TÓM TẮT ĐỀ TÀI SO SÁNH SỬ THI THẦN THOẠI ĐẺ ĐẤT ĐẺ NƯỚC CỦA TỘC NGƯỜI MƯỜNG VỚI SỬ THI THẦN THOẠI CỦA Nhận thức được tầm quan trọng của việc tìm hiểu, nghiên cứu các giá trị văn học dâ
Trang 1GIẢI THƯỞNG “SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM 2008
SO SÁNH SỬ THI THẦN THOẠI
MƯỜNG VỚI SỬ THI THẦN THOẠI
CỦA TỘC NGƯỜI M’NÔNG
THUỘC NHÓM NGÀNH: XH2a
Trang 2TÓM TẮT ĐỀ TÀI
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu 5
3 Phương pháp nghiên cứu 6
4 Những đóng góp của đề tài 7
5 Giới hạn của đề tài 7
6 Kết cấu của đề tài 8
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Giới thiệu về sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường và sử thi thần thoại của tộc người M’nông 1.1 Khái niệm sử thi và sử thi thần thoại 9
1.2 Sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường 11
1.3 Sử thi thần thoại của tộc người M’nông 17
Chương 2: So sánh nội dung của sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường với sử thi thần thoại của tộc người M’nông 2.1 Nội dung suy nguyên về sự hình thành vũ trụ - thế giới tự nhiên, loài người/con người, tộc người Mường và M’nông 21
2.2 Nội dung suy nguyên về sáng tạo văn hóa/lao động sản xuất, phong tục tập quán 22
2.3 Thế giới “ba tầng” trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước và ot nrông 24
2.4 Nhân vật anh hùng văn hóa trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước và ot nrông 26
2.5 Nội dung phản ánh những vận động, chuyển biến lớn trong xã hội của tộc người Mường và tộc người M’nông 28
Chương 3: So sánh hình tượng thế giới tự nhiên, con người, yếu tố cấu thành và môi trường diễn xướng trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường với sử thi thần thoại của tộc người M’nông 3.1 Hình tượng thế giới tự nhiên 30
3.2 Hình tượng con người 31
3.3 Ngôn ngữ 33
3.4 Kết cấu tác phẩm 35
3.5 Môi trường diễn xướng 36
PHẦN KẾT LUẬN 40
Trang 3PHẦN PHỤ LỤC 45
Trang 4TÓM TẮT ĐỀ TÀI
SO SÁNH SỬ THI THẦN THOẠI ĐẺ ĐẤT ĐẺ NƯỚC CỦA
TỘC NGƯỜI MƯỜNG VỚI SỬ THI THẦN THOẠI CỦA
Nhận thức được tầm quan trọng của việc tìm hiểu, nghiên cứu các giá trị văn học dân gian, dựa trên một số công trình đã nghiên cứu về sử thi thần thoại Mường và sử
thi thần thoại M’nông, chúng tôi thực hiện đề tài “SO SÁNH SỬ THI THẦN
THOẠI ĐẺ ĐẤT ĐẺ NƯỚC CỦA TỘC NGƯỜI MƯỜNG VỚI SỬ THI THẦN
THOẠI CỦA TỘC NGƯỜI M’NÔNG” nhằm góp một cái nhìn về sử thi thần thoại
của tộc người Mường và M’nông trên cơ sở so sánh, đối chiếu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi thực hiện các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thu thập, thống kê, phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh đồng loại hình, phương pháp lịch sử, phương pháp nghiên cứu liên ngành… Tuy nhiên những người thực hiện đề tài này chỉ mới chập chững đi những bước đầu tiên trên con đường nghiên cứu khoa học đầy chông gai và còn nhiều hạn chế về mặt kiến thức, phương pháp nghiên cứu nên công trình này chắc chắn còn nhiều thiếu sót và không thỏa mãn được người đọc
2 Phần nội dung
Nội dung đề tài chúng tôi gồm 3 chương với nhiều tiểu mục nhỏ
Chương 1: Giới thiệu sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường
và sử thi thần thoại của tộc người M’nông
Trong chương này, chúng tôi chia làm 3 mục nhỏ
Phần 1.1, chúng tôi nói về khái niệm sử thi và sử thi thần thoại
Trang 5Phần 1.2, chúng tôi giới thiệu về sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường bao gồm bối cảnh lịch sử - xã hội để hình thành sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ
nước, trình bày lý do chọn bản kể Đẻ đất đẻ nước được sưu tầm ở Hòa Bình, đồng thời
cũng giới thiệu một cách khái quát về nội dung và nghệ thuật của sử thi Đẻ đất đẻ
nước
Phần 1.3, như phần 1.2 giới thiệu về sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc
người Mường, trong mục này chúng tôi giới thiệu về sử thi thần thoại của tộc người M’nông bao gồm bối cảnh lịch sử - xã hội để hình thành sử thi thần thoại M’nông, giới thiệu khái quát về nội dung và nghệ thuật ot nrông Chúng tôi giới hạn phạm vi tìm hiểu và so sánh sử thi thần thoại của tộc người M’nông trong bốn áng sử thi được trích
từ công trình Sử thi thần thoại M’nông của Đỗ Hồng Kỳ gồm: Bông, Rõng và Tiăng;
Ndu thăm Tiăng; Tiăng chết và sống lại; Lêng đi giành lại đàn nring
Chương 2: So sánh nôi dung sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người
Mường với sử thi thần thoại của tộc người M’nông
Trong chương này, chúng tôi tiến hành so sánh về mặt nội dung sử thi thần thoại của tộc người Mường và M’nông trên 5 điểm cơ bản sau: nội dung suy nguyên về sự hình thành vũ trụ - thế giới tự nhiên, loài người/ con người, tộc người; nội dung về sáng tạo văn hóa/ lao động sản xuất, phong tục tập quán; so sánh về thế giới “ba tầng”;
hình tượng nhân vật anh hùng trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước và ot nrông, nội
dung phản ánh những vận động, chuyển biến lớn trong xã hội của tộc người Mường và tộc người M’nông Ở mỗi phần, bước đầu chúng tôi đã chỉ ra những điểm giống và khác nhau của hai áng sử thi và phần nào lý giải được sự tương đồng và dị biệt giữa hai sử thi là do điều kiện lịch sử - xã hội của từng tộc người quy định
Chương 3: So sánh hình tượng thế giới tự nhiên, con người, yếu tố cấu thành
và môi trường diễn xướng trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người
Mường với sử thi thần thoại của tộc người M’nông
Chúng tôi so sánh về hình tượng thế giới tự nhiên của tộc người Mường và M’nông thể hiện qua sử thi thần thoại, thế giới tự nhiên trong hai áng sử thi đều được
mô tả theo quan niệm thô sơ, ấu trĩ của con người thưở hồng hoang nhưng có thể nói hình tượng trung tâm của thế giới tự nhiên trong tâm thức của tộc người Mường là cây
si, còn người M’nông quan niệm vạn vật và con người đều được hình thành từ vật chất, con người có nguồn gốc từ bướm và đá, chuồn chuồn và nước,…
Trang 6Hình tượng con người trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước và ot nrông cũng có
những điểm tương đồng và dị biệt, những anh hùng bộ lạc trong hai áng sử thi được các nghệ nhân dân gian khắc họa rất gần gũi với con người, đó là những hình ảnh kết tinh từ cuộc sống chứ không phải là những nhân vật thần thánh, huyền bí, siêu nhiên
Trong Đẻ đất đẻ nước, nhân vật Lang Cun Cần được xây dựng là người anh hùng văn
hóa, là nhân vật trung tâm của tác phẩm, còn trong ot nrông hệ thống nhân vật đồ sộ hơn với những nhân vật anh hùng như: Tiăng, Bông, Rõng, Lêng…
Sử thi nói riêng và văn học dân gian nói chung là nghệ thuật không chủ tâm nhưng cách xây dựng, kết cấu và ngôn ngữ của các sử thi được nghệ nhân dân gian thể hiện rất độc đáo và tiêu biểu cho từng tộc người Vì đồng loại hình nhưng sản sinh trên những vùng đất khác nhau nên những áng sử thi này có những điểm tương đồng và dị biệt về mặt ngôn ngữ, và kết cấu Trong tiểu mục này chúng tôi bước đầu đã chỉ ra những điểm đó
Sử thi mo Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường và sử thi thần thoại của tộc
người M’nông đều được diễn xướng dưới hình thức hát kể nhưng môi trường diễn
xướng khác nhau, mo Đẻ đất đẻ nước được diễn kể chủ yếu trong nghi thức tang ma,
còn sử thi thần thoại của tộc người M’nông được các nghệ nhân diễn kể trong những thời gian rỗi rảnh để phục vụ cộng đồng Môi trường diễn xướng là một đặc điểm rất quan trọng của sử thi, nó thể hiện những khía cạnh trong đời sống văn hóa tộc người
3 Phần kết luận:
Trong công trình, chúng tôi đã phần nào chỉ ra những điểm tương đồng và dị biệt
của sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường với sử thi thần thoại của tộc người M’nông Đẻ đất đẻ nước là áng liên khúc thần thoại bằng thơ đạt đến tầm cỡ sử
thi đồ sộ còn ot nrông là những sử thi được kết cấu theo lối liên hoàn, đó là những viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Đề tài của chúng tôi chỉ là bước đầu tìm hiểu hai áng sử thi đồ sộ này trên tuơng quan đối sánh, đây là vấn đề cần được nghiên cứu một cách chi tiết và kỹ lưỡng hơn
4 Phụ lục
Trong phần này chúng tôi tóm tắt sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người
Mường và sử thi thần thoại của tộc người M’nông và kèm theo một số hình ảnh liên quan đến ot nrông
Trang 7Phần tóm tắt Đẻ đất đẻ nước chúng tôi tóm tắt cả hai bản kể gồm: bản kể của Bùi
Thiện – Trương Sỹ Hùng biên soạn, bản kể này được ghi ở Hòa Bình và in trong bộ
“Vốn cổ văn hóa Việt Nam Đẻ đất đẻ nước” do NXB Văn hóa thông tin ấn hành năm
1995 và bản kể của Vương Anh và Hoàng Anh Nhân sưu tầm ở Thanh Hóa, in trong
“Tổng tập văn học Việt Nam” tập 37C NXB Khoa học xã hội
Phần tóm tắt ot nrông gồm bốn sử thi: Bông, Rõng và Tiăng; Ndu thăm Tiăng;
Tiăng chết và sống lại; Lêng đi giành lại đàn nring Phần này chúng tôi trích trong: Đỗ
Hồng Kỳ, Sử thi thần thoại M’nông, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bất cứ nền văn học nào trên thế giới cũng có một quá trình hình thành và phát triển, tất cả các nền văn học đều có xuất phát điểm là văn học dân gian Văn học dân gian vốn là nguồn gốc của sự hình thành và phát triển của nền văn học viết Trong quá trình hội nhâp văn hoá toàn cầu, việc giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá dân tộc là một yêu cầu cấp thiết Trên thực tế, ngày nay việc tìm hiểu về văn học dân gian, nhất là văn học dân gian của các tộc người thiểu số không được học sinh, sinh viên quan tâm đúng mức là do có những khó khăn về ngôn ngữ, lối tư duy Việc tìm hiểu văn học dân gian của các tộc người là vô cùng cần thiết, từ đó làm cơ sở để so sánh, đối chiếu tìm ra những nét tương đồng và dị biệt giữa các tộc người về phương diện văn hoá tinh thần, đời sống vật chất
Ở Việt Nam, có 54 tộc người cùng sinh sống, mỗi tộc người đều có những đặc trưng về văn hoá nói chung và văn học nói riêng, hai tộc người Mường và M’nông với vốn văn hoá riêng biệt và đời sống tinh thần phong phú đã thực sự đem đến cho văn học nhiều cái nhìn mới lạ Đặc biệt những áng sử thi thần thoại của tộc người Mường
và tộc người M’nông có thể được xem là bách khoa toàn thư, nơi lưu giữ những giá trị tinh thần rất phong phú và đầy đủ về đồng bào Mường và M’nông
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu, tìm hiểu các giá trị văn hoá,
văn học dân gian, dựa trên cơ sở những công trình nghiên cứu về sử thi thần thoại Đẻ
đất đẻ nước của tộc người Mường và sử thi thần thoại ot nrông của tộc người M’nông,
chúng tôi bước đầu tiến hành so sánh, đối chiếu các áng sử thi đồ sộ để ít nhiều tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt nhằm phần nào hiểu thêm về lối tư duy, quan niệm của con người về thế giới trong thuở hồng hoang của nhân loại, đời sống vật chất, tinh thần của hai tộc người cư trú trên hai địa bàn khác nhau thông qua những “tác phẩm” nghệ thuật không chủ tâm của họ
2 Lịch sử vấn đề
Sử thi mo Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường đã được nhiều nhà nghiên cứu sưu tầm và biên soạn rất công phu, hiện nay có hơn mười bản kể Đẻ đất đẻ nước, bản
đầu tiên được Vương Anh và Hoàng Anh Nhân sưu tầm ở Thanh Hóa, được Ty Văn
hóa Thanh Hóa xuất bản năm 1975 có tên là Đẻ đất đẻ nước gồm 28 roóng; năm 1988
Trang 9hai ông cùng Đặng Văn Lung bổ sung và giới thiệu trong “Tổng tập văn học Việt
Nam” tập 37C NXB Khoa học xã hội Ngoài ra còn có bản kể Đẻ đất đẻ nước được
Bùi Thiện – Trương Sỹ Hùng biên soạn, đây là môt công trình công phu của các tác
giả Bản kể này được ghi ở Hòa Bình và in trong bộ “Vốn cổ văn hóa Việt Nam Đẻ đất
đẻ nước” do NXB Văn hóa thông tin ấn hành năm 1995 Bản kể được ghi lại và biên
soạn rất công phu bằng hai ngôn ngữ Việt và Mường, bản kể này gồm 61 roóng Chỉ
riêng việc sưu tầm và ghi chép lại một cách đầy đủ đã chứng tỏ Đẻ đất đẻ nước rất
được các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Đã có rất nhiều bài nghiên cứu về sử thi
thần thoại Đẻ đất đẻ nước được in trên các tạp chí chuyên ngành, đặc biệt phải kể đến chuyên luận “Sử thi thần thoại Mường” của Trương Sỹ Hùng xuất bản năm 1992 bàn
khá kỹ về tác phẩm; điểm chủ yếu của công trình này nhằm một lần nữa khẳng định
mo Đẻ đất đẻ nước là sử thi thần thoại, tác giả nghiên cứu trên các phương diện diễn
xướng, chức năng sinh hoạt, nội dung nghệ thuật…
Sử thi ot nrông của người M’nông được sưu tầm theo chủ trương của nhà nước từ những năm 1988 và được in thành sách trong thời gian gần đây Công trình được thực hiện công phu và cẩn thận với phần song ngữ Việt – M’nông đã góp phần lưu giữ và phổ biến rộng rãi những vốn văn hóa quý Ngoài ra còn có những bài nghiên cứu nhỏ
lẻ trên tạp chí “Văn học dân gian”, “Nguồn sáng dân gian” góp phần tìm hiểu kho tàng sử thi phong phú của tộc người M’nông Đặc biệt công trình “Sử thi thần thoại
M’nông” của Đỗ Hồng Kỳ do NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 1996 đã góp phần
khẳng định giá trị ot nrông, công trình là những nghiên cứu chi tiết, kỹ lưỡng của tác giả về nội dung, thi pháp, xác định thể loại… của ot nrông
Tuy nhiên, chưa có công trình nào trực tiếp so sánh sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ
nước của tộc người Mường với sử thi thần thoại của tộc người M’nông Trên cơ sở
công trình “Sử thi thần thoại Mường” của Trương Sỹ Hùng và “Sử thi thần thoại
M’nông” của Đỗ Hồng Kỳ, chúng tôi bước đầu tiến hành so sánh, đối chiếu hai áng sử
thi đồ sộ này
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện công trình này chúng tôi đã thực hiện các phương pháp chủ yếu sau đây:
Trang 10- Thu thập, tập hợp và chọn lựa những tài liệu có liên quan đến đề tài từ nhiều nguồn khác nhau như sách, báo, tạp chí khoa học, internet…
- Đọc, ghi chép, làm phiếu, phân tích, tổng hợp theo từng vấn đề có liên quan đến
đề tài
- Phương pháp so sánh đồng loại hình làm nổi rõ điểm tương đồng và dị biệt của thể loại sử thi thần thoại của tộc người Mường và tộc người M’nông nhằm khẳng định nét độc đáo, đặc thù của sử thi các tộc người
- Phương pháp lịch sử: đặt tác phẩm vào thời đại lịch sử nó ra đời để lý giải những nội dung tư tưởng, phong tục, tập quán… xuất hiện trong tác phẩm
- Phương pháp phân tích: phân tích các dẫn chứng cụ thể nhằm làm nổi bậc các đặc điểm, motif… cấu thành tác phẩm
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: trong phạm vi đề tài, muốn hiểu rõ tác phẩm chúng tôi phải nắm bắt được phong tuc, tập quán, tín ngưỡng… của các tộc người vì vậy cần phải sử dụng kiến thức của các ngành khác như: dân tộc học, triết học, văn hóa học, tín ngưỡng tôn giáo…
Công trình bước đầu đã chỉ ra được những nét tương đồng và dị biệt của hai áng
sử thi đồ sộ, góp phần vào việc tìm hiểu văn học dân gian của đồng bào dân tộc thiểu
số
5 Giới hạn của công trình
Chúng tôi chỉ mới bước đầu tiếp cận, tìm hiểu hai áng sử thi thần thoại đồ sộ của tộc người Mường và M’nông nên chưa có cái nhìn thấu đáo về hai tác phẩm này Việc không biết tiếng của đồng bào cũng là một trở ngại lớn trong quá trình tìm hiểu và so sánh
Công trình chỉ là những nét so sánh đầu tiên, sơ lược về sử thi thần thoại Đẻ đất
đẻ nước của tộc người Mường và sử thi thần thoại của tộc ngưởi N’nông nên chắc
Trang 11chắn không thể nào thỏa mãn những ai muốn biết và tìm hiểu tường tận về vấn đề này.
Những người thực hiện công trình này chỉ mới chập chững đi những bước chân đầu tiên trên con đường nghiên cứu khoa học, với vốn kiến thức chuyên môn chưa được trang bị đầy đủ và nhận thức còn non yếu, nhiều thiếu sót chắc chắn không thể làm hài lòng người đọc Chúng tôi mong nhận được nhiều đóng góp, phê bình quý báu
đề có thể dần trưởng thành và vững vàng hơn trên con đường nghiên cứu khoa học đầy chông gai và khó khăn
6 Kết cấu của công trình
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của công trình gồm ba chương:
Chương 1: Giới thiệu về sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường
và sử thi thần thoại của tộc người M’nông
Chương 2: So sánh nội dung của sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người
Mường với sử thi thần thoại của tộc người M’nông
Chương 3: So sánh hình tượng thế giới tự nhiên, con người, yếu tố cấu thành và
môi trường diễn xướng trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường
với sử thi thần thoại của tộc người M’nông
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VỀ SỬ THI THẦN THOẠI ĐẺ ĐẤT ĐẺ NƯỚC
CỦA TỘC NGƯỜI MƯỜNG VÀ SỬ THI THẦN THOẠI CỦA
TỘC NGƯỜI M’NÔNG
1.1 Khái niệm sử thi và sử thi thần thoại
Sử thi là một trong những thể loại văn học dân gian, thuộc loại hình tự sự dân gian Trên thế giới, sử thi phát triển rất mạnh mẽ, ngay từ thời cổ đại có những sử thi
đồ sộ mang giá trị nghệ thuật và nội dung sâu sắc đã trở thành mẫu mực cho đến tận hôm nay Tiếp xúc với nền văn học Hy Lạp cổ đại chúng ta không thể không biết đến
hai sử thi vĩ đại Iliade và Odysseé, văn học Ấn Độ nổi tiếng với Ramayana và
Mahabharata… Còn Việt Nam chúng ta với 54 dân tộc anh em, kho tàng sử thi trở nên
vô cùng phong phú và đa dạng: tộc người Mường có sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước, tộc người Êđê có sử thi Đăm Săn, Đăm Di, tộc người Gia Rai có sử thi Xinh Nhã,…
Đây là một vốn văn hóa cổ rất quý của cộng đồng các dân tộc Việt Nam cần được bảo tồn và nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm sử thi
Bàn về khái niệm sử thi là nói đến vấn đề thể loại trong văn học, một vấn đề gây nhiều tranh cãi cho các nhà nghiên cứu Trước đây sử thi thường được gọi là anh hùng
ca hay trường ca nhưng những thuật ngữ đó chưa chính xác, không bao hàm được nội dung rộng lớn và tính chất độc đáo của sử thi Khái niệm trường ca được hiểu như sau:
“Trường ca là tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình” 1 nhưng ngày nay ý nghĩa đó đã mất đi, một thời người ta gọi trường ca để chỉ
những tác phẩm sử thi còn ngày nay trường ca “thường được dùng để chỉ sáng tác thơ
dài”2 Theo Đinh Gia Khánh và Võ Quang Nhơn thì trường ca chỉ mang hàm ý chung chỉ những tác phẩm mang nội dung ca ngợi và có độ dài chứ chưa bao hàm được những nét riêng biệt của sử thi, trường ca như vậy chưa phải là một tên gọi chuyên biệt
Trang 13của một thể loại văn học dân gian, khái niệm này chưa rõ ràng nên dễ gây nhầm lẫn Còn thuật ngữ anh hùng ca theo chúng tôi chỉ mới phản ánh được một bộ phận của sử thi là sử thi anh hùng, chưa bao quát được sử thi thần thoại vì anh hùng ca có nghĩa là bài ca về những người anh hùng chiến đấu và chiến thắng vì thị tộc, bộ lạc để mở
mang bờ cõi Theo Hêghen thì sử thi chính thức là “toàn bộ quan niệm về thế giới và
cuộc sống dân tộc được trình bày dưới hình thức khách quan của những biến cố thực tại” Ở nước ta, thuật ngữ “sử thi” mới được sử dụng vào những năm 70 của thế kỷ
XX
Sử thi không đơn thuần là thơ chép sử mà ẩn chứa trong nó là cả một nội dung rộng lớn kể về sự hình thành thị tộc, bộ lạc, dân tộc, quốc gia, phong tục, văn hóa, tín ngưỡng… Sử thi là một thể loại của văn học dân gian nên nó cũng có tính nguyên hợp,
sử thi không đơn thuần là những áng văn vần mà nó còn được diễn xướng gắn với phần âm nhạc, tạo hình, nghi lễ Sử thi là sự tổng hợp của các mẩu thần thoại được hệ thống hóa với nội dung bề bộn gồm nhiều lĩnh vực của con người Sử thi là hình thức kết hợp một cách có hệ thống những quan niệm, tín ngưỡng của con người trong những mẩu thần thoại rời rạc làm thành một tác phẩm có nội dung rộng lớn và dung lượng đồ sộ
Sử thi là những sáng tác tự sự bằng văn vần hoặc văn xuôi kết hợp với văn vần, nội dung kể lại những sự kiện có ý nghĩa lớn lao với toàn thể cộng đồng, thường được
sáng tác vào thời kỳ sơ khai của loài người, là những “thiên tự sự kể về quá khứ anh
hùng, hàm chứa những bức tranh rộng và hoàn chỉnh về đời sống nhân dân và về
Dựa vào nội dung chúng ta có thể chia sử thi thành hai loại cơ bản: sử thi thần thoại và sử thi anh hùng Chúng tôi chỉ xin điểm qua về sử thi anh hùng vì đề tài của chúng tôi tập trung chủ yếu vào sử thi thần thoại Sử thi anh hùng hay còn gọi là sử thi thiết chế xã hội chủ yếu ca ngợi những nhân vật anh hùng có công lãnh đạo và bảo vệ cộng đồng trong sản xuất và đánh giặc Sử thi anh hùng phản ánh công cuộc lao động, những nét sinh hoạt của xã hội về mọi mặt: vui chơi, tục lệ, xây dựng thiết chế xã hội, liên minh bộ lạc, thị tộc để hình thành tộc người Hơi thở, không khí của sử thi anh hùng là hơi thở, không khí chiến tranh để bành trướng đất đai, giành người đẹp…
1
Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, NXB ĐHQGHN, Hà Nội, 2004, trang 280
Trang 141.1.2 Khái niệm sử thi thần thoại
Sử thi thần thoại hay còn gọi là sử thi huyền thoại, sử thi sáng thế ra đời sau thần thoại là tập hợp một cách hệ thống các yếu tố thần thoại hoàn chỉnh từ các thần thoại riêng lẻ trên cơ sở xã hội đã phát triển thành cộng đồng bộ lạc ngoài thị tộc hoặc từ lúc
sơ khai đến khi lập bản làng Sử thi thần thoại có nội dung suy nguyên về nguồn gốc
vũ trụ, thiên nhiên, nguồn gốc tộc người và những sáng tạo văn hóa của con người trong buổi hồng hoang của nhân loại Trên cơ sở tư duy trừu tượng ấu trĩ, tưởng tượng trên cơ sở nhân hình hóa, nhân tính hóa những lực lượng tự nhiên và quan niệm vạn vật hữu linh, sử thi thần thoại đã lý giải, giải thích tự nhiên bằng những hình ảnh sai lệch, hình tượng bay bổng, khoa trương, phóng đại
Sử thi thần thoại có khả năng biểu hiện những điều phi lý, nguồn gốc của sự khác thường, sử thi thần thoại thường phản ánh những hiện thực rộng lớn, sử thi thần thoại
là “nghệ thuật” một đi không trở lại Sử thi thần thoại có tính nguyên hợp, những tác phẩm này vượt ra khỏi bình diện văn học nghệ thuật để vươn đến những cái ngoài văn bản như tôn giáo, triết học…
1.2 Sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường
Đẻ đất đẻ nước là sử thi thần thoại đồ sộ của tộc người Mường Đẻ đất đẻ nước
gắn liền với một nghi lễ của người Mường là Mo Mo là một loại văn cúng được hát trong tang lễ Mường Áng sử thi gồm nhiều chương (roóng) kể về sự hình thành vũ trụ, tạo ra muôn loài, tập tục, văn hóa, sự chia tách, hình thành dân tộc… của tộc người
Mường Đẻ đất đẻ nước là áng sử thi thần thoại cổ sơ tiền nhà nước còn giữ được
nhiều truyền thống của người Việt cổ Trong đó có những motif văn nghệ dân gian được thể hiện với dạng thức cổ xưa
1.2.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội để hình thành sử thi thần thoại Đẻ đất
Thời nguyên thủy, con người chỉ biết sống bằng nghề săn bắt, hái lượm, cao hơn nữa là chế tạo ra công cụ lao động để khai thác tự nhiên, duy trì cuộc sống Trong quá trình lao động, tư duy con người ngày càng phát triển đến một mức nào đó cần thiết phải tìm hiểu vũ trụ, tìm hiểu các hiện tượng tự nhiên mà họ tiếp xúc hàng ngày thì cũng là lúc thần thoại có mầm mống nảy sinh
Trang 15Trên nền tảng thần thoại, sử thi dân gian bắt đầu hình thành Đó là sự kết hợp những thần thoại của các bộ lạc, thị tộc ít nhiều mang màu sắc khác nhau do môi trường sinh hoạt và quá trình phát triển khác nhau tạo thành Các bộ tộc, thị lạc này ban đầu là riêng lẻ, sau có sự thâm nhập, đồng hóa lẫn nhau để trở thành liên minh bộ lạc rồi tiến lên hình thành quốc gia cổ đại, trong quá trình liên minh đó, thần thoại của các bộ lạc khác nhau dần dần được kết hợp lại thành hệ thống các áng văn vần trường thiên, tức là các áng sử thi
Thời kì văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, người Lạc Việt đã xây dựng nên quốc gia
cổ đại là Văn Lang Trong quá trình tập hợp các bộ lạc khác nhau của người Việt để trở thành liên minh cộng đồng thống nhất đã có sự tập hợp, khâu nối, đan dệt dần dần các thần thoại, các bài ca của các bộ lạc, thị tộc có sắc thái khác nhau thành các áng sử thi cổ đại của nước Văn Lang Tuy nhiên, điều đáng tiếc là các áng sử thi này đã bị mai một từ lâu mà nguyên nhân chủ yếu là do sự thống trị của phong kiến phương Bắc hàng nghìn năm Người Việt lúc đó sống ở đồng bằng và trung du đã sớm phải đương đầu với nạn ngoại xâm hoành hành Trong điều kiện biến động về xã hội, sự thống trị
về tư tưởng, văn hóa, sự cưỡng ép sử dụng ngôn ngữ, văn tự… dần dần làm cho nền văn hóa bị pha trộn, sử thi dân gian từ đó mất hết khả năng tồn tại và bị phá vỡ thành từng mảnh
Dù đã bị mai một, phá vỡ từng mảnh và “dấu tích” còn sót lại để có thể thu thập các thần thoại là ở đồng bào Mường, các nhà nghiên cứu vẫn cố gắng tìm cách sưu
tầm, tập hợp và đã thành công với bộ sử thi Đẻ đất đẻ nước Dù sử thi Đẻ đất đẻ nước
đã trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử nhưng cơ bản vẫn giữ được cốt lõi nguyên thủy của nó
Người Việt ngày xưa có chung ngôn ngữ với người Mường gọi là ngôn ngữ Việt – Mường (thuộc ngữ hệ Nam Á) Một bộ phận người Việt - Mường tách ra là người Mường Người Mường ở các miền rừng núi, họ sống biệt lập hẳn với các trung tâm văn hoá của người Việt Người Mường cư trú lâu đời ở vùng Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ… thành những bản làng ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối… Các loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian đã được hình thành và phát triển gắn liền với các hình thức diễn xướng cổ đại Khả năng nhận biết thế giới còn chưa phát triển nên tư duy thần thoại vẫn giữ vai trò chủ đạo Những tập tục cổ nhất của người
Trang 16Việt - Mường vẫn được người Mường duy trì như: ở nhà sàn, làm bánh gạo nếp, dùng cối gỗ làm lệnh khi có tang ma… Trong khung cảnh ấy các nghệ nhân sẽ kể lại cho con cháu nghe những chuyện thần thoại hoặc tang lễ thì tổ chức hát Mo
Người Việt – Mường xưa kia quan niệm chết không phải là hết mà là sự tái sinh, tái tạo để trở về với cái ban đầu Trong đám ma thầy mo kể lại nguồn gốc, quá trình hình thành tộc người Mường từ lúc xuất hiện: đẻ đất, đẻ nước, đẻ cây si, đẻ người… đến khi hình thành tổ chức xã hội sơ khai Tất cả được tập hợp trong lời Mo và trở thành một tài sản thiêng liêng với người Mường Bài Mo được kể để người chết không
quên cội nguồn và mang theo khi sang thế giới khác Mo Đẻ đất đẻ nước không những
mang ý nghĩa lịch sử mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc
1.2.2 Lý do chọn bản kể
Hiện nay chúng ta có hơn mười bản kể của sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước, bản
dài nhất gồm 16.000 câu, bản ngắn nhất là 3.500 câu, trong đó có các bản kể chính phổ biến đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt
Bản thứ nhất được Vương Anh và Hoàng Anh Nhân sưu tầm ở Thanh Hóa, được
Ty Văn hóa Thanh Hóa xuất bản năm 1975 có tên là Đẻ đất đẻ nước gồm 28 roóng, năm 1988 hai ông cùng Đặng Văn Lung bổ sung và giới thiệu trong “Tổng tập văn học
Việt Nam” tập 37C NXB Khoa học xã hội Bản kể này gồm 4.629 câu chia thành 26
roóng được sưu tập, biên soạn khá công phu, trình bày một cách có hệ thống bằng song ngữ Việt – Mường Năm 1997 Vương Anh lại cùng Bùi Nhị Lê, Phạm Tố Châu,
Lê Thành Hiểu biên soạn lại Đẻ đất đẻ nước, cơ bản vẫn dựa trên văn bản năm 1975
nhưng bản này gồm 30 roóng
Bản thứ hai được Bùi Thiện, Quách Giao, Thương Diễm sưu tầm ở Hòa Bình và
được Nhà xuất bản Văn học giới thiệu năm 1976 có tên là Đẻ đất đẻ nước, thơ dân
gian dân tộc Mường gồm 35 roóng
Bản thứ ba có tên Đẻ đất đẻ nước được Bùi Thiện – Trương Sỹ Hùng biên soạn,
đây là môt công trình công phu của các tác giả Bản kể này được ghi ở Hòa Bình và in
trong bộ “Vốn cổ văn hóa Việt Nam Đẻ đẻ nước” do NXB Văn hóa thông tin ấn hành
năm 1995 Bản kể được ghi lại và biên soạn rất công phu bằng ngôn ngữ Việt và Mường Bản kể này gồm 61 roóng
Trang 17Việc lựa chọn bản kể nào để khảo sát cũng là một vấn đề quan trọng, nó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đề tài Qua quá trình tìm hiểu chúng tôi quyết định chọn bản kể của Bùi Thiện – Trương Sỹ Hùng vì bản kể này thể hiện khá chi tiết những đặc trưng của loại Mo ma, đồng thời bao quát được nội dung của nhiều bản kể khác Bản
kể này gồm 61 roóng như sau:
Trang 1832 Cây đa chơi hội
33 Nhòm sông nước khoang ông
53 Đánh giặc vua thiên
54 Cổn chu kéo lội
55 Tranh chu
56 Săn muông
57 Trống đồng
Trang 1958 Cuổi dứt
59 Cuổi lìa
60 Về rừng
61 Cuối lại
1.2.3 Nội dung của sử thi Đẻ đất đẻ nước
Sử thi Đẻ đất đẻ nước gồm những khúc ca dài kể lại nguồn gốc của vũ trụ, tự
nhiên, con người, muôn loài cỏ cây và sự hình thành mường nước Toàn bộ tác phẩm
là sự tưởng tượng, thần thánh hóa về thiên nhiên, vũ trụ, đó là sự lý giải về tự nhiên một cách ngây thơ của con người trong buổi hồng hoang của nhân loại Tác phẩm bắt nguồn từ đời sống vật chất và thực tế đời sống xã hội loài người rồi dần dần mới nhuốm màu sắc thần linh tôn giáo để phục vụ một số quan niệm ấu thơ về vũ trụ, nhân
sinh Nội dung sử thi Đẻ đất đẻ nước trong tang lễ Mường gồm ba phần: mo tuông, mo
vái, mo tlêu
Mo tuông là phần thứ nhất của áng sử thi, đây là phần mở đầu tác phẩm, có tác dụng đánh thức đồ dùng của ông mo, khái quát về nguồn gốc ra đời của chúng, giúp hồn về Mường Ma để tìm hiểu cội nguồn, tìm hiểu ông bà thủy tổ sinh ra loài người
Mo vái là phần thứ hai của tác phẩm, sau khi làm quen được với hồn ma người chết, ông mo cùng hồn ma của người chết theo hành trình định sẵn trong tang lễ mo Mường cùng với sự giúp đỡ của một số Vía Hành trình của người chết gồm ba giai đoạn: đi thăm Mường Ma để làm quen với cuộc sống ở đây, sau đó trở lại Mường người để gặp những người thân thích và cuối cùng là lên thăm Mường Trời, đi mua sắm đủ thứ chuẩn bị cho cuộc sống mới của người chết
Mo tlêu gồm nhiều khúc ca kể lại nguồn gốc vũ trụ, tự nhiên và con người cùng với tất cả những tinh hoa nghệ thuật thần thánh hóa, lí tưởng hóa con người, sự vật thời nguyên thủy
1.2.4 Nghệ thuật của sử thi Đẻ đất đẻ nước
Đẻ đất đẻ nước kế thừa, nâng cao cảm quan thơ mộng, lãng mạn của thần thoại
Đó là những liên khúc thần thoại đã phát triển để đạt đến tầm cỡ một áng sử thi Từ lúc
ra đời đến năm 1975 Đẻ đất đẻ nước tồn tại dưới dạng truyền miệng nên nó là sản
phẩm của tập thể
Trang 20Tác phẩm gắn liền với nghi thức tín ngưỡng, nghệ thuật chủ yếu là thần thánh hóa, tưởng tượng làm nảy sinh những hình ảnh kỳ vĩ theo quan niệm nhân hình hóa, nhân tính hóa lực lượng tự nhiên trên cơ sở tín ngưỡng vạn vật hữu linh để lý giải, giải thích tự nhiên tạo nên những hình ảnh sai lệch không cố tình về thế giới thần linh
nhưng thế giới ấy được miêu tả một cách mờ nhạt Đẻ đất đẻ nước hoàn chỉnh nhờ sự
cấu tạo chặt chẽ của những liên khúc thần thoại với nhau, nhân vật dù là thần thánh hay người thần đều có mối liên hệ mật thiết với sinh hoạt hàng ngày của con người Tác phẩm là sự nhân hóa đặc biệt của trí tưởng tượng dân gian gắn liền với quan niệm
về vũ trụ nhân sinh
1.3 Sử thi thần thoại của tộc người M’nông
Trong kho tàng văn hoá phong phú của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, bên cạnh giá trị của âm nhạc cồng chiêng đã được Unessco công nhận là "di sản văn hoá phi vật thể", còn phải kể đến giá trị của cá áng sử thi Đó là những áng anh hùng ca mà tuỳ theo ngôn ngữ mỗi dân tộc, được gọi là Khan (đồng bào Êđê), là Hơmon (đồng bào Bana), là Hri (đồng bào Giarai), là ot nrông (đồng bào M’nông)… Nổi bật phải kể đến những tác phẩm sử thi liên hoàn của tộc người M’nông
Sử thi không chỉ là đặc trưng, nét độc đáo duy nhất của vùng văn hoá Tây Nguyên, mà vùng văn hóa này còn thể hiện tính thống nhất qua nhiều hiện tượng văn hoá tiêu biểu khác, như âm nhạc cồng chiêng, văn hoá nhà mồ, luật tục… Đây là một biểu hiện của sự thống nhất thể loại của vùng văn hoá Tây Nguyên Diễn xướng sử thi
ở Tây Nguyên thường diễn ra trong các dịp hội hè, tiếp khách, mừng nhà mới, cưới xin… ở nhà rông hay ở nhà dài Ot nrông là sử thi thần thoại của tộc người M’nông,
“trong tiếng M’nông, ot có nghĩa bóng là hát, hát kéo dài mãi không hết; nrông là câu chuyện xa xưa Như vậy, xét về nghĩa bóng, ot nrông là hình thức hát kể các câu
nhạc, điệu bộ, mọi người tụ tập xung quanh thưởng thức một đêm hoặc nhiều đêm
1.3.1.Bối cảnh lịch sử - xã hội để hình thành sử thi thần thoại M’nông
Tộc người M’nông ở Việt Nam có một bộ phận sống xen kẽ và chịu ảnh hưởng của các tộc người khác như Êđê, Mạ, Stiêng…, riêng bộ phận M’nông Nong, M’nông preh – M’nông sống ở Đắc Nông, Đắc Lắc rất ít chịu ảnh hưởng của tộc người khác
1
Đỗ Hồng Kỳ, Sử thi thần thoại M’nông, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, trang 12
Trang 21Bon làng của tộc người M’nông thường được dựng gần chân núi, sông suối… Cũng như các tộc người khác, cuộc sống của người M’nông gắn bó và chan hòa với thiên nhiên, họ nhìn thiên nhiên với con mắt sùng bái và sợ sệt, chính vì vậy sử thi thần thoại ot nrông ra đời nhằm lí giải, giải thích tự nhiên, đáp ứng nhu cầu luôn luôn tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên bí ẩn trong buổi đầu của thuở hồng hoang
Sử thi thần thoại M’nông cũng thể hiện niềm tin, tín ngưỡng con người nhưng
không mang đậm dấu ấn như sử thi Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường
Con người gửi gắm những ước vọng của mình qua những lời cầu xin trong những dịp trọng đại của cuộc sống một con người cũng như một cộng đồng Sử thi M’nông đầy những cảnh cúng thần cầu xin như trong những cảnh nghi lễ vòng đời (kết hôn, sinh con, tang ma…), những nghi lễ cầu xin trước khi khởi hành làm việc gì đó, thần linh có thể truyền đạt ý chí của mình tới con người qua đối thoại hoặc qua mách bảo trong giấc mơ hoặc qua tiếng chim, hoặc qua những dấu hiệu nhất định giao tiếp giữa thần linh và con người Trong sử thi M’nông phần nhiều nội dung được thể hiện một cách trực tiếp, không nhất thiết phải qua tầng lớp trung gian tư tế Sử thi M’nông hình thành khi chưa xuất hiện nhà nước, chưa phân hóa giai cấp, chưa phân biệt thống trị -
bị trị nên xã hội thần linh trong sử thi M’nông cũng bình đẳng hơn, không có ý niệm
về thần tối cao hay thần này thống lĩnh thần kia Sử thi thần thoại M’nông thể hiện tín ngưỡng hồn nhiên của con người trước tất cả những hiện tượng, sự vât, sự kiện có quan hệ tới đời sống của họ, họ khát khao tìm hiểu, chinh phục mà chưa giải thích được
Trong sử thi M’nông các hiện tượng tự nhiên từ trời, đất, mặt trời, sông, núi, trăng,… đến rùa, rắn, kiến, mối, thế giới thần linh… đều được phản ánh theo quan niệm vạn vật hữu linh, các đồ vật cũng có linh hồn Đối với sử thi M’nông màu sắc cổ
sơ thể hiện khá rõ nét Cơ sở xã hội để hình thành sử thi thần thọai ot nrông là “thời kì
1.3.2 Lý do chọn bản kể
Trong những năm 80 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu và sưu tầm văn học dân gian đã từng bước ghi lại những tác phẩm sử thi đồ sộ của các tộc người ở Tây Nguyên Bắt đầu từ năm 1984, Viện nghiên cứu văn hóa dân gian phối hợp với Sở Văn
1
Đỗ Hồng Kỳ, Sử thi thần thoại M’nông, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, trang 14
Trang 22hóa Thông tin Đắc Lắc tổ chức sưu tầm văn hóa dân gian của các tộc người sinh sống trong tỉnh, sử thi là một nội dung quan trọng mà các nhà khoa học muốn tìm hiểu Hoạt động này được mở rộng ra các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên như: Gia Lai, Kon Tum, Phú Yên,… Kết quả ngày càng có nhiều sử thi của các tộc người được ghi chép lại, trong đó nổi bật phải kể đến kho tàng sử thi đồ sộ ot nrông của tộc người
M’nông, các nhà nghiên cứu đã gọi Tây Nguyên là “vùng sử thi”
Ot nrông là sử thi sống, đang còn được lưu giữ bằng cách truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác nên nguy cơ bị mai một và biến mất là rất lớn Vì vậy, từ năm
2001 đến 2007 Nhà nước ta quyết định triển khai dự án Điều tra, sưu tầm, biên dịch,
xuất bản và bảo quản kho tàng sử thi Tây Nguyên, nhằm văn bản hóa và nghiên cứu để
bảo tồn các giá trị của sử thi dân gian Tây Nguyên Dự án đã thu được nhiều kết quả đáng kể, hàng loạt sử thi được xuất bản với phần ghi chép, giới thiệu, biên dịch rất chi tiết và công phu Kho tàng sử thi thần thoại của tộc người M’nông được ghi lại khá đồ
sộ với rất nhiều sử thi liên hoàn như: Đẻ Lêng; Rôch, Rông bắt hồn Lêng; Ting, Rung
chết; Con đỉa nuốt buôn Tiăng; Thuốc cá ở hồ Bầu Trời, Mặt Trăng; Bông, Rõng và Tiăng; Ndu thăm Tiăng; Tiăng chết và sống lại; Lêng đi giành lại đàn nring,…
Trong phạm vi của đề tài chúng tôi chỉ khảo sát bốn sử thi thần thoại được cho là
tiêu biểu của tộc người M’nông gồm: Bông, Rõng và Tiăng; Ndu thăm Tiăng; Tiăng
chết và sống lại; Lêng đi giành lại đàn nring Bốn sử thi đồ sộ này được Đỗ Hồng Kỳ
trích dẫn trong công trình nghiên cứu “Sử thi thần thoại M’nông” – công trình này chính là cơ sở để chúng tôi so sánh, đối chiếu (với công trình “Sử thi thần thoại
Mường” của Trương Sỹ Hùng)
1.3.3 Nội dung của sử thi thần thoại M’Nông
Sử thi là tấm gương phản ánh cuộc sống lao động sản xuất và sinh hoạt của một dân tộc, sử thi không chỉ ghi lại toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của một tộc người mà còn nói lên những khát vọng về một cuộc sống hạnh phúc, ấm no Sử thi M’nông nói về sự hình thành con người, lí giải, giải thích những hiện tượng tự nhiên, thể hiện những nét sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần của tộc người Cũng như tộc người Mường, tộc người M’nông quan niệm thế giới có ba tầng và mỗi tầng có những nhân vật đại diện cho thế giới đó Sử thi M’nông phản ánh những vận động, chuyển biến lớn trong xã hội M’nông Người M’nông cho rằng kho sử thi của họ là tự điển
Trang 23bách khoa về đời sống vật chất, tinh thần cũng như phong tục tập quán của cộng đồng trong buổi hồng hoang
“Sử thi M’nông chứa đựng trong đó nhiều nguồn tư liệu về triết học suy nguyên, thẩm mĩ, lễ hội, phong tục tập quán, địa lí, thế giới động thực vật trong môi trường sống của cộng đồng này Người M’nông vẫn cho rằng mọi thứ trong cuộc sống của họ (ăn, ở, mặc, sản xuất, phong tục tập quán,…) đều có từ “thời Tiăng, Yang” (tên hai nhân vật chính trong sử thi)” 1
1.3.4 Nghệ thuật của sử thi thần thoại M’nông
Nghệ thuật chủ yếu của sử thi thần thoại M’nông là sự phóng dụ, kì vỹ hóa đối tượng miêu tả và nhân hóa các sự vật tự nhiên cùng với sự mô phỏng, bắt chước tự nhiên một cách vô tư, không chọn lọc Lối trì hoãn sử thi cũng được các tác giả dân gian sử dụng và khai thác một cách triệt để Ngôn ngữ sử thi được xây dựng một cách
có hình ảnh và âm thanh, giúp người nghe hình dung được một cách rõ ràng và sống động về thế giới mà những nghệ nhân dân gian đang đề cập đến Nghệ thuật của sử thi M’nông là nghệ thuật không chủ tâm, huyền ảo, được biểu hiện ở trình độ thấp, mang
vẻ đẹp của thuở ấu thơ con người với những hình ảnh hoang đường, siêu nhiên, đầy tính chất bay bổng, khoa trương, cường điệu, phóng đại Sử thi M’nông là tập hợp
những câu chuyện được liên kết với nhau theo chuỗi liên hoàn “Sử thi Mơ Nông là sự
tổng hòa một cách nguyên hợp các thủ pháp của văn học nghệ thuật dân gian với các hình thái khác của ý thức xã hội như triết học suy nguyên, tôn giáo nguyên thủy dưới
1
Đỗ Hồng Kỳ, Sơ bộ về sử thi Mơ Nông và tác phẩm Thuốc cá ở Hồ Bầu Trời, Mặt Trăng, Tạp chí Nguồn sáng
dân gian số 3 – 2005, trang 14
2
Sđd, trang 15
Trang 24CHƯƠNG 2
SO SÁNH NỘI DUNG CỦA
SỬ THI THẦN THOẠI ĐẺ ĐẤT ĐẺ NƯỚC CỦA
TỘC NGƯỜI MƯỜNG VỚI SỬ THI THẦN THOẠI CỦA
TỘC NGƯỜI M’NÔNG
2.1 Nội dung suy nguyên về sự hình thành vũ trụ - thế giới tự nhiên, loài người/con người, tộc người
2.1.1 Sự giống nhau
Trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường cũng như sử thi
thần thoại của tộc người M’nông, sự xuất hiện của con người đều có nguồn gốc vũ trụ
Con người và thế giới tự nhiên đều được sinh ra theo quy luật “vạn vật chuyển động
và hình thành từ vật chất”
2.1.2 Sự khác nhau
Trong sử thi Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường thì con người và vạn vật đều
được sinh ra từ một nguồn gốc chung là cây si, đều do cây si đổ mà ra, cây si đổ tạo nên mường nên bãi, các cành thấp của cây si tạo thành các mường Trong sử thi thần thoại M’nông con người được sinh ra từ bướm và đá, hoặc chuồn chuồn với nước Riêng nhân vật Tiăng – biểu tượng người anh hùng văn hoá của sử thi thần thoại M’nông có nguồn gốc từ nước biển Người M’nông quan niệm nguồn gốc của họ là bướm và đá, đá là chất liệu được nói nhiều trong sử thi M’nông
Motif sáng tạo vũ trụ trong Đẻ đất đẻ nước là những motif quen thuộc như motif
hồng thủy, motif người khổng lồ kiến tạo, motif cây vũ trụ, motif nhiều mặt trời còn lại một Motif hồng thủy được phổ biến theo lược đồ: mưa – lụt – đôi trai gái sống sót sinh đẻ, motif này bị coi là thứ yếu vì trong bản kể của các địa phương khác nhau, motif này không luôn luôn tồn tại Hình ảnh người khổng lồ kiến tạo nên sông núi, mường nước đã trở thành motif quen thuộc trong văn học dân gian, đây cũng chính là những nhận thức ấu trí, trẻ thơ của con người trong buổi đầu hình thành Điều này cũng thể hiện tư duy duy vật thô sơ của con người thời kì tiền nhà nước Cây vũ trụ là
một motif rất quan trọng trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước, cây si được xem là vật
kiến tạo, sinh ra vạn vật Trong thần thoại của các tộc người, cây si được sinh ra từ cõi
hỗn mang của trời đất, là kết quả chung đụng của đất trời “Trí tưởng tượng thần thoại
Trang 25đã khắc sâu hình tượng cây si vào kí ức bao thế hệ Sử thi đã mô tả nó như một
có tử Cây si được sinh ra thì cũng sẽ bị chết đi theo sự tuần hoàn của đất trời nhưng
cái chết sẽ mở ra một sự sống mới “sự chết của cây si chỉ như đoạn gấp mà không
biến mất vào cõi hư không mà nó là điểm khởi đầu của sự sống mới, con người, bản
Mường, vạn vật được sinh ra “Motif “nhiều mặt trời còn một” trong sử thi Đẻ đất đẻ
nước là sự hoàn bị bức tranh vũ trụ, là sự thể hiện bước tiến bộ của con người với dáng vẻ hân hoan và lãng mạn Mặc dù chúng ta vẫn thấy ở motif này sự nhào nặn có phần lộ liễu các lớp quan niệm, sự thu hút có phần máy móc thần thoại các tộc người, các cư dân lân cận”3
Bằng quan niệm thô sơ của mình, người M’nông cũng bắt đầu hiểu được quy luật
của sự hình thành thế giới là vạn vật chuyển động và hình thành từ vật chất “Sử thi
của người Mường giải thích nguồn gốc của sự sống giữa thế giới hỗn mang, bỗng diễn
ra trận mưa lớn, làm mọc lên một cây si, từ cây si sinh ra chim Tùng, chim Tót, chim
đẻ ra trứng, trứng nở ra muôn vật và loài người” 4 , còn sử thi thần thoại M’nông là
2.2 Nội dung về sáng tạo văn hóa/lao động sản xuất, phong tục tập quán
2.2.1 Sự giống nhau
Hai sử thi đều thể hiện những phong tục, lao động sản xuất trong sinh hoạt đời sống hàng ngày Các phong tục, tín ngưỡng đều diễn ra xoay quanh nghi thức tang lễ, cúng mùa màng mang nét đặc sắc riêng với sự vô tư của con người buổi đầu hình thành Con người trong hai áng sử thi đều sống chan hòa với thiên nhiên, khám phá thiên nhiên bằng trí tưởng tượng và lối tư duy ngây thơ của mình, họ đặt niềm tin vào những điều thần bí, siêu nhiên Chính vì vậy mà những phong tục trong đời sống của
1
Đặng Thái Thuyên, Môtíp sáng tạo vũ trụ trong sử thi Đẻ đất đẻ nước, trong sách Văn học Việt Nam – Văn
học dân gian – Những công trình nghiên cứu, NXB Giáo dục, 1999, trang 99
Trang 26họ mang hơi thở, hình bóng của thần linh, khi khoa học chưa can thiệp vào lối tư duy
và đời sống tinh thần
Về lao động sản xuất, con người sống gần gũi với thiên nhiên, khám phá thiên nhiên, ước mơ chinh phục thiên nhiên để thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống của mình Trong quá trình lao động miệt mài ấy, con người “vô tình” phát hiện ra những vật có khả năng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của mình, họ mơ ước và tưởng tượng về những
“nhân vật” có khả năng giúp ích cộng đồng
2.2.2 Sự khác nhau
Trong sử thi thần thoại Mường, các phong tục được nói đến và thể hiện rõ nét nhất là trong nghi thức tang ma Ở đây, tất cả cuộc sống và tư duy của con người Mường thời cổ sẽ được chuyển tải vào các nghi thức hành lễ Từ việc kể về nguồn gốc thủy tổ loài người, sự hình thành vũ trụ, sự xuất hiện của vạn vật, muôn loài,… cho đến những hình thức cúng kiếng, kiêng kị sao cho hợp với ý thần linh để thoát khỏi sự trừng phạt hoặc những bất hạnh trước thế lực siêu nhiên, tất cả đều thể hiện nếp sống, niềm tin thơ ngây của người Mường vào đấng tối cao thiên nhiên Từ thiên nhiên, họ tưởng tượng ra những sự lí giải ngây thơ, tạo thành nếp sống tinh thần trong cộng đồng trên diện rộng mà ai cũng mang trong lòng mình niềm tin như vậy Áng sử thi thần
thoại Đẻ đất đẻ nước còn chứa đựng trong nó cuộc sống lao động sản xuất của tộc
người Mường, nghề trồng dâu nuôi tằm cũng được các nghệ nhân dân gian miêu tả một cách tỉ mỉ:
“Ớ… vía con tằm về đây cùng chị
Về đây ăn lá dâu gốc
Lại đây ăn lộc dâu non”
Nghề chế tạo vật dụng bằng kim loại như làm gươm, đúc trống đồng, nghề làm rượu… cũng được nhắc đến, đây chính là một phần của cuộc sống tộc người Mường
Ot nrông được xem là bách khoa toàn thư về cuộc sống của người M’nông, phong tục và lao động sản xuất được các nghệ nhân miêu tả một cách chi tiết và đầy hình ảnh, chúng ta có thể tìm thấy những chi tiết nhỏ nhặt nhất của cuộc sống thường nhật trong cuộc sống cộng đồng từ việc bài trí nhà cửa đến cách ăn mặc trang sức Cũng như các tộc người khác, trước khi làm một việc gì hay đi đâu xa, người M’nông
tổ chức cúng thần linh để xin ý kiến và cầu mong sự che chở, phù hộ của thần linh để
Trang 27chuyến đi thuận lợi hơn Họ nhìn vào các hiện tượng tự nhiên như cây cỏ, chim muông
để đoán định ý kiến thần linh, xem đó là lời chỉ dẫn và tin vào điều đoán định đó
“Sử thi M’nông còn đề cập đến nhiều phong tục tập quán khác của người M’Nông, như khi gia đình có người chết, gia quyến chia vòng, chuỗi cườm cho người quá cố, khi lấy chiêng, trống ra đánh phải làm lễ cúng thần linh, trong gia đình, người đàn ông có việc phải đi xa, người phụ nữ ở nhà phải kiêng kị, khi đoàn quân thắng trận trở về, phụ nữ lấy nước gạo vẩy vào từng người, v.v ” 1
“Tín ngưỡng dân gian ở người M’nông như bùa ngải, ma lai, bói toán đều được
ót nrông phản ánh Việc truyền ma lai cho nhau là nguyên nhân của mối hiềm khích, hận thù trong suốt cuộc đời của một số nhân vật Vì ma lai mà họ lừa gạt, đâm chém, thiêu đốt nhau” 2
2.3 Thế giới “ba tầng” trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước và ot
nrông
2.3.1 Sự giống nhau
Cả hai sử thi đều đề cập đến quan niệm về ba tầng vũ trụ, ba tầng vũ trụ này gồm
có tầng trời – đất – âm phủ Trên mỗi tầng đều có các nhân vật là con người hoặc thần thánh đại diện, ngự trị, cai quản với các công việc khác nhau theo trí tưởng tượng của con người dựa trên sự lí giải ngây thơ về tự nhiên, vũ trụ thuở sơ khai Ba tầng vũ trụ
ấy có mối liên hệ mật thiết với nhau, các nhân vật trong các tầng đều quen biết nhau và
có thể hỗ trợ cho nhau khi cần thiết
2.3.2 Sự khác nhau
Trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của người Mường, ba tầng vũ trụ được
chiếu trên trục tung với sự phân bố từ cao nhất đến thấp nhất theo sơ đồ: tầng trời – tầng người – tầng bên dưới Ba tầng này đều có nhân vật cai quản chung duy nhất, còn các nhân vật khác chỉ là hỗ trợ, cụ thể như sau: tầng trên cùng là Mường Trời do vua trời Bua Klơi ngự trị, tầng giữa là Mường Bưa hay còn gọi là Mường Bằng phẳng - mường của người đời sinh sống dưới quyền cai quản của nhân vật anh hùng Lang Cun Cần, và tầng dưới là Mường Bưa Đín hay còn gọi là Mường Ma do một vị thần cai
Trang 28quản Ở đây ta thấy rõ một điều là chỉ có mường Trời và mường Bưa Đín là do thần linh cai quản, còn Mường Người thì lại do chính nhân vật người cai quản Người Mường quan niệm hai thế giới Mường Người (là nơi người sinh sống) và Mường Ma (là nơi người chết sinh sống) có chung không gian nhưng khác nhau về thời gian, ban ngày ờ Mường Người là ban đêm ở Mường Ma và ngược lai Ngoài ra người Mường còn có quan niệm về một mường Bu Khú, do vua Khú cai trị, thần thánh hóa một chúa
tể sông nước là con rồng nước hay một con rắn lớn sống dưới sông Người Mường nhân hình hóa, nhân tính hóa vua Khú thành nhân vật thần có cá tính, có tài thần thông biến hóa, khác hẳn với các nhân vật trên ở mường Bưa và Bưa Đín mang nhiều yếu tố bản năng sinh vật Mường Bưa và mường vua Khú cách biệt nhau, nếu có qua lại phải nhờ tới phép thuật
Trong sử thi ot nrông của người M’nông, thế giới được miêu tả có ba tầng theo
sơ đồ: âm phủ - mặt đất – trên trời Mỗi tầng có rất nhiều thần linh sinh sống và cai trị, đảm nhận công việc riêng Riêng ở tầng trời và tầng âm phủ là thế giới riêng của các vi thần và linh hồn con người khi chết Ở tầng mặt đất có cả thần linh và cả con người, ở tầng âm phủ có nhân vật Dê, Dơm là hai vị thần trông coi linh hồn người chết ở Phan Tầng Trời thì có các nhân vật như mẹ Trôk, Ndrỉ, Ndrẽ thường hay xáo trộn thế giới nếu người trần phạm điều cấm kỵ, thần ánh sáng Nar chiếu sáng mặt đất, Keng, Kăng làm nhiệm vụ mở cổng cho mẹ mình là Nar chiếu ánh sang xuống đất, Bôn, Băn thần mây, đem mây che kín mặt trời, làm mặt đất tối tăm khi người trần vi phạm điều cấm, Kuach, Yong thì quan sát dưới mặt đất và âm phủ xem Lêng có găp tai nạn gì không
để cứu giúp kịp thời Ôt, Ang là hai vị thần trông coi linh hồn người chết ở tầng trời, Ndu và Yang nhìn xem ai làm sai luật trời và tạo ra sấm sét, gió bão… Ở tầng mặt đất
có hai loại nhân vật, đó là nhân vật người và thần linh Nhân vật thần linh gồm có Ting, Mbông là những lực lượng kiềm chế, ngăn cản các hành vi gian dối, độc ác của
nữ thần Lết, Mai Nữ thần Lết, Mai là thần phù hộ Tiăng nhưng lại luôn làm hại người mình phù hộ Thần Deh, Dai được thần Ting giao cho nhiệm vụ theo dõi hành vi của thần Lết, Mai Ngoài ra còn có thần đồng la Krông, Dong, nữ thần Ngải Vah, Vănh và nhiều thần khác… Trong sử thi M’nông, các thần linh tuy không chia phe phái nhưng lại đứng về hai tập đoàn người thù địch nhau, do vậy dù muốn hay không các nhân vật thần linh xuất hiện như hai lực lượng kiềm chế và thúc đẩy sự phát triển lẫn nhau Sử
Trang 29thi ot nrông được tập trung nói về các nhân vật người như Rõng, Bông, Tiăng, Ndu,
Lêng, Mbông… Theo người M’nông thì ở tầng trời “chỉ có ban ngày không có ban
đêm” và thế giới chỉ yên bình khi con người không vi phạm vào những điều cấm kỵ,
nếu không thế giới sẽ trở nên hỗn độn, con người chỉ có cách duy nhất là cúng tế chuộc tội mới mong trở lại bình thường
2.4 Nhân vật anh hùng trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước và ot
nrông
2.4.1 Sự giống nhau
Cả hai sử thi đều miêu tả hình tượng nhân vật anh hùng dưới nhiều góc độ khác nhau, mỗi góc độ đều có những nét riêng Hình tượng nhân vật anh hùng được miêu tả trong hai áng sử thi chủ yếu là nhân vật anh hùng khai thiên lâp địa, nhân vật anh hùng văn hóa, nhân vật anh hùng trong chiến trận Những nhân vật này đều là những nhân vật nổi bật về một phẩm chất nào đó (sức mạnh, tinh thần…) và có công lớn đối với cộng đồng người
2.4.2 Sự khác nhau
Trong sử thi Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường, hình tượng nhân vật anh hùng
chủ yếu đi sâu vào anh hùng thị tộc bộ lạc, còn nhân vật khẩn hoang, kiến tạo, nhân vật anh hùng văn hóa thì chỉ miêu tả mờ nhạt
Người Mường cho rằng mụ Dạ Dần là sự kết tinh của trời đất, làm tiếp công việc khai khẩn thiên nhiên, tạo ra các giống người khi trời đất bắt đầu tách ra khỏi nhau
Mụ Dạ Dần được miêu tả là một vị thần chứ không phải là nhân vật người như trong
sử thi M’nông
Về nhân vật anh hùng văn hóa, người có nhiệm vụ và có công tìm ra những tri thức về lao động, sản xuất nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người, đó chính là nhân vật trung tâm Lang Cun Cần và những nhân vật khác như Tun Mun, Tun Mách, Tun Mòng đã tìm ra lửa, cách đúc trống đồng…
Trong quá trình chia tách ra khỏi cộng đồng người Việt – Mường, người Mường vẫn phải thích nghi với điều kiện sinh hoạt xã hội với các cộng đồng dân tộc ít người khác, có không ít những sự va chạm, những cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các bộ lạc, chính vì thế mà người Mường luôn đề cao những anh hùng bộ lạc, và cũng từ đó sử thi thần thoại Mường luôn hướng tới người anh hùng bộ lạc Hình tượng người anh hùng
Trang 30bộ lạc là người có sức mạnh thần kì, vô địch trong chiến đấu, phải có những chiến
công lẫy lừng, “phải vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, ngày đêm sớm tối phải
vật lộn với mọi trở lực thiên nhiên, mọi cản lực xã hội, để có đủ tinh thần và nghi lực,
Trong sử thi M’nông, nhân vật anh hùng được chia theo nhiều loại: có nhân vật anh hùng khai thiên lập địa, có nhân vật anh hùng văn hóa và người anh hùng chiến trận, mỗi hình tượng anh hùng đều do những nhân vật nổi bật nào đó thể hiện
Đối với nhân vật khai thiên lập địa, có công kiến tạo sông núi, mang giống chim muông, cây cối, xây dựng bon làng đầu tiên của người M’nông ở vùng cao nguyên là Bông, Rõng Họ đã tìm sự giải thoát ra khỏi thiên nhiên hùng vỹ, huyền bí bằng cách
tự suy nghĩ và tìm ra con đường rồi hành động theo ý nghĩ của mình, chứ không hề nhờ vào các đấng thần linh, điều đó thật vỹ đại vì nó thể hiện hình ảnh anh hùng lao động chân chính của loài người
Đối với nhân vật anh hùng văn hóa thì Tiăng là hình tượng biểu đạt đầy đủ nhất Trong chuyến hành trình chín lần đầu thai, Tiăng đã để lại cho con người những tri thức lao động sản xuất, văn hóa, xã hội như nhạc cụ buăt đing kong, gươm quý, ống sáo, con dao, ruột con mối, vảy con chuột, dấu chân con thằn lằn, mỏ con châu chấu, ngà con sóc, răng con tê tê, đôi chân ngược con gà rừng, tay con rắn, chân con trăn, con dao đục đá,… Tiăng là người phát kiến và hành động thực hiện sứ mệnh lịch sử: tổ chức và quản lí xã hội thị tộc, dạy công việc làm ăn cho các thành viên của cộng đồng, hướng dẫn con người làm rẫy, trồng cây, làm hang rào bảo vệ bon làng, dạy mpring (thơ ca dân gian), rma doih (tục ngữ), phat doih (luật tục), … Cuộc hành trình gian nan của Tiăng đã chỉ rõ phẩm chất Người của con người độc lập với tự nhiên, đối lập với
tự nhiên về bản ngã Qua đó ta cũng thấy được con người đang tiến dần đến “ngưỡng
cửa của thời đại văn minh” dù đôi lúc cũng không tránh khỏi nỗi sợ hãi, phân vân,
nhưng chí hướng và sự quyết tâm vượt qua tình trạng “dã man” thì không gì có thể làm chùn bước con người
Đối với nhân vật anh hùng chiến trận, sử thi M’nông tập trung ca ngợi các nhân vật anh hùng như Lêng, Mbông, Kră, Năng… Các nhân vật anh hùng chiến trận là những người khỏe mạnh, tài giỏi và dũng cảm một cách phi thường Trong cộng đồng,
1
Đỗ Hồng Kỳ, Sử thi thần thoại M’nông, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996
Trang 31họ hơn hẳn những người khác về mọi mặt Nổi bật nhất là nhân vật Lêng, chàng là
biểu tượng về sức mạnh và khát vọng vươn lên không ngừng của người M’nông “Lêng
là nhân vật không biết đến tình yêu cá nhân, chỉ biết đến tình yêu đồng tộc Cuộc đời Lêng là sự quên mình vì sự tồn tại và phát triển cộng đồng” 1
2.5 Nội dung phản ánh những vận động, chuyển biến lớn trong xã hội của tộc người Mường và tộc người M’nông
2.5.1 Sự giống nhau
Cả hai sử thi đều đề cập tới những chuyển biến lớn trong xã hội con người cổ đại, nhất là sự chuyển biến từ gia đình mẫu hệ sang phụ hệ và đặc biệt là vấn đề kết hôn giữa anh em có chung huyết thống, hai sử thi đều có chung một quan niệm: nếu anh
em mà ăn ở với nhau thì sẽ vi phạm điều cấm kỵ và sẽ bị thần linh trừng phạt Sử thi
thần thoại Đẻ đất đẻ nước và sử thi thần thoại ot nrông đều xuất hiện motif anh em
ruột lấy nhau Trong thần thoại, việc anh em lấy nhau được chấp nhận nhưng trong hai áng sử thi trên, anh em ăn ở với nhau đều không được con người và thần linh chấp nhận vì vậy tai hoạ sẽ xảy ra với bản thân hai người đó và cả cộng đồng
2.5.2 Sự khác nhau
Trong sử thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường, xã hội của họ từ lúc hình thành
có nhiều chuyển biến lớn, đầu tiên là sự hình thành cộng đồng trong xã hội, người Mường quan niệm con người xuất hiện sau tiếng nổ phân khai trời đất, và Mụ Dạ Dần
là “con người” đầu tiên Lúc ấy trời vẫn còn thấp quá, đất vẫn còn hỗn độn chưa thành sông núi, xã hội con người có sự biến đổi thành một cao trào và hình thức tổ chức xã hội công xã thị tộc ra đời, chế độ này có hai thời kì: thời kì chế độ mẫu quyền và thời
kì chế độ phụ quyền Tế bào cơ bản của xã hội là các gia tộc mẫu hệ đã tách rời nhau
từ công xã thị tộc Hình thức quần hôn của chế độ mẫu hệ khiến cho những đứa con từ lúc bé đến lúc trưởng thành chỉ biết có mẹ và gắn bó tình cảm thân thiết với mẹ
Khi tách ra khỏi cộng đồng người Việt – Mường, người Mường có những cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt giữa các bộ lạc để giành đất đai ưu thế về phía mình Chính lúc đó, một xã hội có giai cấp bắt đầu nhen nhúm, quan hệ con người tiến đến bước phức tạp hơn, đa dạng hơn
1
Đỗ Hồng Kỳ, Sử thi thần thoại M’nông, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, trang 54
Trang 32Cuộc hôn nhân của Lang Cun Cần và em gái đã ghi lại bước tiến mới trong xã hội người Mường nói riêng và trong lịch sử tiến hóa nhân loại nói chung Hình thức hôn nhân huyết tộc không có điều kiện tồn tại, xã hội bước sang trang sử mới, những ai là anh em có chung dòng máu thì không được lấy nhau làm vợ chồng, nếu không khi sinh
ra những đứa con sẽ không thể nuôi dưỡng được Dân làng ngăn cản cuộc hôn nhân này là sự khẳng định vai trò quyết định của con người, vai trò này lấn át cả thần linh Tuy nhiên, Lang Cun Cần vẫn quyết định lấy em gái mình dựa vào quyền uy và ý thức được việc gia đình phụ hệ có vị trí độc lập tương đối trước thị tộc Những tàn tích trong hôn nhân cổ tái hiện trong sử thi thần thoại là biểu hiện mâu thuẫn giữa thực tại
và truyền thống, mâu thuẫn này là động lực của sự vận động đi lên trong gia đình và
xã hội Mường
Trong sử thi M’nông phản ánh bước chuyển biến từ thời đại mông muội sang thời đại dã man qua mối quan hệ giữa hai anh em ruột là Bông và Rõng Trong quan niệm của người M’nông, việc đi đến kết hôn giữa hai anh em cùng chung dòng máu là việc phạm luật trời chứ không phải là sự xui khiến của thần linh Nói đúng hơn là xã hội đã
có tục bài trừ hôn nhân giữa người có cùng chung huyết thống Người M’nông cho rằng từ ngày có trời đất, khi nào có chuyện anh em lấy nhau đều xảy ra những trận long trời lở đất nên họ rất sợ, họ cho rằng đó là việc trái đạo, phạm điều cấm kỵ Bông
và Rõng không thành vợ chồng chính thức nhưng khi Rõng mang thai, sinh nở, Bông luôn ở bên cạnh chăm sóc (bóng dáng con người sống bầy đàn) Tuy không rõ nét nhưng ít nhiều sử thi M’nông cũng phản ánh được những chuyển biến lớn trong lòng
xã hội thị tộc, đó là bước quá độ từ chế độ mẫu quyền sang chế độ phụ quyền Xu hướng thể hiện xã hội phụ quyền biểu hiện rõ nhất trong mối quan hệ giữa Tiăng với các nhân vất như Lêng, Yang, Mbông… Trong gia tộc Tiăng ở vị trí trưởng họ, trong bon làng, Tiăng là chủ bon… Qua những nhân vật trên, sử thi M’nông đã phản ánh
được những bước chuyển mới trong xã hội M’nông để đi tới “ngưỡng cửa văn minh”
Trang 33CHƯƠNG 3
SO SÁNH HÌNH TƯỢNG THẾ GIỚI TỰ NHIÊN, CON NGƯỜI, YẾU TỐ CẤU THÀNH VÀ MÔI TRƯỜNG DIỄN
XƯỚNG TRONG SỬ THI THẦN THOẠI ĐẺ ĐẤT ĐẺ NƯỚC
CỦA TỘC NGƯỜI MƯỜNG VỚI SỬ THI THẦN THOẠI
CỦA TỘC NGƯỜI M’NÔNG
3.1 Hình tượng thế giới tự nhiên
3.1.1 Sự giống nhau
Mỗi sử thi đều mô tả thế giới với những quan niệm thô sơ, theo tư duy ấu trĩ, giải thích tự nhiên theo niềm tin ngây thơ của mình Hình tượng thế giới hiện ra trong hai áng sử thi trên đều in dấu của sự huyền diệu, thần bí Vạn vật trong thế giới đều hình thành từ “vật chất”, nhưng sự hình thành không phải tại bản thân sự vật vận động mà như có một phép màu kì lạ tác động vào Họ đều quan niệm thế giới buổi đầu chỉ là khối hỗn mang chưa phân biệt trời, đất và vạn vật Sau đó, mới có sự xuất hiện của muôn loài nhờ vào tự nhiên, nhờ vào sự kì diệu nào đó mà họ không giải thích được, chỉ biết rằng nó đã hình thành từ đó mà thôi Nói chung, hình tượng thế giới trong mắt con người thuở bấy giờ đều thần bí và siêu nhiên, mang đậm màu sắc sử thi Chính niềm tin thơ ngây cùng với khát vọng chinh phục, khám phá thế giới đã tạo ra những hình tượng, những điều thần kì mà chỉ trong sử thi thần thoại mới có
3.1.2 Sự khác nhau
Trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của người Mường, con người luôn trăn
trở, suy nghĩ và luôn muốn tìm hiểu tự nhiên xung quanh mình, muốn tìm hiểu nguồn gốc sinh ra vạn vật nhằm thỏa mãn nhu cầu khám phá, chinh phục và lí giải tự nhiên huyền bí Trong đêm tối của sự mông muội, con người luôn lí giải những sự vật, hiện tượng xung quanh mình theo lối tư duy ấu trĩ, và từ đó hình tượng thế giới hiện ra trong mắt người Mường cũng mang màu sắc thần kì, huyền bí và ngây thơ như những
gì con người chứng kiến, biểu hiện yếu tố duy vật thô sơ của họ Còn trong sử thi của người M’nông, vạn vật và con người được hình thành từ vật chất Nguồn gốc con người là từ bướm và đá, chuồn chuồn và nước, chỉ riêng nhân vật Tiăng là có nguồn gốc từ nước biển Con người và các động vật khác lúc mới sinh ra có hình dáng khổng
lồ, về sau càng nhỏ dần đi, nhỏ đến mức muốn hái thứ trái gì cũng phải trèo lên cây
Trang 34mới hái được dù chỉ là quả cà, quả ớt… Sau khi có con người, con người mới bắt tay vào kiến tạo sông núi, xây dựng bon làng, đem chim muông, cỏ cây về, đi tìm lửa…, thế giới hình thành từ đá là chủ yếu và do bàn tay con người xây đắp nên
Thần thoại Mường hình dung buổi sơ khai sinh ra trời đất là do một tiếng nổ bất
ngờ “thuở trời đất còn liền với nhau là một chỉ có cây si ngang ngửa, cô đơn Sau một
cơn động đất, tiếng nổ lớn đã tách ra một khoảng không, có trời, có đất Cây si đổ cây
si lại mọc nhờ có đất, có nước, có mặt trời sưởi ấm Mỗi róng của cây si lại sinh ra vạn vật trong vũ trụ như trăng, sao, các loài vật, có chim chóc, có róng sinh ra từng Mường, từng bản Sau cùng cây si chỉ còn lại cái thân, từ cái thân đó sinh ra Mụ Dạ Dần” 1 Từ sau tiếng nổ lớn đó, thế giới được hình thành, vạn vật dần dần xuất hiện, con người đã có mặt trên mặt đất và bắt đầu sinh sôi, nảy nở Người Mường cho rằng vạn vật trong thế giới đều bắt nguồn từ cây si mà ra, cho nên có thể nói hình tượng trung tâm trong thế giới của họ chính là hình tượng cây si Sự xuất hiện của con người
trong sử thi M’nông không “ồn ào”, “náo nhiệt” như trong sử thi Mường Vạn vật cứ
lặng lẽ biến chuyển, vận động âm thầm mà nên Riêng sự xuất hiện của nhân vật Tiăng
- anh hùng văn hóa thì được vẽ ra bằng sức mạnh, tầm kích của vũ trụ
3.2 Hình tượng nhân vật
3.2.1 Sự giống nhau
Sử thi là những tác phẩm tự sự dân gian đồ sộ với dung lượng lớn vì vậy nhân vật
của chúng rất phong phú và đa dạng Nhân vật chính trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ
nước hay ot nrông đều là những con người bình thường nhưng vượt lên trên cộng
đồng, đóng vai trò là người dẫn dắt cả bộ tộc Họ là sức mạnh của cả tộc người, đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống cộng đồng, chỗ dựa tinh thần cho toàn tộc người khi có sự biến xảy ra trong cuộc sống Hình tượng nhân vật trong sử thi thần thoại Mường và sử thi thần thoại M’nông là những con người có phẩm chất bình dị, mộc mạc được kết tinh từ cuộc sống Các nghệ nhân dân gian đã không thần thánh, huyền
bí hoá những nhân vật trong cộng đồng của họ, trái lại họ đã tạo nên những hình tượng rất gần gũi với cuộc sống vì vậy sử thi đối với những tộc người này chỉ đóng vai trò ghi chép lại những điểu xảy ra trong cuộc sống và được đem ra hát kể cho dân làng nghe trong những dịp lễ cúng, ma chay, sinh hoạt cộng đồng nhằm nhắc nhở con cháu
1
Trương Sỹ Hùng, Sử thi thần thoại Mường, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1992, trang 31, 32
Trang 35về nguồn gốc, phong tục tập quán của tộc người mình chứ không nhằm mục đích kỳ vĩ hoá, thần thánh hoá những nhân vật được xem là có công với tộc người vào thưở ban đầu hính thành tộc người
3.2.2 Sự khác nhau
Trong Đẻ đất đẻ nước, nhân vật Lang Cun Cần được xây dựng là trung tâm của
tộc người Mường trong buổi đầu, là người cai quản mường nước nhưng hình ảnh của Lang rất gần gũi với nhân dân, nhà Lang cũng phải lao động sản xuất, nuôi gà, vịt, trâu, bò để lấy cái ăn, Lang tập hợp dân làng chặt chu, trừ thú dữ, tìm lửa, đúc trống đồng, tìm cách nuôi tằm dệt vải Bên cạnh đó Lang Cun Cần cũng là hiện thân của một con người bình thường với đầy đủ những mặt tốt và xấu, ông lấy em gái mình bất chấp lời can ngăn của dân làng rồi lại bỏ vào rừng sau khi nàng sinh ra quái thai, Lang còn lừa anh em Bù Lèm Bù Lệch để biết bí mật của cây chu có bông thau quả thiết Lang Cun Cần được xem là anh hùng văn hóa, người đứng đầu của mường nước trong buổi đầu hình thành tộc người nhưng mang dáng dấp của con người bình thường đứng
ra dìu dắt dân làng vượt qua những trở ngại trong cuộc sống để tiến đến cuộc sống ấm
no, tươi đẹp hơn Xoay quanh Lang Cun Cần là những nhân vật đại diện cho những đức tính của con người như Cun Khương, Toóng Ín… Các nghệ nhân dân gian đã xây dựng nên những hình tượng nhân vật hết sức gần gũi với con người, bước đầu vượt ra khỏi quan niệm thần thánh hóa sự vật, sự việc
Trong sử thi thần thoại M’nông, hệ thống nhân vật đồ sộ hơn Đẻ đất đẻ nước, có
rất nhiều nhân vật phụ đan xen trong câu chuyện của nhân vật chính Nhân vật chính ở đây chính là Tiăng Cách miêu tả sự ra đời của nhân vật chính hết sức phức tạp: sinh ra
từ nước biển, chín lần đầu thai để trở thành người trí tuệ, sung sướng Hệ thống nhân vật đa dạng, gồm có nhân vật là thần linh, nhân vật là con người, nhân vật khai thiên lập địa, nhân vật anh hùng văn hóa, anh hùng chiến trân Mỗi loại nhân vật đều có những đặc điểm riêng, cá tính riêng Là những nhân vật có ý chí, mạnh mẽ, dám làm những gì mình nghĩ, không tìm sự giải thoát hay nhờ vào các đấng thần linh Lêng là hình ảnh người anh hùng trung tâm của tộc người M’nông, trong công việc của cộng
đồng, Lêng luôn là người đi tiên phong “tìm kiếm cho con người những tài sản văn
hoá và quét sạch lũ quái vật, đem lại cuộc sống bình yên cho cộng đồng”1 Những
1
Đỗ Hồng Kỳ, Sử thi thần thoại M’nông, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, trang 53
Trang 36nhân vật Tiăng, Bông, Rõng được xem là biểu tượng của người anh hùng văn hoá (như
nhân vật Lang Cun Cần trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường)
“Nhân vật Tiăng vẫn là người phát kiến và hành động thực hiện sứ mệnh lịch sử của
văn hoá có công khai sáng và chỉ dạy cho họ những “tri thức” đầu tiên về cuộc sống
lao động sảng xuất Tiăng được xem là người “có công mở mang tri thức và sản xuất
xã hội cho các thành viên của công xã thị tộc” 3 , “sứ giả có uy tín và tin cậy” 4 , “niềm
Phả hệ gia tộc mẹ Rõng trong ot nrông
Rõng Dum Brah Bung Brôi
Bông Rung Ting Phang Briăng
Tiăng, Bơng Lêng, Yang, Kông Yong, Kong Ndu Rôch, Rông
Mbông (cháu
mẹ Rõng, con Tiăng)
3.3 Ngôn ngữ
3.3.1 Sự giống nhau
Nghệ thuật của Đẻ đất đẻ nước và ot nrông là nghệ thuật không chủ tâm nên
ngôn ngữ phần lớn là ngôn ngữ kể, trần thuật, liệt kê mang tư duy giản đơn của con người thuở ban đầu chứ không trau chuốt, cầu kỳ
3.3.2 Sự khác nhau
“Nghệ thuật” chủ yếu trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước là liệt kê và lặp lại,
thủ pháp này giúp cho người nghe dễ theo dõi và dễ nhớ, đoạn sau sẽ lặp lại đoạn trước tạo cảm giác câu chuyện như dính kết chặt chẽ hơn Các nghệ nhân chủ yếu sử
dụng ngôn ngữ kể mang tính trần thuật khách quan Ngôn ngữ trong Đẻ đất đẻ nước là
Trang 37sự bình dị, chân chất của con người thuở ban đầu, họ dùng ngôn ngữ để diễn đạt ý muốn của mình chứ không có chủ tâm xây dựng nên những áng sử thi đồ sộ với những thủ pháp nghệ thuật trau chuốt
Ngôn ngữ trong sử thi thần thoại ot nrông phong phú và đa dạng, “ngôn ngữ biểu
đạt ot nrông là sự tổ hợp ngôn ngữ trần thuật khách quan của văn xuôi, ngôn ngữ
ngôn ngữ trần thuật giúp cho việc miêu tả các sự vật, sự việc trở nên chân thực và sinh động Chúng ta như tận mắt chứng kiến những sự việc xảy ra, những hành động ấy hiện lên nối tiếp theo lời kể của các nghệ nhân:
“Yang đè Kong xuống tảng đá to
Kong dùng tay chém đá
Hòn đá to bị vỡ
Họ nhảy xuống nước hóa thành cá
Đàn cá lao vào húc nhau
Họ nhảy lên bụi cỏ hóa thành con chuột
Đàn chuột lao vào cắn nhau
Họ trèo lên cây biến thành quả
Các quả cây cụng vào nhau
Họ biến thành chim xanh”
Các hình ảnh theo lời kể của nghệ nhân cứ nối tiếp hiện lên một các đầy sống động, chúng ta như nghe thấy tiếng chém đá, tiếng cá húc nhau, tiếng cây lá, hoa quả
va vào nhau… Những âm thanh mộc mạc giản đơn nhưng rất đỗi quen thuộc với người M’nông làm cho áng sử thi mang đậm dấu ấn tộc người
Ngôn ngữ của người M’nông không có các thanh điệu để thể hiện độ cao thấp của âm vực nên các nghệ nhân đã sử dụng cách nói có vần điệu để tạo nên tính nhạc cho những áng sử thi, chính sự thuận tai, dễ nghe, dễ nhớ giúp cho việc diễn kể và lưu truyền trở nên dễ dàng hơn Ngôn ngữ thể hiện tính kịch trong sử thi thần thoại M’nông được thể hiện dưới hình thức đơn giản, các đoạn đối thoại giữa các nhân vật được thể hiện theo lối diễn kể dài dòng mang tính chất phát, giản dị của những tộc
1
Đỗ Hồng Kỳ, Sử thi thần thoại M’nông, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, trang 75
Trang 38người thiểu số khác hẳn với ngôn ngữ kịch mang tính chắt lọc, cầu kỳ của ngôn ngữ kịch hiện đại
3.4 Kết cấu tác phẩm
3.4.1 Sự giống nhau
Sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường cũng như sử thi thần thoại
ot nrông của tộc người M’nông đều được viết bằng thơ với những từ ngữ, hình ảnh so sánh hết sức mộc mạc và dung dị như đúng bản chất của những tộc người ấy Trong
Đẻ đất đẻ nước, các nghệ nhân dân gian đã dùng những hình ảnh so sánh ấn tượng như
cảnh hai anh em Bù Lệch Bù Lèm chặt chu:
“Một vết long mảnh bằng cái quạt,
Một nhát long mảnh bằng mâm bằng bàn”
Còn trong sử thi thần thoại ot nrông của tộc người M’nông thì những hình ảnh sinh hoạt được so sánh hết sức tươi tắn và sinh động, hình ảnh ông Phang ngồi rèn những vật dụng được miêu tả một cách chi tiết:
“Buổi sáng ông rèn cào
Buổi chiều rèn rìu
Rèn con dao sạch như người ta rửa
Rèn gươm như người ta xoa mịn
Uốn cong được như chiếc cầu vồng”
Bên cạnh thủ pháp so sánh độc đáo, hai áng sử thi trên còn có đặc điểm chung là
sử dụng “lối trì hoãn sử thi” tức là dùng cách miêu tả kéo dài với cách miêu tả hết sức chi li, tỉ mỉ, liệt kê sự vật sự việc, đây là một thủ pháp nghệ thuật chỉ xuất hiện và được
chấp nhận trong sử thi, “lối trì hoãn sử thi của người Hy Lạp là “chẻ sợi tóc làm tư”,
còn của người M’nông là liệt kê sự vật, sự việc Về khả năng biểu đạt, nếu của Homerơ là “chính xác… văn hoa và chặt chẽ” (Quintilianux) thì của nghệ nhân
ấy là minh chứng cho nghệ thuật không chủ tâm của sử thi nói riêng và văn học dân gian nói chung Nhiều đoạn, nhiều chi tiết trong tác phẩm được lặp đi lặp lại giúp cho người nghe dễ theo dõi bởi những tác phẩm này chủ yếu được hát kể và lưu truyền
1
Đỗ Hồng Kỳ, Sử thi thần thoại M’nông, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, trang 116
Trang 39bằng phương thức truyền miệng Bên cạnh những điểm tương đồng như đã nêu trên,
hình thức xây dựng và kết cấu của sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước và sử thi thần thoại
ot nrông cũng có những điểm dị biệt, độc đáo riêng thể hiện đặc trưng bản sắc của hai tộc người cư trú trên hai vùng đất khác nhau
3.4.2 Sự khác nhau
Sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường là áng liên khúc thần thoại
được viết bằng thơ đạt đến tầm cỡ sử thi đồ sộ, chúng kết cấu với nhau chặt chẽ bằng những chi tiết lặp đi lặp lại Chính sự lặp lại này giúp các roóng có sự liên kết vững chãi làm cho áng sử thi liên kết với nhau chắc chắn khó có thể tách rời
Đẻ đất đẻ nước được tạo nên bởi các roóng còn ot nrông là những áng sử thi bằng
thơ được kết cấu theo lối liên hoàn, câu chuyện này nối tiếp câu chuyện kia thành một
áng sử thi đồ sộ mang tầm cỡ “Mới nhìn qua, chúng ta thấy các chi tiết, các cốt
truyện như là một cái gì rời rạc, thiếu tính hệ thống và gắn bó Nhưng khi xem xét kỹ
và hệ thống hóa chúng lại, chúng ta thấy các chi tiết, các cốt truyện, tuy không chặt chẽ, nhưng đều nằm trong hệ thống phản ánh sự phát triển của lịch sử… Các nội dung
3.5 Môi trường diễn xướng
3.5.1 Sự giống nhau
Cũng như những thể loại văn học dân gian khác, sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước
của tộc người Mường và sử thi thần thoại của tộc người M’nông đều được lưu truyền dưới hình thức truyền miệng trước khi được văn bản hóa Thông qua những lần hát kể của các nghệ nhân, sử thi bị thay đổi ít nhiều nhưng tinh thần và nội dung thể hiện thì vẫn mang đậm dấu ấn tộc người
Môi trường diễn xướng của cả hai áng sử thi bên cạnh những nét dị biệt vẫn có sự
tương đồng ở phương thức hát kể (đây là phương thức thể hiện của hầu hết sử thi) Đẻ
đất đẻ nước và ot nrông được các nghệ nhân diễn xướng dưới phương thức hát kể kết
hợp điệu bộ mang đậm tính nhạc Người hát kể sử thi thường kết hợp nhiều yếu tố như hát, kể, đối thoại và làm điệu bộ theo kiểu diễn xướng sân khấu, trong đó hát kể đóng vai trò chính
3.5.2 Sự khác nhau
1
Sđd
Trang 40Sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước của tộc người Mường còn được gọi là Mo ma,
tác phẩm được các nghệ nhân dân gian diễn xướng trong những dịp tang ma để đưa
linh hồn người chết về thế giới bên kia Nghệ nhân hát kể Đẻ đất đẻ nước là những
ông Mo, họ đóng vai trò quyết định trong quá trình diễn xướng và thường mặc trang phục riêng Trong một tang lễ thường có hai ông Mo, một chính một phụ, họ diễn xướng trong phạm vi chiếc chiếu nhỏ, thường kết hợp hát kể với các động tác diễn tả như khoa chân múa tay, nhảy múa, ông Mo chính tay trái cầm quạt lông chim, tay phải cầm chuông đồng nhỏ để tạo âm thanh nhịp hát, Mo phụ phụ họa theo Quá trình diễn
xướng sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước gồm ba phần: mo tuông, mo vái và mo tlêu,
các phần này được hát kể gắn liền với từng chặng của nghi thức tang ma, chúng là một tổng thể không thể tách rời
Mo tuông được diễn xướng sau khi nắp quan tài được đậy kín, cỗ cúng được sắp đặt trên bàn thờ, ông Mo quay mặt vào bàn thờ phía đầu thi hài, gia quyến quay mặt đối diện ông Mo Mo tuông được đọc kèm nhạc chuông giúp linh hồn về mường Ma
để tìm hiểu cội nguồn, ông bà thủy tổ sinh ra loài người
Mo vái là những khúc ca miêu tả cảnh huyền ảo ở mường Ma, mường Trời Ở phần này quá trình diễn xướng thể hiện thái độ khách quan, thường được hát kể vào buổi thứ hai, ba, tư, năm, sáu, đây là công đoạn nối tiếp mo tuông, dẫn đường đến mo tliêu
Mo tliêu được đọc vào những ngày cuối trước khi động quan, nội dung dựng lại toàn bộ quá trình tạo dựng vũ trụ, lịch sử sinh ra vạn vật, muôn loài và nguồn gốc thủy
tổ loài người
Ngoài ra sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước còn được diễn xướng trong lễ mừng
thượng thọ (gọi là mo sống), nghi thức diễn xướng gần như mo ma nhưng những phần
bi thương ai oán được cắt bỏ Sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước là một phần quan trọng
trong đời sống tâm linh, hình thức diễn xướng gắn liền với nhu cầu đời sống văn hóa của tộc người Mường, nó len lỏi vào đời sống của họ một cách tự nhiên, người ta có
thể đọc một số câu thơ trong Đẻ đất đẻ nước vào các dịp như lễ thành hôn, lễ mừng
đứa con đoạn tháng
“Vốn sử thi giàu có của người Mường đã thấm sâu vào đời sống thẩm mỹ nó là một nhu cầu thiết yếu – đối với con người trong sinh hoạt văn hóa Bởi vậy quá trình