Xác định lợn mắc bệnh phổi dựa vào triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đặc trưng Xác lợn chết được mổ khám theo tiêu chuẩn trong TCVN 8402: 2010 Bộ khoa học & Công nghệ, 2010 Phương pháp l
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THƯ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CHỦ YẾU
Ở NHÓM BỆNH PHỔI CỦA LỢN SIÊU NẠC
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 01 tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thƣ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Bệnh lý thú y cùng toàn thể các thầy, cô giáo Khoa Thú Y, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Hữu Nam, Bộ môn Bệnh
lý, người hướng dẫn trực tiếp đã giúp đỡ, chỉ bảo tận tình, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận của mình Đồng thời tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đến các anh chị phòng Thí nghiệm bộ môn Bệnh lý – Khoa Thú y, nơi tôi thực hiện đề tài, đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành đề tài tốt nhất
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thƣ
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục đồ thị vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh ở đường hô hấp 3
2.1.1 Sơ lược tình hình bệnh hô hấp 3
2.1.2 Nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp 3
2.2 Cấu tạo và chức năng của phổi 11
2.3 Sơ lược một số bệnh phổi ở lợn 13
2.3.1 Bệnh tụ huyết trùng lợn (Pasteurellosis suum) 13
2.3.2 Bệnh suyễn lợn (Swine Mycoplasmosis) hay bệnh viêm phổi địa phương 14
2.3.3 Bệnh viêm màng phổi và phổi ở lợn (Swine pleuropneumonia): 15
2.3.4 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Respiratory Riproductive Syndrome – PRRS) 16
2.3.5 Bệnh viêm teo mũi truyền nhiễm ở lợn (Atrophic rhinitis) 17
2.3.6 Bệnh cúm lợn 18
2.3.7 Bệnh viêm đường hô hấp do Heamophilus 19
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 20
3.1 Thời gian nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm nghiên cứu 20
3.3 Đối tượng nghiên cứu 20
Trang 53.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 20
Phần 4 Kết quả và thảo luận 25
4.1 Kết quả nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh phổi của lợn tại 4 trang trại 25
4.2 Kết quả so sánh tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi của lợn tại 4 trang trại 36
4.3 Kết quả chẩn đoán các bệnh phổi ở lợn siêu nạc tại 4 trang trại 40
4.4 Kết quả tổng hợp tỷ lệ mắc các bệnh phổi của lợn tại 4 trang trại 49
4.5 Kết quả nghiên cứu triệu chứng, bệnh tích chủ yếu của lợn mắc nhóm bệnh phổi 49
4.5.1 Kết quả nghiên cứu triệu chứng của lợn mắc bệnh 49
4.5.2 Kết quả nghiên cứu bệnh tích đại thể của lợn mắc bệnh 51
4.6 Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể ở phổi của lợn mắc bệnh 57
4.7 Kết quả một số chỉ tiêu huyết học của lợn mắc bệnh 62
4.7.1 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu hồng cầu của lợn bệnh 62
4.7.2 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu bạch cầu của lợn bệnh 66
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 69
5.1 Kết luận 69
5.2 Kiến nghị 69
Tài liệu tham khảo 70
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
APP Actinobacinus pleuropneumonia
FAO Food and Agriculture Organization
HCRLHHSS Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản
LHbBQ Lượng Hemoglobin bình quân
NĐHbBQ Nồng độ huyết sắc tố trung bình
P Multocida Pasteurella Multocida
PRRS Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome
VTB Thể tích trung bình của hồng cầu
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các bệnh gây khó thở ở lợn 13
Bảng 4.1 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại trại chăn nuôi lợn siêu nạc Ông Hinh từ tháng 9/2018 – 4/2019 (%) 26
Bảng 4.2 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại trại chăn nuôi lợn siêu nạc Ông Kiên từ tháng 9/2018 – 4/2019 (%) 29
Bảng 4.3 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại trại chăn nuôi lợn siêu nạc Ông Dũng từ tháng 9/2018 – 4/2019 (%) 31
Bảng 4.4 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại trại chăn nuôi lợn siêu nạc Ông Quyền từ tháng 9/2018 – 4/2019 (%) 34
Bảng 4.5 Kết quả so sánh tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại 4 trại chăn nuôi lợn siêu nạc từ tháng 9/2018 – 4/2019 (%) 36
Bảng 4.6 Kết quả chẩn đoán các bệnh phổi ở lợn mắc nhóm bệnh phổi tại trại Ông Hinh từ tháng 9/2018 – 4/2019 (%) 41
Bảng 4.7 Kết quả chẩn đoán các bệnh phổi ở lợn mắc nhóm bệnh phổi tại trại Ông Kiên từ tháng 9/2018 – 4/2019 (%) 43
Bảng 4.8 Kết quả chẩn đoán các bệnh phổi ở lợn mắc nhóm bệnh phổi tại trại Ông Dũng từ tháng 9/2018 – 4/2019 (%) 45
Bảng 4.9 Kết quả chẩn đoán các bệnh phổi ở lợn mắc nhóm bệnh phổi tại trại Ông Quyền từ tháng 9/2018 – 4/2019 (%) 47
Bảng 4.10 Kết quả tổng hợp tỷ lệ mắc các bệnh phổi ở 4 trang trại 49
Bảng 4.11 Kết quả tổng hợp triệu chứng lâm sàng của lợn bệnh 50
Bảng 4.12 Kết quả nghiên cứu bệnh tích đại thể của phổi lợn bệnh 52
Bảng 4.13 Bệnh tích đại thể ở một số cơ quan của lợn bệnh 53
Bảng 4.14 Kết quả nghiên cứu bệnh tích đại thể trên phổi lợn bệnh 54
Bảng 4.15 Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể ở phổi của lợn bệnh 58
Bảng 4.16 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu hệ hồng cầu của lợn bệnh 64
Bảng 4.17 Kết quả khảo sát chỉ tiêu bạch cầu của lợn bệnh 67
Trang 8DANH MỤC ĐỒ THỊ
Biểu đồ 4.1a Biểu diễn tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại trại Ông Hinh theo nhóm lợn 27
Biểu đồ 4.1b Biểu diễn tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại trại Ông Hinh theo các tháng 27
Biểu đồ 4.2a Biểu diễn tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại trại Ông Kiên theo nhóm lợn 30
Biểu đồ 4.2b Biểu diễn tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại trại Ông Kiên theo các tháng 30
Biểu đồ 4.3a Biểu diễn tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại trại Ông Dũng theo nhóm lợn 32
Biểu đồ 4.3b Biểu diễn tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại trại Ông Dũng theo các tháng 32
Biểu đồ 4.4a Biểu diễn tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại trại Ông Quyền theo nhóm lợn 35
Biểu đồ 4.4b Biểu diễn tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại trại Ông Quyền theo các tháng 35
Biểu đồ 4.5a Biểu đồ so sánh tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi theo nhóm lợn siêu nạc ở 4 cơ sở nghiên cứu 37
Biểu đồ 4.5b Biểu đồ tổng quát so sánh tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi của lợn siêu nạc ở 4 cơ sở nghiên cứu 37
Biểu đồ 4.6a Biểu diễn tỷ lệ lợn mắc các bệnh phổi ở trại ông Hinh 42
Biểu đồ 4.7a Biểu diễn tỷ lệ lợn mắc các bệnh phổi ở trại ông Kiên 44
Biểu đồ 4.8a Biểu diễn tỷ lệ lợn mắc các bệnh phổi ở trại ông Dũng 46
Biểu đồ 4.9a Biểu diễn tỷ lệ lợn mắc các bệnh phổi ở trại ông Quyền 48
Biểu đồ 4.10a Biểu diễn tỷ lệ mắc các bệnh phổi theo bệnh ở 4 trại 49
Trang 9
DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Lợn tím tai, lợn ốm do PRRS 51
Hình 4.2 Lợn ốm cả đàn, nằm dồn đống trong PRRS 51
Hình 4.3 Lợn thở thể bụng do mắc suyễn 51
Hình 4.4 Tụ máu đỏ sẫm ở da do mắc tụ huyết trùng 51
Hình 4.5 Phổi lợn mắc PRRS 56
Hình 4.6 Thai xảy do PRRS 56
Hình 4.7 Bệnh viêm màng phổi, phổi sưng to, tơ huyết tạo thành lớp màng phía ngoài của phổi 56
Hình 4.8 BệnhTụ huyết trùng, tích nước trong xoang ngực 56
Hình 4.9 Phổi lợn mắc suyễn, bệnh tích màu đỏ sẫm, chắc, đặc Đối xứng hai bên 56
Hình 4.10 Lợn măc suyễn, phổi viêm tụy tạng hóa 56
Hình 4.11 Tụ máu ở gan trong bệnh tụ huyết trùng 57
Hình 4.12 Viêm phổi thùy trong bệnh tụ huyết trùng 57
Hình 4.13 Viêm đa xoang (bụng và xoang ngực bị viêm) trong bệnh Glasser 57
Hình 4.14 Viêm tơ huyết ở các cơ quan nội tạng trong Glasser 57
Hình 4.15 Phổi đối chứng với lợn mắc PRRS, vách phế nang mỏng, lòng phế nang trong sáng_HE.10x 60
Hình 4.16 PRRS_Đại thực bào phế nang bị hoại tử_HE 40x 60
Hình 4.17 PRRS_Viêm kẽ phổi, vách phế nang dày, lòng phế nang chứa nhiều tế bào viêm, kẽ phổi thấm nước phù_HE.10x 60
Hình 4.18 PRRS_ Viêm kẽ phổi xuất huyết_HE.20x 60
Hình 4.19 Phổi đối chứng, vách phế nang mỏng, lòng phế nang trong sáng_HE.10x 61
Hình 4.20 APP_Xuất huyết phổi, hồng cầu tràn ngập nhu mô phổi_HE.20x 61
Hình 4.21 APP_Viêm phổi nghiêm trọng, lòng phế namg chứa đầy tế bào viêm_HE.20x 61
Hình 4.22 APP_Viêm phổi Trong lòng các phế nang chứa đầy bạch cầu đa nhân trung tính_HE.40x 61
Hình 4.23 Suyễn_Phổi đối chứng, vách phế nang mỏng, lòng phế nang trong sáng (HE.10x) 62
Trang 10Hình 4.24 Suyễn_Viêm kẽ phổi_Vách phế nang dày, lòng phế nang chứa đầy tế
bào viêm_HE.10x 62 Hình 4.25 Suyễn_tăng sinh cao độ tế bào lympho trong vùng phổi tụy tạng hóa
HE.20x 62 Hình 4.26 Suyễn_Viêm kẽ phổi_Vách phế nang dày, lòng phế nang chứa đầy tế
bào viêm_HE.10x 62
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Thư
Tên đề tài: Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý chủ yếu ở nhóm bệnh phổi của lợn siêu nạc
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục đích và đối tượng nghiên cứu:
Xác định và so sánh các đặc điểm bệnh lý chủ yếu của nhóm bệnh phổi ở lợn siêu nạc
Ứng dụng những kết quả đã nghiên cứu được vào thực tiễn sản xuất, làm cơ sở cho việc chẩn đoán bệnh, có biện pháp phòng trị thích hợp
Đối tượng nghiên cứu: Lợn siêu nạc các lứa tuổi, gồm các giống lợn: Landrace, Yorshire mắc nhóm bệnh phổi tại Văn Giang Hưng Yên
Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
Xác định lợn mắc bệnh phổi dựa vào triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đặc trưng Xác lợn chết được mổ khám theo tiêu chuẩn trong TCVN 8402: 2010 (Bộ khoa học & Công nghệ, 2010)
Phương pháp làm và nhuộm tiêu bản vi thể
Từ những mẫu bệnh phẩm có các biến đổi đại thể được lấy mẫu ngâm trong dung dịch formol 10% để làm tiêu bản để xác định bệnh tích vi thể chủ yếu của bệnh
Tiêu bản vi thể được làm theo phương pháp của Prophet, E.B, 1992 bao gồm các bước: (1) Lấy mẫu; (2) khử nước, làm trong; (3) tẩm parafin; (4) đúc block; (5) cắt dán mảnh; (6) nhuộm Hematoxilin và Eosin; (7) gắn lamen, dán nhãn và đọc kết quả bằng kính hiển vi (Prophet and Pathology, 1992)
Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu được được xử lý bằng phần mềm microsoft excel 2010 và phần mềm thống kê EpiTools Epidemiological Calculators (Ausvet, Australia)
Kết quả thu được và kết luận của đề tài
Hoàn thành đề tài này chúng tôi có một số kết luận sau:
1 Tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi ở 4 - 9 tuần tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất Lợn nạc được nuôi trong chuồng kín và áp dụng phương thức " cùng vào - cùng ra", mật độ chăn nuôi thưa, luân chuyển hợp lý có tỷ lệ mắc bệnh phổi thấp hơn là các trại nuôi bằng chuồng bán kín, chuồng hở
Trang 122 Khi mắc nhóm bệnh phổi có triệu chứng chủ yếu là: lợn gầy, da khô, lông xù, ủ
rũ, ho, khó thở, da tím tái
3 Bệnh tích đại thể chủ yếu ở phổi: Lợn mắc APP có bệnh tích đại thể đặc trưng
là viêm màng phổi, phổi viêm tơ huyết dính với màng ngực và tích nước trong xoang ngực Biểu hiện viêm phế quản phổi, viêm kẽ phổi là bệnh tích đại thể đặc trưng lợn mắc PRRS Bệnh tích đặc trựng khi lợn mắc suyễn là phổi bị tụy tạng hóa, phổi viêm có tính chất đối xứng và tổn thương hạch phổi
4 Bệnh tích vi thể chủ yếu ở phổi: Lợn mắc APP có bệnh tích vi thể đặc trưng trên phổi là hiện tượng xuất huyết, viêm phổi hoại tử, hóa mủ, lòng phế nang chứa đầy bạch cầu
đa nhân trung tính Đối với lợn mắc PRRS bệnh tích vi thể chính là viêm kẽ phổi, xuất huyết, đại thực bào phế nang bị hoại tử Lợn mắc suyễn: với biểu hiện bệnh tích vi trên đặc trưng trên phổi phổi là hiện tượng tăng sinh các tế bào lympho, viêm kẽ phổi
5 Khi lợn mắc APP, số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố và tỷ khối huyết cầu của lợn mắc APP đều giảm so với lợn khoẻ Số lượng bạch cầu và tỷ lệ bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan tăng lên rõ rệt Đối với lợn mắc PRRS và mắc bệnh suyễn,
số lượng hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố và tỷ khối huyết cầu đều tăng so với đối chứng Tuy nhiên, lợn mắc PRRS có số lượng bạch cầu giảm đáng kể
Trang 13THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Thi Thu
Thesis title: Study of pathological characteristics mainly in respiratory diseases of super
lean pigs
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture
Purpose and Materials
Identify and compare the main pathological characteristics of the respiratory disease group in super lean pigs
Apply the research results into production practices, serve as a basis for diagnosis, and take appropriate preventive measures
Subjects of study: Super lean pigs of all ages, including pigs: Landrace, Yorshire with lung disease group in Van Giang_ Hung Yen
Methods
Identify pigs with lung disease based on clinical symptoms and specific lesions Dead pig bodies were examined for surgery according to the standards in TCVN 8402: 2010 (Ministry of Science & Technology, 2010)
Method of making and dyeing microscopic patterns
From specimens of general changes, samples were taken in 10% formol solution
to serve as specimens to determine the major microscopic lesions of the disease
Micro-templates are made according to the method of Prophet, E., 1992 including the steps: (1) Sampling; (2) dehydration, make in; (3) impregnated with paraffin; (4) casting block; (5) piece collage; (6) dyeing Hematoxilin and Eosin; (7) attaching lamen, labeling and reading the results with a microscope (Prophet and Pathology, 1992)
Data processing methods
The collected data is processed by microsoft excel 2010 software and EpiTools Epidemiological Calculators (Ausvet, Australia) statistics software
Result & Conclusion
Aftercomplete research, we have some conclusions:
1 The incidence of respiratory diseases group at 4 - 9 weeks of age has the highest incidence Lean pigs are kept in closed pens and apply the "same in - out"
Trang 14method, the sparse and reasonable breeding density has a lower incidence of lung diseases than farms with semi - closed pens and open stables
2 When suffering from respiratory diseases, the main symptoms are: thin pig, dry, rough, rough, cough, shortness of breath, pale skin
3 Major macular lesions in the lungs: APP infected pigs with typical lesions of the pleura, pleural inflammation of the choroid and chest fluid in the chest cavity Manifestations of bronchitis and pulmonary interstitial inflammation are characteristic lesions of pigs with PRRS The disease builds up when pigs with asthma are lung with pancreatic pancreas, symptomatic lung inflammation and lung lymphadenopathy
4 Primary microscopic lesions in the lungs: APP infected pigs with microscopic lesions characterized by pulmonary hemorrhage, necrotizing pneumonia, pus, and alveoli filled with neutrophils For pigs infected with PRRS, the main microscopic lesions are pulmonary interstitial inflammation, hemorrhagic necrotizing macrophages Pigs with asthma: with manifestations of microscopic lesions in the lung lungs are proliferating lymphocytes and interstitial inflammation
5 When pigs are infected with APP, the number of erythrocytes, hemoglobin concentration and the blood ratio of APP infected pigs are reduced compared to healthy pigs The number of white blood cells and the proportion of neutrophils, eosinophils increased markedly For pigs infected with PRRS and asthma, the number of erythrocytes, hemoglobin concentration and hemoglobin were increased compared to controls However, pigs with PRRS have a significantly reduced white blood cell count
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế nhưng hiện nay vẫn còn khoảng gần 80% dân số sống bằng nghề nông nghiệp, trong đó chăn nuôi là một trong những ngành trọng điểm để phát triển kinh tế nông nghiệp ở nước ta Thực hiện chủ trương về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nhiệp, giá trị sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng lên Ngành chăn nuôi đã từng bước trở thành một ngành sản xuất hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông nghiệp, được coi là ngành mũi nhọn trong công tác xóa đói giảm nghèo cho nhân dân Có thể khẳng định rằng: Trong những năm qua, ngành chăn nuôi lợn nước ta nói riêng đã đạt nhiều thành tựu mới, xu thế chuyên môn hóa sản xuất, chăn nuôi trong trang trại tập trung ngày càng phổ biến
Cùng với sự đi lên của ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng, sự phát triển của các phương thức chăn nuôi công nghiệp hiện đại như trang trại khép kín với sự đầu tư về trang thiết bị có thể nói là rất lớn Tuy nhiên với quy mô đàn lớn, mật độ chăn nuôi dày đặc nên các trang trại không tránh khỏi tình trạng dịch bệnh xảy ra Đặc biệt với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng
ẩm và các phương thức chăn nuôi đơn thuần ở nước ta càng thuận lợi cho những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh Tai xanh, bệnh tụ huyết trùng, bệnh rối loạn hô hấp sinh sản, bệnh viêm màng phổi và phổi, bệnh dịch tả lợn, bệnh phó thương hàn, bệnh đóng dấu lợn, và đặc biệt có một số nhóm bệnh về phổi trong những năm gần đây phát triển mạnh gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế không chỉ ở những đàn lợn nội, lợn lai, với các phương thức chăn nuôi khác nhau
mà nó còn xảy ra và gây nhiều thiệt hại về kinh tế cho hộ chăn nuôi lợn siêu nạc Trong đó, nhóm bệnh phổi là nhóm bệnh thường xuyên xảy ra, bệnh lây lan nhanh, làm giảm khả năng sinh trưởng phát triển thậm chí còn có thể gây chết, làm thiệt hại lớn về kinh tế Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi triển khai nghiên
cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý chủ yếu của nhóm bệnh phổi ở lợn siêu nạc"
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Xác định và so sánh các đặc điểm bệnh lý chủ yếu của nhóm bệnh phổi
ở lợn siêu nạc
Trang 16- Ứng dụng những kết quả đã nghiên cứu được vào thực tiễn sản xuất, làm
cơ sở cho việc chẩn đoán bệnh, có biện pháp phòng trị thích hợp
- Thời gian nghiên cứu: 9/2018 – 4/2019
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH Ở ĐƯỜNG HÔ HẤP
2.1.1 Sơ lược tình hình bệnh hô hấp
Bệnh hô hấp của gia súc là một bệnh khá phổ biến Đặc biệt là bệnh viêm phổi, tuy chưa có số liệu thống kê đầy đủ nhưng nó chiếm khoảng 65% bệnh hô hấp Bệnh viêm phổi thường phát sinh lẻ tẻ ở khắp các vùng trong cả nước và vào tất cả các tháng trong năm, nhưng nhìn chung thì bệnh thường tập trung vào các tháng cuối đông (tháng 12, 1, 2, 3) hàng năm Do thời điểm này thời tiết rất lạnh, rất khắc nghiệt và lại thay đổi đột ngột Gia súc phải hoạt động tối đa kết hợp với việc quản lý, vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, đó là tiền đề cho bệnh viêm phổi xảy ra
Bên cạnh đó, mạng lưới thú y cơ sở còn mỏng, hoạt động kém hiệu quả, trình độ chuyên môn còn thấp nên việc phòng và trị bệnh chưa đem lại kết quả cao Vì thế hàng năm tỷ lệ gia súc chết do viêm phổi rất cao (chiếm khoảng 1/3 tổng số con bị bệnh hô hấp), gây thiệt hại lớn về kinh tế
Theo Blood et al., (1985), tổn thất do bệnh đường hô hấp dao động tương
đối giữa các gia súc và các mùa Sự tổn thất theo mùa do bệnh viêm phổi gây ra
là hơn 30%
2.1.2 Nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp
Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp Các nguyên nhân đó ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau Theo Trần Cừ (1975) Gia súc sống trong một môi trường nhất định, đường hô hấp lại thường xuyên tiếp xúc với môi trường bên ngoài, do đó khi điều kiện môi trường sống thay đổi sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến bộ máy hô hấp, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật khác trỗi dậy và gây bệnh Cho nên khi bệnh hô hấp xảy ra nó phải được xem là kết quả của một tập hợp các nhân tố liên quan như:
sự truyền nhiễm, môi trường, sự quản lí và di truyền… Theo Cù Hữu Phú (2005) Nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp là do đa yếu tố, nên thực tế khi nghiên cứu vấn đề này chúng ta không thể quan tâm đến một vài tác nhân lây nhiễm cụ thể
mà phải xem xét đến các tác nhân có liên quan
Trang 182.1.2.1 Sự nhiễm trùng
Do đặc điểm cấu tạo và chức năng, đường hô hấp có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại, khu trú của nhiều loài vi sinh vật Đồng thời đó là con đường thuận lợi nhất cho sự xâm nhập cũng như thích ứng đầu tiên của nhiều loại
vi khuẩn (Nguyễn Như Thanh và cs., 1997)
Cho nên dù ở hình thức chăn nuôi nào: riêng lẻ hay tập chung, sự nhiễm trùng đường hô hấp là rất phổ biến, đặc biệt là ở hình thức chăn nuôi tập chung theo từng đàn lớn Sự lan rộng của bệnh hô hấp từ đàn này sang đàn khác, từ con này sang con khác có thể bằng 2 con đường:
+ Giống như sự nhiễm trùng khác, bệnh có thể lây qua tiếp xúc như: mua bán, xe cộ và các phương tiện vận chuyển qua lại, chăm sóc, người…
+ Một số bệnh hô hấp có thể lây từ đàn này sang đàn khác bằng sự lưu chuyển không khí
- Sự lan truyền bệnh hô hấp bằng lưu chuyển không khí (Airbone)
Sự lưu chuyển không khí trong tự nhiên là một trong những tác nhân quan trọng có khả năng làm tăng cường sự khuyếch tán của mầm bệnh Nhờ con đường này mà nhiều bệnh đường hô hấp có thể lây lan từ đàn này sang đàn khác Thông qua các yếu tố khí tượng, nổi bật là hướng và tốc độ gió, cộng thêm vào
đó là các tác nhân như: mây che phủ, gió xoáy, địa hình, độ ẩm tương đối lớn hơn 90% tạo điều kiện cho sự lưu chuyển không khí, tăng khả năng phát tán mầm bệnh đi xa Một số bệnh hô hấp của gia súc như: bệnh cảm lợn (Bronchitis et broncho pneumonia enzootic porcellorum, influenza suum), bệnh viêm phổi - màng phổi truyền nhiễm của trâu bò (Contagious bovin pleuropneumonia) do
Mycoplasma mycodes gây ra Các bệnh này có thể lan rộng đến vài cây số
Goodwin 1985 Không chỉ có bệnh hô hấp mà một số bệnh như: lở mồm long móng (FMD), bệnh Aujesky’s ở lợn cũng lây theo phương thức này
- Nhiễm trùng hô hấp cá thể và trong đàn
Như chúng ta đã biết đường hô hấp mà đặc biệt là đường hô hấp trên, là nơi lý tưởng cho sự tồn tại, khu trú của rất nhiều loài vi sinh vật Bao gồm cả những nhóm có lợi và có hại như: Virus, Mycoplasma, Chamydias, vi khuẩn … Giữa chúng tồn tại mối liên kết đặc biệt, mối liên kết này luôn ở trạng thái cân bằng giữa các nhóm vi sinh vật với nhau và với cơ thể vật chủ Số lượng và chủng loại của các loài vi sinh vật không ổn định mà thường xuyên biến động
Trang 19theo mùa, vùng, theo từng loài động vật khác nhau và từng vị trí khác nhau trong đường hô hấp
Chẳng hạn như: Mycoplasma hyorhinis và Haemophillus nhưng loại này
thuộc cùng một nhóm vi sinh vật, có thể thường xuyên được phân lập không chỉ
ở đường hô hấp trên mà cả trong các phế quản, kiểm tra vi khuẩn trong lợn sống
và khoẻ mạnh nặng 20 – 30 kg thấy rằng: Streptococcus, Staphylococcus,
Escherichia coli, Klebshiella, Corrynebacterium, M.haemophilus parasuis rất
hay thấy còn Bordetellabronchiseptica rất hiếm khi phân lập được Pasteurella
multocida không bao giờ có thể phân lập được ở trong phế quản lợn khoẻ
Năm 1951 rất nhiều tác giả đó công bố phân lập được nhóm vi khuẩn:
M.pneumonia hoặc M.hyopneumonia Ngoài ra còn có những vi khuẩn khác cũng
được phân lập ở đường hô hấp như Bordetella bronchiseptia, Pasteurella.sp,
Corynebacterium, Escherichia coli, Staphylococcus, Haemophylus influenza suis
(Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)
Theo (Gilka et al., 1974) nhiều vi khuẩn được phát hiện ở đường hô hấp gia súc như: Pasteurella.sp, Mycoplasma sp Streptococcus sp Corinebacterium
bovis, Sphaero phorusnecro phorus, Haemophilus Somnus
New house M et al (1976); Cohen AV andGold WN(1975) cho biết, một
số vi khuẩn tìm thấy ở đường hô hấp gia súc gồm: Pasteurella, Mycoplasma sp
Haemophillus pneumonia, Bordetella brochiseptica, Salmonella Cholesraesuis,
Corynebacterium equi, Anthrax
Nhiều loại vi khuẩn gây bệnh được phát hiện thông thường ở miệng, mũi,
họng như: Haemophilus influenza, Staphylococcus, Klebshiella pneumonia,
Streptococcus pyogenes, Neisseria meningitadis, các loại Bacteroides, Moracell Catarrhalis
Mặc dù số lượng, chủng loại các loài vi sinh vật khu trú trong đường hô hấp
là rất lớn nhưng không phải lúc nào cũng có mặt Theo những nghiên cứu mới đây nhất cho thấy: các loài vi sinh vật thường xuyên có mặt ở đường hô hấp bao gồm
* Pasteurella multocida
Đây là một trong những loài vi khuẩn rất hay gặp trong đường hô hấp của gia súc nói chung Trâu, bò nói riêng thường thấy ở đường hô hấp trên, càng đi sâu vào phổi càng khó phân lập
Trang 20Theo Rhoades 1967 khi phân lập trên 1283 bệnh phẩm cho thấy tỷ lệ mang khuẩn ở trâu bò khoẻ biến đổi từ 50 - 100%
Ở Việt Nam, qua 3 năm điều tra ở 22 điểm trên 805 trâu bò từ những mẫu vật phẩm chủ yếu là những chất ngoáy mũi tại 10 tỉnh và thành phố phía Nam
thấy rằng khoảng 5,6% trâu bò mang P Multocida (Phạm Văn Khuê, Phan Lục)
Trương Văn Dung và cs (1998) khi phân lập 317 mẫu vật phẩm chủ yếu là lấy dịch đường hô hấp trên, trâu bò tại 6 tỉnh phía Bắc thấy rằng tỷ lệ mang vi khuẩn tại các địa phương từ 45 - 64,9%
Lê Văn Tạo và Dương Thế Long (1995) khi phân lập 305 mẫu vật chủ yếu
là chất ngoáy mũi trâu bò khoẻ tại Sơn La đó phân lập được P Multocida, kết
quả cho thấy tỷ lệ mang vi khuẩn tại địa phương là 15,4% ở trâu, 16,7% ở bò
* Mycoplasma Hypopneumonia
Đây là dạng trung gian giữa vi khuẩn và virus, gây bệnh viêm phổi tại địa phương hay bệnh viêm phổi - màng phổi truyền nhiễm gây tổn thất rất lớn về kinh tế, loài này chủ yếu là gây bệnh cho lợn
Ở Anh chiếm 42% bệnh đang lưu hành và 6% đó được ghi trong lợn đang phát triển, 35 - 60 % được định giá như là vùng ảnh hưởng bình thường ở Mỹ
Khảo sát 2 lò mổ Newzealand 69% của 326 lợn thịt (Rees 1964) và 37% của 1206 lợn tất cả các lứa tuổi đó tổn thương Lợn bị ảnh hưởng từ khảo sát mới
là có mặt trong 78% của 41 nông trang điển hình
Mycoplasma Hyorhinis đó tìm thấy ở hốc mũi trên 60% lợn bình thường
và 49% ở phổi viêm và 17% ở phổi bình thường
* Streptococcus
Vi khuẩn có khắp nơi trong thiên nhiên, đất, nước, không khí…trong cơ thể động vật và người, chúng sống hoại sinh ở đường tiêu hoá: cổ họng, nước bọt, hô hấp và đường tiêu hoá phần dưới, ngoài ra còn thấy trên da, niêm mạc
* Staphylococcus
Tụ cầu khuẩn và các biến chủng của nó phân bố rộng rãi trong thiên nhiên,
trên da động vật và trên niêm mạc là nơi cư trú chủ yếu của Staphylococcus…
bệnh viêm phổi có thể xảy ra khi mà các yếu tố vật lý, hoá học kết hợp với vi
sinh vật gây bệnh: Staphylococcus, Streptococcus…có thể xâm nhập vào phổi
qua đường hô hấp
Trang 21* Klebshiella pneumonia
Klebshiella pneumonia gây bệnh viêm phổi cho người và gây bệnh phổi
truyền nhiễm bại huyết cho ngựa, dê, lợn, cừu, có trong nước tiểu của người và ngoại cảnh
- Tác động qua lại giữa các tác nhân nhiễm trùng
Về lâm sàng, một căn bệnh năng thường hiếm khi là kết quả của một sự nhiễm trùng với một mầm bệnh thường là kết quả của một vài mầm bệnh có liên quan Trong đó có thể một mầm bệnh đóng vai trò chủ đạo, mở đường cho các mầm bệnh khác xâm nhập, làm giảm sức đề kháng của cơ thể
Trong khoang mũi B bronchiseptica thường hoạt động như một nhân tố dẫn dắt, tạo điều kiện cho sự xâm nhập và trỗi dậy của các nhóm Pasteurella
multocida độc lập, có khả năng viêm phổi
Nhìn chung các tác nhân chủ yếu thường là virus hoặc Mycoplasma, các vi
khuẩn khác chỉ là tác nhân thứ yếu để gây bệnh hô hấp Chẳng hạn như khả năng
dễ mắc bệnh của lợn với Actino bacilus pleuropneumonina tăng lên sau khi đó bị nhiễm virus cúm và bệnh Aujesky’s (Hunneman, 1986) Lợn nhiễm Mycoplasma
hyopneumonia sức đề kháng với A pleuropneumonia sẽ giảm sút
Sau khi nghiên cứu trên 4800 lợn thịt cho rằng sự viêm màng phổi tăng
lên từ 12,5% ở lợn không bị nhiễm 5 loại sau: A.pleuropneumonia, virus cúm,
Pasteurella multocida, Mycoplasma suispneumonia, Haemophylus papasuis tới
hơn 60% lợn bị nhiễm trùng với 4 hoặc 5 loại này (Mousing et al., 1990)
Khuynh hướng hiện nay cho rằng nguyên nhân chính gây bệnh hô hấp là các virus, các vi khuẩn chỉ là thứ phát hoặc công lực giữa các virus và vi khuẩn
2.1.2.2 Môi trường - Quản lý
Duy trì hoạt động tốt của bộ máy hô hấp ở cấp độ đàn hay cá thể chủ yếu
là giữ vững sự cân bằng giữa sức đề kháng của gia súc và các mầm bệnh hô hấp Nhân tố môi trường và quản lý ảnh hưởng rất lớn đến sự cân bằng này Sự khác nhau về điều kiện môi trường và sự quản lý giải thích các mức độ rối loạn lâm sàng khác nhau, có thể thấp ở cá thể này, đàn này, nhưng lại cao ở đàn kia, cá thể kia, thậm trí có vùng một loại vi sinh vật, hay nguyên nhân gây bệnh nói chung…Nhân tố môi trường và quản lý tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau do đó không thể tách rời chúng khi nghiên cứu các bệnh hô hấp bởi nó có ảnh hưởng trực tiếp đến sức đề kháng của cơ thể gia súc cũng như tồn tại hay
Trang 22không của các vi sinh vật gây bệnh Điều kiện môi trường thay đổi ảnh hưởng rất lớn đến sự quản lý, môi trường thể chất và tồn tại ở đó
2.1.2.3 Thể chất của gia súc
Thể chất của gia súc có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình mắc bệnh hô hấp, nhất là khi gia súc được chăn nuôi theo đàn Bệnh hô hấp có thể xảy ra khi con gia súc có thể trạng kém được đưa vào đàn khoẻ mạnh Tuy nhiên việc đưa con khoẻ mạnh vào đàn có thể trạng kém cũng có nguy cơ mắc bệnh nếu không có sự
đề phòng để chống lại sự nhiễm trùng hô hấp… Những con đó nếu không được bảo vệ bằng sức đề kháng cụ thể thì bệnh sẽ dễ dàng xảy ra
Sự cân bằng đó được thiết lập trong đàn giữ sức đề kháng và mầm bệnh sẽ
bị phá vỡ, gia súc bị mắc bệnh
Một nghiên cứu trên lợn ở Đan mạch cho thấy nguy cơ đàn gia súc mắc bệnh hô hấp tăng lên với số lượng nhóm và số lượng nguồn, lợn được sinh ra từ lợn mẹ non có nguy cơ mắc bệnh các thương tổn bệnh cao hơn nhiều so với lợn sinh ra từ lợn mẹ già
2.1.2.4 Sự luân chuyển đàn
Khi gia súc được chăn nuôi theo từng đàn, sự phân chia không rõ ràng giữa các lứa tuổi với nhau sẽ tồn tại sự lan truyền vi khuẩn liên tiếp từ con già đến con non do sự tồn tại và phát triển của mầm bệnh trong đàn Những yêu cầu không giống nhau về khí hậu của các nhóm tuổi khác nhau có thể là một nhân tố không thuận lợi Ngược lại, sự chuyển vào tất cả và chuyển ra tất cả gia súc trong trại với các thiết bị ngăn cách hợp lý sẽ bảo vệ được những con non không mắc phải mầm bệnh có sẵn trong những nhóm gia súc già hơn Cho thấy sự tiện lợi của việc chăn nuôi theo hình thức nhập vào tất cả và xuất ra tất cả so với chăn nuôi liên tục, đó là
sự giảm đi về nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp (Tielen et al., 1978)
2.1.2.5.Mật độ chăn nuôi
Số lượng con trong một đàn, hay trong một chuồng có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát sinh bệnh, nhất là bệnh hô hấp Đa phần các nghiên cứu về sự lây lan chứng tỏ rằng nguy cơ mắc bệnh hô hấp tăng đáng kể so với sự gia tăng của
kích cỡ đàn (Aalund et al., 1976)
Những nghiên cứu trên lợn cho thấy: một đàn lợn ở mức độ nào đó có nguy cơ mắc bệnh hô hấp thấp hơn một đàn lợn đơn thuần Do ở đàn gia súc lớn,
Trang 23bắt buộc phải chia nhỏ các trang thiết bị, dụng cụ và chuyển lợn vào trong nhóm
để kiểm tra, kiểm soát các bệnh truyền nhiễm Trong những đàn khác không tốn nhiều để chia các thiết bị, cho kiểu chăn nhập vào, xuất ra tất cả Do đó tình trạng sức khoẻ của đàn cỡ trung bình và to vừa phải tốt hơn và ít nguy cơ mắc bệnh hô hấp hơn so với các đàn có mật độ lớn
Số lượng vật nuôi ở trong cùng một khoảng trống ảnh hưởng rất lớn đến nguy cơ mắc bệnh, thậm trí cả ở những nơi chăn nuôi theo kiểu nhập vào, xuất ra
tất cả Theo Tielen et al (1978) cho biết vấn đề hô hấp rất khó kiểm soát nếu như
200 - 300 con nhốt cùng một chuồng Về lý thuyết, gia súc cùng chung một khoảng không nguy cơ mắc bệnh hô hấp tăng lên đáng kể Tác động tương tự cũng được thấy nếu hạ thấp diện tích sàn cho mối con lợn
2.1.2.6 Sự lưu thông không khí
Trong chuồng nuôi do hoạt động hô hấp hàm lượng CO2 rất cao và O2thường giảm Bên cạnh đó do quá trình bài tiết của gia súc trong chuồng còn xuất hiện một số khí độc như: NH3, H2S, CO, CH4 Đây là những chất khí chỉ thị ô nhiễm môi trường không khí chuồng nuôi Sự tồn tại của các khí trên trong chuồng nuôi do kém thông thoáng sẽ là một nguyên nhân rất lớn gây bệnh đường
hô hấp Đặc biệt vào mùa hè do độ ẩm cao, sự thông gió kém làm cho tình hình càng trở nên trầm trọng
Ở các trại chăn nuôi tập trung: chăn nuôi trâu bò, lợn,… để tránh ô nhiễm không khí hàng loạt và duy trì độ ẩm vừa phải thì việc dùng các tiện nghi thông gió là cần thiết Diện tích cho mỗi gia súc càng thấp thì sự trao đổi không khí càng tăng, tuy nhiên rất khó khăn cho việc bù khí nếu số lượng quá đông Trong điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam hiện tại vấn đề này còn chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức, chuồng trại vẫn còn tạm bợ không đảm bảo tiêu chuẩn nên hàng năm lượng gia súc bị bệnh hô hấp do vấn đề thông khí gây ra rất đáng kể Bình thường khi số lượng nuôi nhốt gấp đôi thì tỷ lệ thông gió phải gấp 10 để duy trì sự sạch sẽ trong không khí
Hệ thống thông gió làm cho không khí trong phòng trộn lẫn với không khí sạch Sự hoà trộn khí góp phần vào việc lan rộng các mắc bệnh hô hấp Theo đó các cấp độ bụi hô hấp tăng lên trong hệ thống lưu chuyển không khí (Hunneman, 1986) cho biết: Bệnh hô hấp có thể được kiểm soát tốt hơn trong nhà dưới áp suất thông gió không khí bị ô nhiễm bị đẩy ra và được thay bằng không khí sạch
Trang 242.1.2.7 Khí hậu
Khí hậu có ảnh hưởng rất rõ nét đến sức sống, phân bố của sức đề kháng của gia súc, đồng thời quyết định sự tồn tại, phát triển của các hệ vi sinh vật cho nên khí hậu cũng là một tác nhân lớn gây bệnh hô hấp cho gia súc, nhất là ở gia
súc non (Curtis et al., 1975) tìm thấy nguy cơ mắc bệnh viêm phổi của lợn sữa ở
các tháng mùa đông cao hơn nhiều so với các tháng mùa hè Theo dữ liệu của các
lò mổ ở Đan Mạch cho thấy: sự phổ biễn tối đa của bệnh viêm màng phổi trong mùa hè cao hơn 25% so với mức độ tối thiểu xảy ra trong mùa đông Sự phổ biến tối đa của viêm đường hô hấp trên xảy ra ở mùa thu cao hơn 75% so với mức độ tối thiểu xảy ra vào mùa xuân
Mức độ trao đổi khí cao thường tạo ra lượng nước cục bộ và gây lạnh cho súc vật, sự rét đột ngột do nước gây ra rẫn đến sự nhiễm trùng hô hấp
Theo Kelley (1980) nước lạnh (nước trong cơ thể) và sự chênh lệch về nhiệt độ giữa cơ thể và môi trường hạn chế khả năng miễn dịch của cơ thể, do đó làm tăng khả năng mắc bệnh Điều này được xác nhận với lợn nhỏ vừa cai sữa khi tiếp súc với nước lạnh phản ứng miễn dịch giảm đáng kể Khi nhiệt độ môi trường lạnh kéo dài làm lợn con đang bú sữa dễ nhiễm với Pasteurela Multocida, giảm hàm lượng Ig trong huyết thanh, giảm hoạt động thực bào của các tế bào có khả năng hoạt động thực bào trong cơ thể
Sự tập trung cao của hàm lượng Amoniac (NH3) trong không khí có thể ảnh hưởng rất rõ nét đến sức khoẻ gia súc, tăng khả năng mắc bệnh hô hấp lên gấp bội Hàm lượng NH3 tập trung từ 50 - 100ppm ảnh hưởng rõ nét đến chức năng chung của cơ thể: gây co thắt phế quản, phế lang, làm hẹp lòng khí quản, phế quản, trúng độc thần kinh trung ương Bình thường trong chuồng nuôi hàm lượng NH3 cho phép khoảng 0,026ml/lít không khí Tuy nhiên những nghiên cứu mới đây cho thấy nguy cơ nhiễm bệnh hô hấp cao nhất với sự tập trung cao nhất khí NH3 trong không khí
Những cuộc điều tra không chứng minh được mối liên hệ quan trọng giữa bụi và đường hô hấp Theo Martin and Willoughby (1972): ở lợn con tỷ lệ không
có P Multocida ở phổi không bị ảnh hưởng bằng sự hút bụi T1O2 trong 2 tuần trước khi xuất hiện vi khuẩn Nhưng nhìn trung các hạt bụi đóng vai trò như một phương tiện truyền bệnh
Trang 252.1.2.8 Yếu tố di truyền
Một số công trình nghiên cứu cho thấy: sự rối loạn hô hấp ở mức độ nhất định cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền Ở những con lợn béo bệu, chức năng thực bào của các tế bào có khả năng thực bào ở phổi mạnh hơn so với những con lợn lựa chọn di truyền gầy, sự khác nhau chủ yếu thấy ở mùa đông và mùa xuân Quan sát trong các đàn thuần chủng giữa Yorshine và Hampshire chứng tỏ mức độ thấp hơn nhiều lần của bệnh hô hấp ở lợn Hampshire so với Yorshine Cuộc thẩm tra tương tự với 45000 lợn mổ bao gồm Hampshire, Landrace, Yorshine lai, Hampshire có nguy cơ mắc bệnh viêm phổi, màng phổi thấp hơn các giống lai khác Tính dễ lây bệnh viêm đường hô hấp trên của lợn Yorshine lớn hơn lợn Hampshire
2.1.2.9 Ký sinh trùng
Giun phổi là loại ký sinh trùng rất hay gặp trong phổi của trâu và bệnh do giun phổi gây lên rất phổ biến ở miền Bắc, miền Trung cho đến miền Nam Không những ở nước ta mà còn ở hầu hết các nước trên thế giới ở những cơ sở chăn nuôi tập trung bệnh giun phổi xảy ra nhiều hơn Đồng thời bệnh giun phổi cũng là một tác nhân không nhỏ gây kế phát bệnh viêm phổi ở trâu, đặc biệt trở
nên trầm trọng khi có sự viêm nhiễm do vi khuẩn Diplostreptococcus pneumonia,
Haemophilus pleuropneumonia Do ký sinh trùng phổi làm tổn thương nhu mô
phổi, tiết chất độc làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện tốt cho sự xâm nhiễm của các vi khuẩn đường hô hấp Nhưng ở bê, nghé do ấu trùng giun đũa trong quá trình di hành lên phổi và làm tổn thương khu mô phổi, từ đó gây viêm phổi kế phát
2.2 CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG CỦA PHỔI
Phổi là cơ quan hô hấp làm nhiệm vụ trao đổi khí từ tổ chức liên kết dưới phế mạc, có những bức ngăn đi vào trong mô và chia nó thành nhiều tiểu thuỳ phổi Mỗi tiểu thuỳ phổi đính vào một tiểu phế quản bằng vách ngăn liên kết chứa các phế quản và mạch máu Mỗi tiểu thuỳ phổi là một khối đa diện tạo nên bởi:
Những phế nang có thành là một biểu mô đơn lát rất dẹt, cách nhau bởi một vách gian phế nang mỏng chứa mao mạch hô hấp, sợi chun hoặc sợi cơ trơn Lớp biểu mô phế nang có hai lớp: lớp biểu mô phế nang và lớp nội bì với vách ngăn của không khí có trong phế nang với máu; giữa các phế nang có dải đàn hồi bằng mô liên kết, do đó phổi có tính đàn hồi Mặt trong thành lồng ngực được lót
Trang 26bởi một lớp biểu mô trơn gọi là màng phổi Áp suất trong xoang màng phổi thấp hơn áp suất không khí ngoài
Những ống dẫn khí: Đoạn đầu bộ phận hô hấp là các tiểu phế quản chính thức, có lớp biểu mô phủ đơn trụ, có hai loại tế bào: Tế bào trụ có lông rung và tế bào hình đài; lớp đệm chứa các sợi liên kết, mạch quản, những sợi thần kinh và tế bào lympho Tiếp theo là các phế quản tận thông với chùm phế nang Tiểu phế quản tận là những ống dẫn khí nhỏ nhất ở trong các tiểu thuỳ phổi; thành ống là biểu mô phủ đơn lát, lót ngoài bởi lớp đệm chứa các sợi chun và ít sợi cơ trơn Mỗi tiểu thuỳ phổi chứa 50-100 phế quản tận (Nguyễn Thị Thanh Thuỳ, 2014) Tiếp theo phế quản tận là ống phế nang, tức là những ống có một dãy túi thể ví với những túi của một tuyến nào đó, các túi ấy gọi là phế nang
Phế nang: các chùm phế nang là những túi đựng không khí thuộc nhu mô phổi, thành ống là biểu mô hô hấp tạo thành bởi lớp tế bào dẹt, bề mặt phủ lớp dịch tác dụng hoà tan không khí Xen giữa hai túi có vách liên kết gian phế nang chứa một lưới mao mạch hô hấp, những sợi cơ trơn, sợi chun, sợi lưới, những đại thực bào Thành của phế nang rất mỏng và ẩm, do đó các phân tử khí dễ dàng đi qua để vào mao mạch Phế nang là nơi trao đổi khí chính ở phổi Lót ở trong lòng phế nang là một biểu mô lót đặc biệt
Tế bào thực bào: trong thành và lòng phế nang còn có những đại thực bào chứa dị vật, bụi bặm từ vách gian phế nang xâm nhập vào (tế bào bụi), có chức năng thực bào và có nguồn gốc từ những bạch cầu đơn nhân lớn
Vách phế nang là vách mỏng nằm giữa hai phế nang Gồm một lưới mao mạch dày đặc Đường kính mao mạch lớn hơn chiều dày vách phế nang, là lối vào lòng phế nang Một ít sợi tạo keo và ít sợi cơ trơn Một số tế bào: tế bào tích
mỡ tiết enzim lipaza, tế bào thực bào (tế bào bụi) là các đại thực bào xâm nhập vào, nhờ tế bào này tăng lên theo tuổi tác và độ mỏng đi của thành các phế nang
* Chức năng của phổi
Phổi có thể coi là một vùng da biệt hoá cao độ ăn sâu vào làm thành, với diện tích bề mặt rất rộng tới các mô bào rồi từ mô bào, hồng cầu lại đưa CO2 về
phổi để tống ra ngoài
Ngoài chức năng hô hấp, biểu mô phổi còn có khả thực bào, nuốt ngoại
vật (bụi, than…), tiêu hoá chất mỡ làm phổi trong sáng
Trang 27Suyễn Mycoplasma Hyopneumonia Viêm phế quản, phổi tụy hoá
Tụ huyết trùng lợn Pasteurrella multocida Nhiễm trùng huyết, viêm phổi
Viêm phổi kính hoá Haemophilus Viêm phổi kính hoá, viêm khớp Viêm teo mũi Bordetella bronchiseptica Viêm teo xoang mũi, viêm phế
quản
Phó thương hàn Salmonella xuất huyết ruột, phổi tụ máu
Phù đầu do E.coli E.coli Mặt và đầu bị phù, viêm phổi, ỉa
chảy Dịch tả lợn Virus DTL Bại huyết, xuất huyết ruột, viêm
phổi
Đóng dấu lợn Erysipellothrix
rhusiopathiea Da tụ máu, viêm phổi
+ APP: Bệnh viêm màng phổi và Phổi + PRRS: Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản
2.3.1 Bệnh tụ huyết trùng lợn (Pasteurellosis suum)
Là một bệnh truyền nhiễm, thường phát sinh rải rác, nhưng cũng có khi thành dịch địa phương Đặc điểm là viêm phổi, màng phổi và viêm màng tim
*Triê ̣u chứng
+ Thể quá cấp tính: lợn sốt thân nhiệt lên đến 410C, thở dốc, mệt nhọc nặng nề hoạt động của tim rối loạn nên có hiện tượng ứ máu, lợn bị tím tái ở
Trang 28vùng bụng, tai, bẹn người ta còn thấy lợn bị phù thũng dưới da vùng hầu, mặt, tai kèm theo hiện tượng viêm họng lợn chết sau 1-2 ngày
+ Thể cấp tính: lợn ho ngày càng nặng, ấn mạnh vùng ngực lợn phản ứng
vì đau, hiện tượng ứ máu phát triển nên xuất hiện nhiều vệt tím đỏ trên da đặc biệt ở vùng hầu niêm mạc bị tím tái, chảy nước mũi có lẫn máu, bao tim tích đầy
nước thường lợn chết sau 3-4 ngày do hiện tượng ngạt thở
+ Thể mạn tính: lợn bệnh tiếp tục ho, các khớp bị sưng, chứng eczema
phát triển lợn bệnh thường gầy hẳn đi, yếu ớt sau 1-2 ngày là chết một số con vỗ béo được, nhưng khi giết thịt người ta phát hiện nhiều ổ viêm trong phổi
và xuất huyết lớp mỡ vành tim
Viêm phổi thuỳ: trên bề mặt của phổi có nhiều đám viêm với nhiều màu sắc và độ to nhỏ khác nhau Có chỗ có màu giống như màu của gan, có chỗ màu giống màu của quả mận chin, có chỗ nổi hẳn lên do thở bù, nên sờ nắn vào vùng phổi bị viêm không còn xốp, dai như bình thường nữa
Nếu dùng dao, kéo dọc khí, phế quản ra thấy trong lòng có nhiều dịch nhớt, bọt màu hồng Trên bề mặt khí, phế quản có những đám, mảng xuất huyết
Các cơ quan, bộ phận khác chủ yếu là tụ máu, chỉ riêng hạch lâm ba khí quản, hạch lâm ba rốn phổi và đám hạch lâm ba khí quản vùng hầu họng viêm, sưng, tụ máu, mọng nước
2.3.2 Bệnh suyễn lợn (Swine Mycoplasmosis) hay bệnh viêm phổi đi ̣a phương
Bệnh suyễn lợn (swine enzootic pneumonia – SEP) còn gọi la bệnh viêm
phổi địa phương, do Mycoplasma hyopneumonia gây nên và đặc điểm là một
chứng viêm phế quản phổi tiến triển chậm
Trong tự nhiên chỉ có loài lợn mắc bệnh, nhất là lợn từ 2-6 tháng tuổi,
Trang 29bệnh lây chủ yếu qua đường hô hấp
Nguyên nhân gây bệnh là một yếu tố không qua lọc Seitz, không bị tác động bởi các loại kháng sinh như penicillin, streptomyxin (Phạm Sĩ Lăng và Trương Văn Dung, 2002)
* Triệu chứng
Thời gian nung bệnh là từ 4-16 ngày lợn thể hiện các thể bệnh:
+Thể cấp tính: lợn mệt mỏi, ăn kém, sốt cao 40-410C; ho từng cơn ngắn, dần dần ho nặng hơn, ho kéo dài hơn, ho khan hoặc kèm theo chảy nước mũi, thở thể bụng Khi đuổi chạy một vòng xung quanh chuồng lợn ốm càng khó thở hơn, ngồ như chó ngồi để thở Lợn bị bệnh ăn ít, chậm lớn Bệnh lây lan nhanh trong đàn gây thiệt hại kinh tế lớn, nhất là đối với lợn hướng nạc và lợn ngoại
+ Thể mạn tính: bệnh kéo dài 3-5 tháng Các dấu hiệu lâm sàng nhẹ hơn :
ho và thở khó vào buổi tối và sáng sớm hoặc khi vận động , nhưng lợn vẫn ăn bình thường, đặc biệt lợn giảm trọng lương rõ rệt, lợn sẽ giảm tăng trọng 16-25%
so với lợn khoẻ (Phạm Sỹ Lăng và cs., 1997)
* Bệnh tích
Điển hình là chứng viêm phế quản phổi có cường độ và diện tích thay đổi ,
có khi phân tán thành nhiều ổ , nhưng thường chụm lại thành từng đám ở phần trước và dưới phổi, bệnh tích thường phân biệt rõ với tổ chức lành xung quanh ở
cả hai phổi; nếu ở 1 phổi thường là phổi phải
Ở lợn đang bú hay mới cai sữa: Bệnh tích chủ yếu là viêm phổi cata Phần phổi bị viêm sưng, cứng màu nâu hay nâu xám, mặt cắt thuần nhất và hơi ướt, cắt phổi thấy một thứ nước đục, dính, đỏ hay xám Phế quản và phế nang chứa tương dịch, trong đó có những tế bào thượng bì đã tróc ra, lymphocyte và bạch cầu đa nhân (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)
2.3.3 Bệnh viêm màng phổi và phổi ở lợn (Swine pleuropneumonia):
Bệnh viêm phổi và màng phổi gây ra bởi vi khuẩn Actinobacilus
pleuropneumonia Bệnh xảy ra phổ biến ở lợn từ 2 – 6 tháng tuổi, khi thời tiết
thay đổi từ ấm áp sang lạnh ẩm, ở các trại chăn nuôi tập trung lợn bị bệnh với tỷ
lệ cao Lợn mắc bệnh thường có triệu chứng viêm phế quản sau đó là viêm phổi
và màng phổi
Trang 30* Triệu chứng
Thời gian nung bệnh tuỳ thuộc vào sự bội nhiễm của các loài vi khuẩn khác nhau, nhưng trung bình từ 3 – 5 ngày Lợn thường viêm phế quản sau đó đến viêm phổi và màng phổi
Lợn mắc bệnh thể cấp tính và thứ cấp tính, lợn mắc bệnh có triệu chứng sốt 41 – 420C Lợn con khi sốt cao có triệu chứng thần kinh: kêu rên, co giật chân Con vật chảy nước mắt, nước mũi liên tục các niêm mạc mắt mũi đỏ sẫm thời kỳ đầu, sau đó có mủ và bọt khí chảy ra ở mũi Lợn thở khó khăn, phải ngồi như chó ngồi, há mõm để thở Lợn con thường thấy hiện tượng da tim đỏ từng mảng do phổi bị tổn thương, không hấp thụ được oxy gây thiếu oxy trong máu Các cơn ho ở lợn tăng dần và ngày một nặng thêm; khi ho có nhiều dịch chảy ra
ở mồm và mũi (Phan Kim Thanh và cs., 2018)
Các trường hợp viêm phổi và màng phổi nặng có thể xảy ra biến chứng sau: Nhiễm trùng huyết: Lợn sốt cao liên tục, bỏ ăn, nằm li bì, da tím đỏ, rồi hôn mê, chết sau 3 – 4 ngày
có dịch màu đỏ xuất tiết trong xoang ngực
2.3.4 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine Respiratory Riproductive Syndrome – PRRS)
Đây là bệnh mới, có đặc trưng là gây sẩy thai ở giai đoạn cuối, chết thai
và thai khô hoặc lợn con sinh ra yếu Hội đồng Châu Âu đặt tên là hội chứng hô hấp và sinh sản của lợn Bệnh do virus Lelystad gây nên
* Triệu chứng
Hội chứng sinh sản: Lợn nái thấy tiêu thai, thai bị phân huỷ từng phần và thai chết lưu, bị khô cứng Có một số lợn nái bị nhiễm virus vẫn sinh sản được; nhưng
Trang 31lợn sơ sinh thường bị chết yểu với tỷ lệ cao Lợn con nếu không chết yểu thì sau dó cũng bị viêm đường hô hấp, gầy yếu, chậm lớn, gây thiệt hại về kinh tế
Cùng với hội chứng rối loạn sinh sản, lợn biểu hiện triệu chứng viêm nhiễm đường hô hấp: thở khó, thở nhanh, thở thể bụng, ho và chạy dịch từ mũi liên tục Viêm đường hô hấp ngày một tăng dần, xuất hiện nhiều và rõ rệt ở đàn lợn con theo mẹ, lợn sau cai sữa mà mẹ chúng bị mắc bệnh
Lợn bệnh còn thể hiện: tai, bụng hoặc âm hộ có màu xanh rát đặc trưng
Do vậy, người ta gọi là “bệnh tai xanh” (Bùi Quang Anh và cs., 2008)
Ở Hà Lan người ta kiểm tra lâm sàng ở lợn bệnh thấy: 50% lợn biếng
ăn, 10% bị sốt, 5% tím tái và 30% bị trở ngại hô hấp Ở lợn sau cai sữa, tỉ lệ mắc bệnh ở một số cơ sở chăn nuôi lợn giống có thể lên tới 30% và tỉ lệ chết 4,5-10% (Hồ Văn Nam, 1982)
* Bệnh tích
Các nhánh khí quản lợn bệnh có tụ huyết, chứa nhiều dịch và bọt khí Các phế nang cũng chứa nhiều dịch có tụ huyết và có những điểm hoại tử nhỏ Hạch lâm ba phổi sưng thũng, cắt ngang thấy: xung huyết và xuất huyết Nếu có nhiễm liên cầu và tụ cầu thì trong phế quản và phế nang có chứa dịch mủ
Niêm mạc tử cung và âm đạo lợn cái bị viêm có tụ huyết, chứa nhiều dịch nhày Tổ chức dịch hoàn, túi chứa tinh của lợn đực cũng bị viêm, tụ huyết
2.3.5 Bệnh viêm teo mũi truyền nhiễm ở lợn (Atrophic rhinitis)
Là một bệnh truyền nhiễm của loài lợn, thể hiện bằng chứng viêm mũi kèm theo teo xoang (xương) mũi một bên hoặc hai bên, làm cho mũi biến dạng (Giles, 1986) Do vậy, người ta gọi là bệnh “Viêm teo mũi” Ở nước ta, bệnh được phát hiện từ 1974 tại một số cơ sở chăn nuôi lợn ngoại
Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Bordetella bronchiseptica, vi khuẩn xác
định lần đầu năm 1956 (Switzer) Bệnh sẽ nặng hơn nếu cùng lúc lợn bị nhiễm thêm các loại vi khuẩn như vi khuẩn tụ huyết trùng, liên cầu trùng…
Trang 32vàng xám thoái hoá, sùi teo lại, không phát triển được và hàm dưới chìa ra, dài hơn hàm trên do mũi teo và thoái hoá (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)
Biến chứng thường thấy viêm từ mũi lan toả vào phế quản, tạo ra thể viêm phế quản phổi ở lợn con 1–3 tuần tuổi, có sự bội nhiễm của các vi khuẩn liên cầu
và tụ cầu Nếu không được điều trị kịp thời, lợn bệnh sẽ chết sau một tuần lễ
* Bệnh tích
Mổ khám lợn bệnh, thấy niêm mạc mũi và xương sụn xoang mũi bị viêm
có phủ bựa vàng xám, đặc biệt xương sụn mũi thoái hoá, biến dạng, teo lại và
hàm dưới nhô ra, dài hơn mũi và hàm trên
Nếu lợn bệnh bị viêm phế quản phổi, sẽ thấy các nhánh phế quản và phế nang tụ huyết, có dịch mủ
2.3.6 Bệnh cúm lợn
Là một bệnh truyền nhiễm đường hô hấp gây ra do một virus kết hợp vi
khuẩn Hemophilus suis (Shope, 1931) Virus có trong phổi, hạch phổi và các chất
bài tiết từ phổi Ở lợn ốm và lợn khỏi bệnh bên ngoài (vật mang virus) Điều này giải thích sự truyền bệnh từ thế hệ này sang thế hệ khác (Betts and Campbell, 1956)
Lợn khỏi bệnh cúm có thể sản sinh kháng thể trung hoà virus cúm (Shope, 1931), (Lewis and Shope, 1931), (Shope, 1931), cho nên có thể làm phản ứng trung hoà trên cơ thể chuột bạch để gây bệnh
Ở Việt Nam bệnh thường xảy ra về mùa đông ở lợn con dưới 2 tháng nhưng nhìn chung bệnh chưa được nghiên cứu kỹ
Bệnh xảy ra về mùa đông thì tỷ lệ chết cao hơn ( 60 – 80%) còn về mùa
hè (10%) trong điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc kém (Phạm Sĩ Lăng và Phan Địch Lân, 1995)
* Bệnh tích
Trang 33Bệnh tích thường thấy là viêm phế quản - phổi hoặc viêm rải rác các thuỳ hoặc tập chung ở một khối thuỳ Bệnh tích mới (ở lợn con bú mẹ hoặc lợn con cai sữa) là bệnh tích viêm phổi cata vùng viêm sưng, cứng, tổ chức chắc, màu nâu hoặc xám, mặt cắt ướt Cắt phế quản, tiểu phế quản và bóp thấy chảy ra một chất dịch đục, dính, màu đỏ hoặc xám, phế quản và mạch quản có thấm tế bào như lâm ba cầu, bạch cầu đa nhân
Bệnh tích cũ gồm những tổ chức casein (bã đậu) hoặc mủ, có khi có hang
do tác động của tạp khuẩn kế phát với những biến chứng: Viêm màng phổi, viêm ngoại tâm mạc…
2.3.7 Bệnh viêm đường hô hấp do Heamophilus
Bệnh viêm đương hô hấp do Heamophilus hay bệnh viêm phổi thể kính ở
lợn được Glasser đầu tiên vào năm 1910 ở Thụy Điển Bệnh do một loại vi khuẩn Gram âm sống cộng sinh hoặc hoại sinh ở màng nhầy của người và động vật
Phần lớn ở màng nhầy đường hô hâp trên và đường sinh dục
* Triệu chứng lâm sàng
Bệnh thường ở thể cấp tính, lợn sốt cao 40.50C–420 Con vật ủ rũ, mệt mỏi, kém ăn, các vùng da mỏng tím tái, vùng mắt và tai phù nề, các khớp sưng đau, rõ nhất là khớp chân, viêm khớp thường kèm theo nhiễm trùng huyết làm cho vật sốt cao, viêm phổi, gây khó thở, ngồi như chó ngồi để thở
* Bệnh tích
Bệnh viêm đường hô hấp do Haemophilus thường gây ra thể viêm fibrin ở
màng phổi, phúc mạc, bao tim; phổi viêm thể kính, các khớp viêm có fibrin
Trang 34PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Nghıên cứu được tıến hành từ 9/2018 đến 04/2019
3.2 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng thí nghiệm bộ môn Bệnh lý khoa Thú Y, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
- Một số cơ sở chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Lợn siêu nạc các lứa tuổi, gồm các giống lợn: Landrace, Yorshire mắc nhóm bệnh phổi tại Văn Giang_ Hưng Yên
3.4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh phổi ở lợn siêu nạc
- Tổng hợp và so sánh đặc điểm bệnh lý chủ yếu nhóm bệnh phổi ở lợn siêu nạc
- Khảo sát một số chỉ tiêu huyết học của lợn siêu nạc mắc bệnh phổi
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu
3.4.2.1 Phương pháp xác định tỷ lệ lợn mắc bệnh phổi
Xác định lợn mắc bệnh phổi dựa vào triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đặc trưng Tiến hành theo dõi thường xuyên, quan sát từng ô chuồng, kiểm tra từng
cá thể để xem lợn mắc bệnh phổi hay có các bệnh khác không
- Dựa vào các đặc điểm sau để nhận biết được lợn mắc bệnh phổi: Con vật ủ rũ, mệt mỏi, kém ăn, da xanh, khịt mũi thở khò khè, khó thở, hắt hơi,
Trang 35Xác lợn chết được mổ khám theo tiêu chuẩn trong TCVN 8402: 2010 (Bộ khoa học & Công nghệ, 2010)
Mổ khám nhằm xác định được các biến đổi đại thể của các cơ quan, tổ chức của lợn mắc nhóm bệnh phổi, cần tiến hành mổ khám những lợn có biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh Lợn bệnh cố định cẩn thận, tiến hành lấy máu từ vịnh tĩnh mạch cổ Lột da và bộc lộ xoang ngực, xoang bụng, tách các cơ quan nội tạng khỏi cơ thể để quan sát và chụp ảnh Tiến hành thu mẫu các cơ quan như: phổi, tim, gan, lách, thận, ruột, hạch theo các mục đích nghiên cứu khác nhau Một số mẫu bảo quản ngâm trong formol 10% (thời gian ngâm ít nhất
1 tuần) để làm tiêu bản vi thể (Cao Xuân Ngọc, 1997)
Phương pháp lấy bệnh phẩm
Dùng kéo cắt lấy một số bộ phạn mang bệnh tích đặc trưng ở cơ quan lợn mắc nhóm bệnh phổi như mẫu phổi, gan, ruột… (khoảng 3cm) rồi cho vào lọ chứa formol 10%
3.4.2.3 Phương pháp làm và nhuộm tiêu bản vi thể
Từ những mẫu bệnh phẩm có các biến đổi đại thể được lấy mẫu ngâm trong dung dịch formol 10% để làm tiêu bản để xác định bệnh tích vi thể chủ yếu của bệnh
Tiêu bản vi thể được làm theo phương pháp của Prophet, E.B, 1992 bao gồm các bước: (1) Lấy mẫu; (2) khử nước, làm trong; (3) tẩm parafin; (4) đúc block; (5) cắt dán mảnh; (6) nhuộm Hematoxilin và Eosin; (7) gắn lamen, dán nhãn và đọc kết quả bằng kính hiển vi (Prophet and Pathology, 1992)
* Phương pháp làm tiêu bản bệnh lý
Từ những mẫu bệnh phẩm có các biến đổi đại thể được lấy mẫu ngâm trong formol 10% để làm tiêu bản vi thể Cần tiến hành làm tiêu bản để xác định bệnh tích vi thể chủ yếu của bệnh Phương pháp làm tiêu bản vi thể theo quy trình tẩm đúc bằng paraffin, nhuộm Haematoxilin – Eosin (HE)
Mỗi lợn bệnh tiến hành lấy mẫu ở mỗi cơ quan hai miếng bệnh phẩm rồi đúc thành hai block Mỗi block chúng tôi tiến hành cắt, nhuộm tiêu bản rồi chọn
ra tiêu bản đẹp, sau đó tiến hành soi dưới kính hiển vi để đọc kết quả bệnh tích vi thể Nếu block nào có hai tiêu bản có bệnh tích trở nên thì coi là dương tính
Các bước của quá trình làm tiêu bản vi thể như sau:
Trang 36Chuẩn bị dụng cụ và hóa chất: lọ formol 10%, dao kéo, pank kẹp, cốc đựng hóa chất, phiến kính, máy đúc block, khuôn đúc, tủ ấm 37o
C, máy cắt mảnh microtom, nước ấm 48 – 52oC, xylem, paraffin, thuốc nhuộm hematoxylin, eosin…
Lấy bệnh phẩm: bệnh phẩm là dạ dày, ruột, tim, gan, thận, lách…
Cố định bệnh phẩm
Ngâm miếng tổ chức vào dung dịch formol 10% (Chú ý thể tích formol phải gấp 10 lần bệnh phẩm và bệnh phẩm phải ngập trong formol)
Vùi bệnh phẩm
Tiến hành lần lượt các bước sau:
Rửa formol: Lấy tổ chức ra khỏi bình formol 10%, cắt thành từng miếng
có chiều dài, rộng khoảng 4-5mm Sau đó rửa dưới vòi nước chảy nhẹ trọng 24h
Khử nước: cho qua hệ thống gồm 3 lọ cồn
Paraffin III: 12h trong tủ ấm 56oC
Mục đích: khử hết xylen trong tổ chức Trong tổ chức chỉ còn paraffin thấm trong các kẽ mô bào Nếu nhiệt độ trên 56oC tổ chức sẽ giòn, dễ vỡ và khó cắt
Trang 37Đúc block: Mục đích: đưa mẫu bệnh phẩm vào trong khối paraffin tạo thành một thể thống nhất
Chuẩn bị: máy đúc block, paraffin
Phương pháp tiến hành: đặt miếng bệnh phẩm nằm ngang vào chính giữa khuôn block, đổ nhanh paraffin lỏng vào khuôn block Đặt khuôn đã đúc sang bàn lạnh của máy đúc khuôn block Để nguội đến khi block đông cứng đặc chắc là được
Cắt dán mảnh và cố định tiêu bản
Chuẩn bị: máy cắt, dao cắt, nước ấm 48 – 52oC, phiến kính, pank kẹp… Cắt mảnh: bằng máy cắt microtom, với độ dài 3 – 5 µm, sao cho mảnh cắt không rách, nát ở phần tổ chức
Tãi mảnh: Dùng pank kẹp mảnh cắt đặt vào nước lạnh, dàn nhẹ sao cho mặt dưới của mảnh cắt ướt đều, lấy phiến kính hớt mảnh cắt cho sang nước ấm
48 - 52 oC rồi vớt mảnh cắt sao cho vị trí mảnh cắt ở 1/3 phiến kính Sau đó để ở
tủ ấm 37o
C trong vòng 24h
Nhuộm tiêu bản: Các bước tiến hành:
Khử paraffin: Cho tiêu bản qua hệ thống xylen gồm 3 lọ:
Khử cồn: cho dưới vòi nước chảy 10 phút
Nhuộm Haematoxylin (nhuộm nhân)
Nhỏ haematoxylin ngập tiêu bản trong 5 phút, rửa nước, lau sạch quanh tiêu bản, kiểm tra màu sắc thấy tiêu bản xanh tím là được
Sau đó cho tiêu bản rửa nước 5 phút loại bỏ hết haematoxylin thừa:
Nhuộm Eosin (nhuộm bào tương): Nhỏ eosin ngập tiêu bản khoảng 5 –
Trang 3810 phút, rửa nước chảy cho hết eosin thừa
Tẩy nước: Cho tiêu bản qua 3 lọ cồn 100o
mỗi lọ 1 phút
Tẩy cồn làm trong tiêu bản:
Cho tiêu bản đi qua 3 lọ xylen, mỗi lọ 3 – 5 phút
Gắn Baume canada: Nhỏ một giọt Baume Canada lên lamen rồi gắn nhanh lên tiêu bản khi vẫn còn xylen trên tiêu bản
Kiểm tra tiêu bản trên kính hiển vi quang học vật kính 10 Nếu thấy màu xanh tím, bào tương bắt màu đỏ tươi, tiêu bản trong sáng Không có nước, không
có bọt khí
3.4.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu được được xử lý bằng phần mềm microsoft excel 2010 và phần mềm thống kê EpiTools Epidemiological Calculators (Ausvet, Australia) Sau khi thu thập số liệu, tổng kết sơ bộ được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học với các tham số và công thức sau
n
i i x
- Sai số của số trung bình:
mx =
X : số trung bình Trong đó:
xi: số hạng thứ i
n: dung lượng mẫu
Trang 39PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TỶ LỆ MẮC BỆNH PHỔI CỦA LỢN TẠI 4 TRANG TRẠI
Qua quá trình nghiên cứu và từ thực tiễn phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn siêu nạc theo hướng công nghiệp nói riêng Chúng tôi thấy sự phát triển về quy mô đàn lợn, mật độ nuôi, số lần luân chuyển đàn, phương thức chăn nuôi cùng với thay đổi đột ngột của khí hậu nhiệt đới gió mùa làm cho tỷ lệ mắc bệnh phổi trong chăn nuôi là rất cao, làm ảnh hưởng đến sức sản xuất và hiệu quả kinh tế Để làm rõ tỷ lệ mắc bệnh phổi trong chăn nuôi lợn với quy mô trang trại tập trung theo mô hình công nghiệp, chúng tôi nghiên cứu 4 trang trại chăn nuôi
có quy mô đàn và phương thức chăn nuôi khác nhau
Trại ông Hinh có quy mô 180 nái sinh sản, 9 đực giống, tổng đàn 2160 con chăn nuôi theo mô hình chuồng bán kín Trại ông Kiên có quy mô 250 nái sinh sản, 12 đực giống, tổng đàn 3000 con chăn nuôi theo mô hình chuồng kín Trại ông Dũng có quy mô 130 nái sinh sản, 8 đực giống, tổng đàn 1560 con chăn nuôi theo mô hình chuồng hở Trại ông Quyền có quy mô 350 nái sinh sản, 12 đực giống, tổng đàn 3250 con chăn nuôi theo mô hình chuồng kín
Để đánh giá mức độ mắc bệnh phổi ở các lứa tuổi khác nhau chúng tôi tiến hành chia theo nhóm và tiến hành theo dõi lợn nái sinh sản, lợn đực, lợn con theo mẹ (0 - 3 tuần), lợn sau cai sữa (4 - 9 tuần), lợn choai (10 - 14 tuần), lợn vỗ béo (15 - 19 tuần), từ tháng 9/2018 đến tháng 4/2019, kết quả chúng tôi trình bày các bảng từ bảng 4.1 đến bảng 4.4
Trang 40Bảng 4.1 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc nhóm bệnh phổi tại trại chăn nuôi lợn siêu nạc Ông Hinh