Nâng cao quá trình quản lý bán hàng tại công ty TNHH sufat việt nam
Trang 1Lời nói đầuTính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập đang đặt ra cho các doanh nghiệp ViệtNam nhiều thuận lợi và cũng không ít những khó khăn Để có thể đứngvững và phát triển trong môi trường cạnh tranh đầy khốc liệt ấy và có thể
tự khẳng định được mình các doanh nghiệp cần phải cố gắng, nỗ lực hếtmình,không ngừng tìm kiếm, học hỏi đổi mới cách thức hoạt động và chiếnlược kinh doanh cho doanh nghiệp mình trước sự biến động khôn lườngcủa môi trường kinh doanh, của thị trường
Theo quan điểm cổ điển, bán hàng được định nghĩa như sau:
“Bán hàng là hoạt động thực hiện sự trao đổi sản phẩm hay dịch vụ củangười bán chuyển cho người mua để được nhận lại từ người mua tiền hayvật phẩm hoặc giá trị trao đổi đã thỏa thuận”
Khái niệm này cho thấy hoạt động bán hàng gồm có 2 hành độngchính, đó là trao đổi và thỏa thuận
Trao đổi trong bán hàng gồm có hành động mua và hành động bán.Hành động bán, đó là hành động trao đi hàng hoá hay dịch vụ để nhận vềtiền hay vật phẩm có giá trị trao đổi theo thỏa thuận ban đầu Còn hànhđộng mua là hành động nhận về hàng hóa và dịch vụ từ phía bên kia và traotiền hay vật phẩm có giá trị trao đổi được bên kia chấp nhận
Hành động bán hàng chỉ được thực hiện khi hành động thỏa thuận thànhcông Hành động thỏa thuận chủ yếu là về giá cả, các điều kiện mua bán,giao hàng, thanh toán…
Qua khái niệm trên ta thấy hai đối tượng chủ yếu được đề cập: ngườimua (khách hàng) và người bán (nhân viên bán hàng, doanh nghiệp)
Ngày nay sự cạnh tranh trong thế giới kinh doanh ngày càng gay gắt nêncông việc bán hàng ngày càng phức tạp Bán hàng ngày nay không đơnthuần là sự trao đổi hàng hóa hay dịch vụ mà là quá trình giúp đỡ lẫn nhaugiữa người mua và người bán Người bán giúp đỡ người mua có đượcnhững thứ họ cần, ngược lại người mua cũng giúp cho người bán đạt đượcmục tiêu, thu về lợi nhuận, giải quyết đầu ra cho nơi sản xuất, đẩy mạnh sựsáng tạo trong kinh doanh và sản xuất Do đó công việc bán hàng ngày naykhó khăn hơn Sau đây là một số khái niệm bán hàng được phổ biến trênthế giới hiện nay:
+Bán hàng là nền tảng trong kinh doanh, đó là sự gặp gỡ giữa người mua
và người bán ở những nơi khác nhau giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêunếu cuộc gặp gỡ thành công trong đàm phán về việc trao đổi sản phẩm.+Bán hàng là một phần của tiến trình mà doanh nghiệp thuyết phục kháchhàng mua hàng hóa hay dịch vụ của họ
GVHD: Phạm Văn Mùa 1 SV: Phạm Thu Giang
Trang 2
+ Bán hàng là quá trình liên hệ với khách hàng tiềm năng, tìm hiểu nhu cầucủa khách hàng, trình bày và chứng minh sản phẩm, đàm phán mua bán,giao hàng và thanh toán
+ Bán hàng là sự phục vụ, giúp đỡ khách hàng nhằm cung cấp cho kháchhàng những thứ mà họ mong muốn
Do quy mô, tính phức tạp của công việc ngày càng cao nên việc xâydựng hệ thống thông tin quản lý bán hàng không chỉ là việc lập trình đơngiản mà phải xây dựng một cách hệ thống Các giai đoạn phân tích, thiết kếđược tiến hành một cách tỉ mỉ và chính xác Đặc biệt cần độ chính xác caotrong những vấn đề liên quan đến tài chính và mức thu nhập của doanhnghiệp
Đó cũng chính là điểm then chốt quan trọng đối với mỗi người quản lý bánhàng trong các doanh nghiệp
Trong điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ và mặt hàng sản xuất thànhphẩm, nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động của nhà máy là quản lý đơn đặthàng của người mua và bán sản phẩm: lập kế hoạch và phân tích chỉ sốthực tế theo các phương diện khác nhau
Phân hệ được sử dụng bởi giám đốc thương mại, cán bộ phòng tiêuthụ và cán bộ kho, cho phép nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinhdoanh
Phân hệ quản lý bán hàng bảo đảm tự động hóa toàn bộ quá trình bánsản phẩm và hàng hóa trong nhà máy sản xuất, trong bán sỉ và bán lẻ Phân
hệ có các phương pháp hoạch dịnh và kiểm soát việc bán hàng, cho phépgiải quyết các vấn đề quản lý đơn đặt hàng của người mua Hỗ trợ các hệthống bán sản phẩm và hàng hóa khác nhau – từ kho và theo đơn đặt hàng,bán hàng trả góp hoặc trả trước, bán hàng, nhận bán hàng ký gửi, chuyểnhàng bán ký gửi cho người nhận bán hàng ký gửi
Từ khi nước ta thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế, từ nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ môcủa nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề về bán hàngcàng trở nên khó khăn hơn,quan trọng hơn trong các doanh nghiệp Môitrường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lúc này đầy sự biến động
và vấn đề về quản lý bán hàng đã trở nên cấp bách, sôi động trên cả thịtrường trong nước và thị trường quốc tế
Như vậy có thể nói công tác Quản Lý Bán Hàng luôn đòi hỏi việccập nhập thông tin thường xuyên, nhanh chóng, đầy đủ và chính xác Vìvậy, em mong muốn xây dựng một chương trình quản lý bán hàng nhằm hỗtrợ cho việc quản lý bán hàng được hiệu quả hơn
GVHD: Phạm Văn Mùa 2 SV: Phạm Thu Giang
Trang 3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hiệu quả kinh doanh là vấn đề bức xúc đặt ra cho mọi doanh nghiệp, đặcbiệt là trong điều kiện kinh tế thị trường Các nhà đầu tư, các chủ doanhnghiệp trước khi ra quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nghành, một sảnphẩm dịch vụ nào đó ngoài việc trả lời các câu hỏi sản xuất cái gì? Sản xuấtnhư thế nào? Sản xuất cho ai? còn phải biết chi phí bỏ ra và lợi ích thuđược Dĩ nhiên rằng, lợi ích thu được phải lớn hơn chi phí bỏ ra mới mongthu được lợi nhuận Hay nói cách khác, các nhà đầu tư, các chủ doanhnghiệp bao giờ cũng mong muốn được lợi nhuận tối đa với một chi phí thấpnhất có thể Sở dĩ nói như vậy thì lợi ích (lợi nhuận) mà nói rộng ra là hiệuquả kinh doanh vừa là động lực, vừa là tiền đề để doanh nghiệp có thể tồntại và phát triển được trong điều kiện cạnh tranh vô cùng khắc nghiệt, mọirủi ro, bất trắc luôn có thể xảy ra, nguy cơ phá sản luôn rình rập
Như chúng ta đã biết kết quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp bịchi phối bởi rất nhiều các yếu tố như: Công tác quản lý bán hàng; quản lýnhân sự; môi trường sản xuất kinh doanh; nhu cầu của thị trường ; công táchạch toán kế toán v.v Một trong những điều quan trọng nhất đó là quátrình quản lý bán hàng,đây là yêu cầu rất quan trọng để nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Nhằm tổng hợp những kiến thức đã học tại trường Cao Đẳng Công nghiệpHưng Yên để áp dụng vào một bài toán thực tế.Với mong muốn được ápdụng những kiến thức kinh tế nói chung và về quản trị kinh doanh nói riêng
mà em đã được tiếp thu trong quá trình học tập ở trường, kết hợp với nhữngkinh nghệm,hiểu biết thêm trong quá trình thực tập tại công ty TNHH Sufat
Việt Nam, với sự giúp đỡ của thầy Phạm Công Hoà em đã chọn đề tài: “ Nâng cao quá trình quản lý bán hàng tại công ty TNHH Sufat Việt Nam”.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong đề tài chủ yếu là phươngpháp so sánh và tổng hợp số liệu thực tế thu thập được trong quá trình thựctập tại doanh nghiệp, các số liệu trên báo cáo tài chính để xác định xuhướng phát triển, mức độ biến động giữa các số liệu các chỉ tiêu để từ đóđưa ra nhận xét Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp như : phân tích,diễn dải,lập luận để bài viết thêm dễ hiểu và chắc chắn hơn
GVHD: Phạm Văn Mùa 3 SV: Phạm Thu Giang
Trang 4
CHƯƠNG I:Tổng quan về công ty TNHH Sufat
1.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty
Tên công ty (Tiếng Việt): Công ty TNHH SUFAT Việt Nam
Tên công ty (Tiếng Anh): Sufat Vietnam Corporation
Địa chỉ: Lô C1 – Khu CN Phố Nối B – Yên Mỹ - Hưng Yên
tên gọi ban đầu là:Tên doanh nghiệp: Công ty TNHH Phạm Tú Trụ sở :248B Tây Sơn - Q.Đống Đa - Hà Nội Ngành nghề đăng ký kinh doanh :Buôn bán hàng tư liệu tiêu dùng (chủ yếu là xe gắn máy) Vốn điều lệ : 100triệu VND
tùngvà lắp ráp động cơ xe hai bánh gắn máy Việt –Trung do Công tyTNHH Phạm Tú là chủ đầu tư được UBND tỉnh Hưng yên phê duyệt chấpthuận
Địa điểm : KCN Phố Nối B xã Nghĩa hiệp huyện Yên mỹ tỉnh Hưng yên.Tổng diện tích đất thuê : 44.685 m2 Thời hạn thuê đất : 35 năm.Tổng vốn đầu tư ban đầu : 74 tỉ 255 triệu VND
Năm 2002 - đến nay: Sau một chặng đường của quá trình phát triển, doanh
nghiệp đã lớn mạnh không ngừng cả về quy mô và năng lực sản xuất kinhdoanh Thương hiệu SUFAT đã bước đầu được khẳng định trên thươngtrường gắn liền với uy tín về chất lượng sản phẩm Mọi hoạt động củadoanh nghiệp được chuyển về Hưng yên Một số thay đổi sau: Tên doanhnghiệp : Công ty TNHH SUFAT VIETNAM
Trụ sở : KCN Phố Nối B xã Nghĩa hiệp huyện Yên mỹ tỉnh Hưng yên.Tổng vốn đầu tư hiện tại : 167 tỉ VND Vốn điều lệ : 106 tỉ VND
- Ngành nghề kinh doanh
+ Sản xuất chi tiết động cơ và phụ tùng xe gắn máy
+ Lắp ráp động cơ xe gắn máy
+ Lắp ráp xe gắn máy
+ Buôn bán hàng tư liệu tiêu dùng (chủ yếu là xe gắn máy)
+ Sản xuất phụ tùng ô tô, lắp ráp động cơ ô tô, lắp ráp ô tô các loại
1.1.2 Quá trình phát triển của công ty
GVHD: Phạm Văn Mùa 4 SV: Phạm Thu Giang
Trang 5
Năm 1996: Ngày 8/8/1996 được xem như ngày thành lập doanh nghiệp vớitên gọi ban đầu là:Tên doanh nghiệp: Công ty TNHH Phạm Tú Trụ sở:248B Tây Sơn - Q.Đống Đa - Hà Nội Ngành nghề đăng ký kinh doanh:Buôn bán hàng tư liệu tiêu dùng (chủ yếu là xe gắn máy) Vốn điều lệ: 100triệu VND
và lắp ráp động cơ xe hai bánh gắn máy Việt –Trung do Công ty TNHHPhạm Tú là chủ đầu tư được UBND tỉnh Hưng yên phê duyệt chấp thuận.Địa điểm : KCN Phố Nối B xã Nghĩa hiệp huyện Yên mỹ tỉnh Hưng yên.Tổng diện tích đất thuê: 44.685 m2.Thời hạn thuê đất: 35 năm Tổng vốnđầu tư ban đầu: 74 tỉ 255 triệu VND
nghiệp đã lớn mạnh không ngừng cả về quy mô và năng lực sản xuất kinhdoanh Thương hiệu SUFAT đã bước đầu được khẳng định trên thươngtrường gắn liền với uy tín về chất lượng sản phẩm Mọi hoạt động củadoanh nghiệp được chuyển về Hưng yên Một số thay đổi sau: Tên doanhnghiệp: Công ty TNHH SUFAT VIETNAM Trụ sở : KCN Phố Nối B xãNghĩa hiệp huyện Yên mỹ tỉnh Hưng yên Tổng vốn đầu tư hiện tại : 167 tỉVND Vốn điều lệ : 106 tỉ VND
Danh hiệu và giải thưởng đạt được
Năm 2002: Bằng khen “ Đạt thành tích xuất sắc trong SXKD và nộp thungân sách “ do UBND Tỉnh Hưng yên trao tặng Bằng khen “ Đạt thànhtích xuất sắc trong cuộc vận động xây dựng Quỹ vỡ người nghèo “ do Ủyban MTTQ Tỉnh Hưng yên trao tặng
Năm 2003: Bằng khen “ Đạt thành tích xuất sắc trong SXKD và nộp thungân sách “ do UBND Tỉnh Hưng yên trao tặng Cúp “ Giải vàng Sao Việt
“ do Bộ Công nghiệp, Bộ KHCN, Bộ NN và PTNT, Hiệp hội xe máy xeđạp Việt nam trao tặng
Năm 2004: Bằng khen “ Đạt thành tích xuất sắc trong SXKD và nộp thungân sách “ do UBND Tỉnh Hưng yên trao tặng Huy chương “ Điển hìnhtiên tiến thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế “ do Cục thuế Tỉnh Hưng yên traotặng
Năm 2005: Cúp vàng “ Thương hiệu và Nhón hiệu năm 2005 “ do Trungtâm văn hóa doanh nhân và Hội nghiên cứu khoa học Đông nam Á traotặng Cúp vàng “ Giải thưởng chất lượng Việt nam 2005 “ do Bộ KHCN,Cục TCĐLCL trao tặng
Năm 2006: Cúp vàng “Vỡ sự phát triển cộng đồng năm 2006" do Liênđoàn lao động Việt Nam trao tặng Nhãn hiệu cạnh tranh “Nhãn hiệu nổitiếng quốc gia” do Hội Sở hữa trớ tuệ Việt Nam bình chọn Bằng khen “
GVHD: Phạm Văn Mùa 5 SV: Phạm Thu Giang
Trang 6
Doanh nghiệp đạt thành tích xuất sắc” do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp traotặng.
Năm 2007: Bằng khen “ Đạt thành tích xuất sắc trong SXKD và nộp thungân sách” do UBDN tỉnh Hưng Yên trao tặng
Năm 2008: Chính phủ khen tặng “Huân chương lao động hạng 3”.Bằng khen “Đat thành tích xuất sắc trong SXKD và nộp thu ngân sách” doUBND tỉnh Hưng Yên trao tặng
Năm 2009: Bằng khen “Đat thành tích xuất sắc trong SXKD và nộp thungân sách” do UBND tỉnh Hưng Yên trao tặng
Năm 2010: Đạt danh hiệu “ Thương hiệu nổi tiếng quốc gia 2010” và
“Doanh nhân xuất sắc đất Việt năm 2010” do Bộ Công Thương Việt Nambình chọn
Bắt đầu xuất hiện từ năm 2000, thương hiệu xe máy Sufat của Công tyTNHH Sufat Việt Nam đã dần khẳng định được dấu ấn trên thị trường nộiđịa với mẫu mã, kiểu dáng đẹp, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiên liệu và giá
cả phù hợp
Trong nhiều năm, công ty đã hợp tác với các chuyên gia Nhật Bản, ĐàiLoan… của các hãng xe máy lớn trên thế giới để áp dụng những công nghệtiên tiến vào sản xuất
Mỗi sản phẩm xe máy Sufat trước khi đến tay người tiêu dùng đều trải quamột quá trình sản xuất, thử nghiệm nghiêm ngặt, đáp ứng các tiêu chuẩnquản lý chất lượng theo ISO 9001:2000 Tất cả các xe xuất xưởng đều đượckiểm tra các thông số chủ yếu và chạy thử trên đường thử đa địa hình
Là một trong số ít doanh nghiệp sản xuất lắp ráp xe máy ở Việt Nam(100% vốn trong nước), công ty đã đầu tư hơn nghìn tỷ đồng vào việc muathiết bị, công nghệ, thực hiện chuyển giao công nghệ sản xuất động cơ,nhựa, đèn, khung xe với dây chuyền lắp ráp động cơ có công suất 200.000động cơ một năm và dây chuyền lắp xe có công suất 150.000 xe một năm.Bên cạnh đó là đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ sư, luôn làm chủ các công nghệtiên tiến cũng như có trình độ về quản lý sản xuất Sản phẩm đã đạt tỷ lệnội địa hóa 90%, góp phần vào chiến lược phát triển ngành công nghiệp xemáy Việt Nam
Sufat cũng đã đầu tư nhiều tỷ đồng cho việc nghiên cứu, thiết kế áp dụngcông nghệ kỹ thuật mới và kiểu dáng công nghiệp, nhằm đáp ứng nhu cầungày càng cao và đa dạng của người tiêu dùng Việc đầu tư xây dựng mộttrung tâm nghiên cứu và phát triển sản phẩm kỹ thuật cao tại Việt Nam vớiquy mô đầu tư khoảng 10 triệu USD đã giúp cho doanh nghiệp này có khảnăng tự nghiên cứu, thiết kế và phát triển sản phẩm Nhiều dòng xe máy đãđược Cục Sở hữu Trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ cấp bằng bảo hộ độcquyền
GVHD: Phạm Văn Mùa 6 SV: Phạm Thu Giang
Trang 7
Các dòng xe máy mang thương hiệu Sufat bao gồm Sufat Backhand;Backhand Sport; Sufat Rendo; Sufat Naiad; Sufat Labour… Gần đây nhất
là nhãn hiệu Five Most, gắn động cơ Sufat 2009 - thế hệ động cơ mới vớinhiều cải tiến giúp nâng cao công suất động cơ nhưng vẫn đảm bảo mứctiêu hao nhiên liệu thấp và mức khí xạ thải đạt tiêu chuẩn Euro II Trướctháng 10 năm nay, công ty dự kiến cho ra đời dòng xe ”Thousand” để chàomừng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội
Sản phẩm của công ty đã được nhận cúp vàng “Giải thưởng chất lượngViệt Nam 2005″ do Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Tiêu chuẩn đo lườngchất lượng trao tặng và nhận được cúp vàng “Thương hiệu và nhãn hiệu nổitiếng quốc gia” các năm 2005, 2006, 2007 do Trung tâm Văn hóa Doanhnhân và Hội nghiên cứu khoa học Đông Nam Á trao tặng Với những nỗlực của mình, tập thể cán bộ công nhân viên Công ty Sufat Việt Nam cũng
đã nhận được Huân chương lao động của nhà nước
Sufat hiện có hệ thống đại lý, cửa hàng phân phối rộng khắp ở 50 tỉnh,thành phố trong cả nước Mỗi cửa hàng đều có trung tâm bảo hành, bảodưỡng sản phẩm theo đúng tiêu chuẩn với trang thiết bị hiện đại, đội ngũ
kỹ thuật viên được đào tạo chính quy và giàu kinh nghiệm
Chiến lược phát triển: Chiến lược phát triển của Công ty SUFAT ViệtNam trong vững 5 năm tới(2010 – 2015) tập trung vào 4 mục tiêu lớn sau:
Sản phẩm: Đa dạng hóa sản phẩm bằng liên tục thay đổi kiểu dáng, mẫumóc Song song với việc đầu tư xây dựng 01 trung tâm thiết kế xe máy hiệnđại đầu tiên ở Việt Nam, phấn đấu mẫu năm đưa ra thị trường 1 – 2 mẫu xemới nhằm hỗ trợ hệ thống đại lý phân phối, kích thích nhu cầu người tiêudùng do có nhiều lựa chọn khi mua xe máy SUFAT
- Duy trì chất lượng ổn định bằng mọi giá nhằm giữ vững thươnghiệu, tạo niềm tin và uy tín của xe máy SUFAT dưới con mắt người tiêudùng
Quản lý sản xuất:
- Giảm thiểu mọi lãng phí, thất thoát bao gồm lãng phí về vật tư, nguyênvật liệu, lãng phí về giờ chạy máy, tiêu hao điện năng, lãng phí trong sắpxếp nhân công…đặc biệt là lãng phí về xây dựng và thực hiện kế hoạch sản
- Nâng cao trình độ quản lý sản xuất kiểm soát chặt chất lượng sảnphẩm ở mọi khâu của công đoạn sản xuất Kịp thời phát hiện, báo cáo, xử
lý lỗi phát sinh trong quá trình sản xuất khụng để lọt sản phẩm kém chất
- Duy trì hệ thống QLCL theo các tiêu chuẩn ISO 9001 : 2000, kiêntrì phát động và duy trì thường xuyên chương trình 5S nhằm xây dựng
GVHD: Phạm Văn Mùa 7 SV: Phạm Thu Giang
Trang 8
được một môi trường làm việc văn minh, tác phong làm việ khoa học chotoàn bộ các thành viên Công ty ở mọi vị trí công tác
có thể thực hiện tốt các chính sách hậu mãi của Công ty
- Phương thức thanh toán 1 lần (100%) phải được nghiên cứu và đưa vào
áp dụng từng bước nhằm dần thay thế toàn bộ mọi phương thức thanh toáncũ
Chiến lược con người:
Lấy chiến lược đầu tư xây dựng con người làm tư tưởng xuyên suốt trongmọi kế hoạch tương lai của Công ty Kết hợp cân đối cả hai nguồn nhânlực:
Tại chỗ, có thâm niên (cần đào tạo lại căn bản, đào tạo nâng cao)
Từ bên ngoài (cần có môi trường làm việc, đãi ngộ vật chất thu hút) Vàtrên nguyên tắc tối thượng là xây dựng niềm tin
1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của công ty
1.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý và sơ đồ bộ máy quản lý
Công ty TNHH Sufat là một doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá tổchức và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh theo mô hình hoạt động củacông ty cổ phần được quy định tại nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày29/6/1998 của chính phủ Mô hình tổ chức cơ cấu này mới được xác lập từngày Nhà máy chính thức được cổ phần hoá (18/11/2002) Hiện tại cơ cấu
tổ chức của Nhà máy được xây dựng theo mô hình tập trung chỉ đạo thốngnhất từ trên xuống dưới:
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA NHÀ MÁY
GVHD: Phạm Văn Mùa 8 SV: Phạm Thu Giang
Trang 9- Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Nhà máy: Là ngườiđứng đầu bộ máy lãnh đạo của nhà máy Giám đốc Nhà máy là người đạidiện cho nhà máy trước pháp luật, Nhà nước, cơ quan chủ quản và trướcnhà máy về hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của Nhà máy mình.Giám đốc phụ trách điều hành trực tiếp Phó giám đốc và các phòng ban.
-Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm phó giám đốc: Phụ trách điềuhành sản xuất kinh doanh ở các xưởng sản xuất
-Uỷ viên Hội đồng quản trị: 1 uỷ viên ở Hà nội thay mặt cho Giámđốc phụ trách điều hành quản lý chi nhánh này và chịu ntrách nhiệm trướcGiám đốc
-Toàn bộ Hội đồng quản trị được bầu ra bởi các cổ đông của Nhàmáy Hội đồng quản trị mỗi năm họp một lần và sẽ đề ra kế hoạch hoạtđộng cho mỗi năm Đồng thời giải quyết các vấn đề cần thiết khác, nếu cầnHội đồng quản trị sẽ có phiên họp bất thường
+ Phòng tổ chức: phụ trách về lao động, tiền lương, quản lý nhân sự củanhà máy, trực tiếp thực hiện các công việc thuộc bộ phận văn phòng củanhà máy như công tác lưu trữ, văn thư
+ Phòng kế toán tài vụ: Trực tiếp thực hiện công tác hành chính kế toántheo đúng chế độ nhà nước quy định không có nhiệm vụ quản lý kiểm tratoàn bộ công tác tài chính kế toán của công ty Qua đó, theo dõi tình hìnhsản xuất kinh doanh, cung cấp các thông tin kịp thời, chính xác, giúp banGiám đốc có căn cứ tin cậy để phân tích, đánh giá tình hình kinh doanh vàđưa ra những quyết định đúng đắn nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao Phòngcòn có nhiều nhiệm vụ hướng dẫn, đôn đốc kiểm tra việc thực hiện chế độchính sách tài chính, kế toán và công tác tài chính, kế toán và công tác kếtoán tại các trung tâm, chi nhánh
Xưởng sản xuất: Thực hiện nhiệm vụ chính là lắp ráp xe máy
+ Phòng kinh doanh: Trực tiếp chịu trách nhiệm thực hiện các họatđộng tiếp thị - bán hàngtới các khách hàng và khách hàng tiềm năng củaDoanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu về Doanh số, Thị phần, ngoài ra còn cónhiệm vụ theo dõi tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của chinhánh theo sự chỉ đạo hướng dẫn của phòng kế toán tài vụ và định kỳ lậpbáo cáo gửi về phòng kế toán của nhà máy, thực hiện các hoạt động liênquan đến lĩnh vực xuất - nhập khẩu theo kế hoạch của nhà máy
1.2.2 Chức năng.
Công ty TNHH Sufat thực hiện sản xuất kinh doanh với phương châmphục vụ đa nhu cầu người tiêu dùng về các mặt hàng công nghệ cao Hoạtđộng của nhà máy là kinh doanh tổng hợp, chủ yếu là:
Thiết và sản xuất phụ tùng, lắp ráp và kinh doanh xe ôtô - xe gắn máy.Xây dựng các công trình dân sinh
GVHD: Phạm Văn Mùa 9 SV: Phạm Thu Giang
Trang 10
Và đặc biệt mới đây có́ thêm chi nhánh chuyên về ́bất động sản.
1.2.3 Nhiệm vụ của nhà máy.
- Nhà máy có trách nhiệm thực hiện đúng chế độ quản lý tài chính thống
kê, kế toán, lao động tiền lương và chính sách cán bộ
- Đảm bảo vệ sinh môi trường và chật tự an toàn xã hội
- Trong quan hệ với khách hàng theo đúng hợp đồng kinh tề của nhà nướcViệt Nam và công ước quốc tế tham gia
- Sử dụng và khai thác đúng hiệu quả các nguồn vốn của đơn vị, tự bù đắpchi phí, kinh doanh có lãi và làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước
1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
1.3.1 Đặc điểm về sản phẩm của công ty
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, nhàmáy luôn duy trì mối quan hệ với bạn hàng đối với các đối tác trong nước.Mặt khác, cũng tìm kiếm và mở rộng phạm vi kinh doanh với các doanhnghiệp nước bạn với nhiều sản phẩm mới đa dạng và phong phú
Nhà máy còn có nhiều chi nhánh trên cả nước nên sản phẩm của nhà máy
có thể được phân phối rộng rãi trên thị trường Nhà máy còn có một mạnglưới kinh doanh phân phối mạnh trên thị trường toàn khu vực Miềnbắc,Trung và Miền Nam bởi các đại lý bán buôn, bán lẻ
Nhà máy đã thiết lập mối quan hệ bạn hàng khá chắc chắn với các đối tácnước ngoài Trong những năm qua, nhà máy đã đại diện cho hàng trămhãng nước ngoài đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghệ tại Việt Nam,Lào, Campuchia…
Đặc điểm quá trình sản xuất sản phẩm tại công ty
Hoạt động sản xuất là một mặt hàng hoạt động trong các lĩnh vực kinhdoanh của doanh nghiệp nhằm thực hiện các chức năng tạo ra sản phẩmcủa xưởng sản xuất, hoạt động sản xuất sản phẩm hiện nay càng đóng vaitrò quan trọng trong các hoạt động của nhà máy Một mặt sản xuất vừa tạo
ra thu nhập trong tổng doanh thu, mặt khác còn hỗ trợ trong các hoạt động
khác của nhà máy có điều kiện mở rộng
1.3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh
Bảng 1: Bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công TNHH SUFAT năm 2007, 2008, 2009
Tổng doanh 29.865.721.450 34.584.562.112 39.587.548.548
GVHD: Phạm Văn Mùa 10 SV: Phạm Thu Giang
Trang 11
Tổng chi phí 28.865.721.450 31.084.562.112 32.387.548.548Tổng lợi
nhuận 1.000.000.000 3.500.000.000 7.200.000.000Thu nhập
sách nhà
nước
2.987.654.254 5.245.154.265 8.254.245.687Nguồn: Phòng kế toán
1.4 Đặc điểm về lao động.
1.4.1 Số lượng lao động trong nhà máy
Bảng 2: Quy mô lao động của nhà máy
Số
Sốngười %
là hợp lý vì nhà máy chuyên chế tạo và lắp ráp xe máy Cùng với việc ngàycàng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thì lực lượng lao động trực tiếp
GVHD: Phạm Văn Mùa 11 SV: Phạm Thu Giang
Trang 12
trong nhà máy cũng đang ngày một tăng lên để đáp ứng đòi hỏi của hoạtđộng sản xuất kinh doanh điều này thể hiện rõ ở tỷ trọng lao động trongnhà máy qua các năm.
Như vậy với đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình thì số lượng laođộng trong nhà máy là hợp lý Lao đông đợc phân bố như trên là thuận lợi
để nhà máy có thể phát triển mở rộng thị trường, tuy nhiên kéo theo nhữngthuận lợi ấy là những thách thức cho khi thực hiện công tác đào tạo nguồnnhân lực của mình Đội ngũ lao động của nhà máy đặc tính khác nhau khánhiều như về tuổi tác, trình độ, giới tính, thâm niên trong nghề do vậy nên
có sự đòi hỏi với công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong nhàmáy phải có kế hoạch và chương trình đào tạo hợp lý, cũng như phải thựchiện được việc đánh giá và xác định nhu cầu đào tạo phải chính xác đầy đủ
Như vậy mới đem lại hiệu quả cao đối với công tác đào tạo và pháttriển nguồn nhân lực trong nhà máy
Trong nhà máy thì tỷ lệ giữa lao động trực tiếp và gián tiếp có xuhướng giảm trong những năm vừa qua tỷ lệ lao động gián tiếp năm 2007 là10,12 tới năm 2009 là 7,05 Tuy nhiên điều này là khá hợp lý vì việc sốlượng lao động quản lý tăng lên là để có khả năng điều hành lực lượng laođộng khối trực tiếp đang ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng
1.4.2 Trình độ lao động trong nhà máy.
Bảng 3: Cơ cấu đào tạo của lao động trong Công ty TNHH Sufat
Sốngười
kỹ thuật 40 13,65 27 8,65 24 7,64Lao động
Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính cty TNHH Sufat
Qua bảng trên thấy rằng lao động trong nhà máy phần lớn có trình độ đàotạo là Cao đẳng, Trung cấp, công nhân kỹ thuật và trình độ phổ thông Cóthể thấy, lao động trong nhà máy trình độ cao đẳng và trung cấp là chiếmnhiều nhất( chiếm 37.90% năm 2009) và tăng qua các năm, tuy nhiên số
GVHD: Phạm Văn Mùa 12 SV: Phạm Thu Giang
Trang 13
công nhân kỹ thuật có xu hướng giảm Điều này cho thấy nhà máy đangthực hiện việc nâng cao trình độ của lực lượng lao động, số lao động kỹthuật, và có trình độ phổ thông vẫn giữ ở mức cao trong cơ cấu lao độngnhưng chuyển dịch dần từ công nhân kỹ thuật sang lao động có trình độđào tạo cao hơn là cao đẳng, trung cấp và đại học.
Lao động có trình độ đại học và cao đẳng không nhiều nhưng tậptrung chủ yếu vào lao động quản lý Điều nay phù hợp với điều kiện nhàmáy là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh phụtùng ôtô xe máy nên sử dụng nhiều công nhân sản xuất, với yêu cầu vềtrình độ chủ yếu là phổ thông và trung học chuyên nghiệp Với trình độđào tạo khá phù hợp với yêu cầu thực hiện công việc nên điều này tạothuận lợi công tác đào tạo của nhà máy, với nội dung chương trình đào tạođúng với công việc đang làm thì người lao động có thể tiếp thu và vậndụng có hiệu quả vào trong thực tiễn sản xuất
Điều này được thể hiện trong phần đánh giá kết quả đào tạo :
Ứng dụng kiến thức được học vào thực tiễn của lao động được đàotạo tại nhà máy( đơn vị %)
82
2 0
Ứng dụng được hoàn toàn
Chỉ ứng dụng được một phần
GVHD: Phạm Văn Mùa 13 SV: Phạm Thu Giang
Trang 14
trình độ đại học, cao đẳng và trung cấp Trong khi đó lĩnh vực hoạt độngsản xuất kinh doanh của nhà máy lại ngày càng đòi hỏi người lao động nhất
là lao động gián tiếp của nhà máy phải có sự phát triển về số lượng và chấtlượng Điều này được thể hiện ở bảng sau đây:
Bảng 4: Cơ cấu trình độ đào tạo của lao động của Công ty Sufat phân theo lao động trực tiếp và gián tiếp
-Nguồn : Phòng tổ chức hành chính Cty TNHH Sufat
Qua đây có thể thấy rằng công tác đào tạo và phát triển của nhà máythực hiện với lao động gián tiếp trong thời gian vừa qua vẫn chưa tập trungvào công tác đào tạo kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho lao động giántiếp trong nhà máy, mà chỉ tập trung đào tạo kỹ năng quản lý với bộ phậnlao động này Do vậy để có thể xây dựng được đội ngũ lao động thực sựgiỏi về kiến thức chuyên môn và khả năng thực hiện công việc để đáp ứngnhu cầu sản xuất kinh doanh trong thời gian tới thì đòi hỏi kế hoạch đào tạo
và phát triển của nhà máy tập trung hơn nữa vào đội ngũ lao động gián tiếp
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP
2.1 Khái niệm bán hàng
GVHD: Phạm Văn Mùa 14 SV: Phạm Thu Giang