy, có thể các biện pháp tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu tài liệu lưu trữ của Trung tâm Lưu trữ quốc gia III chưa thực sự phù hợp với người sử dụng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 14- Một là, tổng hợp lý thuyết về Marketing, Marketing số, Marketing lưu trữ để đưa
ra định nghĩa, đặc điểm và nội dung của Marketing số, xác định nội hàm của việc xây dựng chiến lược Marketing số tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III;
- Hai là, đánh giá về những thuận lợi và khó khăn của Trung tâm Lưu trữ quốc gia
III trong việc xây dựng chiến lược Marketing số thông qua việc xác định các nhân tố vi
mô và vĩ mô của tổ chức;
- Ba là, phân tích đặc điểm, nhu cầu và mong muốn của khách hàng tại Trung tâm
Lưu trữ quốc gia III đối với các sản phẩm và dịch vụ lưu trữ;
- Bốn là, đề xuất với Trung tâm Lưu trữ quốc gia III những biện pháp cụ thể nhằm
tổ chức hoạt động Marketing một cách hiệu quả nhất.
6 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Chuyên đề tập trung vào việc phân tích, đánh giá và đề xuất các bước
xây dựng chiến lược Marketing số tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III trên cơ sở tổng hợp
số liệu từ lý thuyết và thực tiễn;
- Không gian: Các vấn đề nghiên cứu được đặt ra và giải quyết trong phạm vi của
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III;
- Thời gian: Chuyên đề sử dụng và xử lý số liệu trong khoảng thời gian từ năm
2018-2020 qua việc tham khảo tài liệu của các tác giả và nghiên cứu thực tế tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.
7 Phương pháp nghiên cứu
Trang 15Chuyên đề do chúng tôi thực hiện sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau trên cơ sở của chủ nghĩa Mác-Lênin:
Một là, sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm phân tích tài liệu để tổng hợp những thông tin bổ trợ quan trọng và cần thiết cho đề tài nghiên cứu
Hai là, sử dụng phương pháp tìm kiếm tài liệu nhằm tìm kiếm những tài liệu có liên quan từ nhiều nguồn khác nhau để có thêm nhiều thông tin bổ trợ khác cho đề tài nghiên cứu
Ba là, sử dụng phương pháp khảo sát thực tế nhằm thực hiện một số khảo sát thực
tế nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
8 Bố cục của chuyên đề
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING SỐ
1.1 Giải thích một số định nghĩa được sử dụng trong chuyên đề
Marketing là thuật ngữ ra đời từ những năm đầu của thế kỷ 20 tại Hoa Kỳ với ứngdụng chủ yếu trong lĩnh vực thương mại, ban đầu, Marketing được thực hiện trong lĩnh
Trang 16vực thương mại nhằm thúc đẩy bán hàng nhưng dần dần, Marketing còn được ứngdụng trong lĩnh vực thương mại nhằm thúc đẩy bán hàng nhưng dần, Marketing cònđược ứng dụng cả trong lĩnh vực phi thương mại nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu củakhách hàng và người sử dụng (Marketing xã hội) Việc áp dụng Marketing ở các cơquan hoạt động vì lợi ích cộng đồng như bệnh viện, trường học, thư viện, nhà thờ màkhông vì mục đích kiếm lời, thu lợi nhuận được gọi là Marketing phi lợi nhuận(Nonprofit Marketing).
Marketing được ứng dụng trong nhiều ngành hoạt động khác nhau của xã hội nênkhi Marketing được vận dụng trong lĩnh vực nào sẽ hình thành nên khái niệmMarketing trong lĩnh vực đó, tương tự như vậy, Marketing được vận dụng trong lĩnhvực lưu trữ sẽ hình thành nên thuật ngữ “Marketing lưu trữ”
1.1.1 Định nghĩa “Marketing”
Cách hiểu thứ nhất về định nghĩa Marketing theo Phillip Kotler:
“Có nhiều cách định nghĩa Marketing khác nhau Marketing là quá trình tổ chức lực lượng bán hàng nhằm bán được những hàng hóa do công ty sản xuất ra Marketing là quá trình quảng cáo và bán hàng Marketing là quá trình tìm hiểu và thỏa mãn nhu cầu của thị trường Hay Marketing là làm thị trường, nghiên cứu thị trường để thỏa mãn nó Chúng ta cũng có thể hiểu rằng Marketing là các cơ chế kinh
tế và xã hội mà các tổ chức và cá nhân sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của mình thông qua quy trình trao đổi sản phẩm trên thị trường Theo Philip Kotler thì marketing được hiểu như sau: Marketing là một quá trình quản lý mang tính
xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác Khái niêm này của marketing dựa trên những khái niệm cốt lõi: nhu cầu, mong muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch
và các mối quan hệ, thị trường, marketing và những người làm marketing” 3
3 https://caia.vn/20745-marketing-can-ban-nhung-khai-niem-cot-loi-cua-marketing
Trang 17Cách hiểu thứ hai về định nghĩa Marketing theo AMA (Hiệp hội Marketing HoaKỳ):
để thoả mãn những mục tiêu của cá nhân, tổ chức và xã hội” 5
Như vậy, từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu Marketing là hoạt động, sựthành lập các tổ chức và quá trình sáng tạo, truyền thông, phân phối và trao đổi nhữngthứ có giá trị với người tiêu dùng, khách hàng, đối tác và xã hội nói chung, Marketing
là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốncủa họ thông qua trao đổi
Trang 18“Marketing kĩ thuật số trong tiếng Anh là Digital Marketing, Marketing kĩ thuật số là việc sử dụng Internet, thiết bị di động, phương tiện truyền thông xã hội, công cụ tìm kiếm và các kênh khác để tiếp cận người tiêu dùng Một số chuyên gia marketing coi marketing kĩ thuật số là một phương thức hoàn toàn mới, đòi hỏi những phương thức tiếp cận mới và cách hiểu hành vi khách hàng mới so với marketing truyền thống Marketing kĩ thuật số nhắm đến một phân khúc cơ sở khách hàng cụ thể
và có tính tương tác Marketing thuật số ngày càng xuất hiện nhiều, bao gồm quảng cáo kết quả tìm kiếm, quảng cáo qua email và tweet - bất cứ phương thức nào kết hợp marketing với phản hồi của khách hàng hoặc tương tác hai chiều giữa công ty và khách hàng Marketing kĩ thuật số khác với Internet marketing Internet marketing chỉ
là là việc thực hiện quảng cáo trên Internet, trong khi marketing kĩ thuật số có thể diễn
ra qua điện thoại, sân ga tàu điện ngầm, trong trò chơi video hoặc trong ứng dụng điện thoại” 6
Cách hiểu thứ hai về định nghĩa Marketing số:
6 20191016092642615.html
Trang 19https://vietnambiz.vn/marketing-ki-thuat-so-digital-marketing-la-gi-cac-kenh-marketing-ki-thuat-so-“Digital Marketing là chiến lược dùng Internet làm phương tiện cho các hoạt động marketing và trao đổi thông tin” – Asia Digital Marketing Association Digital Marketing nhấn mạnh đến 3 yếu tố: sử dụng các phương tiện kĩ thuật số, tiếp cận khách hàng trong môi trường kĩ thuật số, và tương tác với khách hàng” 7
Cách hiểu thứ ba về định nghĩa Marketing số:
“Digital Marketing là một số lượng lớn những nguồn lực và cách thức sử dụng kĩ thuật số để kết nối với người dùng khi họ lên mạng Từ chính website cho đến những nguồn tài nguyên online mang thương hiệu của doanh nghiệp như quảng cáo trực tuyến, marketing qua email, tờ rơi online và hơn thế nữa Có rất nhiều phương thức được định nghĩa là Digital Marketing” 8
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu Marketing số là là Marketing cácsản phẩm hoặc dịch vụ sử dụng công nghệ số, chủ yếu là trên Internet, bao gồm cảđiện thoại di động, quảng cáo hiển thị và các phương tiện kỹ thuật số khác Chúng tathường nhắc đến Marketing số với những kênh quảng cáo trực tuyến đắc lực nhưFacebook Advertising, Google adwords hay các chiến dịch Email Marketing, AffiliateMarketing mà quên rằng bản chất của Marketing số là tiếp thị trên nền tảng kỹ thuật
số Nền tảng kỹ thuật số sẽ bao gồm cả nền tảng online trực tuyến và cả Marketing trênnhững thiết bị điện tử (kỹ thuật số) như ti vi, radio, điện thoại, màn hình LED quảngcáo ngoài trời, kính thực tế ảo”
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Marketing số
7 https://vinahost.vn/digital-marketing-la-gi.html
8 https://gtvseo.com/marketing/digital-marketing-la-gi/
Trang 20Marketing số phát triển từ những năm 1990 và 2000 đã làm thay đổi cách mà cácthương hiệu và doanh nghiệp sử dụng công nghệ để xây dựng các chiến lượcMarketing số Vì các nền tảng kỹ thuật số ngày càng được kết hợp chặt chẽ vào cácchiến lược marketing số và cuộc sống hàng ngày, và khi mọi người sử dụng các thiết bị
kỹ thuật số, thay vì ghé thăm các cửa hàng, các chiến dịch Marketing số ngày càng trởnên phổ biến và hiệu quả
1.2.1 Marketing số giai đoạn sơ khởi (1980)
Đây là thời điểm mà những cải tiến mới đang diễn ra giúp hệ thống máy tính đủtiến bộ để có thể lưu trữ được thông tin khách hàng Năm 1981, IBM giới thiệu máytính cá nhân đầu tiên và dung lượng lưu trữ của máy tính cá nhân tăng lên 100MB vàonăm 1989 Thập niên 1980 cũng là thời điểm các công ty nhận ra tầm quan trọng củaviệc nuôi dưỡng mối quan hệ khách hàng thay vì chỉ thực hiện các hoạt động đẩy sảnphẩm nên các nhà tiếp thị hiện đã từ bỏ các phương pháp còn hạn chế, trong đó có việcmôi giới danh sách địa chỉ để áp dụng cơ sở dữ liệu Marketing
Đây cũng là năm mà việc duy trì cơ sở dữ liệu về khách hàng tiềm năng, kháchhàng và hợp đồng thương mại bắt đầu trở nên phổ biến, do đó vào năm 1986, công tyquản lý khách hàng ACT chịu trách nhiệm cho việc ra mắt phần mềm cơ sở dữ liệuMarketing đầu tiên và phần mềm cơ sở dữ liệu marketing này hiện nay đã cho phéplưu trữ lượng lớn thông tin khách hàng
Robert Kestenbaum và Robert Shaw được biết đến như là cha đẻ của tự động hóamarketing, đã cùng nhau tạo ra một số mô hình cơ sở dữ liệu marketing giúp cho BT
và Barclays Các giải pháp Cơ sở dữ liệu marketing này có nhiều tính năng, trong đó
có tự động hóa kênh bán hàng, quản lý chiến dịch, tối ưu hóa chiến lược liên hệ kháchhàng, phân tích marketing và quản lý tài nguyên marketing
Cũng trong thập niên 1980, sự xuất hiện của Cơ sở dữ liệu số đã làm thay đổi sựnăng động trong mối quan hệ giữa người mua và người bán
Trang 21Nó cho phép các công ty thu được thông tin, lưu trữ và theo dõi khách hàng của họtheo cách khác Hạn chế duy nhất ở đây là toàn bộ quá trình vẫn được thực hiện thủcông Hơn nữa, trong giai đoạn này, sự ra mắt của máy tính cá nhân và kiến trúc máykhách đã mang lại cuộc cách mạng làm thay đổi công nghệ marketing trong vòng mộtthập kỷ Phần mềm quản lý quan hệ khách hàng, hay còn gọi là phần mềm CRM đãmang lại cuộc cách mạng này vào những năm 1990.
1.2.2 Marketing số ở giai đoạn phát triển kế tiếp (1990)
Vào những năm 90, các công cụ CRM trở nên rất phổ biến Nó có thể được địnhnghĩa là phần mềm theo dõi các tương tác, diễn ra giữa khách hàng hiện tại cũng nhưtương lai Sales Force Automatic (SFA) là dạng ban đầu của CRM và nó đã mang lạicho các công ty những thông tin quan trọng về việc kiểm soát hàng tồn kho và theo dõitương tác
CRM đã được nâng cấp ồ ạt vào cuối thập niên 1990 khi các nhà cung cấp nhưSAP, Oracle, Baan xuất hiện trên thị trường Bây giờ, sự cạnh tranh gia tăng khiến cácnhà cung cấp cũng cung cấp các ứng dụng bán hàng, marketing và dịch vụ
Năm 1998, Google xuất hiện Hiện nay, Google là công cụ tìm kiếm dựa trên nền tảngweb phổ biến nhất Nó đóng vai trò quan trọng nhất trong việc tối ưu hóa các chiếndịch digital marketing và marketing trên công cụ tìm kiếm
Ngoài ra, vào năm 1999, Internet bắt đầu góp phần vào lĩnh vực này, theo đó hỗ trợcác nhà cung cấp eCRM mới nổi và giúp lưu trữ khối lượng dữ liệu khách hàng trựctuyến khổng lồ, làm tăng thêm sự cạnh tranh
Giờ đây, các nhà cung cấp eCRM đã làm cho thông tin khách hàng trở nên năngđộng bằng cách cho phép các nhà tiếp thị cập nhật liên tục, dẫn đến nâng cao trảinghiệm của khách hàng Nhưng có một thách thức mà các công ty này phải đối mặt
Họ đã có hàng đống dữ liệu về khách hàng nhưng không biết làm thế nào để hiểu được
ý nghĩa của nó Điều này sau đó đã được thay đổi vào năm 1999 với sự xuất hiện củaSalesforce.com, công ty SaaS đầu tiên
Trang 22Ứng dụng kinh doanh đầu tiên được phân phối qua một trang web được thực hiệnbởi công ty Salesforce, bây giờ nó được gọi là “điện toán đám mây” Nó đảm nhiệm vịtrí như là tâm điểm cho công nghệ Marketing trong tương lai.
1.2.3 Marketing số ở giai đoạn phát triển thứ ba (2000)
Trong khi thảo luận về lịch sử và sự phát triển của Digital Marketing, khi chúng ta
đi sâu vào thập niên 2000, chúng ta thấy những tên tuổi lớn như Dell và Cisco bán tháo
cổ phiếu của họ sau khi bong bóng dotcom vỡ Tuy nhiên, điều này đã dẫn đến việccác công ty SaaS nổi tiếng như Oracle, PeopleSoft, Siebel và SAP chuyển đổi mô hìnhkinh doanh của họ và mang lại cho Internet định hướng trung tâm hơn của các dịch vụcủa họ
Giữa thập niên 2000 đã chứng kiến sự thay đổi trong hành vi của khách hàng khimọi người bắt đầu tìm kiếm sản phẩm online qua Google và các công cụ tìm kiếmkhác trước khi tiến hành mua hàng Hành vi này khiến các nhà tiếp thị bối rối vì họthấy khó hiểu hành vi mua hàng của khách hàng
Các công ty Marketo, Act và Pardot là những công ty giải quyết thách thức nàythông qua tự động hóa marketing Tự động hóa marketing cho phép các nhà tiếp thịphân chia thị trường, bắt đầu các chiến dịch đa kênh và cung cấp nội dung được cánhân hóa Đây là công nghệ marketing đầu tiên được chính các nhà tiếp thị nghĩ ra chocác nhà tiếp thị
Tự động hóa marketing nhanh chóng thích ứng với động thái luôn thay đổi của ngườitiêu dùng và đồng thời phải đối mặt với một thách thức vì nó không thể dự đoán được
sự tham gia của truyền thông mạng xã hội như là một phương thức marketing
Tuy nhiên, truyền thông mạng xã hội có lịch sử phát triển từ thập niên 1970 vớiARPANET; nó đã có một chút phổ biến vào đầu thập niên 1990 Nhưng vào thập niên
Trang 232000, truyền thông mạng xã hội đã trở nên phổ biến khắp nơi và kể từ đó, nó đã đóngvai trò rất quan trọng trong lịch sử của Digital Marketing.
Sự phổ biến của truyền thông mạng xã hội đã tạo ra một vấn đề nan giải mới chocác nhà tiếp thị Chúng đã được giải quyết khi có nhiều công ty phần mềm mới đã nghĩ
ra giải pháp cho khía cạnh xã hội, tìm kiếm, di động và phân tích, nhưng cũng cần phảinhắc lại, sự xuất hiện bùng nổ những giải pháp này không hề khác biệt khi những thửthách khác xuất hiện
1.2.4 Marketing số ở giai đoạn phát triển thứ tư (2010-nay)
Bây giờ người tiêu dùng không còn xa lạ với công nghệ nữa mà đã trở nên phụthuộc vào công nghệ, sự phụ thuộc vào công nghệ này đã làm đa dạng hóa tình huốngcông nghệ marketing và làm tăng sự mong đợi kỹ thuật số của người tiêu dùng
Các công ty trẻ đang nổi lên mỗi ngày với nỗ lực mang lại các giải pháp digitalmarketing cho người tiêu dùng trả phí và các công ty lớn như IBM, Oracle và Googleđang thâu tóm các công ty mới để duy trì vị trí dẫn đầu của mình trong cuộc đua cungcấp giải pháp kỹ thuật số tốt nhất
Các nhà tiếp thị ngày nay phải đối mặt với nhiều lựa chọn khác nhau và chính điềunày đang cho thấy thách thức lớn cho họ, đưa ra quyết định đầu tư vào lựa chọn nào.Giữa mớ hỗn loạn này, sự tích hợp đã trở thành đặc trưng hấp dẫn nhất của công nghệmarketing
Sự thay đổi đang diễn ra nhanh chóng và các tổ chức đang tụt lại phía sau trongviệc áp dụng thay đổi Nhưng, đúng là những thay đổi cũng đang diễn ra ở cấp điềuhành Giờ đây, một vị trí Giám đốc công nghệ tiếp thị (CMT) mới đã được thiết kế chongười sẽ chịu trách nhiệm cho việc xác định cũng như đưa ra các chiến lược xungquanh các công nghệ để nâng cao trải nghiệm người dùng
Các nhà tiếp thị phải nâng cấp trò chơi Digital Marketing của mình, vì ngày nayngười tiêu dùng có thể mong đợi trải nghiệm mượt mà trên tất cả các kênh cũng như
Trang 24thiết bị Hơn nữa, để đáp ứng những kỳ vọng này, các nhà tiếp thị cần đầu tư vào cáccông nghệ omnichannel để mang lại trải nghiệm omnichannel.
Các kênh mới như Neuro – Marketing, Trí tuệ nhân tạo và Thực tế ảo đang dầnxuất hiện và chúng sẽ là tương lai của Marketing số
Các công nghệ như tiền kỹ thuật số (tiền điện tử) và Blockchain đã đi vào kho vũkhí của các nhà tiếp thị thời đại mới Điều này chắc chắn sẽ làm phong phú và tiếpthêm sức mạnh cho lịch sử phát triển của Marketing số lên một tầm cao mới
1.3 Ưu điểm và nhược điểm của Marketing số
1.3.1 Ưu điểm của Marketing số
≥ Marketing số tiết kiệm chi phí
Có thể những kênh Marketing quen thuộc như tổ chức, tham gia sự kiện, hội chợ,quảng cáo trên truyền hình tivi, báo chí thường được các doanh nghiệp áp dụng.Nhưng đi kèm theo đó là một mức chi phí rất lớn
Nếu doanh nghiệp vừa và nhỏ thì Marketing số sẽ giúp quảng bá thương hiệu, tiếpcận khách hàng với chi phí thấp hơn
≥ Marketing số tiếp cận đúng đối tượng khách hàng
Hình thức quảng cáo qua báo in hay bảng billboard ở ngoài trời sẽ không thể đolường chính xác rằng, liệu quảng cáo có đến đúng đối tượng khách hàng không
Nhưng với Marketing số thì khác, người dun có thể tiếp cận và đo lường chính xác tớiđối tượng khách hàng mà họ muốn hướng đến Bằng những thông tin mà người dùng
để lại, các kênh quảng cáo trực tuyến sẽ giúp người dùng tiếp cận đến đúng đối tượngkhách hàng
≥ Marketing số đo lường được kết quả trong thời gian thực tế:
Nếu quảng cáo trên truyền hình hay phát tờ rơi thì rất khó để đo lường kết quảtrong thời gian thực tế nhưng Marketing số lại làm được điều này Bằng những công cụnhư Google Analytics, Facebook Ads, người dùng có thể phân tích dữ liệu, đo lường
Trang 25kết quả để xem hiệu suất của việc thực hiện chiến dịch Marketing số trong thời gianqua như thế nào.
≥ Marketing số giúp tương tác với khách hàng dễ hơn:
Người dùng ngày càng có xu hướng lên mạng để tìm hiểu các thông tin về sảnphẩm, dịch vụ mà mình quan tâm Bằng các kênh online marketing, họ có thể bìnhluận, nhắn tin trực tuyến với nhà cung cấp trước khi quyết định trải nghiệm một sảnphẩm nào đó Như vậy, thông qua Digital Marketing, doanh nghiệp có thể tương tácvới khách hàng dễ dàng hơn
1.3.2 Nhược điểm của Marketing số
≥ Tính nhiễu trong Marketing số:
Sự tiện lợi và dễ dàng hơn trong tiếp thị trên Internet khiến người dùng “đi đâu trênmạng” cũng có thể gặp quảng cáo Nhiều lúc gặp liên tục Mỗi ngày, người dùng bắtgặp hàng chục quảng cáo khi lướt bản tin facebook trong 15 phút, xem Youtube, cácBanner quảng cáo trên các Website, Email quảng cáo của vô vàn doanh nghiệp Thậmchí có cả lời mời chào trong tin nhắn Facebook hay Zalo Do đó, thông điệp của ngườidùng thường bị nhiễu bởi quá nhiều quảng cáo khác vây quanh Khách hàng rất dễ bịthay đổi sự chú ý, cũng như vô tình “để trôi” mất quảng cáo của bạn Khách hàng còn
dễ chuyển hướng chú ý bởi vô vàn thông tin khác như: chuyện người nổi tiếng, tinnóng thời sự, các sự kiện nổi bật trong ngày hoặc bất cứ nội dung nào dù không phải làquảng cáo Sự cạnh tranh thông tin trong Marketing số đòi hỏi các doanh nghiệp cầnkhông ngừng tập trung cho việc xuất bản nội dung sáng tạo, chất lượng, có tính thu hútcao ngay từ “cái nhìn đầu tiên” và đáp ứng nhu cầu thông tin của đối tượng mục tiêu
≥ Thông tin lan truyền nhanh là con dao hai lưỡi:
Trang 26Nếu quản lý thông tin doanh nghiệp trên Internet tốt, thương hiệu của doanhnghiệp cũng có khả năng được nhiều người biết đến và yêu thích một cách nhanhchóng Tuy nhiên, khả năng lan truyền nhanh của Marketing số cũng là “cánh tay đắclực” cho các luồng phản hồi xấu từ phía người dùng Chúng có thể khiến hình ảnhthương hiệu xấu đi trong vòng một nốt nhạc.
Khi Internet phát triển cùng với tốc độ lan truyền thông tin nhanh như vũ báo thìviệc tổ chức thông tin và sáng tạo thông điệp của doanh nghiệp cần phải hết sức cẩntrọng
≥ Marketing số phụ thuộc nhiều vào thiết bị điện tử:
Với những nơi có cơ sở hạ tầng thông tin còn yếu kém hoặc tập đối tượng mục tiêucủa bạn ít có thói quen trực tuyến, bạn sẽ khó có cơ hội hoặc không thể tiếp cận đếnnhững đối tượng này thông qua Marketing số
Khi Server Website hỏng, tốc độ tải trang kém, hoặc lỗi kỹ thuật nào đó khiếnkhách hàng không thể vào trang web của bạn, hoặc chờ đợi lâu khiến họ bỏ đi Ngoài
ra, các cài đặt quảng cáo trên website có thể không tương thích với trình duyệt haythiết bị của người xem Do đó người dung cần thường xuyên kiểm tra để nhanh chóngkhắc phục các lỗi kỹ thuật sớm
≥ Vấn đề bảo mật và quyền riêng tư:
Trang 27Internet phát triển cũng là cơ hội tốt cho các Hacker tấn công, dữ liệu khách hàngcủa bạn nếu không bảo mật tốt, có thể chúng sẽ bị đánh cắp và phục vụ cho việc lấy tàikhoản ngân hàng của khách hàng, bán thông tin cho các đối thủ kinh doanh của bạn, tựđộng cài các quảng cáo trên Website, Spam lượng truy cập lớn gây tắc ngẽn mạngkhiến Marketing số sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Người dùng cần đầu tư cho sự bảo mật dữ liệu doanh nghiệp trên Internet, vũngnhư chọn lọc đúng đối tượng tiếp thị và cách thức tiếp thị nhằm đảm bảo MarketingOnline hoạt động tốt, người nhận thông điệp không cảm thấy đây là “thông tin vô bổ”đối với họ
≥ Sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ và các quy tắc thương mại điện tử:
Đồng hành với sự tiến bộ liên tục trong cơ sở hạ tầng thông tin, các phần mềm,ứng dụng trên nền tảng Internet, các quy tắc thương mại điện tử thay đổi do sự tăng lênnhanh chóng của các đơn vị bán hàng trực tuyến đã khiến cho các nhà làm Marketing
số cũng phải liên tục chạy theo sự tiến bộ này
≥
Trang 28CHƯƠNG 2 SỰ CẦN THIẾT CÙNG MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA VIỆC XÂY DỰNG
VÀ TỔ CHỨC CHIẾN LƯỢC MARKETING TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA III
2.1 Giới thiệu khái quát về Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
2.1.1 Vị trí, chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
Trụ sở mới của Trung tâm Lưu trữ quốc gia III nằm tại số 34, Đường Phan Kế
Bính, (Nguồn ảnh: Do tác giả thực hiện)
Trang 29Trung tâm Lưu trữ quốc gia III được thành lập theo quyết định số 118/TCCP-TCngày 10/6/1995 của Bộ trưởng, Trưởng Ban tổ chức- Cán bộ Chính phủ (Xem chi tiếttại Phụ lục số 01); và qua quá trình hoạt động đã có những thay đổi về chức năngnhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Trung tâm Trung tâm Lưu trữ quốc gia III có trụ sở tại
Số 34, Đường Phan Kế Bính, Phường Cống Vị, Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội
Là một trong bốn Trung tâm Lưu trữ quốc gia trực thuộc Cục Văn thư Lưu trữ Nhànước và được đánh giá là một trong số nhà kho hiện đại nhất Đông Nam Á, có thể đảmbảo an toàn cho khối tài liệu Quốc gia
Trung tâm có chức năng sưu tầm, thu thập, chỉnh lý, bảo quản và tổ chức sử dụngtài liệu, tư liệu có ý nghĩa quốc gia hình thành trong quá trình hoạt động của các cơquan tổ chức Trung ương; cá nhân, gia đình, dòng họ tiêu biểu của nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên địa bà từ tỉnh QuảngBình trở ra theo quy định của pháp luật và quy định của Cục Văn thư Lưu trữ Nhànước
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng
và trụ sở làm việc đặt tại thành phố Hà Nội
Sưu tầm, thu thập, bổ sung tài liệu, tư liệu lưu trữ của các cơ quan, tổ chức và cánhân theo thẩm quyền được giao
Phân loại, chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu, tư liệu lưu trữ thuộc phạm vi quản lýcủa Trung tâm
Bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu, tư liệu lưu trữ
Lập bản sao bảo hiểm tài liệu lưu trữ quý hiếm (ở dạng số hoá) theo quy định phâncấp của Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước
Tu bổ, phục chế tài liệu, tư liệu lưu trữ bị hư hỏng của Trung tâm theo quy địnhphân cấp của Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước
Xây dựng và quản lý hệ thống công cụ thống kê, tra cứu tài liệu, tư liệu lưu trữ
Trang 30Thực hiện các hình thức tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu, tư liệu lưu trữ bảoquản tại Trung tâm.
Thực hiện nghiên cứu khoa học, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vàothực tiễn công tác của Trung tâm
Thực hiện các dịch vụ lưu trữ theo quy định của pháp luật
Quản lý tổ chức, biên chế, cơ sở vật chất kỹ thuật, vật tư, tài sản và kinh phí củaTrung tâm theo quy định pháp luật và quy định phân cấp của Cục trưởng
Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng giao
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
© Lãnh đạo trung tâm:
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III có Giám đốc và không quá hai Phó Giám đốc.Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia III do Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ Nhànước bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ Nhànước và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Trung tâm
Phó Giám đốc do Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước bổ nhiệm theo đềnghị của Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước pháp luật về lĩnh vựccông tác được phân công phụ trách
3 Phòng Phát huy giá trị tài liệu lưu trữ
4 Phòng Tài liệu nghe nhìn
5 Phòng Hành chính – Tổng hợp
Trang 312.1.3 Số lượng và thành phần cơ bản của khối tài liệu lưu trữ hiện có ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
Tài liệu hành chính: Khối tài liệu này có số lượng gần 10.000 mét giá của gần 300phông, trong đó có rất nhiều phông tài liệu quan trọng phản ánh đầy đủ và sinh độngcông cuộc kháng chiến anh dũng và thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta chống các thế lựcngoại xâm, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc như phông Quốc hội, Phủ Thủ tướng…
Tài liệu khoa học kỹ thuật: gồm hơn 3.000 mét giá tài liệu khoa học kỹ thuật củatrên 50 công trình lớn có ý nghĩa quốc gia, trong đó có các công trình như: Lăng Chủtịch Hồ Chí Minh, Đường dây 500 KV Bắc - Nam, Nhà máy Thủy điện Sông Đà, Thủyđiện Hòa Bình, Nhà máy Supe Phốt phát Lâm Thao, Nhà máy Tàu biển Phà Rừng, mỏApatít Lào Cai và mỏ Prít Giáp Lai, các cầu: Thăng Long, Chương Dương, Bến Thủy,Sông Gianh, Sân bay Quốc tế Nội Bài và nhiều công trình xây dựng cơ bản khác
Tài liệu cá nhân, gia đình, dòng họ: hơn 100 văn nghệ sĩ và một số nhà hoạt độngtiêu biểu trong các lĩnh vực khoa học xã hội khác nhau có tài liệu, gồm: tài liệu tiểu sử,văn bằng chứng chỉ, thư từ, sổ sách, giấy tờ công vụ, bản thảo các tác phẩm, công trìnhsáng tác và nghiên cứu khoa học được bảo quản tại Trung tâm
Tài liệu nghe nhìn: Trung tâm đang bảo quản trên 300 bộ phim gồm cả phim tàiliệu và phim điện ảnh Trong đó có 20 bộ phim của các hãng phim nước ngoài quaytrong thời điểm chiến tranh ở Việt Nam Trung tâm còn quản lý khoảng 100.000 tấmảnh và 52.000 tấm phim (âm bản), hơn 4.000 cuộn băng với gần 3.000 tiếng băng vàgần 300 đĩa, băng video
Những tài liệu, hình ảnh này là nguồn sử liệu quan trọng, phản ánh các sự kiện lịch
sử, chính trị, xã hội của đất nước, hoạt động của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, cuộcsống sinh hoạt, chiến đấu, sản xuất của nhân dân Việt Nam từ 1945 đến nay
Trang 322.2 Tình hình thực tiễn của việc xây dựng chiến lược Marketing số tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
2.2.1 Nhìn nhận về vai trò của Marketing đối với Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
Để có thể đưa ra được cái nhìn tổng quan nhất về vai trò của Marketing đối vớiTrung tâm Lưu trữ quốc gia III, trước tiên chúng ta cần phải hiểu Marketing Lưu trữ làgì?
Theo tác giả Trần Phương Hoa:
“Marketing Lưu trữ là chuỗi các hoạt động khác nhau của cơ quan lưu trữ nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, giúp đạt được mục tiêu của tổ chức và hướng tới
sự hài lòng của xã hội” 9
Như vậy từ định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu và giải mãi các cụm từ sau:
Hoạt động bao gồm xác định môi trường Marketing, phân tích thị trường, lựachọn thị trường mục tiêu, chiến lược sản phẩm, chiến lược sản phẩm, chiến lược phânphối, chiến lược giá, chiến lược quảng cáo, phân thích thị trường, lựa chọn thị trườngmục tiêu, chiến lược sản phẩm, chiến lược phân phối, chiến lược giá, chiến lược quảng
bá và và đánh giá Marketing
Nhu cầu của người sử dụng đa dạng như nhu cầu về các dạng sản phẩm khácnhau, sự thuận tiện trong việc tiếp cận sản phẩm, sự phù hợp về chi phí (Không chỉ baogồm tiền trả cho sản phẩm mà còn liên quan đến chi phí đi lại, chi phí phát sinh…) ,nhu cầu được hỗ trợ khi cần, nhu cầu thông tin
Mục tiêu Marketing không chỉ giúp các cơ quan lưu trữ đáp ứng các nhu cầu đadạng của người dùng mà còn giúp đạt được mục tiêu đã đặt ra như phát huy giá trị củatài liệu bảo tồn lâu dài cho những tài liệu quý hiếm/di sản, nâng cao nhận thức củacộng đồng về tài liệu lưu trữ, tạo thói quen sử dụng thông tin quá khứ từ tài liệu lưutrữ, nâng cao vị thế của cơ quan lưu trữ
9 Trần Phương Hoa (2018), Luận án tiến sĩ “Hoạt động Marketing Lưu trữ tại các Lưu trữ lịch sử”, chương II, trang
34
Trang 33 Sự hài lòng của xã hội được biểu hiện bằng việc công chúng được cung cấpthông tin quá khứ với những điều kiện phục vụ tốt, đồng thời, dư luận và đa số côngchúng đều thừa nhận về sự cần thiết của các cơ quan lưu trữ
2.2.2 Đặc điểm của chiến lược Marketing tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
Để nghiên cứu đặc điểm, trước tiên cần làm rõ bản chất của Marketing lưu trữ, về
cơ bản, hoạt động Marketing Lưu trữ nói chung, đặc biệt là Marketing thương mại, xétcho cùng đều hướng tới hai vấn đề cốt lõi:
Thấu hiểu và tìm cách thỏa mãn tối đa (Trong điều kiện cho phép) nhu cầu vàmong muốn của khách hàng/hoặc người sử dụng sản phẩm, dịch vụ;
Việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng phải hướng tới việc mang lại lợinhuận/lợi ích cho cơ quan hoặc tổ chức thực hiện hoạt động Marketing;
Tuy nhiên, do hoạt động Marketing không chỉ thực hiện trong lĩnh vực kinh tế vàthương mại mà còn áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác, nên hai vấn đề cốt lõi có tínhbản chất nói trên cần được hiểu và áp dụng cho phù hợp
Trong lĩnh vực lưu trữ, bản chất của hoạt động Marketing được hiểu như sau:
Thứ nhất, các lưu trữ cần đẩy mạnh việc tìm hiểu nhu cầu và mong muốn củakhách hàng;
Thứ hai, nếu trong lĩnh vực thương mại, xét đến cùng, hoạt động Marketing phảimang lại lợi nhuận cao hơn và lợi nhuận chủ yếu phải là tiền bạc, thì trong lĩnh vực lưutrữ, xét đến cùng, hoạt động Marketing cũng phải hướng đến việc đem lại nhiều lợi íchcho cơ quan lưu trữ, nói cách khác bản chất của Marketing lưu trữ là “phi lợi nhận”nhưng không có nghĩa là “phi lợi ích”
Như vậy, để đạt được mục tiêu quan trọng nói trên, các cơ quan lưu trữ cần tổ chứchoạt động Markeing và tập trung vào việc tìm hiểu, tìm cách đáp ứng (trong phạm vicho phép) các nhu cầu, mong muốn của khách hàng, đó chính là bản chất củaMarketing lưu trữ
Trang 34Từ việc xác định bản chất, chúng ta sẽ xác định được đặc điểm của Marketing lưutrữ:
Thứ nhất, Marketing lưu trữ đảm bảo lợi ích của cộng đồng;
Thứ hai, Marketing lưu trữ mang đặc điểm của Marketing phi lợi nhuận;
Thứ ba, Marketing lưu trữ gắn với trách nhiệm của ban lãnh đạo
Theo cuốn Cẩm nang văn khố (1972), “Tài liệu văn khố, nguyên thủy, không phảicấu tạo cho mọi người xem như tài liệu thư viện, mà trái lại có tính cách riêng tư và cơmật Cơ quan văn khố, trong vai trò người cất giữ, có bổn phận phải bảo vệ quyền lợicủa nhiều phe liên hệ (Bên liên quan): Quyền lợi của quốc gia, quyền lợi của cơ quancấu tạo và quyền lợi của các tư nhân có dính dáng đến tài liệu”
Từ nhận định này, chúng ta có thể xác định được thêm những đặc điểm riêng, khácbiệt so với các dịch vụ công khác của Marketing Lưu trữ:
Marketing lưu trữ có lợi thế về sự quý hiếm và khác biệt;
Marketing không thể thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng;
Marketing lưu trữ phải hài hòa với lợi ích quốc gia và cộng đồng;
Marketing lưu trữ có mối quan hệ mật thiết với Markeing thông tin, Marketing disản và Marketing văn hóa
Tài liệu lưu trữ là vật mang tin chứa đựng những thông tin quá khứ, do đó,Marketing lưu trữ cũng chính là Marketing thông tin, chiến lược Marketing là mộtcông cụ quản lý rất hiệu quả đối với các cơ quan thông tin trong việc định hướng vàđiều khiển các hoạt động của tổ chức theo mục tiêu phù hợp với môi trường hiện tại,giúp tổ chức xác định được phương hướng và cách thức thực hiện đem lại thành công
mà không bị lãng phí thời gian, nguồn lực, giúp các cơ quan tổ chức luôn chủ độngtrước sự thay đổi của môi trường và khẳng định thương hiệu với người dùng tin Bêncạnh đó, một số tài liệu lưu trữ tại các Trung tâm Lưu trữ quốc gia đồng thời là di sản
tư liệu của khu vực và thế giới nên Marketing lưu trữ gắn liền với Marketing di sản.Điều cốt lõi của Marketing di sản là tìm ra cái mà khách hàng cần và phân phối chúng
Trang 35qua các sán kiến Marketing, mục đích của Marketing di sản là biết và hiểu khách hàngtốt nhất nhằm giúp các sản phẩm và dịch vụ thích hợp với họ nhưng vẫn cho phép tổchức đạt được mục tiêu của nó Ngoài ra xu hướng chung của nhiều quốc gia là biếtTrung tâm Lưu trữ quốc gia thành một địa điểm văn hóa nên Marketing lưu trữ gắn vớiMarketing văn hóa
2.2.3 Nguyên tắc tổ chức chiến lược Marketing tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
Marketing khi được vận dụng trong các Trung tâm Lưu trữ quốc gia cần phải tuânthủ các nguyên tắc của công tác lưu trữ:
Nguyên tắc chính trị:
Mặc dù Marketing hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng song cácTrung tâm Lưu trữ quốc gia vẫn cần tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các quy địnhcủa Đảng và Nhà nước về bảo vệ bí mật quốc gia, giải mật tài liệu, về hạn chế tiếp cậntài liệu, về công bố tài liệu, kết hợp hài hòa với quyền được tiếp cận thông tin của côngdân, nguyên tắc này cũng đòi hỏi người làm công tác phục vụ sử dụng tài liệu lưu trữcần có sự nhạy cảm để xác định chính xác nhu cầu sử dụng của các tổ chức, cá nhân
Nguyên tắc toàn diện, tổng hợp:
Cùng với một lý thuyết cơ bản song kế hoạch Marketing tại các Trung tâm Lưu trữquốc gia lại được điều chỉnh khác nhau cho phù hợp với đặc điểm tình hình của từng
cơ qua, không những thế, chiến lược Marketing của một Trung tâm Lưu trữ quốc giakhông thể giống nhau tại mọi thời điểm, giai đoạn Chiến lược Marketing của Trungtâm Lưu trữ quốc gia này thực hiện thành công nhưng chưa chắc đã thành công với