1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm của Công ty TNHH Chung Hiếu

63 290 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm của Công ty TNHH Chung Hiếu
Tác giả Nguyễn Bá Trung
Người hướng dẫn GVHD: Hoàng Thị Nhung
Trường học Khoa Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 501 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm của Công ty TNHH Chung Hiếu

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1 .7

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH 7

1 Khái niệm cạnh tranh 7

2 Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh 9

2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân 10

2.2 Đối với doanh nghiệp 10

2.4 Đối với sản phẩm 11

3 Các hình thức cạnh tranh 12

3.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh 12

3.1.1 Cạnh tranh giữa người bán và người mua: 12

3.1.2 Cạnh tranh giữa người mua và người mua: 12

3.2 Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh 13

3.2.1 Cạnh tranh hoàn hảo: 13

3.2.2 Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: : 13

3.3 Căn cứ vào phạm vi kinh tế 14

3.3.1 Cạnh tranh nội bộ ngành: 14

3.3.2 Cạnh tranh giữa các ngành: 14

4 Các công cụ cạnh tranh 15

4.1 Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm 15

4.2 Cạnh tranh bằng giá cả 16

4.3 Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối 18

4.4 Cạnh tranh bằng chính sách Maketing 19

5 Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh 19

II KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 22

1 Khái niệm về khả năng cạnh tranh 22

2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh 26

Trang 2

2.1 Thị phần 26

2.2 Năng suất lao động 27

2.3 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận 27

2.4 Uy tín của doanh nghiệp 28

2.5 Năng lực quản trị 29

CHƯƠNG 2 31

THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH CHUNG HIẾU 31

1 Giới thiệu khái quát về Công ty TNHH Chung Hiếu 31

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 31

Giấy chứng nhận ĐKKD số : 2004000070 31

1.2 Mô hình và cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Chung Hiếu 32

1.3 Vùng thị trường hoạt động của công ty 34

1.3.1 Thị trường trong nước 34

1.3.2 Thị trường ngoài nước 34

1.5 Quy mô sản xuất kinh doanh hiện tại của Công ty TNHH Chung Hiếu 37

2 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2008 - 2010 của Công ty TNHH Chung Hiếu 38

2.1 Về doanh thu 40

2.2 Về nộp ngân sách nhà nước 40

3 Thực trạng cạnh tranh sản phẩm gỗ của Công ty TNHH Chung Hiếu 41

3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Cong ty TNHH Chung Hiếu 42

3.1.1 Các nhân tố chủ quan 42

3.1.2 Các nhân tố khách quan 44

3.1.3 Các nhân tố thuộc môi trường nghành 47

4 Những thành tựu và hạn chế của Công ty TNHH Chung Hiếu 52

4.1 Những thành tựu đạt được 52

Trang 3

4.2 Những hạn chế còn vướng mắc 52

CHƯƠNG 3 54

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÁC SẢN PHẨM GỖ CỦA CÔNG TY TNHH CHUNG HIẾU 54

1 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm của Công ty TNHH Chung Hiếu 54

1.1 Phát triển các biện pháp quảng cáo, xây dựng thương hiệu 54

1.2 Xây dựng chiến lược thúc đẩy bán hàng 55

1.3 Giảm chi phí sản xuất hạ giá thành sản phẩm 55

1.4 Nâng cao chất lượng sản phẩm 55

1.5 Hoàn thiện tổ chức bộ máy của công ty, bố trí nhân lực hợp lý 55

1.6 Xây dựng văn hoá doanh nghiệp 56

1.7 Nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu mới, những tiến bộ khoa học kỹ thuật 56

1.8 Tiếp cận thông tin 57

2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ: 58

2.1.Kiến nghị đối với Nhà nước 58

2.2 Kiến nghị đối với hiệp hội gỗ Việt Nam 58

2.3 Kiến nghị đối với công ty 59

KẾT LUẬN 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập đang đặt ra cho các doanh nghiệp ViệtNam nhiều thuận lợi và cũng không ít những khó khăn Để có thể đứng vững vàphát triển trong môi trường cạnh tranh đầy khốc liệt ấy và có thể tự khẳng địnhđược mình các doanh nghiệp cần phải cố gắng, nỗ lực hết mình,không ngừngtìm kiếm, học hỏi đổi mới cách thức hoạt động và chiến lược kinh doanh chodoanh nghiệp mình trước sự biến động khôn lường của môi trường kinh doanh,của thị trường

Cho đến nay Việt Nam đã tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế thế giớinhư : ASEAN, APEC, WTO Năm 2008 là thời điểm chúng ta thực hiện tất cảcác cam kết tự do thương mại trong khuôn khổ AFTA, năm 2009 các cam kếtcủa hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kì đã được áp dụng Khi đó các ràocản bảo hộ che chắn cho các doanh nghiệp Việt Nam đã dần dần được xóa bỏ,thuế nhập khẩu một số mặt hàng sẽ phải điều chỉnh để tạo ra một sân chơi bìnhđẳng hơn Như vậy một số ngành hàng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn

Ngành gỗ Việt Nam hiện nay là một trong những lĩnh vực có tình hìnhcạnh tranh gay gắt và đang gặp phải một số khó khăn như trên Hiện nay cácdoanh nghiệp gỗ Việt Nam thường có năng lực cạnh tranh thấp, không có lợi thếcạnh tranh về các yếu tố đầu vào như giá nguyên vật liệu, nhân công khiến chogiá thành sản phẩm cao nhưng trong thời gian tới những ưu tiên của nhà nướccho những sản phẩm sản xuất trong nước sẽ dần bị xóa bỏ, vì vậy các doanhnghiệp gỗ Việt Nam phải nghiên cứu tìm hiểu năng lực cạnh tranh của chínhdoanh nghiệp mình và tìm ra biện pháp đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh Hiện nay, trên thị trường tồn tại rất nhiều doanh nghiệp sản xuất vàkinh doanh gỗ Trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH Chung Hiếu emnhận thấy, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mà hiện tại khả năngcạnh tranh của công ty vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại Để khắc phục được phầnnào đó hạn chế và nâng cao tính cạnh tranh của công ty trên thương trường, emchọn đề tài :

Trang 5

” Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm

của Công ty TNHH Chung Hiếu “ để làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.

Em xem đây là cơ hội tốt để mình vận dụng những kiến thức đã đượchọc trong nhà trường vào thực tiễn nền kinh tế Việt Nam hiện nay Với hi vọnggóp một phần kiến thức của mình để tìm ra một số giải pháp nhằm nâng caonăng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Chung Hiếu

Chuyên đề này gồm có 3 chương :

CHƯƠNG 1 : NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH CHUNG HIẾU

CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÁC SẢN PHẨM GỖ CỦA CÔNG TY TNHH CHUNG HIẾU

Trang 6

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ

NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH

I LÝ THUYẾT CẠNH TRANH

1 Khái niệm cạnh tranh

Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay, các kháinệm liên quan đến cạnh trạnh còn rất khác nhau.Theo Mác“cạnh tranh là sựphấn đấu ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiệnthuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêungạch”, có các quan niệm khác lại cho rằng “cạnh tranh là sự phấn đấu về chấtlượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn các doanhnghiệp khác” (Theo nhóm tác giả cuốn “ Nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo

hộ sản xuất trong nước”) Theo kinh tế chính trị học “cạnh tranh là sự thôn tínhlẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành lấy thị trường, khách hàng cho doanhnghiệp mình” Để hiểu một cách khái quát nhất ta có khái niệm như sau:

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa cácdoanh nghiệp trên thị trường nhằm giành được ưu thế hơn về cùng một loại sảnphẩm hàng hoá hoặc dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với các đối thủcạnh tranh

Từ khi nước ta thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế, từ nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề cạnh tranh bắt đầu xuất hiện

và len lỏi vào từng bước đi của các doanh nghiệp Môi trường hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp lúc này đầy sự biến động và vấn đề cạnh tranh đã trởnên cấp bách, sôi động trên cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế Nhưvậy, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trong bất cứ một lĩnh vực nào, bất cứmột hoạt động nào của con người cũng nổi cộm lên vấn đề cạnh tranh Ví nhưcác quốc gia cạnh tranh nhau để giành lợi thế trong đối ngoại, trao đổi, các

Trang 7

doanh nghiệp cạnh tranh nhau để lôi cuốn khách hàng về phía mình, để chiếmlĩnh những thị trường có nhiều lợi thế và con người cạnh tranh nhau để vươn lênkhẳng định vị trí của mình cả về trình độ chuyên môn nghiệp vụ để những ngườidưới quyền phục tùng mệnh lệnh, để có uy tín và vị thế trong quan hệ với cácđối tác Như vậy, có thể nói cạnh tranh đã hình thành và bao trùm lên mọi lĩnhvực của cuộc sống, từ tầm vi mô đến vĩ mô, từ một cá nhân riêng lẻ đến tổng thểtoàn xã hội Điều này xuất phát từ một lẽ đương nhiên nước ta đã và đang bướcvào giai đoạn phát triển cao về mọi lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hoá, màbên cạnh đó cạnh tranh vốn là một quy luật tự nhiên và khách quan của nền kinh

tế thị trường, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người, bởi tự

do là nguồn gốc dẫn tới cạnh tranh, cạnh tranh là động lực để thúc đẩy sản xuất,lưu thông hàng hoá phát triển Bởi vậy để giành được các điều kiện thuận lợitrong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm buộc các doanh nghiệp phải thường xuyênđộng não, tích cực nhạy bén và năng động phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật,ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới, bổ sung xây dựng các cơ sở hạtầng, mua sắm thêm trang thiết bị máy móc, loại bỏ những máy móc đã cũ kỹ vàlạc hậu và điều quan trọng phải có phương pháp tổ chức quản lý có hiệu quả,đào tạo và đãi ngộ trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động Thực tếcho thấy ở đâu thiếu có sự cạnh tranh thường ở đó biểu hiện sự trì trệ và yếukém sẽ dẫn doanh nghiệp sẽ mau chóng bị đào thải ra khỏi quy luật vận độngcủa nền kinh tế thị trường Để thúc đẩy tiêu thụ và đẩy nhanh tốc độ chu chuyểnhàng hoá các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu, thịhiếu của khách hàng Do đó, cạnh tranh không chỉ kích thích tăng năng suất laođộng, giảm chi phí sản xuất mà còn cải tiến mẫu mã, chủng loại hàng hoá, nângcao chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ làm cho sản xuất ngày càng gắnliền với tiêu dùng, phục vụ nhu cầu xã hội được tốt hơn Cạnh tranh là một điềukiện đồng thời là một yếu tố kích thích hoạt động kinh doanh phát triển Bêncạnh những mặt tích cực cạnh tranh còn để lại nhiều hạn chế và tiêu cực đó là sựphân hoá sản xuất hàng hoá, làm phá sản những doanh nghiệp kinh doanh gặp

Trang 8

nhiều khó khăn do thiếu vốn, cơ sở hạ tầng hạn hẹp, trình độ công nghệ thấp và

có thể làm cho doanh nghiệp phá sản khi doanh nghiệp gặp những rủi ro kháchquan mang lại như thiên tai, hoả hoạn… hoặc bị rơi vào những hoàn cảnh, điềukiện không thuận lợi

Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất đó làcuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau,kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự thay thế lẫnnhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận Các doanh nghiệpthương mại cần nhận thức đúng đắn về cạnh tranh để một mặt chấp nhận cạnhtranh theo khía cạnh tích cực để từ đó phát huy yếu tố nội lực nâng cao chấtlượng phục vụ khách hàng, mặt khác tình trạng cạnh tranh bất hợp lý dẫn đếnlàm tổn hại đến lợi ích cộng đồng cũng như làm suy yếu chính mình

Doanh nghiệp thương mại mang tính đặc thù phải chịu sự cạnh tranh quyếtliệt hơn so với các loại hình doanh nghiệp khác

2 Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây phạm trù cạnh tranh hầu nhưkhông tồn tại giữa các doanh nghiệp, tại thời điểm này các doanh nghiệp hầunhư đã được nhà nước bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho mọi hoạt động, kể

cả khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trách nhiệm này cũng thuộc về nhà nước

Vì vậy, vô hình dung nhà nước đã tạo ra một lối mòn trong kinh doanh, một thóiquen trì trệ và ỉ lại, doanh nghiệp không phải tự tìm kiếm khách hàng mà chỉ cókhách hàng tự tìm đến doanh nghiệp Chính điều đó đã không tạo được động lựccho doanh nghiệp phát triển Sau khi kết thúc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI(1986) nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, một bước ngoặt lớn, nền kinh

tế thị trường được hình thành thì vấn đề cạnh tranh xuất hiện và có vai trò đặcbiệt quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với người tiêu dùngcũng như nền kinh tế quốc dân nói chung

Trang 9

2.1 Đối với nền kinh tế quốc dân

Đối với nền kinh tế cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lực của sựphát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất laođộng mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ xã hội, cạnh tranhcòn là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanh nghiệp Bên cạnh đócạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuấthiện của những sản phẩm mới Điều đó chứng tỏ đời sống của con người ngàycàng được nâng cao về chính trị, về kinh tế và văn hoá Cạnh tranh bảo đảm thúcđẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càngphát triển sâu và rộng Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích to lớn mà cạnh tranhđem lại thì nó vẫn còn mang lại những mặt hạn chế như cạnh tranh không lànhmạnh tạo sự phân hoá giàu nghèo, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn đến cónhững manh mối làm ăn vi phạm pháp luật như trốn thuế, lậu thuế, hàng giả,buôn bán trái phép những mặt hàng mà Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm

2.2 Đối với doanh nghiệp

Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt động kinhdoanh trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứng vững Đểtồn tại và đứng vững các doanh nghiệp phải có những chiến lược cạnh tranh cụthể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô Họ cạnh tranh đểgiành những lợi thế về phía mình, cạnh tranh để giành giật khách hàng, làm chokhách hàng tự tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp vớithị hiếu, nhu cầu người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhu cầucủa khách hàng, kịp thời, nhanh chóng và đầy đủ các sản phẩm cũng như dịch

vụ kèm theo với mức giá phù hợp thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại

và phát triển Do vậy cạnh tranh là rất quan trọng và cần thiết

Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác maketing bắt đầu từviệc nghiên cứu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào?

và sản xuất cho ai? Nghiên cứu thị trường để doanh nghiệp xác định được nhucầu thị trường và chỉ sản xuất ra những gì mà thị trường cần chứ không sản xuất

Trang 10

những gì mà doanh nghiệp có Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải đưa racác sản phẩm có chất lượng cao hơn, tiện dụng với người tiêu dùng hơn Muốnvậy các doanh nghiệp phải áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào quátrình sản xuất kinh doanh, tăng cường công tác quản lý, nâng cao trình độ taynghề cho công nhân, cử các cán bộ đi học để nâng cao trình độ chuyên môn.Cạnh tranh thắng lợi sẽ tạo cho doanh nghiệp một vị trí xứng đáng trên thịtrường tăng thêm uy tín cho doanh nghiệp Trên cơ sở đó sẽ có điều kiện mởrộng sản xuất kinh doanh, tái sản xuất xã hội, tạo đà phát triển mạnh cho nềnkinh tế.

2.3 Đối với ngành

Hiện nay đối với nền kinh tế nói chung và đối với ngành gỗ nói riêng cạnhtranh đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển, nâng cao chất lượngsản phẩm Cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh sẽ tạo bước đà vững chắc chomọi ngành nghề phát triển Nhất là đối với ngành gỗ là một ngành có vai trò chủlực trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Cạnh tranh sẽ tạo bước đà vàđộng lực cho ngành phát triển trên cơ sở khai thác lợi thế và điểm mạnh củangành đó là thu hút được một nguồn lao động dồi dào và có thể khai thác tối đanguồn lực đó

Như vậy, trong bất cứ một hoạt động kinh doanh nào dù là có quy mô hoạtđộng lớn hay quy mô hoạt động nhỏ, dù là hoạt động đó đứng ở tầm vĩ mô hay

vi mô thì không thể thiếu sự có mặt và vai trò của yếu tố cạnh tranh

2.4 Đối với sản phẩm.

Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng cao vềchất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ Giúp cho lợi ích củangười tiêu dùng và của doanh nghiệp thu được ngày càng nhiều hơn Ngày naycác sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còncung cấp và xuất khẩu ra nước ngoài Qua những ý nghĩa trên ta thấy rằng cạnhtranh không thể thiếu sót ở bất cứ một lĩnh vực nào của nền kinh tế Cạnh tranhlành mạnh sẽ thực sự tạo ra những nhà doanh nghiệp giỏi và đồng thời là động

Trang 11

lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng xã hội Bởi vậy cạnhtranh là một yếu tố rất cần có sự hỗ trợ và quản lý của nhà nước để phát huynhững mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực như cạnh tranh không lànhmạnh dẫn đến độc quyền và gây lũng loạn, xáo trộn thị trường.

3 Các hình thức cạnh tranh

Cạnh tranh được phân loại theo các hình thức khác nhau:

3.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh

Cạnh tranh được chia thành ba loại:

3.1.1 Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn

ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của mình.Người bán muốn bán với giá cao nhất để tối đa hoá lợi nhuận còn người muamuốn mua với giá thấp nhưng chất lượng vẫn được đảm bảo và mức giá cuốicùng vẫn là mức giá thoả thuận giữa hai bên

3.1.2 Cạnh tranh giữa người mua và người mua: Là cuộc cạnh tranh trên

cơ sở quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu Lúcnày hàng hóa trên thị trường sẽ khan hiếm, người mua để đạt được nhu cầumong muốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức độcạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những người mua, kết quả là giá cả hànghoá sẽ tăng lên, những người bán sẽ thu được lợi nhuận lớn trong khi nhữngngười mua bị thiệt thòi cả về giá cả và chất lượng, nhưng trường hợp này chủyếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và xảy ra ở một số nơi khi diễn ra hoạtđộng bán đấu giá một loại hàng hoá nào đó

3.1.3 Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh

gay go và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơnsức cầu rất nhiều, khách hàng được coi là thượng đế của người bán, là nhân tố

có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Dovậy các doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để giành những ưu thế

và lợi thế cho mình

Trang 12

3.2 Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh

Theo tiêu thức này cạnh tranh được chia thành bốn loại:

3.2.1 Cạnh tranh hoàn hảo: Là cạnh tranh thuần tuý, là một hình thức đơn

giản của cấu trúc thị trường trong đó người mua và người bán đều không đủ lớn

để tác động đến giá cả thị trường Nhóm người mua tham gia trên thị trường nàychỉ có cách thích ứng với mức giá đưa ra vì cung cầu trên thị trường được tự dohình thành, giá cả do thị trường quyết định

3.2.2 Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: Đây là hình thức cạnh tranh

phổ biến trên thị trường mà ở đó doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh có thể chiphối được giá cả của sản phẩm thông qua hình thức quảng cáo, khuyến mại cácdịch vụ trong và sau khi bán hàng Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh màphần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm mang nhãnhiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét về chất lượng thì sự khác biệt giữa cácsản phẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn rất nhiều Cạnhtranh không hoàn hảo có hai loại:

a Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số chủ thể có

ảnh hưởng lớn, có thể ép các đối tác của mình phải bán hoặc mua sản phẩm củamình với giá rất cao và những người này có thể làm thay đổi giá cả thị trường

Có hai loại cạnh tranh độc quyền đó là độc quyền bán và độc quyền mua Độcquyền bán tức là trên thị trường có ít người bán và nhiều người mua, lúc nàyngười bán có thể tăng giá hoặc ép giá khách hàng nếu họ muốn lợi nhuận thuđược là tối đa, còn độc quyền mua tức là trên thị trường có ít người mua vànhiều người bán khi đó khách hàng được coi là thượng đế, được chăm sóc tậntình và chu đáo nếu không những người bán sẽ không lôi kéo được khách hàng

về phìa mình Trong thực tế có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sảnphẩm nào thay thế , tạo ra sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kếtvới nhau gây trở ngại cho quá trình phát triển sản xuất và làm tổn hại đến ngườitiêu dùng Vì vậy phải có một đạo luật chống độc quyền nhằm chống lại liênminh độc quyền của một số nhà kinh doanh

Trang 13

b Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số ngành

sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất Lúc này cạnh tranh sẽ xảy ragiữa một số lực lượng nhỏ các doanh nghiệp Do vậy mọi doanh nghiệp phảinhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào số lượng

mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ cạnh tranh khác trên thịtrường Một sự thay đổi về giá của doanh nghiệp cũng sẽ gây ra những ảnhhưởng đến nhu cầu cân đối với các sản phẩm của doanh nghiệp khác Nhữngdoanh nghiệp tham gia thị trường này là những người có tiềm lực kinh tế mạnh,vốn đầu tư lớn Do vậy việc thâm nhập vào thị trường của các đối thủ cạnh tranhthường là rất khó

3.3 Căn cứ vào phạm vi kinh tế

3.3.1 Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại sản phẩm.Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải ápdụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật, nâng cao năngsuất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hoá nhằm thu được lợi nhuận siêungạch Kết quả là trình độ sản xuất ngày càng phát triển, các doanh nghiệpkhông có khả năng sẽ bị thu hẹp, thậm chí còn có thể bị phá sản

3.3.2 Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế

khác nhau nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanhnghiệp hay đồng minh các doanh nghiệp của một ngành với ngành khác Nhưvậy giữa các ngành kinh tế do điều kiện kỹ thuật và các điều kiện khác khácnhau như môi trường kinh doanh, thu nhập khu vực, nhu cầu và thị hiếu có tínhchất khác nhau nên cùng một lượng vốn đầu tư vào ngành này có thể mang lại tỷsuất lợi nhuận cao hơn các ngành khác Điều đó dẫn đến tình trạng nhiều ngườisản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hướngchuyển dịch sang sản xuất tại những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn, đóchính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa các ngành Kết quả là nhữngngành trước kia có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút các nguồn lực, quy mô sản

Trang 14

xuất tăng Do đó cung vượt quá cầu làm cho giá cả hàng hoá có xu hướng giảmxuống, làm giảm tỷ suất lợi nhuận Ngược lại những ngành trước đây có tỷ suấtlợi nhuận thấp khiến cho một số nhà đầu tư rút vốn chuyển sang lĩnh vực kháclàm cho quy mô sản xuất của ngành này giảm, dẫn đến cung nhỏ hơn cầu, làmcho giá cả hàng hoá tăng và làm tăng tỷ suất lợi nhuận.

4 Các công cụ cạnh tranh.

Công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là tập hợp các yếu tố, các

kế hoạch, các chiến lược, các chính sách, các hành động mà doanh nghiệp sửdụng nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách hàng để thoảmãn mọi nhu cầu của khách hàng Từ đó tiêu thụ được nhiều sản phẩm, thuđược lợi nhuận cao Nghiên cứu các công cụ cạnh tranh cho phép các doanhnghiệp lựa chọn những công cụ cạnh tranh phù hợp với tình hình thực tế, vớiquy mô kinh doanh và thị trường của doanh nghiệp Từ đó phát huy được hiệuquả sử dụng công cụ, việc lựa chọn công cụ cạnh tranh có tính chất linh hoạt vàphù hợp không theo một khuân mẫu cứng nhắc nào Dưới đâylà một số công cụcạnh tranh tiêu biểu và quan trọng mà các doanh nghiệp thương mại thường phảidùng đến chúng

4.1 Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm.

Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩmthể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định,phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm Nếu như trước kia giá cả được coi

là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho tiêuchuẩn chất lượng sản phẩm Khi có cùng một loại sản phẩm, chất lượng sảnphẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng thì họsẵn sàng mua với mức giá cao hơn Nhất là trong nền kinh tế thị trường cùng với

sự phát triển của sản xuất, thu nhập của người lao động ngày càng được nângcao, họ có đủ điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mình, cái mà họ cần là chấtlượng và lợi ích sản phẩm đem lại Nếu nói rằng giá cả là yếu tố mà khách hàngkhông cần quan tâm đến là hoàn toàn sai bởi giá cả cũng là một trong những yếu

Trang 15

tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho phù hợp với mức thu nhập của mình.Điều mong muốn của khách hàng và của bất cứ ai có nhu cầu mua hay bán làđảm bảo được hài hoà giữa chất lượng và giá cả.

Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở hiệntại và trong tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần thiết Nângcao chất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay đổi côngnghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu dùng và sau khitiêu dùng Hay nói cách khác nâng cao chất lượng sản phẩm là việc cải tiến sảnphẩm có nhiều chủng loại, mẫu mã, bền hơn và tốt hơn Điều này làm cho kháchhàng cảm nhận lợi ích mà họ thu được ngày càng tăng lên khi duy trì tiêu dùngsản phẩm của doanh nghiệp Làm tăng lòng tin và sự trung thành của kháchhàng đối với doanh nghiệp

Chất lượng sản phẩm được coi là một vấn đề sống còn đối với doanh nghiệpnhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải đương đầu đối với cácđối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam Một khi chất lượng hàng hoádịch vụ không được bảo đảm thì có nghĩa là khách hàng sẽ đến với doanhnghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường dẫn tới

sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh Mặt khác chất lượng thể hiện tính quyếtđịnh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chất lượng sẽ làmtăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳsống của sản phẩm Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng uy tín của doanhnghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Do vậy cạnhtranh bằng chất lượng sản phẩm là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết mà bất

cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều phải sử dụng nó

4.2 Cạnh tranh bằng giá cả.

Giá cả được hiểu là số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cungứng một số hàng hoá dịch vụ nào đó Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng tiềncủa giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá để sản xuất ra mộtđơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu Trong nền kinh tế thị

Trang 16

trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khách hàng được tôn vinh là

“Thượng đế” họ có quyền lựa chọn những gì họ cho là tốt nhất, khi có cùnghàng hoá dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thì chắc chắn họ sẽ lựa chọnmức giá thấp hơn, để lợi ích họ thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất Do vậy mà

từ lâu giá cả đã trở thành một biến số chiến thuật phục vụ mục đích kinh doanh.Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường là

do sự khéo léo, tinh tế chiến thuật giá cả Giá cả đã thể hiện như một vũ khí đểcạnh tranh thông qua việc định giá sản phẩm: định giá thấp hơn giá thị trường,định giá ngang bằng giá thị trường hay chính sách giá cao hơn giá thị trường

Với một mức giá ngang bằng với giá thị trường: giúp doanh nghiệp đánh

giá được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm giá mà chấtlượng sản phẩm vẫn được đảm bảo khi đó lượng tiêu thụ sẽ tăng lên, hiệu quảkinh doanh cao và lợi sẽ thu được nhiều hơn

Với một mức giá thấp hơn mức giá thị trường: chính sách này được áp

dụng khi cơ số sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hoá lớn, thu hồi vốn vàlời nhanh Không ít doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính sách định giáthấp Họ chấp nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến lúc có thể để sau nàychiếm được cả thị trường rộng lớn, với khả năng tiêu thụ tiềm tàng Định giáthấp giúp doanh nghiệp ngay từ đầu có một chỗ đứng nhất định để định vị vị trí

của mình từ đó thâu tóm khách hàng và mở rộng thị trường.

Với chính sách định giá cao hơn giá thị trường: là ấn định giá bán sản

phẩm cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trường hiện tại khi mà lần đầutiên người tiêu dùng chưa biết chất lượng của nó nên chưa có cơ hội để so sánh,xác định mức giá của loại sản phẩm này là đắt hay rẻ chính là đánh vào tâm lýcủa người tiêu dùng rằng những hàng hoá giá cao thì có chất lượng cao hơn cáchàng hoá khác Doanh nghiệp thường áp dụng chính sách này khi nhu cầu thịtrường lớn hơn cung hoặc khi doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độcquyền, hoặc khi bán những mặt hàng quý hiếm cao cấp ít có sự nhạy cảm về giá

Trang 17

Như vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và thànhcông khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ lưỡng xemmình đang ở tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất là nghiên cứu xuhướng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng cũng như cần phải xem xét các chiếnlược các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng.

4.3 Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối.

Phân phối sản phẩm hợp lý là một trong những công cụ cạnh tranh đắc lựcbởi nó hạn chế được tình trạng ứ đọng hàng hoá hoặc thiếu hàng Để hoạt độngtiêu thụ của doanh nghiệp được diễn ra thông suốt, thường xuyên và đầy đủdoanh nghiệp cần phải lựa chọn các kênh phân phối nghiên cứu các đặc trưngcủa thị trường, của khách hàng Từ đó có các chính sách phân phối sản phẩmhợp lý, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Chính sách phân phối sảnphẩm hợp lý sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc đẩy tiêu thụ, tăng khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp Thông thường kênh phân phối của doanh nghiệpđược chia thành 5 loại:

+ Kênh ngắn: Người sản xuất => Người bán lẻ => Người tiêu dùng

+ Kênh cực ngắn: Người sản xuất => Người tiêu dùng

+ Kênh dài: Người sản xuất=>Người buôn bán=>Người bán lẻ=>Người tiêudùng

+ Kênh cực dài: Người sản xuất=>Đại lý=> Người buôn bán=> Người bánlẻ=> Người tiêu dùng

+ Kênh rút gọn: Người sản xuất=>Đại lý=> Người bán lẻ=> Người tiêudùng

Tuỳ theo từng mặt hàng kinh doanh, tuỳ theo vị trí địa lý, tuỳ theo nhu cầucủa người mua và người bán, tuỳ theo quy mô kinh doanh của doanh nghiệp mà

sử dụng các kênh phân phối khác nhau cho hợp lý và mang lại hiệu quả bởinhiều khi kênh phân phối có tác dụng như những người môi giới nhưng đôi khi

nó lại mang lại những trở ngại rườm rà

Trang 18

4.4 Cạnh tranh bằng chính sách Maketing

Để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì chính sách maketingđóng một vai trò rất quan trọng bởi khi bắt đầu thực hiện hoạt động kinh doanh,doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng đang

có xu hướng tiêu dùng những sản phẩm gì?, thu thập thông tin thông qua sựphân tích và đánh giá doanh nghiệp sẽ đi đến quyết định sản xuất những gì ?kinh doanh những gì mà khách hàng cần, khách hàng có nhu cầu Trong khi thựchiện hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp thường sử dụng các chính sách xúctiến bán hàng thông qua các hình thức quảng cáo, truyền bá sản phẩm đến ngườitiêu dùng Kết thúc quá trình bán hàng, để tạo được uy tín hơn nữa đối với kháchhàng, doanh nghiệp cần thực hiện các hoạt động dịch vụ trước khi bán, trong khibán và sau khi bán

Như vậy chính sách maketing đã xuyên suốt vào quá trình hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, nó vừa có tác dụng chính và vừa có tác dụng phụ để hỗtrợ các chính sách khác Do vậy chính sách maketing không thể thiếu được trongbất cứ hoạt động của doanh nghiệp

5 Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh.

Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường Ở đâu có nềnkinh tế thị trường thì ở đó có nền kinh tế cạnh tranh Bất kỳ một doanh nghiệpnào cũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh nghiệpmình tồn tại và đứng vững thì phải chấp nhận cạnh tranh Trong giai đoạn hiệnnay do tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế nước ta đangngày càng phát triển, nhu cầu cuộc sống của con người được nâng lên ở mức caohơn rất nhiều.Con người không chỉ cần có nhu cầu “ăn chắc mặc bền” như trướckia mà còn cần “ăn ngon mặc đẹp” Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó, doanhnghiệp phải không ngừng điều tra nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu củakhách hàng, doanh nghiệp nào bắt kịp và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thì sẽ chiến

Trang 19

thắng trong cạnh tranh Chính vì vậy cạnh tranh là rất cần thiết, nó giúp chodoanh nghiệp:

- Tồn tại và đứng vững trên thị trường: Cạnh tranh sẽ tạo ra môi trường

kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu khách hàng, làmcho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh nghiệp mình là tốt nhất, phù hợpvới thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nào càng đáp ứngtốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó mới có khả năng tồn tại trongnền kinh tế thị trường hiện nay

- Doanh nghiệp cần phải cạnh tranh để phát triển

Ngày nay trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và là mộtyếu tố kích thích kinh doanh Quy luật cạnh tranh là động lực thúc đẩy phát triểnsản xuất, sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, hàng hoá sản xuất ra nhiều, sốlượng người cung ứng ngày càng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt, kếtquả cạnh tranh là loại bỏ những Công ty làm ăn kém hiệu quả, năng suất chấtlượng thấp và ngược lại nó thúc đẩy những Công ty làm ăn tốt, năng suất chấtlượng cao Do vậy, muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp cần phải cạnhtranh, tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm đáp ứng tốthơn nhu cầu khách hàng Các doanh nghiệp cần phải tìm mọi biện pháp để đápứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng như sản xuất ra nhiều loại hàng hoá cóchất lượng cao, giá cả phù hợp với chất lượng sản phẩm, phù hợp với mức thunhập của từng đối tượng khách hàng Có như vậy hàng hoá của doanh nghiệpbán ra mới ngày một nhiều, tạo được lòng tin đối với khách hàng Muốn tồn tại

và phát triển được thì doanh nghiệp cần phải phát huy hết ưu thế của mình, tạo

ra những điểm khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh từ đó doanh nghiệp mới

có khả năng tồn tại, phát triển và thu được lợi nhuận cao

Trong nền kinh tế thị trường muốn tồn tại và phát triển thì cạnh tranh luôn làmục tiêu của mỗi doanh nghiệp Cũng trong nền kinh tế đó khách hàng là người

tự do lựa chọn nhà cung ứng và cũng chính là những người quyết định chodoanh nghiệp có tồn tại hay không Họ không phải tìm đến doanh nghiệp như

Trang 20

trước đây nữa và họ cũng không phải mất thời gian chờ đợi để mua hàng hoádịch vụ, mà đối ngược lại trong nền kinh tế thị trường khách hàng được coi làthượng đế, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải tìm đến kháchhàng và khai thác nhu cầu nơi họ Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhữngchương trình giới thiệu truyền bá và quảng cáo sản phẩm của mình để người tiêudùng biết đến, để họ có sự xem xét, đánh giá và quyết định có nên tiêu dùng sảnphẩm của doanh nghiệp hay không? Ngày nay việc chào mời để khách hàngtiêu thụ sản phẩm của mình đã là vấn đề khó khăn nhưng việc giữ lại đượckhách hàng còn khó khăn hơn rất nhiều Bởi vậy mà doanh nghiệp nên có nhữngdịch vụ cả trước khi bán, trong khi bán và dịch vụ sau khi bán hàng hoá chokhách hàng để những khách hàng đó là những khách hàng truyền thống củadoanh nghiệp, chính họ là những nhân tố quan trọng trong sự tồn tại và pháttriển của doanh nghiệp.

- Doanh nghiệp phải cạnh tranh để thực hiện các mục tiêu

Bất kỳ một doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ khi thực hiện hoạt động kinhdoanh đều có những mục tiêu nhất định Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triểncủa doanh nghiệp mà doanh nghiệp đặt ra cho mình những mục tiêu khác nhau.Trong giai đoạn đầu khi mới thực hiện hoạt động kinh doanh thì mục tiêu củadoanh nghiệp là muốn khai thác thị trường nhằm tăng lượng khách hàng truyềnthống và tiềm năng, giai đoạn này doanh nghiệp thu hút được càng nhiều kháchhàng càng tốt Còn ở giai đoạn trưởng thành và phát triển thì mục tiêu của doanhnghiệp là tăng doanh thu, tăng lợi nhuận và giảm chi phí, giảm bớt những chiphí được coi là không cần thiết, để lợi nhuận thu được là tối đa, uy tín của doanhnghiệp và niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp là cao nhất Đến giaiđoạn gần như bão hoà thì mục tiêu chủ yếu của doanh nghiệp là gây dựng lạihình ảnh đối với khách hàng bằng cách thực hiện trách nhiệm đối với Nhà nước,đối với cộng đồng, củng cố lại thêm niềm tin cho của khách hàng đối với doanhnghiệp Để đạt được các mục tiêu doanh nghiệp cần phải cạnh tranh, chỉ có cạnh

Trang 21

tranh thì doanh nghiệp mới bằng mọi giá tìm ra phương cách, biện pháp tối ưu

để sáng tạo, tạo ra những sản phẩm đạt chất lượng cao hơn, cung ứng nhữngdịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh, thỏa mãn nhu cầu khách hàng ngày càngtăng Chỉ có cạnh tranh thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển

II KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

Cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay đổi, thay thế những doanhnghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực của xã hội bằng các doanhnghiệp hoạt động có hiệu quả, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội, thúcđẩy nền kinh tế đất nước phát triển Tuy nhiên để cạnh tranh được và cạnh tranhmột cách lành mạnh không phải là dễ bởi nó phụ thuộc vào tiềm năng, lợi thế vànhiều yếu tố khác của doanh nghiệp hay một quốc gia, đó chính là khả năngcạnh tranh của mỗi quốc gia, hay một ngành, một công ty xí nghiệp

1 Khái niệm về khả năng cạnh tranh

Phải nói rằng thuật ngữ “khả năng cạnh tranh” được sử dụng rộng rãi trên cácphương tiện thông tin đại chúng, trong sách báo, trong giao tiếp hàng ngày củacác chuyên gia kinh tế, các chính sách của các nhà kinh doanh Nhưng cho đếnnay vẫn chưa có sự nhất trí cao trong các học giả và giới chuyên môn về khảnăng cạnh tranh của công ty

*Theo cách tiếp cận khả năng cạnh tranh ở tầm quốc gia

+ Cách tiếp cận này dựa trên quan điểm diễn đàn kinh tế thế giới (gọi tắt

là WEF) Theo định nghĩa của WEF thì khả năng cạnh tranh của một quốc gia làkhả năng đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thểchế vững vàng tương đối và các đặc trưng kinh tế khác (WEF-1997)

Như vậy khả năng cạnh tranh của một quốc gia được xác định trước hết bằngmức độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc đân và sự có mặt ( hay thiếu vắng) cácyếu tố quy định khả năng tăng trưởng kinh tế dài hạn trong các chính sách kinh

tế đã được thực hiện Ví dụ điển hình là Nhật bản, sau chiến tranh thế giới thứhai, nền kinh tế Nhật Bản trở nên hoang tàn, nhân dân chìm trong cảnh mất mùa,thiếu thốn Vậy mà đến năm 1968 Nhật bản đã trở thành một nước có nền kinh

Trang 22

tế đứng thứ hai trên thế giới ( sau Mỹ) và được xếp hàng các cường quốc kinh tếlớn nhất, kỷ lục về sự tăng trưởng kinh tế này là một trong những đỉnh cao đểxác định năng lực cạnh tranh lớn của nền kinh tế Nhật bản Cũng theo WEF thìcác yếu tố xác định khả năng cạnh tranh được chia làm 8 nhóm chính bao gồm

200 chỉ số khác nhau, các nhóm yếu tố xác định khả năng cạnh tranh tổng thểchủ yếu có thể kể ra là:

Nhóm 1: Mức độ mở cửa nền kinh tế thế giới bao gồm các yếu tố thuế quan,

hàng rào phi thuế quan, hạn chế nhập khẩu, chính sách tỷ giá hối đoái

Nhóm 2: Nhóm các chỉ số liên quan đến vai trò và hoạt động của chính phủ

bao gồm mức độ can thiệp của Nhà nước, năng lực của Chính phủ, thuế và mức

độ trốn thuế, chính sách tài khoá

Nhóm 3: Các yếu tố về tài chính bao gồm các nội dung về khả năng thực

hiện các hoạt động trung gian tài chính, hiệu quả và cạnh tranh, rủi ro tài chínhđầy đủ và tiết kiệm

Nhóm 4: Các yếu tố về công nghệ bao gồm năng lực phát triển công nghệ

trong nước, khai thác công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, pháttriển công nghệ thông qua các kênh chuyển giao công nghệ khác

Nhóm 5: Các yếu tố và kết cấu hạ tầng như giao thông liên lạc và kết cấu hạ

tầng khác

Nhóm 6: Quản trị bao gồm các chỉ số và quản trị nguồn nhân lực và các yếu

tố quản trị không liên quan đến nguồn nhân lực

Nhóm 7: Các yếu tố về lao động bao gồm các chỉ số về trình độ tay nghề và

năng suất lao động, độ linh hoạt của thị trường lao động, hiệu quả của cácchương trình xã hội , quan hệ lao động trong một ngành

Nhóm 8: Các yếu tố về thể chế gồm các yếu tố về chất lượng, các thể chế về

pháp lý, các luật và văn bản pháp quy khác

Dựa vào các nhóm chỉ số này có thể đánh giá, xem xét để rút ra kết luận vềviệc định liệu các chính sách, biện pháp đã được sử dụng ở một Quốc gia cóthực sự nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế không Chẳng hạn những năm

Trang 23

qua chính phủ Việt Nam đã đưa ra chủ trương khuyến khích phát triển các loạihình doanh nghiệp hợp tác liên doanh, liên kết với nước ngoài nhằm học hỏikinh nghiệm chuyển giao công nghệ và tăng trưởng kinh tế Thế nhưng hiệu quảkinh tế đem lại không lấy gì làm chắc chắn

+ Cách tiếp cận dựa trên quan điểm của M.Poter về chỉ số năng suất

Ông cho rằng chỉ có chỉ số năng suất là có ý nghĩa cho khái niệm về nănglực cạnh tranh quốc gia bởi vì đây là yếu tố cơ bản cho việc nâng cao sức sốngcủa một đất nước Xét về dài hạn chỉ số năng suất này phụ thuộc vào trình độphát triển và tính năng động của các doanh nghiệp Do đó khả năng cạnh tranhcủa một quốc gia phụ thuộc vào việc các yếu tố nào trong nền kinh tế quốc dân,giữ vai trò quyết định cơ bản cho phép các công ty sáng tạo và duy trì và lợi thếcạnh tranh trên mọi lĩnh vực cụ thể Với cách nhìn nhận vấn đề như vậy M.Poter

đã đưa ra một khuôn khổ các yếu tố tạo nên lợi thế canh tranh của một quốc gia

và Ông gọi đó là “khối lượng kim cương các lợi thế cạnh tranh” bao gồm cácnhóm được phân chia một cách tương đối

- Nhóm các điều kiện về nhân tố sản xuất (thể hiện vị thế của một quốc gia

về nguồn lao động được đào tạo, có tay nghề, về tài nguyên, kết cấu hạ tầng,tiềm năng khoa học và công nghệ)

- Nhóm các điều kiện về cầu: Phản ánh bản chất của nhu cầu thị trường trongnước đối với sản phẩm và dịch vụ của một ngành

- Nhóm các yếu tố liên quan đến cơ cấu, chiến lược của doanh nghiệp và củađối thủ cạnh tranh

- Nhóm các yếu tố về các ngành phụ trợ và các ngành có liên quan có khảnăng cạnh trạnh quốc tế

*Tiếp cận khả năng tranh ở cấp ngành, cấp công ty.

+ Quan điểm của M.Poter

Dựa theo quan điểm quản trị chiến lược được phản ánh trong các cuốn sáchcủa M.Poter, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là khả năngchiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế)

Trang 24

của công ty đó Với cách tiếp cận này mỗi ngành dù là trong hay ngoài nướcnăng lực cạnh tranh được quy định bởi các yếu tố sau:

- Số lượng các doanh nhgiệp mới tham gia

- Sự có mặt của các sản phẩm thay thế

- Vị thế của khách hàng

- Uy tín của nhà cung ứng

- Tính quyết liệt của đối thủ cạnh tranh

Nghiên cứu những yếu tố cạnh tranh này sẽ là cơ sở cho doanh nghiệp xâydựng và lựa chọn chiến lược kinh doanh cạnh tranh phù hợp với trong giai đoạn,thời kỳ phát triển thời kỳ phát triển của nền kinh tế

+ Quan điểm tân cổ điển về khả năng cạnh tranh của một sản phẩm

Quan điểm này dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống, đã xem xét khảnăng cạnh tranh của một sản phẩm thông qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất

và năng suất Như vậy khả năng cạnh tranh của một ngành, công ty được đánhgiá cao hay thấp tuỳ thuộc vào chi phí sản xuất có giảm bớt hay không vì chi phícác yếu tố sản xuất thấp vẫn được coi là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh

+ Quan điểm tổng hợp của VarDwer, E.Martin và R.Westgren

VarDwer, E.martin và R.Westgren là những đồng tác giả của cuốn

“Assessing the competiviveness of Canada’s agrifood Industry”- 1991 Theo cáctác giả này thì khả năng cạnh tranh của một ngành, của công ty được thể hiện ởviệc tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong nước và nướcngoài Như vậy lợi nhuận và thị phần, hai chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranhcủa công ty Chúng có mối quan hệ tỷ lệ thuận, lợi nhuận và thị phần càng lớnthể hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao Ngược lại, lợi nhuận

và thị phần giảm hoặc nhỏ phản ánh năng lực cạnh tranh của công ty bị hạn chếhoặc chưa cao Tuy nhiên chúng chỉ là những chỉ số tổng hợp bao gồm chỉ sốthành phần khác nhau như:

- Chỉ số về năng suất bao gồm năng suất lao động và tổng năng suất các yếu

tố sản xuất

Trang 25

- Chỉ số về công nghệ bao gồm các chỉ số về chi phí cho nghiên cứu và triểnkhai.

- Sản phẩm bao gồm các chỉ số về chất lượng, sự khác biệt

- Đầu vào và các chi phí khác: giá cả đầu vào và hệ số chi phí các nguồn lực.Nói tóm lại có rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về khả năng cạnhtranh Xong bài viết này không nhằm mục đích phân tích ưu nhược điểm củaquan điểm đó mà chỉ mong muốn giới thiệu khái quát một số quan niệm điểnhình giúp cho việc tiếp cận một phạm trù phổ biến nhưng còn nhiều tranh cãi vềkhái niệm được dễ dàng hơn

2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh

Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ta có thể dựa vàomột số chỉ tiêu sau:

2.1 Thị phần

Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được khi bán hàng hoá hoặc dịch

vụ Bởi vậy mà doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnhtranh Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và tăng thêmlợi nhuận Căn cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời kỳ hoặc qua các năm ta

có thể đánh giá được kết quả hoạt động kinh doanh là tăng hay giảm, theo chiềuhướng tốt hay xấu Nhưng để đánh giá được hoạt động kinh doanh đó có manglại được hiệu quả hay không ta phải xét đến những chi phí đã hình thành nêndoanh thu đó Nếu doanh thu và chi phí của doanh nghiệp đều tăng lên qua cácnăm nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí thì hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá là tốt, doanh nghiệp đã biếtphân bổ và sử dụng hợp lý yếu tố chi phí, bởi một phần chi phí tăng thêm đóđược doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, đầu tư mua sắm trang thiết bị

và xây dựng cơ sở hạ tầng…

Trên thực tế có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác, trong đó thị phần là mộtchỉ tiêu thường hay được sử dụng Thị phần được hiểu là phần thị trường mà

Trang 26

doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường Do đó thị phần củadoanh nghiệp được xác định:

Thị phần của doanh nghiệp =

Chỉ tiêu này càng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp càngrộng Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức động hoạtđộng của doanh nghiệp có hiệu quả hay không bởi nếu doanh nghiệp có mộtmảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn định cho doanhnghiệp một vị trí ưu thế trên thị trường Nếu doanh nghiệp có một phạm vi thịtrường nhỏ hẹp thì chỉ số trên ở mức thấp, phản ánh tình trạng doanh nghiệpđang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh Bằng chỉ tiêu thị phần, doanh nghiệp

có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm lĩnh thị trường so với toàn ngành

Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ tadùng chỉ tiêu thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh thu của công ty sovới đối thủ cạnh tranh mạnh nhất để từ đó có thể biết được những mặt mạnh haynhững điểm còn hạn chế so với đối thủ Ưu điểm của chỉ tiêu này là đơn giản, dễhiểu nhưng nhược điểm của nó là khó nắm bắt được chính xác số liệu cụ thể vàsát thực của đối thủ

2.2 Năng suất lao động

Năng suất lao động là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuấtkinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi thông qua năng suấtlao động ta có thể đánh giá được trình độ quản lý, trình độ lao động và trình độcông nghệ của doanh nghiệp

2.3 Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận

Lợi nhuận là một phần dôi ra của doanh thu sau khi đã trừ đi các chi phí

dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận được coi là một chỉ tiêutổng hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi vì nếu doanhnghiệp thu được lợi nhuận cao chắc chắn doanh nghiệp có doanh thu cao và chi

Doanh thu của doanh nghiệp Tổng doanh thu toàn ngành

Trang 27

phí thấp Căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp có thể đánh giá đượckhả năng cạnh tranh của mình so với đối thủ Nếu lợi nhuận cao thì khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp cao và được đánh giá hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp rất khả quan.

Nếu xét về tỷ suất lợi nhuận:

Tỷ suất lợi nhuận =

Chỉ tiêu nay cho thấy nếu có 100 đồng doanh thu thì sẽ thu được bao nhiêuđồng lợi nhuận Nếu chỉ tiêu này thấp tức là tốc độ tăng của lợi nhuận nhỏ hơntốc độ tăng của doanh thu, chứng tỏ sức cạnh tranh của doanh nghiệp thấp Hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả cao Đã có quá nhiều đốithủ thâm nhập vào thị trường của doanh nghiệp Do đó doanh nghiệp phải khôngngừng mở rộng thị trường để nâng cao khả năng cạnh tranh Nhằm mục đíchnâng cao lợi nhuận Nếu chỉ tiêu này cao tức là tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc

độ tăng của doanh thu Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá

là có hiệu quả Điều này chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao.Doanh nghiệp cần phát huy lợi thế của mình một cách tối đa và không ngừng đềphòng đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn thâm nhập vào thị trường của doanh nghiệp bất

cứ lúc nào do sức hút lợi nhuận cao

Ngoại trừ các chỉ tiêu có thể đo lường được, khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp còn được biểu hiện qua một số các chỉ tiêu định tính như

2.4 Uy tín của doanh nghiệp

Uy tín của doanh nghiệp là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giánăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có uy tín sẽ có nhiềubạn hàng, nhiều đối tác làm ăn và nhất là có một lượng khách hàng rất lớn Mụctiêu của các doanh nghiệp là doanh thu, thị phần và lợi nhuận v.v Nhưng để đạtđược các mục tiêu đó doanh nghiệp phải tạo được uy tín của mình trên thị

Tổng lợi nhuậnTổng doanh thu

Trang 28

trường, phải tạo được vị thế của mình trong con mắt của khách hàng Cơ sở, tiền

đề để tạo được uy tín của doanh nghiệp đó là doanh nghiệp phải có một nguồnvốn đảm bảo để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh, có một hệ thống máymóc, cơ sở hạ tầng đáp ứng đầy đủ yêu cầu của hoạt động kinh doanh Yếu tốquan trọng nhất để tạo nên uy tín của doanh nghiệp đó là “ con người trongdoanh nghiệp” tức doanh nghiệp đó phải có một đội ngũ cán bộ có trình độchuyên môn, nghiệp vụ cao, đội ngũ nhân viên giỏi về tay nghề và kỹ năng làmviệc, họ là những con người có trách nhiệm và nhiệt tình trong công việc, biếtkhơi dậy nhu cầu của khách hàng

Trong nền kinh tế thị trường yếu tố nổi bật nhất để đánh giá khả năng cạnhtranh, uy tín của doanh nghiệp đó là nhãn hiệu sản phẩm

- Thiết kế nhãn hiệu sản phẩm: Khi xây dựng một sản phẩm, các nhà quản

trị sẽ lưu tâm đến rất nhiều đến nhãn hiệu sản phẩm, một nhãn hiệu sản phẩmhay và ấn tượng góp phần không nhỏ vào sự thành công của sản phẩm, nó giúpphân biệt sản phẩm của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh khác và là cộng cụ

để doanh nghiệp định vị sản phẩm trên thị trường mục tiêu Khi thiết kế nhãnhiệu doanh nghiệp phải xem xét đến các thành phần gồm: đặt tên sản phẩm, xâydựng biểu tượng (logo), khẩu hiệu và hình ảnh cho nhãn Đồng thời phải cóchiến lược về nhãn hiệu đối với sản phẩm của doanh nghiệp

- Các giá trị tài sản nhãn hiệu: Tài sản nhãn hiệu là giá trị của một nhãn

hiệu của sản phẩm do uy tín của nhãn hiệu sản phẩm đó đem lại Quản trị giá trịnhãn là một trong các công việc mang tính chiến lược quan trọng nhất, nó đượcxem là một trong những dạng tầm tiềm năng có giá trị cao Trong những nămgần đây, khi các nhãn hiệu sản phẩm của các doanh nghiệp cạnh tranh mạnh mẽtrên thị trường, hình thức khuyến mại định hướng vào gía là hình thức phổ biếnđược nhiều doanh nghiệp áp dụng, điều này làm tổn thương nhiều doanh nghiệp

2.5 Năng lực quản trị

Năng lực của nhà quản trị được thể hiện ở việc đưa ra các chiến lược, hoạchđịnh hướng đi cho doanh nghiệp Nhà quản trị giỏi phải là người giỏi về trình

Trang 29

độ, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có khả năng giao tiếp, biết nhìn nhận và giảiquyết các công việc mộ cách linh hoạt và nhạy bén, có khả năng thuyết phục đểngười khác phục tùng mệnh lệnh của mình một cách tự nguyện và nhiệttình.Biết quan tâm, động viên, khuyến khích cấp dưới làm việc có tinh thầntrách nhiệm Điều đó sẽ tạo nên sự đoàn kết giữa các thành viên trong doanhnghiệp Ngoài ra nhà quản trị còn phải là người biết nhìn xa trông rộng, vạch ranhững chiến lược kinh doanh trong tương lai với cách nhìn vĩ mô,hợp với xuhướng phát triển chung trong nền kinh tế thị trường Nhà quản trị chính là ngườicầm lái con tầu doanh nghiệp, họ là nhứng người đứng mũi chịu sào trong mỗibước đi của doanh nghiệp Họ là những người có quyền lực cao nhất và tráchnhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất Họ chính là nhứng người xác địnhhướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp Vì vậy mà nhà quản trị đóng một vaitrò chủ chốt trong sự phát triển của doanh nghiệp

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA

CÔNG TY TNHH CHUNG HIẾU

1 Giới thiệu khái quát về Công ty TNHH Chung Hiếu

1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty

Công ty TNHH Chung Hiếu được thành lập theo quyết định số 853/2006/

QĐ - UB ngày 24/9/2006 do phòng đăng ký kinh doanh - Sở kế hoạch đầu tưtỉnh Bắc Giang ký quyết định thành lập

Từ khi thành lập Công ty TNHH Chung Hiếu thì ngành nghề chủ yếu củacông ty là: Công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản, bảo quản lâm sản, phòng chốngmối mọt cho công trình, tư vấn đầu tư thi công xây dựng, sửa chữa trang trí nộithất các công trình xây dựng, sản xuất đồ gỗ,ốp lát gỗ và trang trí nội thất theođơn đặt hàng

Công ty TNHH Chung Hiếu chuyên thiết kế và sản xuất các mặt hàng đồ

gỗ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Công ty có thể sản xuất các lô hàng lớn theo hợp đồng và theo thiết kếmẫu, đồng thời cũng nhận thiết kế sản xuất theo đơn đặt hàng mặt hàng đơn lẻphục vụ người tiêu dung, các mặt hàng gỗ của Công ty TNHH Chung Hiếu đềuđảm bảo được xấy khô đạt độ ẩm 10% – 15%

Trang 31

Qua gần 6 năm xây dựng và phát triển, trải qua nhiều thăng trầm của cảicách mở cửa Tuy mới thành lập, nhưng bằng những cố gắng và chiến lược hợp

lý Công ty TNHH Chung Hiếu đã đang dần xác lập được chỗ đứng vững chắctrên thương trường, được nhiều khách hàng tín nhiệm Từ năm 2008 Công tyTNHH Chung Hiếu chuyên cung cấp gỗ xây dựng, thiết kế, sản xuất, kinh doanhcác mặt hàng đồ gỗ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

1.2 Mô hình và cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Chung Hiếu

- Công ty TNHH Chung Hiếu là loại hình doanh nghiệp sản xuất thươngmại với chức năng chính là sản xuất kinh doanh gỗ xây dựng, đồ gỗ nội thấtphục vụ thị trường trong và ngoài nước

- Nguồn nhân lực của công ty gồm có Ban Giám Đốc, Phó Giám đốc,Phòng kinh doanh có một trưởng phòng và năm nhân viên, phòng kế toán cómột kế toán trưởng và hai kế toán viên, phòng hành chính có một trưởng phòng

và hai nhân viên, phòng thiết kế có một trưởng phòng và ba nhân viên, xưởngsản xuất có gần 100 nhân viên

a Mô hình cơ cấu tổ chức của công ty:

BAN GIÁM ĐỐC

Phòng hành chính

Phòng thiết kế

Xưởng sản xuất

Ngày đăng: 26/11/2013, 21:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tình hình sản xuất và tiêu thụ của Công ty TNHH Chung Hiếu - giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm của Công ty TNHH Chung Hiếu
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ của Công ty TNHH Chung Hiếu (Trang 35)
Bảng 1.2: Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Chung Hiếu (giai đoạn 2008 – 2010) - giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm của Công ty TNHH Chung Hiếu
Bảng 1.2 Bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Chung Hiếu (giai đoạn 2008 – 2010) (Trang 38)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w