Nguyễn Đinh Nga, Nguyễn Khắc Quỳnh Cứ, Trần Xuân Mai 2002, “Khảo sát tác dụng kháng vi nấm gây bệnh lang bencủa một số loài Riềng”, Y học TP.. MT Morphogenesic transformation – Nồng độ ứ
Trang 1NGUYỄN ĐINH NGA
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CÂY THUỐC KHÁNG VI NẤM GÂY BỆNH LANG BEN
Chuyên ngành: ĐÔNG DƯỢC VÀ THUỐC NAM
Mã số : 3.02.06
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
Trang 21 PGS.TS Nguyễn Khắc Quỳnh Cứ
2 PGS.TS Trần Xuân Mai
Phản biện 1: GS.TS Phạm Thanh Kỳ
Trường Đại học Dược Hà Nội Phản biện 2: GS.TSKH Hoàng Tích Huyền
Trường Đại học Y Hà Nội Phản biện 3: PGS.TS Trần Hùng
Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại: Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Vào hồi 8 giờ, ngày 15 tháng 12 năm 2006.
Có thể tìm luận án tại:
- Thư Viện Quốc Gia Việt Nam
- Thư Viện Khoa Học Tổng Hợp TP Hồ Chí Minh
- Thư Viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Trang 31 Nguyễn Đinh Nga, Nguyễn Khắc Quỳnh Cứ, Trần Xuân Mai (2002), “Khảo sát tác dụng kháng vi nấm gây bệnh lang ben
của một số loài Riềng”, Y học TP Hồ Chí Minh Tập 6, Phụ bản 4,
tr 299-303.
2 Nguyễn Đinh Nga, Huỳnh Tố Quyên (2005), “Xác định
cấu trúc của chất có tác dụng kháng vi nấm Pityrosporum orbiculare chiết từ cây Riềng nếp (Alpinia galanga Swartz) ở Việt Nam”, Tạp chí Dược học 4(384), Tr 17-21.
3 Nguyen Dinh Nga, Nongluksna Sriubolmas (2005), “The
antifungal activity of fraction and principal compound from Alpinia galanga (L.) Willd Against Malassezia spp.”, Pharma Indochina
IV-Pharmacy in cooperation for development and integration, Vol 2, Nhà xuất bản Y Học chi nhánh TP HCM, tr 269-274.
4 Nguyen Dinh Nga, Nongluksna Sriubolmas (2005),
“Effects of Alpinia galanga and Impatiens balsamina extracts on the morphogenetic transformation of Malassezia furfur”, Pharma
Indochina IV-Pharmacy in cooperation for development and integration Vol 2, Nhà xuất bản Y Học chi nhánh TP HCM,
tr 275-279.
Trang 5ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN ĐINH NGA
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CÂY THUỐC KHÁNG VI NẤM GÂY BỆNH LANG BEN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
Trang 62006-ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN ĐINH NGA
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CÂY THUỐC KHÁNG VI NẤM GÂY BỆNH LANG BEN
CHUYÊN NGÀNH: ĐÔNG DƯỢC VÀ THUỐC NAM
MÃ SỐ: 3.02.06
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DƯỢC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỲNH CỨ
2 PGS.TS TRẦN XUÂN MAI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả ghi trong luận án này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Nguyễn Đinh Nga
Trang 8MỤC LỤC
TrangLời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1
1.2 Thuốc dùng trị bệnh lang ben nguồn gốc tổng hợp 15
1.3 Dược liệu trị các bệnh da do Malassezia spp gây ra 17
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.2 Phương pháp khảo sát đặc điểm thực vật của dược liệu 43
Trang 92.2.3 Chiết xuất cao dược liệu và tinh dầu dùng sàng lọc cây thuốc kháng M furfur 44
2.2.4 Chiết xuất và phân tách hoạt chất từ cây thuốc kháng M furfur mạnh 44
2.2.5 Xây dựng phương pháp định lượng hoạt chất kháng Malassezia spp.
2.2.6 Ly trích và định danh vi nấm Malassezia spp từ vẩy da 47
2.2.7 Phương pháp xác định tác dụng kháng Malassezia spp 482.2.8 Xác định một số cơ chế tác động của cao chiết và hoạt chất 502.2.9 Xác định hiệu quả phối hợp hai chất kháng nấm 532.2.10 Phương pháp thử tính kích ứng và liều dùng của cao chiết 53
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ
3.1.1 Xác định loại cây và bộ phận dùng của BMT kháng M furfur mạnh 59
3.2.3 Phân lập và xác định cấu trúc hoá học hoạt chất kháng M furfur 73
3.3.2 thành phần hóa học thân rễ Riềng nếp
3.3.3 Chiết xuất phân đoạn kháng M furfur từ thân rễ Riềng nếp
7979
3.3.4 Phân lập và xác định cấu trúc hoá học hoạt chất kháng M furfur từ PĐDR 83
3.3.5 Sơ bộ đánh giá hàm lượng galangal acetat trong PĐDR 893.3.6 Dự thảo tiêu chuẩn cơ sở cho thân rễ riềng nếp 99
3.4 Tác dụng kháng Malassezia spp của PĐDR, ACA, cao BMT-T và IB1 102
3.4.1 Ly trích và định danh Malassezia spp từ vẩy da người tình nguyện 102
Trang 103.4.2 Tác dụng kháng M furfur của PĐDR, GA, cao BMT-T và IB1 1033.5 Sơ bộ xác định cơ chế tác động của PĐDR, ACA, cao BMT-T và IB1 106
3.5.1 Tác động ức chế sự chuyển dạng của vi nấm Malassezia spp 106
3.5.2 Khảo sát đường cong tăng trưởng của M furfur 109
3.5.3 Tác động của PĐDR, GA, cao BMT-T và IB1 trên cấu trúc tế bào M furfur 1103.6 Khảo sát hiệu quả phối hợp giữa PĐDR và một số chất
3.6.1 Hiệu quả phối hợp giữa PĐDR và acid salicylic, acid benzoic
3.6.2 Hiệu quả phối hợp giữa PĐDR và cao BMT-T
1121121133.7 Thăm dò tính kích ứng và liều tác dụng của PĐDR 115
3.7.2 Khảo sát tính kích ứng và liều tác dụng của PĐDR ở da người tình nguyện 1173.7.3 Tính kích ứng da và tác dụng của PĐDR trong các công thức 118
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
4.2 Chiết xuất, phân lập và xác định cấu trúc hoá học của hoạt chất kháng M.
4.3 Tác dụng kháng Malassezia spp của BMT-T và Riềng nếp 129
4.4 Cơ chế tác động của BMT-T và Riềng nếp trên Malassezia spp 1304.5 Liều tác dụng và tính kích ứng của PĐDR trên người tình nguyện 133
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
136
Trang 11DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮ T
ACA Acetoxychavicol acetat - Hoạt chất kháng nấm chiết từ thân rễ cây
Riềng nếp
AEA 1’ Acetoxyeugenol acetat
BMT Cây Bơng mĩng tay – Impatiens balsamina L Balsaminaceae
BMT-Đ Cây Bơng mĩng tay hoa đỏ
BMT-H Cây Bơng mĩng tay hoa hồng
BMT-T Cây Bơng mĩng tay hoa trắng
BMT-t Cây Bơng mĩng tay hoa tím
HPLC High performance liquid chromatography – Sắc ký lỏng hiệu năng
cao
GC Gas chromatography – Sắc ký khí
Ib- AMP 1 Peptid giàu cystein chiết từ hạt cây Bơng mĩng tay
IB1 Hoạt chất chiết từ cây Bơng mĩng tay trắng kháng Malassezia spp.
Mf A Vi nấm Malassezia furfur ATCC 44344
MFC Minimum fungicidal concentration – Nồng độ tối thiểu của chất thử
cĩ tác dụng diệt nấm
MIC Minimum inhibited concentration – Nồng độ tối thiểu của chất thử cĩ
tác dụng ức chế sự phát triển của vi sinh vậtMOPS Acid 3-[N-morpholino]propanesulfonic – chất đệm cho mơi trường
RPMI 1640
Trang 12MT Morphogenesic transformation – Nồng độ ức chế sự chuyển dạng của
vi nấm từ dạng men sang dạng sợiNCCLS National committee for clinical laboratory standards
MNQ 2-methoxy-1,4-naphthoquinon – Hoạt chất kháng nấm trong cây
RPMI 1640 Mơi trường dùng xác định hoạt tính của các chất kháng nấm được qui
định bởi NCCLS Thành phần mơi trường gồm acid amin và vitamin.RPMI-S
RPMI-S1
Mơi trường RPMI 1640 được bổ sung acid béo cần thiết cho sự phát
triển của vi nấm Malassezia spp.
RPMI-S2 Mơi trường RPMI 1640 được bổ sung acid béo cần thiết để tạo sự
chuyển dạng của Malassezia furfur từ nấm men sang nấm sợi.
SKLM Sắc ký lớp mỏng
VKN Vết kháng nấm xác định trên bản mỏng sắc ký bằng kỹ thuật hiện
hình sinh học
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Một số cây thuốc dùng trị lang ben và nấm da theo kinh nghiệm
1.2 Một số hợp chất naphthoquinon có trong cây BMT 22
1.4 Một số hợp chất flavonol có trong vỏ quả BMT-T 232.5 Một số dược liệu được dùng trong sàng lọc tác dụng kháng
2.11 Thang điểm chỉ mức độ kích ứng da người tình nguyện 552.12 Các đặc điểm ghi nhận khi bôi chất thử lặp lại trên da bệnh
2.13 Tác dụng kháng M furfur của các cao chiết và tinh dầu 583.14 MIC trung bình của cao BMT theo từng màu hoa khác nhau 593.15 Đặc điểm thân rễ và tên khoa học của các mẫu riềng 623.16 MIC của cao CHCl3 và EtOH và VKN ở các loại Riềng 653.17 Hiệu suất chiết cao BMT-T với dung môi và phương pháp khác
Trang 143.18 Đặc điểm của các phân đoạn tách từ BMT-T 733.19 So sánh phân mảnh MS của IB1 và thư viện phổ 753.20 Dịch chuyển hoá học ở 1H NMR và 13C NMR của IB1 so với
3.22 Thể chất và MIC của các PĐDR chiết theo qui trình 1 và
3.24 Thành phần hoá học của PĐDR xác định bằng GC-MS 833.25 Đặc điểm của các phân đoạn tách từ PĐDR qua sắc ký cột 843.26 Tác dụng kháng M furfur của chất G so với PĐDR 863.27 Dịch chuyển hóa học trong phổ NMR của hợp chất G 883.28 Kết quả khảo sát tính tương thích của hệ thống trên mẫu đối chiếu 903.29 Kết quả khảo sát tính tương thích của hệ thống trên mẫu thử
3.31 Kết quả kiểm tra độ chính xác của phương pháp sắc ký khí 92
3.33 Hàm lượng GA trung bình trong PĐDR và thân rễ Riềng nếp (GC) 933.34 Một số điều kiện thăm dò để triển khai HPLC 943.35 Tính tương thích của hệ thống trên mẫu đối chiếu GA (HPLC) 963.36 Tính tương thích của hệ thống trên mẫu thử (PĐDR-HPLC) 963.37 Tương quan giữa nồng độ chất đối chiếu GA và diện tích đỉnh 97
3.40 Lượng GA % trong thân rễ Riềng nếp định lượng bằng HPLC 993.41 Phân bố các loài Malassezia spp ly trích từ vẩy da 102
Trang 153.42 Tác dụng kháng Malassezia spp của PĐDR, cao BMT-T và các
3.43 So sánh tỉ số MFC/MIC của PĐDR, cao BMT-T và các hoạt chất 104
3.45 Nồng độ tối thiểu ức chế Malassezia spp của cao BMT-T 1053.46 Sự chuyển dạng của Malassezia spp ở các môi trường khảo sát 1063.47 Tác dụng ức chế sự chuyển dạng của các chất thử trên M.
3.48 Nồng độ tối thiểu ức chế dạng sợi của PĐDR và cao BMT-T 1083.49 Kết quả phối hợp PĐDR và cao BMT-T trên Malassezia spp 1133.50 Kết quả phân tích các phân đoạn phân tách từ PĐDR bằng GC
3.51 Thành phần và hàm lượng các chất trong công thức điều chế 1173.52 Tính kích ứng của PĐDR ở nồng độ 1,25% (CT 1) 118
3.54 Kết quả theo dõi lượng ổ nấm trong 1 vi trường (x 400) 1193.55 Lượng tế bào nấm trong 1 ổ nấm hoặc trong 1 vi trường 1193.56 Tính kích ứng của PĐDR 1,25% (CT 1) trên da người tình nguyện 1203.57 Tỉ lệ người bị kích ứng da sau 3 tuần bôi thuốc chứa
Trang 16DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
3.2 Qui trình chiết xuất cao BMT-T với CHCl3 hoặc MeOH
3.3 Qui trình chiết xuất cao BMT-T với EtOH 70%, EtOH 50% hoặc
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
3.13.2
Tương quan giữa nồng độ GA và diện tích đỉnh (GC)
Sự tương quan giữa nồng độ GA và diện tích đỉnh (HPLC)
9297
Trang 17DANH MỤC CÁC HÌNH
1.2 M furfur lấy từ vẩy da nhuộm với KOH 10% và mực tàu 91.3 M furfur ở lớp sừng của da bệnh lang ben 101.4 Sự xâm nhập của sợi nấm vào lớp sừng để tạo một ổ nấm mới 10
1.8 Cấu trúc của các diterpen trong hạt Riềng nếp 271.9 Cấu trúc hóa học của sesquiterpen trong hạt Riềng nếp 283.10 Kỹ thuật hiện hình sinh học phát hiện VKN trong cao BMT-T 603.11 Sắc ký đồ sắc ký lớp mỏng (SKLM) cao EtOH các loại BMT
3.13 Kỹ thuật hiện hình sinh học phát hiện VKN ở RBD 64
3.18 Phổ khối của IB1 và của 2-methoxy-1,4-naphthoquinon
(thư viện phổ)
753.19 Một số đặc điểm thực vật của thân rễ Riềng nếp 79
Trang 183.20 Sắc ký đồ sắc ký khí của phân đoạn G 85
3.23 Sắc ký đồ GC của galangal acetat (a) và PĐDR (b) 903.24 Sắc ký đồ HPLC của GA với hệ dung môi MeOH-H2O (48:52) 953.25 Sắc ký đồ HPLC của PĐDR với hệ dung môi MeOH-H2O (48:52) 953.26 Sự chuyển dạng của Malassezia spp ở môi trường RPMI-S2 và
môi trường glycin
107
3.27 Đường cong tăng trưởng của M furfur theo nồng độ PĐDR và
thời gian
109
3.28 Đường cong tăng trưởng của M furfur theo nồng độ cao BMT-T
và thời gian
109
3.29 Cấu trúc tế bào M furfur quan sát ở kính hiển vi điện tử 1113.30 Cấu trúc tế bào M furfur sau khi tiếp xúc với PĐDR và GA 1113.31 Cấu trúc tế bào của M furfur sau khi tiếp xúc với cao BMT-T
và IB1
112
3.32 Sự chuyển dạng của M1 ở các nồng độ cao BMT-T và phối hợp 1143.33 Sắc ký đồ SKLM các phân đoạn phân tách từ PĐDR 1163.34 Vẩy da ở vết thương bệnh lang ben trước và sau khi bôi thuốc 122
Trang 19MỞ ĐẦU
Bệnh lang ben thường chiếm tỉ lệ cao ở các nước có khí hậu nóng ẩm, có thểchiếm từ 40-50% dân số [20] Việt Nam, với khí hậu nóng ẩm, cùng với môitrường sống và làm việc của người lao động chân tay chưa được cải thiện nhiều làđiều kiện thích hợp để vi nấm phát triển và chuyển từ tình trạng sống hoại sinhsang gây bệnh Lang ben không nguy hiểm, không đe dọa tính mạng, chỉ gây khóchịu, giảm thẩm mỹ nên người bệnh ít khi đến cơ sở y tế để điều trị, vì vậy tỉ lệnhiễm bệnh trong cộng đồng khó thống kê chính xác Qua theo dõi việc khám sứckhỏe đầu vào của các học viên trung học của các khoa thuộc Đại học Y Dược TP.HCM năm 2004-2005 (trong lứa tuổi từ 17-19), chúng tôi đã phát hiện được 76 calang ben trên tổng số 364 học viên, chiếm 20,87% Đây là đối tượng chưa mangtính chất đại diện, nhưng phản ánh một phần tỉ lệ bệnh lang ben tương đối cao ởnước ta
Mặc khác, ở người bị suy giảm miễn dịch, lang ben thường nặng hơn, lan rộng,hay tái phát, và gây bệnh nhiễm nấm xâm nhập nội tạng [96],[130],[136],[137].Theo báo cáo của Bộ môn Da liễu Đại học Y Dược TP.HCM, lang ben chiếm tỉlệ cao hơn các bệnh da do vi nấm khác, từ 7,5 – 10,57% ở người nghiện ma tuý(theo dõi tại Trung Tâm Bình Triệu từ 1994-1997), cao hơn người bình thường(0,81% theo dõi tại phòng khám bệnh viện da liễu từ 1998-2000) Trong một điều
tra tại Ấn Độ, tỉ lệ người mắc những bệnh do Malassezia ở người nhiễm HIV
chiếm đến 13,5% so với 1-3% ở người không suy giảm miễn dịch, trong đó số calang ben lên đến 40% [49]
Nấm men Pityrosporum trước đây được xem là tác nhân gây bệnh lang ben, hiện nay theo phân loại mới vi nấm này được đổi tên thành Malassezia [30] Các vi
Trang 20nấm trong chi này có thể từ trạng thái sống hoại sinh chuyển sang gây bệnh langben và các rối loạn da khác như viêm nang lông, viêm da tăng tiết bã và gàu,viêm da thể tạng và có thể gây nhiễm trùng lan toả nếu có điều kiện xâm nhập
[30],[96] Malassezia cùng với một số vi nấm khác như Candida spp (không là
C albicans), Fusarium, Trichosporon thường được cho là những vi nấm ít hoặc
không gây bệnh cho người, hiện nay đã trở thành vi nấm gây bệnh cơ hội quantrọng, các bệnh nhiễm nấm xâm nhập do chúng gây ra có thể chiếm đến 11%, chỉ
kém Candida spp (85,6%) [128] Vấn đề vi nấm gây bệnh cơ hội cùng với vi
nấm kháng thuốc hiện cần được giải quyết cấp bách và là thách thức lớn cho cácthầy thuốc
Lang ben thường phát triển trên diện rộng, nếu không được điều trị sớm và đúngcách, bệnh thường tái phát nên việc điều trị phải mất nhiều thời gian, đòi hỏi sựkiên trì Hơn nữa, miễn dịch quần thể hiện đang có khuynh hướng suy giảm doviệc sử dụng corticoid bừa bãi và đại dịch HIV/AIDS, lang ben có khuynh hướnglan nhanh, tái phát, xâm nhập vào cơ quan nội tạng Vì vậy việc nghiên cứu để cóthêm nguồn nguyên liệu tác dụng trên nhóm nấm này nhằm ngăn chặn sự lây lan,cũng như khống chế vi nấm ở mức độ không nguy hiểm là điều cần thiết và rấtnên làm
Hiện nay thuốc trị lang ben trên thị trường không thiếu, những thuốc này cónguồn gốc tổng hợp, chủ yếu tác động kìm nấm nên sau điều trị lang ben dễ táiphát và việc lựa chọn thuốc tuỳ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế của bệnh nhân,nhất là ở lang ben lan rộng Trong khi thuốc từ thực vật không chỉ là nguồn thuốcquan trọng đang được sử dụng trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở những nướcđang phát triển, mà còn là nguồn dự trữ để đối phó với những mầm bệnh khángthuốc, trong đó có những thuốc từ nguồn này không thể thay thế nhất là trong lĩnhvực điều trị bệnh ký sinh trùng kháng thuốc, thí dụ để điều trị sốt rét trước đâykhông thể thiếu quinin và hiện nay là artemisinin Vì vậy, song song với việc tìm
Trang 21thuốc mới từ tổng hợp hoá học, thuốc từ thiên nhiên đang rất được quan tâmnghiên cứu.
Nước ta với nguồn dược liệu phong phú, nhiều cây cỏ có tác dụng kháng nấm đãđược người dân sử dụng theo kinh nghiệm từ đời này sang đời khác để trị langben và bệnh nấm da như dùng củ Riềng, Rau răm, Muồng trâu [3],[8] Với xuhướng tìm thuốc mới từ nguồn gốc tự nhiên và để thực hiện đường lối kế thừa,phát huy và phát triển nền Y học cổ truyền dân tộc, chúng tôi nghiên cứu một sốcây thuốc kháng vi nấm gây bệnh lang ben, giải thích cơ chế tác động của cáccây thuốc chọn nghiên cứu, nhằm chứng minh một cách khoa học kinh nghiệm trịliệu của cha ông, làm phong phú thêm nguồn thuốc trị bệnh da do vi nấm từnhững nguyên liệu quen thuộc với người dân, đã được người dân sử dụng nhưngtiện lợi, dễ sử dụng và có hiệu quả hơn
Thực hiện đề tài nghiên cứu này chúng tôi mong muốn đạt các mục tiêu sau:
1 Sàng lọc một số cây thuốc kháng Malassezia furfur từ đó chọn một đến hai
cây thuốc có tác dụng mạnh để nghiên cứu sâu
2 Nghiên cứu đặc điểm thực vật kết hợp với tác dụng kháng nấm để đưa ra tiêuchuẩn chọn nguyên liệu
3 Nghiên cứu chiết xuất phân đoạn có hoạt tính, phân lập và xác định cấu trúchoá học của hoạt chất kháng nấm có trong cây thuốc chọn nghiên cứu làm cơ sởcho việc kiểm định nguyên liệu
4 Xác định hoạt lực và cơ chế tác động của các phân đoạn có hoạt tính và hoạt
chất trên quần thể vi nấm Malassezia spp được ly trích và định danh theo phân
loại mới từ vẩy da của một số người Việt Nam tình nguyện
5 Khảo sát tính kích ứng da và dò liều tác dụng của các phân đoạn có hoạt tính
kháng Malassezia spp.
Trang 22CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vi nấm Malassezia spp.
1.1.1 Đại cương về vi nấm Malassezia
Malassezia là nhóm nấm men sống hoại sinh ở da người và động vật máu nóng.
Chúng có thể gây ra bệnh nhiễm ở lớp ngoại biên của biểu bì như bệnh lang ben,viêm nang lông, viêm da tăng tiết bã và nhiễm trùng huyết ở những cá thể cầnphải đặt ống thông hoặc trẻ sơ sinh được nuôi qua đường tĩnh mạch với dịchtruyền có hàm lượng lipid cao [96,[130],[136],[139]
Không giống với những nấm men khác, những vi nấm thuộc chi Malassezia trừ
M pachydermatis cần chất béo để phát triển Vì vậy trong một khoảng thời gian
dài, khởi đầu từ năm 1846 chúng đã được phát hiện trên các vết thương ở danhưng phải đến 1927 chúng mới được ly trích và nuôi dưỡng trên môi trường cóbổ sung chất béo
Hình thể của vi nấm thay đổi nhiều theo điều kiện phát triển nên quá trình pháthiện, định danh phải trải qua nhiều giai đoạn, tên gọi của chúng được thay đổitheo thời gian nghiên cứu, phát hiện và ly trích
Trong chu trình phát triển, vi nấm Malassezia có sự chuyển đổi hình dạng, chúng
vừa có dạng sợi, vừa có dạng men, do đó trước đây nhiều người cho rằng haidạng hình thể này thuộc hai chi nấm khác biệt nên đặt tên cho dạng men là
Pityrosporum và dạng sợi là Malassezia Hơn nữa, hình dạng của tế bào nấm men
cũng thay đổi, hình cầu và hình bầu dục, nên nhiều nhóm nghiên cứu xem 2 dạng
tế bào nấm men này thuộc hai loài khác nhau: Pityrosporum orbiculare có tế bào hình cầu, P ovale tế bào hình bầu dục.
Trang 23 Năm 1977, khi 3 nhóm nghiên cứu độc lập nhau đã thiết lập được các môi
trường, điều kiện nuôi cấy để cả P ovale và P orbiculare chuyển đổi từ dạng nấm men sang dạng nấm sợi ở in vitro tương tự như ở vết thương của bệnh lang
ben đã dẫn đến kết luận: dạng tế bào hình cầu, hình bầu dục và dạng sợi của vinấm chỉ là những giai đoạn trong chu trình sống của cùng một loài
Trước năm 1996, 2 loài Malassezia sống hoại sinh và gây bệnh ở da người là
M furfur và M sympodialis M pachydermatis (sống ở thú) gây nhiễm trùng
huyết do vi nấm xâm nhập qua ống thông và đường tiêm truyền tĩnh mạch Cácloài này được xem là những phân loài về huyết thanh học A, B và C của
M furfur Cho đến năm 1990 tên gọi của các loài trong chi Malassezia vẫn chưa
thống nhất, mỗi nhóm nghiên cứu dùng tên gọi khác nhau, gây khó khăn cho việc
so sánh các kết quả
Guillot và Gueho (1995) đã tập hợp 104 chủng Malasezia đã được ly trích và
phân loại từ nhiều nhóm nghiên cứu khác nhau, thực hiện chuỗi trình tự của
rARN Dựa trên kết quả thu được, Guillot và Gueho đã phân loại Malassezia
thành 7 loài khác nhau [96]
Từ năm 1996, chi Malassezia được phân loại chính thức thành 7 loài
Trang 24 Các loài Malassezia mới phát hiện [49].
Ngoài 7 loài được chính thức định danh trên, một số loài Malassezia mới đã được phát hiện và công bố là M dermatis sp nov.[112], M japonica sp.nov.[111],
M nana sp nov.[44], tháng 3/2004 Takashi và cs đã phát hiện và định danh
M yamatoenensis [114] từ da bệnh viêm da tăng tiết bã và da bình thường.
Tuy các loài Malassezia đã được phân loại lại theo hệ thống phân loại mới, nhưng
vẫn chưa có những nghiên cứu nhằm chuyển đổi tên các loài mang tên cũ trongcác nghiên cứu đã công bố thành tên mới vì vậy trong phạm vi luận án với nhữngtài liệu trước 1996 tên của vi nấm vẫn giữ theo tên mà tác giả đã công bố
1.1.2 Đặc điểm hình thể, sinh lý, sinh hoá của Malassezia spp.
1.1.2.1 Hình thể vi nấm ở môi trường cấy và ở kính hiển vi
Các loài Malassezia spp thường có khóm nấm màu kem, trơn nhẵn Hình thể tế
bào nấm khác nhau tùy loài ở các đặc điểm hình dạng, kích thước tế bào mẹ và tế
bào con Các đặc điểm này được sử dụng trong phân loại [30].
Ở môi trường nuôi cấy có bổ sung chất béo, khi quan sát ở kính hiển vi
Malassezia spp có dạng nấm men hình cầu, bầu dục hay trụ tùy loài với kích
thước thay đổi từ 3-4 m x 5-7 m Các tế bào nấm men này sinh sản bằng cáchnẩy chồi ở một đầu trên một đáy rộng, tế bào con khi tách rời khỏi tế bào mẹ sẽđể lại một vết sẹo, từ vết sẹo này, một tế bào con khác sẽ nhô lên tạo thành dạngcổ áo giữa tế bào mẹ và tế bào con [96] Dạng sinh sản đa chồi không xảy ra,nhưng do các tế bào con sau khi được sinh ra không tách hoàn toàn khỏi tế bàomẹ nên khi quan sát ở kính hiển vi thấy sự dính nhau thành chùm [66] Khi vinấm phát triển trên các môi trường bổ sung chất béo có thể gặp dạng sợi nhưnghiếm Chỉ khi được nuôi dưỡng trên các môi trường đặc biệt như môi trườngglycin [78], môi trường cholesterol-cholesterol este [69], môi trường YPD-S-G[97][98]vi nấm có thể chuyển từ nấm men sang nấm sợi như ở in vivo.
Trang 25Quan sát dưới kính hiển vi điện tử [96], thành tế bào của tất cả các loài
Malassezia có một số điểm đặc biệt sau:
Dầy hơn thành tế bào của các nấm men khác (khoảng 0,12 m), chiếm từ 26đến 37% thể tích tế bào
Các thành phần chính của thành tế bào là đường (≈70%), protein (≈10%),lipid (≈15-20%) và một lượng nhỏ N, S
Thành tế bào Malassezia được cấu tạo bởi nhiều lớp mỏng với 2 lớp chính, lớp
trong cùng có nhiều chỗ lõm vào và một lớp mỏng ngoài cùng Nhuộm với NileBlue Sulfat (NBS) cho thấy lớp mỏng cấu tạo bởi lipid với cấu trúc thay đổi tuỳtheo nguồn lipid của môi trường và cũng chính lớp này đóng một vai trò quantrọng trong sự kết dính của vi nấm vào da người và ống thông
Màng sinh chất dính chặt vào mặt trong của thành tế bào
Số lượng và hình dạng của ty thể ở mỗi tế bào có thể thay đổi, khác nhau giữatế bào hình cầu và hình bầu dục
Nhân có màng nhân rất mịn bao quanh với chất nhân dạng hạt đồng nhất
Không bào chứa lipid và thay đổi kích thước tuỳ theo tuổi của tế bào
Do đặc điểm của cấu trúc thành tế bào, cộng với sự nẩy chồi ở một cực của vinấm, bắt màu thuốc nhuộm NBS và urease dương tính, Simmon và Aheam xếpchúng vào lớp Nấm Đảm (Basidiomycetes)[66]
1.1.2.2 Đặc điểm sinh lý và sinh hoá của Malassezia spp.
Các loài Malassezia không lên men đường, sử dụng lipid như nguồn carbon,
không cần vitamin, yếu tố vi lượng hay chất điện giải cho sự phát triển, nguồn Sthích hợp cho vi nấm có thể là methionin, cystin hoặc cystein Chúng sử dụng
nhiều loại acid amin, muối amoni làm nguồn nitơ Các loài Malassezia đều có
men urease và cho phản ứng urea dương tính
Vi nấm phát triển tốt ở điều kiện hiếu khí, có thể phát triển ở môi trường vi hiếu
Trang 26khí hoặc kỵ khí Tuy nhiên ở điều kiện kỵ khí nấm phát triển rất ít.
Nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của Malassezia spp từ 30-35 oC, một số loàikhông phát triển được ở 40 oC
Trừ M pachydermatis, Malassezia spp cần lipid cho sự phát triển do chúng
không tổng hợp được các acid béo chuỗi dài, vì vậy các môi trường dùng nuôi cấy
nếu không bổ sung acid béo chuỗi dài thích hợp, các vi nấm Malassezia lệ thuộc
lipid sẽ không phát triển, hoặc phát triển chậm với khóm nấm rất nhỏ
Phần lớn các acid béo có chuỗi C dài hơn 10 không kể chẵn hay lẻ đều có thểdùng để bổ sung vào môi trường nuôi cấy nhóm nấm này Thường là các dầu thựcvật, dầu oliu; các acid béo no hay không no từ C12 đến C24 như acid oleic, acidarachidic, acid stearic, acid palmitic, hoặc các loại Tween đều có thể dùng như
nguồn lipid cần thiết cho sự phát triển của Malassezia spp Có thể dựa vào khả
năng đồng hoá các loại Tween khác nhau để sử dụng nguồn acid béo của các vi
nấm này để phân loài Malassezia spp [30],[64],[140] Wilde và Stewart [96] đã
chứng minh rằng, lipid ở vẩy da người có thể được Malassezia spp sử dụng làm
nguồn lipid cần thiết cho sự phát triển của chúng
Phần lớn các loài Malassezia có thể tiết nhiều loại enzym như esterase, lipase,
lipoperoxidase, phosphatase, hydrolase và naphtol-AS-BI-phosphohydrolase[76] Vi nấm dùng những enzym này để đồng hoá các chất cần cho sự phát triển,
nhất là acid béo Dựa vào đặc điểm phát triển của Malassezia spp một số môi
trường đã được sử dụng để nuôi cấy và định danh chúng như môi trường glycin[80], môi trường tạo sắc tố (p-medium) [77], môi trường tạo pha sợi in vitro [78],môi trường YPD-S-G [97][98]
1.1.3 Đặc điểm hình thể của Malassezia ở vết thương [65]
Malassezia spp thuộc hệ vi sinh vật bình thường của da, thường được tìm thấy ở
thân, ở vùng da xếp nếp, mặt, vẩy da đầu Khi quan sát lớp sừng của da bình
Trang 27thường bằng kính hiển vi điện tử quét, có thể nhìn thấy một ít tế bào nấm ở dạngmen Vi nấm thường sống quanh nang lông và những vùng lân cận Khi phát triểntrên môi trường, vi nấm cũng chỉ ở dạng men (hình 1.1).
Hình 1.1 Hình thể của M furfur ở KHV điện tử quét.
A: Tế bào men ở môi trường nuôi cấy.
B: Một ổ nấm trong lớp sừng ở da bình thường chỉ gồm nấm men C: Tế bào men ở lớp sừng của da bình thường.
Quan sát vẩy da bệnh lang ben dưới kính hiển vi quang học, có thể thấy dạng sợinấm ngắn và các tế bào men hình cầu (hình 1.2)
Hình 1.2: M furfur ở vẩy da lang ben nhuộm với KOH 10% và mực tàu.
Quan sát vẩy da lang ben dưới KHV điện tử quét có thể thấy những ổ nấm với các
chùm tế bào nấm men hình cầu và nhiều sợi nấm ngắn trong những xoang củalớp sừng Từ tế bào men có sự tạo ống mầm để phát triển thành sợi nấm; từ mộtsợi nấm có sự tạo chồi ở bên hông, và tế bào men phát triển từ sợi nấm (hình 1.3).Những sợi nấm phát triển từ tế bào men sẽ xâm nhập vào tế bào sừng lân cận đểđến lớp biểu bì da khác, tạo thành một xoang mới được phủ bởi một lớp sừngmỏng Từ những sợi nấm này, các tế bào men mới được sinh ra, nẩy chồi và một
Trang 28ổ nấm mới được tạo thành Ổ nấm mới nhỏ hơn ổ nấm cũ vớiø số lượng tế bào nấm
ít hơn gồm sợi nấm nằm xen với tế bào men (hình 1.4 và hình 1.5)
Hình 1.3 M furfur ở lớp sừng của da bệnh lang ben.
A: Đám tế bào men và sợi nấm tạo thành ổ nấm trong một xoang ở lớp sừng B: Sự phát triển của sợi nấm từ tế bào men C: Sự nẩy chồi bên hông sợi nấm.
Hình 1.4 Sự xâm nhập của sợi nấm vào lớp sừng để tạo một ổ nấm mới.
D: Sự xâm nhập của sợi nấm vào tế bào sừng E: Sợi nấm được phủ
Bởi một màng mỏng của lớp sừng F: Tế bào men phát sinh từ sợi nấm.
Hình 1.5 Sự tạo thành ổ nấm mới ở lớp sừng.
G:Ổ nấm mới tạo thành từ sợi nấm xâm nhập.
H: Các tế bào men phát triển ở ổ nấm mới.
Trang 291.1.4 Bệnh học [10],[11]
Malassezia phát triển ở lớp sừng của da, gây một số bệnh mãn tính như lang ben,
gầu, viêm da tăng tiết bã, viêm nang lông… Các bệnh trên trước đây được cho là
do M furfur gây ra vàø M pachydermatis gây bệnh cơ hội Từ khi chi Malassezia
được phân loại thành 7 loài, sự phân bố và vai trò gây bệnh của các loài này đã
có nhiều thay đổi, ngoài M furfur các loài Malassezia khác cũng có thể gây bệnh
lang ben và các bệnh da khác
1.1.4.1 Bệnh lang ben
Tất cả các loài Malassezia lệ thuộc lipid đều được tìm thấy ở da người bình
thường ở dạng nấm men Dưới một số điều kiện ngoại sinh lẫn nội sinh, vi nấmnày chuyển từ dạng tế bào men sang dạng sợi nấm gây bệnh Sự chuyển dạngcủa vi nấm gây ra sự viêm nhẹ và thay đổi đặc điểm tế bào nơi chúng phát triểnđưa đến các biểu hiện lâm sàng của bệnh lang ben
Bệnh lang ben thường ít triệu chứng, mãn tính, khu trú ở lớp ngoài cùng của lớp
sừng Vết thương ban đầu thường là những đốm da nhạt màu hơn da bình thườnghoặc nâu nhạt, có thể kết hợp lại thành những đốm rộng hơn Quan sát gần sẽthấy vẩy mịn, vụn, bao phủ vết thương
Sự thay đổi màu của da có thể do các nguyên nhân sau:
Trường hợp lang ben với những đốm sậm màu hơn da bình thường, theo Allens vàCharles [71], ở vùng da bệnh có sự gia tăng kích thước và sự thay đổi phân bốcủa melanosom (những hạt chứa tyrosinase, cùng với melanocyte sinh tổng hợpmelanin) Theo Mayser và cs [76], những đốm sậm màu của da bệnh có thể do sựbiến đổi L-tryptophan thành dẫn chất indol màu nâu
Trường hợp lang ben da nhạt màu hơn bình thường, Charles và cs.[71] nhận thấy
những hạt melanosom ở vùng da bệnh rất nhỏ Theo Nazzaro-Porro [Error!
Trang 30Reference source not found.] sự hoạt động của tyrosinase ở da bệnh bị ức chế.
Dạng sợi của vi nấm ở da bệnh oxy hoá các acid béo không bão hoà, cholesterol,squalen và các acid amin có ở da Sự oxy hoá các acid béo không bão hoà thànhacid dicarboxylic trong đó có acid azelaic, acid này cạnh tranh với tyrosinase làenzym cần thiết để tạo sắc tố
Lang ben thường gặp ở thân là vùng các tuyến bã hoạt động mạnh (ngực, cổ, vai),có thể gặp ở vùng đầu và tứ chi, mặt ở trẻ em
Tác nhân gây bệnh: các loài Malassezia spp trừ M pachydermatis đều có thể là tác nhân gây lang ben M globosa và M sympodialis ly trích được từ da bệnh lang ben cao hơn các loài còn lại [23]; M furfur chiếm từ 5-25,2% [49],[81],[96],[136]; nhiễm phối hợp 2 vi nấm M sympodialis và M globosa chiếm 23-29,2% [96]; 3 vi nấm M globosa + M sympodialis + M restricta
chiếm khoảng 37% [136].
1.1.4.2 Viêm da tăng tiết bã và gàu (Seborrheic dermatitis; dandruff)
Ngoài lang ben, Malassezia spp còn gây viêm da tăng tiết bã và gàu Đây là
những bệnh viêm da mãn tính, thường xuất hiện ở vùng tuyến bã hoạt động mạnhnhư mặt, da đầu, trán, ở cơ địa da nhờn, ở tuổi dậy thì, thanh niên và người lớn(1-3%) [40], [96] Bệnh chiếm tỉ lệ cao hơn ở người bị lang ben, bệnhparkingson, người bị suy giảm miễn dịch, ở bệnh nhân AIDS bệnh chiếm từ 30-83%, hơn nữa ở người bệnh AIDS, viêm da tăng tiết bã thường dai dẳng và khóđiều trị hơn ở người bình thường [96]
Số lượng vi nấm Malassezia spp cao hơn ở da bệnh viêm da tăng tiết bã so với
da bình thường và tăng theo mức độ nặng của bệnh [94],[125] Bệnh được điều trịcó hiệu quả với các thuốc kháng nấm [38]
1.1.4.3 Bệnh viêm nang lông [96]
Viêm nang lông thường gặp ở lứa tuổi thanh niên và trung niên, đặc biệt là ở
Trang 31phụ nữ Bệnh chiếm tỉ lệ cao hơn ở người suy giảm miễn dịch, người mang thai,bệnh bạch cầu, ghép tuỷ, ghép thận và ghép tim, AIDS, đái tháo đường hoặc sửdụng corticoid kéo dài Nguyên nhân gây bệnh tuy chưa được giải thích đầy đủ
nhưng từ kết quả của một số nghiên cứu cho thấy Malassezia có thể là tác nhân
gây bệnh Bệnh cũng được điều trị có hiệu quả bằng kháng sinh kháng nấm
1.1.4.4 Viêm da thể tạng (Atopic dermatitis)
Nguyên nhân gây viêm da thể tạng chưa được xác định chính xác, có thể do yếutố di truyền, miễn dịch, thực phẩm, ve mạt trong bụi nhà, chất kích thích, khí hậu,
yếu tố tâm lý, vi nấm trong đó có Malassezia spp Lượng Malassezia spp ở da bệnh cao hơn da bình thường, và IgE chuyên biệt với Malassezia chiếm từ 20-
100% trong huyết thanh người bệnh [53],[59],[109],[110],[111]
1.1.4.5 Bệnh vẩy nến (psoriasis)
Kết quả từ nhiều nghiên cứu đã tìm thấy sự liên quan giữa Malassezia spp và sự phát triển của bệnh vẩy nến Các vi nấm M globosa, M slooffiae, M restricta đã
được ly trích từ các mẫu da bệnh với tỉ lệ cao hơn da bình thường (lần lượt: 55%,18%, 10%) và gia tăng theo mức độ trầm trọng của bệnh [89]
1.1.4.6 Nhiễm nấm xâm nhập vào cơ quan nội tạng
Malassezia spp có thể gây các bệnh nấm xâm nhập như nhiễm trùng huyết, viêm
đường tiểu, viêm màng bụng, viêm não…Bệnh thường gặp ở trẻ sơ sinh, người suy
giảm miễn dịch hoặc được điều trị bằng kháng sinh phổ rộng [25] Nấm thường
xâm nhập qua đường tĩnh mạch theo dịch truyền giàu chất béo hoặc qua ống
thông Tác nhân gây bệnh thường gặp là M pachydermatis và M furfur [71],[96].
Trang 321.1.5 Một số yếu tố liên quan đến bệnh sinh
Malassezia spp sống hoại sinh ở da, có thể chiếm đến 98% ở những vị trí có
tuyến bã hoạt động mạnh như ngực, lưng, trán, tai, và má Từ tình trạng sống hoại
sinh, Malassezia spp chuyển sang gây bệnh khi gặp điều kiện thuận lợi:
- Khí hậu nóng ẩm: lang ben tuy gặp khắp nơi nhưng tần suất mắc bệnh thay
đổi nhiều theo vùng khí hậu, từ 1% ở vùng ôn đới (1,1% ở Thuỵ Điển) đến 40%dân số ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [66] Ở Hoa kỳ bệnh chiếm từ 2-8% dânsố, mặc dù tỉ lệ mắc bệnh chính xác khó thống kê được vì nhiều người bị bệnhnày không quan tâm đến việc chăm sóc y tế Ở một số vùng bờ biển của Mexicovà tây Samoa, 50% dân số mắc bệnh [20] Ở Tripoli, Libya bệnh lang ben chiếm27,8% trong số các bệnh nhân bị bệnh ngoài da do vi nấm, đứng sau bệnh nấm da
nhưng cao hơn bệnh ở da do Candida [79] Ở Việt Nam, trong thời kỳ chiến
tranh, bệnh da là nguyên nhân thường gặp nhất ở những bệnh nhân khám ngoạitrú, chiếm 12,3%, loại bệnh thường nhất là bệnh nấm da, lang ben và bệnh da do
Candida; trong đó bệnh lang ben chiếm 2,7% người khám bệnh, là một trong 10
bệnh da thường gặp nhất [132]
Bệnh thường tấn công vào những tháng hè Kim và Suh nghiên cứu trên 50 bệnhnhân Hàn quốc, 66% bị bệnh vào giữa tháng 6 và tháng 8 Ở Libya, bệnh cũngxảy ra nhiều hơn từ tháng 8 đến tháng 12, thời gian này khí hậu Libya nóng và
ẩm [66],[79].
- Giới tính [66]: lang ben thường gặp ở cả nam lẫn nữ với tỉ lệ gần như bằng
nhau hoặc hơi cao hơn ở nam Theo Roberts, nam nhiễm bệnh cao hơn nữ, chiếm
tỉ lệ 3:2 ở Hoa Kỳ; 2:1 ở Hàn Quốc (Kim và Suh); ở Libya nam mắc bệnh caohơn nữ khoảng 3,5 lần (250 ca nam, 72 nữ)
Trang 33Tuổi: bệnh ít gặp ở thiếu niên và ở người già Thanh niên trong độ tuổi 20 đến trung niên có tần suất mắc bệnh cao hơn Ít gặp Malassezia ở da trẻ em dưới 1
tuổi, nhưng gần 32% trẻ sơ sinh nằm viện ở những bộ phận chăm sóc tập trung cómang vi nấm này trên da [71], ly trích được M furfur ở 8/13 trẻ sơ sinh nổi ban
đỏ có bóng nước ở mặt và cổ [33] Mật độ nấm cũng thay đổi theo lứa tuổi, trên
da trẻ sơ sinh chiếm 18%, và 90-100% ở người lớn Mật độ nấm cao hơn rõ rệt ở
người trong lứa tuổi 30 so với lứa tuổi từ 40-80 M globosa và M sympodialis
chiếm tỉ lệ cao hơn các loài khác [96]
- Một số yếu tố khác [14]: lang ben có thể do tiết mồ hôi quá độ, điều trị bằng
corticoid, hội chứng cushing, suy dinh dưỡng, mang thai và dùng thuốc ngừa thai,suy giảm miễn dịch đặc biệt là các bệnh nhân ghép thận (chiếm 36,6%) và bệnhnhân AIDS
1.2 Thuốc dùng trị bệnh lang ben nguồn gốc tổng hợp
Lang ben chiếm tỉ lệ cao ở những xứ nhiệt đới cũng như trong quân đội, vì vậyviệc điều trị lang ben không chỉ tính đến chi phí mà còn phải tính đến thời gianmất cho việc điều trị Tuy bệnh lang ben lành tính có thể được điều trị dễ dàng,nhưng sự biến màu của da và sự tồn tại của vi nấm ở dạng men kéo dài trongnhiều tháng Các rối loạn da khác như viêm da tăng tiết bã, viêm nang lông cũngđược điều trị bằng các thuốc kháng nấm
Có nhiều thuốc được dùng trị các bệnh do Malassezia, tuy nhiên khó đánh giá
đúng giữa giá trị hoặc nguy cơ liên quan đến những chế phẩm này [136] Thuốcbôi ngoài được dùng cho hầu hết trường hợp Đường uống được chỉ định khi bệnhtái phát hoặc thuốc bôi ngoài không hiệu quả
Có thể xếp các thuốc dùng trị bệnh do Malassezia spp vào các nhóm sau đây:
Trang 341.2.1 Nhóm thuốc làm tiêu sừng, bong da
Antimycose: dung dịch cồn chứa acid benzoic, acid salicylic, acid boric được dùng
trị các bệnh ở da do nấm như lác, lang ben Thuốc gây kích ứng nhưng trị đượccác bệnh do nấm có hiệu quả
BSI (acid benzoic; acid salicylic; iod) được dùng như antimycose để trị các bệnh
ở da trong đó có lang ben
1.2.2 Nhóm thuốc làm giảm sự hoạt động của tuyến bã
Đây là nhóm thuốc có tác dụng kháng nấm, làm tiêu giải lớp sừng và ức chế sự
hoạt động của tuyến bã nhờn nên được dùng trong các bệnh viêm da tăng tiết bã,
gàu, lang ben [11],[14],[39]
Một số chế phẩm được sử dụng như: Selenium sulfid (dung dịch selsun 2,5%
selenium sulfid, dầu gội Selsun 1% selenium sulfid),Natri thiosulfat.
Nhược điểm của nhóm thuốc này là gây kích thích da, có mùi hôi, thời gian điềutrị lâu, đôi khi gây rụng tóc, gây viêm da
1.2.3 Nhóm kháng sinh kháng nấm
Thuốc kháng nấm thường được sử dụng hiện nay là các azol Đây là những chấtcó phổ kháng nấm rộng, có tác dụng ức chế C-14 demethylase làm cho lượngergosterol ở tế bào nấm giảm dần, giảm tính cứng rắn của tế bào nấm
Để điều trị lang ben và các bệnh da khác có liên quan đến Malassezia spp các
azol thường được dùng là ketoconazol, miconazol, econazol [19],[32],[35],[68],
[84] ở dạng kem bôi ngoài khi vết thương nhẹ, khu trú Dạng dầu gội được dùngcho trường hợp gàu và lang ben lan rộng
Ketoconazol, itraconazol, fluconazol dạng uống được dùng khi bệnh nặng, vết
thương lan rộng, dai dẳng hoặc không đáp ứng với thuốc dùng ngoài
Trang 351.3 Dược liệu trị các bệnh da do Malassezia spp gây ra
Dược liệu là nguồn phong phú chứa các hợp chất tự nhiên kháng vi sinh vật.Nhiều hợp chất từ dược liệu cho tác dụng kháng nấm như hợp chất phenolic,terpenoid và tinh dầu, alcaloid, peptid (defensin thực vật) [15],[73], với các cơchế tác dụng như ức chế enzym cần thiết cho sự sinh trưởng của vi nấm (tannin,flavonoid và acid phenolic ức chế chitin synthase II và III; phenolic trong tinhdầu ức chế glucan synthase) [34],[37], tương tác không chuyên biệt với proteinvà màng phospholipid của màng sinh chất vi nấm làm thay đổi tính thấm củamàng tế bào chất vi nấm (acid cinnamic, acid cafeic, catechol, albinyl cafeat,resvetratrol, 3,4’-difluorostilben) [105]; saponin kết hợp với sterol tạo thànhnhững lỗ hoặc kênh xuyên màng vì vậy làm thay đổi cấu trúc của màng tế bào vinấm [60]; các hợp chất chiết từ dược liệu khi phối hợp với kháng sinh kháng nấm(fluconazol) giúp các chất này thấm vào tế bào nấm đến đích tác động nhiều hơn[105] Hoặc phối hợp với nhau để tác dụng kháng nấm tăng (phối hợp giữa cao
chiết Cassia alata [anthraquinon, flavonoid, sterol] và Ocimum sanctum tăng tác dụng kháng Cryptococcus neoformans) [93]
Nhiều hợp chất chiết từ dược liệu đã được chiết xuất và chứng minh tác dụngkháng nấm trên nấm da, nấm men và nấm mốc Riêng dược liệu sử dụng để trịlang ben chủ yếu được dùng theo kinh nghiệm dân gian, chưa có nghiên cứu hệthống cũng như chưa được chứng minh bằng những thử nghiệm sinh học Các câythuốc liệt kê ở bảng 1.1 đã được dùng trị bệnh nấm da, lang ben theo kinhnghiệm dân gian hoặc được chứng minh có tác dụng kháng nấm Trong số cáccây này, cây Bông móng tay và Riềng nếp đã được nghiên cứu sàng lọc và nhậnthấy có tác dụng kháng vi nấm gây bệnh lang ben
Trang 36Bảng 1.1 Một số cây thuốc dùng trị bệnh lang ben và nấm da theo kinh nghiệm
dân gian
Việt Nam Thành phần chính
Tác dụngkháng nấm
-Candida, nấm da.
Thân rễ dùngngoài trị nấm da vàlang ben
Alpinia zerumbet (Pers)
Burtt et Sm
Zingiberaceae [27]
Riềng ấm Caryophyllen,
alpinetin,cardamomin
Lá tươi, hạt và rễdùng trị chấy, mụnnhọt, cái ghẻ, nấm
da và lang ben
Cassia alata Linn.
Fabaceae [29],[90]
Muồng trâu Anthraquinon:
chrysophanol, aloeemodin, rheinemodin
Kaempferol
Sitosterol
Lá tươi dùng ngoàitrị nấm da và langben
Cassia grandis L.
Caesalpiniaceae [27]
Centella asiatica (Linn)
Urban
Apiaceae [12],[90]
hydrocotylin,asiaticosid,centellosid
Kháng nấm, khángkhuẩn
Lá tươi trị lang benkháng viêm
Trang 37Dân gian sử dụngtinh dầu vỏ bưởi đểtrị da đầu bị gàuđóng vẫy.
Curcuma zedoaria Rose
Zingiberaceae [24]
Nga truật,Nghệ đen
Tinh dầu Nấm da, nấm men
Sả hồng Geraniol (75-90%) Candida,
nấm mốc, nấm da
Euleutherine subaphylla
Gagnep
Iridaceae [12]
Sâm đại hành Eleutherin Tác dụng tốt với
chốc đầu trẻ em,các bệnh ngoài da
Gleditschia fera (Lour.)
Merr Fabaceae [8], [3]
Bồ kết(tạo giáp, mankhét)
Saponin (gleditsiasaponin), flavonoid
Trị lở ngứa cónấm, làm sạch gàu,trẻ em chốc đầu,rụng tóc
Trang 38Candida, nấm mốc,
L-menthol (65-85%) Candida, nấm mốc
Nấm men,nấm da
Ocimum sanctum L.
Lamiaceae [93]
Hương nhu tía Eugenol, methyl
eugenol, thymol,citral
Nấm men,nấm da
Piper bettle L.
Pireraceae [8]
Trầu không Tinh dầu Lá trầu giả nát trị
bệnh da, viêmhạch bạch huyết
Plumbago zeylanica L.
Plumbaginaceae [129]
đốm trắng ở da
Polygonum odoratum
Lour
Polygonaceae [8]
tươi trị lang ben vànấm da
Rhinacanthus nasuta
(L.) Kurz
Acanthaceae [8]
Kiến cò,Bạch hạt
Rhinacanthin Rễ cây trị hắc lào,
Kháng nấm, khángkhuẩn, hoa đượcdùng trị lang ben
Candida, nấm mốc,
nấm da
Trang 391.3.1 Cây Bông móng tay (BMT)
Tên khác: cây Móng tay lồi, Bóngnước, Móc tai, Nắc nẻ, Phượng tiênhoa, Cấp tính tử
Tên khoa học: Impatiens balsamina L.
Họ: Bóng nước (Balsaminaceae)
Hình 1.6 Cây Bông móng tay trắng [141]
1.3.1.1 Đặc điểm thực vật của cây BMT
Cây BMT thuộc cây thảo, cao từ 30-80 cm Lá mọc so le, hình mác, đầu nhọn,mép răng cưa, dài 7-8cm rộng 2 cm - 2,5 cm Hoa xếp thành 1-4 cái mọc ở náchlá, lưỡng tính không đều Năm lá đài cùng màu với tràng, không đều, lá đài dướicó móng dài, hai lá đài bên rất rõ Hoa có 5 cánh to, dính nhau ở gốc, có 5 nhị,chỉ nhị ngắn, bao phấn dính sát nhau chung quanh nhụy, 5 lá noãn hợp thành bầuthượng 5 ô, mỗi ô đựng nhiều noãn Có nhiều loại BMT với màu hoa khác nhauhoa trắng, hoa đỏ, hoa tím hay hoa hồng Quả nang có lông, nứt thành 5 mảnhxoắn lại tung hạt đi xa
Ở nước ta, cây mọc hoang hoặc được trồng làm cảnh khắp nơi từ Bắc đến Nam.Thân, lá, hạt (cấp tính tử) và cành được dùng làm thuốc [4],[8]
1.3.1.2 Thành phần hóa học.
Trong cây BMT chứa các hợp chất chính sau đây:
- Naphthoquinon: 2-methoxy-1,4-naphthoquinon là hoạt chất chính cho tác
dụng kháng nấm và kháng khuẩn trong cây BMT Chất này được Xiaolong Yangvà cs chiết xuất với EtOH 95% Cao EtOH được lắc phân bố với dicloromethan,loại chlorophyl, cho qua cột sắc ký và xác định cấu trúc hoá học bằng 1H và 13C
Trang 40NMR [121] Chất này cũng được các tác giả khác chiết xuất với EtOH 50% [83],EtOH 35% [52].
Bảng 1.2 Một số hợp chất naphthoquinon có trong cây BMT
R1
R2 O
2,2’-ethylidenebis(3-hydroxy-1,4-
Dinaphthofuran-7,12-dion
Balsaminon A & Balsaminon B (vỏquả) [51]
- Hợp chất phenolic
Bảng 1.3 Một số hợp chất phenolic có trong cây BMT
R1
R2
− Scopoletin
O
CH3O O