1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu đời sống người bán hàng rong di cư đô thị nghiên cứu trường hợp phường phú thọ hòa, quận tân phú, tp hcm

107 77 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 20,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và có thể nói một điều rằng với số dân đông như vậy hiện nay thành phố xuất hiện nhiều những khu nhà ổ chuột, những khu nhà đó thiếu thốn về ánh sáng, chật hẹp về không gian, lụp sụp, bẩ

Trang 1

BAN CHẤP HÀNH TP HỒ CHÍ MINH

………

CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG “ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC – URÉKA”

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3.Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

6 Cơ sơ lí luận và phương pháp nghiên cứu 6

7 Giả thuyết nghiên cứu 8

8 Nội dung đề tài 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG PHÚ THỌ HÒA 10

1 Vị trí địa lí 12

2 Đất đai và tình hình sử dụng đất của phường 13

3 Dân cư 13

4 Tình hình kinh tế của phường 14

CHƯƠNG 2: ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI BÁN HÀNG RONG DI CƯ ĐÔ THỊ 16

2.1 Phác họa chung về tình hình của người bán hàng rong 17

2.1.1 Lí do di cư 18

2.1.2 Mạng lưới xã hội của người bán hàng rong 22

2.1.3 Điều kiện ăn, ở 24

2.1.4 Bán hàng rong – hoạt động mưu sinh phi chính thức 27

2.2 Khó khăn của người bán hàng rong 31

2.2.1 Thiếu ngủ một thực trạng của người bán hàng rong 31

2.2.2 Người bán hàng rong là những nguời nghèo 32

2.2.3 Tính dễ bị tổn thương ở người bán hàng rong 36

2.3 Mong ước của người bán hàng rong 42

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46

Phụ lục phiếu hỏi chuyện người bán hàng rong di cư vào Thành phố Hồ Chí Minh 49

Phụ lục đề cương gợi ý phỏng vấn sâu 57

Phụ lục phỏng vấn sâu Cô Thủy 57

Phụ lục phỏng vấn sâu chị Đào và chị Vui 63

Phụ lục lịch trình làm việc của đề tài nghiên cứu đời sống người bán hàng rong di cư đô thị 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Phụ lục hình ảnh 91

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh Việt Nam từ năm 1986 đến nay, thực hiện chuyển đổi hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang hệ thống kinh tế thị trường năng động có định hướng của Nhà nước, và cũng từ những năm này tình hình di dân ở nước ta diễn ra tương đối phức tạp, cả di dân có tổ chức của nhà nước lẫn di dân không tổ chức (di dân tự do) Di dân luôn là vấn đề đau đầu cho các nhà hoạch định về tình hình dân

số hay những vấn đề điều kiện nhà ơ, sinh hoạt, các công trình phúc lợi công cộng cho dân cư Tình hình di dân cho đến nay nói chung chưa được kiểm soát một cách nguyên tắc, đầy đủ của Nhà nước Vấn đề di dân tự do song song với nó là điều kiện sống sinh hoạt của những người di dân, công ăn việc làm tại vùng đất mới Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước về số dân, hàng năm tỉ lệ người nhập cư vào thành phố không ngừng tăng, số người vào tìm kiếm kế sinh nhai, người vào

đi học Và có thể nói một điều rằng với số dân đông như vậy hiện nay thành phố xuất hiện nhiều những khu nhà ổ chuột, những khu nhà đó thiếu thốn về ánh sáng, chật hẹp về không gian, lụp sụp, bẩn thỉu… Một trong những công việc dược lựa chọn đa số của người di cư vào thành phố đó là bán hàng rong

Nghề bán hàng rong là một công việc vất vả, bấp bênh, có thu nhập thấp và không ổn định Thêm nữa phần nhiều trong số họ không có hộ khẩu thành phố nên phải chịu sự phân biệt đối xử hoặc ở ngoài lề do không được thừa nhận là thành viên chính thức của cộng đồng, họ không được sử dụng các dịch vụ công, không được tham gia vào các dự án giảm nghèo hoặc hưởng lợi từ các công trình phúc lợi

xã hội như miễn giảm học phí cho con em, sổ khám chữa bệnh miễn phí Họ ít được bảo vệ trước những đe dọa bạo lực hoặc các tranh chấp liên quan đến công

ăn việc làm, tiền công, chỗ ở… chính vì vậy họ là những người dễ bị tổn thương nhất ở đô thị Chỉ cần những biến động, rủi ro nhỏ cũng có thể làm cho cuộc sống của họ trở nên khốn đốn

Đời sống đô thị đã gây ra nhiều khó khăn cho cuộc sống của những người bán hàng rong, và ngược lại chính họ cùng công việc của mình đã gây ra một áp lực rất

Trang 4

lớn cho các đô thị hiện nay nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng về công tác quản lí trật tự đô thị

Việc các nhà Xã hội học, nhà nghiên cứu nói chung đi sâu vào tìm hiểu đời sống của những con người này là một việc làm cần thiết để từ đó có những hành động mang lại lợi ích tối thiểu cho những “con người dễ bị tổn thương”

2 Mục đích của đề tài

Đời sống của nhân dân ngày một nâng cao, bên cạnh có đủ cơm ăn áo mặc thì

đã có không ít những hoạt động vui chơi giải trí dành cho đại đa số quần chúng nhân dân Nhưng liệu rằng có phải tất cả mọi người dân, chỉ riêng thành phố Hồ Chí Minh này thôi đã được tiếp cận với các hoạt động đó chưa? Vẫn còn những trường hợp không biết nghỉ ngơi vui chơi là gì, và chỉ khi chúng ta thâm nhập vào đời sống của họ thì mới biết rằng, họ hoàn toàn không mảy may nghĩ đến nó vì đơn giản nó không có trong tâm thức của họ!

Thực hiện đề tài này nhóm nghiên cứu chúng tôi nhằm cấu trúc, mô tả lại cuộc sống, cũng như hoạt động thường ngày của những người bán hàng rong để thấy được lối ứng xử của họ nơi đô thị

Chúng tôi muốn tìm hiểu lí do họ vào thành phố và việc làm có được là nhờ mạng lưới xã hội thân quen, ở đây cụ thể là bà con hàng xóm

Biết về công việc bán hàng của họ, thời gian, mức độ làm việc, tần suất làn việc, những khó khăn mà họ gặp phải, không chỉ thế chúng tôi còn muốn biết thêm rằng chính bản thân họ nghĩ gì về công việc mình đang làm và xã hội nhìn nhận họ

ra sao?

Tình hình sức khỏe của họ hiện nay có gì thay đổi so với trước khi vào trong này Nguyện vọng lớn nhất hiện nay của họ là gì (hai vấn đề này đều được chúng tôi đưa ra trong bản hỏi)

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài Tìm hiểu đời sống của người bán hàng rong di cư đô thị, đối tượng nghiên cứu ở đây là những con người bán hàng rong từ các vùng quê ngoài miền Bắc (Hà Nam, Hà Tây), miền Trung (Quảng Ngãi) di cư vào thành phố mưu sinh Phạm vi nghiên cứu, đề tài thực hiện trên địa bàn phương Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 5

4 Y nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Y nghĩa khoa học của đề tài, với đề tài chúng tôi đã sử dụng nhuẫn nhuyễn các phương pháp nghiên cứu khoa học, đóng góp những thông tin, là cơ sở cho những nghiên cứu về sau cho các đề tài có liên quan

Y nghĩa thực tiễn, từ thực tế của đề tài nghiên cứu, đã đi sát với đời sống, việc làm, sinh hoạt hàng ngày của người bán hàng rong Kết qủa sẽ là cơ sở cho các cơ quan quản lí nắm bắt được tình hình của nguời hàng rong từ đó có những chính sách phương pháp hỗ trợ cho họ

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về xã hội đô thị nói chung và sự nghèo đói, sự nhập cư nói riêng Theo sự tìm hiểu của chúng tôi thì hiện tại, chúng tôi tiếp cận được những tác phẩm nghiên cứu về các vấn đề như

The Urban World (2002) của J.John Palen, The New – Urban – Sociology (2002) của Mark Gototliener (Mĩ) Các công trình ở Việt Nam: Xã Hội Học Và Chính Sách Xã Hội (2001) của Bùi Đình Thanh, Xã Hội Học Đô Thị (2001) do Trịnh Duy

Luân chủ biên Khi tiếp cận công trình này chúng tôi đặc biệt chú ý tới chương 4:

Cơ cấu xã hội và lối sống của cộng đồng dân cư đô thị, về cơ cấu mức sống (sự

phấn tầng xã hội), thực trạng của các cộng đồng đô thị Việt Nam những năm vừa qua đã phản ánh rõ nét về sự phân tầng xã hội trong cơ chế thị trường Kinh tế thị trường đem lại sự phân hóa giàu – nghèo tới các đô thị bình lặng thời bao cấp Không còn sự bình quân trong đời sống và mức sống của cộng đồng Những cơ may, vận hội đến với một số người, trong khi những khó khăn trở ngại đến với một

số người khác – dù trước bất kì lí do nào đã là một điều tự nhiên phải chấp nhận

Sự phân hóa giàu nghèo đã tạo ra các nhóm có mức sống khác nhau trong dân

cư của mỗi cộng đồng, khoảng cách giàu nghèo có xu hướng ngày càng giãn rộng Trong đó người nghèo thuộc nhóm “nhạy cảm”, dễ bị tổn thương nhất Họ chịu thiệt thòi không có cơ hội ngang bằng với các nhóm khác và dễ bị “bỏ quên” Tiếp cận dưới góc độ này chúng tôi nhằm xét về nhóm người bán hàng rong – “nhóm xã hội dễ bị tổn thương”

Trong cuốn: Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh những vấn đề nghiên cứu do Phan Xuân Biên và Hồ Hữu Nhựt chủ biên – đây là công trình tập trung

Trang 6

nhiều bài viết liên quan tới các vấn đề ở đô thị, môi trường đô thị, công ăn việc làm, sự hội nhập đầu tư, khu công nghiệp, khu chế xuất trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề quản lí đô thị Trong số những bài viết đó chúng

tôi đặc biệt chú ý tới bài viết của Hồ Hữu Nhựt: Tình hình lấn chiếm lề đường thực trạng và giải pháp Trong những năm gần đây tình trạng sử dụng lề đường để hoạt

động kinh doanh, dịch vụ là rất phổ biến Theo ước tính của Viện Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng từ 100.000 - 120.000 người hoạt động dịch vụ trên lề đường Ngoài ra còn khoảng từ 40.000 - 50.000 người buôn bán rong xe đẩy Như vậy sơ bộ ước tính những người buôn bán ở lề đường và lưu động có thể lên đến 150.000 - 170.000 người, chiếm gần 10% tổng số lao động đâng làm việc của toàn thành phố Nếu cứ một người làm ở khu vực lề đường nuôi thêm một người nữa thì

số người sống nhờ thu nhập khu vực này khoảng từ 300.000 – 400.000 người Ngoài ra sau lưng họ là lưc lượng cung cấp nguyên vật liệu thành phần, lương thực thực phẩm cho họ kinh doanh.1

Đưa ra vấn đề này chúng tôi nhằm nhấn mạnh tới nghị quyết 32 của Chính phủ

về cấm xe ba-gác, xe tự chế hoạt động và buôn bán lấn chiếm lề đường, liệu nghị quyết đã đúng với thực tế chưa ngay khi mà Thành phố Hồ Chí Minh đã có hàng trăm ngàn người sinh sống bằng ngành nghề này Đó còn chưa kể về khoản thu nhập đã được gửi về quê để cho con ăn học, góp phần xóa đói giảm nghèo, xóa nạn

mù chữ ở nông thôn

Tiếp cận công trình này chúng tôi được biết đến nguyên nhân của việc buôn bán lấn chiếm lề đường

- Kinh tế ở lề đường là một tồn tại của lịch sử

Buôn bán lề đường (vỉa hè là một thực tế khách quan tồn tại từ lâu trên thành phố Hồ Chí Minh Ngay từ lúc Sài Gòn được hình thành như một đô thị, trên lề đường ở thành phố đã xuất hiện các dịch vụ kinh doanh

- Trong thời kì chiến tranh nhiều người dân nông thôn bị dồn lên thành phố, với tay nghề kém và ít vốn họ đã làm dịch vụ kinh doanh trên lề đường để kiếm sống Những năm gần đây ảnh hưởng của chính sách đổi mới, nhiều ngành nghề

1

Phan Xuân Biên, Hồ Hữu Nhựt (2005), Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh những vấn đề nghiên cứu, Nxb Đại Học Quốc Gia Tp.HCM, tr.193

Trang 7

mới phát triển, nhiều sự chuyển dịch lao động giữa các khu vực, một số lượng dân

từ khắp nơi nhập cư về Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã góp phần phát triển dần lên cho đến nay thì kinh tế lề đường chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế

- Tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu nguồn nhân lực

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn của cả nước đã thu hút những nguồn lao động nhập cư từ nơi khác Tuy các cơ sở quốc doanh, tư nhân, các khu công nghiệp, khu chế xuất đã giải quyết được một số lượng lao động lớn song vẫn còn có người chưa có việc làm Đối với những người không có vốn đủ để

có được một chỗ làm ăn ổn định, những người thất nghiệp, già yếu, một số người nghỉ hưu, họ phải ra lề đường làm kinh doanh, dịch vụ

- Sự tiện lợi trong mua bán lề đường

Dân số thành phố Hồ Chí Minh ngày một tăng, hệ thống xe gắn máy tăng lên một cách đáng kể – trở thành phương tiện chủ yếu của người dân thành phố, họ dùng xe gắn máy cho tất cả những hoạt động của mình, mua sắm, giải quyết các dịch vụ ăn uống, sửa chữa Buôn bán lề đường một dạng buôn bán nhỏ, hoạt động

cả ngày rất tiện cho sinh hoạt người dân Sự đa dạng về sản phẩm dịch vụ thể hiện qua việc chú ý đến các nhu cầu vụn vặt của đời sống hàng ngày đã tạo tiện lợi cho người tiêu dùng Về phía người bán, làm dịch vụ lề đường là một môi trường thuận lợi, không cần phải thuê mặt bằng, không phải chịu các loại thuế, phí và có một thị trường người tiêu dùng lớn

Văn Hóa Của Nhóm Nghèo Ơ Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp (2001) do Lương Hồng Quang chủ biên, Từ Điển Quản Lí Xã Hội (2002) của Nguyễn Tuấn Dũng, Đỗ Minh Hợp; Tuyển Tập Tạp Chí Khoa Học Xã Hội (2004) của Nguyễn Thế Nghĩa, và gần đây chúng tôi cũng được tiếp xúc Xã Hội Học Đô Thị (2004) của Trịnh Duy Luân, Đô Thị Hóa Và Vấn Đề Giảm Nghèo Ơ Thành Phố Hồ Chí Minh Lí Luận Và Thực Tiễn (2005) do Viện Khoa Học Xã Hội Vùng Nam Bộ làm chủ công trình, Những Vấn Đề Xã Hội Học Trong Công Cuộc Đổi Mới (2006) do Mai Quỳnh Nam chủ biên Về vấn đề di cư có công trình; Di Dân Tự Do Nông Thôn – Thành Thị Ơ Thành Phố Hồ Chí Minh (1998) của Nguyễn Văn Tài và cộng tác viên, Công Trình Điều Tra Di Cư Ơ Việt Nam (2004) của Tổng Cục Thống Kê

Bên cạnh đó những bài báo viết về tình hình nhập cư, về sự nghèo đói và những

Trang 8

người bán hàng rong ở đô thị cũng được đăng nhiều trên các báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Nhân Dân, Lao Động, Công An… trong thời gian qua Bên cạnh đó cần phải kể đến công trình nghiên cứu mà chúng tôi chưa có điều

kiện để tiếp xúc như Nghèo Khổ Và Vấn Đề Xã Hội Ở Hải Phòng (1999) của Trịnh Duy Luân, Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Xuân Mai; Đánh Giá Nghèo Khổ Có Sự Tham Gia Của Người Dân Thành Phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Quốc Việt; Đặc Điểm Kinh Tế-Xã Hội Của Người Nghèo Ơ Đô Thị (1999) của Tương Lai và Trịnh Duy Luân; Về Khả Năng Cải Thiện Mức Sống Của Tầng Lớp Có Thu Nhập Thấp

của Nguyễn Thu Sa Và Nguyễn Thị Mai Hương…

Những tác phẩm trên nhìn nhận đô thị ở một bề rộng và đặc biệt quan tâm đến vấn đề nghèo đói và nhập cư Từ đây chúng tôi có thể dùng các công trình trên để làm tài liệu cho việc thực hiện đề tài tìm hiểu cuộc sống của người bán hàng rong Chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài này mong đem lại một tài liệu mới về việc nghiên cứu, Tìm Hiểu Đời Sống Người Bán Hàng Rong Di Cư Đô Thị, cụ thể là thành phố Hồ Chí Minh (phường Phú Thọ Hòa, Quận Tân Phú)

6 Cơ sơ lí luận và phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài Nghiên Cứu Về Đời Sống Của Những Người Bán Hàng Rong Đô Thị này, chúng tôi đã xác định trong phần cơ sở lí luận phải làm rõ một

số thuật ngữ liên quan đến nội dung của đề tài như: Tính dễ bị tổn thương là gì? Nhóm xã hội, địa vị xã hội, sự ngoài lề xã hội, sự phân biệt đối xử là gì? Khái niệm mạng lưới xã hội, vốn xã hội Qua đó chúng tôi hi vọng sẽ thống nhất một cách hiểu và quan điểm nghiên cứu về đề tài này

Đô thị hóa là một quá trình lịch sử, trong đó nổi lên một vấn đề kinh tế xã hội

là sự nâng cao vai trò của thành phố trong việc phát triển mọi mặt của xã hội Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là sự phân bố dân cư, trong kết cấu nghề nghiệp - xã hội, kết cấu dân số, trong lối sống, văn hóa…

Đô thị hóa được xem như một quá trình đa dạng về mặt kinh tế, xã hội, dân số

địa lí dựa trên cơ sở các hình thức phân công lao động xã hội và phân công lao động theo lãnh thổ Đó là quá trình tập trung, tăng cường, phân hóa các hoạt động trong đô thị và nâng cao tỉ lệ dân đô thị trong các vùng, các quốc gia cũng như trên

Trang 9

toàn thế giới Đồng thời đô thị hóa cũng là quá trình phát triển của thành phố lớn

và phổ biến rộng rãi lối sống thành thị trong dân cư

Di cư (chuyển cư) là việc di chuyển nơi cư trú tạm thời hoặc vĩnh viễn từ

không gian lãnh thổ này tới không gian lãnh thổ khác Chuyển cư có hai yếu tố xuất cư và nhập cư

Có hai cách thức chuyển cư:

Cách thức chuyển cư không có tổ chức là cách thức mang tính chất không có

sự giúp đỡ của nhà nước hay một tổ chức xã hội nào

Cách thức chuyển cư có tổ chức, là chuyển cư với số lượng đông, được sự giúp

đỡ của nhà nước hay tổ chức xã hội

Tính Dễ bị tổn thương (vulnerability) là tình trạng bấp bênh của công ăn việc

làm; mức độ thụ hưởng về an ninh xã hội nhằm tránh những biến cố mà ít nhiều không lường trước được (bệnh tật, nghỉ hưu, sa thải…)

Mạng lưới xã hội, mạng lưới xã hội được hình thành từ các quan hệ xã hội (hay

còn gọi là các quan hệ xã hội) Theo C.Mác “trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” – mỗi cá nhân trong quá trình sống của mình sẽ có nhiều quan hệ xã hội đan xen và không ngừng biến động Phức hợp

những mối quan hệ này tạo thành một hệ thống được gọi là mạng lưới xã hội

(social network), từng cá nhân trong xã hội đều có mạng lưới nhất định, nhờ vào

đó có thể định vị bản thân và tồn tại với tính chất là thành viên của xã hội Vai trò của mạng lưới xã hội và tính hiệu quả tiềm năng của các mạng lưới xã hội nằm trong vốn xã hội mà chúng đem lại (Văn Ngọc Lan và Trần Đan Tâm, mạng lưới

xã hội và cơ hội thăng tiến trong đời sống đô thị)

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này – tìm hiểu đời sống người bán hàng rong di cư đô thị chúng tôi đã sử dụng các phương pháp trong nghiên cứu của ngành Nhân học, các phương pháp như sau:

Phương pháp quan sát tham dự, đây là một phương pháp truyền thống của

ngành Với phương pháp này chúng tôi có thể cấu trúc lại đơi sống, hoạt động của người bán hàng rong

Nhằm lấy thông tin thật chính xác và rõ ràng chúng tôi đã sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu có ghi âm, phương pháp phỏng vấn nhóm tập trung

Trang 10

Cở sở dữ liệu của bài viết dựa trên viêc xử lí dữ liệu định lượng chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS Sử dụng phần mềm NVIVO để xử lí các dữ liệu định tính cho các cuộc phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm tập trung Trong qúa trình xử lí phân tích các dữ liệu cho bài viết này, chúng tôi đã cố gắng kết hợp chặt chẽ cả hai nguồn dữ liệu nhằm mục đích:

1 Tìm sự tương thích để đánh giá độ tin cậy của dữ liệu mà mình sử dụng

2 Sử dụng dữ liệu định lượng của nghiên cứu để đặt khung lí thuyết

3 Dùng các dữ liệu định tính từ các cuộc phỏng vấn sâu để lí giải chiều sâu một cách có hệ thống các vấn đề mà số liệu định lượng đặt ra Khi phát hiện ra một vấn đề lí thuyết từ các dữ liệu định tính, chúng tôi sử dụng dữ liệu định lượng

để kiểm chứng lại vấn đề lí thuyết đó…

Ngoài ra trong quá trình lập Phiếu Hỏi Chuyện và Đề Cương Phỏng Vấn Sâu Người Bán Hàng Rong, chúng tôi đã tham khảo Phiếu Hỏi Chuyện Người Nhập

Cư Vào Thành Phố Hồ Chí Minh, Đề Cương Gợi Y Phỏng Vấn Sâu Người Nhập

Cư trong công trình nghiên cứu Vấn Đề Của Người Nghèo Trong Quá Trình Đô Thị Hóa Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Do Viện Xã Hội Học Vùng Nam Bộ và Hội Đồng Khoa Học Xã Hội Hoa Kì thực hiện năm 2001

7 Giả thuyết nghiên cứu

Bằng phương pháp này, kết quả cuối cùng trả lời cho các giả thuyết nghiên cứu được đặt ra từ đầu như sau:

1 Phải chăng bán hàng rong môt phương thức mưu sinh của những người nhập cư có trình độ văn hóa không cao?

2 Các mặt hàng bán của những ngưới bán hàng rong là khác có một sự tương quan nhất định với vùng quê khác nhau hay không?

3 Để có công việc một cách nhanh chóng nhất khi vào đây phải chăng những người bán hàng rong này có một mạng lưới xã hội – đó chính là những người họ hàng thân quen ngoài vùng quê của mình?

4 Đời sống của nhóm những người nhập cư là một cộng đồng khép kín phải chăng vì họ không có một mối quan hệ nhất định với những người xóm giềng đô thị

Trang 11

5 Người bán hàng rong là tầng lớp dễ bị tổn thương, người nhập cư nghèo

8 Nội dung đề tài

Trang 12

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG PHÚ THỌ HÒA

Thành phố Hồ Chí Minh trung tâm thu hút di cư của cả nước

Trong nhiều thập kỉ, trong thời kì kinh tế tập trung ở Việt Nam, Nhà nước đã tổ chức di dân Với sự chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường từ cuối năm 80, làn sóng di dân ở Việt Nam trở nên tự phát hơn, người dân không còn phụ thuộc vào chế độ trợ cấp hay tem phiếu về lương thực, thực phẩm hay những nhu yếu phẩm khác Dòng di dân đã tăng mạnh trong khoảng 15 năm qua, trong bối cảnh của sự gia tăng cách biệt về mức sống giữa đô thị và nông thôn cũng như giữa các vùng dưới tác động của kinh tế thị trường2

Cho đến nay tất cả những thống kê về di dân ở Việt Nam đều không chính xác,

vì ngay cả người dân di chuyển đến một địa phương nhưng dưới 6 tháng vẫn được coi như còn ở lại quê cũ Trong số liệu thống kê năm 1999 có 4,5 triệu người Việt Nam trên 5 tuổi (6,5% dân số ở độ tuổi này đã di chuyển ra khỏi xã hay địa phương mà họ đã cư ngụ 5 năm trước Trong số 4,5 triệu người di dân này cóa 2,1 triệu (3% dân số) đã di dân từ tỉnh này sang tỉnh khác trong thời kì 1994-1999)3 Việc dòng di dân tăng mạnh, tương ứng với sự gia tăng bất bình ở đẳng đô thị và nông thôn, cũng như giữa các vùng

Thành phố Hồ Chí Minh một trung tâm đa chức năng, là trung tâm dân cư lớn nhất nước, trung tâm kinh tế văn hoá khoa học kĩ thuật, trung tâm giao dịch quốc

tế của Việt Nam

Là một trung tâm công nghiệp lớn nhất của cả nước, giá trị tổng sản lượng công nghiệp của Thành phố chiếm khoảng gần 1/3 (29,3%) giá trị sản phẩm công nghiệp cả nước

Là một trong hai trung tâm văn hóa - khoa học – kĩ thuật – giáo dục lớn nhất quốc gia là Hà Nội và sau đó là Thành phố Hồ Chí Minh Thành phố đóng vai trò tiên phong trong việc ứng dụng các kĩ thuật tiên tiến vào hoạt động sản xuất

2

Lương Văn Hy(2005), Di dân từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam: Câu chuyện của hai miền đô thị hóa

và vấn đề giảm nghèo, tác phẩm Đô thị hóa và vấn đề giảm nghèo ở thành phố Hồ chí Minh Lí luận và thực tiễn PGS.TS Nguyễn Thế Ngĩa, PGS.TS Mạc Đường, NCVCC Nguyễn Quang Vinh đồng chủ biên, nxb

KHXH, tr.431

3

(2001)Lương Văn Hy trích Tổng cục thống kê Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999 kết quả điều

tra toàn bộ - Population and Housing Census 1999: Completed Census Results Nxb HN, tr.173 174

Trang 13

Là một trung tâm thương mại dịch vụ- giao dịch - đối ngoại quan trọng không chỉ trong nước mà còn có khả năng vươn xa trong khu vực

Là một đầu mối giao thông, thông tin liên lạc quan trọng đối với cả nước Với mạng lưới cơ sở hạ tầng tương đối tốt (bến cảng, sân bay, các đầu mối thông tin viễn thông)

Với những đặc điểm lịch sử của thành phố cộng với vai trò chức năng của hệ thống trong nền kinh tế quốc gia đã góp phần giải thích vì sao thành phố trở thành một cực hút trọng yếu đối với những hoạt động sống của xã hội, và tất nhiên thành phố trở thành một nơi tập trung những dòng người từ những phương khác nhau về đây để lập nghiệp

Từ khi chính sách đổi mới được thực thi toàn diện vào cuối thập kỉ 80, thành phố Hồ Chí Minh liên tục có mức tăng trưởng kinh tế cao nhất Việt Nam đạt trung bình 13,1% mỗi năm trong thơì kì 1998-2002 so với mức trung bình 8% và 6,2% một năm trong 2 thời kì của cả nước4 Dân số thành phố Hồ Chí Minh chiếm khoảng 6% cả nước, GDP chiếm tỷ trọng 15,9% của cả nước năm 1992 và 22,7% vào năm 2000 GDP bình quân đâu người của thành phố đã tăng từ 366 USD vào năm 1992 lên 1355 USD vào năm 20005

Cũng theo Ngân Hàng Thế Giới mức tăng trưởng cao của thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ dựa vào một phần tỷ trọng cao của thành phố và vùng này trong dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài và có lẽ cả nguồn vốn đầu tư trong nước của tư nhân Dữ liệu điều tra mức sống cũng cho thấy mức chi bình quân đầu người ở miền Đông Nam Bộ tăng 78% trong giai đoạn 1993-1998, cao hơn mức tăng trưởng các vùng khác ở Việt Nam Nguồn dữ liệu này cũng cho biết

làtrong sự gia tăng bất bình đẳng về chi tiêu bình quân đầu người ở Việt Nam từ năm 1992-1993 đến năm 1997-1998 thì 83% bắt nguồn từ sự bất bình đẳng giữa các vùng và chỉ có 17% là do sự gia tăng bất bình đẳng trong cùng một vùng

4

Lương Văn Hy (2001), trích từ Tổng cục thống kê Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999 kết quả

điều tra toàn bộ _ Population and Housing Census 1999: Completed Census Results, nxb HN, tr.106, Nguyễn Văn Chỉnh và Vũ Quang Việt 2002, tr.65-88,185-209, tp HCM Cục Thống Kê 2002, tr.32, Lương

Hy Văn.2001 “Hồ Chí Minh city, Việt Nam in Eneyclopedia of Urban Cultures, vol 2, Mevin and Carol

Ember,eds,pp.348-353

5

Lương Văn Hy trích từ World Bank,1995

Trang 14

Mặc dù số liệu tổng điều tra dân số ở Việt Nam không phản ánh hết làn sóng di dân vì không tính người di chuyển trong 6 tháng trở lại, thì trung bình hàng năm giai đoạn 1994-1999 theo nguồn dữ liệu này đã có 86.753 người di dân đến thành phố Hồ Chí Minh Con số này về tổng thể tương ứng vơí con số ước lượng về dòng di dân 100.000 người một năm (kể cả di dân tạm thời) trong giai đoạn 1989-

1997, dựa vào một cuộc điều tra có chất lượng của Viện Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh6

Theo số liệu thống kê, trong 6 miền của Việt Nam không kể miền Đông Nam

Bộ, thì làn sóng di dân đến thành phố Hồ Chí Minh trong thời kì 1994 -1999 mạnh nhất là từ Đồng Bằng Sông Cửu Long và Duyên Hải Nam Trung Bộ, tỉnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có làn sóng di dân mạnh nhất đến thành phố Hồ Chí Minh là Long An, và tỉnh ở Duyên Hải Nam Trung Bộ là Quảng Ngãi Sự trùng hợp ở đây

là nhóm đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu chiếm số nửa là người Sơn Quảng Ngãi!

Tịnh-1 Vị trí địa lí

Phường Phú Thọ Hòa hình thành vào năm 2003 khi thành phố Hồ Chí Minh có chủ trương tách quận tân bình thành hai quận nhỏ hơn đó là Tân Bình và Tân Phú Khi quận Tân Phú được thành lập thì phường 18 quận Tân Bình được tách làm hai phường, phường Phú Thạnh và phường Phú Thọ Hòa thuộc quận Tân Phú hiện nay

Vị trí địa lí của phường, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú nằm ở phía tây trung tâm quận Phía Bắc giáp phường Tân Thành và phường Tân Quý, phía Nam - Đông Nam giáp phường Phú Thạnh, phía Tây - Tây Nam giáp quận Bình Tân, phía Nam giáp phường Hòa Thạnh

Theo bản báo cáo thuyết minh số liệu thống kê đất đai năm 2005 của phường thì tổng diện tích đất đai tự nhiên của phường là 121,2 ha Ranh giới hành chính của phường được xác định như sau:

Từ giao lộ Nguyễn Sơn – Lũy Bán Bích theo đường Nguyễn Sơn đến Thoại Ngọc Hầu; từ giao lộ Nguyễn Sơn – Thoại Ngọc Hầu theo đường Thoại Ngọc Hầu

6

Dữ liệu tổng điều tra dân số không phản ánh hết dòng di dân ở Việt Nam vì cuộc tổng điều tra chỉ xem một ngườì là sống ở địa phương nếu đã ở đây trên 6 tháng nhưng sẽ ở đây lâu dài (Đặng Nguyên Anh và các tác giả khác,2001,tr.7,109,111)

Trang 15

đến đường Lũy Bán Bích; từ giao lộ Thoại Ngọc Hầu – Lũy Bán Bích theo đường Lũy Bán Bích đến đường Vườn Lài; từ giao lộ Lũy Bán Bích – Vườn Lài theo đường Vườn Lài đến giao lộ đường Vườn Lài và Kênh Nước Đen; từ giao lộ Vườn Lài – Kênh Nước Đen theo kênh nước đen đến đường Bình Long; từ giao lộ đường Bình Long – Kênh Nước Đen theo đường Bình Long đến đường Nguyễn Sơn

2 Đất đai và tình hình sử dụng đất của phường

Với tổng diện tích đất tự nhiên là 121,2 ha, đất nông nghiệp diện tích là không

ha chiếm 0%, đất phi nông nghiệp diện tích là 121,2 ha chiếm 100%, đất chưa sử dụng tỉ lệ 0% so với toàn phường ( báo cáo thuyết minh số liệu thống kê đất đai năm 2005) Theo số liệu tổng kiểm kê năm 2005, hiện nay tổng diện tích đất phi nông nghiệp đang sử dụng là không thay đổi Về cơ cấu sử dụng đất theo đối tượng

sử dụng: hộ gia đình, cá nhân: 82,13 ha chiếm tỉ lệ 67,76%, ủy ban nhân dân cấp phường; 0,23 ha chiếm tỉ lệ 0,19%; tổ chức kinh tế 4,45 ha chiếm tỉ lệ 3,67%; tổ chức khác 5,73 ha chiếm tỉ lệ 4,73% so với toàn phường; diện tích đất nhà đầu tư nước ngoài 0%; nhà đầu tư là người việt nam định cư ở nước ngoài 0%; cộng đồng dân cư 0%; diện tích đất theo đối tượng được giao để quản lí: 28,67 ha chiếm tỉ lệ 23,56% so với toàn phường (bản báo cáo thuyết minh số liệu thống kê đất đai năm 2005)

Khi thực hiện đề tài nghiên cứu chúng tôi đã xác định các đối tượng mà mình tìm hiểu là đang sinh sống và làm việc trên diện tích đất của phường, đất mà người bán hàng rong đang sinh sống là thuộc khu đất theo đối tượng sử dụng là hộ gia đình Tuy nhiên có những trường hợp khác không sinh sống tại phường nhưng lại buôn bán tại phường cũng rất nhiều vì thế những đối tượng này sẽ góp phần tích cực cho việc so sánh một cách chung nhất, tổng quát nhất về công việc của người bán hàng rong của như tỉ lệ giới tính đối với việc lựa chọn hình thức bán hàng

3 Dân cư

Theo báo cáo thống kê quý IV/2007 số liệu, tình hình về hộ khẩu và kết quả công tác của cảnh sát khu vực, công an viên phường Phú Thọ Hòa từ ngày 15/9 đến ngày 15/12/2007 tổng số hộ toàn phường là 8411 hộ, 40175 khẩu, 30323 người từ 15 tuổi trở lên, 20370 nữ Trong quý IV/2007 thì số nhân khẩu KT1 như

Trang 16

sau: 4659 hộ, 20495 khẩu, 14314 người từ 15 tuổi trở lên, 10373 nữ Số nhân khẩu KT2: 1550 hộ, 6422 khẩu, 4803 người từ 15 tuổi trở lên, 3285 nữ Số nhân khẩu KT3: 2201 hộ, 8596 khẩu, 6544 người từ 15 tuổi trở lên, 4286 nữ Số nhân khẩu KT4: 244 khẩu, 3 hssv, 244 người từ 15 tuổi trở lên, 124 nữ Người nước ngoài ở khu vực 1 hộ, 9 khẩu, 9 người từ 15 tuổi trở lên

4 Tình hình kinh tế của phường

Phường Phú Thọ Hòa là địa bàn trung tâm của quận Tân Phú, giá trị tổng sản lượng thực hiện cả năm 2004 là 34,445 tỷ đồng, đạt 114,8% kế hoạch năm Việc thu thuế, các quỹ vận động trong dân đều đạt và vượt chỉ tiêu trên giao và chi đúng theo quy định Thực hiện chủ trương của UBND Tp.HCM, nhằm tạo môi trường sống hợp vệ sinh phường đã phối hợp với ngành chức năng quận kiểm tra các đơn

vị sản xuất kinh doanh, công khai niêm yết các trường hợp phải di dời, tính đến nay gần 100% cơ sơ gây ô nhiễm môi trường hoàn thành việc chuyển đi nơi khác Chợ Tân Phú 2 (chợ Phường 18 cũ) đến nay đã được nâng cấp, sửa chữa với tổng kinh phí gần 2 tỷ đồng Thực hiện chỉ đạo của quận, phường đã hoàn thành các công trình phúc lợi công cộng như: sửa chữa nâng cấp trạm y tế, phối hợp xây dựng mới trường trung học cơ sở Lê Anh Xuân, xây dựng cơ sơ hạ tầng kĩ thuật phục vụ nhu cầu đời sống nhân dân… cho đến nay trên địa bàn phường đã đưa vào

sử dụng 14 tuyến đường với tổng chiều dài các tuyến là 4083,28m, kinh phí do ngân sách cấp là 15 tỷ đồng, 25 tuyến hẻm đã được sửa chữa nâng cấp với tổng chiều dài các hẻm là 2218m, kinh phí thực hiện 959 triệu đồng (trong đó người dân đóng góp 82%), trùng tu 4 tuyến đường với 100% vốn ngân sách là 2 tỷ 853 triệu đồng Công trình cải tạo tuyến Kênh Nước Đen với tổng kinh phí đầu tư 34,719 tỷ đồng trong đó chi kinh phí đền bù giải tỏa cho 30 hộ là 420 triệu đồng Đến nay trên địa bàn phường đã có 80% đường sá được bê-tông nhựa, tráng xi-măng, điện sinh hoạt đạt 100%, nước sinh hoạt thủy cục đạt 70% Nổi bật nhất là phong trào vận động nhân dân hiến đất làm đường, phường đã vận động người dân hiến 12515,4m2 đất với tổng số tiền ước tính khoảng 200 tỷ đồng Ngoài ra, số tiền về xây dựng các công trình kiến trúc khác trên đất của phường, nhân dân không đòi bồi thường (số tiền đó là gần 6 tỷ đồng) Tình hình trong những năm gần đây do lượng dân di cư ngày một tăng, họ vào đây tìm các phương thức mưu sinh để duy

Trang 17

trì cuộc sống, thì bán hàng rong là loại hình tiêu biểu nhất được lựa chọn của người

có trình độ văn hóa thấp Theo vị phó trưởng công an phường, di dân vào đây đa

số là làm những công việc như bán hàng rong, làm việc trong các xí nghiệp may tư nhân…

Trang 18

CHƯƠNG 2: ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI BÁN HÀNG RONG

DI CƯ ĐÔ THỊ

Giới thiệu

Từ biệt họ những con người lúc nào cũng khoác trên mình bộ quần áo mà người ta thường gọi là “đồ bộ” Sau những cái nhìn lạ lùng, mang vẻ xa lánh của người bán hàng rong khi chúng tôi xuất hiện trong “cộng đồng” của họ Tôi dùng thuật ngữ này thật đúng ý nghĩa vốn có của nó, vì ở đây có một không gian sinh hoạt chung của tất cả những người đang hành nghề bán hàng rong Họ cùng chung một nơi ở, cùng chung một hoàn cảnh sống, cùng làm một công việc, và đặc biệt

họ khép kín mình trong thế giới riêng tư Rời khỏi ngôi nhà ẩm thấp, chật hẹp, đôi phần tối tăm, bề bộn, điều mà chúng tôi ấn tượng nhất là bữa ăn của người bán hàng rong: mâm cơm của mẹ con Hải7 Mâm cơm có một bát nước canh bí xanh, một đĩa trên đó lỏng chỏng vài con cá khô đã được kho mặn, giữa đó là bát mắm ớt cay xè của người miền Trung “Các con ngồi xuống đây với mẹ con cô cho vui, không có gì đâu” mẹ của Hải mời chúng tôi ăn Ra về tôi không quên nói với Hải rằng, em hãy ghi lại một cách chân thực về cuộc sống nơi này cho chị Hải là một sinh viên của trường Đại học Tôn Đức Thắng, năm 2 - là con gái của một người bán hàng rong

Bài viết sau đây, tôi xin trích lại từ Hải, lời kể mang tâm sự của em vào lúc đêm khuya “khi mọi người trong nhà đi bán đã về, ngồi bên nhau cùng kể cho nhau nghe chuyện hôm nay mình bán ra sao, có gặp chuyện vui buồn hay bất trắc

mợ, mợ chỉ nói vài câu thanh minh họ đã đánh mơ Lúc đó, mợ đã khóc, khóc vì

làm cái nghề này bị người ta xem thường, có muốn cũng không thể làm gì vì đất

7 Nhân vật được chúng tôi thay đổi tên

Trang 19

Sài Gòn mà, bữa đó mợ về phải đi khám bệnh xem có bị gì không Còn mẹ tôi người đi bán sớm nhất mà cũng là người về muộn nhất kể: vào quán gặp những vị khách dễ tính thì không sao chứ gặp người khó tính thì họ nói này nói nọ Nào là hôm nay cút còn sống, chả nguội hay nhỏ quá, họ không mua, nhiều khi còn quát tháo nữa, mẹ chỉ lẳng lặng bước ra mà quẹt nước mắt lăn trên gò má Bà Bốn tiếp

vào lời mẹ nói: hôm trước bà đi bán nem gặp một toán thanh niên, bà mời họ mua hàng, họ giả vờ mua đưa ra tờ bạc 50.000đ bảo bà thối Bà vừa rút ví tiền ra, họ

giật chạy mất, lúc đó bà chỉ có khóc chứ có làm gì được đâu Bên cạnh đó cũng có những người khách thật tốt bụng, thấy người già cả họ thường mua hàng có khi còn cho thêm tiền …

* * * Lời kể của Hải đã gợi mở rất nhiều vấn đề cốt yếu liên quan đến cuộc sống của những con người đang làm công việc bán hàng rong Nhóm nghiên cứu của chúng

tôi đã quyết định thực hiện đề tài “Tìm Hiểu Đời Sống Của Người Bán Hàng Rong

Di Cư Đô Thị” Trong những tháng vừa qua chúng tôi đã liên tục có mặt ở thực địa

mà chủ yếu là địa bàn phường Phú Thọ Hòa - địa điểm lựa chọn nghiên cứu của chúng tôi

2.1 Phác họa chung về tình hình của người bán hàng rong

Những người quê Quảng Ngãi mà chúng tôi tiếp cận được sống thành những nhóm nhỏ với nhau (3 nhóm), nhóm đông nhất 15 người dưới sự “quản lí” của Bác Huần Nhóm thứ 2 có 10 người dưới sự quản lí của chú Hà, nhóm còn lại có 5 người nhưng chúng tôi chỉ lập bản hỏi cho một người Những người quản lí nói trên – cũng là người đứng ra làm giấy đăng tạm trú tạm vắng cho mọi người Điều mà nhóm nghiên cứu của chúng tôi phát hiện được khi lần đầu tiếp cận

với người quản lí của các nhóm khi tôi đặt câu hỏi: “nhóm của chú có bao nhiêu người bán loại hàng này?” Là họ rất e dè, người ta hỏi lại tôi rằng: “cô là người của phường phái tới hả?” Một phân vân trong đầu nhà nghiên cứu là tại sao ông

chủ lại hỏi tôi như thế? Phải chăng, ở đây có điều gì không minh bạch? Khi cuộc nói chuyện dần trở nên thân thiện hơn giữa nhà nghiên cứu với đối tượng mình đang tiếp xúc thì sự phân vân của tôi được minh bạch khi đối tượng cho biết:

Trang 20

Những người già cả, ở ngoài quê khi vào thành phố với lí do già rồi nên khi vào trong này họ không xin giấy tạm vắng của chính quyền địa phương, mà không có giấy tạm vắng thì sao xin được giấy tạm trú; vì thế họ sợ tôi là người của phường tới kiểm tra

Tình trạng cư trú hiện nay

Nguồn thống kê của nhóm thực hiện

(Missing: lỗi số người không trả lời, ở đây là 5)

Nguồn thống kê của nhóm thực hiện

Trong tổng số 40 đối tượng mà chúng tôi tiếp cận thì 35 người có đăng kí tạm trú, trong đó số người quê Quảng Ngãi là 26 người chiếm 65%, số người quê Hà Tây là 10 người chiếm 25%, Còn lại 4 người chia đều cho hai tỉnh Nam Định và

Hà Nam

2.1.1 Lí do di cư

Những người nông dân quyết định xuất cư từ quê hương gốc nông thôn ra thành phố mang một tâm lí tin tưởng, tại nơi ở mới họ sẽ tìm được việc làm tốt hơn, cuộc sống của họ sẽ được cải thiện khá hơn, nhiều thuận lợi hơn và họ có thể kiếm tiền gởi về quê nuôi con ăn học, phụ giúp cha mẹ, giúp gia đình giải quyết cảnh khó khăn nghèo túng Một tâm lí khác nữa là họ sẽ nhận được sự trợ giúp về

Trang 21

mặt vật chất và tinh thần, những khích lệ động viên hỗ trợ về nhiều mặt của cha

mẹ, của những người láng giềng, những người đồng hương nhập cư đã lâu và đang

có cuộc sống và việc làm tương đối ổn định tại thành phố

Vấn đề này được chúng tôi đặt ra, khi thực hiện phỏng vấn sâu cô Thủy, cô

Đào và cô Vui “Vì sao cô lại vào trong này làm ăn xa như vậy?”, “Ngoài quê không có tiền nên phải đi làm, không có việc làm, đất chật người đông, ruộng thì

có 6 miếng ruộng; 5 người, mới có một đứa con có ruộng; hai vợ chồng với hai đứa con mà có sào 2 ruộng mà mỗi một vụ phải trả 220.000đ tiền sản phẩm rồi”

(phỏng vấn cô Đào - quê Nam Định, bán khoai chiên, chuối chiên) Cuộc sống thôn quê đầy những chật vật, khó khăn mà dân số ngày một tăng mà đất thì không

đẻ ra, rồi thời tiết bão lụt, mất mùa: “Hồi 3 vụ, chứ giờ hết rồi, bây giờ hai vụ, nhưng mà có lần mất mùa, không có lúa” “Mất mùa không có lúa cắt luôn á! Hồi mưa gió bão, như mùa này thì không có gì hết” (phỏng vấn cô Thủy quê Quảng

Nguồn thống kê của nhóm thực hiện

Qua bảng ta thấy được trong 40 trường hợp thì có 25 người là bán các mặt hàng như bánh tráng, đậu phộng, xoài, trứng cút… chiếm 62,5%, có 10 trường hợp bán bắp luộc chiếm 25%; 2 người bán khoai chiên tương đương với tỉ lệ 5%; ba trường hợp bán các mặt hàng khác Vì lí do bản hỏi không thể liệt kê được hết các mặt hàng Tuy thế chúng tôi cũng đã có cuộc nói chuyện với những người này như một cuộc phỏng vấn thực sự và được biết, một người quê Hà Tây bán hột vịt lộn, một người quê Hà Nam bán băng đĩa (mà trước kia người này cũng đã từng bán bắp

luộc, với lí do công việc bán bắp luộc “cực quá thức đêm, vất vả lắm”! Nên đã

chuyển sang bán băng đĩa) và một người chuyên bán nem, chả cho các quán nhậu

Trang 22

Quê quán và Công việc hiện nay Công việc hiện nay cụ thể của cô/bác làgì?

Quê quán

Bán các loại hàng bánh tráng, đậu phộng, xoài, trứng cút…

Bắp luộc Bán khoai

chiên

Mặt hàng khác

Tổng cộng

Nguồn thống kê của nhóm thực hiện

Điều nhận thấy được thông qua bản số liệu trên đó là sự khác biệt về quê quán thì dẫn đến tương ứng theo nó là sự khác biệt về việc lựa chọn mặt hàng để bán Kết hợp bản hỏi và phỏng vấn đối tượng chúng tôi thấy rằng: tất cả những người quê Quảng Ngãi đều bán một mặt hàng, bánh tráng, đậu phộng, trứng cút, nem chả, xoài, sơ-ri… Một ông chủ đứng ra lấy hàng về phân phối lại cho những người bán hàng rong này, ông chủ chính là người quản lí, vào thành phố trước Theo lời của một người bán hàng rong đã được chúng tôi phỏng vấn sâu (cô Thủy) nói:

“Ông đi vô trước, rồi cô vô sau, ông dẫn đi một xe người vô, xuống Bến xe Miền Đông rồi vô đây”

Những người quê Hà Tây thì lại bán Bắp luộc với 8 trường hợp theo thống kê của bản hỏi và thông tin từ chính đối tượng chúng tôi lập bản hỏi này đây không phải là nhóm duy nhất ở phường bán bắp luộc Một nhóm khác với số lượng đông hơn khoảng trên 40 người mà đa số quê ở Hà Tây, không thể bỏ qua thông tin này

và chúng tôi ngay lập tức tìm hiểu về nhóm này Như vậy có thể nhận định một điều rằng cũng giống như nhóm của những người quê Quảng Ngãi thì người bán bắp luộc này cũng có một mạng lưới xã hội của mình – cụ thể ở đây là những người họ hàng thân quen ở ngoài quê, khi một người vào thành phố làm ăn, công việc xuôi chèo theo ý muốn họ về quê đưa người thân, họ hàng của mình vào làm

ăn

Bán hàng rong – một phương thức mưu sinh của người nhập cư có trình độ học vấn không cao

Trang 23

Nguồn thống kê của nhóm thực hiện

Qua bản hỏi ta thấy được; có 12 trường hợp người bán hàng rong có trình độ học vấn lớp 5, chiếm tỉ lệ 30%, có 6 trường hợp chỉ học đến lớp 2 chiếm tỉ lệ tương thích là 15%; 5 trường hợp học tới lớp 6, chiếm tỉ lệ 12,5%; 3 trường hợp học lớp 1, chiếm 7,5% Như vậy, công việc bán hàng rong là sự lựa chọn của những người có trình độ học vấn không cao

Bán hàng rong không có sự phân biệt về tuổi tác nhưng có sự phân biệt về giới tính

Tuổi và giới tính của người bán hàng rong

Giới tính Tuổi

Tổng cộng

Nguồn thống kê của nhóm thực hiện

Bảng số liệu cho chúng ta thấy những người bán hàng rong ở lứa tuổi nào cũng có (người thấp nhất là 20 tuổi, người ở độ tuổi cao nhất là 68 tuổi) Theo quy định của nhà nước phụ nữ từ 55 tuổi trở lên đã bước qua tuổi lao đọng, tuy vậy có

5 trường hợp ngoài độ tuổi lao động vẫn hàng ngày làm việc và thời gian làm trên

Trang 24

ngày cũng không hề kém cạnh những người khác Tuy nhiên, lại có sự phân biệt về giới trong công việc bán hàng rong Kết hợp với phỏng vấn sâu tại nhóm những người bán bánh tráng quê Quảng Ngãi thì chỉ có một người nam bán hàng đó là con rể của ông quản lí, nhưng người này không phải bán tất cả những mặt hàng như những người cùng quê với mình mà anh ta chỉ bán nem, chả, ché và đa số là

đổ buôn cho các quán nhậu

Còn đối với những người bán bắp luộc thì không có sự phân biệt về giới tính mạnh mẽ, số lượng người bán được chia đều cho cả nam và nữ Như vậy xét trên bình diện chung có sự khác biệt giới trong việc bán hàng rong nhưng sự khác biệt này chỉ diễn ra trong giới hạn mặt hàng bán

Nhận xét này được chúng tôi xét trên nhiều mặt hàng bán như: băng đĩa, bắp luộc, những người bán kính, móc đeo chìa khóa, trái cây, hủ tiếu, cháo, vé số, bán báo… đều có sự quân bình nhất định về số lượng nam và nữ

Xin cho biết thông tin về nơi ở hiện nay

Nguồn thống kê của nhóm thực hiện

Bản số liệu trên cho chúng ta thông tin về nơi cư trú của người bán hàng rong; 12 trường hợp cho thông tin ở phòng trọ riêng, 28 trường hợp thông tin ở

phòng trọ chung

Nhóm người mà chúng tôi thực hiện nghiên cứu thuộc hai dạng cư trú phòng trọ chung và phòng trọ riêng Nhưng ranh giới giữa riêng và chung chỉ là hình thức tương đối Đứng trên bình diện chung nhất nếu phòng trọ chung là tất cả mọi người cùng sống chung dưới một mái nhà, sử dụng tập thể các công trình vệ sinh, nhà tắm, bếp… thì những ngưới bán bắp luộc (tất cả họ cho rằng mình đang

ở phòng trọ riêng bởi vì họ vào đây là cả vợ lẫn chồng), mỗi cặp vợ chồng là một gian phòng riêng, nhưng nhà tắm, nhà vệ sinh, sử dụng điện nước… lại là sử dụng chung Thậm chí, hai trường hợp bán khoai chiên, cũng di cư cả vợ chồng

Trang 25

vào Chồng của hai trường hợp này đều chạy xe ba-gác, họ cũng dùng phòng trọ chung về, điện nước, nhà vệ sinh…

Những người di cư vào thành phố là họ đã tìm được cho mình một công việc nhất định, nếu có mất thời gian để tìm việc thì không đáng kể Trên bình diện chung họ phải có một mạng lưới xã hội, vì chỉ khi có điều kiện này thì mức độ nhanh chóng có công việc làm luôn là rất cao Đối với họ mạng lưới xã hội chính

là những người họ hàng, làng xóm thân quen vào thành phố trước Khi công việc được xuôi chèo mát mái, họ trở lại quê đưa thêm người vào làm Việc đưa thêm người này không phải một sớm một chiều với một số đông Đó là sự tích lũy dần sau nhiều lần về quê của ông chủ

Khi người quản lí đưa người bà con, họ hàng của mình vào trong này, thì họ phải có trách nhiệm lo nhà ở, công việc làm, tập hợp giấy tờ tùy thân của từng người và mang tới chính quyền địa phương làm giấy tạm trú cho họ… Tất cả những con người này được sinh sống như một cộng đồng thu nhỏ, khép kín Có khi

là 14, 15 người có khi là trên hai ba chục người Đại đa số họ đều là những người

bà con, hàng xóm của nhau từ ngoài quê Phải chăng ở đây yếu tố văn hóa của cộng đồng làng xã người Việt từ xưa vẫn được các nhóm di cư này gìn giữ thông qua một hình thức mới, một cách thức mới và đặc biệt là tại môi trường mới đô thị? Điều đó được thể hiện rõ ràng, chi tiết hơn khi chúng tôi thực hành quan sát tham dự tại cống đồng Tất cả họ đùm bọc nhau, che chở cho nhau, có khi người này thiếu tiền không có tiền để trả cho bà chủ thì họ sẵn sàng nhường cơm, sẻ áo, chia sẻ cho nhau, đồng cam cộng khổ Yếu tố khép kín của văn hóa làng xã cũng phần nào tái hiện tại cộng đồng di cư vào thành phố này: một ngôi nhà chung, một phong cách sinh hoạt chung, một cuộc sống tách biệt với những người hàng xóm

thành thị Điều này được thể hiện nếu chúng ta đứng trên bình diện của tính chất

công việc bán hàng rong, khi hoạt động chủ yếu của họ là về đêm (từ 3 giờ chiều tời 3 giờ sáng) - khoảng thời gian của nghỉ ngơi của mọi người, thì họ lại bươn chải khắp đường cùng ngõ hẻm của các con phố, từ các quán nhậu lớn cho tới quán lẩu bình dân! Hơn thế nữa, sức ép của công việc làm cho họ không có thời gian để tạo thêm cho mình những mối quan hệ xóm giềng nơi đô thị Sức ép đó là làm sao ngày phải bán hàng thật nhiều, bằng không hôm đó không có ăn, không có tiền nộp

Trang 26

cho bà chủ, để hôm sau lấy hàng đi bán Thêm nữa, với tâm thế của người di cư

vào thành phố kiếm việc làm, kiếm tiền để gửi về quê nuôi con ăn học, chăm sóc cha mẹ già, họ có một vai trò, trọng trách rất lớn đối với những người ngoài quê Chính từ yếu tố này, mà họ kềm nén mình trong chi tiêu, từ không dám chi tiêu ngay cho cả bữa ăn của mình, liệu rằng họ có dám chi tiền cho các hoạt động giả trí không?

2.1.3 Điều kiện ăn, ở

Tiền ở mỗi tháng bao nhiêu?

Nguồn thống kê của nhóm thực hiện

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu trên 4 nhóm, trong đó có ba nhóm quê Quảng Ngãi, một nhóm quê Hà Tây, và hai trường hợp quê Nam Định Ba nhóm quê Quảng Ngãi thuê nhà đứng dưới tên ông chủ Nhóm thứ nhất mỗi người phải nộp cho người quản lí mình 90.000/tháng (tương đương với mỗi ngày 3000 đồng).Nhóm thứ hai thì chịu ít hơn vì ông chủ thuê được nhà rẻ (1,5 triệu/tháng) Nhóm người Quảng Ngãi thứ 3 vì lí do chúng tôi tiếp cận họ muộn hơn hai nhóm đầu nên việc thu thập thông tin từ họ gặp nhiều khó khăn hơn, nhóm này phải đưa cho người quản lí của mình số tiền hàng tháng là 100.000 đồng Nhóm của những người bán bắp luộc, vì lí do ở riêng, mỗi cặp vợ chồng thuê riêng một gian phòng Một tháng mỗi người nộp tiền nhà là 200.000 đồng Hai trường hợp còn lại bán chuối chiên, khoai chiên mỗi cặp vợ chồng phải chi tiền nhà 300.000 đồng/tháng Nhưng nhóm người Quảng Ngãi đầu tiên mà chúng tôi nói ở trên, trong quá trình nghiên cứu, khi chúng tôi đang đi đến giai đoạn kết thúc việc nghiên cứu tại thực địa thì họ phải nhận thông tin trả lại nhà cho bà chủ (với lí do cho người khác

Trang 27

thuê với giá cao hơn và chê những người bán hàng rong này bày bẩn nhà của bà - thông tin từ người quản lí nhóm) Sức ép nhà ở khiến nhóm những người này buồn rầu, lo lắng Một không khí u ám khi chúng tôi có mặt tại thực địa vào những ngày

áp chót phải trả lại nhà.“Hôm nay có hỏi bà cũng không trả lời đâu”- một người

bán hàng rong nói với tôi như vậy Cảm nhận ngay được không khí này, điều đó không lấy gì là có kết quả cho các cuộc phỏng vấn với những câu hỏi đã được lịch trình sẵn của chúng tôi Chúng tôi biết rằng đây cũng có thể là một cơ hội tốt cho nhà nghiên cứu tiếp cận đa dạng hơn về những hành động của họ, tâm tư họ như thế nào? Nhưng quả thực để đi được cho tới cặn kẽ của vấn đề này thì quá sức đối với chúng tôi!

Việc tìm nhà của nhóm này thật gian nan, gay cấn Có những lúc các cuộc nói chuyện điện thoại của ông chủ với người con rể (cũng vào trong này bán hàng rong, nhưng hiện tại đang đi tìm nhà ở) trở thành một cuộc tranh cãi không đi tới hồi có kết quả cho việc tìm đường nơi có chỗ cho thuê nhà Chiếc điện thoại tắt, khuôn mặt nặng nề của người quản lí khiến cho ngôi nhà im ắng Tính cộng đồng, làng xóm được thể hiện mạnh mẽ là khi chính những người bán hàng rong cũng tham gia vào công việc tìm nhà Họ sôi nổi kể lể những ngôi nhà đang bỏ trống, chưa có người thuê mà trên đường đi làm họ phát hiện ra Người sôi nổi nhất trong

số họ, có lẽ là mẹ của Hải, cũng là em gái của người quản lí

Mỗi người một góc nhà với tâm trạng buồn lo chẳng ai buồn nói chuyện với ai Những giải pháp của người bán hàng rong được đưa ra khi mà ngày trả nhà đã tới nhưng họ vẫn chưa tìm được nhà: có những cách giải quyết được đưa ra khi chưa tìm được nhà, những người già thì cho biết họ sẽ về quê, còn một số trường hợp khác thì tá túc tạm thời ở nhà người quen (người quen này là ai? Họ cho rằng, có thể là những người cùng quê vào đây cùng đi làm công việc này, hiện tại là đang ở nhóm khác!) Còn phương án mà người quản lí đưa ra; sẽ đưa mọi nguời ra đường

ở nếu như tình trạng này không lấy gì là tiến triển Vợ người quản lí tâm sự với chúng tôi rằng: nhiều khi hai vợ chồng suy nghĩ nhiều lắm chứ, tháng vừa qua họ

đã phải chịu lỗ cả triệu, khi bà chủ cho thuê nhà đòi trả nhà (điều đó bắt buộc họ phải trả thêm tiền thuê nhà thì mới được cho ở tiếp), nhưng họ cũng không tăng giá nhà ở đối với mỗi người bán hàng rong mà chịu lỗ một mình, họ còn cho chúng tôi

Trang 28

biết rằng chịu thiệt như vậy một vài tháng thì được nếu như vẫn có nhà để ở, họ tình nguyện chịu thiệt

Sự có mặt vào thời điểm này của chúng tôi; tôi có cảm giác mình đang lạc lõng giữa môi trường thực địa của chính mình, mình chưa có cách gì để đối phó với khó khăn xảy ra ngoài sự tưởng tượng trước của nhà nghiên cứu Những câu hỏi thì muốn đặt ra nhưng đối tượng thì đâu có tâm trạng để trả lời Và những khó khăn tại thực địa khi mới xảy ra nằm ngoài sự chuẩn bị của nhà nghiên cứu, nó là điều tất nhiên khi chúng ta quyết định làm việc tại cộng đồng người nào đó Ở đó sẽ luôn xảy ra những tình huống bất ngờ mà nhà nghiên cứu không lường trước được

Để không bị mất đối tượng nghiên cứu mặc dù các bản hỏi và cuộc phỏng vấn sâu chúng tôi đã thực hiện Tôi luôn luôn gọi điện tới Hải (trường hợp tôi đưa ở mục giới thiệu) xem mọi người đã chuyển nhà chưa? Ngôi nhà mà họ mới tìm được cũng chẳng lấy gì là khác so với nơi ở cũ tuy có rộng hơn về mặt không gian đâu đó vẫn thấy được sự bối rối, bấp bênh của cuộc sống người bán hàng rong Mỗi tháng phải trả hơn 4 triệu tiền thuê nhà (vợ người quản lí cho biết) và những người bán hàng rong phải đưa cho người quản lí của mình một ngày là 5000 đồng (so với ngôi nhà trước chỉ có 3000 đồng)

Nhà ở phải là một cái gì hơn che mưa nắng tức là phải có một kết cấu mang thuộc tính của nơi cư trú Hai là có những điều kiện đủ để sử dụng những tiện nghi cung ứng chung cho mọi người trong cộng đồng Ba là bảo đảm những quyền lợi pháp lí cho mọi người sử dụng Bốn là có khung cảnh lân cận thích hợp8

Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu nghèo ngày một tăng, vấn đề nhà ở cho người nghèo người thu nhập thấp càng trở nên bức bách Những khu nhà ổ chuột luôn bị bao vây bởi những hàng rào xã hội và kinh tế lúc nào cũng khống chế cuộc sống của họ Nhà ở quá chật hẹp tồi tàn vừa ảnh hưởng xấu tới sức khỏe, vừa tác động bất lợi đến đời sống tâm lí và xã hội của người nghèo

Nơi ngủ nghỉ, nhà bếp, nhà vệ sinh nhà tắm như thế nào?

8 (2004) Trịnh Duy Luân, Xã Hội Học Đô Thị, nxb KHXH, tr.55

Trang 29

Chật hẹp, tối tăm, thiếu thốn 23 57.5

Nguồn thống kê của nhóm thực hiện

Qua bảng số liệu trên là sự tự đánh giá của người bán hàng rong về nơi ở của mình Tuy rằng cùng một nơi ơ, nhưng sự tự đánh giá của mỗi người lại khác nhau; 23 trường hợp cho rằng nơi ngủ nghỉ, nhà bếp, nhà vệ sinh, nhà tắm là chật hẹp tối tăm, thiếu thốn chiếm tỉ lệ 57,5%; 14 trường hợp đánh giá là trung bình chiếm tỉ lệ 35% Chỉ có một trường hợp thỏa mãn khi đánh giá rộng rãi, thoải mái,

đủ sáng

Vào đầu những năm 70, khái niệm phi chính thức mới được đề cập đến trong các tài liệu của tổ chức Lao động quốc tế (ILO)

Khái niệm khu vực phi chính thức (phi quan phương) hay nền kinh tế phi chính thức là những khái niệm luôn là sự tranh cãi của nhiều người nhưng vẫn chưa đi đến một khái niệm cụ thể chung nhất cho nó

Người ta không nhất trí với nhau về định nghĩa khu vực phi chính thức hay nền kinh tế phi chính thức như đôi khi người ta vẫn gọi như thế9 có thể là vì các hoạt động thuộc phạm trù “kinh tế phi chính thức” là rất đa dạng, tính chất khác nhau khá phức tạp …

Một số nhà bình luận chú trọng vào khuôn khổ tổ chức mà trong đó các công ty (hay người lao động) hoạt động và tạo ra những đặc điểm định nghĩa cho khu vực phi chính thức Những người khác thì nhắc đến tình trạng thiếu vắng sự bảo vệ chính thức của xã hội dành cho người lao động Hart xem đó là một hệ thống các chiến lược tiến bộ của cá nhân hay hộ gia đình10

Trang 30

Tổ chức Lao động quốc tế cũng đã đưa ra một quam niệm về Kinh tế phi chính thức mà các nhà khoa học thường bàn đến, quan niệm này cho rằng: kinh tế phi chính thức là những hoạt động kinh tế tự do của cá nhân hay hộ gia đình đối với những người không có khả năng hoặc không có điều kiện tham gia khu vực kinh tế chính thức

Đặc điểm của hoạt động phi chính thức là dễ tham gia, dễ thay đổi, tay nghề và vốn không cao, cơ sở doanh nghiệp là của gia đình, thâm dụng lao động, quy mô nhỏ bé, trang thiết bị thô sơ, công nghệ lạc hậu, năng suất và thu nhập thấp11 Với quan niệm như trên, hoạt động kinh tế phi chính thức có thể xem là hoạt động kinh tế của người nghèo, của những người ít vốn làm ăn Bối cảnh của kinh

tế Việt Nam hiện nay thì quan niệm về kinh tế phi chính thức được hình thành và

có sự phân biệt kinh tế phi chính thức với các loại hình kinh tế mà luật pháp không cho phép (buôn lậu, mại dâm, trốn thuế…) Khu vực kinh tế phi chính thức bao gồm những hoạt động mang tính sản xuất nhưng không đồng nhất là những hoạt động kinh doanh nhỏ bé, phương tiện thô sơ, vốn ít, lao động cơ bắp là chính, năng suất kém, sản phẩm hoặc dịch vụ có giá cả và chất lượng thấp… là những hoạt động mà Nhà nước chưa quan tâm nhiều trong các chính sách phát triển kinh tế Khu vực kinh tế phi chính thức bao gồm những hoạt động mưu sinh không đăng kí kinh doanh, không đóng thuế (nếu có chỉ đóng một khoản lệ phí nhất định nào đó) Các hoạt động kinh tế phi chính thức:

Buôn bán, dịch vụ ở vỉa hè, nơi công cộng

Buôn bán ở chợ nhưng không có sạp

Xe thồ, xích lô, ba gác, xe ôm

Bán rong

May gia công

Làm thuê, làm mướn: làm việc theo công nhật hoặc theo yêu cầu của các hộ gia

Nguyễn Quốc Việt,bài viết Vấn đề người nghèo trong khu vực kinh tế phi chính thức ở thành phố Hồ Chí

Minh,trong công trình(2001) của Nguyền Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễn Quang Vinh, Vấn đề giảm

nghèo trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh, Nxb KHXH,tr.287

Trang 31

hay làm việc theo “thời vụ”), có thể còn có một số ngành khác mà tác giả chưa liệt

kê được

Tác động của di cư đối với bản thân nguời di cư, trong bối cảnh nông thôn, người dân cần có được lựa chọn để di cư vì các điều kiện tác động của thời buổi kinh tế thị trường dường như là không ổn định và sự tồn tại của các gia đình gắn liền với nguồn sinh kế Các tác động của di cư đối với sinh kế phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau như tài sản sẵn có, cơ cấu xã hội, thể chế, thời gian xa nhà, mùa

di cư và thu nhập tiền mặt (Guilmoto 1998) Vấn đề sinh kế đã được quyết định rất nhiều bởi cơ cấu gia đình, tình trạng kinh tế và giới của người di cư (Chant 1998) Đặc tính của người di cư khá chọn lọc và có thể hoặc dẫn tới việc xem di cư như một sự lựa chọn cho sinh kế Ở Việt Nam, người di cư từ nông thôn thường sử dụng mạng lưới quan hệ họ hàng để tìm việc làm Vì vậy, người di cư không có học vấn hoặc không có các mối quan hệ trên thành phố sẽ gặp rất nhiều bất trắc ở nơi họ chuyển đến

Các khó khăn mà người bán hàng rong có thể gặp phải đó là vấn đề sức khỏe, bởi vì xu hướng sống tập trung của người di cư tại các khu vực thường thiếu nước, thiếu các điều kiện vệ sinh, rồi khó khăn trong việc làm, những bất trắc khi tham gia giao thông, khi làm việc ban đêm, những rủi ro khi mùa mưa tới…

Như đã nói ở trên đối với những người nhập cư từ Quảng Ngãi thì mặt hàng bán chủ yếu của họ là: Bánh tráng, đậu phộng, trứng cút, nem, chả, xoài, sơ-ri…

“Bà chủ, bà luộc cút, bỏ cút vô, bỏ muối, xả xoài, bỏ sơ-ri vô đi bán, chuẩn bị hàng, cân đậu, bỏ đậu lon, bắt đầu cô đi bán, bà chủ nướng bánh tráng, bà chất vô bịch rồi mình đi Mình bán bao nhiêu tùy theo sức của mình, ví dụ như hai chục cái thì lấy hai chục cái”, “đi bán này sáng mình ngủ dậy sớm đi mua trái cây, sơ-

ri với xoài Còn đồ kia bà chủ bà bỏ, bà chủ bà bỏ cho mình, mình chỉ lo làm, sáng mai dậy sớm nấu cơm ăn, rồi làm hàng Rồi cô đi miết, trông cho bán mau mắn, bán hết thì nó nhẹ Có hồi ế, bán không hết, không có tiền nộp tiền hàng cho bà chủ” (phỏng vấn cô Thủy-quê Quảng Ngãi) Những mặt hàng này là do người

quản lí đi lấy ở Hóc-môn, Bà Chiểu, Tây Ninh rồi để lại cho mọi người Tiền vốn hàng ngày của mỗi người từ 100 – 200 ngàn đồng Buổi sáng những người quê Quảng Ngãi dậy từ 6 giờ sáng chuẩn bị hàng tới 9 giờ họ bắt đầu đi nấu cơm Mỗi

Trang 32

người một niêu cơm, một cái bếp dầu và đương nhiên là một “mâm cơm một mình” Các bà già sau bữa ăn thì nghỉ ngơi 1 giờ đồng hồ, sau đó dậy đi bán hàng

Còn những người trẻ tuổi hơn sau bữa ăn mỗi người một chiếc mủng cắp bên hông trong đó là những bịch đậu phộng rang nhỏ được cột lại vời nhau thành chùm khoảng hai ba mươi bịch, một chùm những túi xoài đã được cắt sẵn, chùm ché, nem, chả, trứng cút, và đương nhiên là một vài điếu xì-gà sữa nữa, vài bịch cơm cháy Còn bên tay kia là bịch bánh tráng nướng Bánh tráng nướng có hai loại, bánh tráng có bỏ mè và bánh tráng tôm! Một nụ cười nở trên khuôn mặt rám nắng khi họ bước ra khỏi “cộng đồng” bắt đầu một ngày bươn trải trên đường phố, bên quán nhậu, trên vỉa hè Từ đây, phường Phú Thọ Hòa họ có thể rong ruổi khắp mọi nơi đường cùng ngõ hẻm của thành phố, có những người lên tận Bến Cát, Tuy Phước (Bình Dương), có những người hàng ngày vẫn có mặt trên Bờ kênh Nhiêu Lộc, tới Bình Trị Đông… Nhưng có những người vì lí do sức khỏe và già cả hàng ngày đi bán trên những tuyến đường gần nhà như Nguyễn Sơn, Văn Cao, Thoại Ngọc Hầu, Vườn Lài, Phú Thọ Hòa Nhưng, tất cả không ai có mặt ở nhà trước 12 giờ khuya, thậm chí có những người tới hai, ba giờ sáng mới về tới nhà

Nếu những người bán bánh tráng, đậu phộng nói chung đi tới đêm khuya mới

về thì những người bán bắp luộc cũng không thua kém gì về tần suất làm việc mỗi ngày Họ thức dậy vào lúc 6 giờ sáng sau bốn tiếng ngủ và bắt đầu chuẩn bị luộc bắp Còn những người khác thì bán thêm khoai lang, khoai mì kèm với bắp luộc, bắp nấu, bắp xào Sau khi công việc chuẩn bị xong xuôi cũng đã quá trưa Những người bán hàng dành cho mình 2 tiếng cho bữa ăn và nghỉ ngơi Tới hai, ba giờ chiều họ xuất hành từng đoàn, từng đoàn kéo dài, nối đuôi nhau, sau đó ngả ra từng đường, rẽ đi tứ phương

Thời gian làm việc và thời điểm làm việc

Làm việc vào những thời điểm nào?

Sáng và tối

Sáng, chiều

và tối

Tổng cộng

Trang 33

Nguồn thống kê của nhóm thực hiện

Bảng số liệu trên thể hiện sự tương quan giữa thời gian và thời điểm làm việc:

có 18 trường hợp làm trên 8 tiếng đồng hồ trong cả ba buổi sáng, chiều và tối; trong khi đó có 13 trường hợp cũng làm trên 8 tiếng đồng hồ một ngày vào hai buổi chiều và tối; chỉ có một trường hợp làm việc 8 tiếng một ngày Mức độ và tần suất làm việc của người bán hàng rong là rất cao nếu đứng trên bình diện giờ hành

chính của các cơ quan khác

Bên cạnh đó còn những trường hợp chúng tôi không thể lập bản hỏi, tuy vậy chúng tôi cũng biết được thời gian làm việc của họ cũng tương thích với nhóm người mà chúng tôi lập bản hỏi (vì những người chúng tôi lập bản hỏi đều quen biết vơí họ, từ đây chúng tôi có thêm thông tin về những người khác) Có những người làm việc 29 ngày/tháng còn lại đa số là 26 ngày

Tuy nhiên điều thiếu sót trong bản hỏi của chúng tôi là không đưa lên được yếu

tố làm việc về đêm của những người bán hàng rong và thực tế cho thấy rằng công việc chủ yếu của họ là hoạt động về đêm: từ 3 giờ chiều đến 3 giờ khuya

2.2 Khó khăn của người bán hàng rong

2.2.1 Thiếu ngủ một thực trạng của người bán hàng rong

Thời gian làm việc là chừng đó thời gian vậy thì trung bình những người bán hàng rong ngủ bao nhiêu tiếng?

Một ngày cô/bác có bao nhiêu tiếng để nghỉ ngơi?

Nguồn thống kê của nhóm thực hiện

Qua bảng hỏi trung bình thường thời gian nghỉ ngơi của người bán hàng rong là: 35 trường hợp có thời gian nghỉ 5 tiếng đồng hồ chiếm 85%; 1 trường hợp nghỉ

Trang 34

ngơi 4 tiếng; 2 trường hợp nghỉ được 6 tiếng Qua phỏng vấn sâu có người chỉ ngủ được 3 tiếng đồng hồ mỗi ngày, đặc biệt là ở nhóm người Quảng Ngãi dưới sự quản lí của chú Hà, thì buổi sáng họ đi bán thêm cả báo tới 11, 12 giờ trưa mới về, sau đó chuẩn bị hàng chiều 3,4 giờ bán hàng bánh tráng

Cuộc sống, công việc của người bán hàng rong là gắn liền với tuyến đường bộ Nhưng liệu rằng với cơ sở hạ tầng đường bộ hiện nay thì sự an toàn cho người bán

hàng rong có được bảo đảm không?

Đường bộ là đường sống của thành thị, cũng là đường sống của người bán hàng rong Nhưng hiện nay số lượng phương tiện giao thông tăng quá nhanh đặc biệt là

xe gắn máy và ôtô đã làm cho thành phố trở nên quá tải Tình trạng phóng nhanh vượt ẩu của các tài xế luôn là mối đe dọa thường trực đối với người bán hàng rong Mỗi ngày đi bán là mỗi ngày Nguời bán hàng rong đối mặt với “tử thần tai nạn giao thông” Khi tôi đặt câu hỏi trong cuộc phỏng vấn sâu có ghi âm cô Vui quê

Nam Định; “đi bán vậy có sợ tai nạn giao thông không?”, “Sợ chứ (mẹ) chỉ sợ xe tải, xe hàng nó đụng vô, cứ phải đi sát vào mé, mình biết cái xe của mình nó ấy, mình cứ phải đi sát vào mé đó, chứ mình chẳng ấy Nhiều người mắc dịch họ đi cù quắp, cù quăm nó mới đụng vào mình được” Đối tượng phỏng vấn mà tôi nêu trên

vẫn còn nói đặc phương ngữ của vùng quê mình như: trong câu nói của họ vẫn đệm thêm từ “mẹ” (mẹ ở đây không có nghĩa là từ chỉ đấng sinh thành mà có thể tạm hiểu như mang ý chửi hoặc đả kích vấn đề mà mình không thích, có thể nó tương ứng với cụm từ “mẹ nó chứ”) hoặc từ “ấy” cũng không có được rõ nghĩa trong câu nói trên Nhưng do nguyên tắc về việc trích dẫn nên chúng tôi phải đưa nguyên văn câu trả lời của đối tượng

2.2.2 Người bán hàng rong là những nguời nghèo

Theo tài liệu của Cục Thống Kê thành phố Hồ Chí Minh năm 2006 về thu nhập bình quân một nhân khẩu trên tháng toàn thành phố, chia thành 5 nhóm

Trang 35

Đồng tiền thu nhập một ngày của người bán hàng rong liệu có đủ trang trải cho một nhu cầu sống thiết yếu nhất không? Thông qua các cuộc phỏng vấn sâu và bản hỏi chúng tôi được biết rằng, số lượng hàng bán được mỗi ngày sẽ tương thích với thu nhập – là điều hiển nhiên nhưng vì mang tính chất may rủi trong kinh doanh (bán hàng rong - một hình thức kinh doanh) cho nên sự may rủi là vấn đề không thể loại ra Tuy rằng mức độ may rủi là không đáng kể vì đồng vốn kinh doanh là thấp (200.000 đồng) nhưng đối với chính những người này đó lại là cả việc ăn, ở sinh họat cho một ngày… Nếu rủi ro cao thì họ sẽ không có thu nhập trong ngày

đó, dẫn đến không có tiền nộp cho bà chủ, không có cái để ăn trong ngày và bắt buộc phải cố gắng làm việc cao hơn nữa trong những ngày tiếp theo Phải chăng điều này đã cho chúng ta thấy tình trạng bấp bênh của việc làm để nói lên cuộc sống bấp bênh của người bán hàng rong

Thu nhập và chi tiêu trung bình môt tháng

Chi tiêu Thu nhập/tháng

Nguồn thống kê của nhóm thực hiện

Qua bảng số liệu, có hai trường hợp không cho chúng tôi thông tin về thu nhập của mình Khi nói về vấn đề thu nhập của đối tượng chúng tôi đã gặp trở ngại, đối tượng không nhiệt tình hoặc trung thực cung cấp thông tin cho phỏng vấn viên Có những trường hợp e dè không cung cấp, nhưng đa số các trường hợp khác thì lại trả lời theo số đông, thậm chí nói rằng: mọi người như thế nào thì cô như vậy; hay có

Trang 36

trường hợp hỏi lại thông tin từ phỏng vấn viên rằng người trước trả lời câu hỏi này như thế nào! Chính vì thế số liệu ở bản trên cũng mang tính chất tương đối

Hơn thế nữa có những trường hợp mà chúng tôi nghiên cứu một lúc họ bán hai mặt hàng (bán thêm báo vào buổi sáng) cho nên cũng có sự chênh lệch khá tương đối về thu nhập trong những người bán hàng rong

Thống kê chúng tôi thấy có 16 trường hợp thu nhập 500.000/tháng Mặc dù làm nhiều, nhưng giữa những người này không khác nhau về sử dụng các giá trị của cuộc sống, họ luôn cố gắng co cụm đến mức tối đa cho những chi tiêu của mình (12 trường hợp chi trong tháng dưới 500.000, 9 trường hợp chi 500.000)

Họ rất tiết kiệm trong tiêu xài, điều này thể hiện thông qua bữa ăn hàng ngày:

từ quan sát thực tế của chúng tôi, tuy rằng họ sống theo nhóm nhưng bữa ăn của

họ, một người một nồi cơm, mỗi người một chiếc mủng đựng bát mắm ớt cay xè của người miền Trung, và vài con cá khô kho mặn Về mặc thì họ cho biết cả năm chỉ có sắm cho mình một vài bộ đồ để đi bán hàng

Người nghèo là người phải sống dưới mức sống trung bình của một xã hội trong một thời gian cụ thể, theo nghĩa đó người nghèo luôn hiện diện cùng xã hội chúng ta Một trong những cơ sở thực của nghèo đói là bắt nguồn từ nguyên nhân tâm lí, người nghèo là người cảm thấy bị tước đoạt những cái mà người khác trong

xã hội được hưởng thụ, những cái mà họ cho rằng chính họ cũng có phần

Để có sự đánh giá khách quan và chính xác về tình trạng sử dụng thực phẩm hàng ngày của người bán hàng rong chúng tôi đã có sự so sánh với nguồn thống kê của Cục Thống Kê Thành phố Hồ Chí Minh Tài liệu chúng tôi sử dụng ở đây được thống kê năm 2006 nên chỉ mang tính tương đối Theo đó mức tiêu dùng

bình quân một người một tháng của tháng, một số vật phẩm như sau:

Bản số liệu thống kê tiêu dùng một số vật phẩm của người dân thành phố

và người bán hàng rong (quê Quảng Ngãi)

1 Các loại vật

phẩm

2 Toàn thành phố

3 Khu vực thành thị

Người bán hàng rong

Trang 37

Trứng (quả) 3,74 3,74 0

Cột 1, 2, 3 nguồn thống kê của cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh

Bảng so sánh trên chỉ mang tính chất tương đối về mặt số liệu, cũng có thể một tháng người bán hàng rong không dùng hêt 15kg gạo nhưng có thể nói rằng sẽ dùng nhiều hơn so với mặt bằng chung người dân toàn thành phố và khu vực đô thị

lí do đơn giản họ sẽ ăn cơm thay cho các vật phẩm khác vì không thể đủ điều kiện cho việc mua thịt, trứng, cá… cho thấy được sự không phong phú và đa dạng về việc tiêu dùng vật phẩm của người bán hàng rong

Bên cạnh đó cùng với sự quan sát thực tế của chúng tôi kết hợp tư liệu của phỏng vấn chiến lược với một vị cán bộ công an phường (phỏng vấn ông Thân Văn Tấn, phó trưởng công an phường Phú Thọ Hòa ngày 25/4/2008) Thậm chí

bữa ăn của người bán hàng rong: một bó rau muống một ngàn đồng họ có thể làm được hai món là món rau luộc và lấy nước đó làm canh hay một con cá họ đồng thời vừa làm món kho vừa có thể làm mắm cá, như vậy là có một bữa ăn

Trung bình bữa ăn cô/bác chi hết bao nhiêu?

Nguồn thống kê của nhóm thực hiện

Bảng số liệu trên đã cho chúng ta thấy việc chi tiêu cho bữa ăn của người bán hàng rong đã phản ánh thực tế cho mức sống của họ Chiếm 90% tỉ lệ người chi cho bữa ăn hàng ngày của mình dưới 20.000 đồng, thậm chí có những ngườin còn cho chúng tôi biết thêm 20.000 ngàn cho một ngày là quá nhiều đối với họ, khi nào

đi bán mà thấy đói họ chỉ dám ăn một tô hủ tiếu 3000 đồng

Trang 38

So sánh tương quan giữa chi tiêu trung bình/tháng của một người dân thành

phố với chi tiêu của người bán hàng rong

Cột 2: Nguồn thống kê của cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh

Số liệu cột thứ ba mà chúng tôi sử dụng dựa trên kết quả thu được từ phiếu hỏi

chuyện người bán hàng rong, thông tin về chi tiêu chúng tôi đã tính trung bình, tuy

số liệu chỉ mang tính tương đối nhưng cũng đã phản ánh mức chi tiêu khiêm tốn của người bán hàng rong

2.2.3 Tính dễ bị tổn thương ở người bán hàng rong

Các hoạt động vui chơi giải trí của những người bán hàng rong là không có, theo dữ liệu của bản hỏi; ngoài giờ làm việc cô/bác có hoạt động gì khác không? Thông tin nhận được đó là đáp án ngủ (chiếm tỉ lệ 60%), vì họ thiếu ngủ nên khi

có thời gian rảnh là họ tranh thủ ngủ Chỉ có 5 trường hợp lựa chọn đi chơi là đi thăm người quen, những người quen đó là cùng quê thậm chí có những người cùng bán mặt hàng này nhưng ở nhóm khác (văn hóa xóm làng vẫn còn được gìn giữ ở thành phố khi họ làm công việc bán hàng rong) Các hình thức giải trí như xem ti

vi, nghe đài là hầu như không có ở người bán hàng rong

Ngoài thời gian đi làm cô/bác giành thời gian còn lại cho hoạt động gì?

Trang 39

Thông qua phỏng vấn sâu đối với trường hợp bán chuối chiên (cô Vui): chúng tôi làm gì có tiền mà đi công viên chơi, hơn nữa không có thời gian, tiền đi chơi

thà rằng để giành gởi về quê nuôi con ăn học! “Đi thì khoái đi để biết, nhưng đi thì phải tốn tiền, nếu như cho con vào đây dăm bữa nửa tháng, nó có đòi đi thì phải cho nó đi, tự nhiên thì làm sao mình dám đi, tiền không có đi (mẹ) giờ trong túi phải mấy trăm ngàn mới đi được chứ, mà mấy trăm ngàn để dành mang về cho con còn hơn đi chơi Nó vào đây, đòi đi thì dẫn nó đi, đi chơi cả Ngày lễ họ tấp nập ngoài đường thì mình ở nhà”. Sự không được hưởng các dịch vụ xã hội là một trong những nhân tố dẫn đến tính dễ bị tổn thương ở người bán hàng rong

Ở người di cư, người nghèo nói chung, và người bán hàng rong nói riêng, sự ngăn cách giàu và nghèo, sự phân biệt kẻ sang người hèn là một trong những bạo lực mà họ phải chịu Những người giàu, người có tiền biểu hiện thái độ khinh bỉ, coi thường, có ác cảm với người nghèo Bên cạnh đó có những hành động mang tính nhân văn thực sự, họ tỏ “tình thương” đối với người nghèo Nhưng tình thương đó đôi khi quá lộ liễu đã gây nên một sự tổn thương ở người nghèo – tổn thương về lòng tự trọng Tình thương đó đã vô tình trở thành một biểu hiện của sự phân biệt, kì thị giữa người giàu và người nghèo Thậm chí từ lời tâm sự của một người bán hàng rong đã cao tuổi, vào trong này đã được ba năm, mà chúng tôi cũng đã thấy được cái nhìn của xã hội là không công bằng đối với những người

bán hàng rong, bà nói rằng: Có khi đi bà đi bán hàng, cơm thì đã ăn lúc 10 giờ trước rồi, nhưng sang chiều thấy đói, mình tắp vô quán mua thứ gì để ăn cho bớt đói bụng, khi mình ăn xong đứng dậy trả tiền thì được chủ quán cho biết đã có một đôi thanh niên trả tiền cho mình rồi Lúc đó bà cảm thấy, một cảm giác mình

bị coi thường, người ta không tôn trọng mình, cho dù mình có nghèo thì cũng đừng nên làm như vậy Không chỉ có vậy, một người phụ nữ khác cũng tâm sự với chúng tôi khi đôi mắt đã rớm nước mắt rằng: “Bác đi làm cái việc này cũng có đứa

nó tốt, nó mua hàng cho, nhưng cũng có đứa nó đểu, nó không mua hàng cho mình mà lại còn xúc phạm mình, nó nói: Bọn bây còn ít cơm thừa của chó mang cho bà ta ăn đi, chứ bà đứng đây mà dòm cái gì, nhục lắm con ạ!”

Phải chăng những người bán hàng rong này đang phải chịu sức ép của bạo lực

nơi đô thị, bạo lực của sự phân biệt giàu nghèo, phân biệt việc làm?

Trang 40

Vấn đề bạo lực xã hội đô thị, tình trạng sử dụng bạo lực đô thị trở thành một vấn đề lớn Các phép tiếp cận xã hội học vĩ mô nhấn mạnh rằng tình trạng bạo lực

ở đô thị xuất phát từ những đặc điểm lớn bao trùm lên cả xã hội như tệ nạn phân biệt chủng tộc và nạn nghèo túng Bạo lực thì nơi nào cũng bắt rễ từ những nguyên nhân như nhau song ở đô thị bạo lực càng thêm nghiêm trọng do môi trường thành phố tạo ra (Trịnh Duy Luân, 2004)

Ở đây về mặt lí thuyết có thể nói rõ hơn về bạo lực đô thị: Ralf Dahrandol nhận định rằng trong xã hội nào cũng vậy, nó có những vấn đề lí giải được một cách thỏa đáng bằng mô hình hòa hợp, lại có vấn đề khác phải lí giải mô hình xung đột, và có những vấn đề phải dùng cả hai mô hình mới giải thích được

Mô hình hòa hợp, diễn tả một hiện tượng xã hội tương đối ổn định với cơ cấu hòa hợp, có nhiều điều kiện đủ duy trì tính liên kết và các thành viên có sự nhất trí trước về giá trị Trong mô hình này, bạo lực nhất là bạo lực quần chúng là một sức mạnh phá hoại cơ cấu xã hội, một trạng thái bất thường, bệnh tật cần phải lọai trừ.12

Văn hoá cũng có một vai trò nhất định trong vấn đề bạo lực, văn hoá lưu truyền những bài học kinh nghiệm đã được đúc kết từ thế hệ này sang thế hệ kế tiếp trong

đó đáng chú ý là thái độ của xã hội đối với việc dùng bạo lực để giải quyết những tranh chấp13

Nhà xã hội học nổi tiếng Simel nói rằng: vì đô thị là quá lớn nên một người không thể kiểm soát và hiểu được toàn bộ nó một lúc Thứ hai do tính phức tạp của

nó, cho nên khi sống trong một đô thị con người phải vận dụng một năng lượng hợp lí hơn so với khi họ sống ở nông thôn Và không lí do gì chúng ta không chắc rằng những người bán hàng rong cũng phải chịu những sức ép từ xã hội đô thị và còn có thể gấp hơn nữa vì họ là tầng lớp nghèo trong xã hội đô thị

Bán hàng rong - người nghèo nhập cư (theo tiến sĩ Đặng Nguyên Anh) Theo các kết quả khảo sát mức sống dân cư (VLSS) thì người nghèo nhập cư là đối tượng nằm ngoài luồng khảo sát, vì lí do không phải là dân cư chính thức của địa

Ngày đăng: 04/04/2021, 22:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS.Phan Xuân Biên, TS.Đỗ Hữu Nhựt (chủ biên) (2005), Khoa Học Xã Hội Tp.HCM Và Những Vấn Đề Nghiên Cứu, NXB ĐHQGTP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa Học Xã Hội Tp.HCM Và Những Vấn Đề Nghiên Cứu
Tác giả: PGS.TS.Phan Xuân Biên, TS.Đỗ Hữu Nhựt (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHQGTP.HCM
Năm: 2005
2. Nguyễn Thị Cành (chủ biên), Nguyễn Tấn Thông, Nguyễn Thị Nết, Lê Thanh Hải(2001), Diễn Biến Mức Sống Dân Cư, Phân Hóa Giàu Nghèo Và Các Giải Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo Trong Quá Trình Chuyển Đổi Nền Kinh Tế Việt Nam Nhìn Từ Thực Tiễn Thành Phố Hồ Chí Minh, NXB Lao Động Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn Biến Mức Sống Dân Cư, Phân Hóa Giàu Nghèo Và Các Giải Pháp Xóa Đói Giảm Nghèo Trong Quá Trình Chuyển Đổi Nền Kinh Tế Việt Nam Nhìn Từ Thực Tiễn Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Cành (chủ biên), Nguyễn Tấn Thông, Nguyễn Thị Nết, Lê Thanh Hải
Nhà XB: NXB Lao Động Xã Hội
Năm: 2001
3. PGS.TS.Ngô Văn Lệ, TS. Nguyễn Minh Hòa (chủ biên) (2003) Đồng Tham Gia Trong Giảm Nghèo Đô Thị, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng Tham Gia Trong Giảm Nghèo Đô Thị
Nhà XB: NXB KHXH
5. Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễng Quang Vinh (đồng chủ biên) (2005) Đô Thị Hóa Và Vấn Đề Giảm Nghèo Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Lí Luận Và Thực Tiễn, NXB KHXH Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễng Quang Vinh (đồng chủ biên) (2001), Vấn Đề Nghèo Trong Quá Trình Đô Thị Hóa Ơ Thành Phố Hồ Chí Minh, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô Thị Hóa Và Vấn Đề Giảm Nghèo Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Lí Luận Và Thực Tiễn, " NXB KHXH Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễng Quang Vinh (đồng chủ biên) (2001), "Vấn Đề Nghèo Trong Quá Trình Đô Thị Hóa Ơ Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễng Quang Vinh (đồng chủ biên) (2005) Đô Thị Hóa Và Vấn Đề Giảm Nghèo Ở Thành Phố Hồ Chí Minh Lí Luận Và Thực Tiễn, NXB KHXH Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễng Quang Vinh (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB KHXH Nguyễn Thế Nghĩa
Năm: 2001
6. Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễng Quang Vinh (đồng chủ biên) (2004), Tuyển Tập Tạp Chí Khoa Học Xã Hội, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển Tập Tạp Chí Khoa Học Xã Hội
Tác giả: Nguyễn Thế Nghĩa, Mạc Đường, Nguyễng Quang Vinh (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2004
7. Lương Hồng Quang (chủ biên), Nguyễn Tuấn Anh, Trần Lan Phương, Bùi Hoái Sơn, Phạm Nam Nhan (2001), Văn Hóa Của Nhóm Nghèo Ơ Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp, Viện Văn Hóa Và NXB Văn Hóa Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Hóa Của Nhóm Nghèo Ơ Việt Nam Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả: Lương Hồng Quang (chủ biên), Nguyễn Tuấn Anh, Trần Lan Phương, Bùi Hoái Sơn, Phạm Nam Nhan
Nhà XB: NXB Văn Hóa Thông Tin
Năm: 2001
8. Nguyễn Văn Tài và cộng tác viên, Di Dân Thành Phố Hồ Chí Minh, Di Dân Tự Do-Nông Thôn-Thành Thị Ở Thành Phố Hồ Chí Minh, NXB ĐHQG TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di Dân Thành Phố Hồ Chí Minh, Di Dân Tự Do-Nông Thôn-Thành Thị Ở Thành Phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB ĐHQG TP.HCM
9. Nguồn tổng cụ thống kê(2006) điều tra di cư Việt Nam (2004), Chất Lượng Cuộc Sống Của Người Di Cư Ở Việt Nam, NXB Thống Kê HN 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất Lượng Cuộc Sống Của Người Di Cư Ở Việt Nam
Tác giả: Nguồn tổng cụ thống kê(2006) điều tra di cư Việt Nam
Nhà XB: NXB Thống Kê HN 2005
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w