1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu ý thức về bản sắc văn hóa việt nam trong lịch sử giai đoạn nửa sau thế kỉ xix đều thế kỉ xx

115 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 881,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong suốt quá trình phát triển lịch sử văn hoá Việt Nam, chắc chắn phải có những biểu hiện phong phú của sự nhận thức về bản sắc văn hoá dân tộc, nhất là trong giai đoạn lịch sử cuối th

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HOÁ HỌC



NGÔ THỊ THANH

TÌM HIỂU Ý THỨC VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG

LỊCH SỬ

GIAI ĐOẠN NỬA SAU THẾ KỈ XIX – ĐẦU THẾ KỈ XX

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HOÁ HỌC

MÃ SỐ: 60 31 70

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Văn Hiệu

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

****

Để hoàn thành tốt luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn hoá học, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các Thầy Cô Khoa Văn hoá học – Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn T.p Hồ Chí Minh đã nhiệt tâm truyền thụ kiến thức giúp tôi có nền tảng cơ bản thực hiện đề tài

Đặc biệt, tôi xin chân thành gửi đến Thầy Nguyễn Văn Hiệu và Cô Đinh Thị Dung lời cảm ơn sâu sắc vì Thầy

Cô đã tận tình chỉ dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn của mình

Sau cùng, xin cảm ơn những người bạn đã luôn nhiệt tình giúp đỡ và ủng hộ tôi trong suốt những năm học Cao học

Học viên

Ngô Thị Thanh

Trang 3

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Lịch sử vấn đề 6

4.1 Về lịch sử 6

4.2 Về tư tưởng 7

4.3 Về văn học 8

4.4 Về văn hoá 9

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 13

5.1 Phương pháp nghiên cứu 13

5.2 Nguồn tư liệu 14

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 14

6.1 Ý nghĩa khoa học 14

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 14

7 Bố cục của luận văn 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 16

1.1 Cơ sở lý luận 16

1.1.1 Về văn hoá 16

1.1.2 Về bản sắc văn hoá 21

1.1.3 Về giao lưu và tiếp biến văn hoá 24

1.2 Cơ sở thực tiễn 28

1.2.1 Tiền đề lịch sử - xã hội 28

1.2.2 Tiền đề văn hoá 30

CHƯƠNG 2: Ý THỨC VỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ GIAI ĐOẠN CUỐI THẾ KỈ XIX 39

2.1 Những nhận thức ban đầu 39

2.2 Bảo vệ những giá trị văn hoá dân tộc trước sự xâm nhập của nền văn hoá phương Tây 46

2.3 Ý thức về sự thay đổi trong quan hệ với nhận thức về văn minh 62

Trang 4

2

CHƯƠNG 3: Ý THỨC VỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ GIAI ĐOẠN ĐẦU THẾ KỈ XX 70

3.1 Nhận thức về bản sắc văn hoá dân tộc trong so sánh với văn hoá phương Tây 70

3.1.1 Sự nhìn nhận khách quan về văn hoá nước nhà 72

3.1.2 Ý thức tiếp thu những thành tựu văn hoá phương Tây 78

3.2 Ý thức tìm về cội nguồn văn hoá dân tộc 84

3.3 Ý thức xây dựng nền văn hoá nước nhà 88

3.3.1 Nhìn nhận lại những thành tố văn hoá ngoại lai trong quá trình giao lưu văn hoá 88 3.3.2 Ý thức xây dựng nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc 94

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ KHẢO SÁT 105

Trang 5

3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ý thức về bản sắc văn hoá là một trong những biểu hiện rõ nhất của quá trình

tự ý thức về nền văn hoá dân tộc Vì vậy, nghiên cứu một nền văn hoá nói chung, bản sắc văn hoá nói riêng, chúng ta không thể không đi sâu tìm hiểu quá trình ý thức về bản sắc của chính nền văn hoá đó

Việt Nam là một nước có lịch sử văn hoá lâu đời, có những thành tựu văn hoá đặc sắc Trong suốt quá trình phát triển lịch sử văn hoá Việt Nam, chắc chắn phải có những biểu hiện phong phú của sự nhận thức về bản sắc văn hoá dân tộc, nhất là trong giai đoạn lịch sử cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, giai đoạn thực dân Pháp xâm lược và dần đặt ách đô hộ lên toàn cõi Việt Nam Trước những biến chuyển xã hội mạnh mẽ đó, ý thức dân tộc đã được thể hiện rõ dưới nhiều sắc thái khác nhau Xét ở góc độ văn hoá, ý thức bản sắc văn hoá dân tộc trong giai đoạn lịch sử cận đại có một vai trò quan trọng, góp phần vào việc hình thành nền văn hoá dân tộc Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề nghiên cứu ý thức bản sắc văn hoá giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Nhằm góp phần nghiên cứu mảng đề tài có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực

tiễn này, tôi chọn đề tài “Tìm hiểu ý thức về bản sắc văn hoá Việt Nam trong lịch sử giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn

hoá học của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những biểu hiện cơ bản của ý thức về bản sắc văn hoá dân tộc giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX Qua đó, góp phần làm nổi rõ đặc điểm văn hoá dân tộc của giai đoạn nghiên cứu trong tiến trình văn hoá dân tộc Mặt khác, luận văn còn cho thấy quy luật tất yếu của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá của dân tộc

Trang 6

4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: đối tượng rộng mà luận văn nghiên cứu là văn hoá Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX; trong đó, đối tượng hẹp của luận văn là tập trung khảo sát một số nhân vật lịch sử có tính đại diện và những hiện tượng văn hoá tiêu biểu

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát những tư liệu thành văn vào những năm cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX Trong nguồn tư liệu thành văn, người viết sẽ tìm hiểu những phát biểu, những nhận định, những biểu hiện của người Việt Nam trong giai đoạn này trên bình diện ý thức Qua đó, vấn đề về ý thức bản sắc văn hoá của dân tộc giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX được thể hiện rõ

4 Lịch sử vấn đề

Giai đoạn lịch sử cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX là một trong những giai đoạn đặc biệt trong lịch sử văn hoá của dân tộc Bởi vì trong giai đoạn này, xã hội Việt Nam có nhiều biến chuyển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống dưới sự tác động của nền văn hoá phương Tây Vì vậy, đây là giai đoạn được các học giả quan tâm nghiên cứu trên nhiều bình diện

Trang 7

5

nước trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX Đây cũng là công trình cung cấp những tư

liệu và quan điểm chính trị đúng đắn

Nguyễn Văn Kiệm 2003: “Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại

Việt Nam” Đây là công trình được nghiên cứu theo hướng tập hợp những bài viết

về các sự kiện và nhân vật lịch sử của giai đoạn

Nguyễn Tiến Lực 2003: “Giới trí thức Việt Nam cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ

XX và Meji duy tân” Như tên gọi của đề tài, tác giả đã nghiên cứu sự ảnh hưởng

của phong trào duy tân Nhật Bản đối với các trí thức tiêu biểu của Việt Nam Từ đó,

tác giả phân tích, đánh giá và nêu lên hệ quả tác động của phong trào đối với giới trí

thức Việt Nam

Đinh Xuân Lâm (chủ biên) 2005: “Lịch sử Việt Nam, tập 2” Đây là công

trình sử học cung cấp những luận giải dựa trên quan điểm sử học có mối quan hệ

mật thiết với việc nghiên cứu đề tài

v.v…

Hiện nay, việc nghiên cứu về lịch sử cận đại vẫn còn nhiều vấn đề chưa được

giải đáp thấu đáo, nhất là về các nhân vật lịch sử Các vấn đề đó theo người viết thì

cần phải có sự góp sức từ phía các ngành khoa học khác, trong đó có ngành văn hoá

học

4.2 Về tư tưởng

Phan Trọng Báu 1994: “Giáo dục Việt Nam thời cận đại” Công trình nghiên

cứu hệ tư tưởng giáo dục Việt Nam trong giai đoạn thực dân Pháp đô hộ nước ta

Đóng góp của tác giả là đã nêu bật những nhận định mang tính khái quát về hệ tư

tưởng của xã hội Việt Nam trong giai đoạn đầy biến động này

Trần Đình Hượu 1996: “Đến hiện đại từ truyền thống” Công trình nghiên

cứu về hệ tư tưởng Nho giáo trong giai đoạn cận đại Như tác giả đã trình bày, “Đến

hiện đại từ truyền thống” sẽ nghiên cứu “chú ý đến mối quan hệ tương tác nhiều

Trang 8

6

chiều và có tính quy luật, cách nhìn tổng quát theo bình diện văn hoá, vị trí của ý thức hệ sẽ được xác định đúng hơn” [Trần Đình Hượu 1996: 18] Công trình đã cung cấp cho người viết một cái nhìn tổng thể về Nho giáo của giai đoạn

Nguyễn Văn Kiệm 2000: “Sự du nhập của Đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX” Đây là công trình nghiên cứu quá trình phát

triển của Thiên Chúa giáo ở Việt Nam Trong đó, tác giả cho thấy sự ảnh hưởng của các giáo sĩ thừa sai đối với sự xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam và chính sách của triều Nguyễn đối với đạo Thiên Chúa trong bối cảnh trên

v.v…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về tư tưởng đã có nhiều đóng góp trong việc làm sáng rõ hệ tư tưởng của giai đoạn lịch sử cận đại

4.3 Về văn học

Có thể nói, đề tài nghiên cứu văn học giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ

XX đa dạng và phong phú Điển hình là các công trình của những học giả sau:

Phan Cự Đệ 1997: “Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945)” Đây là

công trình nghiên cứu về văn học lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945 Tác giả đã nêu bật hoàn cảnh lịch sử xuất hiện phong trào văn học lãng mạn, quan điểm nghệ thuật, những thành tựu và hạn chế của dòng văn học này

Phạm Thế Ngữ 1997: “Việt Nam văn học sử giản yếu tân biên, tập 3” Đây

là công trình cung cấp tổng quan về diện mạo văn học Việt Nam trong giai đoạn

1862 đến năm 1945 Trong công trình này, tác giả đã giới thiệu thật cụ thể về lịch

sử văn học và một số tác gia có ảnh hưởng tiêu biểu

Trần Đình Hượu – Lê Chí Dũng 1996: “Văn học Việt Nam 1900 – 1930”

Trong công trình này, tác giả đã tập hợp nghiên cứu và khảo sát các tác phẩm cùng những tác gia tiêu biểu của giai đoạn đầu thế kỉ XX Qua đó, tác giả cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình hình văn học trong 20 năm đầy biến động nhất của xã hội Việt Nam

Trang 9

v.v…

Xét về tổng thể, nền văn học nước nhà trong giai đoạn cận đại phát triển và đạt được những thành tựu rực rỡ Vì vậy, hiện nay, mảng nghiên cứu văn học giai đoạn này thu hút sự quan tâm của khá nhiều học giả Do đó, các công trình nghiên cứu có liên quan có thể kế thừa những thành tựu nghiên cứu về văn học giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX

4.4 Về văn hoá

Cũng như mảng nghiên cứu văn học, có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá với quy mô nghiên cứu rộng hẹp khác nhau, tất cả ít nhiều đề cập đến văn hoá giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX Tiêu biểu có thể kể đến những công trình sau:

Phan Ngọc 1998: “Bản sắc văn hoá Việt Nam” Trong công trình này, tác

giả Phan Ngọc đã lý giải bản sắc văn hoá Việt Nam bằng bốn thành tố văn hoá: tổ quốc, gia đình, thân phận, diện mạo Bốn thành tố này đã chi phối và giữ vai trò chủ đạo trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá nói chung và trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá Đông - Tây nói riêng

Mai Ngọc Chừ 1999: “Văn hoá Đông Nam Á” Đây là công trình nghiên cứu

văn hoá Đông Nam Á dựa trên sự phân chia theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể Văn hoá giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX ở Đông Nam Á được tác giả đề cập ở mọi lĩnh vực của từng quốc gia, trong đó có Việt Nam

Trần Ngọc Thêm 2004: “Bản sắc văn hoá Việt Nam” Có thể nói, đây là

công trình nghiên cứu lý luận văn hoá mang tính toàn diện về nền văn hoá Việt

Trang 10

8

Nam dựa trên đặc tính loại hình Trong công trình này, tác giả đã phân định hệ thống những ảnh hưởng của xã hội Việt Nam khi tiếp xúc với nền văn hoá phương Tây dưới góc nhìn văn hoá học

Đỗ Lai Thuý 2005: “Văn hoá Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hoá” Công

trình nghiên cứu diện mạo con người Việt Nam trong quá trình giao lưu văn hoá, trong đó có giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX trong mối giao lưu với nền văn hoá phương Tây Tác giả đã khẳng định: “Lớp văn hoá phương Tây đã có những đóng góp to lớn cho văn hoá Việt Nam… giúp người Việt phát triển được ý thức cá nhân” [Đỗ Lai Thuý 2005: 64,65]

XX Vì vậy, để khảo sát đề tài một cách thấu đáo, ta phải kể đến những công trình sau:

Trần Văn Giàu 1975: “Sự phát triển tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỉ XIX đến Cách Mạng tháng Tám” Đây là công trình nghiên cứu về ý thức hệ tư tưởng ở Việt

Nam trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX Tác giả đã đi sâu vào phân tích những nguyên nhân làm cho xã hội Việt Nam rơi vào sự thống trị của thực dân Pháp, ý thức về bản sắc văn hoá của một thế hệ người vào những năm cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX Tuy nhiên, công trình được soi rọi dưới góc nhìn sử học Có thể lấy câu nói sau của tác giả để chứng minh cho mục đích nghiên cứu của công trình: “Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó trước các nhiệm vụ lịch sử, tác giả không bàn một lượt đến cả hai hệ ý thức tư sản và vô sản mà chỉ chuyên bàn về hệ ý

Trang 11

9

thức tư sản, các dạng của nó, các biểu hiện của nó, sự chuyển biến của nó trong

ngót thế kỉ” [Trần Văn Giàu 1975: 7]

Bằng Giang 1998: “Văn học Quốc ngữ ở Nam kì 1865 – 1930” Đây là một

công trình tập hợp phân tích và khái quát những diễn biến của giai đoạn mà tác giả

nghiên cứu dựa trên những tư liệu phong phú Công trình đã cung cấp một số khía

cạnh của ý thức về bản sắc văn hoá trong buổi đầu hình thành chữ Quốc ngữ và nền

văn học Quốc ngữ Trước thực trạng đất nước thời bấy giờ, “Bảo vệ tiếng nói, giữ

được bản sắc dân tộc, không bị đồng hoá theo người, dân tộc khác, Tàu hay Tây,

tức ta còn là ta, người Việt Nam Chủ trương về một thứ “tiếng An Nam ròng”

trong câu văn xuôi Quốc ngữ ở Nam kì từ thuở Tây qua cũng là nằm trong ý thức

bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc…” [Bằng Giang 1998: 355]

Chương Thâu 1997: “Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn

hoá đầu thế kỉ XX” Trong công trình này, tác giả nhận thức rõ vị trí lịch sử, nhiệm

vụ của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục cũng như ý thức bản sắc văn hoá của họ

trước thực trạng đất nước bị giặc ngoại xâm: “Đông Kinh Nghĩa Thục đã thể hiện

tinh thần ý chí tự lập, tự cường, kiên quyết đứng lên chống mọi sự nô dịch của kẻ

thù xâm lược, xây dựng một đất nước độc lập, giàu mạnh”

[Chương Thâu 1997: 108]

Nguyễn Văn Hiệu 2002: Luận án “Quá trình nghiên cứu, giới thiệu văn học

Trung Quốc ở Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX” nêu lên những biểu hiện

của ý thức về bản sắc văn hoá dân tộc qua việc khảo cứu quá trình dịch thuật văn

học Trung Quốc ở Việt Nam trong lịch sử cận đại Mảng nghiên cứu về dịch thuật

này đã lý giải ý thức về bản sắc văn hoá Việt Nam đối với Trung Quốc Đặt vấn đề

khảo sát dịch thuật văn chương giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến năm 1945 trên bình

diện ý thức văn hoá, tác giả vừa muốn thu hẹp diện khảo sát, vừa muốn góp một

góc nhìn về vai trò của phiên dịch văn chương, nhất là về vai trò của trí thức dân tộc

trong hoạt động dịch thuật văn chương gắn với ý thức xây dựng một mô hình văn

hoá mới nói chung, mô hình văn học mới nói riêng

Trang 12

10

Vĩnh Sính 2000: “Việt Nam và Nhật Bản – Giao lưu văn hoá” Trong công

trình này, tác giả lý giải sự khác biệt giữa Việt Nam và Nhật Bản khi tiếp xúc với nền văn hoá phương Tây thời cận đại Xuất phát từ những nguyên nhân khách quan

mà Việt Nam “vô thức hay ý thức” ảnh hưởng Trung Quốc Điều này cũng lý giải vì sao “vào giữa thế kỉ XIX, vua quan và sĩ phu nước ta vẫn trông cậy vào sự giúp đỡ của “thiên triều”, chứ không ý thức được rằng trật tự thế giới ở Đông Á lúc bấy giờ đang có những biến chuyển sâu sắc” [Vĩnh Sính 2000: 27] Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở việc tìm ra nguyên nhân khiến cho Việt Nam và Nhật Bản khác nhau trong việc tiếp xúc với văn hoá phương Tây từ cội nguồn là hai nền văn hoá đồng văn, chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc

Đoàn Lê Giang 2001: “Những rạn nứt trong quan hệ văn học trung đại nửa cuối thế kỉ XIX” Đây là một đề tài nghiên cứu và khảo sát văn học giai đoạn cuối

thế kỉ XIX, trong đó, tác giả đã nêu lên ý thức đổi mới trong văn học ở thời kỳ có sự chuyển biến giữa ý thức văn hoá trung đại và ý thức văn hoá cận đại

Nguyễn Kim Anh 2004: “Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX” Có thể nói, đây là công trình mang tính tổng quan về toàn bộ tình hình của

tiểu thuyết trong giai đoạn nói trên Tác giả đã tổng hợp và đưa ra nhận định về các nhà văn Nam Bộ lúc bấy giờ: “Tuy vẫn chịu ảnh hưởng của lối viết truyền thống nhưng các nhà văn Nam Bộ đã có ý thức về việc hướng ngòi bút của mình vào những lối viết mới dưới ảnh hưởng của văn học phương Tây” [Nguyễn Kim Anh 2004: 69] Đó cũng chính là ý thức xây dựng nền văn học chữ Quốc ngữ trong buổi giao thời này

Mã Giang Lân 2005: “Những cuộc tranh luận văn học nửa đầu thế kỉ XX”

Đây là công trình làm nổi rõ những cuộc tranh luận về tư tưởng nửa đầu thế kỉ XX Tác giả cho rằng: “Dù thuộc hệ tư tưởng nào, ở hoàn cảnh xã hội, chính trị, kinh tế Việt Nam đầu thế kỉ XX, người dân thể hiện rõ ý thức tự do, đòi được tự do” [Mã Giang Lân 2005: 16] Có thể thấy, ý thức tự do là sự biểu hiện tất yếu của ý thức về độc lập dân tộc trong giai đoạn này

Trang 13

11

Nhìn chung, việc nghiên cứu về văn hoá Việt Nam giai đoạn lịch sử cận đại cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt Sự kế thừa những thành quả nghiên cứu ở từng mảng nghiên cứu nói trên đã giúp cho người viết có những tư liệu bổ ích và một hướng nhìn trong nghiên cứu Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu về ý thức bản sắc văn hoá giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX vẫn chưa được khảo sát một cách công phu và có hệ thống

Do vậy, việc tìm hiểu ý thức về bản sắc văn hoá Việt Nam giai đoạn cuối thế

kỉ XIX - đầu thế kỉ XX là một đề tài mang tính khoa học và thực tiễn

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Về quan điểm nghiên cứu: Chúng tôi nghiên cứu dựa trên quan điểm lịch sử

- cụ thể Bên cạnh đó, chúng tôi vận dụng lý luận giao lưu và tiếp biến văn hoá trong khi tiếp cận đề tài

Về mặt phương pháp: Chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp hệ thống cấu trúc: Việc sử dụng phương pháp này giúp chúng tôi nhìn nhận văn hoá của giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX trong tổng thể nền văn hoá Việt Nam

- Phương pháp lịch sử: Đây là phương pháp khảo sát đề tài có hệ thống theo trình tự thời gian nhằm tìm ra những đặc điểm xuyên suốt và mang tính nổi bật

về văn hoá của giai đoạn

- Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp làm nổi rõ những đặc điểm của nền văn hoá Việt Nam trong giai đoạn nói trên Phương pháp này giúp cho việc nghiên cứu không đi vào những nhận định chủ quan và mang tính chất võ đoán

Ngoài ra, trên quan điểm liên ngành trong nghiên cứu văn hoá, chúng tôi còn vận dụng nhiều thành tựu của các ngành khoa học khác như: thành tựu của ngành dân tộc học, triết học, văn học, sử học,…

Trang 14

12

5.2 Nguồn tư liệu

- Các bộ chính sử;

- Các tư liệu thơ văn;

- Các công trình nghiên cứu có liên quan;

- Các sách lý luận chung về văn hoá;

- Bên cạnh việc khảo sát trên, luận văn còn góp thêm một phần nhỏ vào việc nghiên cứu bản sắc văn hoá dân tộc Qua đó, luận văn còn cho thấy những đặc điểm nổi bật của tiến trình vận động và phát triển của ý thức văn hoá dân tộc

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Thực hiện nghiên cứu đề tài này, luận văn nhằm đóng góp một phần vào việc củng cố tư liệu cho các nghiên cứu tiếp theo về bản sắc văn hoá Việt Nam Đồng thời, luận văn cũng góp phần làm tài liệu tham khảo cho những công trình nghiên cứu có liên quan

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tác giả tập trung làm sáng rõ những luận điểm về văn hoá và bối cảnh văn hoá lịch sử của giai đoạn làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài

Trang 15

và biểu hiện của ý thức về bản sắc văn hoá giai đoạn đầu thế kỉ XX đã được tác giả làm nổi rõ trong luận văn Bên cạnh đó, luận văn cũng góp phần nêu lên quá trình chuyển tiếp về ý thức của hai giai đoạn nói trên

*

Trang 16

Với định nghĩa trên, Tylor chưa phân biệt hai phạm trù khái niệm văn hoá và văn minh Ông chỉ định nghĩa văn hoá theo phương thức miêu tả đặc trưng Định nghĩa hầu như chỉ đề cập đến mặt tinh thần mà chưa đề cập đến khía cạnh vật chất của văn hoá Nhận thấy được một số điểm cần khắc phục của loại định nghĩa theo lối liệt kê miêu tả, một số học giả đã đưa ra định nghĩa văn hoá theo hướng phân tích Các học giả tiêu biểu cho loại định nghĩa này là L.White xem “Văn hoá là lớp vật thể và các hiện tượng phụ thuộc vào khả năng tượng trưng hoá của con người, được xem xét trong một văn cảnh” Riêng Aroeber và Cl Kluckhonhn thì cho rằng

“Văn hoá bao gồm những chuẩn mực, nằm ở bên trong lẫn biểu lộ ra bên ngoài, xác định hành vi ứng xử được tập nhiễm nhờ các biểu tượng; văn hoá xuất hiện nhờ hoạt động của con người trong khi đưa sự biểu hiện của nó vào các phương tiện (vật chất) Hạt nhân cơ bản của văn hoá gồm các tư tưởng truyền thống (được hình thành trong lịch sử), đầu tiên là những tư tưởng có giá trị đặc biệt Hệ thống văn hoá

Trang 17

ra định nghĩa mang tính toàn diện về văn hoá Hầu hết các định nghĩa chỉ nhấn mạnh đến một trong những thành tố của văn hoá Do đó, việc lý giải các hiện tượng văn hoá vì thế không bao quát được quy luật phát triển và tồn tại của nó

Tiêu biểu ta có định nghĩa của B K Malinowki (1884 – 1942): “Văn hoá bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị” [Dẫn theo Mai Văn Hai 2003: 18] Đây là định nghĩa dựa trên những thuộc tính ổn định của văn hoá Nó nhấn mạnh đến tính lịch sử của văn hoá Ngược lại với B K Malinowki, C.W Wissler định nghĩa văn hoá thiên về những chuẩn mực văn hoá, ông quan tâm đến tính giá trị và sự khác biệt ở mỗi nền văn hoá nhưng lại không chú trọng đến tính lịch sử của nó Ông cho rằng: “Lối sống mà một công xã hay bộ lạc tuân thủ được gọi là văn hoá” [Dẫn theo Mai Văn Hai 2003: tr 18] Bên cạnh

đó, một số học giả quan tâm đến tâm lý học dân tộc, họ đã dựa vào cơ sở tâm lý con người để lý giải các hiện tượng văn hoá trên thế giới Với loại định nghĩa này, các học giả đã bỏ qua những điều kiện địa lý, môi trường sống tác động lên con người

Họ quan niệm “Nhờ sự thống nhất về nguồn gốc và phương diện cư trú các cá thể của một dân tộc đều mang dấu vết thuộc bản chất đặc biệt của dân tộc ấy, thể hiện trên thân thể và tâm hồn của họ, tại đây tác động của những ảnh hưởng cơ thể lên tâm hồn đã gây ra thiên tư sắc sảo, xu hướng, tố chất, các thuộc tính tinh thần, thường là như nhau ở mọi cá thể, do đó mọi người đều sở hữu một tinh thần dân tộc Tinh thần dân tộc được quan niệm như là sự giống nhau về tâm lý giữa những

cá thể, cùng sở thuộc vào một dân tộc và đồng thời nó biểu hiện như là sự tự ý thức của họ” [Dẫn theo A.A.Belik 2000: tr.73] Dựa vào cơ sở đó, những nhà nghiên cứu

Trang 18

16

theo trường phái này định nghĩa văn hoá như sau: “Văn hoá như là thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ tự nhiên và xã hội và như là vai trò của con người trong vũ trụ ấy” [Victor C Ferskiss 1974: 157] Khác với các học giả theo trường phái tâm lý học, nhà xã hội học J Fichter quan niệm “Văn hoá là hình thái toàn diện của hệ thống thể chế (chính trị, kinh tế, gia đình, giáo dục, tín tưởng và giải trí) mà con người có cùng chung trong xã hội” [J.H.Fichter 1974: 162] Trong định nghĩa này, J Fichter đặc biệt quan tâm đến cấu trúc xã hội của văn hoá Tuy nhiên, việc quan tâm đến cấu trúc xã hội văn hoá sẽ dễ dàng bỏ qua những yếu tố đặc trưng của

văn hoá Bởi nghiên cứu văn hóa dưới góc độ xã hội có nghĩa là nghiên cứu sự phát

triển của văn hoá như một mảng hoạt động trong đời sống xã hội

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu dựa trên tính lịch sử, tính giá trị, nguồn gốc, tâm lý,…hình thành nên nền văn hoá của mỗi dân tộc Mỗi định nghĩa thể hiện cho một tiêu chí nghiên cứu của mỗi ngành khoa học khác nhau Trước sự đa dạng về định nghĩa văn hoá, nhằm tạo sự thống nhất trong nghiên cứu, UNESSCO đã đưa ra định nghĩa mang tính tổng quát Trong định nghĩa này, UNESSCO đặc biệt nhấn mạnh đến tính riêng biệt của mỗi nền văn hoá nhưng vẫn đảm bảo nội hàm của định nghĩa về văn hoá mà các tác giả đã đề cập Vào năm 1970, tại Venise, cộng đồng quốc tế đã chấp nhận định nghĩa về văn hoá của UNESSCO như sau: “Đối với một

số người, văn hoá chỉ bao gồm những kiệt tác trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động” [Dẫn theo Phạm Đức Dương 2001: 51]

Xét về việc nghiên cứu văn hoá học ở Việt Nam, với sự kế thừa những thành tựu nghiên cứu về văn hoá học thế giới nói trên, Đào Duy Anh là học giả đầu tiên đưa ra ý niệm về văn hoá: “Người ta thường cho rằng văn hoá chỉ là những học thuật tư tưởng loài người, nhân thế mà xem văn hoá có tính chất cao thượng đặc biệt Thực ra không phải là như vậy Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hoá, nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cùng hết

Trang 19

17

thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải ở trong phạm vi văn hoá hay sao? Hai tiếng văn hoá chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hoá tức là sinh hoạt” [Đào Duy Anh 2000: 13]

Tuy nhiên, việc nghiên cứu lý luận về văn hoá ở Việt Nam vẫn chưa thật sự phát triển, ngành văn hoá học đã áp dụng những thành quả nghiên cứu của văn hoá học thế giới, điều đó đã mang lại cho ngành văn hoá học Việt Nam những bước đi đúng Trước tình hình thực tế của nền văn hoá, ngành văn hoá học Việt Nam vẫn phải tìm một công cụ lý luận phù hợp với việc nghiên cứu văn hoá dân tộc Trần Quốc Vượng nhận định “Môn nghiên cứu tộc người đã được phương Tây khai thác trong công cuộc khám phá và chinh phục thổ dân miền đất mới, mở rộng thị trường,

và có thể, cả trong việc kích thích mâu thuẫn sắc tộc ở các quốc gia độc lập Vào thời hiện đại, các nước phương Tây đi từ “tộc người học” đến “nhân học”, ít chú ý đến văn hoá quốc gia - dân tộc, thậm chí, vấn đề bản sắc dân tộc gắn với độc lập quốc gia có vẻ như không thích hợp với chiến lược toàn cầu hoá Trong khoa học phương Tây, văn hoá là nội dung cơ bản của “xã hội học” Từ lâu, giới khoa học Việt Nam đã nhận thấy “Chúng ta còn thiếu hẳn việc xây dựng một khung cảnh khái niệm và những công cụ lý luận phân tích và tổng hợp, để áp dụng vào việc nghiên cứu văn hoá Việt Nam dù là dưới nhãn quan đồng đại hay dưới nhãn quan lịch đại” [Trần Quốc Vượng 2000: 94]

Như vậy, việc áp dụng phương pháp nghiên cứu văn hoá phương Tây vào trong nền văn hoá Việt Nam vẫn có những điểm chưa phù hợp, đòi hỏi người nghiên cứu phải có những cơ sở nghiên cứu để áp dụng vào thực tiễn nền văn hoá

Do đó, khi nghiên cứu đề tài, người viết dựa vào những quan điểm nghiên cứu của tác giả Trần Quốc Vượng và tác giả Trần Ngọc Thêm - những học giả xây dựng cơ

sở lý luận nghiên cứu văn hoá xuất phát từ đặc trưng của nền văn hoá Việt Nam - để khảo sát đề tài:

Trang 20

18

Theo Trần Quốc Vượng “Cái văn hoá là sự biến đổi cái tự nhiên của từng cộng đồng người nhất định Văn hoá là sự phản ứng, sự chế ngự, sự trả lời của một cộng đồng người trước những thách đố của mọi cái gì tự nhiên (kể cả môi trường tự nhiên lẫn cái được gọi là bản năng tự nhiên của con người) Văn hoá là lối sống (Way of life) của một cộng đồng người, là thế ứng xử tập thể (hay công thể) (comportment collectif) của một cộng đồng người, của một xã hội, là tổng số những đồng nhất thể (identités) của các thành viên về các phương diện nhận thức, quan niệm, chuẩn mực, biểu tượng và hệ thống các giá trị… Văn hoá, hiểu như vậy thì vừa có mặt bao la (toàn bộ các thành tựu của con người) vừa có mặt chặt chẽ (phản ứng tập thể của từng cộng đồng người, do đó có nhiều loại hình văn hoá khác nhau)” [Trần Quốc Vượng 1981: 151, 159]

Dựa vào định nghĩa trên, người viết nhận thấy tác giả Trần Quốc Vượng đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Đặc biệt, ông chú trọng đến mặt xã hội của con người trong quá trình nghiên cứu văn hoá Vì vậy, các nhà nghiên cứu cần tiếp cận nền văn hoá Việt Nam cả về phương diện lịch đại lẫn đồng đại Bởi với sự kết hợp như thế, người nghiên cứu sẽ có một cái nhìn toàn diện, tránh việc áp dụng cái nhìn chủ quan trong khi lý giải những biểu hiện của bản sắc văn hoá trong giai đoạn có nhiều biến động này

Đi liền với việc kế thừa những quan niệm trên, người viết còn căn cứ vào cơ

sở nghiên cứu về văn hoá của tác giả Trần Ngọc Thêm Từ nguyên lý gốc của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước, ông đã có sự khái quát hoá cao nền văn hoá Việt Nam soi rọi dưới quan niệm “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”

[Trần Ngọc Thêm 2004: 25] Như vậy, văn hoá bao gồm các thành tố không thể thiếu như: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh Trong luận văn nghiên cứu, người viết đã dựa trên những cơ sở đó để ứng dụng vào việc thực hiện

đề tài:

Trang 21

- Thứ ba là tính lịch sử của văn hoá Trong thuộc tính này, người viết đặc biệt chú ý đến tính giáo dục của văn hoá Xét trong mối tương quan với đề tài, người viết nhận thấy ý thức giáo dục là một trong những cơ sở góp phần hình thành nên ý thức về bản sắc văn hoá của dân tộc

1.1.2 Về bản sắc văn hoá

Theo các nhà nghiên cứu văn hoá, bản sắc văn hoá dân tộc là những giá trị văn hoá mang tính đặc trưng, cốt lõi của một nền văn hoá Bản sắc văn hoá dân tộc hình thành trong những điều kiện xã hội, lịch sử và không gian nhất định Nhà nghiên cứu văn hoá Minh Chi cho rằng: “Bản là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một sự vật Sắc là biểu hiện ra ngoài Nói bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của dân tộc Việt Nam” [Dẫn theo Lê Ngọc Trà 2001: 13] Và hơn thế nữa, bản sắc văn hoá dân tộc là những nét văn hoá tiêu biểu thể hiện chính nền văn hoá đó trong mối quan hệ so sánh với nền văn hoá khác Chẳng vì thế mà Trần Đình Hượu cho rằng:

“Đặc sắc dân tộc của văn hoá làm cho mỗi dân tộc hiện ra với những nét độc đáo, phân biệt với dân tộc khác” [Trần Đình Hượu 1996: 235]; Tương tự như thế Zdzislaw Mach cũng khẳng định: “Bản sắc tộc người được xác định trong khuôn khổ của sự thống nhất văn hoá và được dựa trên sự tự xác định trên nền tảng của những đặc trưng văn hoá của một tộc người trong thế đối lập với những đặc trưng của tộc người khác” [Zdzislaw Mach 1993: 12]

Trang 22

20

Cũng như khái niệm về văn hoá, khái niệm về bản sắc văn hoá vô cùng đa dạng, có nhiều góc độ lý giải khác nhau, vì vậy, sẽ còn rất nhiều định nghĩa của các nhà văn hoá về bản sắc văn hoá Tuy nhiên, các định nghĩa bản sắc văn hoá về cơ bản vẫn xoay quanh những vấn đề trên

Vấn đề là khi áp dụng vào nghiên cứu bản sắc văn hoá Việt Nam, người nghiên cứu phải kết hợp nhiều góc nhìn, phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Bởi vì, nghiên cứu bản sắc văn hoá là nghiên cứu nhiều mặt của một nền văn hoá

Có thể nói, xét về phương pháp nghiên cứu, nhóm tác giả Trompenaars, Fons; Hampden-Turner, Charles đã xuất phát từ quan niệm xem “văn hoá không phải là một “vật”, một chất mà là được tạo nên bởi quan hệ tương tác của con người” Từ đó, bản sắc văn hoá được nghiên cứu “mỗi nền văn hoá đều tự phân biệt

nó với các nền văn hoá khác bằng cách lựa chọn những phương án giải quyết riêng đối với tình huống khó xử” [Trompenaars, Fons; Hampden-Turner, Charles 1997]

Cùng với quan niệm đó, nhà nghiên cứu Phan Ngọc cũng nhấn mạnh nhiều đến vấn

đề thao tác luận trong nghiên cứu (cách tiếp cận hoạt động với văn hoá) Ông cho rằng, “Nói đến bản sắc văn hoá là nói đến cái mặt bất biến của văn hoá trong quá trình phát triển của lịch sử” [Phan Ngọc 2004: 32] Ông lý giải, “Văn hoá là một quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng với thế giới thực tại Quan hệ

ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân, so với một tộc người khác, một cá nhân khác Nét khu biệt các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hoá khác nhau là độ khúc xạ Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác” Như vậy, nghiên cứu bản sắc văn hoá của bất kỳ một dân tộc nào thì chúng ta phải nghiên cứu độ khúc xạ và các kiểu lựa chọn của dân tộc đó [Dẫn theo Lê Ngọc Trà 2001: 60, 63]

Bên cạnh cách tiếp cận trên, một số học giả thiên về cách tiếp cận theo hệ giá trị Trong cách tiếp cận này, người nghiên cứu chú trọng đến những thành tựu mà

Trang 23

21

xã hội đạt được N.D.Travtratde đã khẳng định: “Văn hoá được xem xét như sự thống nhất toàn bộ những cái mà ở đó các giá trị đã được mọi người (nhân loại, nhóm, giai cấp, dân tộc…) thừa nhận và được thực hiện hoá vào đó, còn giá trị là tất

cả những cái mà mọi người mong muốn tới nó như tới mục đích hay được xem xét như phương tiện để đạt mục đích” [Nguyễn Huy Hoàng 2000: 27] Ở Việt Nam, tiêu biểu ta có Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Hồng Phong, Hà Văn Tấn… nghiên cứu bản sắc văn hoá dân tộc dưới góc độ giá trị học Nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn xem “Bản sắc văn hoá là những nét văn hoá riêng làm thành hệ giá trị được một dân tộc chấp nhận, được xem như phù hợp và thích hợp, được đem vào vận hành nhằm thoả mãn nhu cầu sống và phát triển của dân tộc mình trong nền cảnh lịch sử tương ứng” Tuy nhiên, theo ông, “nói giá trị ở đây, ta không hề dùng khái niệm đó theo nghĩa giá trị học (axilogic), nghĩa là tiến bộ hay không tiến bộ, theo nhận thức chủ quan của chúng ta Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hoá riêng gồm những giá trị phù hợp với nó, kể cả những giá trị trung tính” [Hà Văn Tấn 2005: 153] Mặc dù việc nghiên cứu bản sắc văn hoá dân tộc nhất thiết phải gắn liền với việc nghiên cứu những giá trị văn hoá của dân tộc nhưng khi áp dụng vào việc nghiên cứu bản sắc văn hoá Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, phương pháp này dễ dẫn đến cái nhìn chủ quan khi so sánh với hệ giá trị văn hoá của dân tộc khác

Nhìn chung, việc nghiên cứu bản sắc văn hoá của dân tộc còn có thể áp dụng rất nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Điều cốt yếu là việc sử dụng các phương pháp đó phải đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu về bản sắc văn hoá và nêu bật được những đặc trưng văn hoá cốt lõi của người Việt Nam Với tiêu chí đó, người viết cũng đã vận dụng phương pháp nghiên cứu bản sắc văn hoá của nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng và Trần Ngọc Thêm làm cơ sở khảo sát đề tài

Theo Trần Quốc Vượng, xuất phát từ việc tiếp cận bản sắc văn hoá theo thuyết Địa văn hoá – Địa lịch sử, ông đặc biệt quan tâm đến những nguyên lý gốc của nền văn hoá Việt Nam Vì vậy, khi nghiên cứu bản sắc văn hoá, ông đã đặt nền văn hoá Việt Nam trong bối cảnh văn hoá Đông Nam Á Với cách tiếp cận này, ông

Trang 24

22

chứng minh nền văn hoá Việt Nam khởi thủy từ nền văn hoá bản địa Đông Nam Á Ông lý giải, do điều kiện địa lý, nhân chủng, văn hoá Việt Nam trong giai đoạn trước đây thuần Đông Nam Á chứ không phải cùng gốc với nền văn hoá Trung Hoa Nhìn nhận tiến trình phát triển của nền văn hoá Việt Nam, ông đã sơ đồ hoá theo

mối tương quan: “Truyền thống văn hoá - Đan xen văn hoá - Đổi mới văn hoá” Văn hoá Việt Nam phát triển theo quy luật “Truyền thống phải đi quanh qua ngả

giải thể và đan xen văn hoá rồi mới qua sàng lọc, tổng hợp mà đi lên đổi mới Đó là

số phận lịch sử của văn hoá Việt Nam cổ truyền” [Dẫn theo Hồ Liên 2007] Nguyên

lý trên đã nêu lên quy luật tất yếu của quá trình phát triển văn hoá dân tộc Nó là kết quả kiểm chứng rất hữu hiệu trong quá trình nghiên cứu bản sắc văn hoá Việt Nam

Bên cạnh việc tiếp cận theo hướng nghiên cứu trên, trong quá trình nghiên cứu ý thức bản sắc văn hoá dân tộc, người viết còn đặc biệt chú ý đến sự thống nhất trong đa dạng trong khi nghiên cứu văn hoá Việt Nam Bởi “có ý thức quốc gia, mà cũng có tâm lý tộc người Có cái chung mà cũng có cái riêng trong cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam Khi tiếp cận vấn đề văn hoá Việt Nam chúng ta cần nhận thức nó như một phức thể thống nhất trong đa dạng”[Trần Quốc Vượng 2000: 25]

Cũng như tác giả Trần Quốc Vượng, tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng bản sắc dân tộc “Đó là những giá trị đặc sắc cơ bản được lưu truyền trong lịch sử, là cái tinh hoa bền vững của nó” [Dẫn theo Lê Ngọc Trà 2001: 293]… Công trình Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam là một cách minh chứng đầy đủ nhất của ông về bản sắc

văn hoá Bản sắc văn hoá Việt Nam được quy định bởi môi trường sống với ba đặc điểm cơ bản nhất đó là: xứ nóng, môi trường sông nước, nơi giao nhau của các nền văn minh Từ ba đặc điểm này, ông đã chứng minh qua những sự kiện lịch sử hình thành nên bản sắc văn hoá của dân tộc Nó biểu hiện qua lớp văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức cộng đồng ngay cả trong đời sống tập thể và đời sống cá nhân, lớp văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội

Trang 25

23

Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu bản sắc văn hoá Việt Nam, ông nhấn mạnh: “Việt Nam nằm ở vị trí ngã ba đường và trong hàng nghìn năm” nhưng bản sắc văn hoá dân tộc được hình thành từ nền văn hoá nông nghiệp lúa nước điển hình như: Tính cộng đồng và tính tự trị; Lối sống trọng tình (tình cảm, tình nghĩa); Lối tư duy tổng hợp và trọng quan hệ; Tính linh hoạt; Khuynh hướng ưa hài hoà) vẫn luôn

là những đặc trưng văn hoá gốc, nó giữ vai trò chi phối sự hình thành và phát triển văn hoá dân tộc Khi nhìn nhận bản sắc văn hoá Việt Nam theo lý thuyết loại hình như trên, tác giả đã phân tích và nghiên cứu nền văn hoá Việt Nam dưới cái nhìn toàn diện Điển hình là trong lớp giao lưu với văn hoá phương Tây, tác giả đã cho thấy những mặt tích cực và những mặt hạn chế do những yếu tố văn hoá gốc của nền văn minh nông nghiệp mang lại một cách khách quan Vì vậy, khi thực hiện đề tài, người viết cũng vận dụng phương pháp này vào công trình nghiên cứu, tránh cái nhìn chủ quan xem bản sắc văn hoá dân tộc như một sự vật hiện tượng mang tính bất biến

Hơn nữa, dựa vào lý thuyết nghiên cứu loại hình nói trên, người viết có thể chú trọng những yếu tố văn hoá gốc của dân tộc khởi thủy từ khu vực Đông Nam Á

để có một cái nhìn hệ thống trong quá trình so sánh với giai đoạn trước và sau nó Điều đó góp phần tránh được thiên hướng nghiên cứu bản sắc văn hoá Việt Nam như một nhát cắt rạch ròi trong tiến trình lịch sử văn hoá dân tộc Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, việc nhìn nhận sự ảnh hưởng của nền văn hoá Trung Hoa lên nền văn hoá Việt Nam cũng được tách bạch rõ ràng hơn khi soi rọi dưới phương pháp nghiên cứu này Điều này giúp người viết tránh được những luận giải xem nền văn hoá Trung Hoa là nguồn ảnh hưởng duy nhất, tránh được xu hướng tự

ti, xu hướng xem văn hoá Việt Nam tiếp thu văn hoá phương Bắc một cách thụ động, là bản sao của nền văn hoá Trung Hoa Qua đó, người viết góp phần khẳng định bản sắc văn hoá dân tộc phát triển bền vững qua bao thế hệ

Trang 26

24

1.1.3 Về giao lưu và tiếp biến văn hoá

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều khẳng định bản sắc văn hoá dân tộc là những giá trị văn hoá mang tính đặc trưng, cốt lõi của một nền văn hoá Tuy vậy, bản sắc văn hoá dân tộc lại không phải là cái gì đứng yên, tĩnh tại Điều đó được chứng minh qua những biểu hiện cụ thể của bản sắc văn hoá trong tiến trình văn hoá dân tộc

Trong những hoàn cảnh nhất định, bản sắc văn hoá dân tộc luôn tiếp thu những yếu tố văn hoá mới trên cơ sở cái cốt lõi của mình Không có bản sắc văn hoá nào hoàn toàn tốt và ngược lại, vì vậy, việc nhận định các yếu tố về bản sắc văn hoá cần có một cái nhìn lịch sử cụ thể Bởi vì trong mỗi giai đoạn và phụ thuộc vào

hệ quy chiếu, bản sắc văn hoá dân tộc được nhìn nhận bằng những quan điểm khác nhau

Như vậy, ta có thể kết luận là không có bản sắc văn hoá nào mang tính tĩnh tại cũng như không có nền văn hoá nào hoàn toàn tự túc: “Không nên có một cái nhìn tĩnh tại và siêu hình đối với bản sắc dân tộc Cái gì sống đều thay đổi và phải thay đổi Bản sắc dân tộc cũng vậy” [Dẫn theo Lê Ngọc Trà 2001: 14]

Có thể nói, đặc tính trên của bản sắc văn hoá chỉ có thể nhận thấy được qua quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá Thật vậy, trong các cuộc giao lưu văn hoá ở Việt Nam, bản sắc văn hoá càng thể hiện rõ hơn Nhà nghiên cứu Cao Xuân Huy đã đưa ra hình ảnh nước như là một sự khái quát đặc tính tư tưởng của dân tộc Ông nhấn mạnh điều đó qua quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá: “Dân tộc ta đã thắng được cái hoàn cảnh thiên nhiên ác liệt ấy, đã thắng được cái sức đồng hoá kinh khủng của một dân tộc khổng lồ… là nhờ ở dân tộc ta có cái đặc tính mềm mại, uyển chuyển, linh hoạt, lưu động như nước…” [Dẫn theo Đỗ Lai Thúy 2005: 478]

Để nhấn mạnh đến bản sắc văn hoá dân tộc trong giao lưu văn hoá, nhà nghiên cứu

Đỗ Lai Thúy đã nhận định: “Nếu văn hoá Việt Nam mà cứ “bốn nghìn năm ta lại là ta” thì đến nay chúng ta chỉ có một mô hình văn hoá Đông Sơn Nhưng trên thực tế,

Trang 27

hàm của những từ này vẫn chưa mang đủ hàm nghĩa của một thuật ngữ khoa học

Vì vậy, hiện nay, để chỉ một quy luật trong sự vận động và phát triển văn hoá của các dân tộc, một “hiện tượng xảy ra khi những nhóm người (cộng đồng, dân tộc) có văn hoá khác nhau giao lưu tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi mô hình văn hoá

ban đầu của một hoặc cả hai nhóm”, người ta viện dẫn thuật ngữ acculturation

[Acculturation]

Hiện nay, thuật ngữ acculturation được các nhà nghiên cứu dịch ra thành các thuật ngữ khác nhau như: văn hoá hoá (Nguyễn Khắc Viện), đan xen văn hoá (Trần Quốc Vượng), tiếp biến văn hoá (Hà Văn Tấn), giao hoà văn hoá (Hoàng Ngọc Hiến)… Tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào đi chăng nữa, acculturation là quá trình tiếp nhận văn hoá bên ngoài và đòi hỏi dân tộc chủ thể phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố “nội sinh” và “ngoại sinh”

Như vậy, chính trong giao lưu và tiếp biến văn hoá, những yếu tố văn hoá đặc trưng nhất sẽ biểu hiện rõ và đóng vai trò điều tiết nền văn hoá Bản lĩnh văn hoá của dân tộc, hay nói một cách khác là bản sắc văn hoá của dân tộc trong những giai đoạn như vậy sẽ có một sự vận động nội tại để điều chỉnh quá trình tiếp nhận và sàng lọc những yếu tố văn hoá ngoại lai

Giao lưu và tiếp biến văn hoá chỉ được thể hiện tốt nhất bằng con đường hoà bình Bởi vì điều kiện then chốt để quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá đạt kết quả tốt là “tộc người tiếp nhận thấy rõ trong cuộc tiếp xúc này không chứa đựng âm mưu chính trị nào, không có súng đạn, lưỡi kiếm lấp ló đằng sau” [Phan Ngọc 2004: 134] Còn ngược lại, nếu văn hoá đi liền với gót giày xâm lược thì quá trình giao lưu văn hoá sẽ trở nên không bình thường Khi đó, dân tộc bị áp bức sẽ bị cưỡng

Trang 28

26

bức để tiếp nhận văn hoá Thông thường, quá trình giao lưu ấy được thể hiện theo quy luật sau: giai đoạn đầu dân tộc bị áp bức sẽ chống lại tất cả các thành tố văn hoá ngoại lai (có lúc cực đoan); giai đoạn thứ hai là bắt đầu tiếp thu và học tập cái hay của nền văn hoá ngoại lai; giai đoạn thứ ba là đổi mới văn hoá của mình trên cơ sở những đóng góp của nền văn hoá mới nhưng vẫn giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

Qua lý luận cho thấy, việc nghiên cứu bản sắc văn hoá trong giai đoạn cận đại là điều cần thiết Con đường giao lưu và tiếp biến văn hoá trong bối cảnh đất nước bị xâm lược chắc hẳn sẽ có nhiều vấn đề nảy sinh Và bản sắc văn hoá dân tộc

đã đóng vai trò chủ đạo và điều tiết quá trình giao lưu văn hoá ấy như thế nào đó chính là mục tiêu hướng đến của đề tài

Trên đây là những vấn đề có tính khái quát về bản sắc văn hoá của dân tộc trong lịch sử, nó là những tiền đề nghiên cứu của người viết trong quá trình thực hiện đề tài

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tiền đề lịch sử - xã hội

1.2.1.1 Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ cuối thế kỉ XIX đến những năm đầu thế kỉ XX có nhiều biến động Nó tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ lên nền văn hoá dân tộc Những sự kiện lịch sử trong giai đoạn này về cơ bản đã làm thay đổi nền văn hoá Việt Nam và làm thay đổi ý thức về văn hoá của dân tộc, trong đó có ý thức

về bản sắc văn hoá

Vào những năm nửa sau thế kỉ XIX, triều đình phong kiến Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc và trên đà suy vong: Nông nghiệp lâm vào tình trạng tiêu điều xơ xác; Công nghiệp thì bị kìm hãm; Các nghề thủ công trong nhân dân không

có điều kiện phát triển; Thủ công nghiệp hầu như bị tê liệt; Thương nghiệp thì sút kém; Chính sách trọng nông ức thương của triều đình hạn chế sự phát triển của thương nghiệp; Về nội thương thì triều đình nhà Nguyễn đều nắm độc quyền buôn

Trang 29

27

bán; Ngoại thương thì thực hành chính sách bế quan toả cảng; Đối nội thì đàn áp,

đối ngoại thì tăng cường thu phục các nước láng giềng

Giữa lúc chế độ phong kiến Việt Nam đang suy yếu về mọi mặt thì tình hình

thế giới bên ngoài đang có sự thay đổi lớn Chủ nghĩa tư bản phương Tây phát triển

mạnh và từng bước mở rộng thị trường sang các nước khác Việc mở rộng này thực

chất là con đường thực dân hoá với mưu đồ đen tối hòng chiếm các nước khác làm

thuộc địa để vơ vét sức người và sức của Thật vậy, các nước phương Tây đã đem

quân xâm lược các nước bên ngoài, và Châu Á là một trong những miếng mồi ngon

của bọn thực dân xâm lược

Cột mốc đánh dấu sự xâm lược Việt Nam là từ năm 1858, Pháp nổ súng đánh

chiếm Đà Nẵng Trong lúc dầu sôi lửa bỏng, triều đình phong kiến nhà Nguyễn đã

không chủ động được tình thế Sự nhu nhược của họ đã từng bước để vận mệnh đất

nước rơi vào tay thực dân Pháp Chính vì vậy mà khi các cuộc khởi nghĩa của nhân

dân kháng Pháp bùng nổ, triều đình nhà Nguyễn đã không thể lãnh đạo cuộc khởi

nghĩa của nhân dân trong cả nước Họ chỉ đi vào thoả hiệp và cắt đất cầu hoà

Không những vậy, triều đình phong kiến nhà Nguyễn một mặt nào đó còn tiếp tay

đàn áp các phong trào yêu nước của nhân dân

Nhận thấy triều đình nhà Nguyễn yếu hèn và không đứng về phía nhân dân,

thực dân Pháp đã từng bước đưa ra hai hàng ước năm 1883, 1884 Với hai hàng ước

này, thực dân Pháp đã thiết lập một bộ máy cai trị thuộc địa lên toàn cõi Việt Nam

Từ đây, xã hội Việt Nam có nhiều sự thay đổi lớn so với trước đây, kéo theo nó là

sự chuyển biến của cả một nền văn hoá

1.2.1.2 Khi thực dân Pháp bắt đầu đặt nền thống trị ở Việt Nam, chúng đã

vấp phải sự phản kháng của các tầng lớp nhân dân trong cả nước Phong trào chống

Pháp diễn ra sôi nổi nhất khi vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương1 kêu gọi nhân

1

Ngày 13/7/1885, Tôn Thất Thuyết dưới danh nghĩa vua Hàm Nghi (vua Hàm Nghi lúc bấy giờ còn nhỏ

tuổi) đã hạ chiếu Cần Vương lần thứ nhất Ngày 20/9/1885, vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương lần thứ hai

Nhìn chung, giai đoạn nửa cuối thề kỉ XIX được xem là thời kỳ kháng Pháp sôi nổi nhất

Trang 30

28

dân đứng lên chống bọn thực dân xâm lược Nhân dân Việt Nam đã đứng lên chống

giặc ngoại xâm với tinh thần: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người

Nam đánh Tây” 2 Từ đây, vấn đề về bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc trước kẻ

thù xâm lược là một trong những vấn đề mang tính chủ đạo, chi phối toàn bộ giai đoạn

Trong những năm đầu thế kỉ XX, mặc dù phong trào cách mạng không sôi nổi như những năm cuối thế kỉ XIX nhưng nhân dân ta vẫn luôn nung nấu ý chí giành lại nền độc lập dân tộc cho nước nhà Tuy các cuộc khởi nghĩa vũ trang trong thời gian này mang tính lẻ tẻ và tự phát nhưng các hoạt động nói trên đã góp phần làm nền tảng cho hoạt động yêu nước sau này của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

1.2.2 Tiền đề văn hoá

1.2.2.1 Từ những năm cuối thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, kéo theo đó là sự xâm nhập của văn minh phương Tây, xã hội Việt Nam có nhiều biến chuyển và đối mặt với một cuộc xung đột về văn hoá lớn nhất trong lịch sử dân tộc

Có thể nói, từ giai đoạn giữa thế kỉ XIX trở về trước, nền văn hoá Việt Nam

ít có sự thay đổi lớn Về cơ bản, văn hoá Việt Nam cũng nằm trong sự ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa như các nước trong khu vực: Nhật Bản, Triều Tiên,… Xét về mặt tư tưởng, trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, Nho giáo giữ địa vị độc tôn

đi cùng với thiết chế chính trị phong kiến tồn tại hàng ngàn năm Kéo theo đó, việc

tổ chức học tập, thi cử đều nằm trong hệ quy phạm của chế độ này Cơ cấu xã hội

về cơ bản được phân tầng theo thứ bậc “Sĩ – Nông – Công – Thương” Như vậy, nền kinh tế Việt Nam không có sự chú trọng phát triển thương nghiệp mà chỉ lấy nông nghiệp làm nền tảng phát triển kinh tế đất nước… Trước thực trạng đó, khi thực dân Pháp xâm lược và đặt nền thống trị lên toàn cõi Việt Nam, cơ cấu kinh tế

2

Lời phát biểu của Nguyễn Trung Trực – một lãnh tụ khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương ở nước ta vào những năm cuối thế kỉ XIX

Trang 31

tố văn hoá phương Tây sẽ làm mai một bản sắc văn hoá dân tộc Việc bảo vệ đó được biểu hiện một cách mạnh mẽ nên dẫn đến tư tưởng bảo vệ một cách cực đoan, tuyệt đối từ chối sự tiếp nhận các yếu tố văn hoá mới

Tuy nhiên, trong bối cảnh chung đó, vẫn có những con người có cái nhìn vượt thời đại Họ không phản kháng, không bài trừ văn minh phương Tây như những người cùng thời mà họ lại có xu hướng học tập văn minh phương Tây để canh tân, phát triển đất nước Khác với những nhà canh tân đầu thế kỉ XX, các nhà canh tân giữa thế kỉ XIX như Bùi Viện, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… mang những đặc điểm riêng

Mặc dù sống trong giai đoạn khủng hoảng, nhờ những chuyến công du ra nước ngoài, các nhà cải cách cuối thế kỉ XIX nhận thức được rằng so với các quốc gia phương Đông, các nước tư bản phương Tây trong thời điểm này đã có những tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật Phương Tây đã hoàn thành việc phân chia thế giới với hệ thống thuộc địa trên toàn cầu, trong khi đó, các quốc gia phương Đông đang cố gắng để thoát khỏi sự khủng hoảng dưới chế độ phong kiến Sau những chuyến đi đó, các sĩ phu yêu nước đã có những đề xuất nhằm làm thay đổi tình thế của đất nước Hơn ai hết, họ là những người thấu rõ những nguyên nhân yếu kém gây nên sự trì trệ cho đất nước Nhìn chung, hầu hết những chủ trương cải cách trong thời gian này được đề xướng trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, phong tục tập quán Họ đã chỉ ra cho triều đình nhà Nguyễn thấy là trong lúc này cần phải thay đổi cách nhìn Theo họ, một xã hội muốn phát triển thì phải chú

Trang 32

30

trọng đến hoạt động kinh tế, khoa học kỹ thuật… chứ không thể chỉ lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng thống trị Giai cấp phong kiến Việt Nam không thể chỉ biết có một nền văn minh Trung Quốc với học thuyết Khổng Mạnh là cao quý còn các nền văn minh khác đều là man di Với quan điểm này, các nhà canh tân đã cho thấy tất

cả quan niệm bảo thủ trước đây như: sùng cổ, xem nhẹ cái mới, trọng văn khinh thường buôn bán… là quan niệm sai lầm

Nhìn chung, những cải cách của các nhà tư tưởng ở những năm cuối thế kỉ XIX đã không thực hiện được do sự hạn chế của thời đại Tuy vậy, những tư tưởng

đó đã đặt một nền móng cho các phong trào cải cách đầu thế kỉ XX

Bước sang thế kỉ XX, Việt Nam đã có những biến chuyển lớn Sau khi bình định cơ bản Việt Nam hoàn toàn về mặt quân sự (đánh dấu bằng sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Sơn), thực dân Pháp chính thức đặt nền cai trị ở Việt Nam với kế hoạch của toàn quyền Đông Dương Pôn Đume (Paul Doumer) Pôn Đume đã vạch ra chương trình khai thác thuộc địa siêu lợi nhuận cho đế quốc Pháp mà như

nhận định của J Chesneaux thì “Chính ông (Đume) đã đưa chế độ thuộc địa từ giai đoạn kinh nghiệm chủ nghĩa hầu như thủ công sang giai đoạn tổ chức hệ thống Chính ông đã tạo dựng bộ máy thống nhất về bóc lột tài chính và đàn áp chính trị trong thực tế sẽ được duy trì nguyên vẹn cho đến tận năm 1945” [Đinh Xuân Lâm 1999: 98]

Trước thực trạng nước mất nhà tan, con đường cứu nước bằng khởi nghĩa vũ trang trong thời gian này đã trở nên bất lực, một số sĩ phu yêu nước bắt đầu tìm đến con đường cứu nước mới Cũng như các nhà tư tưởng cuối thế kỉ XIX, các nhà duy tân đầu thế kỉ XX nhận thấy tư tưởng của dân tộc Việt Nam cần phải thay đổi Bởi

vì chính mắt họ nhìn thấy cảnh đất nước rơi vào tay thực dân, chính mắt họ nhìn thấy người Pháp bóc lột xương máu nhân dân Việt Nam… và chính mắt họ nhận rõ văn hoá phương Tây đã có những ảnh hưởng lớn trong đời sống nhân dân

Trang 33

Chính vì vậy, các sĩ phu yêu nước Việt Nam đã nhanh chóng thay đổi quan niệm trước đây để hướng theo con đường cải cách của nước Nhật Họ chủ trương đổi mới toàn diện: từ kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, ngoại giao… Chỉ có con đường đó họ mới làm cho dân giàu, nước mạnh, tạo tiền đề để đánh thắng giặc Pháp xâm lược Họ nhận thấy rằng trước tiên phải làm cuộc cách mạng tư tưởng, thì cuộc cách mạng kinh tế, văn hóa mới có điều kiện thay đổi và tiến lên được Họ bắt đầu tiếp thu và lợi dụng chữ Quốc ngữ - thứ chữ mà vào thế kỉ XIX dân tộc ta đã từ chối tiếp nhận - để tuyên truyền và vận động tư tưởng yêu nước, đoàn kết, tương thân tương ái dân tộc Vì vậy, xã hội Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỉ XX đã có những tác động tích cực

Tuy nhiên, con đường canh tân của các sĩ phu yêu nước lại bằng con đường vòng Dân tộc Việt Nam không tiếp nhận ảnh hưởng trực tiếp dòng tư tưởng từ các nhà trí thức cấp tiến Nhật Bản mà lại thông qua các nhà nho tiến bộ ở Trung Quốc thời bấy giờ Do đó, công cuộc duy tân của các tiền nhân không đạt được kết quả triệt để

Trang 34

32

Xét trên góc độ văn hoá, cuộc cách mạng về tư tưởng ở những năm đầu thế

kỉ XX là biểu hiện của bước chuyển tiếp giữa hai ý thức hệ Sự chuyển đổi từ ý thức

hệ văn hoá truyền thống sang ý thức hệ văn hoá mới

Có thể kể đến hai phong trào yêu nước gắn với cuộc cách mạng tư tưởng lớn

ở Việt Nam là phong trào Đông du và phong trào Duy tân Chúng phát triển rầm rộ với quy mô cả nước Gắn liền với hai phong trào đó là tên tuổi của hai nhà yêu nước lớn Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh Mặc dù thực hiện theo hai đường lối bạo động và cải cách khác nhau, nhưng xét cho cùng, hai nhà yêu nước lớn này cùng chung một tấm lòng đối với vận mệnh của đất nước Phong trào Đông du và phong trào duy tân (Đông Kinh Nghĩa Thục (1907)) đã có vai trò quan trọng trong tiến trình văn hoá của dân tộc Cả hai phong trào đều nhận được sự cổ vũ hăng hái của nhân dân Mặc dù hai phong trào trên bị thực dân Pháp đàn áp và khủng bố dã man nhưng nó thật sự là nhịp cầu nối liền tư tưởng yêu nước cho những phong trào hoạt động cách mạng sau này

1.2.2.2 Như đã nói trên, khi thực dân Pháp thiết lập nền cai trị ở Việt Nam, ngoài những xung đột văn hoá làm phát sinh tư tưởng đổi mới, xã hội Việt Nam còn

có những biến chuyển lớn và xung đột về văn hoá khác, nó phát sinh từ những tiền

đề về kinh tế, xã hội

Trước hết, sự xung đột đó thể hiện ở mặt giáo dục Nhận thấy, văn hoá giáo dục thực sự là một thứ vũ khí vô cùng sắc bén, nó sẽ giúp cho thực dân Pháp thống trị nhân dân Việt Nam về mặt tinh thần và đẩy nhanh quá trình đồng hoá dân tộc Việt Nam Ngay khi Pháp chiếm xong Chí Hoà (ngày 25 – 2 – 1861) thì liền sau đó, vào ngày 21 tháng 9 năm 1861, đô đốc SácNe đã ký nghị định thành lập trường Bá

Đa Lộc để dạy tiếng Pháp cho người Việt và dạy tiếng Việt cho người Pháp Mục đích của trường là đào tạo một đội ngũ thông dịch viên và những người phục vụ trong bộ máy chính quyền thực dân Bước đi khởi đầu của trường là nhằm truyền bá chữ Pháp và chữ Quốc ngữ để hạn chế sự ảnh hưởng của văn hoá Hán Hơn nữa, chính sách này cũng ra đời xuất phát từ những khó khăn trong thời gian đầu người

Trang 35

33

Pháp thiết lập nền cai trị Họ đã vấp phải sự bất đồng ngôn ngữ trong việc truyền tải

thông tin của chính quyền thực dân đến nhân dân: “Đối với một số nước thực dân, chướng ngại khó khăn nhất phải khắc phục đứng trước những dân tộc bị chinh phục

là sự khác biệt về ngôn ngữ” [Phan Trọng Báu 1994: 33, 34]

Do đó, để sự cai trị thuộc địa được tiến hành theo một guồng máy nhất định, vào cuối thế kỉ XIX, Việt Nam đã xuất hiện nền giáo dục mới bên cạnh nền giáo dục phong kiến đã tỏ ra yếu thế Mục tiêu của nền giáo dục mới mà thực dân Pháp gọi là nền giáo dục Pháp – Việt là nhằm xóa bỏ sự ảnh hưởng của nền văn hoá Trung Quốc tồn tại hàng ngàn năm ở Việt Nam Vì vậy, chữ Hán đã bị thực dân Pháp dần triệt tiêu Thay thế cho vị trí này là nền giáo dục lấy tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ làm văn tự chính thức

Chính vì vậy, sự xung đột văn hoá được thể hiện thật mạnh mẽ Khi thực hiện chính sách về giáo dục nói trên, người Pháp đã vấp phải sự phản ứng của nhân dân ta Cuộc chuyển đổi văn tự là một nhát cắt bất ngờ vào trong truyền thống văn hoá dân tộc Nhân dân Việt Nam đã phản ứng bằng cách họ không chịu cho con em đến trường Từ đó, xã hội bắt đầu mất ổn định Nhận thấy nền giáo dục Hán học có thể góp phần ổn định trật tự xã hội, người Pháp lại khởi xướng cho nhân dân học chữ Hán bên cạnh lối giáo dục mới

Như vậy, với lối giáo dục song song, ở Việt Nam lúc bấy giờ tồn tại ba loại văn tự: chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp Khởi đầu, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp

bị phản ứng mạnh mẽ bởi nó là một thứ chữ của bọn thực dân xâm lược Tuy nhiên

về sau, dân tộc ta nhận thấy chữ Quốc ngữ có thể là công cụ truyền tải tinh thần dân tộc hữu hiệu nhất Từ phản kháng, dân tộc ta bắt đầu tiếp nhận và xem nó là linh hồn của dân tộc

Từ khi chữ Quốc ngữ ra đời, kéo theo đó là sự phát triển của văn học, báo chí, khi hai hình thức văn hoá này xuất hiện, sự xung đột văn hoá Đông – Tây đã chuyển từ đối đầu sang đối thoại Bởi người Việt đã chủ động tiếp nhận những hình

Trang 36

34

thức thơ văn, báo chí, truyền thông của Pháp, họ đã dùng nó để truyền tải tinh thần yêu nước trên lĩnh vực văn hoá và các hoạt động tuyên truyền cách mạng thật hữu hiệu

1.2.2.3 Để bóc lột nguồn nhân lực, vơ vét tài nguyên của Việt Nam, trong giai đoạn đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp đã tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa với quy mô lớn (cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất vào những năm 1897 – 1914

và cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai vào những năm 1919 – 1930)

Nhằm phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa nói trên, thực dân Pháp buộc phải xây dựng một số cơ sở hạ tầng nhất định Chúng tiến hành xây dựng các nhà máy, xí nghiệp, cầu đường Pháp đã dùng phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa kết hợp với phương thức bóc lột phong kiến cổ truyền và dần đẩy nhân dân lao động vào bước đường bần cùng hoá Từ đó, xã hội phân hoá ngày càng sâu sắc

Dưới sự tác động đó, trong cơ cấu giai tầng xã hội Việt Nam, các tầng lớp mới bắt đầu xuất hiện bên cạnh tầng lớp nông dân mà trước đây chiếm đa số Điển hình là giai cấp công nhân đã hình thành và trưởng thành liên tục về mặt số lượng cũng như chất lượng Bên cạnh đó, giai cấp tư sản Việt Nam cũng hình thành khá

đa dạng Ngoài số tư sản công nghiệp, thương nghiệp, tư sản nông nghiệp còn có một số đông là tư sản kiêm địa chủ Giai cấp tiểu tư sản cũng ra đời do hệ quả của cuộc khai thác thuộc địa đầu thế kỉ mang lại Có thể nói, bộ phận trí thức, học sinh, sinh viên là bộ phận năng động nhất của tầng lớp tiểu tư sản lúc bấy giờ Thực tế cho thấy, để đẩy nhanh quá trình khai thác thuộc địa (qua hai cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất và lần thứ hai), thực dân Pháp buộc phải đào tạo dân bản xứ bằng cách “nhồi sọ” và biến họ thành công cụ để bóc lột trực tiếp sức người và sức của nhân dân ta có hiệu quả hơn Tuy nhiên, một số trí thức trong bộ phận này vẫn là những người có lòng yêu nước và tư tưởng cấp tiến Họ là lớp người đầu tiên tiếp xúc với văn hoá phương Tây và có những tư tưởng tiến bộ so với những người cùng thời bấy giờ Bên cạnh những tầng lớp mới ra đời nói trên, ta có thể thấy sự phát

Trang 37

Nhìn trong chiều sâu văn hoá, tiền đề trên đã làm cho cuộc xung đột văn hoá

ở Việt Nam có những biểu hiện rõ hơn Bởi lúc bấy giờ, xã hội bắt đầu phân chia thành hai hướng: một bên là những người thuộc các tầng lớp thủ cựu ủng hộ những yếu tố văn hoá “cũ” (bao gồm những yếu tố tích cực và cực đoan) – một bên là những người thuộc tầng lớp tân thời ủng hộ những yếu tố văn hoá mới (bao gồm những yếu tố tích cực và cực đoan) Có thể kể đến những cuộc xung đột điển hình như: cuộc tranh luận về Thơ mới, tranh luận về dâm hay không dâm, tranh luận về Truyện Kiều… Từ những cuộc xung đột này, hệ quả của nó có thể kể đến là dân tộc

ta ý thức được việc phải xây dựng một nền văn hoá học thuật mới, xây dựng một nền văn hoá mới mang bản sắc dân tộc trên cơ sở vận dụng chữ Quốc ngữ

1.2.2.4 Mặc dù ở giai đoạn lịch sử cận đại, quá trình giao lưu văn hoá Pháp – Việt diễn ra bằng con đường xâm lược nhưng nhìn chung, quá trình giao lưu văn hoá đó vẫn diễn ra theo quy luật vốn có của nó Sau những ý thức phản kháng, dân tộc ta bắt đầu tiếp thu ồ ạt văn hoá phương Tây nhưng đến giai đoạn sau, người Việt Nam đã biết tiếp thu những thành tố văn hoá ngoại lai một cách chọn lọc, làm nền tảng để phát triển nền văn hoá nước nhà

Và có thể nói, với cột mốc từ năm 1930, chính Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, giai cấp công nhân đã chính thức giành được ngọn cờ lãnh đạo cuộc cách mạng

Trang 38

và họ đã trở thành những người lãnh đạo đất nước trên mặt trận tư tưởng

*

Nói tóm lại, dưới sự cai trị của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có sự chuyển biến mạnh mẽ Trong giai đoạn khủng hoảng này, con người Việt Nam dường như mất phương hướng, ý thức bản sắc văn hoá dân tộc đã đóng vai trò điều tiết nền văn hoá Ở giai đoạn giao thời này, sự vận động của ý thức bản sắc văn hoá dân tộc đã đưa họ về với nguồn cội dân tộc cùng với sự tiếp nhận những thành tựu của nền văn hoá phương Tây, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hoá nước nhà

Có thể thấy rõ những biểu hiện về bản sắc văn hoá qua từng giai đoạn cụ thể như: giai đoạn từ năm 1858 – cuối thế kỉ XIX; giai đoạn đầu thế kỉ XX Tuy nhiên,

sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, nó có ý nghĩa là cột mốc đánh dấu

sự thay đổi về ý thức văn hoá dân tộc trong tiến trình lịch sử văn hoá Việt Nam

*

Trang 39

37

CHƯƠNG 2

Ý THỨC VỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ GIAI ĐOẠN CUỐI THẾ KỈ XIX 2.1 Những nhận thức ban đầu

Như đã nêu ở phần trước, xã hội truyền thống Việt Nam với cơ cấu kinh tế tự cấp tự túc, khép kín, vì thế, khi người Pháp đến xâm lược Việt Nam, tầng lớp quan lại triều đình - đại diện cho lớp trí thức cấp tiến trong xã hội lúc bấy giờ đã không ý thức được có một giống người khác giống người châu Á: “Người Pháp là người không có khớp xương đầu gối, không chạy được, vậy ta cứ rải quả mù u ra đường ở những nơi chúng định đổ bộ, khi chúng đổ bộ lên, đạp phải mù u, tất phải ngã lăn quay, ta cứ việc đổ xô ra mà giết” [Tạp chí Tri Tân 1945: số 198] Tương tự như thế, cũng với một nhận định khá ngây ngô, họ giải thích lý do vì sao đất nước bị thực dân xâm lược: “Lâu nay ta lạnh nhạt với họ, họ bị các nước láng giềng chê cười nên buộc lòng họ phải đánh, và họ đem quân đánh ta là để cho được hoà” [Dẫn theo Trần Thanh Mại 2004: 16]…

Những nhận định như trên trong giai đoạn này là biểu hiện của ý thức nằm trong khuôn khổ của nền văn hoá khu vực Đây là hệ quả khách quan của một quốc gia đóng kín cửa hàng ngàn năm dưới sự ru ngủ của chế độ phong kiến đang trên đà suy vong Các quan lại triều đình lúc bấy giờ chỉ nhìn nhận sự việc qua lăng kính của mình Họ quả là “không biết người và biết ta” Chả trách họ được vì những chính sách bế quan toả cảng của triều đình phong kiến nhà Nguyễn trong một thời gian dài đã ngăn cản không cho họ phóng tầm mắt đi xa hơn Ngay chính vua Tự Đức đã từng tuyên bố “Nước ta giao tiếp thấy nghe chưa rộng, nên phải người ta ngăn chế; ta vốn không muốn người ngoài đến” [Cao Xuân Dục 1908: 212]

Trang 40

“Sức mạnh của các nền văn minh cổ này lớn đến nổi tất cả các dân tộc ở mức độ này hay khác đều rơi vào ảnh hưởng của chúng” [N.Konrat 1997: 59] N Konrat xác định ở giai đoạn đầu của thời trung thế kỉ, các “lò” văn minh như Trung Quốc,

Ấn Độ, vương quốc Kusan, Parfia và thế giới Hy – La, trong đó, nền văn minh Trung Quốc đã ảnh hưởng đến các dân tộc ở Đông và Đông Nam Á

Như vậy, đối với khu vực, “văn hóa Trung Quốc đóng vai trò trung tâm, nguồn phát” [Nguyễn Văn Hiệu 2002a: 18]

Do đó, khi người Pháp và văn hoá Pháp xâm nhập vào xã hội Việt Nam, nhận thức đầu tiên là dân tộc ta nhận thấy mình đang tiếp xúc với một dân tộc, một quốc gia “man di” khác xa với nền văn hoá khu vực Vua Minh Mạng khi trình bày

về cách “thuận phòng ngừa người phương Tây” ông đã có ý thức cho rằng người

phương Tây là man di: “Việc phòng chống man di tất nhiên có biện pháp riêng, nếu

ta đề phòng cẩn thận thì làm sao có việc gì xảy ra” [Dẫn theo Vu Hướng Đông]

Chính ý thức “nội hạ ngoại di”, xem các nước khác ngoài mình là dã man đã chi phối hành động của quan quân ta vào những năm đầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây

Họ cho rằng “Rợ phương Tây sinh ra là đã lâu, nếu kỹ nghệ của chúng

không ai địch nổi, thì các nước trên hoàn cầu này, đều đã bị chúng lấy hết như cuốn chiếu đã lâu rồi, còn đợi gì đến ngày nay” [TTKHXH&NV 2000b: 201] Và ở vào giai đoạn cuối thế kỉ XIX, phong trào bất cộng tác với địch phát triển rầm rộ khi

nước ta bại trận, các nhà nho ái quốc đều cấm con cháu học cái thứ chữ “chữ như

con giun của đám người man di, mắt xanh lè” [Phạm Văn Sơn 1960: 485]

Ngày đăng: 04/04/2021, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w