Tóm tắt mục đích công trình - Thực hiện đề tài nghiên cứu này, mục đích của nhóm chúng tôi là tìm hiểu thực trạng học Anh văn chuyên ngành của sinh viên tại Bộ môn Quan Hệ Quốc tế cũng
Trang 1ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH BAN CHẤP HÀNH TP.HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EURÉKA”
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC XÃ HỘI
Mã số công trình………
Trang 2ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH
BCH TP.HỒ CHÍ MINH
TP.HỒ CHÍ MINH, ngày 18 tháng 09 năm 2008
PHIẾU ĐĂNG KÝ THAM DỰ GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – EUREKA”
2 Lĩnh vực nghiên cứu: Xã hội và nhân văn
Thuộc nhóm ngành: Khoa học xã hội
3 Tóm tắt mục đích công trình
- Thực hiện đề tài nghiên cứu này, mục đích của nhóm chúng tôi là tìm hiểu thực trạng học Anh văn chuyên ngành của sinh viên tại Bộ môn Quan Hệ Quốc tế cũng như là những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng học Anh văn chuyên ngành của sinh viên
- Từ việc phân tích thực trạng cũng như những yếu tố ảnh hưởng chúng tôi muốn đưa ra nhưng giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng học Anh văn chuyên ngành của sinh viên Bộ môn Quan Hệ Quốc Tế
Trang 3Khoa/Trường: Trường ĐHKHXH & NV
Khoa Quan Hệ Quốc Tế
Khoa/Trường: Trường ĐHKHXH & NV
Khoa Quan Hệ Quốc Tế
TM.Ban tổ chức Eureka cấp trường Tác giả (trưởng nhóm) ký tên ( Ký tên và đóng dấu)
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu .3
5 Giới hạn đề tài 3
6 Mô tả mẫu điều tra 3
7 Ý nghĩa đề tài 6
8 Kết cấu đề tài 6
NỘI DUNG Chương I: KHÁI QUÁT VỀ BỘ MÔN QUAN HỆ QUỐC TẾ 1.1 Bộ môn Quan Hệ Quốc Tế và nhu cầu đào tạo Anh văn chuyên ngành 7
1.1.1 Đặc thù của Bộ môn quan hệ quốc tế .7
1.1.2 Đặc thù tiếng Anh chuyên ngành QHQT 9
1.2 Mục đích giảng dạy Anh văn Anh chuyên ngành của Bộ môn QHQT 10
1.3 Khái quát chương trình đào tạo Anh văn chuyên ngành QHQT 11
1.3.1 Mục tiêu đào tạo 11
1.3.2 Quy trình đào tạo 11
Chương II: THỰC TRẠNG HỌC ANH VĂN CHUYÊN NGÀNH CỦA SINH VIÊN QUAN HỆ QUỐC TẾ 1 Khái quát tầm quan trọng của Anh văn chuyên ngành Quan hệ Quốc Tế 14
2 Phân tích thực trạng của việc học Anh văn chuyên ngành Quan Hệ Quốc Tế 16
2.2.1 Mục đích học Anh văn chuyên ngành của sinh viên Quan hệ Quốc Tế 16
Trang 52.2.2 Đánh giá chung về khả năng Anh văn của sinh viên QHQT 18
2.2.3 Ý thức học tập của sinh viên 27
2.2.4 Thời gian đầu tư cho việc học Anh văn chuyên ngành 31
2.2.5 Phương pháp học Anh văn chuyên ngành 34
2.2.6 Kết quả học tập của sinh viên Quan Hệ Quốc Tế 39
Chương III: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG HỌC ANH VĂN CỦA SINH VIÊN BỘ MÔN 3.1 Một số yếu tố khách quan 43
3.1.1 Cơ sở vật chất 43
3.1.2 Nơi tốt nghiệp 45
3.1.3 Môi trường giao tiếp 47
3.2 Một số yếu tố chủ quan 48
3.2.1 Đội ngũ giảng viên 48
3.2.2 Giáo trình 49
3.2.3 Phương pháp giảng dạy 50
3.2.4 Cách phân bổ chương trình 51
3.2.5.Về phía sinh viên 54
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6CÁC BẢNG BIỂU:
Bảng 11 Mục đích học Anh văn của sinh viên QHQT 17 Bảng 12 Khả năng của sinh viên ở kỹ năng nghe 22 Bảng 13 Khả năng của sinh viên ở kỹ năng nói 22
Bảng 15 Khả năng của sinh viên ở kỹ năng đọc 25
Bảng 18 Nguyên nhân khiên việc học tập Anh văn của
sinh viên không hiệu quả
Trang 7Bảng 22 Lý do đi học thêm 34
Bảng 26 Khả năng giao tiếp thực tế giữa sinh viên
thành thị và nông thôn
46
Bảng 27 Thái độ của sinh viên trong giờ học Anh văn 54 Biểu đồ 1 Chứng chỉ Anh văn hiện có của sinh viên 19
Biểu đồ 4 Thái độ của sinh viên trong giờ học 28 Biểu đồ 5 Thời lượng tham gia học trên lớp của sinh viên 30 Biểu đồ 6 Mức độ trau dồi Anh văn của sinh viên 32 Biểu đồ 7 Mức độ hiệu quả của phương pháp học kỹ
Trang 8Biểu đồ 16 Mức độ trau dồi Anh văn tại nhà 58
Trang 9TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Công trình khoa học “Thực trạng học Anh văn chuyên ngành của sinh
viên Bộ môn Quan hệ quốc tế trường ĐH KHXHNV TPHCM” của nhóm tác giả
gồm 4 phần:
Phần I: MỞ ĐẦU
Phần này nhóm tác giả trình bày những vấn đề cơ bản như: Tính cấp thiết của đề tài, tình hình nghiên cứu đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài, phương pháp nghiên cứu, giới hạn đề tài, mô tả mẫu điều tra, ý nghĩa của đề tài, kết cấu đề tài
Phần II: NỘI DUNG
Phần này gồm có 3 chương:
Chương I: KHÁI QUÁT VỀ BỘ MÔN QUAN HỆ QUỐC TẾ
Trong chương này nhóm tác giả muốn giới thiệu chung về Bộ môn Quan hệ Quốc tế (QHQT), nhu cầu đào tạo Anh văn chuyên ngành cũng như là giới thiệu khái quát về khung chương trình đào tạo Anh văn của Bộ môn QHQT
Chương II: THỰC TRẠNG HỌC ANH VĂN CHUYÊN NGÀNH CỦA BỘ
MÔN QUAN HÊ QUỐC TẾ
Trong chương 2 này nhóm tác giả đi sâu nghiên cứu về thực trạng học Anh văn chuyên ngành của sinh viên Bộ môn QHQT Từ việc xác định mục đích học Anh văn của sinh viên và sau đó đi sâu vào việc đánh giá khả năng Anh văn của sinh viên Bộ môn Bên cạnh đó, nhóm tác giả còn tìm hiểu những nguyên nhân khiến việc học Anh văn không hiệu quả từ đó đưa ra những phương pháp giúp sinh viên khắc phục những kỹ năng còn yếu Ngoài ra, trong phần thực trạng này nhóm tác giả cũng khảo sát và đánh giá ý thức, thái độ đối với việc học Anh văn chuyên ngành của sinh viên
Chương III: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG HỌC
ANH VĂN CỦA SINH VIÊN TẠI BỘ MÔN
Trong chương cuối cùng này nhóm tác giả đi sâu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng học Anh văn của sinh viên Bộ môn từ những yếu tố khách quan như: cơ sở vật chất, nơi tốt nghiếp, môi trường giao tiếp đến những yếu tố chủ quan như: đội ngũ giảng viên, giáo trình,…Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng không quên đề cập đến những yếu tố từ phía sinh viên như: thái độ học tập, thời gian sinh viên đầu tư cho việc học Anh văn
Phần III: KẾT LUẬN
Ngoài việc tóm tắt lại những vấn đề trong thực trạng cũng như là những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng học Anh văn của sinh viên Bộ môn thì nhóm tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng học Anh văn của sinh
viên Bộ môn
Phần IV: PHỤ LỤC
Bao gồm bảng hỏi, kết quả xử lý SPSS và chương trình đào tạo Anh văn chuyên ngành của Bộ môn QHQT
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Dạy và học tiếng Anh đã và đang trở thành một đề tài nóng bỏng ở nhiều nước trên thế giới từ Á sang Âu, từ thành thị lan rộng đến nông thôn Người học vì nhiều mục đích khác nhau, nhưng tựu trung có thể phân chia thành bốn loại động
cơ chủ yếu là tri thức, văn hóa, kinh tế và chính trị.” Đó là câu nhận định của một bạn sinh viên trường Đại học Meio, Okinawa_Nhật Bản gửi tranh luận “Một ngoại ngữ hay làm nghèo đất nước?”1 Điều đó cho chúng ta thấy được tầm quan trọng
và sự cần thiết của tiếng Anh đối với thế giới nói chung và đặc biệt là đối với Việt Nam nói riêng trong xu thế hội nhập hiện nay
Muốn hội nhập tốt phải tăng cường giao lưu hợp tác với các nước trên thế giới Nhưng mong muốn giao lưu hợp tác tốt thì cần phải hiểu nhau, mà muốn hiểu nhau thì cần phải có ngôn ngữ chung Nên đối với nước ta trong xu thế phát triển
và hội nhập quốc tế như hiện nay thì ngoại ngữ mà đặc biệt là tiếng Anh đã trở thành một công cụ giao tiếp quan trọng cần phải được quan tâm và đào tạo đúng mức
Một điều đáng mừng là trong những năm gần đây việc giảng dạy tiếng Anh rất được chú trọng Tiếng Anh được đưa vào đào tạo ngay từ bậc tiểu học với những giáo trình được thay đổi phù hợp và cập nhập thường xuyên hơn Ngày nay, ngoài các trường học ra thì các trung tâm Anh ngữ mọc lên như nấm để đáp ứng nhu cầu học tiếng Anh ngày càng cao của mọi người Một điều đáng mừng nhưng cũng đáng lo ngại đối với ngành giáo dục là làm sao để việc giảng dạy tiếng Anh đạt hiệu quả và chất lượng hơn Và có lẽ đó cũng là bài toán làm đau đầu các nhà giáo dục trong việc quản lý công tác giảng dạy tiếng Anh tại các trường Đại học cũng như các trung tâm Anh ngữ hiện nay
1
http://vietnamnet.vn/giaoduc/2006/05/566969
Trang 11Tại các trường Đại học trong cả nước nói chung và trường Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn nói riêng, môn tiếng Anh đã trở thành một trong những môn học trọng tâm trong chương trình đào tạo đối với sinh viên chuyên ngành và cả không chuyên Tùy vào mục đích đào tạo mà các trường Đại học có những chương trình đạo tạo riêng dành cho sinh viên của trường
Bộ môn Quan hệ Quốc tế, một trong những Bộ môn mới được thành lập cách đây năm năm của trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh Bộ môn được thành lập với mục đích đào tạo những cử nhân Quan hệ Quốc
tế phục vụ cho công tác đối ngoại, một trong những công việc đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các mối quan hệ giao lưu giữa các nước
Chính vì thế những cử nhân Quan hệ Quốc tế nhất định phải có vốn tiếng Anh chuyên ngành để có thể làm tốt công việc của một nhà ngoại giao Vì Bộ môn còn khá mới nên chương trình giảng dạy Anh văn chuyên ngành tại Bộ môn vẫn còn đang trong giai đoạn hoàn thiện Chính vì lẽ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về
“Thực trạng học Anh văn chuyên ngành của sinh viên Bộ môn Quan hệ Quốc tế” nhằm tìm ra những giải pháp tốt nhất cho việc học Anh văn chuyên ngành của
Bộ môn
2 Tình hình nghiên cứu
Ngày nay không một ai có thể phủ nhận được tầm quan trọng của tiếng Anh cũng như tính quốc tế của nó Tiếng Anh đã và đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ giao lưu hợp tác giữa các nước,… là công cụ hữu hiệu để mọi người có thể tiếp cận tri thức của nhân loại Đã có không
ít những đề tài nghiên cứu về tiếng Anh, ngay tại trường Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn cũng đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về tiếng Anh và việc học tiếng Anh như: “Thực trạng dạy và học Anh văn ở khoa Đông Phương học – trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn”, “Designing Learner – Center Syllabus in English for International Relation: An Innitial Step”,…Tại Bộ môn Quan hệ Quốc
tế năm học 2007 chúng tôi cũng đã tiến hành nghiên cứu về “Thực trạng học Anh
Trang 12văn chuyên ngành của sinh viên Quan hệ Quốc tế, trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn” Nhưng với trình độ còn hạn chế chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhưng chưa lột tả được hết thực trạng học Anh văn chuyên ngành của sinh viên Bộ môn Thế nên năm nay chúng tôi tiếp tục nghiên cứu đề tài này ở mức độ sâu và chi tiết hơn
3 Mục tiêu và nhiệm vụ đề tài
Trên cơ sở phân tích thực trạng học tiếng Anh chuyên ngành (cụ thể là Bộ môn Quan hệ Quốc tế ĐH Khoa học xã hội và nhân văn Tp Hồ Chí Minh) đề ra những giải pháp cụ thể góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng Anh văn chuyên ngành tại Bộ môn Quan hệ Quốc tế
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung giải quyết những vấn đề sau:
Khảo sát và phân tích thực trạng học Anh văn chuyên ngành tại Bộ môn Quan hệ Quốc tế
Chỉ ra được những điểm tích cực và hạn chế của việc học Anh văn chuyên ngành tại Bộ môn
Đề ra được những giải pháp khả thi góp phần nâng cao chất lượng học Anh văn chuyên ngành cho sinh viên Bộ Môn
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, ngoài việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: phương pháp tổng hợp và phân tích tư liệu, phương pháp đối chiếu so sánh, chúng tôi còn sử dụng những kỹ thuật nghiên cứu của Xã hội học như: xây dựng bảng hỏi và phát bảng hỏi điều tra nhằm lượng hóa thông tin, sử dụng phần mềm SPSS để phân tích và xử lý số liệu
5 Giới hạn đề tài
Đề tài nghiên cứu thực trạng học Anh văn chuyên ngành giới hạn phạm vi nghiên cứu trong sinh viên Bộ môn Quan hệ Quốc tế trường Đại học Khoa học xã
Trang 13hội và nhân văn Tp Hồ Chí Minh Trong đó chúng tôi chọn mẫu nghiên cứu là
sinh viên của bốn năm
6 Mô tả mẫu điều tra
Để hiểu được thực trạng học tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên Bộ môn
Quan hệ Quốc tế, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và thu thập ý kiến của sinh viên
Bộ môn về vấn đề này bằng cách phát ra 200 bảng hỏi và thu về được 125 bảng,
đạt 62.5%
6.1 Mô tả mẫu theo năm học
Mẫu khảo sát bao gồm sinh viên cả bốn năm Kết quả mà chúng tôi thu
được như sau:
Bảng 1: Mô tả mẫu theo năm học
6.2 Mô tả mẫu theo các lớp Anh văn
Để thuận tiện cho việc đào tạo Anh văn chuyên ngành, Bộ môn Quan hệ
Quốc tế phân lớp Anh văn của các năm theo khả năng học của sinh viên bao
gồm các lớp A, B, C, D, E, F dựa vào điểm tổng kết tiếng Anh sau mỗi học kỳ,
Trang 14xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp Mặc dù phân chia lớp như thế nhưng nhìn chung khả năng Anh ngữ của sinh viên các lớp gần như ngang nhau, sự phân hóa không lớn lắm Theo mẫu điều tra này thì kết quả chúng tôi thu được như sau:
Bảng 2: Mô tả mẫu theo các lớp Anh văn
6.3 Mô tả theo trình độ tiếng Anh
Khảo sát về các chứng chỉ tiếng Anh mà sinh viên Bộ môn Quan hệ Quốc
tế hiện có cũng phần nào phản ánh được trình độ tiếng Anh của sinh viên Quan
hệ Quốc tế Phần lớn sinh viên của Bộ môn đã có chứng chỉ C tiếng Anh (51.8%) Chúng ta có thể thấy rõ qua bảng kết quả sau:
Trang 15TOEFL 8 7.1%
Bảng 3: Mô tả mẫu theo trình độ tiếng Anh
6.4 Mô tả mẫu theo nơi tốt nghiệp cấp III
Không phải ngẫu nhiên mà chúng tôi lại khảo sát nơi tốt nghiệp Phổ thông trung học của sinh viên các năm Biết được xuất phát điểm về trình độ sẽ giúp đánh giá, so sánh kết quả đạt được sau một quá trình đào tạo giữa sinh viên thành phố và sinh viên nông thôn Kết quả cụ thể như sau:
Bảng 4: Mô tả mẫu theo nơi tốt nghiệp
7 Ý nghĩa của đề tài
Việc tìm hiểu thực trạng học Anh văn chuyên ngành của Bộ môn là rất có ý nghĩa, về mặt nhận thức, góp phần hiểu rõ hơn về thực trạng học Anh văn chuyên ngành ở Bộ môn Quan hệ Quốc tế trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn Tp Hồ Chí Minh Về mặt thực tiễn, nó góp phần đưa ra những giải pháp giúp sinh viên nâng cao việc học Anh văn chuyên ngành Ngoài ra, những kiến nghị thu được từ
Trang 16phía sinh viên chắc hẳn là nguồn đáng tin cậy nhất để Bộ môn và nhà trường tham khảo, xem xét góp phần vào việc đề ra những chiến lược đào tạo hiệu quả
8 Kết cấu đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, báo cáo này gồm có 3 chương Chương I khái quát về Bộ môn Quan hệ Quốc tế và Anh văn chuyên ngành Quan hệ Quốc tế Tiếp theo chương II nói về tầm quan trọng của Anh văn nói chung, tầm quan trọng của Anh văn chuyên ngành Quan hệ Quốc tế nói riêng Trên cơ sở chương I, chương II còn đề cập sâu đến thực trạng học Anh văn chuyên ngành của sinh viên Quan hệ Quốc tế, ĐH Khoa học xã hội và nhân văn Tp Hồ Chí Minh Sau khi tìm hiểu về Bộ môn Quan hệ Quốc tế, chương trình Anh văn của Bộ môn và trên cơ sở
xử lý những số liệu thu được, chương III đề ra một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng học Anh văn chuyên ngành Quan hệ Quốc tế
Trang 17Chương I KHÁI QUÁT VỀ BỘ MÔN QUAN HỆ
QUỐC TẾ
1.1 Bộ môn Quan hệ Quốc tế và nhu cầu đào tạo Anh văn chuyên ngành
1.3.1 Đặc thù của Bộ môn Quan hệ Quốc tế
Bộ môn Quan hệ Quốc tế tách ra từ khoa Sử, bắt đầu hoạt động từ năm
2000 nhưng chính thức được thành lập theo quyết định ngày 17/7/2003 của Hiệu trưởng Trường ĐH KHXH & NV, Đại học Quốc gia Tp HCM Ban đầu, Bộ môn chỉ có 04 cán bộ cơ hữu, do PGS TS Lê Văn Quang, Phó Hiệu Trưởng Nhà trường làm Trưởng Bộ môn Đến nay, Bộ môn đã có đến 20 cán bộ giảng dạy và
02 chuyên viên văn phòng; trong đó, có 2 Tiến sĩ, 3 nghiên cứu sinh, 7 Thạc sĩ, 7 cán bộ trẻ đang theo học chương trình Thạc sĩ tại nước ngoài và 2 cán bộ đang theo học chương trình Cao học trong nước2 Tháng 4/2007, TS Đào Minh Hồng được tái bổ nhiệm làm Trưởng Bộ môn Quan hệ Quốc tế và Th.S Bùi Hải Đăng là Phó trưởng Bộ môn
Đây là một trong số những bộ môn còn rất trẻ của trường ĐH KHXH &
NV, và cũng còn khá mới so với những ngành QHQT của các trường như: Học Viện Ngoại Giao, Khoa quốc tế học- Đại học KHXH & NV Hà Nội,… Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy các môn hiện tại, Bộ môn QHQT còn mời các học giả từ khoa quốc tế học Đại học quốc gia Hà Nội, Học viện ngoại giao (trước đây là Học viện QHQT), Trung tâm nghiên cứu Châu Âu thuộc trung tâm nghiên cứu Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (Hà Nội), các giảng viên thỉnh giảng từ các khoa khác của trường cũng như các trường khác trong khu vực thành phố,…
Sau gần năm năm họat động, hiện nay Bộ môn đã hoàn chỉnh Chương trình đào tạo bậc Cử nhân theo hệ thống Niên chế và Tín chỉ cho các hệ Chính
2
Trang web của Bộ môn Quan hệ quốc tế
http://qhqt.edu.vn/index/index.php?option=com_content&task=view&id=13&Itemid=38
Trang 18quy, Văn bằng hai và Tại chức với số lượng hơn 1.200 sinh viên Dự kiến sau khi phát triển thành Khoa, Bộ môn sẽ tiếp tục đào tạo các chương trình sau Đại học (Thạc sĩ và Tiến sĩ)
Bộ môn QHQT trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về khoa học
xã hội và nhân văn nói chung và về khoa học quốc tế nói riêng, về lịch sử dân tộc Việt Nam và các nước trọng điểm trên thế giới, nắm vững chủ trương và đường lối của Đảng Sinh viên sẽ có kiến thức chuyên sâu và hệ thống về khoa học Quan
hệ Quốc tế, tập trung trong lĩnh vực chính trị quốc tế và đối ngoại Sinh viên còn được hoàn thiện một số kỹ năng cơ bản trong công tác đối ngoại như: kỹ năng nghiệp vụ đàm phán, lễ tân, lãnh sự, kỹ năng phân tích, tổng hợp các vấn đề quốc tế,… Những cử nhân QHQT có đủ kiến thức, năng lực và phẩm chất để phục vụ công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế ở các cơ quan thuộc khu vực nhà nước và khu vực của các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, nghiên cứu và giảng dạy các môn thuộc lĩnh vực khoa học QHQT
Chỉ tiêu sinh viên đầu vào hàng năm của Bộ môn trung bình là 150… Với điểm chuẩn xét tuyển nguyện vọng từ 17,5 trở lên, ở mức cao nhất nhì so với điểm của các bộ môn và khoa khác trong trường ĐH KHXH & NV Tp.HCM Hơn nữa, sinh viên xét tuyển vào Bộ môn QHQT theo khối D1 (bao gồm 3 môn thi: Văn, Toán, Anh văn) nên nhìn chung tiếng Anh của sinh viên là tốt
Bên cạnh đó, với sự nỗ lực cố gắng không ngừng của đội ngũ cán bộ giảng dạy và sinh viên, Bộ môn cũng đã có những thành công đáng kể như: thường xuyên tổ chức buổi gặp gỡ, trao đổi với các học giả, giáo sư quốc tế, câu lạc bộ Anh Văn IREC_COOL, câu lạc bộ Thời sự, hội thảo khoa học,…
Do đặc thù của ngành học này, sinh viên cần nắm vững và sử dụng được tiếng Anh trong công tác đối ngoại, đặc biệt là tiếng Anh chuyên ngành, với tư cách là một phương tiện giao dịch Đó cũng là lí do khiến cho Bộ môn rất chú trọng đến việc dạy và học tiếng Anh Không riêng gì hệ chính quy mà ngay cả văn bằng hai hoặc tại chức cũng phải học tiếng Anh chuyên ngành cho dù đã có bằng cấp tiếng Anh khác Vì Bộ môn còn khá mới, giảng viên còn khá non trẻ và ít kinh
Trang 19nghiệm nên Bộ môn gặp một số khó khăn bước đầu trong công tác giảng dạy là điều không thể tránh khỏi Hơn nữa, chương trình Anh văn chuyên ngành của Bộ môn vẫn còn đang trong giai đoạn hoàn thiện nên đôi lúc gây trở ngại cho cả giảng viên lẫn sinh viên Không nói đâu xa, như sự chênh lệch về trình độ của sinh viên cũng làm giảng viên phải vất vả trong việc giảng bài và chọn lọc bài học
1.3.2 Đặc thù Anh văn chuyên ngành QHQT
Không phải ngẫu nhiên mà chương trình tiếng Anh chiếm đến gần 1/3 số lượng tín chỉ và chia làm 3 giai đoạn đào tạo (Ngoại ngữ cơ sở, Ngoại ngữ chuyên ngành cấp độ I và ngoại ngữ chuyên ngành cấp độ II)3.Vì đặc thù của ngành học
mà chương trình tiếng Anh có một vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình đào tạo Cử nhân Quan hệ Quốc tế, trường ĐH KHXH & NV Tp HCM Nội dung tiếng Anh chuyên ngành QHQT bao gồm các lĩnh vực chính4:
Văn hóa thế giới và khu vực
Lịch sử, văn hóa,… Việt Nam
Giai đoạn Ngoại ngữ chuyên ngành cấp độ I:: trang bị cho sinh viên những
kiến thức cơ bản về Quan hệ Quốc tế bằng cách đưa nội dung các vấn đề chính trị thế giới, thời sự quốc tế, quan hệ đối ngoại, văn hóa thế giới, kinh tế quốc tế vào tất cả các kỹ năng Ví dụ như môn Listening (môn nghe), sinh viên nghe và chép các tin tức thời sự quốc tế (VOA, Special English) Trong môn Reading (môn đọc), sinh viên được đọc các bài báo về tình hình chính trị thế giới, các tổ chức
Trang 20khu vực, những vấn đề toàn cầu,….Sau khi hoàn tất giai đoạn này, sinh viên có thể nghe hiểu tin tức thời sự quốc tế, đọc hiểu, phân tích những bài báo tương đối phức tạp liên quan đến Quan hệ Quốc tế Không những thế môn học Speaking (môn nói), đặc biệt là Public speaking ( môn “nói trước công chúng”) giúp sinh viên trình bày những nội dung đã nghe hoặc đọc bằng tiếng Anh lưu loát và tự tin trước đám đông
Giai đoạn ngoại ngữ chuyên ngành cấp độ II: trang bị cho sinh viên những
kỹ năng tiếng và kiến thức mà một các bộ làm công tác đối ngoại cần phải có, như biên dịch và phiên dịch, phân tích và tổng hợp tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau ( nghe tin thời sự, đọc các bài báo cáo,…) Hoàn tất giai đoạn này, sinh viên có thể đọc và nắm vững chính xác nội dung văn bản , thảo được các thông báo, nghe và hiểu nội dung các cuộc hội đàm, thảo luận, gặp gỡ trao đổi với các đối tác nước
sở, Ngoại ngữ (chuyên ngành) cấp độ I và Ngoại ngữ (chuyên ngành) cấp độ II với mục tiêu đào tạo những cử nhân QHQT có khả năng sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp xã hội, đồng thời như một công cụ làm việc trong lĩnh vực Quan hệ Quốc tế5, công tác đối ngoại (dịch thuật, tiếp xúc, phân tích, tổng hợp,… ) Ngoài ra, tiếng Anh còn là một công cụ hỗ trợ đắc lực trong cả những
5
Chương trình tiếng Anh chuyên ngành QHQT, 2006
Trang 21lĩnh vực chuyên ngành: Chính trị quốc tế, Luật quốc tế và Kinh tế quốc tế Cụ thể các kỹ năng cần phải đạt được như sau:6
Nghe: nghe hiểu tối thiếu những nội dung cơ bản của các cuộc trao đổi qua
điện thoại, hội thảo, hội nghị, hội đàm các cuộc gặp gỡ trao đổi với các đối tác nước ngoài, chương trình phát trên đài phát thanh và truyền hình,…
Nói: phát âm chuẩn, giao tiếp thông thạo tiếng Anh trong các tình huống thông
thường, thảo luận, phát biểu các ý kiến một cách trôi chảy, lưu loát, rõ ràng Không những trình bày được các chủ đề liên quan đến tình hình chính trị, kinh tế,
xã hội, lịch sử, văn hóa,…Việt Nam mà còn các vấn đề toàn cầu, các vấn đề quốc
tế trong Quan hệ Quốc tế
Đọc: Nắm được nội dung và những ẩn ý trong các công văn ngoại giao, các bài viết tiếng Anh trên báo, tạp chí chuyên ngành, sách, tài liệu về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, Quan hệ Quốc tế, văn hóa, lịch sử, tài chính, luật pháp, thương mại, khoa học kỹ thuật, …
Viết: Soạn thảo được công văn ngoại giao, viết báo cáo, thông báo, thông cáo,
bản tin về các chủ đề Quan hệ Quốc tế Có khả năng tóm tắt bằng tiếng Anh các tài liệu, sách, báo, tạp chí…và trình bày quan điểm cá nhân các chủ đề liên quan
Dịch thuật: Dịch các tài liệu, văn bản ngoại giao, các bài báo, tạp chí, sách, tài
liệu,…hai chiều (từ Anh sang Việt và từ Việt sang Anh) chính xác, đúng văn phạm, lược dịch tóm tắt được các tài liệu Phiên dịch rõ ràng, lưu loát, chính xác trong các tình huống thông thường
6
Giới thiệu chương trình, phương pháp và kinh nghiệm giảng dạy ngoại ngữ tại Học viện QHQT, ThS Nguyễn Đình Thao, Trưởng khoa ngoại ngữ, Học viện QHQT
Trang 221.5 Khái quát chương trình đào tạo Anh văn chuyên ngành Quan hệ
Quốc tế
1.5.1 Mục tiêu đào tạo
Vì tính đặc thù của ngành học mà chương trình tiếng Anh có một vị trí quan
trọng trong chương trình đào tạo cử nhân Quan hệ Quốc tế, trường Đại học KH
KHXH và NV Tp HCM (chiếm gần 1/3 tổng số lượng tín chỉ) Chương trình
tiếng Anh Quan hệ Quốc tế được chia làm ba giai đọan đào tạo (Ngoại ngữ cơ
sở, ngoại ngữ (chuyên ngành) cấp độ I và Ngoại Ngữ (chuyên ngành) cấp độ II
nhằm đào tạo những người có khả năng sử dụng tiếng như một công cụ giao
tiếp trong lĩnh vực Quan hệ Quốc tế
1.3.2 Quy trình đào tạo
1.3.2.1 Chương trình đào tạo
Bảng 5: Giai đoạn đào tạo Anh văn 1.3.2.2 Bảng phân phối môn học và nội dung chi tiết môn học
a Ngoại ngữ cấp độ I : 16 tín chỉ HỌC KỲ IV
Trang 23Bảng 6: Phân phối môn học HỌC KỲ V
Trang 24Bảng 9: Phân phối môn học
HỌC KỲ VIII
Bảng 10: Phân phối môn học
Trang 25Chương IITHỰC TRẠNG HỌC ANH VĂN CHUYÊN NGÀNH
CỦA SINH VIÊN QUAN HỆ QUỐC TẾ
3 Khái quát tầm quan trọng của Anh văn chuyên ngành Quan hệ Quốc tế
Trong thời kỳ đất nước đã và đang hội nhập, ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng là vô cùng cần thiết cho nhiều người Đặc biệt, đối với sinh viên thì ngoại ngữ là điều kiện cần phải có để xin việc làm Vì vậy, phải nói rằng ngoại ngữ là môn học không thể thiếu ở các trường đại học Mặt khác, với thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa như ngày nay thì trình độ ngoại ngữ của sinh viên càng được đòi hỏi cao hơn, chất lượng hơn Có như vậy thì mới có thể tiếp thu được những thành tựu Khoa học kĩ thuật từ các nước bạn, mới giao lưu, quan hệ được với các nước trên thế giới và nhất là giúp ích cho công việc của các em sau này
Như trên đã viết, ngành Quan hệ Quốc tế là ngành đào tạo những cử nhân Quan hệ Quốc tế, những người làm công tác ngoại giao, những người đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy các mối quan hệ giao lưu xã hội được tốt đẹp hơn Hiện nay, ngoại ngữ không chỉ quan trọng đối với một cá nhân, một tập thể mà là đối với cả quốc gia Chúng ta không thể là người thành đạt nếu trong một cuộc tiếp xúc ở hội nghị quốc tế hay cuộc họp với các đầu tư nước ngoài mà
ta không hiểu họ muốn gì và không thể bày tỏ ý kiến cũng như quan điểm cá nhân của bản thân Vì vậy, bộ môn Quan hệ Quốc tế trường Đại Học Khoa Học Xã Hội
và Nhân Văn chọn tiếng Anh dạy cho sinh viên là hợp lý
Ngày nay tiếng Anh được coi là một ngôn ngữ quốc tế và là một trong những phương tiện hiệu quả nhất trong giao tiếp, hội nhập quốc tế và làm chủ tri thức nhân loại của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và mỗi cá nhân Do tầm quan trọng cũng như tính phổ biến cao của tiếng Anh như vậy nên thu hút được sự quan tâm
Trang 26chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ Liệu chúng ta có bao giờ đặt ra câu hỏi: “Tại sao tiếng Anh lại được chọn là ngôn ngữ quốc tế chứ không phải bất kỳ một ngôn ngữ nào khác?” Như chúng ta được biết thì tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai được sử dụng nhiều nhất sau tiếng phổ thông Trung Quốc Mặc dù xếp thứ hai, tuy nhiên mật độ phân bố người sử dụng tiếng Anh lại rải rác đều trên toàn thế giới, trong khi đó tiếng phổ thông Trung Hoa được xếp hàng đầu vì đây là quốc gia có dân số đông nhất thế giới Các nước trên thế giới khi giao tiếp với nhau thường mượn tiếng Anh làm ngôn ngữ trung gian Qua tiếng Anh, những người ở các quốc gia khác nhau, nói những thứ tiếng khác nhau vẫn có thể hiểu nhau Trong xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa như hiện nay thì dạy và học tiếng Anh không chỉ đơn giản nhằm liên kết các cá nhân với các cá nhân mà còn gắn kết các quốc gia lại với nhau
Việt Nam đang trong xu thế hội nhập, mở cửa về nhiều lĩnh vực như kinh
tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật Nhu cầu sử dụng tiếng Anh của Việt Nam là rất lớn Bên cạnh đó, tiếng Anh giúp sinh viên dể dàng tìm thấy những thông tin chuyên ngành phục vu cho việc học vì hiện nay tài liệu Tiếng Việt liên quan tới ngành học không nhiều
Việc dạy và học tiếng Anh trong ngành Quan hệ Quốc tế có một vị thế vô cùng quan trọng đối với những nhà ngoại giao trong tương lai Vì bên cạnh những kiến thức Quan hệ Quốc tế mà họ được trang bị, họ cần được hỗ trợ thêm vốn ngôn ngữ quốc tế Đất nước ta có khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế hay không thì phần lớn nhờ vào tài năng của nhà ngoại giao tương lai Một nhà đàm phán giỏi, với khả năng diễn thuyết bằng ngôn ngữ quốc tế trôi chảy sẽ khiến bạn bè quốc tế nể phục Nhờ đó, vị thế quốc tế của nước ta sẽ được tăng lên
Tiếng Anh là công cụ hữu dụng không thể thiếu được trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh chức năng là công cụ giao tiếp, công cụ truyền tải thông tin, nó còn
là chiếc cầu nối đưa Việt Nam đi xa hơn nữa trên tiến trình hội nhập Vậy thì không lý gì những nhà ngoại giao trong tương lai của đất nước lại không được trang bị kíên thức Anh văn chuyên ngành
Trang 27Lý Quang Diệu khi sang thăm Việt Nam đã từng nói : “Không thể nghe và nói tiếng Anh trôi chảy, chỉ có thể đọc thôi đã là tụt hậu”7 Thực vậy, hiện nay, các
kỹ sư làm việc quốc tế đều có khả năng nói tiếng Anh rất tốt Do đó, những người trong ngành Quan hệ Quốc tế cần phải phát huy cao hơn nữa khả năng dạy và học tíêng Anh chuyên ngành của mình
4 Phân tích thực trạng của việc học Anh văn chuyên ngành Quan hệ Quốc tế
Tính cho đến nay Bộ môn Quan hệ Quốc tế được thành lập khoảng 5 năm Như vậy, chương trình đào tạo Anh văn của Bộ môn có thể nói là tương đối hoàn thiện hơn so với những năm đầu mới thành lập Thế nhưng thực trạng học Anh văn của sinh viên Bộ môn thì lại còn có quá nhiều vấn đề để chúng ta phải quan tâm nghiên cứu Một mặt để hiểu được tình hình học Anh văn chuyên ngành của Bộ môn mặt khác nhằm tìm ra những hạn chế còn tồn đọng để Bộ môn QHQT nói riêng và nhà trường nói chung có thể khắc phục và cải thiện góp phần nâng cao chất lượng học Anh văn chuyên ngành của sinh viên Bộ môn
Năm 2007, chúng tôi cũng đã từng tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng học
Anh văn chuyên ngành Quan hệ Quốc tế của Bộ môn Quan hệ Quốc tế Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn” Mặc dù cũng có những kết quả khả
quan nhưng thực tế vẫn chưa lột tả được hết thực trạng học Anh văn của sinh viên Quan hệ Quốc Tế Vì thế, năm nay chúng tôi tiếp tực thực hiện đề tài này nhưng nghiên cứu ở mức độ rộng và sâu hơn Trong chương II này chúng tôi nghiên cứu thực trạng học Anh văn chuyên ngành của sinh viên Bộ môn xoay quanh những vấn đề là:
Mục đích học Anh văn chuyên ngành của sinh viên Quan hệ Quốc tế
Đánh giá chung về khả năng Anh văn của sinh viên QHQT
Ý thức học tập của sinh viên
Thời gian dành cho việc học Anh văn chuyên ngành
7
www.tuoitre.com.vn
Trang 28 Phương pháp học Anh văn chuyên ngành
Kết quả học tập của sinh viên
2.2.1 Mục đích học Anh văn chuyên ngành của sinh viên Quan hệ Quốc tế
Anh văn là môn học chính thức bắt buộc đối với sinh viên Quan hệ Quốc
tế Nó đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp sinh viên có thể giao tiếp tốt với người nước ngoài Như vậy việc xác định mục đích học tiếng Anh của sinh viên Bộ môn cũng là việc rất quan trọng Đây cũng là vấn đề được chúng tôi khảo sát trong một câu hỏi với 5 gợi ý và thu được kết quả như sau:
Tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế 93 74.4%
Tiếng Anh là ngoại ngữ bắt buộc 54 43.2%
Để có thể giao tiếp với người nước
Bảng 11: Mục đích học Anh văn của sinh viên Bộ môn Quan hệ Quốc tế
Kết quả khảo sát cho thấy 75.2% sinh viên Quan hệ Quốc tế xác định rằng mục đích đầu tiên học Anh văn là để dễ kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp Đây cũng là mục đích được các bạn sinh viên lựa chọn nhiều nhất, như vậy ta có thể thấy được ý thức của các bạn sinh viên về tầm quan trọng của Anh văn đối với công việc cũng như là sự thăng tiến sau này của họ Đặc biệt đối với những người
đã chọn làm công tác đối ngoại cho nghề nghiệp của mình sau này thì việc chọn học Anh văn lại là một điều cần thiết hơn nữa
Trang 29Một con số cũng không nhỏ lựa chọn lý do Tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế, với 93 sinh viên lựa chọn chiếm tỷ lệ 74.4% Như vậy một lần nữa tính quốc tế và vai trò phổ biến của tiếng Anh lại được khẳng định Đây cũng là một lý do tích cực tác động đến việc lựa chọn học Anh văn của sinh viên Quan hệ Quốc tế
Bên cạnh đó có đến 86 sinh viên chiếm tỷ lệ 68.8% chọn học Anh văn là để
có thể giao tiếp tốt với người nước ngoài Với vai trò là những người làm công tác đối ngoại thì việc giao tiếp với người nước ngoài là khó tránh khỏi Thế nên khi lựa chọn mục đích học Anh văn để có thể nâng cao khả năng giao tiếp với người nước ngoài sẽ có tác động tích cực đến công việc của sinh viên QHQT sau này
Một con số cũng không nhỏ chiếm 43.2% lựa chọn học Anh văn là vì Anh văn là ngoại ngữ bắt buộc trong chương trình đào tạo của Bộ môn Đây là lựa chọn không được khả quan lắm Bởi vì con số này cho thấy vẫn còn một bộ phận không nhỏ sinh viên chưa có những suy nghĩ tích cực trong việc học Anh văn Họ vẫn chưa xác định được tính chất quan trọng của việc học Anh văn, mà đặc biệt là Anh văn chuyên ngành Quan hệ Quốc tế Sự thụ động và tính ỷ lại này không ít thì nhiều cũng sẽ ảnh hưởng không tốt đến kết quả học Anh văn của sinh viên Bộ môn
Ngoài ra cũng còn khoảng 24 sinh viên với tỷ lệ 19.2% chọn học Anh văn
vì mục đích khác Mặc dù chúng tôi không thống kê rõ ràng thế nhưng những mục đích khác này có lẽ cũng là những động lực thúc đẩy sinh viên học tập tốt hơn
Như vây, việc xác định mục đích học Anh văn ngay từ ban đầu có thể giúp sinh viên có những thái độ tích cực hơn trong việc học cũng như là có những mục tiêu phấn đấu xa hơn nữa trong tương lai
Nhìn chung những mục đích học Anh văn mà sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế lựa chọn nó thiên về tính thực tế nhiều hơn Về cơ bản sinh viên cũng đã nhìn thấy rõ được tầm quan trọng của Tiếng Anh trong công việc sau này cũng như trong cuộc sống của họ Đó là những mục đích chọn học Anh văn của sinh viên Quan hệ Quốc tế Vậy thì khả năng Anh văn của các bạn hiện nay là như thế nào?
Trang 302.2.2 Đánh giá chung về khả năng Anh văn của sinh viên QHQT
Đối với sinh viên Quan hệ Quốc tế, tiếng Anh là một ngoại ngữ cần thiết và
là môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo Như vậy, để đảm bảo cho sinh viên học tốt chương trình Anh văn chuyên ngành cũng như là đảm bảo cân bằng trình độ tiếng Anh giữa các bạn sinh viên thì Bô môn đòi hỏi ở mỗi sinh viên phải
có trình độ nhất định Một mặt do đầu vào của ngành Quan hệ Quốc tế là khối D1 nên nhìn chung là sinh viên có được trình độ Anh văn căn bản ngang nhau, không
có sự chênh lệch lớn Bên cạnh đó, Bộ môn còn yêu cầu mỗi sinh viên tối thiểu phải có chứng chỉ C Anh văn trước khi bước vào học Anh văn chuyên ngành (bắt đầu vào cuối năm thứ 2) Về vấn đề chứng chỉ Anh văn của sinh viên Quan hệ Quốc tế cũng được chúng tôi quan tâm khảo sát Bởi nó cũng phần nào phản ánh được khả năng Anh văn của sinh viên Bộ môn Theo kết quả điều tra mà chúng tôi thu được thì có đến 58/125 sinh viên được khảo sát có chứng chỉ C Anh văn chiếm 51.8% Ngoài chứng chỉ C thì một số lượng không đáng kể sinh viên có chứng chỉ TOEFL (trên500), IELTS (5.5) đảm bảo theo yêu cầu Một con số đáng lưu ý nữa
đó là 30 sinh viên trong số những người được hỏi chọn đáp án khác, trong đó ghi nhận nhiều nhất là chưa có chứng chỉ nào mà con số này phần lớn rơi vào năm thứ nhất Lý do cũng dễ hiểu vì các bạn sinh viên năm nhất mới vào nên tạm thời chưa đáp ứng được yêu cầu này Nhưng con số này có thể giúp Bộ môn có biện pháp thức đẩy các bạn sinh viên năm nhất sớm có sự đồng bộ về chứng chỉ Anh văn trước khi bước vào học Anh văn chuyên ngành Như vậy, nhìn chung trình độ Anh văn của sinh viên Bộ môn là tương đối đồng đều
Trang 31Biểu đồ 1: Chứng chỉ Anh văn hiện có của sinh viên QHQT
Dựa vào kỹ năng thôi thì chúng ta vẫn chưa đánh giá hết được khả năng Anh văn thực tế của sinh viên Vì thế chúng tôi đi sâu phân tích từng kỹ năng của sinh viên Trước hết là về những kỹ năng mà sinh viên đánh giá là mình học tốt nhất trong các kỹ năng cơ bản Kết quả thu được của chúng tôi như sau: Chiếm tỷ
lệ cao nhất là ở kỹ năng đọc với 43 sinh viên trên tổng số 125 chiếm 35.2% cho rằng mình học tốt nhất là môn đọc (reading), chiếm tỷ lệ cao thứ 2 là môn nói với
41 sinh viên lựa chọn chiếm tỷ lệ 33.6%, tỷ lệ thấp nhất là ở môn nghe chỉ 14 sinh trên tổng số 125 người cho rằng mình học tốt môn nghe Như vậy, những con số này nói lên được điều gì? Vì sao tỷ lệ sinh viên học tốt môn đọc lại cao hơn hẳn so với những môn khác? Điều này phản ánh một thực trạng chung của việc giảng dạy Anh văn tại các trường phổ thông, nghĩa là chỉ chú trọng dạy ngữ pháp nhiều mà
lơ là những kỹ năng khác cũng không kém phần quan trọng như nghe và nói Với sinh viên chuyên ngành Quan hệ Quốc tế thì đây sẽ là những hạn chế hay là những rào cản lớn đối với việc giao tiếp khi kỹ năng nghe và nói tiếng Anh vẫn còn chiếm tỷ lệ rất thấp những người cho là mình học tốt Như vậy liệu có thể đảm bảo được sau khi ra trường sinh viên Quan hệ Quốc tế có thể giao tiếp tốt bằng tiếng
Trang 32Anh hay không? Nguyên nhân cũng không hoàn toàn nằm ở chương trình đào tạo
mà một phần cũng là do từ phía các bạn sinh viên vẫn chưa nổ lực hết mình Theo khảo sát của chúng tôi thì cũng còn rất nhiều sinh viên lười rèn luyện nghe, không chịu tìm kiếm môi trường để luyện kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh Thế nên các bạn cứ đóng băng nhưng kiến thức mình đã học, chỉ học những gì được dạy trên lớp chứ không tự mình đi sâu hơn Đó cũng là những nguyên nhân khiến sinh viên khó tiến bộ trong việc cải thiện các kỹ năng
Biểu đồ 2: Kỹ năng tốt nhất của sinh viên
Song song với việc tìm hiểu kĩ năng tốt nhất thì chúng tôi cũng khảo sát kỹ năng yếu nhất của sinh viên để tìm ra những nguyên nhân và giải pháp nhằm khắc phục những kỹ năng này Theo kết quả thu được thì có đến 72/125 chiếm 58.1% sinh viên được khảo sát cho rằng mình yếu nhất ở kỹ năng nghe Một con số đáng báo động đối với sinh viên ngành Quan hệ Quốc tế Một kỹ năng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với công việc của một người làm ngoại giao thì lại chiếm tỷ lệ người học yếu cao nhất Chúng ta không thể phủ nhận tính chất của kỹ năng nghe
là rất khó, đặc biệt là học nghe kiến thức chuyên ngành Quan hệ Quốc tế lại càng khó hơn nữa đối với sinh viên Đó cũng chính là một nguyên nhân khiến nhiều
Trang 33sinh viên học kém môn nghe Chính vì lẽ đó mà môn học này đòi hỏi sự rèn luyện nhiều hơn so với những kỹ năng khác, thế nhưng thật đáng buồn thay như đã đề cập ở trên phần lớn các bạn sinh viên Quan hệ Quốc tế rất lười luyện nghe Như vậy thì chắc chắn là chúng ta sẽ không thể tiến bộ được khi chúng ta không có ý thức khắc phục cho dù Bộ môn có cố gắng như thế nào đi nữa Bên cạnh nguyên nhân chủ quan từ các bạn sinh viên thì thiết nghĩ nhìn con số sinh viên yếu kỹ năng nghe nhiều như thế này Bộ môn cũng sẽ có những biện pháp thiết thực hơn
để giúp sinh viên học tốt hơn kỹ năng này
Một số liệu khác nữa cũng đáng phải quan tâm là có đến 22.6% sinh viên yếu kĩ năng viết Mà lý do chính là sinh viên ít được học môn viết Hoặc nếu có học thì cũng chỉ qua loa chứ không được chú trọng nhiều Như vậy, ở môn học này, lý do chính khiến sinh viên học yếu là do chưa được quan tâm nhiều và đúng mức
Những con số trên đây đã phần nào phản ánh được khả năng thực tế của sinh viên Quan hệ Quốc tế Biết được sinh viên học tốt kỹ năng nào và còn yếu ở
kỹ năng nào để các bạn sinh viên cũng như là Bộ môn có những biện pháp khắc phục để cải thiện chất lượng học của mình tốt hơn
Biểu đồ 3: Kỹ năng yếu nhất của sinh viên
Trang 34Những phân tích ở trên chỉ mới phần nào giúp chúng ta có cái nhìn tổng
quát về khả năng Anh văn của sinh viên Bộ môn Thế nên tôi muốn đi sâu phân
tích khả năng của sinh viên ở từng kỹ năng
1 Kỹ năng nghe và nói
Trước hết ở kỹ năng nghe, có đến 63/125 sinh viên chiếm 50.8% đánh giá là mình ở mức độ trung bình, 21% sinh viên đánh giá mình khá, tốt chỉ 10.5% và vẫn còn 17.7% đánh giá mình yếu Điều này cho thấy số lượng sinh viên có chất lượng tốt còn quá ít, trong khi
đó sinh viên ở mức độ trung bình và yếu vẫn còn chiếm số lượng nhiều
Bảng 12: Khả năng của sinh viên ở kỹ năng nghe
Với kỹ năng nói, kết quả thu được như sau, có đến 53 sinh viên chiếm tỷ lệ 42.7% cho rằng mình học khá môn này, 14.4% đánh giá
là mình học tốt, tỷ lệ sinh viên trung bình và yếu cũng còn khá nhiều
và đáng kể
Trang 35Khả năng ở kỹ năng nói Số lượng Tỷ lệ %
Bảng 13: Khả năng của sinh viên ở kỹ năng nói
Như vậy từ những số liệu trên ta có thể thấy rõ ràng một điều là tỷ lệ sinh viên học tốt và khá ở hai kỹ năng nghe và nói còn khá khiêm tốn trong khi số lượng sinh viên học Anh văn ở mức trung bình và yếu lại còn khá nhiều Liệu có thể chấp nhận được hay không khi hai kỹ năng nghe và nói đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành giao tiếp bằng lời đối với sinh viên học chuyên ngữ thì sinh viên Quan hệ Quốc tế lại còn yếu những kỹ năng này Đó cũng là điều
mà sinh viên cũng như Bộ môn phải quan tâm và tìm cách khắc phục
Với hai kỹ năng này thì cách khắc phục hữu hiệu nhất vẫn là từ phía sinh viên Chính vì lẽ đó, chúng tôi cũng khảo sát ý kiên của các bạn sinh viên về nhưng cách làm sao để có thể khắc phục những kỹ năng này đối với những người còn yếu kém Cụ thể chúng tôi đưa ra được những cách khắc phục như sau:
Đối với môn nghe, có 61 sinh viên chiếm tỷ lệ cao nhất 73.5% chọn cách luyện nghe thường xuyên Đối với môn học này thì thiết nghĩ chỉ có cách nghe thường xuyên thì mới có thể cải thiện được khả năng nghe của sinh viên Đây là cách hay nhất và hữu hiệu nhất Luyện nghe nhiều và thường xuyên không những nâng cao khả năng nghe mà nó còn giúp sinh viên có khả năng phản xạ nhanh khi giao tiếp với người nước ngoài Đồng thời lượng kiến thức chuyên ngành cũng sẽ được mở rộng hơn Ngoài ra một số cách khắc phục khác được sinh viên lựa chọn nhiều như: tham gia các lớp ngoại khóa, nghe tin tức bằng tiếng Anh, sử dụng các
Trang 36phương tiện thông tin hỗ trợ,… Bên cạnh đó còn có một số lượng lớn những sinh viên bỏ trống câu này, 42/125 sinh viên chiếm 33.6%, mà theo như chúng tôi khảo sát thì họ nói rằng chưa cách khắc phục Như vậy vẫn còn một số lượng lớn các bạn sinh viên vẫn chưa tìm ra cho mình một cách khắc phục nào cả Điều này chứng tỏ các bạn gặp rắc rối trong phương pháp học nghe của mình
Sử dụng các phương tiện thông tin hỗ
dù không chiếm số lượng lớn nhưng cũng là những biện pháp hay như: đi học
thêm Anh văn bên ngoài, hoặc giao tiếp với người nước ngoài,…
2 Kỹ năng đọc và viết
Ở kỹ năng đọc, kết quả có vẻ khả quan hơn, cụ thể là 61 sinh viên chiếm tỷ
lệ cao nhất 49.2% cho rằng mình học khá môn đọc, 37.1% đánh giá mình học trung bình, và 12.1% sinh viên cho rằng mình học tốt môn này, chỉ 1.6% yếu Điều này chứng tỏ sinh viên đã được chú trọng đào tạo kỹ về phần ngữ pháp và
Trang 37từ vựng từ dưới bậc phổ thông Thế nên khi vào học ở bậc Đại học thì môn đọc
có vẻ thuận lợi hơn
Bảng 15: Khả năng của sinh viên ở kỹ năng đọc
Ở kỹ năng viết, chiếm số lượng cao nhất cũng vẫn là số sinh viên đánh giá mình học lực trung bình với 43 người chiếm 43.5%, khá 35.5%, tốt và yếu chiếm
tỷ lệ ngang nhau 10.5% Trên thực tế kỹ năng viết là kỹ năng mà sinh viên Bộ môn được học ít nhất cộng thêm lý do sinh viên không chú trọng nhiều vào việc luyện kỹ năng này Thế nên kết quả không được khả quan lắm
Tương tự với hai kỹ năng này chúng tôi cũng đưa ra những giải pháp khắc phục Cụ thể như sau:
Với kỹ năng đọc, cách học được sinh viên lựa chọn nhiều nhất là đọc nhiều và thường xuyên chiếm tỷ lệ 62.2% Đối với những sinh viên còn yếu
kỹ năng này thì đây là cách hữu hiệu nhất để nâng cao kỹ năng nghe của mình Ngoài ra còn một số biện pháp khắc phục khác cũng được các bạn lựa chọn như: nắm vững kỹ năng đọc hiệu quả (13.3%), đa dạng hóa nguồn tài liệu đọc (24.4%)
Trang 38Cách khắc phục kỹ năng viết Số lượng Tỷ lệ %
Học cách viết văn phong nước ngoài 10 19.6%
Bảng 17: Cách khắc phục kỹ năng viết
Trang 39Một đặc điểm chung mà chúng ta nhận thấy ở hai bảng số liệu trên là số lượng người bỏ trống chiếm một số lượng khá lớn Theo kết quả khảo sát mà chúng tôi thu được thì gần như là những sinh viên trong số người bỏ trống này chưa tìm ra biện pháp khắc phục hiệu quả Đây cũng là một điều gây đau đầu trước hết là ngay bản thân sinh viên Kết quả học đã không khả quan mà lại chưa tìm ra được biện pháp cải thiện chất lượng học Những con số này phần nào đó giúp sinh viên xem lại cách học của mình Làm sao đó để có thể tìm ra biện pháp thích hợp nhất để cải thiện khả năng còn hạn chế của mỗi sinh viên Bởi vì một khi
đã không có phương pháp học tốt thì chắc chắn chất lượng học cũng theo đó mà đi xuống
2.2.3 Ý thức học tập của sinh viên
Ý thức học tập đóng vai trò hết sức quan trọng đối hiệu quả học tập của sinh viên Đặc biệt là đối với sinh viên bậc Đại học thì giảng viên chỉ đóng vai trò
là người hướng dẫn còn vai trò quyết định vẫn là ở sinh viên Vì nếu giảng viên có
cố gắng đến mấy đi nữa mà sinh viên của họ không có ý thức nỗ lực thì cũng chỉ
vô tác dụng mà thôi Thế nên chúng tôi tiến hành khảo sát về “ý thức học tập” của sinh viên Bộ môn Kết quả thu được như sau:
Có đến 81 sinh viên chiếm tỷ lệ 65.9% tham gia các giờ học nhưng lại không tích cực cộng thêm 4.8% sinh viên có thái độ thụ động và không mấy quan tâm đến việc học Anh văn Đây là những điều khó có thể chấp nhận được bởi vẫn còn 65.9% sinh viên có tham gia giờ học nhưng không tích cực trong giờ học sẽ dẫn đến tình trạng giảng viên “độc thoại”, không có sự trao đổi qua lại giữa giảng viên và sinh viên Việc học một ngoại ngữ nó không giống như những môn học khác ở bậc Đại học, không thể duy trì tình trạng “thầy đọc_ trò viết” Bởi nó sẽ dễ gây nhàm chán và không hiệu quả trong giờ học
Trang 40Không quan tâm
Biểu đồ 4: Thái độ của sinh viên trong giờ học
Như vậy thì nguyên nhân từ đâu mà khiến cho nhiều sinh viên tham gia các giờ học không tích cực trong các giờ học Anh văn? Điều này cũng được chúng tôi đưa ra khảo sát và tìm ra những nguyên nhân sau:
Về phía giảng viên: có đến 42/125 sinh viên chiếm tỷ lệ cao nhất 41.2%
cho rằng phương pháp dạy chưa hợp lý, 18.6% sinh viên nói rằng giờ học nhàm chán, không tạo được hứng thú để học Chúng ta đều không phủ nhận sự hợp tác giữa giảng viên và sinh viên trong quá trình học là điều cần thiết Giảng viên là người chủ động hướng dẫn và định hướng bài học cho sinh viên Thế nhưng một điều quan trọng là giảng viên làm thế nào để chủ động lôi kéo sự chú ý của sinh viên cũng như là tạo không khí hào hứng giúp sinh viên dễ dàng nắm bắt bài học hơn
Về phía sinh viên: 35/125 sinh viên chiếm tỷ lệ 34.3% tự nhận là mình lười
học Đặc thù của việc học ngoại ngữ là phải thường xuyên luyện tập và phải thật
sự kiên nhẫn thì mới mong có sự tiến bộ Như vậy thì rõ ràng đây là một sự mâu thuẫn khó có thể chấp nhận được Trong khi cần thiết phải có sự nổ lực cố gắng thì