1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Kinh nghiệm nâng cao kĩ năng giải bài tập tính theo phương trình hóa học cho học sinh lớp 8

15 50 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 84,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng về lĩnh vực dạy học môn Hóa học. Giúp học sinh nâng cao chất lượng học tập môn Hóa học, kĩ năng giải bài tập Hóa học. Đối tượng là học sinh lớp 8, chương trình dạy học VNEN, thuộc tổ hợp môn Khoa học tự nhiên. Loại bài tập này có vai trò đặc biệt quan trong đối với việc học tập môn học, đi theo suốt quá trình học tập của học sinh từ bậc học Trung học cơ sở lên bậc học Trung học phổ thông, góp phần định hướng nghề nghiệp trong tương lai.

Trang 1

A S C N THI T, M C ĐÍCH C A SÁNG KI N Ự CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH CỦA SÁNG KIẾN ẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH CỦA SÁNG KIẾN ẾT, MỤC ĐÍCH CỦA SÁNG KIẾN ỤC ĐÍCH CỦA SÁNG KIẾN ỦA SÁNG KIẾN ẾT, MỤC ĐÍCH CỦA SÁNG KIẾN.

Trong mô hình trường học mới, phân môn Hóa học nằm trong giới hạn chương trình của môn học Khoa học tự nhiên, một môn học có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển toàn diện của học sinh Là môn học đóng vai trò nền tảng trong việc hình thành tư duy khoa học và kĩ năng thực hành góp phần đáp ứng yêu cầu của nguồn nhân lực trẻ, tương lai của đất nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Phân môn Hóa học ở bậc học Trung học cơ sở phải giúp cho học sinh đạt các mục tiêu cụ thể sau đây:

+ Về kiến thức: Học sinh phải nhớ, nắm vững và hiểu rõ các khái niệm cơ bản được đề cập trong sách hướng dẫn, đó là nền tảng vững vàng để phát triển năng lực nhận thức ở cấp cao hơn

+ Về kĩ năng: Học sinh có hệ thống kĩ năng khoa học cơ bản và thói quen khoa học gồm:

Kĩ năng học tập: phát triển kĩ năng học tập đặc biệt là tự học, biết thu thập

và xử lí thông tin, , lập bảng biểu, sơ đồ tư duy, làm việc cá nhân, làm việc nhóm, làm báo cáo nhỏ và kĩ năng trình bày trước tổ, nhóm…

Kĩ năng thực hành hóa học: rèn luyện và phát triển kĩ năng quan sát thí nghiệm, biết lắp đặt bố trí và thực hiện một số thí nghiệm hóa học đơn giản

Kĩ năng tính toán hóa học: hình thành tư duy lo gic định lượng trong giải các bài tập tính toán, vận dụng phương pháp làm việc tư duy với các con số và định luật…

Kĩ năng vận dụng kiến thức hóa học: phát triển tư duy thực nghiệm – qui nạp, chú trọng phát triển tư duy lí luận Hình thành mối liên hệ tương tác giữa kiến thức, kĩ năng với thực tế…

+ Về thái độ: Tạo hứng thú khoa học, hình thành ý thức phát hiện và giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách khách quan trung thực trên cơ sở phân tích khoa học, ý thức trách nhiệm với bản thân, cộng đồng và xã hội, ý thức vận dụng những tri thức Hóa học nói riêng và tri thức Khoa học tự nhiên nói chung vào cuộc sống

Trong cấu trúc chương trình môn học, phân môn Hóa học được phân chia rải ra từ lớp 6 đến lớp 9 chủ yếu dựa trên nguyên tắc kế thừa và phát triển xoắn

ốc Nội dung kiến thức cụ thể ở từng lớp được chia như sau:

+ Lớp 6: Tìm hiểu những khái niệm mở đầu về hóa học, phân biệt các khái niệm chất, nguyên tử, phân tử (thực hiện 01 tiết/tuần, học 01 học kì/năm học)

+ Lớp 7: Trang bị các kiến thức về công thức hóa học, phản ứng hóa học, phương trình hóa học, định luật bảo toàn khối lượng, mol và tính toán hóa học (thực hiện 01 tiết/tuần, học 01 học kì/năm học)

Trang 2

+ Lớp 8: Nghiên cứu tính chất, ứng dụng của một số đơn chất (oxi, hidro, phi kim), hợp chất vô cơ (nước, oxit, axit, bazơ, muối) và nồng độ dung dịch (thực hiện 1,78 tiết/tuần, học 02 học kì/năm học)

+ Lớp 9: Nghiên cứu tính chất, ứng dụng của kim loại, bảng tuần hoàn hóa học và sơ lược về hóa học hữu cơ…(thực hiện 1,53 tiết/tuần, học 02 học kì/ năm học)

Với lộ trình như trên có thể thấy việc học tập môn học này đã đảm bảo tương đối hợp lí về thời lượng cũng như sự phù hợp về độ khó đối với học sinh Tuy nhiên vấn đề nảy sinh ở đây là do việc học tập bị gián đoạn một học kì ở hai lớp học 6, 7 nên khi học sinh bước vào chương trình lớp 8 gặp không ít khó khăn

Trong đó kĩ năng giải toán hóa học, tính toán dựa theo công thức hóa học, phương trình hóa học …là các kĩ năng tối quan trọng để học tập bộ môn Chính

vì vậy để giúp học sinh nhanh chóng tái hiện lại được kiến thức, kĩ năng đã học

và sớm đáp ứng được yêu cầu tối thiểu để học tập bộ môn, chúng tôi đã phải tìm nhiều phương cách thực hiện Từ những kinh nghiệm thực tế giảng dạy, cũng như đánh giá hiệu quả của các biện pháp đã thực hiện chúng tôi đã chia sẻ với nhau với mong muốn giúp đỡ và học hỏi lẫn nhau nhằm mang lại hiệu quả cao trong việc giảng dạy bộ môn Và trong rất nhiều kinh nghiệm chúng tôi đã đúc rút cùng nhau thì ở nội dung sáng kiến này chúng tôi xin chia sẻ “ Kinh nghiệm nâng cao kĩ năng giải dạng bài tập tính theo phương trình hóa học cho học sinh lớp 8 trường Trung học cơ sở Mường Báng”

B PH M VI TRI N KHAI TH C HI N ẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN ỂN KHAI THỰC HIỆN Ự CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH CỦA SÁNG KIẾN ỆN.

Sáng kiến kinh nghiệm này đã áp dụng thử trên đối tượng học sinh lớp đại trà 8A4, 8A5 Cụ thể:

Tổng số học sinh: 77 học sinh

Thành phần dân tộc:

Thái: 17 học sinh

Mông: 60 học sinh

Đánh giá phẩm chất, năng lực năm học 2018 - 2019:

gắng

gắng

Thời gian áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trong học kì I (từ tháng 8/2019 đến tháng 12/2019), năm học 2019 – 2020

C N I DUNG ỘI DUNG.

Trang 3

Thực trạng hiện tại của công tác dạy và học bộ môn có thể xác định một

số thuận lợi như sau:

Về cơ sở vật chất: Trường lớp học khang trang, trang thiết bị phục vụ dạy học khá đầy đủ và đồng bộ Sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo trong và ngoài nhà trường

Về chất lượng đội ngũ: Nhà trường có chất lượng đội ngũ giáo viên giảng dạy đảm bảo 100% đạt chuẩn và trên chuẩn Bản thân chúng tôi đều là những giáo viên giỏi cấp tỉnh, yêu nghề, tâm huyết với nghề, luôn có tinh thần trau dồi

để tự hoàn thiện

Về tài liệu học tập: Cấu trúc nội dung các bài trong chương trình được sắp xếp khá hợp lí theo logic hình thành kiến thức từ dễ đến khó, từ các khái niệm chung đến các khái niệm chuyên môn đảm bảo thể hiện rõ mối liên hệ giữa các khái niệm Hệ thống bài tập tương đối tập trung vào nội dung kiến thức trọng tâm cần củng cố khắc sâu Các dạng bài tập tương đối phân hóa dành cho tất cả các đối tượng học sinh từ lực học trung bình đến khá, giỏi

Về đối tượng học sinh: là học sinh lớp đại trà xong đa số các em ngoan, rất nhiều học sinh có tinh thần cầu thị trong học tập

Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận định một số khó khăn sau:

Một là, kiến thức của học sinh đã phần nào bị giảm sút do thời gian khá lâu không được củng cố (từ học kì I lớp 7 đến học kì I lớp 8 mới được củng cố lại)

Hai là, các kĩ năng tính toán hóa học của học sinh trở nên hạn chế vì các dạng bài tập trở nên đa dạng hơn các dạng bài tập mà các em được tiếp xúc ở lớp 7 (đòi hỏi học sinh phải có tư duy logic với diễn biến phản ứng xảy ra)

Ba là, vì kiến thức mới học ở lớp 8 đã chiếm gần hết thời lượng của tiết học nên thời gian để giúp các em tái hiện lại kiến thức cũ không nhiều, không liên tục

Bốn là, đối tượng học sinh của Trường THCS Mường Báng chủ yếu là con em dân tộc thiểu số, nhận thức về tầm quan trọng việc học tập (đặc biệt là học bài và làm bài tập ở nhà) còn chưa thật đúng đắn, sự quan tâm hỗ trợ của phụ huynh còn hạn chế, nhiều học sinh còn nặng gánh mưu sinh do gia đình kinh tế khó khăn…

II N i dung c a gi i pháp m i ội dung của giải pháp mới ủa giải pháp mới ải pháp đã biết ới.

Trước những khó khăn hạn chế đã nêu ra ở trên, chúng tôi đã tìm nhiều biện pháp tác động khác nhau để có thể cải thiện chất lượng học tập môn học Qua thực tế giảng dạy chúng tôi cũng đã tự đúc rút được một số kinh nghiệm và cảm thấy nó hữu ích vì nó đã giúp cải tạo được phần nào thói quen học tập của học sinh, tỉ lệ học sinh hiểu bài có khả năng vận dụng kiến thức vào giải bài tập

Trang 4

ngày càng nhiều hơn Đây chính là động lực để chúng tôi tin tưởng hơn vào những kinh nghiệm của mình Chúng tôi đã xác định các mục tiêu cần đạt được cho nội dung này như sau:

Lựa chọn những đơn vị kiến thức quan trọng nhất, truyền đạt lại một cách

cô đọng nhất để giúp học sinh tái hiện lại nhanh nhất những kiến thức đã học, những kĩ năng đã bị mờ đi

Cân đối thời lượng hợp lí giữa kiến thức mới với thời lượng dành cho việc củng cố kiến thức cũ, cũng như các bài tập để củng cố kĩ năng cũ

Xây dựng hệ thống bài tập có tính lặp lại, đồng thời mở rộng dần, tăng dần độ khó để giúp học sinh thực hiện được theo đúng lộ trình hình thành kiến thức kĩ năng

Tạo cho học sinh hứng thú, sự tự tin, phương pháp tư duy để có thể tự giải quyết được vấn đề khi gặp phải Giao cho học sinh nhiệm vụ về nhà vừa sức, học sinh có thể tự giải được Có kiểm tra, có biện pháp động viên, khích lệ và trách phạt phù hợp để tạo động cơ học tập cho học sinh

Tiến hành giải pháp được chúng tôi mô tả cụ thể dưới đây:

1 Thứ nhất, giúp học sinh tái hiện và ghi nhớ các chuyển đổi giữa khối lượng, thể tích chất khí và lượng chất.

a Khảo sát.

Thực hiện khảo sát nhanh bằng phương pháp vấn đáp, yêu cầu học sinh nhắc lại công thức chuyển đổi giữa khối lượng (m), thể tích (V) và lượng chất (số mol n)

Thực tế cho thấy học sinh gần như không còn nhớ được các công thức này, chỉ có số ít học sinh có thể nhắc lại xong cũng không hoàn toàn chính xác Việc áp dụng để thực hiện các chuyển đổi lại càng hạn chế vì kĩ năng tính toán

có liên quan đến số thập phân của học sinh yếu

b Nội dung thực hiện.

Yêu cầu học sinh ghi nhớ các công thức chuyển đổi sau:

Trong đó :

+ m: là kh i lối lượng (g) của một lượng nguyên tố hay 1 lượng chất nào ượng (g) của một lượng nguyên tố hay 1 lượng chất nàong (g) c a m t lủa một lượng nguyên tố hay 1 lượng chất nào ột lượng nguyên tố hay 1 lượng chất nào ượng (g) của một lượng nguyên tố hay 1 lượng chất nàong nguyên t hay 1 lối lượng (g) của một lượng nguyên tố hay 1 lượng chất nào ượng (g) của một lượng nguyên tố hay 1 lượng chất nàong ch t nàoất nào

đó

+ n : là s mol ối lượng (g) của một lượng nguyên tố hay 1 lượng chất nào

M

m

n 

n

V  22 , 4

M n

4 , 22

V

n 

Số mol chất (n)

Trang 5

+ M : kh i lối lượng (g) của một lượng nguyên tố hay 1 lượng chất nào ượng (g) của một lượng nguyên tố hay 1 lượng chất nàong mol (nguyên t , phân t ) có giá tr b ng nguyênử, phân tử ) có giá trị bằng nguyên ử, phân tử ) có giá trị bằng nguyên ị bằng nguyên ằng nguyên

t kh i ho c phân t kh i ử, phân tử ) có giá trị bằng nguyên ối lượng (g) của một lượng nguyên tố hay 1 lượng chất nào ặc phân tử khối ử, phân tử ) có giá trị bằng nguyên ối lượng (g) của một lượng nguyên tố hay 1 lượng chất nào

+ 22,4 lit là th tích 1 mol khí đktc.ể tích 1 mol khí ở đktc ở đktc

+ V : th tích khí đktc.ể tích 1 mol khí ở đktc ở đktc

Yêu c u h c sinh làm bài t p v n d ng các công th c chuy n đ iầu học sinh làm bài tập vận dụng các công thức chuyển đổi ọc sinh làm bài tập vận dụng các công thức chuyển đổi ập vận dụng các công thức chuyển đổi ập vận dụng các công thức chuyển đổi ụng các công thức chuyển đổi ức chuyển đổi ể tích 1 mol khí ở đktc ổi trên, các bài t p chuy n đ i ch liên quan đ n ch t, ch a s d ng bài t pập vận dụng các công thức chuyển đổi ể tích 1 mol khí ở đktc ổi ỉ liên quan đến chất, chưa sử dụng bài tập ến chất, chưa sử dụng bài tập ất nào ư ử, phân tử ) có giá trị bằng nguyên ụng các công thức chuyển đổi ập vận dụng các công thức chuyển đổi

có liên quan đ n phến chất, chưa sử dụng bài tập ương trình hóa học.ng trình hóa h c.ọc sinh làm bài tập vận dụng các công thức chuyển đổi

c Thời gian.

Thời điểm thích hợp để thực hiện công việc này là lồng ghép vào các tiết học của phần chung (từ tiết 1 đến tiết 8) Tuy nhiên cần lưu ý cân đối thời lượng của bài học chính khóa sao cho đảm bảo

d Quy trình.

Bước đầu để giúp học sinh ghi nhớ công thức chuyển đổi thì việc trước tiên nên làm là nhắc lại kí hiệu, đơn vị của các đại lượng, sau đó nhắc lại công thức chuyển đổi

Áp dụng công thức chuyển đổi cho học sinh thực hiện các chuyển đổi đơn giản để củng cố công thức, đồng thời giúp học sinh tính toán nhuần nhuyễn bằng

kĩ năng toán học

Ví dụ 1: Tính số mol của các chất sau

a 56 gam CaCO3

Áp dụng công thức tính số mol từ khối lượng:

3 3

3

CaCO CaCO

CaCO

(mol)

b 5,6 gam Fe

Áp dụng công thức tính số mol từ khối lượng:

Fe Fe

Fe

(mol)

Ví dụ 2: Tính số mol của các chất khí sau:

a 2,24 lít khí H2 (ở đktc)

Áp dụng công thức tính số mol từ thể tích:

H2 2

H

b 5,6 lít khí H2S (ở đktc)

Áp dụng công thức tính số mol từ thể tích:

H S2 2

H S

Trang 6

Tương tự như vậy xây dựng thêm các bài tập chuyển đổi từ số mol ra khối lượng hoặc thể tích chất khí để học sinh vận dụng thuần thục kĩ năng tính toán đồng thời ghi nhớ công thức Độ khó của các bài tập có thể thay đổi tùy theo đối tượng học sinh mà thay đổi

2 Thứ hai, giúp học sinh củng cố kĩ năng viết phương trình hóa học và đọc

tỉ lệ số mol các chất trong phương trình.

a Khảo sát.

Một kĩ năng đặc thù của môn học là học sinh phải biết viết phương trình

và cân bằng phương trình hóa học Nhưng thực tế cho thấy kĩ năng này ở đa số học sinh là rất yếu Qua khảo sát cho thấy học sinh thường mắc các lỗi cơ bản sau:

+ Viết sai công thức hóa học của chất

+ Sắp xếp sai vị trí các chất trong phương trình

+ Không cân bằng được phương trình

+ Không xác định được các cặp tỉ lệ số nguyên tử, phân tử, số mol các chất có trong phương trình

Với các lỗi trên thì việc hoàn thành được một bài tập tính theo phương trình là bất khả thi Có thể nói đây là bước tối quan trọng trong bài tập tính theo phương trình hóa học

b Nội dung thực hiện.

Định hướng học sinh lập phương trình lần lượt theo từng bước, đồng thời xây dựng lên quy trình để học sinh tự vận dụng lập phương trình Cụ thể như sau:

+ Bước 1: Phân loại các chất trong bài thành nhóm “chất tham gia” và nhóm

“chất sản phẩm”

+ Bước 2: Sắp xếp các nhóm chất trên vào phương trình tạm thời (phương trình chưa cân bằng)

+ Bước 3: Tiến hành cân bằng phương trình (hướng dẫn cách cân bằng nguyên

tử và nhóm nguyên tử)

+ Bước 4: Hoàn thiện phương trình hóa học

+ Bước 5: Xác định cặp tỉ lệ số mol (chính là số nguyên tử, phân tử) các chất trong phương trình

c Thời gian.

Thời điểm để tiến hành việc này là việc làm thực hiện khi học sinh tìm hiểu về tính chất hóa học của các chất oxi, hidro, nước

d Qui trình thực hiện.

Trang 7

Vì đây là kĩ năng được hình thành đồng thời với kiến thức mới nên lí thuyết đưa ra cho học sinh về việc lập phương trình sẽ không có nhiều thời gian nên trong những bài đầu tiên giáo viên cần giúp học sinh thực hiện lần lượt từng bước và cho học sinh thực hành ngay với những phương trình tương tự để học sinh ghi nhớ qui trình Đồng thời giao cho học sinh bài tập về nhà phù hợp để củng cố kĩ năng

Chúng tôi xin phân tích hai ví dụ như sau:

Ví dụ 1: Khi học chủ đề đầu tiên ở phân môn Hóa học trong chương trình

Khoa học tự nhiên 8 là chủ đề Oxi – không khí, tính chất hóa học đầu tiên của oxi mà học sinh nghiên cứu là oxi tác dụng với lưu huỳnh Sau khi quan sát thí nghiệm thì hiện tượng rút ra được là: Bột lưu huỳnh S cháy (phản ứng với oxi

O2 trong không khí) tạo ra khí lưu huỳnh đioxit SO2

+ Bước 1:

Chất tham gia: là chất (hoặc nhóm chất) ban đầu, phản ứng với nhau (dấu

hiệu nhận biết là thường đi cùng với các động từ như tác dụng với, phản ứng

Chất sản phẩm: là chất (hoặc nhóm chất) hình thành sau (dấu hiệu nhận

biết là thường đi cùng các cụm từ tạo thành, sinh ra…): đó là SO2

+ Bước 2: Sắp xếp các nhóm chất trên vào phương trình tạm thời (phương trình chưa cân bằng nhưng tạm thời vẫn dùng dấu  chỉ hướng của phản ứng)

Chất (hoặc các chất) tham gia  Chất (hoặc các chất)sản phẩm

S + O2  SO2 + Bước 3: Trường hợp này là số nguyên tử S và O ở hai vế đã tự cân bằng nên sau bước 2 ta bỏ qua bước này

+ Bước 4: Hoàn thiện phương trình hóa học (ghi thêm điều kiện – nếu có)

S + O2  t0 SO2

+ Bước 5: Xác định cặp tỉ lệ số mol (chính là số nguyên tử, phân tử) các chất trong phương trình

Ban đầu cho học sinh đọc tỉ lệ nguyên tử, phân tử của cả phương trình:

1 nguyên tử S: 1 phân tử O2 : 1 phân tử SO2 Sau đó cho học sinh đọc tỉ lệ cặp chất:

1 nguyên tử S: 1 phân tử O2

1 nguyên tử S: 1 phân tử SO2

1 phân tử O2 : 1 phân tử SO2 Giúp học sinh nhớ lại (nếu học sinh quên thì nhấn mạnh): tỉ lệ số phân tử

nguyên tử trên đồng thời cũng là tỉ lệ số mol, tức là:

Trang 8

1 mol S: 1 mol O2

1 mol S: 1 mol SO2

1 mol O2 : 1 mol SO2

Ví dụ 2: Tương tự các bước trên tiếp tục giúp học sinh viết phương trình

với tính chất oxi tác dụng với photpho Giáo viên giúp học sinh nhận biết được hiện tượng và thông báo công thức của chất sản phẩm: Photpho P cháy (phản ứng với oxi O2 trong không khí) tạo ra chất rắn, trắng, dạng bột đó là điphotphopentaoxit P2O5

+ Bước 1:

Chất tham gia: là P và O2

Chất sản phẩm: là P2O5

+ Bước 2: Sắp xếp các nhóm chất trên vào phương trình tạm thời:

P + O2  P2O5 (Lưu ý: Ở một số phương trình việc sử dụng ngay dấu  khi chưa cân bằng là trái với các bước lập phương trình học sinh đã học ở lớp dưới, nên giáo viên cần giải thích với học sinh rằng đó là cái sai tạm thời, sau khi cân bằng thì đó sẽ là phương trình đúng, tránh việc sửa chữa nhiều)

+ Bước 3: Cân bằng số nguyên tử P và O ở hai vế (bằng phương pháp chọn bội chung nhỏ nhất)

Lựa chọn: Số nguyên tử có mặt nhiều nhất là O: vế trái 2O – vế phải 5O Mục tiêu: Tìm hệ số phù hợp điền vào trước công thức hóa học của các chất sao cho số nguyên tử hai vế bằng nhau:

Phương pháp: Bội chung nhỏ nhất của số nguyên tử O ở hai vế là 10 (số nhỏ nhất vừa chia hết được cho 2 và 5)

Lấy bội chung nhỏ nhất lần lượt chia cho số nguyên tử ở hai vế để được

hệ số phù hợp sao cho số nguyên tử O ở hai vế bằng nhau:

Hệ số đứng trước O 2 ở vế trái

10 5 2

Hệ số đứng trước P 2O5 ở vế phải

10 2 5

Ta được: P + 5O2  2P2O5

Cuối cùng là cân bằng số nguyên tử P: vế trái 1P – vế phải 2x2 =4P

Vì tỉ lệ nguyên tử 1:4 là tỉ lệ chia hết nên ta thêm hệ số 4 vào trước P (vế trái)

Ta được: 4P + 5O2  2P2O5

Trang 9

+ Bước 4: Hoàn thiện phương trình hóa học.

4P + 5O2   2Pt0 2O5 + Bước 5: Xác định cặp tỉ lệ số mol các chất trong phương trình

Tỉ lệ số nguyên tử, phân tử của phương trình:

4 nguyên tử P : 5 phân tử O2 : 2 phân tử P2O5

Tỉ lệ cặp chất :

4 nguyên tử P: 5 phân tử O2

4 nguyên tử P: 2 phân tử P2O5 = 2 nguyên tử P: 1 phân tử P2O5

5 phân tử O2 : 2 phân tử P2O5 Nhấn mạnh rằng: với những tỉ lệ chưa tối giản cần rút gọn về tỉ lệ tối giản

Yêu cầu học sinh đọc tỉ lệ số mol các chất, cặp chất

4 mol P : 5 mol O2 : 2 mol P2O5

4 mol P: 5 mol O2

4 mol P: 2 mol P2O5 = 2 mol P: 1 mol P2O5

5 mol O2 : 2 mol P2O5 Trong các tính chất hóa học của các chất được học sau đó, học sinh tự lập phương trình và luyện tập đọc tỉ lệ số mol các chất theo phương trình

3 Thứ ba, giải các dạng bài tập tính theo phương trình hóa học cơ bản nhất.

a Khảo sát.

Giải các bài toán Hóa học chủ yếu dựa trên phương trình hóa học, ở đa số học sinh đều thể hiện rõ rằng việc liên hệ giữa số liệu cho của đầu bài với các dữ kiện cần tính toán rất mơ hồ

b Nội dung thực hiện.

Giúp học sinh tái hiện và ghi nhớ các bước giải một bài toán tính theo phương trình hóa học

+ Bước 1: Tóm tắt đề bài, mục đích của bước này nhằm giúp học sinh hiểu rõ đề bài và các dữ kiện đã cho cũng như yêu cầu cần tính toán

+ Bước 2: Viết phương trình hóa học đúng

+ Bước 3: Tính số mol chất liên quan đến dữ kiện đã cho của đề bài

+ Bước 4: Dựa vào phương trình hóa học tìm số mol chất cần tính theo tỉ lệ với

số mol chất đã biết (theo qui tắc tam xuất)

+ Bước 5: Chuyển số mol chất cần tính sang khối lượng hoặc thể tích chất khí theo yêu cầu của đề bài

Trang 10

c Thời gian.

Điểm thuận lợi lớn trong việc giảng dạy phân môn Hóa học theo mô hình trường học mới là thời lượng dành cho việc làm bài tập khá đảm bảo Tùy theo điều kiện của lớp học và năng lực của học sinh mà giáo viên có thể đưa việc giải bài tập tính theo phương trình hóa học vào cuối giờ học lí thuyết hoặc tiết học hoạt động luyện tập, hoặc lồng ghép thêm trong các hoạt động tìm tòi, mở rộng

và hoạt động vận dụng

d Qui trình thực hiện.

Để thuận lợi trong việc giúp học sinh nhanh chóng nắm được cách giải một bài toán tính theo phương trình hóa học, giáo viên cần có sự phân dạng bài tập, dành thời gian củng cố từng dạng một theo lộ trình nhất định (có thể nhanh hay chậm, thời gian ngắn hay dài tùy theo nhận thức của đại bộ phận học sinh trong lớp)

Đối với đối tượng học sinh mà chúng tôi áp dụng là đối tượng học sinh chủ yếu là học sinh trung bình trở xuống thì mục tiêu mà chúng tôi đặt ra là học sinh giải được dạng toán tính theo phương trình hóa học cơ bản là biết khối lượng (hoặc thể tích) một chất có thể tính được khối lượng hoặc thể tích chất khác theo phương trình

Chúng tôi xin phân tích một số bài tập mà chúng tôi đã áp dụng như sau:

Bài tập 1: Đốt cháy hoàn toàn 3,2 gam S trong bình chứa O2 dư, sau phản ứng thu được khí SO2 có mùi hắc

a Viết phương trình hóa học của phản ứng.

Giáo viên định hướng học sinh các bước giải một bài tập tính toán trải qua

lộ trình gồm các bước sau:

+ Bước 1: Tóm tắt đề bài, mục đích của bước này nhằm giúp học sinh hiểu rõ

đề bài và các dữ kiện đã cho cũng như yêu cầu cần tính toán.

Bước này khá quan trọng, giúp học sinh nhận định rõ được dữ kiện đã cho, dữ kiện cần tính toán của đề bài là những đại lượng nào (chủ yếu dựa vào đơn vị của đại lượng đó) đồng thời xác định được công thức tính toán có liên quan tới các đại lượng đó

Đối với đề bài trên, tóm tắt như sau:

Dữ kiện đã biết là: mS = 3,2 (gam)

Dữ kiện cần tính toán: VO 2 ?(lit)

mSO2 ?(gam)

+ Bước 2: Viết phương trình hóa học đúng.

Ngày đăng: 05/04/2021, 00:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w