1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa phật giáo trong đời sống cư dân thái lan

169 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 9,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO THÁI LAN 1.1 Lý thuyết về văn hóa Văn hóa đã xuất hiện cùng với loài người, nhưng mãi đến thế kỷ XX

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

ĐÀO DUY ĐẠI

ĐỜI SỐNG CƯ DÂN THÁI LAN

LUẬN VĂN THẠC SĨCHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC

MÃ SỐ: 60.31.50

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS ĐINH LÊ THƯ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2009

Trang 2

MỤC LỤC

DẪN LUẬN 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài 4

4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 5

6 Bố cục luận văn 6

Chương 1: LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA PHẬT GIÁO VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO THÁI LAN 7

1.1 Lý thuyết về văn hóa 7

1.2 Lý thuyết về văn hóa Phật giáo 9

1.3 Quá trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Thái Lan 13

1.3.1 Con đường du nhập của Phật giáo vào Thái Lan 13

1.3.2 Phật giáo ở Thái Lan qua các triều đại 19

Chương 2: VĂN HÓA VẬT CHẤT PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG CƯ DÂN THÁI LAN 32

2.1 Ngôi chùa, bảo tháp và nhà ở của người Thái 32

2.1.1 Ngôi chùa 32

2.1.2 Bảo tháp 35

2.1.3 Nhà ở của người Thái 37

2.2 Nghệ thuật Phật giáo Thái Lan 39

2.2.1 Điêu khắc 39

2.2.2 Hội họa 47

2.2.3 Tượng Phật trong phong cảnh 49

2.3 Biểu tượng trong văn hóa Phật giáo 52

2.5.1 Biểu tượng rắn Naga 52

2.5.2 Biểu tượng chim thần Garuda 53

2.5.3 Biểu tượng chằn 54

2.5.4 Biểu tượng hoa sen 55

2.4 Ẩm thực 56

2.3.1 Quy định về thức ăn 56

2.3.2 Khất thực trong Phật giáo Thái Lan 58

2.5 Trang phục 64

2.4.1 Trang phục Phật giáo 64

2.4.2 Ảnh hưởng của trang phục Phật giáo đối với đời sống người dân 66 Chương 3: VĂN HÓA TINH THẦN PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG CƯ DÂN THÁI LAN 69

3.1 Ngôn ngữ văn tự 69

3.1.1 Lịch sử 69

3.1.2 Bảng chữ cái và quy tắc trong tiếng Thái 70

Trang 3

3.1.5 Tiếng Thái và từ vay mượn 75

3.2 Văn học 86

3.2.1 Văn học Thái qua các thời kỳ 87

3.2.2 Ảnh hưởng văn hóa Phật giáo trong văn học Thái 91

3.3 Giáo dục Phật giáo 94

3.3.1 Truyền thống giáo dục Tăng già 95

3.3.2 Nền giáo dục Phật giáo thời nay 96

3.3.3 Trường Phật học ngày chủ nhật 96

3.3.4 Bộ môn Phật học trong trường 97

3.4 Phong tục vòng đời 98

3.4.1 Lễ cạo tóc và đặt tên 98

3.4.2 Lễ cắt chỏm tóc 99

3.4.3 Lễ tấn phong sư (hay lễ thọ giới) 100

3.4.4 Lễ cưới 101

3.4.5 Lễ tang .101

3.5 Lễ hội và sinh hoạt tôn giáo .102

3.5.1 Các lễ hội tôn giáo .102

3.5.2 Sinh hoạt tôn giáo .113

KẾT LUẬN .118

TÀI LIỆU THAM KHẢO .122

PHỤ LỤC .129

Trang 4

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Thái Lan “Đất nước của áo cà sa vàng” đây là lời nói của những học giả

Phương Tây đã nói về Thái Lan khi nghiên cứu và tìm hiểu về đất nước này Không phải tự dưng mà có tên gọi này Hẳn là Thái Lan có gì đặc biệt Đó chính là Phật giáo, một đất nước có hơn 95% (2007) dân số theo Phật giáo Trên thế giới, Thái Lan là nước có nhiều dân chúng theo Phật giáo nhất và sức ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống của người dân rất sâu đậm Nhà chùa vừa là nơi sinh hoạt tôn giáo vừa là nơi giao lưu văn hóa Tượng Phật được dân chúng thờ khắp mọi nơi Ở trường học, trên xe buýt, trong tiệm buôn, quán giải khát tư nhân, nhất là tại các công sở, đâu đâu cũng đều có thiết bàn thờ Phật tuy đơn giản nhưng trang nghiêm Bất cứ người công dân Thái nào trong đời mình cũng hy vọng ít nhất có một lần được xuất gia vào chùa tu vài năm, vài tháng, vài tuần, hoặc vài ngày Hiến pháp của Thái Lan (xưa và nay) quy định rằng quốc vương phải là một Phật tử và là người ủng hộ các tôn giáo trong nước Vua Bhumibol đã hoàn thành nghĩa vụ này qua việc quan tâm và khuyến khích bảo vệ tất cả những truyền thống tín ngưỡng của dân tộc Thái Riêng bản thân, vào ngày 22/10/1956, Bhumidol đã cử hành lễ xuất gia tại chùa Benchamabopotr và được vua sãi Thái Lan là Trưởng lão Somdech Phra Vanarat truyền giới cụ túc và vua đã trở thành môt tỳ kheo với đạo hiệu là Bhumibalo Sau khi thọ đại giới, ngài đến trụ trì chùa Emerald Buddha Hết hạn 15 ngày, vua xả giới, hoàn tục và trở lại với cương vị của mình1 Nhờ đa số tầng lớp nhân dân theo đạo Phật và thấm nhuần được giáo lý nhà Phật nên người dân Thái

cũng rất hiền hòa và được mệnh danh là “Đất nước của những nụ cười” Là quốc gia có đến hai vạn bảy ngàn ngôi chùa nên Thái Lan cũng được mệnh danh là “Đất nước chùa tháp”

Phật giáo ở Thái Lan chiếm một vai trò quan trọng như vậy cho nên sức ảnh hưởng của nó đối với người dân Thái Lan rất sâu đậm Phật giáo dường như đã trở thành một di sản tinh thần thiêng liêng mà bất cứ người dân nào cũng có bổn phận

1

Thông tin theo Thích Nguyên Tạng 2000: BHUMIBOL ADULYADEJ - một ông vua Phật tử,

http://www.buddhismtoday.com/viet/pgtg/nguoi/019-vuathai.htm

Trang 5

phát triển và duy trì Với đề tài “Phật giáo trong đời sống cư dân Thái Lan” tác giả

hy vọng sẽ tập hợp được những thông tin quan trọng và rõ nét cho người đọc hiểu thêm về Phật giáo ở Thái Lan

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn sẽ tập trung đi sâu vào một giác độ chính, đó là văn hóa Phật giáo trong đời sống của người dân Thái Lan, vì thế đề tài quy tụ được những nét tiêu biểu của văn hóa Phật giáo ở Thái Lan, tổng hợp và làm rõ những nét này So sánh Thái Lan với một số nước trong khu vực Luận văn này sẽ làm một tư liệu tham khảo cũng như tư liệu tìm hiểu về Thái Lan cho những ai muốn quan tâm

3 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về Thái Lan và Phật giáo ở Thái Lan đã có nhiều học giả trong và

ngoài nước nghiên cứu Trong cuốn Lịch sử vương quốc Thái Lan [Lê Văn Quang

1995] đã trình bày quá trình hình thành đất nước và con người Thái Lan từ thời tối

cổ trải qua các triều đại trong mối quan hệ ngoại giao, chủ yếu dựa trên phương

pháp lịch sử để nghiên cứu và trình bày Trong cuốn Văn hóa Thái Lan [Phó Đài

Trang 1997] nghiên cứu về những mảng văn hóa theo đề mục và kinh nghiệm như: Cách chắp tay chào, trang phục, dáng vẻ, giọng nói, trẻ em, tôn giáo v.v…KTS Trần Hùng [2004] thì viết về những công trình kiến trúc của Thái Lan và chủ yếu nghiên cứu ở thủ đô Bangkok, về kiến trúc chùa tháp, nhà thờ, khách sạn, văn phòng, nhà họp hội PTS Quế Lai thì nghiên cứu về những mảng đề tài đặc trưng của Phật giáo

Thái Lan như: Phật giáo Thái Lan với những nét tương đồng với Phật giáo Việt Nam trong cuốn “Tìm hiểu lịch sử, văn hóa Thái Lan tập I”, nghiên cứu về ngôn ngữ trong cuốn “Những vấn đề cấu tạo từ trong tiếng Thái Lan hiện đại”, văn học Thái trong cuốn “Tìm hiểu văn hóa Thái Lan” Ngô Văn Doanh thì nghiên cứu về tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật Thái Lan trong cuốn “Tìm hiểu văn hóa Thái Lan”,

về sau nghiên cứu sâu vào hội họa truyền thống Thái Lan trong cuốn “Tìm hiểu lịch

sử, văn hóa Thái Lan tập I” Mới đây với tập sách mới “Phật giáo ở Thái Lan”

(2007), TS Nguyễn Thị Quế đã tìm hiểu về các trường phái Phật giáo ở Thái Lan ngày nay và còn nhiều học giả khác nghiên cứu về Phật giáo Thái Lan…

Về học giả nước ngoài có Hall D.G.E 1997 nghiên cứu về lịch sử Đông Nam

Á trong đó có Thái Lan; Mattani Mojdara Rutnin nghiên cứu về những điệu múa,

Trang 6

kịch và nhà hát ở Thái Lan; Joe Cumming với sự hỗ trợ từ Richard Nebesky với đề

tài đi du lịch Thái Lan; K.I Matics nghiên cứu về oai nghi của Đức Phật; Mont Redmond viết về đề tài “Tuyệt vời văn hóa Thái”; Karl Döhring viết về những ngôi chùa Phật giáo của Thái Lan; Clarence Aasen viết về “Kiến trúc Siam, một kiến trúc làm sáng tỏ lịch sử văn hóa”; Mark Standen nghiên cứu về “Đức Phật trong phong cảnh – một sự biểu hiện thiêng liêng của Thái Lan”; Robert E.Fisher nghiên cứu về

mỹ thuật và kiến trúc Phật giáo v.v

Nhìn chung, nghiên cứu về Thái Lan và Phật giáo Thái Lan đã có nhiều người nghiên cứu Tuy nhiên, về mảng đề tài về văn hóa Phật giáo trong đời sống cư dân Thái Lan thì chưa tập hợp được đầy đủ Vì thế, đề tài này sẽ hướng đến mục đích

đó, và hoàn thiện nó

4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: là đề tài viết về văn hóa Phật giáo trong đời sống cư

dân Thái Lan Vì vậy, mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ đặc điểm của văn hóa Phật giáo trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Thái Lan Mức độ ảnh hưởng của nó, đậm nhạt theo từng thời kỳ và trong tương lai có còn ảnh hưởng, mức ảnh hưởng như thế nào

- Phạm vi nghiên cứu:

 Về không gian: không gian nghiên cứu là đất nước Thái Lan theo phân

giới địa lý từ khi thành lập nước đến nay

 Về thời gian: thời gian nghiên cứu xuyên suốt từ thời sơ sử cho đến ngày

nay, nhưng chủ yếu là văn hóa Phật giáo Thái Lan hiện đại

 Về chủ thể văn hóa: nghiên cứu trên bình diện chung các cộng đồng tộc

người sống ở Thái Lan mà có quốc tịch là người dân Thái Lan xét trong mối ảnh hưởng văn hóa của Phật giáo

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu văn hóa học để giải thích các hình tượng, sự kiện nguồn gốc và các nhân tố cấu thành văn hóa Phật giáo tương quan trong sự ảnh hưởng đến người dân Thái Lan

Tác giả cũng sử dụng phương pháp luận sử học để so sánh các thời kỳ du nhập Phật giáo, quá trình hình thành và phát triển qua các triều đại

Trang 7

Sử dụng thành tựu của khảo cổ học để xác định niên đại Phật giáo và nguồn gốc Phật giáo, cũng như những vấn đề liên quan trong đề tài

Sử dụng thành tựu của ngành nhân học để khảo sát các hoạt động sinh hoạt của người dân Thái Lan trong sinh hoạt tôn giáo

Áp dụng phương pháp so sánh nhằm đối chiếu lịch sử giữa các nước Đông Nam Á với Thái Lan, Phật giáo trong đời sống người dân Thái và các dân tộc khác

ở các nước khác trong khu vực

Nguồn tư liệu chính là các tư liệu sách, bài viết, thông báo khoa học, các trang web, phim tài liệu của các học giả trong và ngoài nước cùng sự khảo sát điều tra sẽ được tập hợp, phân tích, so sánh, đánh giá

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục luận văn được chia làm 3 chương: Chương 1: Lý thuyết về văn hóa Phật giáo và quá trình du nhập, phát triển Phật giáo Thái Lan

Phần này sẽ đưa ra một số định nghĩa về văn hóa và văn hóa Phật giáo, cùng

sự giải thích những khái niệm ấy Phần cuối chương 1 sẽ trình bày sự du nhập của Phật giáo ở Thái Lan, sự hình thành và phát triển qua các triều đại

Chương 2: Văn hóa vật chất Phật giáo trong đời sống của cư dân Thái Lan Phần này sẽ trình bày về văn hóa vật thể Phật giáo như kiến trúc, điêu khắc, trang phục, ẩm thực v.v…

Chương 3: Văn hóa tinh thần Phật giáo trong đời sống cư dân Thái Lan Phần này nói đến những loại hình văn hóa tinh thần như ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật, lễ hội, sinh hoạt tôn giáo, v.v…

Trang 8

Chương 1:

LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA PHẬT GIÁO

VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN PHẬT

GIÁO THÁI LAN

1.1 Lý thuyết về văn hóa

Văn hóa đã xuất hiện cùng với loài người, nhưng mãi đến thế kỷ XX – thế kỷ của Văn hóa, việc nghiên cứu về văn hóa mới đặt ra một cách nghiêm túc, và thuật ngữ văn hóa học do Wilhelm Ostwald – một triết gia người Đức dùng đầu tiên vào năm 1909, nay đã thu hút nhiều nhà khoa học thuộc các ngành khoa học xã hội và

nhân văn trên khắp thế giới Theo W Ostwald thì “chúng ta gọi những gì phân biệt con người với động vật là văn hóa”2 Trong sách “Bồ chi thi”, Thúc Triết đã viết:

“Văn hóa là tạo nên cái bên trong, còn vũ công chỉ làm chuyển biến hình thức bên ngoài” (Văn hóa nội tập, vũ công ngoại tu) Vương Dung trong sách Tam nhật nguyệt khúc thương cũng nói: “Đem cái đúng đắn nhất tạo thành tập tục thói quen cho dân, có như thế văn hóa mới bền lâu được” (Thiết thần lý dĩ cảnh tục, phu văn hóa dĩ nhu viễn) Lưu Hướng (77-4 TCN) trong sách Thiết uyển chỉ vũ cũng cho rằng: “Không coi trọng văn hóa mọi việc sẽ bê trễ, bế tắc” (Văn hóa bất cải nhiên

hậu gia thù) [Nguyễn Đăng Duy 2005:249] Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng lớn, liên quan đến mọi mặt của cuộc sống con người và do vậy có rất nhiều cách hiểu Về mặt từ nguyên văn hóa trong tiếng Hán, nghĩa của văn là xăm thân, và nghĩa gốc của văn hóa là nét xăm mình mà qua đó người khác nhìn vào để nhận biết mình3 Trong một số ngôn ngữ phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng Việt là culture trong tiếng Anh và culturologie trong tiếng Pháp, kunlturkunde

trong tiếng Đức, [Phạm Đức Dương 2002:45] có nguồn gốc từ các dạng của động

2

Dẫn lại theo GS TS Phạm Đức Dương 2002: Từ văn hoá đến văn hoá học, Viện văn hoá và NXB Văn hoá

thông tin – trang 45

3 Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/van_hoa

Trang 9

từ Latin colere là colo, colui, cultus với hai nghĩa: 1- Giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng

trong trồng trọt 2- Cầu cúng4

Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, phim ảnh như các "trung tâm văn hóa" có mặt ở

khắp nơi chính là cách hiểu này Một cách hiểu thông thường khác: văn hóa là cách

sống bao gồm phong cách ăn mặc, ăn uống, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp

nhận Vì thế chúng ta nói hay đánh giá một người nào đó là văn hóa cao, có văn hóa hoặc văn hóa thấp, vô văn hóa

Trong nhân loại học và xã hội học, khái niệm văn hóa được đề cập đến theo một nghĩa rộng nhất Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ vốn là một bộ phận trong đời sống con người5 Văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm cả vật chất

Văn hóa liên kết với sự tiến hóa sinh học của loài người và nó là sản phẩm của

người thông minh (homo sapiens) Trong quá trình phát triển, tác động sinh học hay

bản năng dần dần giảm bớt khi loài người đạt được trí thông minh để định dạng môi trường tự nhiên cho chính mình Đến lúc này, bản tính con người không còn mang tính bản năng mà là văn hóa Khả năng sáng tạo của con người trong việc định hình thế giới hơn hẳn bất kỳ loài động vật nào khác và chỉ có con người dựa vào văn hóa hơn là bản năng để đảm bảo cho sự sống còn của chủng loài mình Con người có khả năng hình thành văn hóa và với tư cách là thành viên của một xã hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn nó đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang thế hệ khác Việc cùng có chung một văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội mà chúng ta

là thành viên6

Theo UNESCO, văn hóa là tổng thể những nét đặc trưng tiêu biểu nhất của một xã hội thể hiện trên mặt vật chất và tinh thần, tri thức và tình cảm Văn hóa mang bản sắc dân tộc 7

4 Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/van_hoa

5 Macionis, J Jonhn 1987: Xã hội học, NXB Thống kê - trang 82

Dẫn lại theo http://vi.wikipedia.org/wiki/văn_hóa

6 Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/văn_hóa

7 Nguyễn Đăng Duy (biên soạn) 2005: Một số vấn đề văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại, Hà Nội,

NXB Lao Động – trang 238

Trang 10

Ở nước ta, theo từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội, 2000) thì từ văn hóa có 5 nghĩa:

1 Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (Thí dụ: Kho tàng văn hóa Việt Nam)

2 Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần – nói một cách tổng quát (Thí dụ: phát triển văn hóa)

3 Tri thức kiến thức khoa học (Thí dụ: Trình độ văn hóa)

4 Trình độ cao trong sinh hoạt văn hóa xã hội, biểu hiện của văn minh (Thí dụ: sống có văn hóa)

5 Nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau (Thí dụ: văn hóa Đông Sơn).8

Theo GS VS TSKH Trần Ngọc Thêm viết trong cuốn “Tìm về bản sắc Văn hóa Việt Nam” thì: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.”[Trần Ngọc

Thêm 1995:27]

1.2 Lý thuyết về văn hóa Phật giáo

Tôn giáo, tín ngưỡng đã tồn tại suốt chiều dài lịch sử nhân loại ở mọi quốc gia, qua nhiều thể chế chính trị Tuy thịnh suy mỗi thời một khác, nhưng vai trò và ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội không như nhau… việc gắn đạo với đời,

tôn giáo với dân tộc để cho "nước vinh đạo sáng" luôn là tâm nguyện của mọi

người bao đời nay, dễ gì để cho ai đó có toan tính phân ly, chia tách9 Mỗi đất nước,

mỗi xã hội, mỗi nhóm người đều có một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc 10 cũng như có hình thức sinh hoạt riêng Cũng tương tự như thế, các tôn giáo có một lý thuyết về

Trang 11

vũ trụ, về đời sống con người, về cách uốn nắn rèn luyện và một hình thức thờ phụng nguyện cầu riêng có thể gọi là “văn hóa tôn giáo”

Đạo Phật, đạo Chúa, đạo Hồi, đạo Ấn,… đều có một lối nhìn vũ trụ và một cách ứng xử giữa con người với con người và giữa con người với xã hội nhân sinh riêng nên tôn giáo nào cũng có một quy ước văn hóa riêng của mình Thậm chí, có những hiện tượng tôn giáo nhất thời mượn từng mảnh lý thuyết của các tôn giáo nổi tiếng để khâu vá thành một chiếc áo tôn giáo riêng của mình thì vẫn có một hiện

tượng “văn hóa tôn giáo” riêng của họ

Đạo Phật trải qua hơn hàng chục thế kỷ phát triển và tương tác với đời sống hiện thực của con người đã định hình riêng một hiện thể đặc thù, có một nền văn hóa riêng – nền văn hóa Phật giáo Ngoài những quan niệm triết học ra, văn hóa Phật giáo còn được thể hiện thông qua kinh điển, nghi lễ, chùa chiền, các hình tượng thờ cúng, chế độ tổ chức tạo thành một lối sống đa dạng, phong phú để lại những ảnh hưởng sâu sắc trong đạo đức, tư tưởng, văn học, nghệ thuật Phật giáo với một hệ thống ổn định có nhiều thứ lớp, nhiều hình thức vật thể và phi vật thể Tự bản thân nó tạo ra sắc thái văn hóa riêng biệt11

Xã hội ngày nay, trong vòng xoáy toàn cầu hóa, với tốc độ phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, con người bị cuốn hút vào trong dòng thác vật chất Người ta

vì ham mê hưởng thụ vật chất và những phát minh khoa học cao độ mà đánh mất chính mình Quan niệm đạo đức, luân lý gia đình bị lung lay đến tận gốc rễ Bên cạnh đó, các thế lực vì lợi ích riêng mà đua nhau chế tạo vũ khí giết người hàng loạt, để phục vụ cho chiến tranh Nạn tham nhũng, tham ô, tệ nạn xã hội, cướp bóc giết người đầy dẫy Mãi lo tranh danh đoạt lợi khiến cho đầu óc con người trở nên u

mê không còn biết mình Họ không biết mình đang ở chỗ nào, không biết mình đang làm gì Bên ngoài thì say đắm, bên trong lại sầu mộng hoang mang Cho nên Phật giáo là nhu cầu cần thiết cho xã hội ngày nay nhằm tạo sự cân bằng cho cuộc sống Phật giáo lại tạo cho con người có một niềm tin vào bản thân, xã hội, để có thể thoát khỏi tai nạn, khổ đau và có mệnh sống lâu dài

11 Theo Phan Đại Doãn: Tản mạn văn hóa Phật giáo Việt Nam,

http://daitangkinhvietnam.org/van-hoc-va-nghe-thuat/van-tho-phat-giao/758-tn-mn-v-vn-hoa-pht-giao-vit-nam.html

Trang 12

Văn hóa Phật giáo phải được nhìn dưới nhiều góc độ mới có thể mô phỏng phần nào về hình thái và hành trạng của nó Trước hết xét về mặt triết lý Phật giáo, nhìn vào tổng quan các giá trị mà xét thì bản chất Phật giáo là từ bi, trí tuệ; bản nguyện Phật giáo là giác ngộ, giải thoát; bản hạnh Phật giáo là hòa bình, giáo dục và

từ thiện12 Như vậy đường hướng của Phật giáo là tập trung đi vào việc sửa đổi tự thân tâm của mỗi con người để hướng đến chân thiện mỹ, đề cao tinh thần tự lực, tự

giác Trong những kinh, luận của Phật giáo chúng ta thường nghe câu: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” Đường hướng của việc tu tập tự thân đó là ba yếu tố chính: giới - định - tuệ Giới giúp cho mỗi người giữ mình có một khoảng cách tránh xa những cái xấu, định giúp cho mỗi người tỉnh thức, và tuệ giúp cho mỗi

người có một cái nhìn thật đúng đắn Nền giáo lý Phật giáo được xây dựng trên nền tảng từ bi và trí tuệ Bởi từ bi mà không có trí tuệ thì sẽ tạo điều kiện cho những kẻ

xấu lợi dụng Trong đạo Phật trí tuệ được đặt lên hàng đầu “Chỉ có trí tuệ mới là sự nghiệp” (Duy tuệ thị nghiệp) Niềm tin trong đạo Phật phải xuất phát từ sự hiểu biết

và kinh qua thì niềm tin mới vững bền

Một tư tưởng cũng xuyên suốt trong triết lý của nhà Phật là luật nhân – quả

Nó chỉ rõ xu hướng chuyển động tốt hay xấu của đời người chính là do nghiệp quyết định Nghiệp mà con người lựa chọn được phân biệt là thiện và ác Thiện nghiệp sẽ đưa đến thiện quả, ác nghiệp nhất định đưa tới ác quả Với luật nhân quả này, ta thấy xuất hiện rất nhiều trong truyện tích, ca dao, tục ngữ và lời nói hàng

ngày của người dân các nước theo Phật giáo Ở Việt Nam ta thường nghe câu: gieo gió thì gặt bão, đời cha ăn mặn đời con khát nước…, ở Thái Lan thì có câu như: không nên cố mang ngà voi vào mình (vì voi là một biểu tượng tôn quý của hoàng

gia, nếu mang vào mình ắt sẽ gặp họa)

Với tư tưởng và triết thuyết của mình, Phật giáo đã có ảnh hưởng lớn trong sáng tác văn học dân gian và văn học hiện đại mang một đặc sắc riêng, góp phần tạo nên một mảng đề tài riêng cho nền văn học chung của các nước Nhiều nhà thơ, nhà văn xuất thân là tu sĩ Phật giáo, hoặc những người thân cận Phật giáo luôn đưa vào sáng tác của mình những tư tưởng, triết thuyết Phật giáo để giáo dục mọi người

12 Theo Huyền Châu, Phật giáo với văn hóa dân gian, dangian.htm

Trang 13

http://www.buddhismtoday.com/viet/dien/phatgiao-Bên cạnh những yếu tố văn hóa Phật giáo về mặt tinh thần, thì ngôi chùa là một hình tượng phổ biến trong văn hóa vật chất, thể hiện những giá trị mà con người cảm nhận được và truyền tải chúng thành tác phẩm nghệ thuật Ngôi chùa của từng vùng, từng nước có những kiểu kiến trúc khác nhau và hệ thống điêu khắc, tạc tượng thờ cũng có nhiều phong cách phong phú, nó là nơi đáp ứng nhu cầu tâm linh cho mọi người khi họ có nhu cầu giải giới nội tâm để tâm hồn được thanh thản Những công trình kiến trúc lớn nhỏ, những hình tượng điêu khắc đó đã góp phần thể hiện sự phong phú và đa dạng trong nghệ thuật chung của các nước

Trong sinh hoạt và ẩm thực, Phật giáo cũng thể hiện được những nét riêng của mình Với tinh thần sống hòa đồng với nhau như nước và sữa, Phật giáo xây dựng con người sống với nhau trong một tinh thần lục hòa Đó là sáu phương cách giúp cho con người ta sống trong hòa hợp: thân cùng ở chung, miệng không tranh cãi, ý nghĩ cùng nhau duyệt, giới luật (giống như luật pháp của xã hội) cùng thực hành, cái thấy biết cùng nhau giải bày, lợi lộc đều được chia đều cho nhau Trong

ẩm thực, tuy có khác nhau giữa các trường phái Phật giáo nhưng có những giới hạn trong cách ăn uống13 và thực phẩm ăn uống để giúp cho người tu hành theo Phật giáo vẫn giữ được đức tính từ bi của mình, và văn hóa ẩm thực Phật giáo đã tạo được một phong cách ăn uống phổ biến trong thời đại ngày nay

Nhìn chung văn hóa Phật giáo có sự liên quan qua lại giữa vật chất và tinh thần nhằm giữ được vai trò chủ đạo của nền tảng học thuyết từ bi và trí tuệ của mình Nếu tách rời ra thì không diễn tả hết được bản chất của văn hóa Phật giáo Nhưng có thể cô kết lại trên một số mặt nổi bật về văn hóa vật chất như: ngôi chùa, trang phục, ẩm thực… và tinh thần: như đạo đức, ngôn ngữ, văn học… để có thể phân tích và định hình một nét văn hóa riêng của Phật giáo

Đặc biệt văn hóa Phật giáo trong tinh thần hài hòa, tùy duyên bất biến, văn hóa Phật giáo đã đi vào văn hóa dân gian của các nước một cách nhẹ nhàng và gần gũi Từ những tính chất thiết thực của mình, Phật giáo đã phát huy chức năng nhập thế, hòa mình vào nền văn hóa bản địa, giúp các dân tộc xây dựng một nền văn hóa rực rỡ, đa dạng và phong phú hơn Qua đó, văn hóa Phật giáo đã ảnh hưởng không nhỏ trong cách cư xử và sinh hoạt trong cuộc sống của người dân, đặc biệt là các

13 Xin xem phần 2.4 Ẩm thực

Trang 14

nước mà đa số người dân theo Phật giáo như Thái Lan, Lào, Campuchia, Myanamar… nhờ thực hiện đời sống trên tinh thần từ bi và giữ gìn năm giới nên họ sống rất hiền hòa với thiên nhiên, cởi mở cùng thân thiện với mọi người kể cả người nước ngoài, không trộm cắp, biết kính trọng những người lớn, tu tạo phước lành, tránh làm những việc xấu ác… những đức tính đó được lưu xuất từ tinh thần của Phật giáo tồn tại và phát huy qua nhiều thế hệ, cho đến bây giờ người dân theo Phật giáo đã sống một cách tự nhiên theo những tập quán đó và xem nó như là một nền văn hóa dân gian của dân tộc mình, chỉ khi các nhà nghiên cứu về lịch sử và nhân học, so sánh mới thấy được tinh thần đạo Phật thể hiện trong văn hóa và đời sống của người dân

1.3 Quá trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Thái Lan

1.3.1 Con đường du nhập của Phật giáo vào Thái Lan

Phật giáo bắt đầu xuất hiện ở vùng đất thuộc Thái Lan ngày nay vào thời kỳ nào? Có nhiều giả thuyết khác nhau Theo ý kiến của một số học giả, Phật giáo du nhập vào vùng đất này khoảng năm 304 Phật Lịch thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch (năm

241 trước Tây Lịch), sau khi vua A Dục (Asoka) của Ấn Độ bảo trợ việc kết tập Kinh tạng lần thứ III, liền phái các vị sư truyền giáo chia làm 9 đường đi về các địa phương khác nhau để hoằng pháp Theo ghi chép trong Đại Sử (Mahavamsa) của Sri Lanka, hai vị trưởng lão là ngài Sona và ngài Uttara đi hoằng pháp ở vùng Đông Nam Á lục địa bao gồm Miến Điện,Thái Lan, Malaysia, Lào, Campuchia và Việt Nam ngày nay (Theo các sách sử xưa đó là vùng Kim Địa) [Nguyễn Thị Quế 2007:16]

Tài liệu trên viết: "Vào ngày 1 tháng 11 năm 689, theo thuyền buồm rời khỏi Phiên Ngung, hướng về Champa giương buồm thẳng tiến, lại rong ruỗi về phía Phật Thệ (Srivijaya) Có lời tán thán: Ta là bạn tốt, cùng đến Kim Châu" Như vậy

đây là lộ trình đến vùng đất Sumatra ngày nay Về sau còn tiếp nhận thêm nhiều nhà truyền bá đến từ Miến Điện vào năm 1044 và các pháp sư đến từ Tích Lan vào năm

115514 [67]

14 Hầu hết là theo truyền thống Phật giáo Theravada Tuy vậy, Phật giáo chỉ thực sự đặt lại nền móng, phát triển và ảnh hưởng sâu rộng vào xã hội Thái Lan từ triều đại Sukhothai (1237-1456) Trong thời kỳ này có rất nhiều vị vua tín ngưỡng Phật pháp, xây dựng chùa chiền, ủng hộ việc đào tạo tăng tài để phát triển Chánh pháp, thậm chí có nhiều vị xuất gia tu học luôn, như Vua Ramkhamheng và Vua Lithai

Trang 15

Nhưng, dựa vào các chứng cớ lịch sử cũng như các di tích đào thấy của nhiều nhà khảo cổ, người ta tin rằng Đạo Phật được truyền vào vùng đất thuộc Thái Lan ngày nay đầu tiên do giống người Lavô15 đến cư ngụ tại xứ này Kinh đô của họ bấy giờ ở Dvaravati, tức đô thị Nakon Pathom (Phật Thống) ngày nay, cách Bangkok 50 km về phía Nam Những cuộc khảo cổ học gần đây đã cho thấy nhiều

di tích, di chỉ Phật giáo được truyền bá vào đây năm 241 trước Công Nguyên, tức là thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ III Nhiều di tích khác lại liên quan đến Phật giáo thời vua A Dục (Asoka) tức là vào khoảng 272 - 231 trước Công nguyên Đại Tháp Phật Thống tại Thái Lan là di tích thời này.[67]

Các dấu tích khảo cổ cũng cho thấy sự hiện diện của người Ấn Độ tại đây vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Tây Lịch Tài liệu Phật giáo Sinhalese là Mahavamsa còn kể lại Vua Ấn Độ Asoka (268- 232 trước TL) đã cử hai đặc sứ tới miền Suvannabhumi, thuộc Đông Nam Á Tới đầu kỷ nguyên Tây Lịch, đã có giao dịch buôn bán qua đường biển giữa Ấn Độ và miền nam Thái Lan Các tượng Ấn Độ cổ

đã được tìm thấy tại cả hai cửa sông miền nam Thái Lan ngày nay, ghi dấu của thế

và đá ong Về ngôn ngữ, vào thế kỷ thứ XII và XIII người Thái di cư từ tỉnh Yunnan (Vân Nam – Trung Quốc) xuống miền nam, sau này do sự xua đuổi của người Trung Quốc dân tộc Thái vượt sông Cửu Long và định cư tại các thung lũng hẹp ở miền Bắc Thái Lan, sau khi họ chinh phục được các dân tộc Môn – Khmer Cho nên ban đầu ngôn ngữ Thái có cùng đặc tính đơn âm (momosyllabic) như ngôn ngữ Môn – Khmer và hơi giống tiếng Trung Hoa Nhưng về sau do chịu ảnh hưởng của Phật giáo thông qua những kinh điển bằng tiếng Pali và Sanskrit (Phạn) nên tiếng Thái trở thành đa âm (polysyllabic) do sự thêm vào của nhiều từ ngữ Ấn Độ

15 Là từ gọi tắt của Lavapura – tên mà người ta gọi thay cho Dvaravati vào thế kỷ thứ IX, thứ X (theo Lê Văn

Quang 1995: Lịch sử vương quốc Thái Lan, TP.HCM, NXB TP.HCM – trang 19)

Trang 16

Tiếng Phạn (Sanskrit) được giới quý tộc dùng làm ngôn ngữ triều đình cũng như để diễn tả các danh từ chuyên môn và khoa học phương Tây trong khi tiếng Pali là ngôn ngữ của kinh Phật giáo Các nhà cai trị địa phương thời bấy giờ có lẽ đã dùng các tu sĩ Bà La Môn làm cố vấn trong việc tổ chức chính quyền Các sắc dân định

cư đầu tiên của xứ Thái Lan là người Môn và người Khmer đã chịu ảnh hưởng Ấn

Độ rất nhiều Các khai quật khảo cổ tại Lop Buri và Nakhon Pathom đã chứng minh miền định cư của người Môn từ thế kỷ thứ VII và nghệ thuật Phật giáo của thời đại Dvaravati (thế kỷ VI tới thế kỷ XI) là của sắc dân người Môn Người Khmer nổi tiếng vì khu vực đền đài Angkor Wat, cũng để lại nhiều ngôi đền thờ tại các tỉnh miền đông bắc Thái Lan

Ngôi chùa lớn Phra Pathom Chedi ở Nakon Pathom và nhiều di tích lịch sử khác tìm thấy các nơi minh chứng cho giả thuyết trên, cũng như để xác nhận rằng Phật giáo du nhập vào Thái Lan, qua nhiều hình thức, trong 4 thời kỳ sau đây:

1.3.1.1 Thời kỳ thứ nhất: Phật giáo nguyên thủy hay Phật giáo Nam tông (Theravada)

Phật giáo Theravada du nhập vào vùng đất thuộc Thái Lan ngày nay đầu tiên Bằng chứng là người ta đã đào thấy nhiều di tích khắc trên đá như bánh xe Pháp, (Wheel of Law), bảo tòa, những dấu chân của Phật và kinh Pali ở vùng Nakon Pathom

Trước kia, tại Ấn Độ, Phật tử chỉ biết sùng kính Phật qua những pháp khí đó Sau này, vì chịu ảnh hưởng của Hy Lạp, người ta mới tạo tượng Phật để thờ Như vậy, trước năm 500, vùng đất thuộc Thái Lan ngày nay đã có đạo Phật và Phật giáo lúc bấy giờ không khỏi chịu ảnh hưởng ít nhiều nền Phật giáo Theravada do Đại đế

A Dục truyền sang Mãi đến khi đa số dân chúng Ấn Độ đều biết thờ tượng Phật, thì lối thờ phụng này cũng được lan tràn qua các nước Phật giáo khác Bởi lẽ đó, về sau, người ta đã tìm thấy giữa những cảnh phế tích ở vùng Nakon Pathom và các thành phố lân cận nhiều tượng Phật; nhất là những pho tượng tạo tác vào thời kỳ mỹ thuật Gupta Căn cứ vào giai đoạn tượng Phật xuất hiện, người ta cũng có thể đoán rằng những nhà truyền giáo đạo Phật đến Thái Lan đầu tiên là ở vương quốc Magadha (Ma Kiệt Đà) tức Bihar thuộc Ấn Độ ngày nay, nơi gốc xuất phát tượng Phật theo kiểu mẫu Gupta.[67]

Trang 17

1.3.1.2 Thời kỳ thứ hai: Phật giáo Đại thừa hay Phật giáo Bắc Tông

Xuất phát từ Ấn Độ, Phật giáo Đại thừa cũng được lan rộng truyền vào các vùng lân cận như Sumatra, Java (Indonesia ngày nay) và Campuchia Chắc rằng Phật giáo Đại thừa từ Magadha đã du nhập Burma, Pegu (Hạ lưu Miến Điện), Dvaravati (Nakon Pathom, miền Nam Thái Lan bây giờ) và bán đảo Mã Lai Nhưng thời gian đó, Phật giáo Đại thừa không phát triển mấy, thành ra sau này, chẳng có di tích gì đáng kể của Đại thừa ở các nơi trên Đến năm 1300 Phật lịch (khoảng 757 Tây lịch) quốc gia Sri Vijaya, đóng kinh đô ở Sumatra trở nên hùng mạnh, nên bán đảo Mã Lai và một phần đất miền Nam Thái Lan ngày nay (từ vùng Surasthani trở xuống) đều thuộc quyền bảo hộ của vua Sri Vijaya

Là Phật tử Đại thừa, chính quyền Sri Vijaya đã khuyến khích và nâng đỡ rất nhiều trong việc phát triển nền Phật giáo Đại thừa Ngày nay, có nhiều bằng cớ chứng tỏ rằng Phật giáo Đại thừa một thời đã thịnh hành tại miền Nam Thái Lan Những chứng cớ đó người ta đã tìm ra tại đây, nhiều tháp thờ Phật và các pho tượng Phật, Bồ Tát giống như những Tháp, Tượng tìm thấy ở Java và Sumatra Những tháp Phật ở Chaiya và Nakon Sri Thammarath, miền Nam Thái Lan đều biểu hiện rõ tính chất của Đại thừa Phật giáo

Hiện ở Viện Bảo tàng quốc gia tại Bangkok đang còn giữ một tấm bia đá, khắc ghi rằng vào năm 1550 Phật lịch, có một vị vua thuộc dòng hoàng tộc Sri Vijaya, từ Nakon Sri Thammarath (Nam Thái) đến cai trị vùng Lopburi (Trung Thái) Nhà vua có một người con, về sau hoàng tử này lên làm vua xứ Campuchia

và đã bảo hộ Thái Lan trong một thời gian khá lâu Do đó, có nhiều sự hòa hợp, trao đổi về tôn giáo lẫn văn hóa giữa hai dân tộc Thái và Khmer suốt trong giai đoạn này

Căn cứ vào lịch sử ghi ở tấm bia trên, người ta biết thêm rằng vào thời đó, Phật giáo Theravada thịnh hành ở vùng Lopburi, còn Đại thừa Phật giáo đã có nền tảng tại Campuchia và chỉ được phát triển trên đất Thái Lan trong thời kỳ xứ này thuộc chủ quyền của Campuchia Ngay cả ảnh hưởng Bà la môn giáo hiện tồn tại ở Thái Lan cũng do Campuchia truyền sang trong thời gian đó Nhiều vị vua Campuchia đã từng là những tín đồ nhiệt thành của đạo Bà la môn Tóm lại, có thể nói, Thái Lan đã chịu ảnh hưởng Phật giáo Đại thừa trong giai đoạn vừa kể trên và

Trang 18

tiếng Phạn (Sanskrit), Thánh ngữ của Ấn Độ, đã thấm nhuần sâu xa dân tộc Thái cũng vào thời kỳ này.[67]

1.3.1.3 Thời kỳ thứ ba: Phật giáo Miến Điện

Khoảng năm 1044, (Phật lịch 1600), tại Miến Điện, vua Anurudh (Anarata) trở nên có thế lực, đóng đô ở Pagan (Trung Miến) Nhà vua bành trướng lãnh thổ qua Thái Lan, chiếm những vùng đất, ngày nay là Chiangmai, Lop Buri, Nakon Pathom Là một Phật tử Theravada, vua Anurudh đã tận tình giúp đỡ trong công việc phát triển nền Phật giáo Theravada mà Miến Điện cũng như Thái Lan đầu tiên

đã hấp thụ trực tiếp từ Ấn Độ, qua các vị truyền giáo của vua A Dục phái sang Nhưng sau một thời tao loạn, Phật giáo ở Ấn Độ bị suy đồi, và sự tiếp xúc giữa Miến và Ấn Độ cũng phai nhạt dần Lúc bấy giờ, tại Miến Điện Phật giáo Theravada đang thịnh hành, nhưng hình thức giáo lý đã biến đổi khác phần nào với Phật giáo nguyên thủy, để sau này tạo thành nền Phật giáo Miến Điện Suốt thời gian vua Anurudh bảo hộ Thái Lan, Phật giáo Miến Điện được phát triển mạnh tại

xứ này Bởi vậy ngày nay, những di tích tìm thấy ở miền Bắc Thái đều chịu ảnh hưởng rõ rệt Phật giáo Theravada, còn những vết tích khám phá được ở miền Nam Thái, lại mang nhiều màu sắc của Đại thừa

Theo Kuruna Kusalasaya, bắt đầu từ năm 156 trước công nguyên, khoảng năm 400 Phật lịch, một số người Thái, gốc ở vùng giữa Trung Hoa và Tây Tạng bị người Tàu xua đuổi, phải đi xuống phía Nam Qua nhiều thế kỷ chạy loạn, đoàn di dân này, chia làm hai nhóm chính: Một nhóm đến định cư trên các đồng bằng sông Salween miền Shan Nhóm người này là Thai Yai (Thái Lớn) Còn nhóm kia tiến xa xuống miền Nam và cuối cùng định cư ở vùng đất thuộc Thái Lan ngày nay Nhóm sau gọi là những Thai Noi (Thái Bé) Dân tộc Thái Lan hoặc Xiêm La ở Thái Lan bây giờ chính là con cháu của nhóm người Thái thứ hai này Và bởi lẽ họ phải di cư nhiều thế kỷ, như đã nói trên, nên không tránh khỏi có sự pha trộn nhiều dòng máu qua các cuộc hôn phối giữa những nhóm người Thái đó Cho nên ngày nay, chúng

ta nhận thấy có sự tương quan về ngôn ngữ giữa nhóm người Thái hiện sống rải rác trong các vùng rộng ở Assam, Yunnan, Shan, Lào và Thái Lan.[67]

Sau bao ngày đấu tranh gian khổ, khoảng vào thế kỷ XIII - XIV, người Thái mới có thể tạo lập và làm chủ được vùng Sukhothai, ở miền Bắc Thái Lan Chính

Trang 19

trong thời kỳ dân Thái chạy lần xuống phía Nam, họ đã tiếp xúc với nền Phật giáo đang được phát triển ở Miến Điện dưới triều vua Anurudh bấy giờ Về sau, nhóm người Thái lớn mạnh, bành trướng lãnh thổ và cuối cùng, họ kế tiếp làm chủ vùng đất của vua Anurudh, vì đến lúc này, quyền lực vua Anurudh đã suy yếu Thời gian tiếp đó, người Thái giao thiệp với Campuchia và họ lại kết duyên với Phật giáo Đại thừa Phần lớn ảnh hưởng của Bà la môn như văn hóa, nghi lễ, tôn giáo v.v… đều

do Campuchia truyền sang Thái Lan trong giai đoạn này, vì lúc bấy giờ, ở Campuchia đạo Bà la môn đang thịnh hành Ngay đến tiếng Thái Lan mà nguồn gốc phát sinh từ chữ Campuchia, cũng do vua RamKhamHaeng ở Sukhothai sáng tạo vào thời kỳ nói trên.[67]

1.3.1.4 Thời kỳ thứ tư: Phật giáo Tích Lan

Vào năm 1155, (Phật lịch 1696), Paràkramabahu lên làm vua ở Tích Lan (Sri Lanka) Với nhiệt tâm nâng đỡ đạo Phật, Ngài đã phát triển và truyền bá giáo pháp của Phật giáo khắp quốc gia Nhà vua đã đứng ra triệu tập một đại hội kết tập kinh điển lần thứ 7, đặt dưới quyền chủ tọa của Đại sư Maha Kassappa Thera Phật giáo Tích Lan nhờ thế càng thêm vững mạnh và ảnh hưởng lan khắp các vùng lân cận Nhiều vị Tăng từ các nơi như Burma, Pegu (Miến Điện ngày nay), Campuchia (Kambuja), Lànnà (Bắc Thái Lan) và Lànchàng (Lào) đổ dồn qua Tích Lan để được trực tiếp hấp thụ nền giáo lý thuần túy của Phật đà Một số Tỳ kheo Thái Lan cũng được gởi qua Tích Lan Lúc bấy giờ vào khoảng năm 117616, sau một thời gian tu học ở Tích Lan, chính các vị Tăng này đã trở về hoạt động Phật sự đầu tiên tại Nakon Sri Thammarath (Nam Thái Lan) Nhiều di tích Phật giáo như những Tháp Phật chịu ảnh hưởng của Tích Lan tìm thấy ở đó Về sau ảnh hưởng của các vị Sư trên lan dần đến miền Sukhothai, nơi vua Ramkamhaeng đang trị vì Nhà vua liền thỉnh họ về kinh đô và đã tích cực giúp đỡ họ trong việc phát triển Phật pháp Điều này được ghi chép ở một trong những tấm bia kỷ niệm của nhà vua, khoảng vào năm 127717

Từ khi Phật giáo Tích Lan được bành trướng ở Thái Lan thì Phật giáo Đại thừa, do Campuchia truyền sang dần dần bị mất ảnh hưởng Phong trào học tiếng

16

Nguyễn Thị Quế 2007: Phật giáo ở Thái Lan, NXB Khoa học xã hội – trang 24

17 Nguyễn Thị Quế 2007: sđd – trang 25

Trang 20

Pali, Thánh ngữ của Theravada hay Phật giáo Nam Tông lại được tiến triển Tuy nhiên, không có sự việc gì chống đối giữa hình thức Phật giáo hiện có lúc bấy giờ với nền Phật giáo do Tích Lan truyền qua sau này Trái lại, cả hai giáo phái hình như đã phối hợp, dung hòa nhau để thực hiện những lợi ích chung Điều này có thể nhận thấy rõ qua các cuộc lễ tại Thái Lan Thật vậy, đặc tính của những người Phật

tử là biết nhẫn nhịn nhau trong mọi trường hợp Chẳng hạn như hiện nay tại Thái Lan và Campuchia, những nghi lễ Bà la môn vẫn còn được duy trì bên cạnh nghi lễ Phật giáo, nhất là trong Hoàng cung

Lịch sử chỉ là một sự tái diễn cho nên thời gian sau này, khi nền Phật giáo ở Tích Lan có phần bị lu mờ, để nhớ ơn, Thái Lan đã gửi qua Tích Lan một danh sư là Đại Đức Upàli Thera Tại đây, Ngài đã hoạt động Phật sự, thành lập Phật giáo Thái Lan Tông và cuối cùng viên tịch ở Sri Lanka (Tích Lan) nơi mà Ngài đã mến không kém gì chính xứ sở của Ngài.[67]

1.3.2 Phật giáo ở Thái Lan qua các triều đại

1.3.2.1 Thời kỳ những vương quốc đầu tiên của người Môn

Thế kỷ thứ IV trên khu vực sông Mênam18 và sông Irawadi là địa bàn sinh sống chủ yếu của người Môn Có thể là do quá trình bành trướng của vương quốc Phù Nam, vùng hạ lưu sông Mênam cùng với một số quần cư của người Môn bị lệ thuộc vào vương quốc Phù Nam Thư tịch cổ Trung Quốc có nói tới một trong những nước phụ thuộc ấy là “Xích Thổ” một nước của người Môn ở hạ lưu sông Mênam.[Nguyễn Văn Nam 2007:57] Vào thế kỷ thứ VII , ở vùng này xuất hiện một nước nữa là Dvaravati, qua tấm bia khắc đã cho phép đoán được vương quốc này nằm ở hạ lưu sông Mênam Sau đó một bộ phận của hoàng tộc này chuyển lên phía bắc tham gia xây dựng một quốc gia khác đó là Haripunjaja Tất cả người Shan, người Thái, người Lào đều xuất thân từ một nhóm chủng tộc mẹ gần gũi với người

Trung Quốc ở phía Nam Trường Giang Sử sách Trung Quốc thường gọi là “người

18 Sông Mênam chảy từ Ấn Độ qua Miến Điện xuống Thái Lan (ở hạ lưu), còn sông Irawadi chỉ ở Miến Điện

Trang 21

man di19”.[Nguyễn Văn Nam 2007:109] Vào thời kỳ này đã diễn ra những cuộc tranh chấp và chiến tranh liên tiếp

Năm 1057: Vua Anarata của Vương triều Pagan ở Miến Điện từng yêu cầu triều đình Kim Địa20 cung cấp bộ Tam tạng kinh điển Phật giáo, nhưng đã bị vua Kim Địa khước từ cho nên đã đem quân sang đánh Thaton, cướp bộ Tam Tạng và đón một số sư tăng về Pagan Lúc bấy giờ Thaton dưới sự thống trị của người Môn cho nên Phật giáo Thượng Tọa bộ (Theravada) hết sức phát triển

Vào thế kỷ XI: Người Môn tập trung ở lưu vực sông Mêkông, thành lập triều đình Tharavadi Triều đình này dần dà củng cố địa vị của mình Theo "Cựu Đường Thư" [67] thì: Dưới triều đại Tharavadi, Phật giáo phát triển tại vùng này Triều đình Tharavadi đã tiếp thu được văn hóa tôn giáo và nghệ thuật của Ấn Độ Những

di vật khai quật cho thấy: nghệ thuật ở đây gần gũi với phong cách Gupta của Ấn

Độ Ngoài ra còn tìm thấy: pháp luân, tòa Phật, phục lộc đồ, tháp cổ, ấn song túc chung quanh khu vực chùa Phật Thống (Nakhon Pathom)

Những nhà khảo cổ học nhấn mạnh rằng: những cổ vật tìm thấy ở chùa Phật Thống cho thấy nghệ thuật tạo hình của triều đại Tharavadi tuy mô phỏng theo nghệ thuật Phật giáo tại Ấn Độ, tuy nhiên các nghệ nhân thời đó cũng đã sáng tạo ra phong cách mới mang tính bản địa.[67]

1.3.2.2 Thời kỳ của các quốc gia người Thái

Lịch sử Thái Lan được chia thành 4 thời kỳ qua các triều đại: Sukhothai, Ayutthaya, Thon Buri và Bangkok Thời kỳ đầu của triều đại Sukhothai, Phật giáo

đã được xem là quốc giáo của dân tộc Thái

- Phật giáo thời Sukhothai (1237 – 1456)

Năm 1237, lịch sử Thái Lan đánh dấu những biến chuyển quan trọng Trước thời kỳ đó, đất đai Thái Lan bị các thế lực người Khmer và người Môn thống trị Đến năm 1237, trong số các dân tộc Thái xuất hiện vị lãnh tụ là Khun Bang Klang

19

Người Trung Quốc thường gọi các dân tộc ngoài tộc người Hán là “man di mọi rợ” Người Trung Quốc cho rằng họ là tộc người tiến bộ văn minh, là đất nước ở giữa, nước chính các nước khác ở xung quanh đều là man di Ngoài ra, nhưng tộc người này còn được gọi chung với nhóm dân tộc ở phía Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam là “Bách Việt” là 100 giống dân Việt

20 Theo các sách sử xưa vùng Đông Nam Á lục địa bao gồm Miến Điện,Thái Lan, Malaysia, Lào, Campuchia

và Việt Nam ngày nay được gọi là vùng Kim Địa Với hai trung tâm chính đó là miền Nam Myanamar (vùng Thaton [Bột Tang] ngày nay) và miền Trung Thái Lan (đó là vùng Nakhon Pathom) Dựa theo tài liệu của

TS Nguyễn Thị Quế 2007: Phật giáo ở Thái Lan, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội – trang 16 Nên có thể

khẳng định rằng triều đình Kim Địa lúc đó là Thaton ở Nam Myanmar ngày nay

Trang 22

Thao lãnh đạo cuộc kháng chiến chống lại Khmer, giành chiến thắng, chiếm thành Sukhothai, lập chính quyền độc lập đầu tiên của dân tộc Thái lấy tên hiệu là Si Inthrathit Trong thời gian quân Mông Cổ xâm chiếm Trung Quốc, nhiều người Trung Quốc di cư xuống miền Nam, nhất là tại xứ Thái Phật giáo truyền bá tại vương triều này là Thượng Tọa bộ (Theravada) lẫn Đại Chúng bộ (Mahayana) Còn những vùng miền bắc Thái Lan thời đó chịu ảnh hưởng Phật giáo Pagan của Miến Điện

Những vùng miền nam của Vương triều này thì do Phật giáo du nhập từ Tích Lan sang Trước đó, người Thái theo nhiều tín ngưỡng khác nhau, và khi Phật giáo

du nhập thì vẫn hòa nhập tín ngưỡng bản địa

Vị Hoàng đế thứ ba của triều đại Sukhothai là Ramkamhaeng (1277-1317) là một vị anh quân, có tài quân sự lẫn chính trị Khi lên ngôi, ông mở mang bờ cõi, và Thái Lan trở thành quốc gia hùng mạnh vùng lưu vực sông Mêkông

Nhà vua này trong việc củng cố văn hóa nước nhà, cũng tích cực phát huy Phật giáo Văn hóa cũng như tôn giáo Ấn Độ và Tích Lan cũng được du nhập vào Thái Lan kể từ đó Nhiều nhà tu hành vùng Lục Khôn21 đã sang du học ở Tích Lan

để trở về nước tổ chức tăng đoàn Phật giáo Nhà vua cũng cho cung thỉnh các cao tăng từ Tích Lan đến kinh đô Sukhothai để thuyết giảng Nhà vua cho kiến tạo nhiều chùa chiền Ngôi chùa lớn nhất là Aranik ở phía tây thành Sukhothai là trung tâm Phật giáo quan trọng nhất trong thời kỳ này Tăng đoàn Phật giáo Tích Lan

21 Tức Nakon Sri Thammarath (Nakhon Xỉ-thăm-ma-rát) ở Nam Thái Lan (theo Nguyễn Thị Quế 2007: Phật giáo ở Thái Lan, Hà Nội, NXB Khoa học xã hội – trang 24)

Hình 1: Vua Ramkhamheang, một vị vua

vĩ đại của dân tộc Thái, người đã sáng tạo

ra bảng chữ cái Thái

Trang 23

truyền bá Tam Tạng kinh điển bằng tiếng Pali, đồng thời cũng tiến hành chú giải những kinh văn trọng yếu

Bia ký còn chép: Dưới triều Sukhothai, tín đồ trì giới nghiêm minh, cúng dường quy củ Nhà vua, triều đình, quan lại và dân chúng đều theo đạo Phật Việc trì giới, dịch kinh, tổ chức giới đàn trọng thể Như thế Phật giáo Theravada phát triển mạnh mẽ dưới triều Sukhothai, trong khi ảnh hưởng Phật giáo Đại Thừa của Khmer và người Môn thì suy thoái dần

Sau khi vua Ramkamhaeng băng hà, Thái Lan trải qua một giai đoạn biến động, nhưng khi vua Li Thay lên ngôi (1354 -1376) thì trong nước trở lại an bình, thịnh vượng Nhà vua không những là một nhà chính trị tài ba, mà còn là một học giả vĩ đại Nhà vua tinh thông Phật học, triết học, địa lý, thiên văn Ông đã biên

soạn bộ "Ba Thế giới" (Tray Phum), dẫn chứng nhiều kinh luận, sách chú giải và thư tịch Phật giáo, trình bày nhân sinh quan và thế giới quan Phật giáo Bộ "Ba Thế giới" đã trở thành tác phẩm triết học và văn học quan trọng cổ điển bằng tiếng Thái

Năm 1362, nhà vua xuất gia ở chùa Ana Bavannarama trong một thời gian hạn định Đây là vị vua đầu tiên trong lịch sử Thái Lan xuất gia quy Phật Điều này làm khuôn mẫu cho nhân dân Thái, tác động đến các thế hệ con trai Thái sau này, trong đời ít nhất phải một giai đoạn xuất gia, tiếp thu rèn luyện đạo đức Phật giáo

Khi vua Li Thay trị vì, nhà vua đã cho kiến tạo nhiều pho tượng Phật lớn rất nổi tiếng Đáng kể nhất là tượng Phật bằng đồng Thanh La Rạc (Buddhajinanarai) ở chùa Đại Xá Lợi (Wat Phrarinat Namabadhatu) và pho tượng Phật bằng đồng khác tại chùa Thiện Kiến (Wat Sadassana) tại Bangkok Cả hai còn được bảo lưu cho đến ngày nay dù trải qua bao nhiêu cuộc biến động

Nghệ thuật tạc tượng Phật trong thời đại Sukhothay chịu ảnh hưởng phong cách tạo hình của Tharavadi, Khmer và người Môn trước đây Trong giai đoạn này, người Thái đã biết dùng chữ viết khá giản tiện, việc truyền bá kinh sách cũng được phổ cập hơn Để truyền bá Phật giáo, nhà vua đã cung thỉnh tăng đoàn từ Tích Lan sang để hoằng dương Phật Pháp; số người quy y ngày càng đông Tổ chức Phật giáo Thái Lan cũng được thành lập và có giáo quy vững chắc

Sách "Tăng Già Sử" của Thái Lan có chép: "Tăng tước của Thái Lan thời vua Li Thay có tăng vương, tăng già tôn trưởng, đại trưởng lão, thượng tọa" Tăng

Trang 24

vương là tăng chức cao nhất trong cả nước, Tăng già là tăng chức từng vùng, Đại trưởng lão và thượng tọa là những vị sư đạo cao đức trọng, có tuổi lạp cao, theo giới luật của nhà vua quy định

Nhưng đến khi vua Li Thay băng hà, thế lực vương triều cũng suy yếu Chư hầu khắp nơi nổi dậy Cuối cùng bị Ayutthaya thôn tính (1436) [67]

- Phật giáo thời kỳ Chiang Mai (1292 – 1595):

Vua Kue Na lên ngôi tại Chiang Mai mở đầu cho một giai đoạn lịch sử mới Nhà vua đã cung thỉnh vị luận sư nổi tiếng Tích Lan là Ngài Udambamaha đến Chiang Mai để tổ chức tăng đoàn

Nhà vua cũng sai sứ đến kinh thành Sukhothay để thỉnh sư tăng người Thái

là Sumana đến Chiang Mai để hiệp trợ cho tăng đoàn này Triều đình cho xây cất chùa Hoa Viên (Wat Suon Doọc) trở thành trung tâm truyền bá giáo lý tại kinh thành Chiang Mai Ngôi chùa nay vẫn còn là thắng cảnh bậc nhất tại Chiang Mai

Để phát huy sâu rộng Thượng Tọa bộ, nhiều nhà sư Thái Lan được phép sang du học giáo lý tại Tích Lan Hệ thống tổ chức và truyền giáo được củng cố thêm

Năm 1441, sau khi Tam Giới Vương (Tilokaraja) lên ngôi, Ngài cũng là một tín đồ Phật giáo thuần thành Đạo Phật có cơ hội phát triển thêm Giới trí thức tu học ngày càng đông Văn hóa, nghệ thuật Phật giáo nở rộ hơn bao giờ hết Kiến trúc, điêu khắc, hội họa Phật giáo thời này lưu lại nhiều công trình nổi tiếng Năm

1455, chùa Đại Bồ Đề (Maha Badrarama) được xây dựng, mô phỏng theo kiểu thức kiến trúc chùa tháp Ấn Độ

Vào mùa thu năm 1477, một đại hội kết tập kinh điển được tổ chức tại chùa Đại Bồ Đề Khoảng 100 vị cao tăng trong cả nước được mời tham dự kết tập, dưới quyền chủ toạ của Trưởng Lão Pháp Thụ (Dram Madinna) Đây là lần kết tập Tam Tạng Kinh Điển lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Thái Lan Từ đó, Chiang Mai

đã trở thành trung tâm nghiên cứu Phật Pháp trong toàn vùng Đông Nam Á

Nhiều cao tăng học giả chuyên tâm dịch thuật và trước tác kinh điển bằng tiếng Pali và tiếng Thái Lan Ngài Tri Xứng biên soạn bộ "A Tỳ Đạt Ma Tổ ký"; ngài Diệu Cát Tường (Sirimangala) biên soạn "Cát Tường Đăng Luận"

Trang 25

(Mangalatthadipani); Ngài Bảo Trí biên soạn "Thăng Giả Thời Mạn Lục" (Gisakalalimi) [67]

- Phật giáo Vương triều Ayutthaya (1350-1766)

Năm 1350, Rama Thiboldi đệ I chính thức lên ngôi Về mặt nội trị, nhà vua Thiboldi đã xây dựng một nền chính trị và tư pháp hoàn chỉnh, ban hành nhiều đạo luật mới để đem lại thái bình, thịnh trị đất nước

Phật giáo tại Ayutthaya trong buổi đầu cũng chỉ xây dựng rất ít Theo sách sử

và di tích khảo cổ, trong giai đoạn này, ảnh hưởng văn hóa ở đây do ba thế lực: thế lực Tharavadi, thế lực Srijaya và thế lực Hariphunsay Thế lực Tharavadi chịu ảnh hưởng Phật giáo Thượng Tọa Bộ; thế lực Srijaya chịu ảnh hưởng Traowa của người Malaysia tin theo Phật giáo Đại Thừa22; thế lực Hariphunsay theo Phật giáo Thượng Tọa bộ nhưng còn chịu ảnh hưởng Bà La Môn giáo

Vào thời Boromaraja triều đình giao hảo với Trung Quốc, hàng năm sang triều cống Cũng thời gian đó, nhiều nhà sư Trung Quốc sang hoằng pháp, lập chùa

và tổ chức Đại giới đàn Liên hệ này được kéo dài suốt triều đại Ayutthaya

Lịch sử ghi chép về phái đoàn của Trịnh Hòa tuần du phương Nam, đến tận Ayuthaya Tập Du Ký của Trịnh Hòa biên chép kỹ về văn hóa Thái Lan thời đó Tiếp theo là Mã Hoan và Phí Tín cũng du hành nhiều năm sang vùng này.[67]

Mã Hoan viết tập "Danh Nhai Thắng Lãm" và Phí Tín viết tập "Tinh xà thắng lãm", ghi nhận nhiều chùa chiền, bảo tháp, đồ tượng tại kinh đô nước này Năm 1393, Campuchia đem quân lấn chiếm biên giới Thái vào những vùng Chantaburi và Chanburi Vua Thái chống trả mãnh liệt, rồi thẳng đà đem đại quân chinh phục Campuchia, công phá hoàn toàn kinh đô Angkor Tuy thất trận nhưng Campuchia đã gây ảnh hưởng lớn đến văn hóa Thái Lan, kể cả Phật giáo [67]

Vào thời đại Tray Lokanat có nhiều cải cách về chính trị, văn hóa, giáo dục Nhà vua vốn là tín đồ Phật giáo thuần thành, cho xây nhiều chùa tháp, trong đó ngôi chùa lớn nhất là quốc tự Tối Thắng Biên (Virisarvajna)

22 Nguyễn Thị Quế 2007: Phật giáo ở Thái Lan, Hà Nội, NXB Khoa học xã hội, trang 48

Trang 26

Cuộc tranh giành ảnh hưởng với các thế lực ở Chiang Mai đã khiến nhà vua dời đô về Pissanulok năm 1463, lập trung tâm văn hóa khác Sau cuộc chiến với Chiang Mai, vua Tray Lokanat xuất gia tu hành trong vòng 8 tháng Việc xuất gia của nhà vua đã tạo hòa khí với nhiều vùng Miến Điện và Lào lập bang giao và trao đổi văn hóa Phật giáo

Nhiều cao tăng của hai nước này cũng sang Pissanulok thuyết giảng và tặng nhiều kinh sách Tăng đoàn Tích Lan cũng sang thủ đô này trong giao lưu văn hóa Phật giáo Dân chúng theo đạo Phật ngày càng đông

Tình hình bang giao tốt đẹp này cũng được củng cố vào thời kỳ trị vì của vua Rama Thibodi II (1491-1529) Nhiều ngôi chùa mới được kiến tạo, những ngôi chùa

cũ được trùng tu, mở rộng thêm Quan trọng nhất là phát triển chùa Tối Thắng Biến Tri Sử liệu ghi chép về việc nhà vua cho đúc tượng Phật Tối Thắng Biến Tri (Buddha Srisarvajna) cao 60 mét, dùng 286 cân vàng để bao trát thân tượng Phật

Cho đến đời vua Song Tham lên cầm quyền (1610-1828), nước nhà được hưng thịnh trở lại; nhà vua đã một thời kỳ xuất gia, pháp danh là Tịnh Pháp (Vinala Dranma) cho nên khi nắm quyền đã ra sức củng cố hệ thống tổ chức Phật giáo về tăng thống lẫn Hóa đạo rất quy củ [67]

- Vương triều Thon Buri (1767-1782)

Vương triều Ayutthaya bị quân Myanmar kết thúc vào năm 1767 bằng một cuộc chiến tranh xâm lược đẫm máu Một số phần đất của vương quốc Thái Lan bị Myanmar chiếm đóng, số còn lại không có vua quan cai trị, dân chúng ly tán phiêu bạt vào rừng rú… vậy mà rất nhanh chóng và thần kỳ, chỉ trong vài tháng trong năm

1767, đất nước Thái Lan lập tức giành được độc lập và sau hơn 10 năm vừa trị nội loạn, vừa dẹp ngoại ban, toàn bộ cương vực thời Ayutthaya của Thái Lan đã được khôi phục trở lại với một sức sống mới của vương triều, của kinh tế, của văn hóa như mẫu hình Ayutthaya trước đây Người có công lớn là Chao Phya Taksin Ông lên ngôi năm 1767, lấy hiệu là Boromaratjia IV Triều đại của ông xây kinh thành tại Thon Buri thay vì Ayutthaya đã bị tàn phá nặng nề

Đóng góp của vua Boromaratjia IV và vương triều của ông cho Phật giáo cũng không kém phần quan trọng so với đóng góp của ông cho lịch sử Thái Lan

Trang 27

Sau khi đánh chiếm được Thon Buri và giành lại được kinh thành Ayutthaya, ông lên ngôi ngay sau đó vào tháng 10 – 1767

Ngay sau khi lên ngôi ông đã cho tu bổ lại Wat A-run (chùa Bình Minh) tại Thon Buri, mở rộng quy mô của ngôi chùa để trở thành chùa của hoàng gia Vì vậy, Wat A-run không có sư trụ trì, ông còn ra lệnh gọi tất cả sư tăng ở Ayutthaya bị lưu lạc về ở lại Wat A-run và chu cấp đồ ăn, vật dụng để tu học Taksin còn mời các vị cao tăng trong khắp cả nước về Thon Buri để phong tước vị và phẩm vật cho họ, giúp họ hoằng pháp độ sanh Mặt khác ông lệnh cho tăng già kiểm tra và loại bỏ khỏi tăng đoàn những người lợi dụng tình hình chiến tranh có mục đích và tu hành không chân chính Nhờ đó tăng đoàn Phật giáo Thon Buri được trong sạch và vững mạnh, có kỷ cương phép tắc trở lại như thời

Ayutthaya

Về mặt giáo học, Taksin cho sư tăng đi sưu

tầm bộ tam tạng đã bị thất lạc trong thời chiến

tranh đem về Thon Buri trùng tu, in khắc lại Phần

nào, bộ nào còn thiếu hoặc không rõ thì cho người

tới các nước láng giềng như Campuchia sao chép

mang về bổ sung cho hoàn chỉnh

Một điều đáng lưu ý nữa là trong khi chinh

phục nước Lào, dẹp yên biên giới phía Bắc, Taksin

đã thu được tượng Phật ngọc đưa về Thon Buri thờ

phụng

Như vậy, chỉ có 15 năm, một thời gian lịch sử rất ngắn nhưng Taksin đã làm được những điều mà không phải bất kỳ một vị vua vĩ đại nào của Thái Lan đều làm được Đối với lịch sử dân tộc Thái Lan, ông là người chiến thắng kẻ thù xâm lược, giành lại quyền độc lập cho đất nước, dẹp thù trong giặc ngoài, khôi phục lại cương vực nguyên vẹn của Ayutthaya rồi phát triển đất nước về mọi mặt thành một quốc gia lớn mạnh Đối với Phật giáo ông chỉnh đốn, trang nghiêm giáo đoàn, phát huy giáo học, tu bổ chùa chiền, in khắc Tam tạng, phục chức cho chư tăng và giành lại tài sản lâu đời của Phật giáo Thái Lan là pho tượng Phật ngọc… Tất cả những công lao ấy thật xứng đáng khi Taksin được dân chúng Thái Lan tôn kính gọi ông là vị

Hình 2: vua Taksin vung gươm

cưỡi ngựa được thờ tại Wat Arun

Trang 28

anh hùng dân tộc Họ đã tạc tượng ông vung gươm cưỡi ngựa thờ tại Wat A-run suốt từ đó cho đến ngày nay Một nhà nghiên cứu Phật giáo đã đánh giá rằng:

“Vương triều do Trịnh Vương (Taksin) là vương triều hùng mạnh nhất trong lịch sử Thái Lan”.[Nguyễn Thị Quế 2007:62-66]

- Triều đại Bangkok (từ 1782 đến ngày nay - Thời kỳ xâm nhập của Tư bản Phương Tây cho đến ngày nay)

Người khai sáng ra triều đại Bangkok là vua Rama I Ông tên thật là Chao Phya Chkri, vốn là bộ tướng của Trịnh Vương đã bình định những quân phiến loạn trong triều, dời kinh đô từ Thon Buri đến Khi Rama I còn trẻ đã từng xuất gia, cho nên việc đầu tiên sau khi xây dựng kinh thành được hoàn chỉnh đã tổ chức lại Phật giáo trong nước, xây chùa Phật Ngọc tại kinh đô và chùa chiền khác trong cả nước

Nhà vua cũng cho khôi phục lại chức Tăng Vương cho những người đã bị Trịnh Vương cách chức trước đây để quản lý tăng đoàn trong cả nước Những chùa chiền có những pho tượng Phật bị phá hủy trước đây cũng được kiến tạo và điêu khắc lại Năm 1788, Hội nghị Trưởng Lão Phật giáo được triệu tập tại thủ đô Bangkok để chỉnh lý lại Tam tạng Kinh Điển, lên đến 354 bộ kinh chính Tất cả đều được ấn hành để đưa về các trung tâm Phật giáo nghiên cứu giảng dạy

Vua Rama I đã sử dụng quyền lực của quốc vương, ra sức cải cách và củng

cố lại tăng đoàn Năm 1805, nhà vua ban bố sắc lệnh nhấn mạnh đến vai trò của quốc vương là giữ gìn Tăng đoàn nghiêm minh, trong sạch Những người tu hành phạm giới sẽ bị đưa ra Hội Đồng Giám Tu nghị tội và có thể bị đuổi khỏi Tăng Đoàn để hoàn tục

Trong thời kỳ này, có những trước tác Phật học rất quan trọng: Bộ "Tam Giới Luận Khảo Thích" của Ngài Phya Phamma Priya; bộ "Tam Giới Luận" của vua Li Thai (trước đây chưa in ấn); bộ "Tam Tạng Kết Tập Sử" của vị Tăng Vương Tunglaconnarac.[67]

Vị vua kế ngôi là Rama II Nhà vua tiếp tục chương trình của phụ vương, đã

ra lệnh cho xây dựng nhiều chùa chiền ở các địa phương chưa hoàn tất; cho phiên dịch những phần còn lại của Tam Tạng Kinh Điển, giúp việc phổ biến Giáo pháp trong cả nước Kiến trúc, điêu khắc, hội họa Phật giáo Thái Lan cũng đều được phát triển ở mức cao nhất

Trang 29

Khi Rama III lên nối ngôi thì vương tử Mongkut, em của ông, nổi tiếng là người tinh thông về Tam Tạng Phật giáo Mongkut rất muốn chấn hưng Phật giáo

và đưa giới luật lên vị trí uy nghiêm Cho nên ông đã sáng lập ra tông phái Pháp tông của Phật giáo Theravada Thái Lan vào năm 1829 Sau này ông lên làm vua Rama IV Dưới thời của Rama III ông đã chỉ dụ cho các cao tăng và học giả uyên bác dịch Tam Tạng từ Pali sang tiếng Thái Ông cho xây và sửa chùa để lưu giữ kinh sách Phật giáo Ông còn làm sứ giả đoàn kết giữa Phật giáo và hai nước Sri Lanca – Thái Lan Những việc làm của ông đã làm cho Phật giáo được tuyên dương sâu rộng trong quần chúng nhân dân

Vào thời kỳ trị vì của Mongkut vua Rama đệ IV, chính người em trai của nhà vua Rama III, Maha Mongkut, pháp danh Kim Cương Trí (Vajira Nara) nổi tiếng tinh thông Tam Tạng, hiểu biết tiếng Phạn, tiếng Pali, tiếng Anh, đề ra chương trình chấn hưng Phật giáo, giới luật nghiêm minh để củng cố đạo hạnh của Tăng đoàn cả nước

Bên cạnh đó, tư tưởng hướng ngoại, canh tân đất nước đã được ông khởi xướng và thực hiện bước đầu tiên trong thời gian trị vì đất nước của mình Ông hiểu rằng, canh tân đất nước và phát triển Thái Lan thành một nước giàu có, hiện đại ngang hàng với các nước phương Tây sẽ là sự nghiệp của các vị vua triều đại Bangkok tiếp theo ông Chính vì thế ông đã chú ý đầu tư cho việc đào tạo các hoàng

tử từ khi nhỏ tuổi, hướng vào sự nghiệp này Nhờ đó sau khi ông qua đời, Rama V (Chularlongkor) lên nối ngôi, tuy mới 18 tuổi nhưng đã tỏ ra một vị vua rất cứng cáp và anh minh trong trị quốc Rama V mở đầu sự nghiệp vĩ đại mà vua cha phó thác bằng chuyến công du sang các nước láng giềng gần gủi nhất như Malaysia, Myanmar, Indonesia, … trước khi đi đến các nước phương Tây, những nơi mà ông

hy vọng học hỏi được nhiều điều

Sau đó ông được biết đến là vị vua canh tân đất nước thành công, đưa đất nước phát triển cùng thế giới Phật giáo thời kỳ của ông cũng phát triển rực rỡ, giao cho em mình tổ chức biên soạn bộ Tam tạng bằng tiếng Pali, lập học viện Đại Xá Lợi tự ở Bangkok năm 1890, đây là trung tâm nghiên cứu tiếng Pali bậc cao cấp, sau này đổi thành đại học Phật giáo vào năm 1893 Ông khuyến khích các Tăng

Trang 30

vương soạn giáo trình Phật giáo bằng tiếng Thái Lan để cho việc giảng dạy tiếp thu Phật giáo ở các trường Phật giáo và dân chúng trên toàn quốc dễ dàng hơn

Thái Lan từ ngày lập quốc đến nay, trải qua hơn 700 năm, qua từng giai đoạn lịch sử, Phật giáo được coi trọng Ngay trong pháp luật Thái Lan, Phật giáo cũng được xiển dương Chẳng hạn như trong những Hiến Pháp 1946, Hiến Pháp 1949 và Hiến pháp hiện hành (11-10-1997) nhấn mạnh: "Quốc vương cần phải kính tin Phật giáo, hơn nữa, còn là người ủng hộ Phật giáo" (Điều VII - HP 1997) hay là "Nhà vua tín ngưỡng Phật giáo và là người bảo vệ tôn giáo"(Điều IX - HP 1997).[67]

Chính phủ Thái Lan ngoài việc tôn trọng quyền phát huy Phật giáo, lại còn lập ra Vụ Tôn Giáo để quản lý công việc của các tôn giáo Tín đồ Phật giáo Thái Lan chiếm 93,4% (1997) dân số cả nước Hàng năm, chính phủ giành ra ngân khoản cần thiết cho các tổ chức Phật giáo: tu bổ, xây dựng chùa chiền, Viện Phật Học, Viện Phật Học Pali, tăng đoàn Phật giáo, các trường Đại Học Phật giáo.[67]

Ngày nay, Quốc vương Bhumibol là nhà vua nắm quyền lâu nhất trên thế giới Quốc vương Bhumibol Adulayadej, còn được gọi là Vua Rama IX, sinh ngày 5-12-1927, tại Cambridge, Massachusetts (Hoa Kỳ) khi phụ thân của ông đang theo học tại Hoa Kỳ Quốc vương là con trai út của Hoàng tử xứ Songkla Mahidol Adulayadej và phu nhân Mom Sangwal Tên thời thơ ấu của Quốc vương là Pra Worawongse Ther Phra Ong Chao Bhumibol Adulyadej Khi đăng quang, Quốc vương được mang danh hiệu truyền thống là Phrabat Somdej Phra Paramindra Maha Bhumibol Adulyadej Mahitaladhibet Ramadhibodi Chakrinarubodindara Sayamindaradhiraj Boromanatbophit

Trang 31

Lên ngôi từ ngày 9-6-1946, chính thức làm lễ đăng quang ngày 5-5-1950, cho đến nay, Quốc vương Bhumibol Adulayadej là vị vua trị vì trên ngai vàng lâu nhất trong lịch sử Thái Lan Mặc dù Thái Lan theo thể chế quân chủ đại nghị, Quốc vương Bhumibol Adulayadej được coi là vị vua có ảnh hưởng lớn trong chính trường và đời sống nhân dân Thái Lan Được người dân Thái Lan hết sức yêu kính, đối với nhiều người, hình ảnh của Quốc vương được sùng bái như thần linh Quốc vương cũng được xem là tâm điểm của sự đoàn kết dân tộc

Quốc vương Bhumibol Adulyadej tham gia tích cực vào đời sống kinh tế và

xã hội của đất nước, chủ yếu là qua một loạt các đề án phát triển kinh tế mà ông đề xuất, tổ chức và tài trợ bằng ngân quỹ của Hoàng gia Có hơn 3.000 đề án đã được triển khai trên toàn quốc, nhắm vào mục tiêu cải thiện điều kiện sống của dân nghèo

ở vùng nông thôn Thái Lan Đề án phát triển của Hoàng gia nhắm vào tám lĩnh vực: nông nghiệp, môi trường, y tế, hướng nghiệp, tài nguyên nước, truyền thông, phúc lợi xã hội và những lĩnh vực khác

Vì những đóng góp trên, vào tháng 5 năm 2006, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc, Kofi Annan, trao tặng Huy chương thành quả trọn đời vì phát triển nhân loại đầu tiên của Liên Hiệp Quốc cho Quốc vương

Gia đình:

Năm 1949 tại Lausanne (Thụy Sĩ), Quốc vương làm lễ đính hôn với tiểu thư Mom Rajawongse Sirikit Kitiakara, con gái của Đại sứ Thái Lan tại Pháp Đám cưới được tổ chức một năm sau đó, vào ngày 28/4/195023

Năm nay, Quốc vương Bhumibol Adulyadej đã 81 tuổi, đứng trước tình hình biến động chính trị ở Thái Lan cộng với sức khỏe ngày càng yếu, mọi người dân Thái đang lo lắng cho đất nước khi mà Quốc vương không còn Bởi ông là người được dân chúng yêu chuộng nhất và có sức ảnh hưởng trong chính phủ, vì thế ông

23

Sở ngoại vụ thành phố HCM 2006: Tiểu sử Quốc vương Thái Lan Bhumibol Adulayadej,

http://www.mofahcm.gov.vn/vi/tintuc_sk/tulieu/nr051205111332/nr060803163020/ns061201150359

Trang 32

là người duy nhất có thể đoàn kết người dân và giúp Thái Lan vượt qua cuộc khủng hoảng chính trị hiện nay

Trang 33

Chương 2:

VĂN HÓA VẬT CHẤT PHẬT GIÁO

TRONG ĐỜI SỐNG CƯ DÂN THÁI LAN

Nghệ thuật Thái Lan, có những nét riêng biệt, đặc sắc và phong phú Nhưng nhìn chung những nét kiến trúc, điêu khắc, hội họa của Thái có những nét uyển

chuyển, mềm mại và rực rỡ Theo nhận xét của tác giả “Nghệ thuật Thái Lan mềm mại uyển chuyển như những điệu múa của người Thái vậy”

Chùa Thái, kể cả những ngôi chùa vùng sâu vùng xa Chúng vàng chóe một màu, kiến trúc quá cầu kỳ, đường nét quá chỉnh chu, chạm trổ quá tinh xảo, ốp những miếng kính màu, kính phản quang sáng lóa, ánh điện lung linh, khiến chúng trở nên lộng lẫy, rực rỡ, hào nhoáng, sang trọng, giống như một cô thiếu nữ dù đã đẹp sẵn nhưng vẫn quá lạm dụng phấn son Đặc biệt là những ngôi chùa lớn, niềm

tự hào của người Thái và được ghi trong chương trình của hầu hết các tour du lịch Đứng trước chúng, du khách thường sững sờ trước sự vĩ đại, hoành tráng và sặc sỡ, khâm phục bàn tay khéo léo, tỉ mỉ, kiên nhẫn của những người thợ thủ công rất mực tài hoa24

2.1 Ngôi chùa, bảo tháp và nhà ở của người Thái

Thái Lan – “Nước Phật áo vàng” với 95% (năm 2007) dân số theo đạo

Phật[63] Đó cũng là lý do vì sao Thái Lan là quốc gia có đến 2 vạn 7 ngàn ngôi chùa Là một miền đất Phật, nên những ngôi chùa ở đây mang kiểu kiến trúc độc đáo và có phần đặc trưng của Thái Lan: những ngôi chùa dát vàng, những ngọn tháp hình xoắn ốc, nghệ thuật chạm trỗ tinh vi,… tất cả tạo nên vẻ rực rỡ đến sững sờ, thể hiện được phần nào phong cách kiến trúc của người Thái nói chung và kiến trúc chùa Thái nói riêng

2.1.1 Ngôi chùa

Để hiểu rõ các yếu tố tạo nên quần thể ngôi chùa ở Thái Lan, trước tiên cần biết tới một số các yếu tố cấu tạo nên tổng thể ngôi chùa, tổng thể này có tên gọi là

24 Tuấn Hà 2008: Nếu không có đạo Phật, Thái Lan không còn là Thái Lan nữa, vietnamnet

Trang 34

wat (mà ta thường quen gọi là vat), wat (วัด) là đơn vị mang tính hành chính của tôn giáo Phật giáo Từ “wat” bao gồm hai ý nghĩa Tu Viện (monastery) và chùa tháp (temple), đó là một khuôn viên có tường rào bao quanh và có các cổng ra vào, trong khuôn viên đó thường bao gồm các thể loại công trình:

- Bot (วัด): cũng được gọi là Ubosot tức Điện Phật, (tương tự theo Phật giáo

Bắc Tông được gọi là Đại Hùng Bảo Điện) là một ngôi nhà lớn nhất - một đại sảnh hình chữ nhật có mái gốc chỉ thẳng lên cao - là nơi có chức năng hành lễ và hội họp các sư sãi, và là công trình chính có đặt tượng Phật với quy mô chủ đạo trong tổng thể công trình

Những ngôi chùa của Thái Lan có lối kiến trúc rất thanh tao, với những đường nét trang trí rất tinh vi Đặc biệt là bộ mái của chùa Thái rất đồng bộ, rất đều đặn, rất đẹp mắt thật sự gây ấn tượng đầu tiên khi người ta xét đến cấu trúc của ngôi chùa Thái Cấu trúc bộ mái25 của chùa Thái không chỉ đơn thuần mang chức năng che mưa nắng mà nó phát triển thành một hình tượng nghệ thuật giàu tính trang trí Trong điều kiện thiên nhiên nhiệt đới ẩm, kiến trúc ở các nước Đông Nam Á nói chung đều có sự quan tâm đặc biệt đến bộ mái dựa trên một bộ khung vững chắc bằng gỗ tốt và lớp che phủ bằng vật liệu đất nung (ngói) giúp công trình chống đỡ tốt với mưa nắng vừa mang lại nhiệt độ mát mẻ cho khu vực nhiệt đới gió mùa Hình ảnh mái cong là hình ảnh thường thấy trong hầu hết các kiến trúc chùa tháp ở Phật giáo ở các nước theo truyền thống Bắc tông hoặc là Nam Tông Tuy nhiên, ở Thái Lan cách cấu tạo mái đã có một hình ảnh vô cùng đặc sắc về cấu tạo mái nhiều tầng, ngói men nhiều màu, và trang trí gờ mái rất phong phú

Các yếu tố trang trí được cấu tạo bằng sự mô phỏng các hình ảnh của thực vật (hoa, lá…) hoặc động vật (chim thần Garuda, rắn thần Naga…) và được phát triển hết sức phong phú Trên cơ sở mặt bằng nhà hình chữ nhật, các bộ mái được cấu trúc dốc hai phía bằng nhiều lớp mái, khi có sự nhấn mạnh ở khối giữa hoặc mặt bằng hình chữ thập thì chuyển thành dạng bốn mái, với những chóp nhọn ở đầu hồi hoặc những chóp ở chỗ giao nhau của các đỉnh mái Ở những vị trí bờ mái, góc

Trang 35

mái đều được khai thác nhằm phát triền tối đa những hình ảnh trang trí để tạo nên cho ngôi chùa có hình ảnh vừa trang trọng vừa phong phú Người Thái Lan đã dễ dàng tiếp nhận các yếu tố nghệ thuật của các nền văn hóa xung quanh để làm phong phú nền văn hóa của mình mà hình ảnh các ngôi chùa là một nét tiêu biểu

Lối kiến trúc chùa Thái một phần đặc biệt mang ý nghĩa yên tĩnh và tôn kính, với sự sắp xếp hài hòa một khối nằm ngang đơn giản nhưng trang trí lộng lẫy cực

kỳ theo hình thể thẳng đứng, làm cho ngôi chùa trở nên thiêng liêng, và cuốn hút

Một kiến trúc khác có chức năng giống như Bot là Viharn (อรฟพื – Vihản)

cũng là nơi tiến hành các nghi lễ thờ phụng hàng ngày như: đọc kinh, nghe giảng

đạo … cũng là Phật đường, ở Bangkok thì Bot được dùng phổ biến, còn ở Chiangmai thì Viharn được dùng phổ biến hơn

Khuôn viên wat còn có một vài Chedi (แกร – Stupa): là những ngọn tháp hình

xoắn ốc, tròn, đầu nhọn, với đế rộng, thường là hình chóp và hình chuông, trên chóp

có nhiều trang trí, tháp thường là nơi để cất giữ những xá lợi và di vật của Phật và các thánh đệ tử (nhân vật quan trọng trong Phật giáo), các tháp này thường được dát

vàng, kiến trúc tháp ở đây cũng là một nét đặc trưng trong kiến trúc wat ở Thái Lan

Ngoài ra, nói đến wat Thái Lan không thể không nhắc đến tàng kinh các,

nằm trong một cái nền cao vượt so với mặt đất, đây là nơi dùng để cất giữ những

kinh sách Được gọi là Mondop, hay là Ho trai (là thư viện và là nhà đọc sách) là

ngôi nhà hình vuông có mái chóp nhọn, thường có trang trí mảnh gốm

Tiếp theo trong tổng thể wat là:

Kuti: là nhà ở của sư sãi

Sala (xả la): là nhà có mái nhưng không có vách, thường làm nơi sinh hoạt

chung của sư sãi và cũng được làm chỗ nghỉ cho khách vãng lai

Ho Raklang: tháp gác chuông thường bằng gỗ, có thang leo lên đánh chuông

để giữ nhịp công việc hàng ngày

Prang: tháp nhỏ mang tính chất trang trí, thường được cấu tạo như hình bắp

ngô

Kiến trúc wat Thái cũng khá giống kiểu kiến trúc của Campuchia và Miến

Điện, tuy nhiên chất liệu xây dựng là gạch nung và vữa trộn Ngày nay, thuận theo

sự phát triển của thời đại, và để tạo sự phong phú, khác biệt, Thái Lan còn có những

Trang 36

35

ngôi chùa khác lạ thu hút sự chú ý của con người do nó được làm bằng vật liệu vỏ chai phế liệu để thể hiện sự thân thiện với môi trường, và bằng gang với mục đích không gỉ sét

2.1.2 Bảo tháp

Tháp Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, thời vua Asoka, dùng để thờ xá lợi của Phật, hoặc là những nơi thánh tích của Phật để cất giữ những di vật của Phật Tháp thời đó là sự cách điệu của các biểu tượng pháp khí trong Phật giáo như: hình vuông ba tầng phía dưới tượng trưng cho ba loại y phục của tu sĩ Phật giáo, hình bầu ở giữa tượng trưng cho bình bát của vị tu sĩ Phật giáo, còn phần chóp nhọn phía trên tượng trưng cho cây gậy tích trượng của tu sĩ Phật giáo Đó là những pháp khí

đi theo suốt cuộc đời của người tu sĩ Phật giáo thời bấy giờ Ban đầu là những tháp nhỏ để đựng xá lợi, càng về sau xây lớn ở những nơi thánh tích để tôn thờ Các vị vua của các nước Đông Nam Á cũng noi theo xây những tháp để thờ (nếu không có

xá lợi hoặc di vật thì họ để thờ hình tượng Phật) Sau này họ dùng để làm nơi mộ phần của các vị vua hoặc các vị cao tăng để thờ cúng, và tháp cũng được biến tấu khác đi nhiều phần

Ngoài ra, các tông phái Phật giáo còn dùng tháp là biểu tượng và phương tiện cho cách thức tu hành Vào thời Sukhothai và Ayuthaya, các công trình tháp Phật giáo và chính tháp Phật giáo đã chiếm vị trí trung tâm và chế ngự toàn bộ ngôi chùa

Tháp trong tổng thể kiến trúc chùa Thái Lan được tiếp thu ảnh hưởng từ nhiều lối kiến trúc chùa tháp của người Môn và Khmer cùng với những ảnh hưởng của Ấn Độ và Myanmar Tháp Thái Lan nổi bật với hai kiểu:

- Phra Chedi: là kiểu kiến trúc nền

hình vuông có nhiều bậc, thân thì

giống hình quả chuông úp xuống

đỉnh có hình búp măng

Do chịu ảnh hưởng của các nền văn

hóa khác nhau như: Môn, Myanmar,

Khmer các Phra chedi ở miền Bắc Thái

Lan có những nét khác với các Phra Chedi

ở miền Trung và miền Nam Thái Lan Ở

Trang 37

miền Bắc có những Phra Chedi xuất hiện rất sớm so với những Phra Chedi của miền Trung và miền Nam Những Phra Chedi được xây dựng theo kiểu của Myanmar thì có thân hình chuông, được dựng trên một nền vuông có nhiều bậc, bậc nền dưới cùng có khám để đặt tượng Phật hoặc một phòng để đặt tượng Phật, còn trên bốn góc của các bậc nền khác là các tháp nhỏ Đó là những tháp còn thấy ở các tỉnh miền Bắc Thái Lan, như Chiang Mai, Chiang Xen, Lamphun … (vốn trước đó

là tiểu vương quốc Lana của người Thái và Hariphunxay của người Môn) còn những Phra Chedi được xây theo kiểu của người Môn là kiểu kiến trúc hình tháp vuông nhỏ dần lên đỉnh, có nhiều tầng và ở các mặt của một tầng đều có khám để đặt tượng Phật, tầng cao nhất là đỉnh có hình chuông nhỏ

Kiến trúc dạng Phra Chedi ở miền Trung và miền Nam lại có một quá trình hình thành và phát triển theo thời kỳ mà người Thái tràn xuống làm chủ toàn bộ miền Trung (gồm cả Đông Bắc) và miền Nam Thái Lan Với sự xuất hiện của nhà nước Thái hùng mạnh đầu tiên là Sukhothai, các Phra Chedi của người Thái đã có những yếu tố, đường nét và phong cách riêng Các Chedi này có hình vuông xây cao để tạo thành các khám chứa Phật, thân của tháp được xây theo hình quả chuông

úp, nhưng nếu so với các tháp ở miền Bắc thì hình chuông lúc này đã thon thả, đỉnh tháp được thay bằng hình chóp nhọn được tạo khối bởi nhiều vòng xếp tròn đặt lên nhau, càng lên cao càng nhỏ dần

- Phra Prăng: là kiểu

xuống phía Nam, tại đây đã

tiếp xúc với người Khmer và cũng bắt đầu tiếp thu những ảnh hưởng của văn hóa Khmer Thời kỳ này các Phra Chedi có hình dáng cao và to hơn Do có chức năng mới là thờ vua nên phần nền của Phra Chedi rất cao để đặt phòng thờ Ở đây bốn

Hình 4: Tháp Kukut tại Lumpun, Bắc Thái Lan, được xây

dựng vào thế kỷ XVIII, theo phong cách Khmer

Trang 38

phía của tháp được xây thêm các cửa (ba cửa giả và một cửa vào) Những cửa này

có mũi nhọn và có chân nhô ra bốn phía chân tháp Những kiến trúc kiểu này đã làm cho tháp thêm phần duyên dáng, cổ kính và trang trọng hơn trước Đây là phong cách Ăngkor của người Khmer được người Thái tiếp thu sau khi làm chủ được vùng đất của người Khmer ở miền Trung và miền Nam Thái Lan Ayuthya là thời kỳ xuất hiện và phát triển các loại tháp mang phong cách riêng của miền Trung và miền Nam Thái Lan Những Phra Prăng của người Thái mang chức năng của Tháp nhưng lại bắt nguồn từ những điện thờ của người Khmer Các Prăng này là một sáng tạo tuyệt vời mà người Thái đã có được nhờ biết biến hóa kiểu kiến trúc Ăngkor thành những tháp Prăng của họ Các Prăng của Thái Lan thường trang trí rất phong phú

Mặc dù cùng với sự phát triển cũng như thâm nhập của các nền văn hóa khác nhau, nhưng những lối kiến trúc bản địa, lối kiến trúc của văn hóa Thái Lan không

hề thay đổi, có chăng là sự tu bổ thêm những chi tiết phức tạp khác trên nguyên bản kiến trúc cổ xưa mà thôi, ngay cả những ngôi chùa được xây mới vào nửa cuối thế

kỷ XX vẫn còn bảo tồn được nghệ thuật cổ điển độc đáo của mình, tạo nên một phong cách kiến trúc Phật giáo rất Thái

Nói đến Thái Lan ta nhớ ngay đến ba yếu tố gắn kết, đó là: Nước Thái – Phật giáo – Hoàng gia Trong đó Phật giáo là yếu tố trung tâm về văn hóa, tâm linh … người dân và Phật giáo có sự gắn kết nhất định trong cuộc sống, qua hình ảnh ngôi chùa và tháp, trong kiến trúc nhà ở người dân Thái cũng có ảnh hưởng bởi những họa tiết trang trí và kiến trúc nhà ở dân gian

2.1.3 Nhà ở của người Thái

Nhà ở của người Thái không chỉ thể hiện lối sống của cư dân ở đây mà còn thể hiện sự tinh tế tài hoa trên phương diện kiến trúc của người Thái Là một nước nhiệt đới, nhiều sông ngòi, ngôi nhà truyền thống của Thái Lan được làm bằng gỗ cứng và có sàn nằm trên những cây cọc tạo ra không gian ở, nơi người ta ăn ngủ và sinh hoạt là ở trên sàn cách mặt đất đây là cách để giúp người ta giữ gìn sức khỏe, tránh được bệnh tật

Sàn nhà có hình chữ nhật, xung quanh có mái hiên che Khoảng không gian chính của ngôi nhà thường gồm một phòng khách và vài phòng ngủ

Trang 39

Ngôi nhà chính được nằm trong khuôn viên của một cái sân và một vài ngôi nhà phụ có tường rào bao quanh, nơi làm kho chứa thóc, lúa và các loại ngũ cốc, nằm tách biệt riêng, còn nhà bếp và nơi chứa nước thì nằm liên kết với ngôi nhà chính Người Thái ở vùng châu thổ lấy nước ăn từ các con sông và các klong (kênh rạch), còn những người ở miền Bắc và Đông Bắc thì dùng nước giếng.[Trần Hùng 2004:48]

Từ những bước sơ khai của ngôi nhà dân gian, nhà ở của người dân Thái Lan

đã có những bước phát triển về mặt cấu trúc và kỹ thuật lắp dựng cũng như trang trí nghệ thuật, cấu trúc của ngôi nhà ngày càng phức tạp và phong phú hơn nhằm đáp ứng sinh hoạt ngày càng cao trong việc ăn ở Nhà ở của người Thái bao gồm nhiều phòng, được bố trí cạnh nhau Chúng được bố trí phù hợp với khí hậu nhiệt đới và phong cách sống của người Thái với mái nhà khá cao nghiêng và thanh nhã Toàn

bộ ngôi nhà được ghép sẵn, các phòng được gắn chặt với nhau mà không dùng đến bất kỳ một chiếc đinh nào Ở khắp nơi trên đất nước Thái Lan nhà chỉ có một tầng

và được dựng trên một cái cột trụ đứng Gian chính được nối với các gian khác bằng một mái hiên Mái hiên này ngoài tác dụng thẩm mỹ ra còn nhiều tiện lợi khác nữa

Xung quanh nhà có một khoảng không gian khá rộng Có sự khác nhau nho nhỏ giữa những ngôi nhà ở từng vùng trên đất nước Thái Lan Ở vùng đồng bằng miền Trung nhà được xây cao để tránh lũ, còn các nhà ở Miền Bắc quanh nhà lại có thêm những cây đỡ mái hiên, đồng thời nó cũng chỉ ra vị trí của chủ nhà

Đối với những gia đình khá giả, thì việc trang trí những họa tiết như trạm trổ những hình hoa lá, chim muông, rồng, …cũng được thiết kế, những họa tiết mái được thiết kế giống kiểu kiến trúc của chùa Thái, nhưng những họa tiết đầu mũi mái, đỉnh mái đơn giản hơn Ngôi nhà của người Thái Lan là một sự pha trộn giữa những nét bình dị và kết cấu kiến trúc thanh lịch duyên dáng Những ngôi nhà cao cấp hơn được làm bằng gỗ Tếch có chạm trổ và đánh bóng, mái lợp ngói

Trong ngôi nhà ở, thường có bàn thờ Phật ở vị trí hơi cao và nhìn ra phía cửa chính, trên có tượng Phật nhỏ và những dụng cụ nghi lễ, các vật dụng đựng các đồ

lễ, nơi đặt bàn thờ Phật được coi là nơi linh thiêng nhất và mọi sinh hoạt trong nhà

Trang 40

đều thể hiện sự tôn trọng đối với nơi linh thiêng này26 Nhiều nhà còn có miếu thờ thần bằng tranh, tre đơn giản ở bên lối vào chính, để thờ các vị thần linh được xem

là một việc làm cần thiết giúp cho gia đình tránh khỏi những hoạn nạn ốm đau27 Người dân cũng thường có những lễ nghi liên quan đến ngôi nhà trong việc dựng ngôi nhà mới hay là dọn đến ở nhà mới với những hình thức và nghi lễ khác nhau tùy theo từng vùng Người ta có thể mời thầy địa lý để xem giờ động thổ, giờ dựng tường, giờ lợp mái và giờ dựng cầu thang, sau đó chủ nhà mời các nhà sư đến tụng kinh cầu phước để bảo đảm một ngôi nhà mới có một khởi đầu an lành [Trần Hùng 2004:59]

2.2 Nghệ thuật Phật giáo Thái Lan

Hầu hết những tác phẩm điêu khắc của Dvaravati được làm bằng đá và cũng

có một số ít bằng đồng, thường mang nội dung và hình tượng của Phật giáo, trong

đó có rất nhiều tác phẩm thể hiện Đức Phật Những tượng Phật có sớm ở thời kỳ đầu là những pho tượng ở Wat Vat Rô có những nét gần gũi với nghệ thuật Gupta,

có dáng uyển chuyển và đường nét đặc sắc, thường có niên đại sớm (vào khoảng thế

kỷ thứ VII) Ở Mường Phai người ta tìm thấy pho tượng Phật được tạo hình ở tư thế ngồi trên một bệ có hình rắn Naga, được coi là bức tượng vào loại cổ nhất Vào thời sau các pho tượng phong cách Dvaravati thường có tư thế đứng thẳng hai tay đưa lên trong tư thế thuyết pháp Một loại tượng Phật đặc biệt chỉ có trong phong cách

26 Ví như: cấm trẻ con, đàn bà đi lại phía dưới, cấm mọi người hướng chân vào dù là lúc trò chuyện hay khi

ngủ (theo Ngô Văn Doanh (và nhiều tác giả) 1991: Tìm hiểu văn hóa Thái Lan, Viện nghiên cứu Đông Nam

Á, Hà Nội, NXB Văn hóa - trang 45)

27 Ở miền Bắc thần bảo vệ là thần Thêvađa, được thờ cúng để xua đuổi vua ác, hổ, rắn và làm tan mọi nguyên nhân gậy hại khác cần đối xử tử tế với thần này vì nếu để thần tức giận thì gia đình sẽ gặp hoạn nạn

ốm đau, mất mùa nghèo khổ, phẩm vật cúng cho thần là nến, hương, hoa, gỗ thơm, cơm, rượu thần sẽ ăn

“hương” của các phẩm vật đó Thần không muốn có khách lạ ở trong nhà quá 3 ngày vì thần có tính hay

ghen, sau ba ngày khách thường được chủ nhà gợi ý cho ra khỏi nhà, thần này cũng phổ biến ở Lào (theo

Ngô Văn Doanh (và nhiều tác giả) 1991: Tìm hiểu văn hóa Thái Lan, Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Hà Nội,

NXB Văn hóa – trang 45)

Ngày đăng: 04/04/2021, 22:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Minh Chi 1994: Phật giáo Thái Lan hiện tại và quá khứ: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo Thái Lan hiện tại và quá khứ
2. Minh Chi 1995: Đại cương triết học phương Đông – Hà Nội: NXB Chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học phương Đông
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
3. Minh Chi 1998: Tôn giáo và tôn giáo học vùng Đông Nam Á , Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Đông Phương học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và tôn giáo học vùng Đông Nam Á
4. Mai Ngọc Chừ: Văn hóa Đông Nam Á – Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Đông Nam Á
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
5. Ngô Văn Doanh, Cao Xuân Phổ, Trần Thị Lý 2000: Nghệ Thuật Đông Nam Á – Hà Nội: NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ Thuật Đông Nam Á
Nhà XB: NXB Lao Động
6. Ngô Văn Doanh, Vũ Quang Thiện 1997: Phong tục tập quán các dân tộc Đông Nam Á – Hà Nội: NXB Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán các dân tộc Đông Nam Á
Nhà XB: NXB Văn hóa Dân tộc
7. Ngô Văn Doanh (và nhiều tác giả) 1991: Tìm hiểu văn hóa Thái Lan, Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Hà Nội, NXB Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa Thái Lan
Nhà XB: NXB Văn hóa
8. Ngô Văn Doanh 1994: Hội họa truyền thống Thái Lan trong cuốn “Tìm hiểu lịch sử văn hóa Thái Lan tập 1”, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á. Hà Nội, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội họa truyền thống Thái Lan "trong cuốn “"Tìm hiểu lịch sử văn hóa Thái Lan tập 1
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
9. W. Durant 2004: Lịch sử văn minh Ấn Độ (Nguyễn Hiến Lê dịch): NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh Ấn Độ
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
10. Nguy ễn Đăng Duy 2005: Một số vấn đề văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại, Hà Nội, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại
Nhà XB: NXB Lao động
11. Phạm Đức Dương 1998: 25 năm tiếp cận Đông Nam Á học – Hà Nội: NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 25 năm tiếp cận Đông Nam Á học
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
12. Nguy ễn Tấn Đắc 2000: Văn hóa Ấn Độ, Tp. HCM, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Ấn Độ
Nhà XB: NXB Thành Phố Hồ Chí Minh
13. Hall D.G.E 1997: Lịch sử Đông Nam Á – Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
14. KTS Trần Hùng 2004: Kiến trúc Thái Lan và thủ đô Bangkok – Hà Nội: NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến trúc Thái Lan và thủ đô Bangkok
Nhà XB: NXB Xây dựng
15. Trương Sỹ Hùng 2007: Tôn giáo và văn hóa: NXB Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và văn hóa
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã Hội
16. Nguy ễn Tương Lai 2006: Các phong cách điêu khắc Phật giáo trên đất nước Thái Lan, trong cuốn Văn hóa phương Đông truyền thống và hội nhập, Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phong cách điêu khắc Phật giáo trên đất nước Thái Lan, "trong cuốn "Văn hóa phương Đông truyền thống và hội nhập
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
17. Nguy ễn Tương Lai (chủ biên) 2001: Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm 90 – Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam – Thái Lan trong những năm 90
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
18. Nguy ễn Tương Lai (chủ biên) và nhiều tác giả 1998: Thái Lan, Truyền thống và hiện đại – Hà Nội: NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Lan, Truyền thống và hiện đại
Nhà XB: NXB Thanh niên
19. Quế Lai 1994: Những vấn đề cấu tạo từ tiếng Thái Lan hiện đại, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á. Hà Nội, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cấu tạo từ tiếng Thái Lan hiện đại
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
20. Quế Lai 1994: Phật giáo Thái Lan và những nét tương đồng với Phật giáo Việt Nam, trong cuốn “Tìm hiểu lịch sử văn hóa Thái Lan tập 1”, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á. Hà Nội, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo Thái Lan và những nét tương đồng với Phật giáo Việt Nam," trong cuốn “"Tìm hiểu lịch sử văn hóa Thái Lan tập 1”
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w