BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ---NGUYỄN THỊ SƠN NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG DƯỢC LÝ LÂM SÀNG CỦA TRÀ HẠ MỠ NGƯU TẤT TRÊN BỆNH NHÂN RỐI LOẠN LIPID MÁU LUẬN Á
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN THỊ SƠN
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG DƯỢC LÝ LÂM SÀNG
CỦA TRÀ HẠ MỠ NGƯU TẤT TRÊN BỆNH NHÂN RỐI LOẠN LIPID MÁU
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2011
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN THỊ SƠN
NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG DƯỢC LÝ LÂM SÀNG
CỦA TRÀ HẠ MỠ NGƯU TẤT TRÊN BỆNH NHÂN RỐI LOẠN LIPID MÁU
CHUYÊN NGÀNH: Y HỌC CỔ TRUYỀN MÃ SỐ: 62.72.60.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS.Nguyễn Thị Bay
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2011
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả Luận án
Nguyễn Thị Sơn
Trang 4
MỤC LỤC
TrangTrang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
1.1 Rối loạn lipid máu theo Y học hiện đại 4 – 121.2 Quan điểm Y học cổ truyền về rối loạn lipid máu 12 – 161.3 Các công trình nghiên cứu trong nước 16 – 20
Chương 2: ĐỐI TỰƠNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm bệnh nhân tham gia nghiên cứu 44 – 50
4.1 Bàn luận sự đồng nhất về đặc điểm của bệnh nhân tham gia
4.2 Bàn luận về tác dụng của trà Hạ mỡ ngưu tất 75 – 824.3 Bàn luận về tác dụng của trà Hạ mỡ ngưu tất so với trà Ngưu tất 82 - 91
4.5 So sánh với những công trình có liên quan trong nước 94 – 99
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
IDL-c Intermediate Density lipoprotein cholesterolLDL-c
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 7Bảng 3.24 So sánh tỉ lệ bệnh nhân giảm lượng LDL-c ≥ 15% sau điều trị theo phân nhóm
có bệnh tăng huyết áp đi kèm 58Bảng 3.25 So sánh tác dụng trên trị số cholesterol theo phân nhóm rối loạn lipid máu 59Bảng 3.26 So sánh tác dụng của trà Hạ mỡ ngưu tất trên trị số LDL-c theo phân nhóm rối
Bảng 3.27 So sánh tỉ lệ bệnh nhân giảm lượng cholesterol ≥ 15% sau điều trị của trà Hạ
mỡ ngưu tất giữa 2 phân nhóm rối loạn lipid máu 61Bảng 3.28 So sánh tỉ lệ bệnh nhân giảm lượng LDL-c ≥ 15% sau điều trị của trà Hạ mỡ
ngưu tất giữa 2 phân nhóm rối loạn lipid máu 61Bảng 3.29 So sánh tỉ lệ bệnh nhân giảm lượng cholesterol ≥ 15% sau điều trị của trà Hạ
mỡ ngưu tất giữa các phân nhóm theo bệnh lý Y học cổ truyền 62Bảng 3.30 So sánh tỉ lệ bệnh nhân giảm lượng LDL-c ≥ 15% sau điều trị của trà Hạ mỡ
ngưu tất giữa các phân nhóm theo bệnh lý Y học cổ truyền 63Bảng 3.31 Phân tích tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị đối
với trị số cholesterol 64Bảng 3.32 Phân tích tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị đối
với trị số LDL-c 65Bảng 3.33 So sánh ảnh hưởng trên trị số creatinin máu giữa 2 nhóm 66Bảng 3.34 So sánh ảnh hưởng trên trị số BUN giữa 2 nhóm 66Bảng 3.35 So sánh ảnh hưởng trên trị số sGOT giữa 2 nhóm 67Bảng 3.36 So sánh ảnh hưởng trên trị số sGPT giữa 2 nhóm 68Bảng 3.37 So sánh ảnh hưởng đối với cân nặng giữa 2 nhóm 68Bảng 4.1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong 2 nhóm 70Bảng 4.2 Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân trong 2 nhóm 73Bảng 4.3 So sánh tác dụng của 2 loại trà trên trị số cholesterol 83Bảng 4.4 So sánh tác dụng trên trị số LDL-c 85
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Trang
Sơ đồ1.1 Tóm tắt các yếu tố tham gia trong quá trình xơ vữa động mạch 6
Sơ đồ 1.2 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của đàm theo Y học cổ truyền 13
Sơ đồ 1.3 Tóm tắt tác dụng dược lý của trà Hạ mỡ ngưu tất theo lý thuyết Y
Sơ đồ 1.4 Tóm tắt tác dụng của trà Hạ mỡ ngưu tất theo lý luận Y học cổ
Trang 9
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh lý tim mạch đặc biệt là bệnh mạch vành đã trở thành nguyênnhân gây tử vong cao ở người lớn tuổi trong những xã hội phát triển Cácbất thường về lipid máu chính là vấn đề quan trọng đối với các bác sĩ lâmsàng do mối liên hệ của chúng với bệnh lý xơ vữa động mạch Nhiềunghiên cứu đã chứng minh mối liên quan chặt chẽ giữa nồng độ cáclipoprotein gây xơ vữa động mạch và tần xuất mắc bệnh mạch vành, cũngnhư tỉ lệ tử vong của bệnh lý tim mạch [41],[42],[77] Trong bệnh lý xơ vữađộng mạch, rối loạn lipid máu được xem là một trong các yếu tố nguy cơchính tham gia vào quá trình hình thành và phát triển của bệnh [56], [57],[85] Sang thương xơ vữa động mạch được chứng minh xuất hiện rất sớmtrong đời sống con người và đặc biệt là đối với những người có rối loạn lipidmáu [38]
Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy giảm mức cholesterol cao trongmáu sẽ làm giảm tỉ lệ bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch [41], [41], [52],[73], [134] Đối với bệnh nhân có bệnh tim mạch, giảm nồng độ cholesterolmáu là mục tiêu phòng ngừa nhằm hạ thấp tỉ lệ tử vong ở người trung niênvà người cao tuổi [52], [78], [94], [98], [101] Đây chính là động lực cho sựphát triển các loại thuốc mới nhằm làm giảm nồng độ cholesterol tronghuyết thanh
Như vậy, rối loạn lipid máu đặc biệt là tăng cholesterol máu đang làyếu tố nguy cơ hàng đầu làm gia tăng tỉ lệ mắc bệnh cũng như tỉ lệ tử vongcủa bệnh tim mạch Hiện nay, lipoprotein tỉ trọng thấp mang cholesterol(LDL-c) được xem là mục tiêu đầu tiên trong điều trị rối loạn lipid máu
Trang 10
[19], [42], [77] Giảm LDL-c được quan tâm trong điều trị rối loạn lipidmáu nhằm là giảm nguy cơ xơ vữa động mạch và làm giảm tỉ lệ mắc bệnhcũng như giảm tỉ lệ tử vong của bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch
Với tầm quan trọng và mức độ nguy hiểm của sự gia tăng nồng độLDL-c, nhiều biện pháp được đề ra nhằm hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng cónhiều lựa chọn hơn trong điều trị Ngày nay đã có nhiều công trình nghiêncứu về dược liệu mới nhằm góp phần đạt được mục tiêu này
Trên thế giới ngày càng có nhiều nghiên cứu mới về thuốc tân dược đãchứng minh hiệu quả tốt trong điều trị cũng như phòng ngừa các biến chứngcủa rối loạn lipid máu [39],[97],[105] Nhằm góp phần vào chương trìnhnày, từ lâu đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng về dược thảocũng đã chứng minh có tác dụng trong điều trị rối loạn lipid máu [10], [37],[48], [60], [63], [71], [99], [107], [113], [123], [136]
Từ những năm cuối của thập niên 70, tại Việt Nam một số loại dượcthảo đã được chứng minh đem lại kết quả khả quan trong điều chỉnh rốiloạn lipid máu [9],[15],[24] Trong đó Ngưu tất là một loại dược liệu đượcchứng minh có tác dụng điều trị rối loạn lipid máu cả trên thực nghiệm vàlâm sàng [21], [23], [27], [28], [29] Dựa vào kinh nghiệm sử dụng tại Bệnhviện Thực hành Y học cổ truyền từ năm 1994 (nay là Cơ sở 3 Bệnh việnĐại học Y Dược TP.HCM) có bào chế Ngưu tất thành dạng trà tẩm dùngđiều trị bệnh nhân rối loạn lipid máu, kết quả ghi nhận có tác dụng làmgiảm lượng cholesterol toàn phần Sau đó phối hợp 4 loại dược liệu trongđó Ngưu tất được xem là dược liệu chủ yếu, bào chế thành dạng trà tẩm
Trang 11
đã được nghiên cứu chứng minh tính an toàn trên thực nghiệm và lâm sàng,chứng minh có tác dụng hạ cholesterol và LDL-c sau 8 tuần sử dụng [1] Đểxác định tác dụng của trà Hạ mỡ ngưu tất trên bệnh nhân rối loạn lipidmáu, mà chủ yếu là tăng LDL-c nhằm góp phần dự phòng tiên phát tìnhtrạng xơ mỡ động mạch, hoặc đề phòng thứ phát sự phát triển mảng xơ vữagây biến chứng tim mạch Đề tài được tiến hành nghiên cứu tác dụng củatrà Hạ mỡ ngưu tất trên bệnh nhân rối loạn lipid máu nhằm trả lời câu hỏi:
“Tác dụng của trà Hạ mỡ ngưu tất có tốt hơn trà Ngưu tất không?”
Giả thuyết nghiên cứu được đặt ra nhằm xác định tác dụng của trà Hạmỡ ngưu tất cao gấp 2 lần so với tác dụng của trà Ngưu tất Để chứng minhgiả thiết trên, đề tài sẽ phải đạt được các mục tiêu sau:
4 So sánh tác dụng điều trị của trà Hạ mỡ ngưu tất với trà Ngưu tất
5 Xác định tác dụng khác của trà Hạ mỡ ngưu tất trong quá trình 2tháng điều trị
Đóng góp mới trong công trình nghiên cứu: chứng minh được hiệu quả củasự phối hợp dược liệu trong điều chỉnh rối loạn lipid máu nhằm góp phầntrong điều trị, đào tạo và giảng dạy kết hợp Y học hiện đại và Y học cổ truyền
Trang 12
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 RỐI LOẠN LIPID MÁU THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
1.1.1 Khái niệm về rối loạn lipid máu
Rối loạn lipid máu là tên gọi của bệnh lý có sự thay đổi bất thường(tăng hoặc giảm quá mức) về nồng độ của các thành phần lipid hoặclipoprotein trong máu theo chiều hướng không có lợi cho hoạt động của cơthể Trên phương diện lâm sàng, rối loạn lipid máu chủ yếu liên quan đếnsự thay đổi của các thành phần lipid trong huyết tương như: tăngcholesterol, tăng LDL-c, tăng triglycerid và giảm HDL-c Đây là những trịsố có liên quan đến những biến chứng thường gặp của rối loạn lipid máunhư xơ vữa động mạch Tuy nhiên biểu hiện lâm sàng của rối loạn lipidmáu không rõ trong giai đoạn chưa có biến chứng và chẩn đoán chủ yếudựa trên những bất thường về kết quả trị số lipid máu khi xét nghiệm [8],[20],[59],[93],[96]
1.1.2 Quá trình diễn biến của rối loạn lipid máu
Sự gia tăng nồng độ lipid huyết tương dẫn đến sự lắng đọng lipid trongthành mạch là yếu tố nguy cơ chính của bệnh lý xơ vữa động mạch Đây làmột bệnh lý làm hạn chế dòng máu đến các cơ quan do sự thay đổi cấu trúccủa thành mạch máu Rối loạn lipid máu đều có cùng một quá trình diễnbiến như nhau cho dù đó là do nguyên nhân nguyên phát hay thứ phát [8],[20],[59],[93],[96]
Việc hình thành sang thương xơ vữa động mạch là một quá trình diễnbiến kéo dài nhiều thập niên Quá trình này bắt nguồn từ những vệt mỡ
Trang 13
Mảng xơ vữa biến chứng là dạng tiến triển xa hơn của sang thương xơvữa, mảng này có thể chiếm lòng động mạch làm cho thành mạch bị yếu đi,hạn chế dòng máu chảy qua và cuối cùng có thể gây huyết khối làm tắcnghẽn động mạch Xơ vữa động mạch làm giảm lượng máu và oxy cungcấp cho mô và cơ quan trong cơ thể gây nên tình trạng thiếu máu hoặc nhồimáu Tùy theo vị trí động mạch bị ảnh hưởng sẽ có các biểu hiện lâm sàngkhác nhau như: thiếu máu cơ tim hoặc nhồi máu cơ tim cấp khi tổn thươngxảy ra ở động mạch vành tim, biểu hiện đột quy với tổn thương làm hạn chếlượng máu đến não, cơn đau cách hồi là biểu hiện của giảm lượng máu đếnđộng mạch chi Đây chính là nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ tử vong trênbệnh nhân có rối loạn lipid máu [8],[20],[59],[93],[96].
1.1.3 Vai trò của lipid máu và xơ vữa động mạch
Hiện nay có 2 giả thuyết chính được đặt ra để giải thích bệnh sinh củaquá trình xơ vữa động mạch: giả thuyết về lipid máu và giả thuyết về tổnthương nội mạc mạn tính [53],[59],[93],[96] Giả thuyết về lipid máu đãchứng minh vai trò của rối loạn lipid máu trong sinh bệnh xơ vữa độngmạch trên cơ sở:
Trang 14
-Nguyên nhân gây rối loạn lipid máu nguyên phát hoặc thứ phát đều gây ra
xơ vữa động mạch sớm và trầm trọng [8],[20],[53],[59],[93],[96]
- Nghiên cứu dịch tễ cho thấy sự liên quan giữa mức độ trầm trọng của xơvữa động mạch và nồng độ cholesterol hoặc LDL-c trong huyết tương[53],[59], [93],[96]
- Giảm nồng độ cholesterol huyết tương bằng tiết chế hoặc bằng thuốc đềulàm giảm tiến triển của xơ vữa động mạch và làm giảm nguy cơ bệnh lý timmạch
RLLM: rối loạn lipid máu
Sơ đồ1.1 Tóm tắt các yếu tố tham gia trong quá trình xơ vữa động mạch
RLLM Vệt mỡ Mảng xơ
XVĐM
Viêm
Miễn dịch
Kết dính tiểu cầu
Tăng sinh tế bào
Oxit hóa
Thiếu máu nuôi dưỡng mô và cơ quan
Trang 15
1.1.4 Các yếu tố cần xác định trước khi tiến hành điều trị
Rối loạn lipid máu là một bệnh lý cần điều trị liên tục lâu dài và việcđiều trị dựa trên cơ sở các giả thuyết về sự bất thường của nồng độ cácthành phần lipid hoặc lipoprotein máu có ảnh hưởng đến tỉ lệ mắc bệnh và
tỉ lệ tử vong của các bệnh lý tim mạch [37],[93],[96] Điều chỉnh rối loạnlipid máu bao gồm nhiều phương pháp và tuỳ theo mức độ rối loạn lipidmáu cũng như tình trạng của từng đối tượng mà thầy thuốc sẽ quyết địnhchọn lựa phương pháp điều trị thích hợp Các yếu tố cần chú ý bao gồm:
*Mức độ của các trị số lipid máu.
Để giúp cho quyết định chọn lựa điều trị cần phải xét nghiệm đủ cácthành phần của lipid máu (cholesterol, LDL-c, HDL-c, triglycerid) trongđiều kiện sau 10-12 giờ nhịn đói Kết quả xét nghiệm sẽ được đánh giátheo các tiêu chuẩn sau: [8],[19],[20],[37],[93],[96]
Bảng 1.1 Các mức độ rối loạn lipid máu theo ATP III
LDL-c (mg/dL)
Cholesterol (mg/dL)
HDL-c (mg/dL) Triglycerid (mg/dL)
Tối ưu: <100 Bình thường:<200 Thấp:<40 Bình thường: <150 Gần tối ưu: 100-129 Cao giới hạn:200-239 Cao: ≥ 60 Cao giới hạn:150-199
Cao giới
Trang 16*Phân loại rối loạn lipid máu
Rối loạn lipid máu cho đến nay đã có nhiều cách phân loại khác nhau,mỗi phân loại đều có đặc điểm riêng, có phân loại dựa trên sự mô tả tìnhtrạng rối loạn lipid máu, có phân loại hướng vào mục tiêu điều trị lâm sàng.Hiện nay, trong thực hành lâm sàng cũng như trong khuyến cáo của cácnước, rối loạn lipid máu được xem xét từng thành phần và tập trung vàoLDL-c, triglycerid, HDL-c Do vậy, phân loại của EAS (EuropeanAtherosclerosis Society) về rối loạn lipid máu là phân loại đơn giản hơn vàdễ áp dụng hơn [8],[19],[20],[37],[93],[96]
Theo phân loại của EAS (European Atherosclerosis Society) bao gồm:(1) Tăng cholesterol đơn thuần: tăng cholesterol và tăng LDL-c.(2) Tăng triglycerid
(3) Tăng cholesterol kết hợp với triglycerid: tăng cholesterol, tăngLDL-c và tăng triglycerid
*Các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm
Yếu tố nguy cơ tim mạch là một trong những yếu tố quyết định lựachọn phương pháp cụ thể trong điều trị rối loạn lipid máu, do vậy phải đánhgiá tình trạng riêng của từng bệnh nhân [19],[20],[37],[93],[96] Những yếutố cần xác định bao gồm:
- Tiền sử bệnh nhân đã có bệnh mạch vành hay chưa
- Bệnh nhân có những yếu tố nguy cơ tương đương với bệnh mạchvành như: đái tháo đường, bệnh xơ vữa động mạch ngoại biên, phìnhđộng mạch chủ bụng, bệnh động mạch cảnh có triệu chứng
Trang 17
- Tiền sử gia đình có người bị bệnh mạch vành sớm (nam dưới 55 tuổi,nữ dưới 65 tuổi).
- Tuổi (nam lớn hơn hoặc bằng 45 tuổi, nữ lớn hơn hoặc bằng 55 tuổi)
1.1.5 Điều trị rối loạn lipid máu
Mục tiêu của điều trị rối loạn lipid máu
Mục tiêu của điều trị rối loạn lipid máu bao gồm phòng ngừa tiên phátvà phòng ngừa thứ phát Phòng ngừa tiên phát với mục tiêu làm giảm tỉ lệphát triển bệnh mạch vành trên bệnh nhân rối loạn lipid máu Phòng ngừathứ phát nhằm làm giảm tỉ lệ tái phát bệnh mạch vành trên bệnh nhân cóbệnh lý tim mạch Hiện nay, LDL-c được xem là mục tiêu chính trong điềutrị rối loạn lipid máu, nếu có rối loạn khác đi kèm thì cũng điều chỉnh LDL-ctrước rồi mới điều chỉnh các rối loạn khác [8],[19],[20],[37],[51],[93],[96]
Các phương pháp điều chỉnh rối loạn lipid máu
Điều trị bằng thay đổi lối sống
Tiết chế, thay đổi lối sống và kiểm soát cân nặng là chỉ định cơ bảnđầu tiên trong điều trị rối loạn lipid máu và được áp dụng tiếp tục trênnhững bệnh nhân dùng thuốc Đa số các trường hợp tăng cholesterol vàtriglycerid nhẹ, tiết chế đúng cách có thể đưa các trị số này về mức bìnhthường
Trang 18
- Xây dựng chế độ dinh dưỡng tốt nhằm duy trì cân nặng ở mức lýtưởng với BMI dưới 22 Phân loại BMI (chỉ số khối cơ thể) theo AsiaPacific perspectives 2003
BMI < 18,5: thiểu năng lượngBMI từ 18,5 - 22,9: bình thườngBMI từ 23 – 24,9: thừa cân
BMI từ 25 - 29,9: béo phì độ 1BMI ≥ 30: béo phì độ 2
- Duy trì thành phần dinh dưỡng trong chế độ ăn như: hạn chế lượngcholesterol ăn vào mỗi ngày ít hơn 200mg và hạn chế sử dụng mỡđộng vật, tăng cường rau quả và thức ăn có nhiều chất xơ
Điều trị bằng thuốc: được sử dụng kết hợp khi điều trị bằng điềuchỉnh lối sống không đạt mục tiêu Các nhóm thuốc đã được chứng minhcó tác dụng trên các trị số lipid máu, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số tácdụng phụ gây ảnh hưởng đến bệnh nhân trong quá trình điều trị Cácthuốc điều trị rối loạn lipid máu bao gồm 5 nhóm chính với các tác dụngsau: [19], [20], [37], [51], [93], [96]
- Các chất resin kết hợp với acid mật Thuốc uống không hấp thu qua
niêm mạc ruột, không bị các men tiêu hoá tác động Thuốc làm giảm LDL,cholesterol, tăng HDL, triglycerid, VLDL Tác dụng phụ gây đầy bụng,
Trang 19
thuốc khi qua ruột Một số ít trường hợp thuốc có thể gây tiêu chảy, tắc ruột[19],[20],[37],[51],[93],[96]
- Acid nicotinic là sinh tố nhóm B tan trong nước, có tác dụng làm tăng sự
ester hoá acid béo thành triglycerid, giảm acid béo tự do, giảm tiết VLDL,tăng HDL, giảm LDL Tác dụng phụ gây rối loạn tiêu hoá, nóng rát dạ dày,buồn nôn, chán ăn, bừng nóng mặt, đỏ da, nhịp tim nhanh, có thể tăng mengan [19], [20], [37], [51], [93], [96]
- Thuốc ức chế men HMG-CoA reductase (nhóm statin) làm gia tăng sự
thanh thải LDL Thuốc làm giảm cholesterol là chính, giảm nhẹ triglycerid,tăng nhẹ HDL Tác dụng phụ gây rối loạn tiêu hoá, đau đầu, nổi mẩn, yếu
cơ, tăng men gan, tăng CPK Thuốc có tác dụng cải thiện chức năng nộimạc, làm ổn định mảng xơ vữa, giảm viêm, ức chế quá trình oxy hoá.Không được dùng trong trường hợp suy gan, suy thận nặng và giảm liều khidùng chung với các chất kháng vitaminK [19],[20],[37],[51],[93],[96]
- Các dẫn chất của acid fibric làm giảm dòng acid béo về gan, làm giảm
tổng hợp VLDL, làm tăng độ thanh thải VLDL, giảm hình thành LDL nhỏvà đặc, giảm oxy hóa LDL Do đó làm giảm triglycerid, cholesterol,VLDL, LDL, tăng HDL, giảm kết tập tiểu cầu, giảm fibrinogen, làm giảmacid uric máu Fenofibrat làm giảm một phần hoạt tính của men HMG-CoAreductase Tác dụng phụ gây đầy bụng, buồn nôn, tiêu chảy, mẩn ngứa,tăng men gan, yếu cơ, sỏi mật [19],[20],[37],[51],[93],[96]
- Các thuốc ức chế sự hấp thụ cholesterol Ezetimibe có tác dụng ức chế
sự hấp thu cholesterol chọn lọc tại ruột non và gây giảm lượng cholesterol
Trang 21
Đàm là tên gọi một dạng thay đổi bệnh lý của thành phần trong tândịch, do sự rối loạn vận hoá của tân dịch tạo thành Sau khi hình thành đàmsẽ theo hệ thống kinh mạch di chuyển khắp cơ thể, khi gặp điều kiện thuậnlợi sẽ đọng lại gây bế tắc kinh mạch tạo thành bệnh Tuỳ theo vị trí ứ đọngmà có nhiều biểu hiện khác nhau [3],[5],[6],[17],[35]
1.2.2 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Đàm hình thành do các nguyên nhân như: ăn uống quá nhiều chất béongọt, bệnh lâu ngày thể chất suy yếu, hoặc do tiên thiên bất túc Cácnguyên nhân này gây ảnh hưởng đến sự vận hoá của tân dịch làm cho tândịch bị hao tổn hoặc bị đình trệ mà gây nên đàm
Đàm hình thành từ các nguyên nhân trên thường liên quan đến chứcnăng của 2 tạng tỳ và thận (sơ đồ 1.2) [3],[5],[6],[17],[35]
Aên uống không điều độ(nhiều chất béo, ngọt)
Bệnh lâu ngày Tiên thiên bất
Tắc trở kinh lạc – huyết mạch
Trang 22
1.2.3 Mối tương quan giữa lipid máu theo Y học hiện đại và đàm theo
quan điểm của Y học cổ truyền
Xét về nguồn gốc, chức năng và đặc điểm của thành phần của tân dịchtheo Y học cổ truyền và lipid máu theo Y học hiện đại cho thấy cả 2 cócùng nguồn gốc từ thức ăn trải qua quá trình chuyển hoá mà tạo thành tuytên gọi có khác nhau Theo Y học cổ truyền, đàm là một dạng biến thể haycòn gọi là dạng bệnh lý của thành phần trong tân dịch, do tân dịch ngưngtụ mà tạo thành [3],[5],[6],[35] Tân dịch theo lý luận của Y học cổ truyềnlà cơ sở vật chất cho mọi hoạt động của tạng phủ nhằm nuôi dưỡng cơ thểvà duy trì chức năng hoạt động bình thường của các tạng phủ Các tạngphủ có hoạt động bình thường thì mới bảo đảm được sự điều hoà khí huyết,tân dịch trong cơ thể [5],[6] Trong trường hợp bệnh lý, tân dịch sẽ ngưngtụ thành đàm, đàm sau được tạo thành sẽ theo kinh mạch lưu thông khắp
cơ thể Khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ tích tụ bất thường, làm tắc nghẽnkinh mạch gây bệnh cho cơ thể [35] Tương ứng với lipid máu là thànhphần không thể thiếu trong huyết tương, có nguồn gốc chủ yếu từ thức ăn,trong điều kiện bất thường sẽ trở thành yếu tố gây bệnh cho cơ thể Khigặp điều kiện thuận lợi sẽ tạo thành những vệt mỡ bám trong thành mạchmà theo Y học hiện đại đây chính là sự lắng đọng các thành phần lipidmáu khi có sự thay đổi bất thường [8],[20],[56] Tuy nhiên lipid máu lại làmột chất cơ bản cần thiết cho hoạt động của cơ thể Từ đó cho thấy thànhphần của tân dịch theo Y học cổ truyền và lipid máu theo Y học hiện đại lànhững dạng cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động của cơ thể nhưng khi cósự thay đổi bất thường các chất này sẽ trở thành nguyên nhân gây bệnh
Trang 23
1.2.4 Các bệnh cảnh lâm sàng theo Y học cổ truyền
Chẩn đoán bệnh theo Y học cổ truyền chủ yếu dựa vào những chứngtrạng trên lâm sàng, do vậy không có sự tương đồng về thuật ngữ với Y họchiện đại Rối loạn lipid máu theo Y học cổ truyền thường gặp trong cácbệnh cảnh lâm sàng sau: [3],[5],[6],[17],[35]
Đàm thấp: người béo bệu, thừa cân, cảm giác nặng nề, chóng mặt, đầu
nặng hoặc cảm giác tê nặng chi dưới, lưỡi bệu, dày to, rêu dày nhớt, mạchhoạt
Thận âm hư: người gầy ốm, khô, triều nhiệt (cảm giác nóng trong người),
tâm phiền bức rức, người mệt mỏi, cảm giác khô khát, thỉnh thoảng cónhững cơn nóng bừng mặt, hoa mắt, chóng mặt, mất ngủ, đau thắt lưng, đauđầu âm ỉ, tiểu đêm, ra mồ hôi trộm, ù tai, cầu bón, lưỡi bệu đỏ khô, lòngbàn tay nóng, mạch sác, vô lực
Trường hợp thận âm dương lưỡng hư: bệnh nhân có kèm theo triệu chứng
sợ lạnh, lòng bàn tay bàn chân lạnh
Khí huyết ứ trệ: bệnh nhân có cảm giác tê tay chân, hoặc cảm giác kim
châm vùng đầu, đau nhói vùng ngực, lưỡi có điểm ứ huyết, mạch hoạt
1.2.5 Quan niệm về điều trị theo Y học cổ truyền
Với cơ chế và nguyên nhân gây bệnh của đàm theo Y học cổ truyềncác phép trị phù hợp trong các bệnh cảnh là: hoá đàm trừ thấp - hoạt huyếthoá ứ - bổ thận, kiện tỳ [3],[4],[6],[35]
Các phép trị trên tuỳ theo giai đoạn bệnh mà có thể phối hợp cùngnhau hoặc sử dụng độc lập Hoá đàm trừ thấp, hoạt huyết hoá ứ là phép trịchính trong giai đoạn đàm đã hình thành, thuốc có nhiều loại khác nhau,
Trang 24
tuỳ theo tác nhân gây ra đàm mà có những dạng khác nhau như: thanh nhiệthoá đàm, trừ thấp hoá đàm… Đàm theo Y học cổ truyền trong bệnh lý rốiloạn lipid máu là đàm thấp và đàm nhiệt nguyên nhân là do thấp trệ hoặc
hư hoả thiêu đốt tân dịch nên trong phép trị đàm là trừ thấp, thanh nhiệt làchính [3],[4],[6],[35]
Hoạt huyết hoá ứ là phép trị được sử dụng những thuốc có tác dụngtiêu tán ứ trệ và điều hoà huyết mạch với mục tiêu làm cho khí huyết tândịch lưu thông tốt Thuốc hoạt huyết hoá ứ thường được dùng phối hợpnhằm gia tăng hiệu quả điều trị chứng đàm Đặc tính của thuốc thường cótính ấm, vị cay đắng Theo Y học cổ truyền vị cay có tính năng tán ứ, hànhtrệ, tính ấm có tác dụng làm thông huyết mạch, thúc đẩy huyết hành [3],[4], [6], [35]
Ngoài ra, thuốc bổ thận hoặc kiện tỳ có thể phối hợp cùng lúc hoặc ởgiai đoạn ổn định nhằm giải quyết nguyên nhân của đàm
1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Nhiều công trình nghiên cứu trong nước đã chứng minh tác dụng củamột số dược liệu trong điều trị rối loạn lipid máu
- Năm 1980 Phạm Khuê và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu sử dụng viênNgưu tất do Viện Dược liệu bào chế với liều 2,5g mỗi ngày trên 23bệnh nhân có cholesterol máu trên 200mg/dL Thời gian sử dụng thuốc
1 tháng có 5 bệnh nhân, 2 tháng có 10 bệnh nhân và 3 tháng có 8 bệnhnhân Kết quả cho thấy cholesterol máu giảm ở nhóm sử dụng 1 thánglà 2/5 bệnh nhân, nhóm sử dụng 2 tháng 6/10 bệnh nhân và sử dụng 3
Trang 25
- 1989, nghiên cứu mở được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng hạcholesterol máu của siro Ngưu tất trên 30 bệnh nhân có độ tuổi trungbình 57+7, với liều 15ml chia 3 lần trong ngày Sau 2 tháng kết quảcho thấy cholesterol máu giảm nhưng vẫn trên mức bình thường sauđiều trị (228,93mg/dL) và không gây tác dụng phụ [31].
- Nghiên cứu lâm sàng có nhóm chứng trên 60 bệnh nhân nhằm đánhgiá hiệu quả điều trị rối loạn lipid máu của viên nang Cholestin (thànhphần: Ngưu tất, Nghệ, Hoa hoè) Kết quả cho thấy viên nangCholestin làm giảm 15,3% lượng cholesterol, 13,5% lượng LDL-c,tăng 16% lượng HDL-c so với trước điều trị 2 tháng Viên Cholestindung nạp tốt và không gây tác dụng phụ trong quá trình sử dụng [1]
- Nghiên cứu được thực hiện trên 67 bệnh nhân chia thành 2 nhóm tănghuyết áp và không tăng huyết áp với thời gian điều trị 60 ngày vớithuốc cốm GCL (giáng chỉ thang gia Linh chi) Kết quả cho thấy cốmlàm giảm 26,65% lượng triglycerid, giảm 16,19% lượng cholesterol,giảm 10,49% lượng LDL-c và tăng 7,14% lượng HDL-c so với trước
Trang 26
2 tháng Viên nang HM không làm thay đổi lượng triglycerid và
HDL-c Ngoài ra, viên nang HM còn làm giảm cân nặng trung bình 2,8kg/tháng, và chỉ số BMI giảm 1,2kg/m2 và không gây tác dụng phụ [12]
- Trần Việt Hoa và Ngô Thế Phương cũng đã thực hiện nghiên cứu trên
31 bệnh nhân tuổi từ 52 đến 86 tuổi tại bệnh viện Bạch Mai, có hàmlượng cholesterol máu trên 200mg/dL được điều trị bằng viên Ngưu tất(0,25g x 10 viên/ ngày) liên tục 2 tháng cũng cho kết quả giảmcholesterol máu có ý nghĩa và không gây tác dụng phụ đáng kể [18]
- 1981 Bùi Thị Nguyệt thực hiện nghiên cứu trên 39 bệnh nhân gồm 21nam và 18 nữ, tuổi dưới 60 là 27 bệnh nhân và trên 60 tuổi là 12 bệnhnhân, có cholesterol trước điều trị trên 200mg/dL và không có nhómchứng Bệnh nhân có các bệnh lý đi kèm như xơ vữa động mạch (17bệnh nhân), tăng huyết áp (18 bệnh nhân), dãn phế nang (3 bệnhnhân), ngoại tâm thu thất (2 bệnh nhân) Điều trị bằng viên nang Ngưutất (0,25g/viên), 10 viên chia 2 lần trong ngày, uống liên tục trong 30,
60 và 90 ngày Kết quả cho thấy tỉ lệ bệnh nhân hạ cholesterol với
Trang 27
- 1981 nghiên cứu được thực hiện đánh giá tác dụng hạ tỉ lệ β/αlipoprotein máu viên Ngưu tất trên 51 bệnh nhân, kết quả cho thấyviên Ngưu tất có tác dụng hạ ổn định tỉ lệ β/α và không gây tác dụngphụ sau 5 tháng điều trị [13]
- Năm 1990 Phạm Khuê và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng của siroEnteta trên 36 bệnh nhân trong đó gồm 9 nam và 27 nữ Siro Enteta làhợp chất gồm Ngưu tất, Thảo quyết minh, Trạch tả trong đó chủ yếu làNgưu tất với liều 50g /100ml Liều dùng 15 ml/ ngày liên tục trong 20ngày, kết quả cho thấy thuốc làm giảm cholesterol và không có tácdụng phụ gì đáng kể [26] Ngoài ra thuốc còn có tác dụng an thần vàhạ áp
Các công trình nghiên cứu trong nước về tác dụng hạ cholesterol máucủa dược liệu còn ở mức thực nghiệm, do vậy cần được nghiên cứu thêmnhằm đánh giá tác dụng lâm sàng của dược liệu Ngoài ra, những nghiêncứu lâm sàng còn một số hạn chế do số lượng bệnh nhân còn ít trong cácphân nhóm và một số nghiên cứu chưa có nhóm chứng Bên cạnh nhữngcông trình nghiên cứu tác dụng hạ cholesterol máu của Ngưu tất, còn nhữngcông trình nghiên cứu kết hợp giữa Ngưu tất và các dược liệu khác nhằmmục tiêu đánh giá tác dụng hạ cholesterol máu của các công thức phối hợpdược liệu [1],[12],[26],
Các nghiên cứu nước ngoài cũng vẫn dừng lại ở thử nghiệm trên môhình súc vật, chưa có nhiều nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về tác dụng hạlipid máu của dược liệu
Trang 28
1.4 GIỚI THIỆU TRÀ HẠ MỠ NGƯU TẤT
1.4.1 Thành phần của trà Hạ mỡ ngưu tất:
Trà Hạ mỡ ngưu tất gồm 4 dược liệu theo các tỉ lệ sau:
Ngưu tất: 70% Đan sâm 15%
Hà thủ ô đỏ 08% Đương quy 07%
1.4.2 Thành phần hoá học và tác dụng dược lý của các dược liệu.
Thành phần hóa học và tác dụng dược lý của từng loại dược liệu trongthành phần của trà Hạ mỡ ngưu tất đã được nhiều tác giả trong và ngoàinước nghiên cứu
Trang 29
-Tác dụng dược lý: cao rễ Đan sâm có tác dụng cải thiện vi tuần hoàn ngoại
vi, dãn mạch vành trên thiếu máu cơ tim cục bộ, ổn định màng hồng cầutrên thực nghiệm [67], [74], [75], [76], [81], [82], [89], [91], [104], [115],[116], [138] Tác dụng chống xơ vữa động mạch, miễn dịch và kháng viêm[46],[50],[121] Ngoài ra còn có tác dụng chống vi khuẩn tụ cầu vàng và
các chủng kháng kháng sinh, chống Mycobacterium sp Nước sắc rễ Đan
sâm làm giảm lượng GPT huyết thanh và những biến đổi bệnh lý tổnthương gan cấp tính trên thỏ thử nghiệm [61], [79], [80], [86], [87], [88],[95], [100], [102], [109], [114], [120], [122], [130], [132], [133], [135] Tác
dụng ức chế sự kết tập tiểu cầu in vitro [58],[139] Tác dụng hạ cholesterol
máu trên thực nghiệm và lâm sàng [65],[140] Tác dụng chống oxy hoá vàrối loạn chức năng nội mạc động mạch [43], [47], [49], [54], [64], [70],[72], [83], [110] Tác dụng bảo vệ thận và tim [44],[62],[68].Không có tácdụng độc ở chuột nhắt và chuột cống trắng sau khi cho uống hoặc tiêm dướidạng cao Đan sâm
Trang 30
Hà Thủ ô đỏ
-Bộ phận dùng là rễ củ ((Radix Polygoni multiflorie), được thu hái từ cây Hà thủ ô đỏ [(Polygonum multiflorum Thunb.), họ Rau răm (Polygonaceae)].
-Rễ Hà thủ ô đỏ có chứa anthraglycosid như emodin, chrysophanol, rhein,physcion…; protid; lipid như phospholipid (lecithin) Dẫn chất của stilben;tanin: catechin, epicatechin; phytoserol như daucosterol [7],[24],[33]
-Tác dụng dược lý: tác dụng chống viêm cấp và mạn trên thực nghiệm.Nước sắc Hà thủ ô đỏ ức chế sự phát triển của trực khuẩn lao Tác dụng hạlipid máu ở chuột cho ăn hỗn hợp dầu ngô, cholesterol và acid cholic Ứcchế sự tăng GOT và GPT trong huyết thanh chuột, cao cồn Hà thủ ô có tácdụng giảm cholesterol và triglycerid huyết thanh và làm chậm sự phát triển
xơ vữa động mạch[16],[30],[55],[124]
-Tác dụng dược lý: có khả năng bảo vệ hệ thống miễn dịch, tác dụng hạ áp,tác dụng kháng viêm cấp và mạn trên thực nghiệm Cao nước Đương quycó tác dụng ức chế sự ngưng tập tiểu cầu của chuột cống trắng trong ốngnghiệm Rễ Đương quy có độc tính thấp [2], [45], [66], [90], [108], [111],
Trang 31
1.4.3 Đặc điểm ra đời của trà Hạ mỡ ngưu tất
Trà tẩm Hạ mỡ ngưu tất là sản phẩm của sự phối hợp 4 loại dược liệugồm Ngưu tất, Đan sâm, Hà thủ ô đỏ, Đương quy Ngưu tất trong thànhphần của trà Hạ mỡ ngưu tất được xem là dược liệu chính của công thứcphối hợp Ngưu tất là dược liệu đã được sử dụng lâu đời trong các bài thuốcđiều trị các bệnh lý xương khớp theo Y học cổ truyền và mãi đến nhữngnăm đầu của thập niên 80 tại Việt Nam các công trình nghiên cứu thựcnghiệm và lâm sàng đã chứng minh tác dụng hạ cholesterol máu của Ngưutất [13], [21] Nhiều công trình nghiên cứu về Ngưu tất tiếp tục được thựchiện với dạng bào chế khác [31], ngoài ra còn có sự phối hợp giữa Ngưu tấtvà nhiều loại dược liệu khác cũng đã chứng minh tác dụng hạ cholesterolmáu [11], [26] Năm 1994 trà tẩm Ngưu tất đã được thử dược lý thựcnghiệm và lâm sàng song song với sử dụng cho bệnh nhân trong điều trị rốiloạn lipid máu có hiệu quả tại Bệnh viện Thực hành Y học cổ truyền (naylà Cơ sở 3 Bệnh viện Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh) Đến năm 1998 bắtđầu phối hợp 4 loại dược liệu nhằm nâng cao hiệu quả điều trị rối loạn lipidmáu
1.4.4 Đặc điểm phối hợp dược liệu trong công thức trà Hạ mỡ ngưu tất theo Y học hiện đại
Trà Hạ mỡ ngưu tất là sự phối hợp 4 loại dược liệu là Ngưu tất, Đansâm, Hà thủ ô đỏ, Đương quy nhằm đạt kết quả trong điều trị rối loạn lipidmáu Trong điều trị theo Y học hiện đại hay Y học cổ truyền thì sự kết hợpthuốc đều với mục tiêu làm tăng tác dụng điều trị mà không cần sử dụngthuốc với liều cao cũng như hạn chế những tác dụng không mong muốn của
Trang 32
thuốc [32], [34], [93] Sự phối hợp dược liệu trong trà Hạ mỡ ngưu tất cũnghướng đến mục tiêu trên trong điều chỉnh rối loạn lipid máu Tổng hợp tínhchất dược lý của từng loại dược liệu có thể nhận định tác dụng của trà Hạmỡ ngưu tất về phương diện lý thuyết như sau:
Ngưu tất là loại dược liệu đã được chứng minh có tác dụng hạcholesterol máu trên thực nghiệm lẫn lâm sàng [13], [21], [29], tác dụngnày đã được kiểm chứng bằng nhiều nghiên cứu khác nhau [18], [21], [23],[25], [31] Tuy nhiên một nghiên cứu thực nghiệm cho thấy khi sử dụngNgưu tất liều cao sẽ gây tác dụng độc cho cơ thể [69], trong khi rối loạnlipid máu là một bệnh lý cần được điều trị lâu dài nhằm hạn chế những biếnchứng không có lợi cho cơ thể như xơ vữa động mạch Giảm tỉ lệ của Ngưutất trong công thức trà Hạ mỡ ngưu tất với mục tiêu tránh tác dụng không cólợi cho cơ thể khi sử dụng lâu dài mà vẫn duy trì được tác dụng giảmcholesterol máu Đan sâm và Hà thủ ô đỏ được bổ sung vào công thứcnhằm duy trì được tác dụng điều trị hạ cholesterol máu, đây là những dượcliệu đã được chứng minh có tác dụng hạ cholesterol trên thực nghiệm [55],[65], [140] Ngoài ra, thực nghiệm cũng chứng minh Đan sâm, Hà thủ ô,Đương quy có tác dụng có lợi cho quá trình điều trị rối loạn lipid máu như:Tác dụng bảo vệ tế bào gan, hạ men gan, tác dụng cải thiện tuần hoànngoại vi, tuần hoàn mạch vành, ức chế ngưng tập tiểu cầu Khả năng tăngcường miễn dịch, chống sự oxy hoá trong cơ thể Tác dụng kháng viêm vàkháng khuẩn Ngoài ra còn có tác dụng hạ huyết áp
Trên cơ sở dược lý thực nghiệm và lâm sàng cho thấy thành phần các
Trang 33
được quá trình diễn tiến của mảng xơ vữa (một biến chứng nguy hiểm củabệnh rối loạn lipid máu) thông qua tác dụng chống đông, kháng viêm,chống oxy hoá và dãn vành Bên cạnh đó trà còn có tác dụng bảo vệ tế bàogan và ổn định huyết áp
Tóm lại, trên phương diện lý thuyết (sơ đồ 1.3), đây là những tác dụngđược xem là có lợi cho cơ thể trong quá trình điều trị rối loạn lipid máu TràHạ mỡ ngưu tất có thể tham gia vào quá trình điều chỉnh rối loạn lipid máu,cải thiện quá trình xơ vữa động mạch cũng như không gây ảnh hưởng trêngan thận trong quá trình sử dụng lâu dài hoặc khi phối hợp với các loạithuốc hạ lipid máu khác
1.4.5 Cơ sở lý luận về tác dụng của trà Hạ mỡ ngưu tất theo Y học cổ
truyền
Trên cơ sở lý luận Y học cổ truyền cấu trúc của một bài thuốc thường
theo quy cách “quân–thần–tá–sứ” với mục đích tăng cường tác dụng và
cũng nhằm khắc chế các tác dụng không mong muốn của từng loại dượcliệu [32],[34] Đây là nguyên tắc theo tinh thần dược lý Y học cổ truyền
Quân dược: chỉ công dụng của vị thuốc đặc hiệu, trong bài thuốc khi
phối hợp nhiều dược liệu những vị thuốc nào có công dụng nhằm giảiquyết nguyên nhân và chứng trạng chính của bệnh được gọi là quân
Thần dược: chỉ công dụng của những vị thuốc có tác dụng hỗ trợ cho
vị thuốc chính là quân, nhằm gia tăng tác dụng đặc hiệu của bàithuốc
Trang 34
Sơ đồ 1.3 Tóm tắt tác dụng dược lý của trà Hạ mỡ ngưu tất theo lý thuyết
Y học hiện đại
NGƯU TẤT
Hạ lipid máuKháng viêm
Hạ áp- Tăng cườngmiễn dịch
ĐƯƠNG QUY
Chống oxy hóa –Dãn mạch – Tăngcường miễn dịch-Chống kết tập tiểu
cầu
ĐAN SÂM
Hạ lipid - Chốngoxy hóa – Khángviêm – Tăngcường miễn dịch-Chống kết tập tiểucầu – Dãn mạch
HÀ THỦ Ô ĐỎ
Hạ lipid máu –Chống oxy hóa
TRÀ HẠ MỠ NGƯU TẤT
Hạ lipid máu – Chống oxy hóa – Tăng cường miễn dịch –
Chống kết tập tiểu cầu – Kháng viêm
Trang 35
Tá dược: công dụng của thuốc có tác dụng chữa các triệu chứng phụ
do ảnh hưởng của bệnh chính; hoặc tăng cường tác dụng của vị thuốcquân, thần; giảm độc hoặc giảm tác dụng không mong muốn của các
vị thuốc chính
Sứ dược: công dụng của vị thuốc có tác dụng điều hoà bài thuốc và
dẫn thuốc vào vị trí tổn thương
Ngoài ra, theo Y học cổ truyền sự phối hợp nhiều loại dược liệu trongmột bài thuốc sẽ tạo cho bài thuốc một thuộc tính như: tính hàn, tính nhiệt,tính ôn, tính lương, mà mỗi thuộc tính ấy sẽ phải phù hợp với bản chất củabệnh Và theo quan điểm của Y học cổ truyền cùng với kinh nghiệm điềutrị nếu sử dụng bài thuốc có tính hàn hoặc lương kéo dài lâu ngày sẽ làmmất dương khí, hoặc ngược lại với bài thuốc mang tính nhiệt hoặc ôn nếu sửdụng lâu ngày sẽ làm tiêu hao tân dịch Cả 2 trường hợp này đều gây bất lợicho cơ thể; do vậy để bài thuốc có thể sử dụng cho các bệnh lý cần điều trịlâu dài cũng như có thể phối hợp với các bài thuốc trong điều trị các bệnhcảnh khác nhau theo Y học cổ truyền như trong rối loạn lipid máu thì bàithuốc nên có tính bình
*Tác dụng dược lý theo Y học cổ truyền của trà Hạ mỡ ngưu tất
Trên cơ sở các nguyên tắc phối hợp thuốc theo Y học cổ truyền, có thểgiải thích cơ sở cấu trúc của trà Hạ mỡ ngưu tất như sau: [3],[24],[32], [33]
- Ngưu tất trong trà Hạ mỡ ngưu tất được xem là vị quân vì có tác dụng
trừ thấp, khử ứ và thông kinh, bổ can thận, có tính bình, phù hợp vớiphép trị chứng đàm theo quan điểm của Y học cổ truyền về rối loạnlipid máu
Trang 36
- Đan sâm được xem là thần dược có tính hàn, có tác dụng hoạt huyếtthông kinh, lương huyết tiêu ung, khử ứ hỗ trợ cho tác dụng trừ thấpkhử ứ của Ngưu tất
- Hà thủ ô đỏ (tính ấm), Đương quy (tính ôn) tác dụng bổ huyết hoạthuyết thông kinh mạch nhằm tăng cường tác dụng trừ thấp khử ứthông kinh của Ngưu tất và Đan sâm Hai dược liệu này đóng vai tròtá trong cấu tạo của bài thuốc
Theo cơ sở dược lý của Y học cổ truyền về tính chất, công dụng và tỉlệ phối hợp của từng dược liệu có thể nhận định đặc tính và tác dụng của tràHạ mỡ ngưu tất như sau: trà có tính bình, có tác dụng trừ thấp hoá ứ, hoạthuyết thông kinh mạch, tiêu ứ, bổ thận Như vậy, về phương diện lý thuyếttác dụng của trà Hạ mỡ ngưu tất sẽ không khác nhau và không gây các tácdụng khó chịu đối với bệnh nhân giữa các bệnh cảnh theo Y học cổ truyền,cũng như sẽ không gây ảnh hưởng nhiều đối với cơ thể của bệnh nhân khisử dụng lâu dài (Sơ đồ 1.4)
Trang 37
ĐƯƠNG QUY
(Tá)
Bổ huyếtHoạt huyếtThông kinh
ĐAN SÂM
(Thần)
Hoá ứ – Chỉ thốngLương huyết - Hoạthuyết - Thông kinh
HÀ THỦ Ô ĐỎ
(Tá)
Bổ huyếtĐiều hòa khí huyếtThông kinh
Trà Hạ mỡ ngưu tất
Trừ thấp hoá ứ – Họat huyết thông
kinh – Bổ thận
Trang 38
1.4.6 Kết quả dược lý thực nghiệm – lâm sàng
* Nguyên liệu
Đan sâm: rễ củ (Radix Salviae miltiorrhizae)
khô, mua tại Công ty Dược liệu Trung ươngII
Hà thủ ô đỏ: rễ củ (Radix polygoni
multiflorie) khô, mua tại Công ty Dược liệu
Trung ương II
Đương quy: rễ củ (Radix Angelicae sinensis)
khô, mua tại Công ty Dược liệu Trung ươngII
Ngưu tất: rễ củ (Radix Achyranthis
bidentatae) khô, mua tại Công ty Dược liệu
Trung ương II
Trang 39
Quy trình bào chế: thực hiện tại Phòng Bào chế Khoa Y học cổ truyền
Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh
Ngấm kiệt bằng cồn 70%
Bốc hơi cồn dưới áp xuất giảm
Tẩm vào bã dược liệu
Sơ đồ 1.5 Qui trình bào chế trà tẩm
*Nghiên cứu thực nghiệm: Được thực hiện tại phòng thực nghiệm Khoa Y
Học Cổ Truyền Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh năm 2000
Kết quả thử nghiệm độc cấp diễn của trà Hạ mỡ ngưu tất và trà Ngưu tất: Trà Hạ mỡ ngưu tất có LD50=546,58g/ kg
Trà Ngưu tất có LD50=437,85g/ kgKết quả độc cấp tính cho thấy cả hai trà Ngưu tất và trà Hạ mỡ ngưutất đều có độ an toàn cao khi sử dụng
Dược liệu
Dịch cồn
Dịch nước Bã dược liệu sấy khô
Trà tẩm đóng gói 10g
Trang 40
Kết quả thử nghiệm dược lý đặc hiệu.
Tác dụng hạ cholesterol của trà Hạ mỡ ngưu tất và trà Ngưu tất: thử
nghiệm bằng mô hình tăng cholesterol ngoại sinh
Kết quả: tương ứng với liều sử dụng trên người 20g/40kg thể trọng, trà Hạmỡ ngưu tất và trà Ngưu tất có tác dụng hạ cholesterol máu trên chuột gâytăng cholesterol bằng phương pháp ngoại sinh
Kết quả: trà Hạ mỡ ngưu tất và trà Ngưu tất có tác dụng hạ cholesterol máutrên thực nghiệm và không gây tác dụng độc trên chuột thí nghiệm khi sử
dụng 2 tháng.
*Nghiên cứu lâm sàng Nghiên cứu được thực hiện trên 60 bệnh nhân gồm
30 người dùng trà Hạ mỡ ngưu tất và 30 người dùng trà Ngưu tất liên tụctrong 2 tháng tại Cơ sở 3 Bệnh viện Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh năm
2001 -2003
Kết quả ghi nhận cả 2 loại trà Ngưu tất và trà Hạ mỡ ngưu tất đều có tác dụnglàm giảm cholesterol và LDL-c và không gây tác dụng phụ đáng kể [1]