1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng giáo dân vùng cái sắn

186 39 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 6,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Chúng tôi nghiên cứu cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn trong tính hệ thống của nó, trong đó tập trung vào hai vấn đề chính là văn hóa tổ chức đời sống tập

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- * -

PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG

GIÁO DÂN VÙNG CÁI SẮN

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC

Mã số: 60 31 70

Hướng dẫn khoa học:

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2009

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5

4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 6

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU 8

6 ĐĨNG GĨP CỦA LUẬN VĂN 10

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 10

Chương 1 12

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 12

1.1.1 Về văn hĩa tổ chức đời sống cộng đồng 12

1.1.2 Về giao lưu và tiếp biến văn hĩa 15

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 20

1.2.1 Vùng Cái Sắn nhìn từ phương diện đồng đại 20

1.2.2 Vùng Cái Sắn nhìn từ phương diện lịch đại 26

Chương 2 39

VĂN HĨA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG TẬP THỂ 39

CỦA CỘNG ĐỒNG GIÁO DÂN VÙNG CÁI SẮN 39

2.1 NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG TẬP THỂ CỦA CỘNG ĐỒNG GIÁO DÂN VÙNG CÁI SẮN 39

2.1.1 Tổ chức theo huyết thống: Gia đình và Gia tộc 39

2.1.1.1 Gia đình 39

2.1.1.2 Gia tộc 44

2.1.1.3 Quan hệ giữa gia đình và gia tộc 47

2.1.2 Tổ chức theo địa bàn cư trú: Xĩm và Làng 50

2.1.2.1 Xĩm 50

2.1.2.2 Làng 51

2.1.3 Tổ chức theo nghề nghiệp và sở thích: Phường và Hội 54

2.1.3.1 Phường 54

2.1.3.2 Hội 56

2.1.4 Tổ chức theo truyền thống nam giới: Giáp 58

2.1.5 Tổ chức theo đơn vị hành chính: Xã và Ấp 60

2.1.6 Tổ chức theo tơn giáo: Giáo xứ và Giáo khu 62

2.1.6.1 Giáo xứ, Giáo Khu, Giáo họ và Hội đồn 62

2.1.6.2 Quan hệ giữa Hội, Giáp và Giáo xứ 67

2.2 ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HĨA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG TẬP THỂ CỦA CỘNG ĐỒNG GIÁO DÂN VÙNG CÁI SẮN 69

2.2.1 Tính cộng đồng 69

2.2.2 Tính tự trị 72

2.2.3 Tính dung hịa 74

Chương 3 80

VĂN HĨA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN CỦA CỘNG ĐỒNG GIÁO DÂN VÙNG CÁI SẮN 80

Trang 3

3.1 TÍN NGƯỠNG - TÔN GIÁO 80

3.1.1 Đời sống tôn giáo của giáo dân vùng Cái Sắn 80

3.1.1.1 Giáo dân vùng Cái Sắn và việc giữ đạo 80

3.1.1.2 Giáo dân vùng Cái Sắn và việc sống đạo 85

3.1.2 Đặc trưng của Công giáo vùng Cái Sắn 89

3.1.2.1 Tính linh hoạt 89

3.1.2.2 Tính tổng hợp 90

3.2 PHONG TỤC 93

3.2.1 Phong tục hôn nhân của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn 93

3.2.1.1 Quan niệm về hôn nhân 93

3.2.1.2 Nghi thức tổ chức hôn lễ 98

3.2.2 Phong tục tang ma của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn 102

3.2.2.1 Quan niệm về tang ma 102

3.2.2.2 Nghi thức tổ chức tang lễ 105

3.2.3 Phong tục lễ tết và lễ hội của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn 110

3.2.3.1 Lễ tết và lễ hội truyền thống 110

3.2.3.2 Lễ tết và lễ hội Công giáo 113

3.2.4 Đặc trưng phong tục của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn 115

3.2.4.1 Tính tôn giáo 115

3.2.4.2 Tính dân chủ - bình đẳng 116

3.3 VĂN HÓA GIAO TIẾP VÀ NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ 117

3.3.1 Đặc trưng văn hóa giao tiếp của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn 117

3.3.2 Đặc trưng nghệ thuật ngôn từ của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn 121

3.4 NGHỆ THUẬT THANH SẮC VÀ HÌNH KHỐI 125

3.4.1 Đặc trưng nghệ thuật thanh sắc của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn 125 3.4.1.1 Tính kế thừa có sự sáng tạo trong âm nhạc, dân ca và sân khấu 125

3.4.1.2 Tính cộng đồng trong nghệ thuật thanh sắc 130

3.4.2 Đặc trưng nghệ thuật hình khối của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn 132 3.4.2.1 Tính tả thực trong nghệ thuật hình khối 132

3.4.2.2 Tính tổng hợp Đông - Tây trong nghệ thuật hình khối 136

3.5 TÍNH TÔN GIÁO VÀ TÍNH THẾ TỤC - HAI ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN CỦA CỘNG ĐỒNG GIÁO DÂN VÙNG CÁI SẮN 140

3.5.1 Tính tôn giáo 140

3.5.2 Tính thế tục 142

KẾT LUẬN 148

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 156

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

- Hơn bốn thế kỷ nay, Công giáo đã trải qua quá trình du nhập, tồn tại

và ngày càng phát triển ở Việt Nam Do đó, Công giáo ảnh hưởng không nhỏ đối với đời sống văn hóa của người Việt, đặc biệt là trong đời sống văn hóa của cộng đồng giáo dân Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu Công giáo Việt Nam trên phương diện văn hóa là việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Nghiên cứu văn hóa của một cộng đồng giáo dân cụ thể và điển hình (về số lượng, quy mô và cơ cấu tổ chức đời sống) như cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn sẽ góp phần khái quát những đặc điểm văn hóa của cộng đồng giáo dân Cái Sắn nói riêng và ở miền Tây Nam Bộ nói chung

- Nghiên cứu cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn trên phương diện văn hóa tổ chức đời sống sẽ góp phần làm rõ sự tác động qua lại giữa cá nhân và tập thể, giữa nghi thức tôn giáo và phong tục truyền thống trong tổ chức đời sống cộng đồng

Nhằm góp phần vào những yêu cầu chung này, chúng tôi chọn đề tài

“Văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn” để làm

luận văn thạc sỹ chuyên ngành văn hóa học

cá nhân

Trang 5

- Qua việc nghiên cứu cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn, một cộng đồng có nguồn gốc Bắc Bộ đến cư trú ở Nam Bộ, sẽ góp phần tạo cơ sở cho việc tìm hiểu các cộng đồng giáo dân ở miền Tây Nam Bộ nói riêng, ở khu vực Nam Bộ nói chung Hơn nữa, nghiên cứu tổ chức đời sống của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn cũng góp phần hiểu được sự giao lưu và tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa phương Tây được thể hiện thông qua Công giáo ở Việt Nam

- Qua việc nghiên cứu cụ thể một cộng đồng giáo dân sẽ góp phần phát hiện những mặt mạnh và yếu trong lối tổ chức cộng đồng, nhằm tìm hướng phát huy và khắc phục đối với cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Chúng tôi nghiên cứu cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn trong tính hệ thống của nó, trong đó tập trung vào hai vấn đề chính là văn hóa tổ chức đời sống tập thể (về phương diện hành chính - chính quyền và phương diện thiết chế tôn giáo) và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân (tín ngưỡng, phong tục, nghệ thuật…)

Phạm vi không gian được giới hạn trong khu vực cư trú của cộng đồng giáo dân Bắc di cư sống dọc theo hai bờ kinh Cái Sắn, thuộc phạm vi hành chính của hai huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Cần Thơ và huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang (khoảng 105 độ 25 đến 105 độ 40 kinh tuyến đông và 10 độ đến 10 độ 30 vĩ tuyến bắc), trong vùng văn hóa đồng bằng Sông Cửu Long, miền Tây Nam Bộ

Phạm vi thời gian chủ yếu tập trung vào khoảng thời gian từ năm

1956 (thời điểm giáo dân di cư đến Cái Sắn và hình thành cộng đồng) đến nay, trong đó có chú ý đến khoảng thời gian trước và sau biến cố di dân năm

1954 để so sánh

Trang 6

4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Từ trước đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về văn hóa vùng Cái Sắn, đặc biệt là chưa có công trình viết về văn hóa tổ chức đời sống của cộng đồng giáo dân này

Tuy nhiên, về Công giáo ở vùng Cái Sắn, có một luận án viết vào năm

2000 về “Cộng đồng người Việt Công giáo vùng dinh điền Cái Sắn” của

Trần Hữu Hợp Nội dung công trình này có liên quan đến văn hóa và tôn giáo, nhưng tác giả viết chủ yếu về dân tộc học Bên cạnh công trình này, cũng có những công trình nghiên cứu chung về văn hóa và tổ chức đời sống cộng đồng Công giáo khá phong phú Những công trình chung này đã giúp chúng tôi nắm bắt được nhiều vấn đề trong quá trình thực hiện luận văn Về tài liệu tiếng Việt, cụ thể có các công trình và bài viết dưới đây

Lý luận chung về Công giáo có các tác phẩm như:

trong lịch sử” (1993); “Bước đường hội nhập văn hóa dân tộc của Công giáo Việt Nam” (1999); “Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam” (2001) của Nguyễn Hồng Dương đã cho cái nhìn tổng quan về một số

lễ nghi và lối sống của người Công giáo, đồng thời cũng nêu lên những điểm tất yếu mà Công giáo phải hòa hợp với văn hóa Việt Nam để tồn tại

của nhiều nhà nghiên cứu về Công giáo (diễn ra tại Tòa tổng giám mục Huế

từ 24-27/10/2000) đã đưa ra nhiều vấn đề liên quan đến những hoạt động của Công giáo trên phương diện văn hóa

- “Tản mạn lịch sử giáo hội Công giáo Việt Nam” (2005) của Đỗ

Quang Chính Có thể nói, tác phẩm này đã cung cấp một cái nhìn khái quát

về quá trình truyền bá của Công giáo phương Tây vào Việt Nam và sự hội nhập của giáo hội Công giáo vào văn hóa Việt Nam Đặc biệt, chương mục

Trang 7

“Họ nhà thờ Việt Nam Xưa” (trang 247-278) được tác giả mô tả, giải thích

và lý luận tương đối đầy đủ về sự quy tụ của giáo dân, sự hình thành giáo xứ

và cơ cấu của ban điều hành giáo xứ

-“Giao lưu văn hóa Việt - Pháp thông qua Công giáo tại Sài Gòn -

Gia Định” (2006) của Đỗ Trung Thành cho thấy sự giao lưu và tiếp biến

giữa văn hóa Pháp và văn hóa Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển của Công giáo Việt Nam, cụ thể là Công giáo tại Sài Gòn - Gia Định

Các tác phẩm viết về tổ chức làng xã có nội dung gần với đề tài luận văn gồm:

Bộ” (1998) của Diệp Đình Hoa cho người đọc hiểu tương đối đầy đủ từ

phương diện từ ngữ của đơn vị Giáp cho đến cơ cấu hình thành và tín ngưỡng của giáp Đồng thời, tác giả cũng rút ra được 5 nhận xét cơ bản về đơn vị giáp trong sự hình thành và hoạt động

Kim Sơn (Ninh Bình) nửa sau thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX” (1999) của

Nguyễn Phú Lợi đã nêu được một số đặc trưng của một làng Công giáo, nêu được nguồn gốc ra đời, cơ cấu tổ chức xã hội trong các làng Công giáo cũng như sự phân chia thứ bậc trong cộng đồng giáo dân ở Kim Sơn Đây là một bài viết rất hữu ích cho việc tham khảo để thực hiện luận văn dưới góc độ nghiên cứu một làng Công giáo cụ thể

Về tài liệu tiếng nước ngoài, cụ thể có các công trình sau:

- “Divers voyages et missions d’Alexandre de Rhodes en Chine, et

autres Royaumes de L’Orient” (1653) của Alexandre de Rhodes đã cho độc

giả tư liệu về những cuộc hành trình và sứ mệnh của ông ở Trung Quốc và các vương quốc ở Đông Á, thông qua những ghi nhận cụ thể

Trang 8

- “Monographie de la Province de My Tho” (1902) của Société des Etudes Indochinoises (Hội nghiên cứu Đông Dương) và “Histoire de

Cochinchine” (1923), “Histoire de la mission du Tonkin 1658 - 1717”

(1927) của Adrien Launay đã cho thấy sự quan tâm của phương Tây đối với

vùng đất Nam Kỳ (qua việc phác họa bản đồ tỉnh Mỹ Tho), đồng thời cũng cung cấp những cứ liệu lịch sử liên quan đến quá trình truyền giáo ở Bắc Kỳ

và Nam Kỳ Những công trình này rất có ích cho chúng tôi trong việc tham khảo và so sánh quá trình truyền giáo xưa và nay

- “Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens” (1992) của

Léopold Cadière đã cho thấy những tín ngưỡng và thực hành tôn giáo của người Việt Nam nói chung Đây cũng là một công trình rất có ích vì đã cung cấp những vấn đề liên quan đến văn hóa tổ chức đời sống cá nhân của cộng đồng người Việt

nghiên cứu về Công giáo và lịch sử hình thành Công giáo Những công trình

và bài viết này tuy không đề cập cụ thể đến cộng đồng giáo dân ở địa phương Cái Sắn trên phương diện văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng, nhưng đã là một nguồn tư liệu thật sự hữu ích cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

5.1 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp lịch sử: để có cứ liệu và cái nhìn khái quát về tình hình chính trị - xã hội trong quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn

Trang 9

- Phương pháp điền dã: để thu thập tư liệu cụ thể và tiếp cận một cách trực tiếp với cộng đồng giáo dân ở địa phương nhằm hiểu rõ hơn quan điểm

và cơ cấu tổ chức đời sống cộng đồng của họ

- Phương pháp so sánh: để tìm ra tính đặc thù của Công giáo địa phương Cái Sắn bên cạnh tính phổ quát của Công giáo nói chung

Từ những phương pháp trên, chúng tôi hệ thống lại những cứ liệu thu thập nhằm có được tính hệ thống cho đề tài và tính nhất quán trong quan điểm nghiên cứu

5.2 Nguồn tư liệu

- Tư liệu chung về lý luận văn hóa được phổ biến từ trước đến nay của các tác giả trong nước và ngoài nước, đặc biệt là của các tác giả trong nước viết về văn hóa Việt Nam Ngoài ra, những nguồn tư liệu từ internet, từ sách

và tạp chí, từ Kinh Thánh, giáo lý… liên quan đến Công giáo và liên quan đến tổ chức đời sống cộng đồng giáo dân cũng được chúng tôi quan tâm

tham khảo

- Tư liệu từ việc điền dã, theo chúng tôi, nguồn tư liệu này rất quan trọng vì thu thập được những tài liệu cụ thể của địa phương và những cứ liệu thực tế qua quá trình tiếp cận trực tiếp với cộng đồng Cụ thể từ năm 2007-

2008, chúng tôi đã thực hiện 3 đợt khảo sát chính và thu được những kết quả

sau:

▪ Đợt 1: Khoảng tháng 07 đến tháng 08 năm 2007, chúng tôi đã đến vùng Cái Sắn chụp hình và thu thập một số tư liệu hình ảnh liên quan đến nội dung đề tài luận văn để làm hình ảnh minh họa

▪ Đợt 2: Khoảng cuối năm 2007 và đầu năm 2008, chúng tôi đã thâm nhập thực tế bằng cách tham dự những ngày lễ của Công giáo như lễ Giáng sinh, Phục sinh và tết Nguyên Đán… ở giáo xứ Ngọc Thạch (giáo xứ lớn nhất vùng Cái Sắn) để có được những kiến thức thực tế về những hoạt động văn hóa của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn thông qua những dịp lễ lớn

Trang 10

▪ Đợt 3: Vào dịp hè năm 2008, chúng tôi đã tiếp xúc trực tiếp với các

vị đại diện ở Tòa Tổng giám mục giáo phận Long Xuyên, Linh mục chánh

xứ Ngọc Thạch Đỗ Anh Tuấn và cộng đồng giáo dân giáo xứ Ngọc Thạch

để thu thập những tài liệu viết của giáo phận, giáo xứ và khảo sát cộng đồng giáo dân thông qua phỏng vấn trực tiếp và lập phiếu thu thập thông tin

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

- Về mặt khoa học: Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về văn hóa

tổ chức đời sống của một cộng đồng giáo dân có nguồn gốc ở khu vực Bắc

Bộ đến định cư ở Nam Bộ Từ việc nghiên cứu này, chúng tôi muốn làm rõ

sự giao lưu văn hóa giữa Bắc Bộ và Nam Bộ, giữa giáo dân và cư dân ngoài Công giáo trong khu vực, tìm ra những đặc điểm chung và riêng của cộng đồng Do đó, luận văn này thực sự có ý nghĩa khoa học đối với việc nghiên cứu tổ chức đời sống cộng đồng trên phương diện tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng

- Về mặt thực tiễn: Qua nghiên cứu tổ chức đời sống của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn, chúng tôi hiểu rõ hơn đặc điểm văn hóa của vùng và của cộng đồng giáo dân, từ đó có thể vận dụng để nghiên cứu những cộng đồng kế cận khác

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Với đề tài thuộc phạm vi văn hóa tổ chức đời sống của cộng đồng giáo dân Công giáo vùng Cái Sắn, chúng tôi tập trung vào hai vấn đề chính là: tổ chức đời sống tập thể và tổ chức đời sống cá nhân Tuy nhiên, để có cơ

sở nghiên cứu hai vấn đề này một cách khoa học, chúng tôi dựa vào cơ sở lý luận thuộc lĩnh vực văn hóa và cơ sở thực tiễn liên quan đến đối tượng và phạm vi nghiên cứu mà xem xét, cụ thể là:

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương

Trang 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Ở chương này, chúng tôi trình bày những cơ sở lý luận về văn hóa tổ

chức đời sống cộng đồng và giao lưu và tiếp biến văn hóa Đồng thời,

chúng tôi cũng trình bày những cơ sở thực tiễn liên quan đến vùng Cái Sắn

nhìn từ phương diện đồng đại và vùng Cái Sắn nhìn từ phương diện lịch đại, từ đó tìm ra những đặc điểm chung của vùng để làm cơ sở và định

hướng cho nội dung trình bày về văn hóa tổ chức đời sống tập thể và văn

hóa tổ chức đời sống cá nhân của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn

Chương 2 : VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG TẬP THỂ CỦA CỘNG ĐỒNG GIÁO DÂN VÙNG CÁI SẮN

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn mà chúng tôi đã trình bày ở chương 1, trong chương 2 này, ngoài những nguyên tắc tổ chức đời sống tập

thể mà chúng tôi trình bày như: tổ chức theo huyết thống, theo địa bàn cư

trú, theo nghề nghiệp và sở thích, theo truyền thống nam giới, theo đơn vị hành chính, chúng tôi còn đưa thêm một nguyên tắc được hình thành do đặc

điểm tôn giáo của cộng đồng: nguyên tắc tổ chức theo tôn giáo Và, do đặc điểm của vùng Cái Sắn là vùng nông thôn nên chúng tôi lược bỏ đi các

chương mục khác trong tổ chức đời sống tập thể như: tổ chức đô thị và tổ

chức quốc gia

Chương 3 : VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN CỦA CỘNG ĐỒNG GIÁO DÂN VÙNG CÁI SẮN

Tiếp theo chương 2, trong chương 3 này chúng tôi lần lượt trình bày

các vấn đề liên quan đến tổ chức đời sống cá nhân như: tín ngưỡng - tôn

giáo, phong tục, văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật thanh sắc và hình khối Từ đó, chúng tôi đưa ra các đặc trưng chi phối đến

toàn bộ đời sống cá nhân của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Như những ngành khoa học khác, văn hóa học cũng có những thuật ngữ, phạm trù và những lý luận mang tính hệ thống riêng cho ngành của mình Do đó, khi nghiên cứu một cộng đồng cụ thể trên phương diện văn hóa, ngoài những vấn đề thuộc về cơ sở thực tiễn, chúng tôi trình bày ba cơ

sở lý luận trong nghiên cứu văn hóa tổ chức đời sống của cộng đồng giáo

dân vùng Cái Sắn là: văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng, giao lưu và tiếp

biến văn hóa và tính hội nhập của tôn giáo Về tính hội nhập của tôn giáo,

chúng tôi nhận thấy cũng cần thiết để đưa vào làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu một cộng đồng Công giáo Tuy nhiên, do tính hội nhập thường xuất hiện và sự hội nhập thường là kết quả của quá trình mang nội hàm rộng hơn là: quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa (vì có giao lưu văn hóa thì tính hội nhập mới có cơ hội thể hiện và khi đó văn hóa cũng có thêm cơ hội

để biến đổi) Do đó, chúng tôi xin lược bỏ cơ sở lý luận về tính hội nhập của tôn giáo để tập trung vào hai cơ sở lý luận còn lại mang tính cơ bản hơn

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Về văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng

Tổ chức đời sống cộng đồng là một trong những thành tố cơ bản của

hệ thống văn hóa Điều này thể hiện khá rõ trong các quan niệm, các định nghĩa về văn hóa cũng như trong các cách chia thành tố của hệ thống văn hóa Ngay từ định nghĩa của E.B Tylor, được coi là định nghĩa khoa học đầu tiên của văn hóa, đã cho thấy văn hóa là “do con người đạt được với tư cách

Trang 13

là thành viên của xã hội” [2000: 13]1, và như thế, nĩi đến xã hội trước tiên phải nĩi đến tổ chức đời sống cộng đồng, đến quan hệ giữa người và người

Từ trước đến nay, cĩ các tác giả sau đây nhận định về văn hĩa như:Đào Duy Anh cho rằng văn hĩa phụ thuộc vào “điều kiện địa lý tự nhiên”,

“con người” và chuyển biến của lịch sử “xã hội” [2002: 11-12]2 mà hình thành; Phan Ngọc đã xem văn hĩa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong ĩc một cá nhân hay một tộc người với thế giới thực tại [2004: 18] (khái niệm “tộc người” mà tác giả sử dụng được xem như một cộng đồng cụ thể); Trần Quốc Vượng đã đồng nhất xã hội với văn hĩa và cho rằng “văn hĩa cũng là xã hội và xã hội cũng là văn hĩa” [2003: 105]; L.A.White cũng cho rằng văn hĩa và xã hội cĩ tương quan với nhau [Dẫn theo A.A.Belik 2000: 121]… nhìn chung những nhận định này đã biểu đạt phần nào khái niệm văn hĩa

Thơng qua các định nghĩa về văn hĩa, chúng ta cĩ thể thấy đời sống

xã hội luơn là tấm gương phản ảnh đời sống văn hĩa và cả hai luơn cĩ sự tác động qua lại Do đĩ, càng khẳng định rằng cấu trúc của hệ thống văn hĩa luơn chứa đựng một thành tố rất quan trọng liên quan đến đời sống xã hội,

đĩ chính là tổ chức đời sống cộng đồng Vì thực ra, xã hội là của cộng đồng

và cĩ cộng đồng mới cĩ xã hội, chúng ta cũng khơng thể lồng ghép xã hội của một nước này với một nước khác được vì yếu tố cộng đồng làm nên sự khác nhau về văn hĩa

Về cấu trúc của hệ thống văn hĩa, cĩ nhiều cách chia khác nhau Chẳng hạn, Phạm Đức Dương chia văn hĩa thành hai bậc: 1/ Cấu trúc bề

1 E.B Tylor trong Văn hĩa nguyên thủy đã viết: văn hĩa bao gồm “tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội”

2 Đào Duy Anh coi văn hĩa phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự nhiên, con người cũng có tài tác động lại đối với môi trường địa lý tự nhiên và do chuyển biến của lịch sử xã hội ấy mà hình thành nên cách thức sinh hoạt của họ

Trang 14

mặt bao gồm thiết chế xã hội, khoa học kỹ thuật, ngôn ngữ, nghệ thuật, tôn giáo, phong tục tập quán… và 2/ Cấu trúc chiều sâu bao gồm những giá trị vật chất, tinh thần, truyền thống và nếp sống [2002: 236] Trong giới hạn luận văn này, chúng tôi chọn cách chia thành tố văn hóa của Trần Ngọc Thêm vì nó thuận lợi cho việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu của đề tài Đồng thời, dựa vào cách phân chia thành tố văn hóa của tác giả để làm cơ sở

lý luận Theo Trần Ngọc Thêm, cấu trúc của hệ thống văn hóa gồm bốn

thành tố: Văn hóa nhận thức; Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên; Văn

hóa ứng xử với môi trường xã hội; Văn hóa tổ chức cộng đồng [2004:

28-30]

Như vậy, tổ chức đời sống cộng đồng cũng là một thành tố trong cấu trúc của hệ thống văn hóa Và, theo sự phân chia chi tiết hơn của Trần Ngọc Thêm: “Nó bao gồm hai vi hệ là văn hóa tổ chức đời sống tập thể (những

vấn đề liên quan đến tổ chức xã hội trong một quy mô rộng lớn như tổ chức

nông thôn, quốc gia, đô thị) và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân (những vấn

đề liên quan đến đời sống mỗi người như tín ngưỡng, phong tục, đạo đức, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật…)” [2004: 28-29] Trong cách phân chia này, Trần Ngọc Thêm đã xem xét văn hóa ở phạm vi quốc gia Do đó, với đối tượng của đề tài nghiên cứu là một cộng đồng nhỏ ở nông thôn, chúng tôi cần phải giản lược sao cho phù hợp với đối tượng Theo đó, chúng tôi cũng chia văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng của giáo dân vùng Cái Sắn thành

hai vi hệ là văn hóa tổ chức đời sống tập thể (những vấn đề liên quan đến tổ chức xã hội và tôn giáo trong phạm vi nông thôn Cái Sắn) và văn hóa tổ

chức đời sống cá nhân (những vấn đề liên quan như tín ngưỡng, phong tục,

văn hóa giao tiếp, nghệ thuật… của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn)

Trang 15

Trên phương diện xã hội học, chúng tôi cũng chú ý đến các yếu tố cấu thành khái niệm “cộng đồng” để xem xét Theo đó, cộng đồng bao gồm bốn yếu tố: 1/ tương quan cá nhân mật thiết với những người khác; 2/ có sự quan

hệ tình cảm về cảm xúc nơi cá nhân trong những nhiệm vụ và công tác xã hội của tập thể; 3/ có sự hiến dâng tinh thần hoặc dấn thân đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả và có ý nghĩa; 4/ có ý thức đoàn kết với mỗi người trong tập thể Bên cạnh những yếu tố trên, khái niệm cộng đồng còn

để chỉ một đoàn thể có những khuôn mẫu tác phong, tương quan xã hội và vai trò được tổ chức thành cơ cấu Về không gian, cộng đồng là một đoàn thể cư ngụ ở một vùng lãnh thổ [Joseph H Fichter 1974: 80] Theo những tiêu chuẩn trên, giáo dân vùng Cái Sắn chính là một cộng đồng nhỏ với những thiết chế của xã hội và của tôn giáo thể hiện nét văn hóa đặc thù trong một cộng đồng rộng lớn là toàn dân tộc Việt Nam

1.1.2 Về giao lưu và tiếp biến văn hóa

Sắn, chúng tôi đặc biệt chú ý đến cơ sở lý luận về giao lưu và tiếp biến văn hóa, vì cộng đồng giáo dân này đa phần đều từ các tỉnh Thái Bình và Nam Định thuộc Bắc Bộ di cư vào Nam Bộ Do đó, cộng đồng này sẽ có sự tiếp xúc văn hóa với các cộng đồng khác trong vùng văn hóa Nam Bộ, cụ thể là giao lưu với cư dân người Kinh ở địa phương Hơn nữa, đây là cộng đồng giáo dân đã có sự giao lưu với văn hóa phương Tây, đặc biệt thông qua Ki-tô giáo3 nên chúng tôi cũng chú trọng đến sự giao lưu giữa hai loại hình văn hóa phương Đông và phương Tây

3 Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã ghi nhận rằng vào đời vua Lê Trang Tông (năm 1533) đã có

nhà truyền đạo Gia-tô tên là I-nê-khư (Ignatio) vào các làng Ninh Cường, Quần Anh, Trà Lũ (Nam Định)

để giảng đạo Để hiểu thêm về sự giao lưu với văn hóa phương Tây, xin xem Trần Ngọc Thêm 2004:

521-543

Trang 16

Thực tế cho thấy, văn hóa luôn có sự biến đổi do gắn liền với những chuyển biến của xã hội và một nền văn hóa thế nào thì sẽ cho ra đời một xã hội tương ứng thế ấy Chẳng hạn, giữa nước Pháp (phương Tây) và nước Trung Hoa (phương Đông), chúng ta không thể áp đặt xã hội Pháp lên đất nước Trung Hoa vì hai nước này có sự khác biệt về văn hóa Tuy nhiên, trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa ít nhiều cũng làm nên sự biến đổi về văn hóa và xã hội, như Phạm Đức Dương đã viết: “Văn hóa không phải là cái gì nhất thành bất biến, mà cũng như mọi sự vật đều biến đổi” [2002: 215]

Nhìn lại quá trình phát triển của xã hội loài người nói chung hay xã hội Việt Nam nói riêng, mỗi giai đoạn lịch sử đều hình thành nên một dạng thức văn hóa với những giá trị văn hóa riêng mà ngày nay có thể vẫn còn

hoặc đã mất Sự biến đổi văn hóa thường xảy ra khi có sự giao lưu giữa một

nền văn hóa này với một nền văn hóa khác Chẳng hạn, vào thời cận đại, Nhật Bản từ sau thời kỳ cải cách Minh Trị, do chủ trương tiếp thu khoa học

kỹ thuật của phương Tây và giữ gìn nền tảng văn hóa cũng như đạo lý truyền thống đã làm cho đất nước phát triển vượt bậc về cả hai mặt văn hóa

và xã hội Trong khi đó, Trung Quốc vào cuối triều Mãn Thanh, do thực thi chính sách ‘‘bế quan tỏa cảng’’ nên đã lâm vào tình trạng trì trệ về mọi mặt

Do vậy, Phan Ngọc đã khẳng định: ‘‘không có văn hóa tự túc, văn hóa nào cũng cần đến sự giao tiếp để phát triển’’ và ‘‘không có văn hóa cố định, văn hóa nào cũng thay đổi’’ [2004: 17]

Đối với Việt Nam, trong tiến trình văn hóa của mình, mỗi khi có sự giao lưu văn hóa thì luôn xảy ra những hiện tượng như: phản kháng (giai đoạn chống Bắc thuộc), tiếp nhận (giai đoạn văn hóa Đại Việt), đan xen giữa phản kháng và tiếp nhận (giai đoạn văn hóa Đại Nam), hoặc dung hòa để

Trang 17

tiếp biến văn hóa (giai đoạn văn hóa hiện đại) Vì thế, Trần Quốc Vượng

cho rằng thông qua quá trình tiếp xúc văn hóa sẽ hình thành nhiều dạng vẻ khác nhau của văn hóa như: thay thế, thêm vào, hỗn dung, giải thể để rồi kết quả của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa (acculturation) sẽ có thể là tiêu hóa, sáp nhập, tiêu diệt… [2003: 89, 91-96, 109-110] Theo chúng tôi,

đó cũng là điều hiển nhiên, vì văn hóa luôn có tính động, luôn biến đổi trong

sự tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội để tồn tại và phát triển

Đối với việc tìm hiểu về giao lưu văn hóa, chúng tôi cũng quan tâm

đến yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh của văn hóa Đồng thời, chúng tôi

cũng cố gắng tìm ra động lực chính làm biến đổi văn hóa, vì thông qua sự tác động giữa hai yếu tố này sẽ định hình một dạng thức văn hóa mới

Thực tế cho thấy, qua quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa ở một số quốc gia trên thế giới, chúng tôi nhận thấy rằng: nếu quốc gia nào chỉ chú trọng đến yếu tố ngoại sinh, dễ dàng tiếp nhận nền văn hóa bên ngoài thì sẽ dẫn đến tình trạng bị đồng hóa Ngược lại, nếu quốc gia nào chỉ chú trọng đến yếu tố nội sinh mà bỏ qua sự giao lưu, tiếp nhận văn hóa từ các nền văn hóa của các quốc gia khác thì sẽ dễ dàng làm cho nền văn hóa của quốc gia mình rơi vào tình trạng trì trệ Vì vậy, Vũ Khiêu đã khẳng định rằng: ‘‘ Mất nước nhiều khi còn giành lại được Nhưng nếu để mất bản sắc văn hóa dân tộc sẽ là mất hết và mãi mãi’’ [2002: 1029]

nội sinh trước hết là nền văn hóa truyền thống của cư dân Bắc Bộ cùng với

sự tiếp nhận văn hóa Ki-tô giáo, và yếu tố ngoại sinh chính là văn hóa Nam

Bộ (khi cộng đồng này có sự giao lưu và tiếp xúc với cộng đồng cư dân ở địa phương Cái Sắn) Do đó, chúng tôi cũng đặc biệt chú ý đến những yếu tố này để tìm hiểu về văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng

Trang 18

Trên phương diện giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa phương Đông và phương Tây, cụ thể là giữa Việt Nam với phương Tây, chúng tôi nhận diện được sự giao lưu và tiếp biến văn hóa trước tiên là ở lĩnh vực tôn giáo

Thật vậy, các tôn giáo giữa phương Đông và phương Tây đã có sự qua lại từ lâu, đặc biệt là Ki-tô giáo tiếp xúc thông qua những nhà truyền đạo đến phương Đông và những thương nhân (cả hai nhóm người này đều có những lợi ích riêng để liên kết với nhau) Theo Trần Ngọc Thêm thì “nhà truyền giáo muốn mở rộng nước Chúa cần phương tiện để đi xa Nhà tư bản muốn kiếm lời cần người am hiểu thị trường nên sẵn sàng giúp đỡ tài chính cho các giáo sĩ và chở họ tới bất cứ nơi đâu” [2004: 525] Theo chúng tôi, một tôn giáo độc tôn như Ki-tô giáo khi gặp phải tín ngưỡng và những tôn giáo

có trước ở Việt Nam, ắt hẳn sẽ có những va chạm Nhưng, do có sức thuyết phục cao mà ảnh hưởng của Ki-tô giáo ít nhiều cũng cho được thành quả mà đến ngày nay chúng ta đều thấy Đó là hầu hết các quốc gia Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) đều có Ki-tô giáo, đặc biệt hơn là Philippines, Công giáo đã trở thành quốc giáo

Nha học chính Đông Dương với ba bậc học là ấu học, tiểu học và trung học

bằng việc bãi bỏ hoàn toàn các cuộc thi Hương vào năm 1918 Trước đó, Việt Nam cũng từng có sự giao lưu với Pháp như: vào năm 1878 ở Pháp có

mở hội vạn quốc đấu xảo, diễn ra tại Paris, các quan của ta như Nguyễn

Thành Ý và Nguyễn Tăng Doãn đã qua tham gia và còn đưa người Việt qua Pháp để học [Trần Trọng Kim 2000: 300-301 (quyển 2)] Như vậy, trong

4 Ngày 24/09/1907, Toàn quyền Đông Dương Paul Beau (1902-1908) đã ra nghị định thành lập trường Đại Học Đông Dương tại Hà Nội, và chọn ngày 01/11/1907 để khai giảng Sau đó, trường này đã đóng cửa cho đến năm 1917 thì chính thức mở lại Do đó, mốc ra đời thật sự của trường Đại Học Đông Dương là năm

1917

Trang 19

giáo dục cũng có sự thay đổi và đó cũng là kết quả của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóagiữa phương Tây và Việt Nam

Ở Nam Bộ, Sài Gòn được xem là trung tâm văn hóa - kinh tế năng động, trên bình diện văn hóa, yếu tố ngoại sinh từ sự giao lưu và tiếp biến của một nền văn hóa (giao lưu với văn hóa phương Tây, chủ yếu giai đoạn giữa thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 20) đã bổ sung cho cơ tầng văn hóa Việt trên vùng đất Nam Bộ càng thêm phong phú về chất và lượng Trong đó, yếu tố văn hóa tinh thần từ Thiên Chúa giáo đã có sự đóng góp đáng kể Từ giữa

thế kỷ 17, với cuốn từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes

[http://purl.pt/96], nếp sống vật chất, tinh thần được nhìn nhận một cách khoa học theo lối tư duy phân tích phương Tây Chẳng hạn, tiếng nói bình dân được bác học hóa về phương diện ngữ âm, ngữ pháp, mô tả các từ thuần Việt, nôm na có thể sắp xếp theo các mục: ăn, mặc, ở, làm, chơi… Qua thế

kỷ 18, có Sách cổ sang chép các việc của Phi-lip-phê Bỉnh, ghi chép những

chuyện vặt hàng ngày Từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 một loạt các tư liệu phong phú tiêu biểu cho thể loại ký, sử, tiểu thuyết do người theo Thiên Chúa giáo viết và một số được in thành sách (khi ở Sài Gòn xuất hiện nhà

máy in) như: Phi-năng thi tập 5 của Phan Văn Minh mang đậm tính phổ quát của Thiên Chúa giáo và truyền thống văn học dân tộc trong tiến trình canh

tân; Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1876 của Trương Vĩnh Ký; Thầy

La-za-rô Phiền của Nguyễn Trọng Quản… Một nét lớn mà chúng ta cần lưu ý là

hầu hết các tri thức đầu thời kỳ Pháp thuộc tuy họ theo Tây học, nhưng đều coi trọng Nho học (tiếp thu có chọn lọc), lấy Nho học làm cơ sở lý luận cho mọi hoạt động văn chương của mình (từ Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản đến Gibel Trần Chánh Chiếu và các linh mục phụ trách

tờ Nam kỳ địa phận đều kết hợp nhuần nhuyễn giữa Nho giáo và Ki-tô giáo)

5 Biên soạn lại từ điển của Taberd viết năm 1842 khi theo học tại chủng viện Phi-năng ở Malaysia

Trang 20

Trên đây là những vấn đề chung mang tính quy luật cho bất kỳ một nền văn hĩa nào Trong phạm vi tìm hiểu về văn hĩa tổ chức đời sống cộng đồng, chúng tơi cũng khơng thể bỏ qua những quy luật chung này để xem xét và vận dụng cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu Vì, sự giao lưu và tiếp biến văn hĩa giữa phương Đơng và phương Tây chính là sự giao lưu và tiếp biến giữa hai loại hình văn hĩa, cụ thể trong luận văn này chính là sự giao lưu và tiếp biến văn hĩa giữa văn hĩa Việt Nam - trọng tĩnh và văn hĩa phương Tây - trọng động

Qua phân tích của chúng tơi và các nhận định của những tác giả tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu văn hĩa, chúng tơi càng cĩ cơ sở để chọn thêm vấn đề giao lưu và tiếp biến văn hĩa làm cơ sở lý luận cho luận văn của mình

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

Về cơ sở thực tiễn, chúng tơi chú ý đến việc định vị chủ thể văn hĩa trên hai phương diện đồng đại và lịch đại nhằm làm rõ sự hình thành cộng đồng cư dân vùng Cái Sắn

1.2.1 Vùng Cái Sắn nhìn từ phương diện đồng đại

Về địa danh, theo cư dân địa phương, Cái Sắn cĩ liên quan đến dịng

sơng cái (sơng Hậu) và là vùng cĩ nhiều cây sắn Theo Lê Trung Hoa6, Cái Sắn là con kinh cĩ nhiều cây sắn (cây khoai mì) Ngồi những đặc điểm nhận diện mang tính địa phương và chủ quan về kinh Cái Sắn, chúng tơi cũng thấy con kinh này được ghi rất rõ trên bản đồ hành chính Việt Nam Do

đĩ, địa danh Cái Sắn khơng chỉ là tên gọi mà cư dân địa phương sử dụng mà cịn là tên hành chính

6Được xem như một nhà nghiên cứu địa danh, ơng đã xuất bản một số sách như: Địa danh ở thành phố Hồ

Chí Minh (1991) ; Từ điển địa danh thành phố Sài Gịn - Hồ Chí Minh (2003)…

Trang 21

Về địa lý, theo khảo sát của chúng tôi, kinh Cái Sắn bắt nguồn từ dòng

sông Hậu chảy qua địa phận giáp ranh giữa tỉnh An Giang và tỉnh Cần Thơ, sau đó chạy dọc theo quốc lộ 80 qua các huyện Thốt Nốt (Cần Thơ), Tân Hiệp (Kiên Giang), thị xã Rạch Sỏi (Kiên Giang) và đổ ra biển Rạch Giá (Kiên Giang) Trên dòng chảy của kinh Cái Sắn, hai bên có những con kênh nhỏ (tự nhiên hoặc do dân đào) dẫn nước vào những vùng sâu hơn để làm nông nghiệp (chủ yếu là trồng lúa)

Nguồn: Bản đồ hành chính Việt Nam - Lào - Campuchia (XN in Đà Lạt)

Như vậy, từ dòng kinh chính Cái Sắn đã khơi nguồn cho các con kênh nhỏ khác trong vùng, để rồi hình thành nên một địa danh rất ‘‘nông nghiệp’’

là vùng Cái Sắn (vừa có sông nước, vừa có cây lương thực) Hiện nay, vùng Cái Sắn bao gồm phần giáp ranh giữa tỉnh An Giang với huyện Thốt Nốt,

Trang 22

huyện Vĩnh Thạnh của tỉnh Cần Thơ, huyện Tân Hiệp và thị xã Rạch Sỏi của tỉnh Kiên Giang Tọa độ địa lý đối với khu vực cư trú của giáo dân (Bắc di cư) mà chúng tôi khảo sát nằm trong khoảng 105 độ 25 đến 105 độ 40 kinh tuyến đông và 10 độ đến 10 độ 30 vĩ tuyến bắc, nghĩa là vùng cư trú của giáo dân vẫn còn nằm trong vùng đồng bằng Sông Cửu Long (Tây Nam Bộ).

Nguồn: http://ctu.edu.vn/guidance/Mekongmap.htm

đó đất giồng chiếm hơn 1%, đất than bùn gần 1%, đất mặn 17,5%, đất phèn

Trang 23

46% và còn lại là đất phù sa chiếm 24%7 Toàn vùng Cái Sắn thuộc khu vực đất phù sa của đồng bằng Sông Cửu Long, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa Vùng Cái Sắn mà chúng tôi khảo sát không mang tính bán đảo vì vùng này nằm thu hẹp trong đồng bằng với diện tích khoảng 200 km2, cách biển Rạch Giá trên 30 km và cách sông Hậu trên 10

km Do đó, vùng này không phải là vùng ven biển, cũng không phải là vùng

cù lao như vùng Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc, Long Xuyên vì những vùng này là một cù lao rộng lớn nằm giữa sông Hậu và sông Tiền

Ảnh: Phạm Đình Chương

Về khí hậu, vùng Cái Sắn có nhiệt độ và độ ẩm cao, số giờ nắng hàng

năm trên dưới 2000 giờ, nhiệt độ trung bình trong năm là 27oc, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây-Nam từ tháng 5 đến tháng 10 (mùa mưa) và gió mùa Đông-Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 (mùa khô) Và, do địa hình tương đối cao

7 Số liệu của Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp năm 1980

Trang 24

nên vùng Cái Sắn không chịu ảnh hưởng lũ lụt hàng năm như vùng Đồng Tháp Mười, cũng ít bị ảnh hưởng bởi tình trạng dư nước mùa mưa và thiếu nước (nước ngọt) mùa khô Đồng thời, vì là vùng đồng bằng cách xa biển nên ít bị ảnh hưởng bởi gió bão như một số vùng khác

Về thành phần dân cư, phạm vi khảo sát của chúng tôi chủ yếu tập

trung vào cộng đồng giáo dân Bắc Bộ di cư vào Nam Bộ năm 1954 (thường gọi là dân Bắc 54, nhưng chính xác hơn thì cộng đồng giáo dân này di cư đến vùng Cái Sắn từ năm 1956) Theo tư liệu của giáo xứ Ngọc Thạch, giáo dân Bắc di cư đến vùng Cái Sắn lập nghiệp từ năm 1956, cư ngụ trải dài hai bên trục quốc lộ 80 (nối liền Long Xuyên với Rạch Giá), đoạn từ khu vực kênh H thuộc huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Cần Thơ đến kênh 5 thuộc huyện Tân

Hiệp, tỉnh Kiên Giang [Trần Đình Thụy 1999: 2] Cộng đồng giáo dân này

chủ yếu từ những vùng thuộc hai tỉnh Nam Định và Thái Bình di cư vào Nam Bộ Tổng số giáo dân Bắc di cư khoảng 110.000 người, chiếm trên 50% số giáo dân của toàn giáo phận Long Xuyên (200.000 người, bao gồm giáo dân ở các tỉnh An Giang, Kiên Giang và huyện Thốt Nốt của TP Cần Thơ), và 2,75% số cư dân (cả lương lẫn giáo) trên toàn giáo phận (4.000.000 người) [Nguyễn Ngọc Sơn 2004: 791-792] Trong khu vực cư trú của giáo dân vùng Cái Sắn, chúng tôi nhận thấy có cư dân người Kinh ở địa phương8

Về tôn giáo, trong khu vực cư trú của cộng đồng giáo dân vùng Cái

Sắn, chúng tôi thấy tồn tại hai tôn giáo chính là Phật giáo và Công giáo9

thờ Thiên Chúa và lấy Mười điều răn làm tiêu chuẩn để sống đạo nên hai tôn giáo này gần như là một (nên

được gọi chung là Ki-tô giáo), mặc dù có một số khác biệt trong giáo luật

Trang 25

Qua khảo sát thực tế và các số liệu cụ thể, chúng tôi nhận thấy rằng vùng Cái Sắn là một vùng phù sa màu mỡ, có hai mùa mưa và nắng rõ rệt, sản xuất lúa gạo là chính, đại diện cho chủ thể văn hóa của vùng này là giáo

dân Bắc di cư và người Kinh Nam Bộ Như vậy, Cái Sắn có thể xem như

một vùng ‘‘nhất tộc nhị giáo’’, là vùng của cư dân người Kinh với hai tôn giáo chính là Phật giáo và Công giáo

chúng tôi đưa ra để làm cơ sở cho việc nghiên cứu văn hóa tổ chức đời sống của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn

Ảnh: Phạm Đình Chương

10 Đây là nhà thờ Tin Lành duy nhất trong khu vực Bắc di cư vùng Cái Sắn

Trang 26

1.2.2 Vùng Cái Sắn nhìn từ phương diện lịch đại

Các giáo xứ vùng Cái Sắn được lập nên đa phần là do giáo dân Bắc di

cư vào Nam Do đó, chúng tôi chọn thời gian khảo sát trước và sau sự kiện

di cư năm 1954 để làm rõ quá trình di cư và hình thành các giáo xứ của cộng đồng giáo dân này

Trước sự kiện di cư năm 1954, từ 02-09-1945, với bản Tuyên ngôn

độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam đã trở thành một nước độc lập Tuy nhiên, tình hình trong nước lúc bấy giờ rất bất ổn, khiến cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phải ký hàng loạt những Hiệp ước và Hiệp định với Pháp nhằm bảo vệ thành quả đạt được trong thời gian đầu: Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp (06-03-1946 nhằm hòa hoãn với Pháp), theo đó, 15.000 quân Pháp thay quân Tưởng ở miền Bắc và sẽ rút sau 5 năm; Hiệp định về quân tiếp phòng (03-04-1946), quy định về nơi đóng quân của quân Việt Nam và quân Pháp thay quân Tưởng; Tạm ước Việt - Pháp (14-09-1946)…

Pháp, nhưng tình hình thực tế lúc bấy giờ cho thấy Pháp vẫn không từ bỏ ý định xâm chiếm Việt Nam Cụ thể là ở miền Bắc vào tháng 07-1946, Pháp

đã tiến đánh Móng Cái và chiếm Hồng Gai; ngày 14-02-1947, Pháp chiếm chợ Đồng Xuân (Hà Nội)… Ở miền Nam, ngay khi nhân dân vùng Sài Gòn - Chợ Lớn mít tinh mừng độc lập (02-09-1945), lính Pháp đã nổ súng làm nhiều người chết và bị thương; ngày 23-09-1945, Pháp đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng ở Sài Gòn;… Trước tình hình đó, Xứ ủy Nam Bộ và Ủy ban nhân dân Nam Bộ đã họp khẩn (23-09-1945) để đưa ra những quyết định như: tổng đình công, không hợp tác với Pháp, đánh du kích, phá hoại đường giao thông tiếp tế, bao vây tiêu diệt địch… Do đó, Nam Bộ lại tiếp tục xảy ra các trận đánh, điển hình như: trận đánh quân Pháp ở Tân Định

Trang 27

(24-09-1945); trận đánh ở Trung Hưng của quân Pháp (17-11-1946); Pháp tấn công Ô Môn ngày 08-03-1947; tấn công Hậu Thạnh (Sóc Trăng) tháng 8-1947… Trước tình hình bị Pháp xâm chiếm, quân dân Việt Nam vẫn chống trả cho đến năm 1954 Nhưng, từ năm 1954-1975, Việt Nam chuyển qua giai đoạn chiến đấu chống đế quốc Mỹ và phe phái của Mỹ, và đã giành được độc lập, thống nhất thực sự cho hai miền Nam - Bắc vào ngày 30-4-

1975

Nhìn lại khoảng thời gian sát với quá trình di dân năm 1954, chúng tôi nhận thấy có nhiều nguyên nhân như sau dẫn đến việc di cư của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn

- Trên phương diện đời sống xã hội:

Bình và Nam Định, mà những vùng này đã phải trải qua hàng loạt cuộc

chiến ác liệt nên đã làm cho đời sống giáo dân bất ổn, do đó dễ dẫn đến tình

trạng họ phải di cư đến những nơi khác yên ổn hơn Cụ thể là cư dân của hai tỉnh này đã hứng chịu các trận đánh như: trận đánh của trung đoàn 48 (thuộc Liên khu 3) cùng lực lượng vũ trang địa phương phá cuộc càn Brơ-tan-hơ của 5 binh đoàn cơ động địch ở Nam Định (trọn tháng 12 năm 1952); trận tập kích vào thị xã Thái Bình (04-12-1952); tấn công Phương Điếm, Gia Lộc

ở Hải Dương (05-12-1952); trận đột nhập thị xã Nam Định (28-04-1953); trận sông Luộc, chống cuộc càn Brô-xê của địch ở các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình (từ 22-09 đến 02-10-1953); trận tấn công địch ở thị xã Thái Bình (04-12-1953)…

Ngoài ra, tuy hai tỉnh Thái Bình và Nam Định được giải phóng vào năm 1954 (30-06 và 01-07), nhưng do hai vùng này là những cái nôi của Công giáo nên giáo dân sẽ khó hòa hợp với chính quyền cách mạng, và giáo dân cảm thấy bất an khi sống dưới sự dẫn dắt của chính quyền mới vì họ cho

Trang 28

rằng chế độ Cộng Sản là chế độ vô thần nên sẽ gây nhiều trở ngại cho họ sau này (qua tham khảo ý kiến của giáo dân Cái Sắn)

Ảnh: Nguyễn Tấn Thanh

- Trên phương diện tôn giáo - chính trị - kinh tế:

Về tôn giáo, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã tổ chức hội nghị và đưa ra những chính sách liên quan đến tôn giáo như: Trung ương cục miền Nam ra chỉ thị về vận động tín đồ Hòa Hảo (An Giang) trong cuộc Kháng chiến kiến quốc (07-04-1953); ban hành Chính sách dân tộc (không phân biệt tôn giáo) nhằm tạo thêm sức mạnh đoàn kết kháng chiến (22-06-1953); tổ chức Hội nghị tôn giáo toàn quốc lần thứ nhất (01-08-1953); chính

Trang 29

phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ban hành Chính sách tôn giáo, trong đó

nhấn mạnh đến việc đoàn kết nhân dân, không phân biệt lương hay giáo

nhằm xóa tan âm mưu lợi dụng tôn giáo để chia rẽ dân tộc, cải thiện đời sống và nâng cao trình độ chính trị - văn hóa của đồng bào các tôn giáo (04-10-1953);… nhìn chung đây là những chính sách tạo nên sự đoàn kết để làm nên sức mạnh cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng sẽ tạo ra nhiều bất lợi cho Pháp và chính quyền tay sai sau này Do đó, những chính sách này cũng là một trong những nguyên nhân làm cho Pháp và chính

quyền tay sai phải can thiệp bằng cách gây chia rẽ tôn giáo Từ đó, việc tổ

chức di cư cho người Công giáo của chính phủ sau này là một trong những giải pháp nhằm chống lại chính quyền cách mạng Hơn nữa, đối với giáo dân, di cư cũng là một giải pháp mà giáo dân chọn để tránh xa chính quyền

cách mạng khi họ cảm thấy sẽ có nhiều bất lợi trong hoạt động tôn giáo

của họ

Về chính trị - kinh tế, những chính sách mà chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đưa ra như: tại Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành trung ương

và Hội nghị lần thứ I của Đảng lao động Việt Nam (14-11-1953), chủ tịch

Hồ Chí Minh đã nêu rõ nhiệm vụ của toàn Đảng và toàn dân trong năm 1954

là đẩy mạnh kháng chiến và cải cách ruộng đất; ngày 19-12-1953 Chính

phủ ra sắc lệnh số 197/SL ban bố Luật cải cách ruộng đất do quốc hội đã thông qua tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa I (từ ngày 01 đến ngày 04-12-

1953), theo đó, mục đích của Luật cải cách ruộng đất là thủ tiêu quyền

chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở

Việt Nam, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến… đã gây nhiều bất lợi cho Pháp và chính quyền tay sai Do đó, để chống lại những chính sách liên quan đến kinh tế và chính trị này, Mỹ đã can thiệp sâu hơn vào Việt Nam thông qua những chính sách liên quan đến kinh tế và

Trang 30

chính trị như: Quốc hội Mỹ quyết định viện trợ 400 triệu đô-la cho Pháp và chính quyền tay sai ở Đông Dương tài khóa 1953-1954 (30-07-1953) và họp Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ (ngày 08-08-1954, dưới sự chủ trì của tổng thống Ai-xen-hao) để quyết định thay Pháp xâm lược Việt Nam và viện trợ trực tiếp cho chính quyền Sài Gòn không qua tay Pháp, loại bỏ vua Bảo Đại… Ngoài ra, từ tháng 08 năm 1954, Mỹ bỏ ra 55 triệu đô-la và Pháp bỏ

ra 66 tỷ Phơ-răng để tổ chức cho gần 1 triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam (chủ yếu là đồng bào theo đạo Công giáo) và J.L Colins đề ra 6 điểm

để củng cố chính quyền Ngô Đình Diệm (17-11-1954), trong đó có khoản về

định cư cho số giáo dân di cư và cải cách điền địa… Vì thế, đây cũng là

một trong những nguyên nhân dẫn đến quá trình di cư của giáo dân Công giáo, vì họ cho rằng sự ra đi này sẽ mang lại cho họ nhiều ưu đãi hơn về kinh tế so với việc họ phải sống dưới sự lãnh đạo của chính quyền cách mạng, sau khi chính quyền này thực thi những luật lệ về cải cách ruộng đất (qua khảo sát thực tế, chúng tôi được biết rằng mỗi gia đình khi đến vùng Cái Sắn đều nhận được 1 lô ruộng = 3 ha Hiện nay, diện tích ruộng của mỗi gia đình ở Cái Sắn vẫn lớn hơn nhiều so với diện tích ruộng của mỗi gia đình ở Bắc Bộ nói chung)

H.1.6 Đồng ruộng ở Cái Sắn (đồng bằng Sông Cửu Long)

Nguồn: http//www3.cpenter.net

Trang 31

- Trên phương diện quân sự:

Liên quan đến vấn đề quân sự, chúng tôi cố tìm ra nguyên nhân vì sao giáo dân được đưa đến vùng Cái Sắn và vùng này có những thuận lợi gì so với những vùng khác ở Nam Bộ

đã tiêu diệt các lực lượng vũ trang Bình Xuyên, kiểm soát trọn vùng Sài Gòn

- Chợ Lớn, đánh tan lực lượng Cao Đài, Hòa Hảo (từ tháng 04 đến tháng 1955)… và về phía chính quyền cách mạng, lực lượng cách mạng chỉ đánh

06-và chiếm các vùng ở Nam Bộ như: lực lượng cách mạng mở chiến dịch Cao Lãnh (từ ngày 26-1 đến 1-2-1953, đánh chặn địch khi chúng tấn công vào Đồng Tháp Mười); Sóc Trăng (từ ngày 4 đến 28-4-1953, mở chiến dịch nhằm thu hẹp phạm vi chiếm đóng và hệ thống phòng ngự của địch); Long

Hồ11 (ngày 13-9-1953)… do đó Cái Sắn là vùng tương đối ổn định so với

những tổ chức cách mạng Đồng thời, đây cũng là vùng sản xuất nông

nghiệp tốt hơn những vùng ven biển vì không bị nhiễm mặn và ít bị bão lụt

nên việc đưa giáo dân đến định cư và làm nông nghiệp là rất thích hợp Hơn

nữa, vùng Cái Sắn là vùng có vị trí gần với những nơi có phong trào đấu

tranh giải phóng dân tộc và các tổ chức tôn giáo có tinh thần yêu nước rất

cao, chẳng hạn: vùng Thất Sơn (Châu Đốc, An Giang) đã từng là trụ sở của phong trào Thiên Địa Hội (do Cao Văn Long lãnh đạo năm 1916), Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương (do Phật thầy Tây An lãnh đạo cuối thế kỷ XIX); làng

An Định (Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang) là trụ sở của hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa (do Ngô Lợi lập); làng Hòa Hảo (Phú Tân, An Giang) là trụ sở của

11 Để biết thêm những sự kiện lịch sử trong giai đoạn này xin xem Trần Quỳnh Cư - Nguyễn Hữu Đạo

2006: 118-155

Trang 32

đạo Hòa Hảo12 (do Huỳnh Phú Sổ lập)… vì vậy mà chính quyền Ngô Đình

Diệm đưa đồng bào Công giáo đến Cái Sắn có thể vừa để mở rộng Công

giáo, vừa để ngăn chặn sự ảnh hưởng của các tổ chức tôn giáo và những hiệp hội cách mạng khác, hay đây cũng là khởi điểm của việc thiết lập các

‘‘khu dinh điền’’ sau này chăng?

Ngoài ra, theo nhận xét của chúng tôi, vùng Cái Sắn ngoài việc thuận lợi cho giáo dân trong hoạt động tôn giáo thì vùng này còn có lợi cho việc huy động binh lính phục vụ cho chính quyền Ngô Đình Diệm Thật vậy, Cái

Sắn là vùng hầu như không xảy ra chiến tranh nên thân nhân của binh lính

có thể sống yên ổn ở đây Và do đó, những binh lính này sẽ cảm thấy an tâm khi tham gia chiến đấu cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, một chính phủ

có cùng tôn giáo với họ (theo khảo sát của chúng tôi, trong tổng số các gia đình Công giáo có thân nhân đi lính thì có trên 95% họ là lính Cộng Hòa)

Từ những nguyên nhân trên, chúng tôi nhận thấy cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn dù bị ép buộc hay tự nguyện di cư, phần lớn là do sự bất ổn

trong đời sống xã hội liên quan chủ yếu đến chính trị và tôn giáo Và, cũng cần nói thêm rằng nguyên nhân liên quan đến kinh tế cũng chi phối không

nhỏ đến cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn Vì, mặc dù theo chế độ Ngô

Đình Diệm nhưng khi giáo dân bị thiệt hại về kinh tế thì họ sẵn sàng nổi dậy chống chế độ, bằng chứng là: ngày 02-10-1956, hơn 500 người dân vùng Cái Sắn kéo đến văn phòng đại diện Tổng ủy di cư ở xã Tân Hiệp đòi được cấp mỗi ngày 4 đồng trong hai tháng; ngày 09 và 10 tháng 10 năm 1956, giáo dân cùng với dân địa phương trang bị gậy và giáo mác chống lại những thủ đoạn cướp đất và những luật lệ của chính quyền Ngô Đình Diệm… vì vậy

người ta thường nói rằng: ‘‘Có thực mới vực được đạo’’

12 Để biết chi tiết hơn về hoạt động của các tổ chức này xin xem Sơn Nam 2004: 145-159; Đinh Văn Hạnh 2001: 40-48

Trang 33

H.1.7 Cầu Cái Sắn (nối liền hai tỉnh Cần Thơ và An Giang)

Ảnh: Phạm Đình Chương

Qua phân tích tình hình xã hội cùng với những cứ liệu lịch sử, chúng tôi phần nào có thêm cơ sở thực tiễn khi tìm hiểu về sự kiện di cư năm 1954 của cư dân Bắc Bộ nói chung và giáo dân vùng Cái Sắn nói riêng trong quá trình hình thành các giáo xứ ở Nam Bộ

Sau sự kiện di cư năm 1954, mặc dù có những biến chuyển về kinh

tế, chính trị, xã hội… ở vùng Cái Sắn, nhưng nhìn chung vùng này vẫn tương đối ổn định nên chúng tôi sẽ không đề cập đến những vấn đề đã nêu,

mà nói về sự hình thành giáo phận và các giáo xứ trong vùng Cái Sắn

Công giáo) thuộc phạm vi quản lý của giáo phận Long Xuyên nên chúng tôi xin lược qua quá trình hình thành giáo phận này như sau:

thuộc thành phố Long Xuyên (An Giang) Địa bàn quản lý của giáo phận

Trang 34

bao gồm các tỉnh An Giang, Kiên Giang và huyện Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh của tỉnh Cần Thơ Giáo phận Long Xuyên đã từng là các giáo phận Đàng Trong (1679), Tây Đàng Trong (1844), Nam Vang (1850), Cần Thơ (1955)

Năm 1938, An giang có 4 giáo xứ, 30 giáo họ với 12.067 giáo dân; Kiên Giang có 3 giáo xứ, 18 giáo họ với 5.127 giáo dân; huyện Thốt Nốt (Cần Thơ) có 1 giáo xứ (giáo xứ Bò Ót) với 1.807 giáo dân13

Mandata để chính thức thành lập giáo phận Long Xuyên và đặt Giám mục

Nguyễn Khắc Ngữ cai quản giáo phận (từ năm 1960 đến 1997), tiếp đến là Giám mục Bùi Tuần (từ năm 1997 đến 2003) và hiện nay là Giám mục Trần Xuân Tiếu

Trước năm 1954, giáo phận Long Xuyên chỉ có 10 xứ đạo với khoảng 30.000 giáo dân Nhưng, từ cuộc di dân năm 1954 của giáo dân miền Bắc vào định cư ở Cái Sắn, số lượng giáo dân trong giáo phận đã tăng lên 93.739 người (tính đến năm 1964), chiếm 7,5% toàn cư dân trong giáo phận (cả lương dân và giáo dân là 1.252.705 người) Năm 1994, số giáo dân trong giáo phận Long Xuyên đã tăng lên 200.000 người (tổng số cư dân trong giáo phận là 3.670.000 người) Giáo phận Long Xuyên có mức phát triển tương đối ổn định do không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh trong giai đoạn 1963-

197514

dân), từ khi có giáo dân Bắc di cư vào, giáo phận đã hình thành nên 108 giáo

xứ, 45 giáo họ với 200.000 giáo dân Đối với vùng giáo dân Bắc di cư ở Cái

13 Thực ra, từ trước năm 1735 vùng Long Xuyên đã có các Linh Mục Thừa sai đến giảng đạo Công giáo, nhưng từ khi Linh mục José García nhận coi sóc họ đạo Chợ Quán và các tỉnh miền Tây thì vùng Long Xuyên mới thực sự phát triển

14 Để biết rõ hơn về giáo phận Long Xuyên xin xem Nguyễn Ngọc Sơn (cb) 2004: 791-792

Trang 35

Sắn, hiện nay đã hình thành 45 giáo xứ và 30 giáo họ với khoảng 110.000 giáo dân, chiếm trên 50% số giáo dân của giáo phận Long Xuyên

Qua những số liệu thực tế nêu trên, chúng tôi càng có thêm cơ sở cho việc tìm hiểu về văn hóa tổ chức đời sống của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn, đồng thời hiểu thêm sự đóng góp của cộng đồng này trong sự phát triển giáo phận Long Xuyên cũng như phát triển văn hóa của vùng

Ảnh: Nguyễn Tấn Thanh

Trang 36

1.2.3 Đặc điểm chung của vùng Cái Sắn

Từ việc khảo sát vùng Cái Sắn ở hai phương diện đồng đại và lịch đại nhằm tìm ra những yếu tố về địa lý, khí hậu, không gian văn hóa, tình hình lịch sử - xã hội… tác động đến chủ thể văn hóa và sự hình thành các giáo

xứ, chúng tôi nhận thấy vùng Cái Sắn có những đặc điểm chung sau đây:

- Cái Sắn là vùng sông nước, có những con kênh nhỏ rẽ dọc hai bên dòng kinh Cái Sắn, những con kênh nhỏ này lấy nước của dòng kinh Cái Sắn

để làm nông nghiệp, do đó vùng Cái Sắn được xem như vùng sản xuất nông

nghiệp (với sản phẩm chính là lúa gạo)

- Cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn đa phần có nguồn gốc là cộng đồng giáo dân từ những vùng nông thôn Bắc Bộ đến cư trú ở nông thôn Nam Bộ (Cái Sắn) Do đó, có thể xem cộng đồng giáo dân Cái Sắn là một cộng đồng

sống trong xã hội nông nghiệp và thuộc không gian văn hóa đồng bằng

Sông Cửu Long nói riêng và Nam Bộ nói chung

- Sự ổn định luôn là điều kiện cơ bản để tồn tại và phát triển cộng

đồng Sự ổn định này đối với cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn bao gồm: ổn định về chính trị, ổn định về kinh tế và ổn định về tôn giáo15

- Cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn là một cộng đồng gần như toàn

tòng về Công giáo Vì, trong phạm vi cư trú (khoảng 200km2) của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn, ngoài cộng đồng giáo dân này ra thì chủ yếu là

cư dân địa phương Nam Bộ (khoảng trên 10%, chủ yếu theo Phật giáo) sống xen lẫn với cộng đồng này Do đó, chủ thể văn hóa chính ở đây là cộng đồng giáo dân Bắc di cư và một số cư dân địa phương nên có thể xem vùng này

như một vùng ‘‘nhất tộc nhị giáo’’

15 Thưc tế cho thấy, nếu không có những điều kiện ổn định trên thì giáo dân sẽ dễ dàng ra đi, bằng chứng là cuộc di dân tiếp theo đã xảy ra vào biến cố năm 1975 và ngày nay có một số trường hợp bỏ quê lên thành thị sinh sống

Trang 37

TIÊU CHÍ VÙNG CÁI SẮN

Ưa sự ổn định (kinh tế, chính trị, tôn giáo) Đặc điểm cộng đồng

Gần như Công giáo toàn tòng

Bảng 1.1 Đặc điểm chung của vùng Cái Sắn

*

* *

Văn hóa của một cộng đồng thường được xác định với ba chiều kích

là chủ thể, không gian và thời gian Cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn cũng được chúng tôi khảo sát với ba chiều kích này để làm cơ sở cho nghiên cứu cách thức tổ chức đời sống cộng đồng của họ

Từ địa điểm xuất phát là Bắc Bộ, cộng đồng giáo dân Cái Sắn đã trải qua hai đợt di cư đến Nam Bộ (một số đông đã di cư đến Hố Nai - Đồng Nai năm 1954, và sau đó do các làng ở đây xảy ra hỏa hoạn nên họ đã tiếp tục di

cư đến Cái Sắn năm 1956) và hình thành nên một cộng đồng tương đối ổn định ở vùng Cái Sắn

Khi đã ổn định nơi ở, ngoài sự tương đồng về vùng nông thôn và sản xuất nông nghiệp thì cộng đồng giáo dân Bắc di cư này còn phải hội nhập với đời sống của cư dân địa phương thông qua tôn giáo, phong tục và cách thức lao động sản xuất… của họ trong một không gian văn hóa mới - văn hóa Nam Bộ

Trang 38

Với những nội dung mà chúng tôi đã trình bày liên quan đến cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức đời sống cộng đồng của giáo dân vùng Cái Sắn, chúng tôi đã nêu ra những đặc điểm chung của vùng và của cộng đồng nơi đây Đồng thời, qua phân tích những cứ liệu cụ thể, chúng tôi cũng đưa ra những nhận xét nhằm tạo thêm cơ sở cho đề tài nghiên cứu của mình Và, từ những nhận xét mang tính cơ sở này, chúng tôi sẽ vận dụng nhằm tìm ra những hướng chủ đạo chi phối đến cách thức tổ chức đời sống của cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn một cách khoa học hơn

vùng nông thôn Bắc Bộ, do sự bất ổn về nhiều mặt liên quan đến chính trị, kinh tế và tôn giáo nên đã xảy ra biến cố di cư16 năm 1954 đến vùng Nam

Bộ Từ cuộc ‘‘Nam di’’ này, họ đã hình thành nên một cộng đồng mà chắc chắn cộng đồng này sẽ có những dạng thức tổ chức đời sống mang nhiều sắc thái văn hóa pha trộn giữa Bắc Bộ với Nam Bộ, giữa truyền thống với hiện đại, giữa Công giáo với Phật giáo, giữa cư dân Bắc Bộ với cư dân địa phương Nam Bộ… Đây cũng kết quả của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa diễn ra trong sự tiếp xúc giữa hai vùng và giữa hai chủ thể văn hóa Bắc - Nam

16 Số dân Bắc di cư không chỉ ở Cái Sắn mà còn ở những vùng như Bắc Ruộng (Bình Thuận), Hố Nai (Đồng Nai)…

Trang 39

1) Do đó, để tìm hiểu vi hệ này, chúng tôi lần lượt đi vào các nguyên tắc tổ

chức đời sống tập thể và tìm ra đặc trưng của văn hóa tổ chức đời sống tập

thể cộng đồng giáo dân vùng Cái Sắn thông qua các nguyên tắc này

thể của cộng đồng giáo dân ở đây chủ yếu phụ thuộc vào những nguyên tắc

tổ chức của nông thôn Việt Nam nói chung Và, Cái Sắn là một vùng nông

thôn Nam Bộ, tập trung nhiều cư dân Bắc di cư Công giáo nên các nguyên tắc tổ chức đời sống của cộng đồng này vừa theo lối truyền thống và những đặc thù của cộng đồng cư dân Bắc Bộ, lại vừa có những kiểu tổ chức mang đặc điểm của Công giáo và của địa phương Nam Bộ

2.1 NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG TẬP THỂ CỦA CỘNG ĐỒNG GIÁO DÂN VÙNG CÁI SẮN

2.1.1 Tổ chức theo huyết thống: Gia đình và Gia tộc

Vùng Cái Sắn gồm nhiều con kênh nhỏ (để phân biệt với từ KINH là kênh lớn hoặc sông nhỏ) hợp thành bên cạnh dòng kinh chính Cái Sắn Trên mỗi con kênh tập trung nhiều hộ gia đình cư ngụ để làm nông nghiệp Cũng như những vùng nông thôn khác, hai đơn vị cơ bản trong lối tổ chức theo huyết thống ở Cái Sắn là Gia đình và Gia tộc

2.1.1.1 Gia đình

Trang 40

Về mô hình gia đình, giáo dân ở Cái Sắn quan tâm chủ yếu đến gia

đình hạt nhân và ngày càng có xu hướng sống theo mô hình này Tuy nhiên, trước đây vẫn có những gia đình ở Cái Sắn chung sống đến 5 thế hệ, nhưng rất hiếm vì lý do tuổi tác17 Ngày nay, những đại gia đình truyền thống ở Cái

Sắn thường có “hình thức tam đại, tứ đại…” nhưng “không hẳn đồng

đường’’ Sở dĩ chúng tôi cho là không hoàn toàn đồng đường vì các bậc

Ông, Cụ… thường được con cháu làm cho một căn nhà riêng ngay cạnh nhà của họ Tuy rằng họ ở riêng, nhưng các thành viên trong đại gia đình này vẫn phụ thuộc nhau về kinh tế, vẫn sinh hoạt và chăm sóc lẫn nhau, chỉ khác

là họ không ở chung một căn nhà mà ở chung trong một dãy ‘‘nhà liền kề’’ (có khi liền cả mái nhà) Nếu so sánh kiểu nhà liền kề này ở Cái Sắn với một ngôi nhà hiện đại có những phòng riêng cho những thành viên trong gia đình, chúng ta có thể thấy được sự ‘‘tương đương’’: một phòng = một nhà liền kề, một ngôi nhà hiện đại = một dãy nhà liền kề Tuy nhiên, nếu xét về tiêu chuẩn ‘‘đồng đường’’ và về mức độ khắng khít giữa các thành viên trong những kiểu hộ gia đình này thì không hẳn như nhau

H.2.1 Một kiểu ‘‘nhà liền kề’’ ở kinh Ri-vê-ra (Cái Sắn)

Ảnh: Phạm Đình Chương

17 Theo khảo sát của chúng tôi vào năm 2007, trong số trên 900 hộ gia đình ở kênh Ri-vê-ra (gồm 2 giáo xứ

là Thái Hòa và Ninh Cù) chỉ có 2 hộ gia đình sống chung 4 thế hệ, còn lại là những gia đình sống chung 3 thế hệ và gia đình hạt nhân

Ngày đăng: 04/04/2021, 22:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Belik, A.A 2000: Văn hóa học, những lý thuyết nhân học văn hóa (người dịch: Đỗ Lai Thúy - Hoàng Vinh - huyền Giang). Hà Nội:NXB Tạp chí Văn hóa nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học, những lý thuyết nhân học văn hóa
Tác giả: Belik, A.A
Nhà XB: NXB Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Năm: 2000
2. Bricker, Charles; Casson, Lionel; Flowers, Charless; Murphy, Wendy; Walker, Bryce; Weisberger, Bernard 2003: Đức Giê-Su, cuộc đời và thời đại (người dịch: Nguyễn Ước). Hà Nội: NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đức Giê-Su, cuộc đời và thời đại
Tác giả: Bricker, Charles, Casson, Lionel, Flowers, Charless, Murphy, Wendy, Walker, Bryce, Weisberger, Bernard
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2003
4. Cung Kim Tiến 2004: Từ điển các nền văn minh tôn giáo. Hà Nội:NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển các nền văn minh tôn giáo
Tác giả: Cung Kim Tiến
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2004
5. de Rhodes, Alexandre: Từ điển Việt-Bồ-La. http://purl.pt/96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Việt-Bồ-La
Tác giả: Alexandre de Rhodes
6. Diệp Đình Hoa 1998: Giáp-Tổ chức xã hội giới nam của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ. - In trong: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáp-Tổ chức xã hội giới nam của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả: Diệp Đình Hoa
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Năm: 1998
7. Đào Duy Anh 1938/2002: Việt Nam văn hóa sử cương. Hà Nội: NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2002
8. Đinh Văn Hạnh 2001: Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở Nam Bộ. - In trong: Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ở Nam Bộ
Tác giả: Đinh Văn Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo
Năm: 2001
9. Đỗ Anh Tuấn 2007: Nội quy Hội đồng mục vụ giáo xứ Ngọc Thạch. Cái Sắn (lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội quy Hội đồng mục vụ giáo xứ Ngọc Thạch
Tác giả: Đỗ Anh Tuấn
Nhà XB: Cái Sắn (lưu hành nội bộ)
Năm: 2007
10. Đỗ Quang Chính S.J. 2005: Tản mạn lịch sử giáo hội Công giáo Việt Nam. TP.HCM (lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tản mạn lịch sử giáo hội Công giáo Việt Nam
11. Đỗ Trung Thành 2006: Giao lưu văn hóa Việt – Pháp thông qua Công giáo tại Sài Gòn Gia Định (luận văn thạc sỹ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao lưu văn hóa Việt – Pháp thông qua Công giáo tại Sài Gòn Gia Định
12. Fichter, J.H 1974: Xã hội học (người dịch: Trần Văn Đĩnh). Sài Gòn: NXB Hiện đại thư xã Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Fichter, J.H
Nhà XB: NXB Hiện đại thư xã
Năm: 1974
13. Ngô Đức Thịnh 2004: Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam. TP.HCM: NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Trẻ
14. Nguyễn Công Bình - Lê Xuân Diệm - Mạc Đường 1990: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long. TP.HCM: NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
15. Nguyễn Hồng Dương 1993: Hội nhập văn hóa Ki-tô giáo với văn hóa truyền thống Việt Nam trong lịch sử - In trong: Tạp chí Nghiên cứu ĐNA, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập văn hóa Ki-tô giáo với văn hóa truyền thống Việt Nam trong lịch sử
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu ĐNA
Năm: 1993
16. Nguyễn Hồng Dương 1999: Bước đường hội nhập văn hóa dân tộc của Công giáo Việt Nam- In trong: Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đường hội nhập văn hóa dân tộc của Công giáo Việt Nam
17. Nguyễn Hồng Dương 2001: Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam. Hà Nội: NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
18. Nguyễn Khắc Ngữ 1971: Địa phận Long Xuyên - Quy chế Hội đồng giáo xứ. Long Xuyên (Minh thế ấn quán in, lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa phận Long Xuyên - Quy chế Hội đồng giáo xứ
19. Nguyễn Minh Hòa - Bùi Việt Thành - Võ Thị Anh Quân 2004: Văn hóa truyền thống trong phát triển đô thị - NXB ĐHQG TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa truyền thống trong phát triển đô thị
Nhà XB: NXB ĐHQG TP. HCM
20. Nguyễn Nghị - Nguyễn Quốc Thái - Khổng Thành Ngọc - Hoàng Minh Thức 2002: Nhà thờ Công giáo ở Việt Nam, kiến trúc - lịch sử - NXB Tổng Hợp TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thờ Công giáo ở Việt Nam, kiến trúc - lịch sử
Tác giả: Nguyễn Nghị, Nguyễn Quốc Thái, Khổng Thành Ngọc, Hoàng Minh Thức
Nhà XB: NXB Tổng Hợp TP.HCM
Năm: 2002
21. Nguyễn Ngọc Sơn (cb) 2004: Giáo hội Công giáo Việt Nam, niên giám 2004. Hà Nội: NXB Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo hội Công giáo Việt Nam, niên giám 2004
Tác giả: Nguyễn Ngọc Sơn
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w