1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân nhập cư (nghiên cứu trường hợp nữ công nhân làm việc tại khu chế xuất linh trung 1 quận thủ đức thành phố hồ chí minh

196 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN *************** NGUYỄN THỊ HỒNG THUỶ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẤN ĐỀ KẾT HÔN CỦA NỮ CÔNG NHÂN NHẬP

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

***************

NGUYỄN THỊ HỒNG THUỶ

NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

ĐẾN VẤN ĐỀ KẾT HÔN CỦA NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ

(Nghiên cứu trường hợp nữ công nhân làm việc tại Khu chế xuất

Linh Trung 1, quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh)

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

***************

NGUYỄN THỊ HỒNG THUỶ

NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

ĐẾN VẤN ĐỀ KẾT HÔN CỦA NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ

(Nghiên cứu trường hợp nữ công nhân làm việc tại Khu chế xuất

Linh Trung 1, quận Thủ Đức, Tp.Hồ Chí Minh)

CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC

MÃ SỐ: 60.31.30

LUẬN VĂN THẠC SỸ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ THANH SANG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2009

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình theo học khoá đào tạo cao học Xã hội học tại Khoa Xã hội học trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Tp Hồ Chí Minh, tôi đã nhận được rất nhiều kiến thức về nội dung khoa học và phương pháp nghiên cứu Xã hội học do các Thầy Cô truyền đạt Tôi xin chân thành cảm

ơn quí Thầy Cô đã tận tình giảng dạy chúng tôi trong suốt quá trình học tập này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm Khoa Xã hội học trường Đại học Văn Hiến và quí thầy cô trong khoa đã tạo điều kiện về mặt thời gian và hỗ trợ mọi mặt cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp

Đặc biệt, với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời tri ân đến Tiến Sỹ Lê Thanh Sang Người Thầy đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn từ khi bắt đầu xây dựng đề cương cho đến khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Qua đây, tôi gửi lời cảm ơn thật nhiều đến các bạn sinh viên khoá 05 Khoa Xã hội học trường Đại học Văn Hiến Các bạn đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình điều tra, thu thập thông tin cho đề tài tại Khu chế xuất Linh Trung 1, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Do điều kiện về thời gian và khả năng của bản thân còn hạn chế nên luận văn chắc chắn còn nhiều điểm thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhận được

ý kiến đóng góp của quí Thầy Cô và mọi người để luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa có ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Số liệu và các dẫn chứng trong đề tài này là kết quả xử lý thông tin mà tôi đã tiến hành điều tra thực địa vào tháng 03/2009 tại khu phố 1,2 phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh - là địa bàn

mà nữ công nhân đang làm việc tại Khu chế xuất Linh Trung 1 ở trọ

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 09 năm

2009

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Thuỷ

Trang 6

MỤC LỤC

Danh mục biểu đồ ……… 6

Danh mục bảng biểu ……… 7

PHẦN MỞ ĐẦU ……… 9

1 Lý do chọn đề tài ………10

2 Mục tiêu nghiên cứu ………11

3 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 12

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu ……… 13

5 Giả thuyết nghiên cứu ……….….13

6 Khung phân tích ……… …14

7 Ý nghĩa nghiên cứu ……… …15

8 Kết cấu luận văn ……… 16

PHẦN NỘI DUNG ……….… .17

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN&PHƯƠNG PHÁP LUẬN 18

1.1 Một số đặc điểm cơ bản của người nhập cư vào Thành phố Hồ Chí Minh……….….18

1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu……….………20

1.3 Các cách tiếp cận của luận văn………28

1.3.1 Cách tiếp cận hệ thống………28

Trang 7

1.3.2 Cách tiếp cận lối sống……….………… 30

1.4 Lý thuyết ứng dụng cho đề tài……….31

1.4.1 Lý thuyết hiện đại hoá của Goode (1963)……….31

1.4.2 Lược đồ xã hội học của Dixon (1971)……….….33

1.5 Các khái niệm……….35

1.5.1 Khái niệm kết hôn……….35

1.5.2 Khái niệm công nhân……… 35

1.5.3 Khái niệm công nhân nhập cư………35

1.5.4 Khái niệm quan niệm sống………36

1.5.5 Khái niệm quan hệ xã hội……… 36

1.6 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật thu thập thông tin………… 37

1.6.1 Phương pháp thu thập thông tin sẵn có……… 37

1.6.2 Phương pháp chọn mẫu……….38

1.6.3 Phương pháp chọn mẫu bằng bảng hỏi……… 38

1.6.4 Phương pháp phỏng vấn sâu……… 39

1.6.5 Phương pháp xử lý thông tin……… 40

CHƯƠNG II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……….…42

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu……… ….42

2.1.1 Sơ lược vài nét về tình hình kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh và quận Thủ Đức……… 42

Trang 8

Thành phố Hồ Chí Minh……… ….44

2.2 Mô tả mẫu điều tra……… 45

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân nhập cư……… ………53

2.3.1 Quan niệm về kết hôn của nữ công nhân………54

2.3.1.1 Quan niệm về ý nghĩa của việc kết hôn………54

2.3.1.2 Quan niệm về tuổi kết hôn lần đầu………56

2.3.1.3 Đánh giá của nữ công nhân về nhu cầu tìm kiếm bạn khác giới để kết hôn hiện nay……….…58

2.3.2 Thời gian làm việc của nữ công nhân……….……59

2.3.3 Sự phân bố nam nữ tại nơi nữ công nhân đang làm việc………69

2.3.4 Quan hệ xã hội của nữ công nhân……….… 75

2.3.4.1 Vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc hỗ trợ nữ công nhân tìm kiếm bạn khác giới……….………… 76

2.3.4.2 Mối quan hệ giữa nữ công nhân và nam giới làm chung ….79 2.3.4.3 Mối quan hệ giữa nữ công nhân và nam giới cùng khu phố trọ………81

2.3.4.4 Mối quan hệ giữa nữ công nhân và nam giới đồng hương 83

2.3.4.5 Tác động của các mối quan hệ xã hội đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân nhập cư……… …86

a Quá trình phát sinh tình cảm và nghề nghiệp của chồng… … 86

b Hoàn cảnh biết nhau trước đây giữa nữ công nhân và chồng…88

Trang 9

2.3.5 Đánh giá của nữ nữ công nhân về những thuận lợi và khó khăn

trong quá trình tìm kiếm bạn khác giới để kết hôn……….…90

2.3.5.1 Những thuận lợi trong quá trình tìm kiếm bạn khác giới… 90

2.3.5.2 Những khó khăn trong quá trình tìm kiếm bạn khác giới….92 2.3.6 Những mong ước trong tương lai của nữ công nhân……….….95

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……….…98

1 Kết luận……… 99

2 Khuyến nghị……….… 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 105

BẢNG HỎI THU THẬP THÔNG TIN……… 109

PHỤ LỤC……….124

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

G

Biểu đồ 2.2: Tình trạng hôn nhân của nữ công nhân 46

Biểu đồ 2.6: Thu nhập trung bình hàng tháng của nữ công nhân 49

Biểu đồ 2.7: Mức chi tiêu của nữ công nhân từ thu nhập hàng

Trang 11

Biểu đồ 2.16: Thời điểm vào làm việc tại công ty hiện tại ở nhóm

Biểu đồ 2.17: Đánh giá của nữ công nhân về tỷ lệ nam giới tại nơi

Trang 12

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Quan niệm về tuổi kết hôn của nữ công nhân 56

Đánh giá tỷ lệ nam giới tại nơi làm việc của hai

Bảng 2.5:

Đánh giá của nữ công nhân về hỗ trợ của tổ chức

Công đoàn trong việc giúp đỡ họ tìm kiếm bạn

Trang 13

Những thuận lợi trong quá trình tìm kiếm bạn khác

Bảng

2.13:

Những khó khăn trong quá trình tìm kiếm bạn khác

Bảng

2.14: Những mong ước trong tương lai của nữ công nhân 95

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 15

1 Lý do chọn đề tài

Ở nước ta, công nhân nữ chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động

Họ tham gia vào tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và một trong những nơi đang thu hút công nhân nữ làm việc đông nhất hiện nay là các khu công nghiệp và khu chế xuất

Theo số liệu điều tra về tổng số lao động nữ trong các doanh nghiệp, đang hoạt động trong khu công nghiệp khu và chế xuất tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp của Tổng cục Thống kê năm

2006, trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước có tỷ lệ lao động nữ là 22.3%, khu vực kinh tế tư nhân là 44.53%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 33.17%, trong đó các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có tỷ lệ

là 29.97% [48]

Lao động nữ chiếm tỷ lệ cao trong các khu công nghiệp và khu chế xuất vì những ngành nghề như may mặc, giày da, chế biến nông thủy sản, lắp ráp điện tử… đang là những mặt hàng xuất khẩu chiến lược hiện nay lại rất cần sự khéo léo, cẩn thận, cần cù và chịu khó của công nhân nữ

Liên quan đến công nhân nữ nhập cư, đã có rất nhiều cuộc nghiên cứu hoặc hội thảo về vấn đề sức khỏe, an toàn lao động, kỹ năng tay nghề, đời sống văn hóa tinh thần Tuy nhiên, có một vấn đề mà công nhân nữ đang làm việc tại các khu công nghiệp và khu chế xuất có thể là đang lo toan và khó nói nhất chính là chuyện mưu cầu hạnh phúc, thì chưa có nhiều lắm các cuộc nghiên cứu sâu Ngoài ra, vì quan niệm kết hôn là việc riêng của mỗi người nên các doanh nghiệp hầu như không quan tâm đến vấn đề này, còn tổ chức Công đoàn thì cũng chẳng với tay tới được

Hiện nay, một thực tế đang xảy ra tại các khu công nghiệp và khu chế xuất là rất nhiều công nhân nữ đã đến tuổi lập gia đình nhưng vẫn còn độc thân và xu hướng này đang ngày càng có chiều hướng tăng cao

Trang 16

Một cán bộ chuyên trách Công đoàn chia sẻ với chúng tôi: “Tại công

ty Freetrend Industrial, Khu chế xuất Linh Trung I, hiện có đến 13.099 công nhân là nữ trong tổng số 14.972 công nhân và trong đó chỉ mới có 3.486 người đã lập gia đình.” [Xem phụ lục 2, PVS 5, cán bộ chuyên trách

Công đoàn công ty Frestrend - Industrial, 30t]

Do tính chất công việc phải tăng ca thường xuyên, công nhân nữ không thể hòa nhập vào nhịp sống của thành phố như những bạn trẻ khác Ngay cả việc tìm cho mình một người vừa ý tại nơi làm việc cũng quá khó khi mà cán cân giới tính tại các khu công nghiệp và chế xuất đang mất cân bằng nghiêm trọng Hơn nữa, bạn trai của họ, nếu có, đa số là những người

từ các tỉnh vào thành phố làm thuê nên cũng khó tính chuyện lâu dài Do vậy mà hành trình đi tìm hạnh phúc của công nhân nữ vẫn là những cung đường gập ghềnh, nụ cười hòa cùng nước mắt

Với những vấn đề đã đề cập trên đây, chúng tôi muốn thực hiện một

đề tài nghiên cứu về vấn đề kết hôn của nữ công nhân: “Những nhân tố

ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân nhập cư - Nghiên cứu trường hợp nữ công nhân làm việc tại Khu chế xuất Linh Trung 1, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh” – những người đóng góp một

phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế của thành phố nhưng đồng thời cũng là đối tượng dễ bị tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu của đề tài là tìm hiểu vấn đề kết hôn và các nhân tố ảnh hưởng đến việc kết hôn của công nhân nữ nhập cư đang làm việc tại các công ty thuộc Khu chế xuất Linh Trung 1, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 17

2.2 Mục tiêu cụ thể

Thứ nhất, hầu hết nữ công nhân đều cho rằng vấn đề kết hôn có một ý nghĩa rất quan trọng đối với bản thân Chính vì vậy, nữ công nhân hiện nay đang có nhu cầu rất lớn trong việc tìm kiếm được bạn khác giới để kết hôn Thứ hai, áp lực về thời gian làm việc đã ảnh hưởng đến khả năng kết hôn của nữ công nhân

Thứ ba, sự mất cân bằng giới tính nam nữ tại nơi làm việc đã làm cho

nữ công nhân gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm bạn khác giới để kết hôn

Thứ tư, ở nhóm nữ công nhân đã kết hôn, trước đây để tìm kiếm được đối tượng khác giới và kết hôn, họ đã nhận được sự hỗ trợ rất nhiều từ các quan hệ xã hội đã thiết lập

Từ đó, chúng tôi gợi ý một số giải pháp nhằm hỗ trợ thêm cho ban lãnh đạo khu chế xuất, ban quản lý xí nghiệp, tổ chức Công đoàn trong việc đưa ra những biện pháp thiết thực và hiệu quả nhằm giúp đỡ, hỗ trợ nhiều hơn về mặt đời sống tình cảm, vấn đề kết hôn của nữ công nhân nhập cư

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài đi vào thực hiện những nhiệm vụ sau:

Một là, thu thập tài liệu và số liệu thứ cấp liên quan đến đề tài đang nghiên cứu

Hai là, khái quát và làm rõ những khái niệm công cụ và định hướng lý thuyết làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu của đề tài

Ba là, thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu từ đó nêu ra được những những nhân tố ảnh hưởng đến việc kết hôn của nữ công nhân

Trang 18

Bốn là, dựa vào kết quả ngiên cứu của luận văn để đề xuất một số giải pháp rút ra từ đề tài và đề xuất các vấn đề nghiên cứu tiếp theo

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những nhân tố ảnh hưởng đến vấn

đề kết hôn của công nhân nữ nhập cư làm việc tại các công ty thuộc Khu chế xuất Linh Trung 1, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 19

đình còn nhóm khác thì không, vậy thì những yếu tố tác động đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân là gì?

5 Giả thuyết nghiên cứu

 Do chịu ảnh hưởng của môi trường sống tại thành phố, nữ công nhân nhập cư đang có xu hướng mong muốn kết hôn ở độ tuổi trễ hơn so với tuổi pháp luật qui định (từ 18 tuổi trở lên)

 Áp lực về thời gian làm việc như tăng ca thường xuyên hay làm việc theo ca ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân

 Sự mất cân bằng giới tính tại nơi làm việc nói riêng và toàn bộ khu chế xuất nói chung đã ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân

 Những nữ công nhân thiết lập được nhiều mối quan hệ xã hội và phát huy được tính hiệu quả của của các mối quan hệ này sẽ dễ tìm được đối tượng để đi đến kết hôn hơn

6 Khung phân tích

Điều kiện chủ quan

Quan niệm về kết hôn:

- Ý nghĩa của việc kết hôn

- Độ tuổi thích hợp để kết hôn

- Nhu cầu tìm kiếm bạn khác giới để kết

hôn

Điều kiện khách quan

- Sự phân bố nam nữ tại nơi làm việc

- Thời gian làm việc hàng ngày

Điều kiện KT- VH - XH

Trang 20

Qua đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã vận dụng được các lý thuyết

xã hội học về giới và xã hội học gia đình khi nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhâp nhập cư đang làm việc tại Khu chế xuất Linh Trung 1

Trang 21

thiết thực hơn trong việc giúp đỡ nữ công nhân nhập cư, để họ có điều kiện

ổn định cuộc sống, cùng đóng góp vào sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp nói riêng và kinh tế của thành phố nói chung

Hơn nữa, trên một ý nghĩa nào đó, đề tài này là một bước kế thừa các nghiên cứu đi trước, về một vấn đề tuy không xa lạ nhưng luôn có những điểm mới và luôn có những diện mạo mới trước sự thay đổi liên tục của các điều kiện kinh tế xã hội trong thời đại mới Vì vậy, đây cũng là một gợi mở cho những hướng nghiên cứu tiếp theo về vấn đề kết hôn của nữ công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp và khu chế xuất khác trên cả nước trong tương lai

8 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn gồm có 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận - khuyến nghị

Trong phần mở đầu, chúng tôi trình bày về lý do của việc lựa chọn nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân nhập cư, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và khách thể nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và một số nội dung khác

Trong phần nội dung, chúng tôi chia làm 2 chương: chương cơ sở lý luận - phương pháp luận và chương kết quả nghiên cứu

Ở chương cơ sở lý luận và phương pháp luận, chúng tôi tập trung trình bày những vấn đề chung nhất liên quan đến chủ đề nghiên cứu như từ tổng quan tình hình nghiên cứu, các lý thuyết, các cách tiếp cận, các khái niệm

và phương pháp nghiên cứu

Ở chương 2 của phần nội dung, chúng tôi sẽ trình bày kết quả nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân

Trang 22

Trong phần kết luận và khuyến nghị, chúng tôi tổng kết lại các nội dung đã trình bày ở chương 2, trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 23

PHẦN NỘI DUNG

Trang 24

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1.1 Một số đặc điểm của người nhập cư vàoThành phố Hồ Chí Minh

Trong quá trình phát triển, nhiều thành phố lớn tại Việt Nam trong đó

có Thành phố Hồ Chí Minh đã là nơi tiếp nhận một luồng lớn người nhập

cư từ nông thôn lên sinh sống và tìm kiếm việc làm

Sau đây, chúng tôi xin trình bày một vài đặc điểm cơ bản của người nhập cư vào thành phố trong giai đoạn hiện nay:

 Độ tuổi

Đa số người nhập cư đến thành phố đều ở độ tuổi trẻ và ngày càng trẻ

Có một điểm khác biệt trong sự di cư hiện nay so với trước, đó là người trẻ xuất cư từ nông thôn ngày càng nhiều và họ đi độc lập chứ không di cư cùng với gia đình như trước đây

Theo cuộc điều tra về di cư vào Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 của Tổng cục Thống kê, số người nhập cư vào Thành phố Hồ Chí Minh theo các nhóm tuổi, ở độ tuổi từ 20-24 tuổi chiếm 39.2% và từ 25 tuổi đến

29 tuổi chiếm 22.6%, trong khi đó các nhóm tuổi khác chiếm tỷ lệ không đáng kể

Đa phần người nhập cư vào thành phố đang trong độ tuổi lao động, chính điều này đã tác động đến cơ cấu dân số của thành phố theo hướng trẻ hóa, đem lại rất nhiều lợi ích về tiềm năng lao động cho thành phố

 Giới tính

Theo cuộc điều tra về di cư vào Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004

của Tổng cục Thống kê, số người nhập cư vào thành phố theo giới tính, tỷ

lệ nữ cao hơn so với nam (57%) trong tổng số người nhập cư Nếu như

Trang 25

trước đây nam giới di cư nhiều hơn nữ giới thì gần đây nữ di cư nhiều hơn

và đặc biệt nữ ở độ tuổi trẻ

Công việc thu hút lao động nữ đông nhất hiện nay đó chính là làm công nhân giày da, chế biến nông sản, may mặc tại các khu công nghiệp và khu chế xuất của thành phố Một bộ phận lao động nữ khác thì làm nghề giúp việc nhà hoặc là lao động tự do

 Lý do di cư đến Thành phố Hồ Chí Minh

Nếu như thời gian trước đây lý do người di cư đến thành phố vì nguyên nhân phi kinh tế là chủ yếu thì hiện nay di cư là vì lý do kinh tế ngày càng chiếm vị trí áp đảo

Theo cuộc điều tra về di cư vào Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 của Tổng cục Thống kê về lý do mà người nhập cư vào thành phố, lý do di chuyển là vì yếu tố kinh tế chiếm tỷ lệ rất cao (69.7%)

Lý do di cư chủ yếu của người lao động trong đó có lao động nữ là vì yếu tố kinh tế đã phản ảnh đúng thực tế chung của xã hội Đó là cuộc sống nông thôn dưới những tác động khác nhau đã có những thay đổi, nó tạo nên lực đẩy đối với lao động nói chung và lao động nữ nói riêng tới thành phố Còn bản thân thành phố, cũng có những thay đổi và phát triển, đang tạo ra không chỉ sức hút mà cả những điều kiện thực tế để lao động nông thôn trong đó có lao động nữ có thể đến thành phố cư trú và làm ăn sinh sống

 Tình trạng hôn nhân của người di cư

Người nhập cư vẫn còn độc thân khi di chuyển đến thành phố ngày càng chiếm tỷ lệ cao ở cả hai nhóm nam và nữ Theo cuộc điều tra về di cư vào Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 của Tổng cục Thống kê, tình trạng chưa có vợ, chồng của người nhập cư vào thành phố ở cả hai nhóm nam và

nữ là 53.7% Ngoài ra, nếu tính riêng về tình trạng hôn nhân của lao động

Trang 26

nữ đang làm việc tại các khu công nghiệp và khu chế xuất thì tình trạng độc thân đang có xu hướng tăng cao (71.9%)

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Liên quan đến người nhập cư vào Thành phố Hồ Chí Minh đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết về mọi khía cạnh xoay quanh đời sống, việc làm, ảnh hưởng của người di cư đối với nơi nhập cư và nơi xuất

cư, giải pháp về vấn đề di cư…của rất nhiều nhà khoa học, các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu

Qua quá trình tìm hiểu và tham khảo các nguồn tài liệu, sau đây chúng tôi xin trình bày một số các công trình nghiên cứu và bài viết có liên quan đến chủ đề đang nghiên cứu Cụ thể:

Liên quan đến công nhân nữ nhập cư, khách thể nghiên cứu của đề tài

đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tiến hành điều tra trên diện rộng về rất nhiều vấn đề liên quan đến đời sống, việc làm, sức khỏe, ảnh hưởng của nơi xuất cư và nơi nhập cư…

Công trình đầu tiên mà chúng tôi muốn đề cập đó là vào năm 2000, tác giả Hà Thị Phương Tiến và Hà Quang Ngọc đã cho xuất bản cuốn sách:

“Lao động nữ di cư tự do nông thôn – thành thị” Đây là một công trình nghiên cứu về lao động nữ di cư tự do được tiến hành ở ba thành phố lớn là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng và một số địa phương khác trong cả nước Cuốn sách đã cung cấp cho người đọc một bức tranh khá toàn diện về thực trạng cuộc sống của lao động nữ di cư tự do từ nông thôn

ra thành phố

Cụ thể như các tác giả đã đi sâu vào phân tích nguyên nhân lao động

nữ di cư vào đô thị, điều kiện sống ở nơi nhập cư, tình trạng sức khỏe, quan

hệ xã hội… Đồng thời, các tác giả phân tích sâu những ảnh hưởng tích cực

Trang 27

và tiêu cực của di dân tự do đối với nơi xuất cư và nơi nhập cư, trên cơ sở

đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cho vấn đề này

Một công trình khác của tác giả Trần Hồng Vân mang tên: “Tác động

xã hội của di cư tự do vào Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới” (2002), đã vẽ thêm một bức tranh về thực trạng của việc di cư vào thành phố, ảnh hưởng của người di cư với nơi xuất cư và nơi nhập cư, tác động xã hội của người di cư Từ đó công trình này đã phác họa lên ảnh hưởng của quá trình di cư tự do đối với xã hội nói chung và vai trò đích thực của người di cư tự do vào Thành phố Chí Minh nói riêng

Một công trình nghiên cứu khác về người nhập cư của tác giả Nguyễn Văn Tài và cộng tác viên: “Di dân tự do nông thôn và thành thị ở Thành phố Hồ Chí Minh”, xuất bản năm 1998, đã cung cấp cho người đọc một bức tranh khá tổng quát về vấn đề di cư tự do tại Thành phố Hồ Chí Minh - một trong những thành phố đang thu hút dòng người di cư đổ về đông nhất

so với các tỉnh, thành khác trong cả nước

Công trình này đề cập tới nhiều vấn đề của di dân tự do, như quá trình

di dân vào Thành phố Hồ Chí Minh qua các thời kỳ từ sau 1975 cho đến thời điểm nghiên cứu; ảnh hưởng của quá trình di cư tại nơi xuất cư và nhập cư; đồng thời cuộc nghiên cứu này cũng đề xuất một số các giải pháp ngắn hạn và dài hạn để giải quyết vấn đề di dân tự do nông thôn - đô thị Tuy cả ba công trình vừa kể trên nghiên cứu rất nhiều khía cạnh liên quan đến người nhập cư trong đó có lao động nữ, nhưng có một vấn đề quan trọng không kém so với các vấn đề nêu trên đó là vấn đề kết hôn và hôn nhân của nữ công nhân nhập cư thì cả ba công trình chưa đi sâu vào nghiên cứu

Ngoài các công trình nghiên cứu mang tính diện rộng về người di cư vừa kể trên, sau đây chúng tôi xin trình bày một số công trình, bài viết có

Trang 28

Công trình đầu tiên mà chúng tôi muốn trình bày là của tác giả Nguyễn Ngọc Thúy Quỳnh với đề tài: “Bước đầu tìm hiểu cơ hội tiến tới hôn nhân của lao động nữ nhập cư tại Khu chế xuất Tân Thuận, Thành phố

Thứ nhất, cơ hội lựa chọn bạn đời của nữ công nhân có mối liên hệ chặt chẽ với sự mất cân bằng giới tính Những nữ công nhân làm việc ở môi trường nam nữ công nhân cân bằng thì có cơ hội kết hôn cao hơn Thứ hai, những nữ công nhân chấp nhận hôn nhân theo hình thức sắp xếp của cha mẹ hay người thân thì có cơ hội kết hôn cao hơn

Thứ ba, những nữ công nhân có quan niệm tình yêu và hôn nhân không liên quan với nhau, cũng đồng nghĩa chấp nhận hôn nhân không tình yêu lại có khả năng kết hôn cao hơn

Thứ tư, yếu tố chính cản trở việc kết hôn của nữ công nhân chính là điều kiện về kinh tế Cuộc sống quá khó khăn, thu nhập thấp, kinh tế gia đình nghèo, phải ở nhà thuê, là những nguyên nhân chính khiến cho nhiều

nữ công nhân đã có người yêu không dám đi đến hôn nhân

Ngoài ra, một công trình khác của tác giả Đàm Thanh Giang cũng về lao động nữ nhập cư: “Cơ hội tiến tới hôn nhân của lao động nữ nhập cư tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay – Nghiên cứu trường hợp quận Thủ Đức”

Trang 29

(2007) Qua cuộc nghiên cứu này tác giả đã rút ra được một số kết luận chính sau:

Thứ nhất, đa số nữ công nhân đang phải làm việc trong môi trường lao động còn nhiều hạn chế như tiếng ồn, bụi bặm, nóng nực, chính điều này đã làm cho nữ công nhân trẻ đang năng động, khoẻ mạnh khi mới vào làm nhưng chỉ sau một thời gian làm việc thì sức khoẻ suy giảm nhanh chóng Sức khoẻ không tốt sau một thời gian làm việc nên họ cũng không có nhiều hứng thú trong chuyện kết bạn khác giới để xây dựng gia đình

Thứ hai, một hiện tượng đang phổ biến trong các doanh nghiệp hiện nay tại các khu công nghiệp và khu chế xuất là sự mất cân bằng giới tính tại nơi làm việc, điều này đã làm cho nữ công nhân gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm đối tượng để kết hôn

Thứ ba, nữ công nhân đang là những người sống thiếu thốn rất nhiều

về mặt đời sống tinh thần Các khu công nghiệp và khu chế xuất hiện có, đa

số nằm ở những khu vực tương đối biệt lập và xa trung tâm nên các dịch vụ vui chơi giải trí còn rất khiêm tốn, vì vậy mà những cơ hội giao lưu và kết bạn của họ bị thu hẹp lại

Cuối cùng, vai trò của tổ chức Công đoàn và các cơ quan đoàn thể địa phương nơi nữ công nhân làm việc và cư trú chưa có hỗ trợ gì nhiều trong việc giúp đỡ nữ công nhân tìm kiếm hạnh phúc gia đình

Hai công trình mà chúng tôi vừa trình bày trên đây có thể coi là những công trình nghiên cứu tương đối sâu về vấn đề tình yêu, kết hôn và hôn nhân của nữ công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp và khu chế xuất của thành phố hiện nay

Tuy nhiên, mặt hạn chế mà chúng tôi rút ra được từ cả hai công trình

là đều nghiên cứu quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề tình yêu và hôn nhân của nữ công nhân, mà lại không đi sâu vào những yếu tố được coi là

Trang 30

tác động chính đến việc kết hôn như sự mất bằng giới tính, thời gian làm việc, các mối quan hệ xã hội…

Bởi vì, một số yếu tố như sức khoẻ, vui chơi giải trí, tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời, vai trò của đoàn thể và địa phương nơi nữ công nhân sinh sống mà hai công trình đã nghiên cứu tuy cũng có ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn, nhưng theo chúng tôi đó không phải là nguyên nhân chính làm cho

nữ công nhân khó khăn trong việc tim kiếm hạnh phúc riêng tư

Chính việc tìm hiểu quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân của hai công trình trên, khiến cho chúng ta khó nắm bắt được những khó khăn thật sự mà nữ công nhân đang gặp phải trong việc tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình

Ngoài ra, một hạn chế khác là cả cả hai công trình trên đều chỉ tìm hiểu vấn đề tình yêu và hôn nhân của nữ công nhân qua những nữ công nhân chưa kết hôn Các tác giả chưa nghiên cứu vấn đề này ở nhóm nữ công nhân đã kết hôn, để từ đó có thể tiến hành một sự so sánh đối chứng giữa hai nhóm như tại sao cùng làm việc và sinh sống tại khu chế xuất, đều

là công nhân nhập cư với những đặc điểm kinh tế - xã hội tương đồng mà

có nữ công nhân kết hôn được còn người thì không, vậy thì nguyên nhân là

do đâu và tại sao lại có sự khác biệt đó?

Một trong trình khác của tác giả Phạm Duy Khánh cũng nghiên cứu về chủ đề tình yêu - quan niệm về hôn nhân của nữ công nhân mang tên: “Tìm hiểu nhu cầu bạn khác giới và định hướng hôn nhân của nữ công nhân nhập

cư - Nghiên cứu tại Khu công nghiệp Sóng Thần 1, tỉnh Bình Dương” (2003) Công trình này đã cung cấp một số kết quả sau:

Thứ nhất, nữ công nhân có cái nhìn khá tích cực về tính chủ động của phụ nữ trong việc tìm kiếm bạn khác giới

Trang 31

Thứ hai, tình yêu vẫn là động cơ chính để nữ công nhân quyết định đi đến kết hôn

Thứ ba, về những tiêu chuẩn mong đợi bạn khác phái và hôn nhân,

đa số nữ công nhân đều mong đợi người chồng tương lai của mình phải là người chung thuỷ, quan tâm đến gia đình và yêu thương vợ con

Thứ tư, khi tìm hiểu về môi trường làm việc, phương thức kết bạn và vấn đề sử dụng thời gian, tác giả cho rằng vì hầu hết nữ công nhân đều phải làm tăng ca và thời gian làm việc liên tục nên họ có rất ít thời gian nhàn rỗi Thời gian rảnh ngoài giờ làm việc, nữ công nhân chủ yếu dành cho việc nghỉ ngơi để tái tạo sức lao động Ngoài ra, đặc điểm chung tại nơi nữ công nhân tham gia làm việc là có rất ít nam công nhân do vậy mà phương thức kết bạn chủ yếu của họ là tại đám cưới bạn bè hoặc là với người đồng hương

Cuối cùng, đề tài còn tìm hiểu thái độ của bố mẹ và gia đình đối với việc kết bạn khác giới của con cái qua lời nhận xét của nữ công nhân Cùng với các chuyên khảo vừa kể trên là những bài viết có liên quan đến đến lĩnh vực nghiên cứu Cụ thể:

Trong bài viết: “Hôn nhân và việc làm của nữ công nhân ngành may” của tác giả Hoàng Hùng trên báo Phụ Nữ số 3/2002, tác giả cho biết rằng đối với công nhân nữ thì vấn đề kết hôn vẫn giữ một vị trí rất quan trọng trong cuộc sống Bài viết cũng cho chúng ta thấy về những khó khăn của

nữ công nhân trong việc tìm kiếm bạn đời và sự tìm kiếm đôi lúc là vô vọng về một hạnh phúc gia đình

Bên cạnh đó, một số bài viết khác cũng đề cập đến vấn đề kết hôn của

nữ công nhân như: “Không đơn giản những chuyện tình” của tác giả Cẩm Tuyến trên báo Thanh niên, ngày 18/04/2002; “Nữ công nhân khu công nghiệp: gập ghềnh con đường hạnh phúc” trên báo Quân đội Nhân dân cuối

Trang 32

tuần, ngày 10/04/2007 và bài viết: “Nữ công nhân khu công nghiệp lấy chồng chẳng dễ” trên VietnamNet đồng tác giả Thanh Kim Tùng

Các bài viết của các tác giả nói trên đã cho thấy một thực trạng về đời sống tình cảm của nữ công nhân nhập cư vào thành phố Trên con đường mưu cầu hạnh phúc có rất nhiều cái giá quá đắt mà nữ công nhân phải trả từ hậu quả của việc sống thử trước hôn nhân như có thai ngoài ý muốn, bị lừa gạt tình và tiền… nhưng để tiến đến hôn nhân thì đối với với họ vẫn còn quá xa vời và vô vọng

Ngoài ra, hai bài viết sau nói về một khó khăn khác của nữ công nhân trong quá trình tìm kiếm bạn khác giới đó chính là thực trạng mất cân bằng giới tính nghiêm trọng tại nơi làm việc và cả tại khu phố trọ Hai bài viết này có tựa đề: “Vương quốc nữ giới ở các khu công nghiệp” của tác giả Nguyễn Yên Lam đăng trên báo Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5/2008 và bài “Cần giảm tình trạng mất cân bằng về giới” của hai tác giả Thu Trà - Thu Hương đăng trên báo Lao Động, số 95, năm 2007

Cả hai bài viết trên đều cho rằng, khoảng 85% nữ công nhân trong các khu công nghiệp và khu chế xuất là nữ và tuổi đã “tầm tầm” nhưng vẫn chưa xây dựng được gia đình Một trong những nguyên nhân chính là do môi trường lao động có rất ít nam công nhân, đã dẫn tới tình trạng là nữ công nhân không cơ hội giao lưu và tìm hiểu bạn khác giới

Mặt khác, hai bài viết cũng cho rằng điều kiện và thời gian làm việc của nữ công nhân tại các khu công nghiệp và khu chế xuất cũng là tác nhân gây ra tình trạng “khó lấy chồng” ở nữ công nhân

Bên cạnh đó, một số bài viết khác: “Nữ công nhân triền miên stress” của hai tác giả Phi Nguyễn và Việt Tấn đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng,

số tháng 7/2004; “Nữ công nhân độc thân – xu hướng đang phổ biến?” của tác giả Ngọc Lê đăng trên báo Bình Dương, số tháng 5/2007 cũng đề cập

Trang 33

đến chủ đề tình yêu - hôn nhân của nữ công nhân làm việc tại các khu công nghiệp và khu chế xuất

Một loạt các bài viết khác cũng đề cập đến vấn đề lao động nữ trong các khu công nghiệp và khu chế xuất: “Điều kiện lao động của nữ công nhân: thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Tín Nhiệm, đăng trên tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 2/1998; bài viết: “Nữ công nhân ngành may Thành phố Hồ Chí Minh: vài nét về môi trường lao động” của tác giả Nguyễn Thị Hòa, đăng trên tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 1/1998; bài viết: “ Sự gắn kết của nữ công nhân với công việc và doanh nghiệp” của Bùi Thị Thanh Hà, đăng trên tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 2/2006

Các bài viết đều cho thấy, các doanh nghiệp đã ít nhiều quan tâm đến đời sống vật chất và điều kiện làm việc của nữ công nhân Tuy nhiên, để nữ công nhân yên tâm làm việc, gắn bó lâu dài thì các doanh nghiệp nên hiểu rằng, ngoài chuyện thu nhập và vấn đề việc làm, nữ công nhân còn muốn được thụ hưởng các chính sách xã hội mà Nhà nước đã quy định cho người lao động, muốn có thời gian nghỉ ngơi, học tập và tìm kiếm hạnh phúc riêng cho bản thân mình

Các bài viết cũng đã cho thấy có quá nhiều khó khăn mà nữ công nhân làm việc tại các khu công nghiệp và khu chế xuất đang đối mặt: vấn đề sức khỏe do môi trường tại nơi làm việc như tiếng ồn và bụi khói, bệnh đau lưng do ngồi nhiều, áp lực về thời gian làm việc vì phải thường xuyên tăng

ca Vì làm thường xuyên trong môi trường khắc nghiệt vừa kể trên nên lao động nữ không có khoảng thời gian riêng chăm lo cho hạnh phúc của bản thân mình

Ngoài ra, các bài viết nêu trên cũng đề cập đến vấn đề mà hầu như hiện nay các công ty tuyển dụng không hề lưu tâm đó là sự mất cân bằng

về giới tại nơi làm việc Hầu hết các công ty, xí nghiệp đang hoạt động trong các khu công nghiệp và khu chế đều đang có xu hướng mất cân bằng

Trang 34

giới nghiêm trọng, cộng với điều kiện và thời gian làm việc khắc nghiệt nên công nhân nữ đang buộc phải chấp nhận cuộc sống độc thân

Tất cả các bài viết kể trên mặc dù đã đề cập ít nhiều đến vấn đề hôn nhân của nữ công nhân, những khó khăn mà nữ công nhân đang đối mặt trong việc tìm kiếm hạnh phúc Tuy nhiên, những bài viết này chỉ mới là những nhận diện ban đầu vấn đề hôn nhân của nữ công nhân hoặc là một khía cạnh nhỏ trong một đề tài nghiên cứu về nữ công nhân, chưa phải là các cuộc nghiên cứu mang tính toàn diện và đi sâu tìm hiểu vào vấn đề kết hôn của họ

Tóm lại, trong quá trình đọc và tổng kết các công trình và bài viết của các tác giả khác, chúng tôi thấy rằng, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của công nhân nữ đang làm việc tại khu công nghiệp và khu chế xuất trong bối cảnh hiện nay là hoàn toàn thích hợp Thiết nghĩ, tăng trưởng kinh tế cùng với hàng loạt chính sách xã hội phải được thực hiện một cách đồng bộ để cho công nhân nữ có thể tận hưởng phần nào từ những kết quả tăng trường kinh tế và công nghiệp hóa đem lại

Qua cuộc nghiên cứu, tác giả hi vọng chúng ta sẽ có thêm cái nhìn đầy

đủ và khách quan hơn về thực trạng đời sống tình cảm, vấn đề kết hôn của

nữ công nhân Tác giả mong muốn công trình nghiên cứu này có thể đóng góp một phần rất nhỏ cho các nhà quản lý tại Khu chế xuất Linh Trung 1 trong việc đưa ra những giải pháp thiết thực và cụ thể để có thể hỗ trợ được nhiều hơn cho công nhân nữ trên con đường mưu cầu hạnh phúc cho bản thân

1.3 Các cách tiếp cận của luận văn

1.3.1 Cách tiếp cận hệ thống [16, tr.23-29]

Trang 35

Quan tâm đến những nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp và khu chế xuất cũng có nghĩa là xem xét một quá trình xã hội của chủ thể xã hội một cách hệ thống

Hệ thống được hiểu là tổng thể các thành tố, các thành phần, các bộ phận và mối quan hệ giữa chúng theo một kiểu nào đó tạo thành một cấu thể toàn vẹn, hoàn chỉnh Như vậy, khi nói đến một hệ thống bất kỳ nào thì cũng bao gồm các bộ phận, các kiểu quan hệ và kiểu cấu trúc

Xã hội luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống toàn vẹn Nó là một hệ thống rộng lớn chứa đựng các phân hệ (còn gọi là các hệ con hay nhiều tiểu

hệ thống) Việc phân ra hệ thống nội hay hệ thống ngoại chỉ mang ý nghĩa tương đối vì còn tùy thuộc vào mối quan hệ so sánh của các tiểu hệ thống

Vì vậy, nếu so sánh các tiểu hệ thống này trong mối quan hệ đồng nhất, cùng nằm trong một cơ cấu và cùng hướng tới mục tiêu phải giải quyết thì chúng được coi là một hệ thống nội nằm trong một hệ thống lớn Còn nếu so sánh các tiểu hệ thống này trong một hệ thống rộng lớn bao gồm các tiểu hệ thống và đến lượt chính nó lại là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống lớn hơn nữa được coi là hệ thống ngoại

Hệ thống có tính toàn vẹn, xã hội ở tầm vĩ mô hay vi mô cũng luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống toàn vẹn Đối với một hệ thống như thế đòi hỏi phải được xem xét trong một sự thống nhất, điều đó có nghĩa là mỗi một sự kiện, hiện tượng hay quá trình xã hội của chủ thể xã hội, mỗi một phương diện xã hội ở tầm mức khác nhau phải được đặt dưới một nhãn quan đa diện, biện chứng và thống nhất

Hệ thống phải được đặt trong một cấu thể toàn vẹn, hữu cơ bởi lẽ tất

cả mọi hoạt động cấu thành nên hệ thống đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo một cấu trúc nhất định Chính vì vậy, mỗi sự thay đổi của bộ

Trang 36

Lý thuyết hệ thống đòi hỏi khi tiếp cận phải tôn trọng triệt để nguyên tắc tổng thể, thống nhất toàn vẹn, hữu cơ Nhưng nguyên tắc này chỉ tồn tại khi mà chúng ta tiến hành tiếp cận từ nhiều phía khác nhau

Lối sống được xem như một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống lớn của xã hội, nó chịu sự tác động của xã hội ở cả tầm vĩ mô lẫn vi mô, có thể

đó là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, những chính sách

về kinh tế - xã hội, những chính sách về tôn giáo

Ở một số khía cạnh khác thì lối sống lại được nhìn nhận như một hệ thống bao gồm các bộ phận cấu thành nên nó (tương ứng như các hệ thống con hay tiểu hệ thống) Ta có thể hiểu nó là các hoạt động sống của con người được đặt trong một thể thống nhất với các điều kiện sống và tình trạng sống của hoạt động đó Cụ thể ở đây là các hoạt động của nữ công nhân trong một môi trường xã hội như hoạt động công việc, sinh hoạt văn hóa, hoạt động chính trị - xã hội

Các hoạt động vừa kể trên ít nhiều có mối tương tác lẫn nhau, hoạt động này biến đổi sẽ kéo theo sự biến đổi của các hoạt động khác Vấn đề kết hôn của nữ công nhân là một khía cạnh trong hàng loạt các khía cạnh xoay quanh cuộc sống của nữ công nhân Một cá nhân mà cụ thể ở đây là

nữ công nhân nếu không kết hôn và nếu số lượng này càng nhiều thì sẽ ảnh hưởng đáng kể đến đời sống của xã hội nói chung, đến sự vận hành ổn định của hệ thống, vì một trong những chức năng cơ bản nhất của gia đình là tái tạo nòi giống và cung cấp sức lao động cho xã hội

1.3.2 Cách tiếp cận lối sống [55, tr.69-73]

Trong cuộc sống, những điều kiện khách quan như điều kiện kinh tế -

xã hội, điều kiện chính trị - xã hội, điều kiện tư tưởng văn hóa - xã hội, điều kiện về nhân khẩu, điều kiện về sinh thái học và điều kiện chủ quan như các điều kiện tâm lý xã hội, tình trạng chung của ý thức con người, thái độ

Trang 37

của họ đối với môi trường xung quanh trực tiếp, là hai yếu tố luôn tác động đến hoạt động đời sống của con người trong xã hội

Nói cách khác, hoạt động đời sống con người không thể tách khỏi hai yếu tố khách quan và chủ quan, chúng luôn chi phối hoạt động của con người không ở khía cạnh này thì ở dưới khía cạnh khác

Lối sống là phương thức đưa cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội bằng hoạt động của mình, đòi hỏi con người có khả năng lựa chọn các hình thức cụ thể của hoạt động đời sống của mình Sự lựa chọn đó được hình thành trên cơ sở con người biết đánh giá hoạt động sống với những điều kiện sống (điều kiện khách quan và chủ quan)

Như vậy, khi nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc kết hôn của nữ công nhân nhập cư tức là đặt họ trong mối tương quan với những điều kiện chủ quan và khách quan tác động đến lối sống của họ

Những điều kiện chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của nữ công nhân đó chính là thời gian và điều kiện làm việc, sự mất cân bằng giới tính, mối quan hệ xã hội và những khó khăn của bản thân nữ công nhân trong việc kết hôn

Trong đề tài này, sự di cư từ nông thôn vào thành phố làm việc của nữ công nhân được coi như một sự biến chuyển của lối sống dưới tác động của công cuộc đổi mới và phát triển, các điều kiện kinh tế - xã hội trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Sự biến chuyển lối sống của nữ công nhân nhập cư từ nông thôn về thành phố khi vào làm việc tại các khu công nghiệp và khu chế xuất do chịu tác động bởi những nhân tố khách quan và chủ quan của điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội vừa kể trên đã ảnh hưởng đến vấn đề kết hôn của

nữ công nhân

Trang 38

1.4.1 Lý thuyết hiện đại hóa của Goode (1963) [29, tr.14-20]

Một trong số các lý thuyết có ảnh hưởng lớn đối với với nghiên cứu về hôn nhân và gia đình là lý thuyết hiện đại hóa của Goode (1963) Luận điểm chính của tác giả là quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tác động đến tất cả các xã hội và làm biến chuyển các gia đình hướng tới khuôn mẫu gia đình với cặp vợ chồng là trung tâm Một số những “áp lực hiện đại hóa” quan trọng nhất bao gồm sự mở rộng các cơ hội giáo dục, cơ hội hoạt động nghề nghiệp và đô thị hóa

Sự biến đổi chủ yếu do công nghiệp hóa và hiện đại hóa đem lại là việc chuyển giao các chức năng từ gia đình sang các thiết chế xã hội Khuôn mẫu vợ chồng với cặp gia đình là trung tâm thường có đặc trưng kiểu gia đình hạt nhân, kết hôn muộn và cá nhân có quyền tự do trong việc lựa chọn bạn đời

Lý thuyết của Goode là một công cụ phân tích hữu ích vì nó cho phép hình thành một loạt các giả thuyết thực nghiệm Chẳng hạn các cá nhân có học vấn cao hơn, sống ở khu vực đô thị, có nghề nghiệp mang tính hiện đại thường có nhiều quyền tự do lựa chọn bạn đời hơn, họ thường kết hôn muộn hơn và thường có xu hướng sống tách riêng sau khi kết hôn

Xu hướng tiến tới khuôn mẫu hôn nhân hiện đại cũng thể hiện rõ ràng hơn đối với phụ nữ so với nam giới, vì nền công nghiệp hiện đại giúp cho người phụ nữ phát huy được vai trò của mình trong các công việc độc lập Nhờ đó, người phụ nữ trở thành những thành viên độc lập hơn trong gia đình của họ

Trong nghiên cứu này, việc áp dụng lý thuyết hiện đại hóa của Goode vào phân tích vấn đề kết hôn của công nhân nữ để thấy được rằng dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, một bộ phận lớn lao động nữ đã quyết định di cư vào thành phố tìm kiếm việc làm

Trang 39

Người phụ nữ khi vào thành phố làm việc trở thành những thành viên độc lập về kinh tế, ít chịu sự phụ thuộc vào gia đình của họ Họ có quyền độc lập và tự quyết cao hơn đối với vấn đề kết hôn như có thể kết hôn muộn hơn và lấy được người đàn ông mà mình đã lựa chọn

Trong khi gia tăng các cơ hội về việc làm và cải thiện thu nhập của nữ công nhân trong các khu công nghiệp tập trung, quá trình công nghiệp hóa

và đô thị hóa đồng thời cũng làm gia tăng các rủi ro và giảm các cơ hội lập gia đình của họ do áp lực công việc, ít cơ hội giao lưu và sự phân bố mất cân bằng về giới

1.4.2 Lược đồ xã hội học của Dixon (1971) [29, tr.14-15]

Tác giả Dixon đã nêu ra một lược đồ xã hội học nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ba biến số có vai trò điều chỉnh tác động của cơ cấu xã hội lên khuôn mẫu hôn nhân Các biến số này được gọi là khả năng lựa chọn bạn đời, tính khả thi và sự mong muốn của hôn nhân

Thứ nhất, khả năng lựa chọn bạn đời được quyết định chủ yếu bởi sự cân bằng về giới tính và tuổi của những người nằm trong một nhóm độ tuổi nào đó và bởi cách thức lựa chọn bạn đời (tự nguyện hay gia đình sắp xếp) Dixon giả định rằng sự mất cân đối nghiêm trọng giữa nam và nữ trong một nhóm tuổi có thể kết hôn nào đó sẽ làm chậm lại một số cuộc hôn nhân Ngoài ra nếu thanh niên có quyền lựa chọn theo ý mình thì việc kết hôn của họ có thể chậm hơn so với những người mà hôn nhân do bố mẹ sắp xếp

Xét vào vấn đề kết hôn của công nhân nữ ta thấy rằng chính sự mất cân bằng về giới tính tại nơi làm việc là một trong những nguyên nhân làm cho công nhân nữ giảm đi cơ hội kết hôn của mình

Trang 40

Ngoài ra, chính vì hầu hết công nhân nữ nhập cư đều sống xa gia đình,

họ được cha mẹ trao cho quyền tự do lựa chọn đối tượng và thời điểm kết hôn cũng là nguyên nhân làm cho việc lập gia đình của họ bị chậm lại Thứ hai, tính khả thi của hôn nhân đề cập chủ yếu đến những điều kiện

xã hội và tài chính cần thiết cho cặp mới kết hôn xây dựng được hộ gia đình riêng, chẳng hạn như đất đai và thu nhập

Hôn nhân xuất hiện sớm hơn trong các xã hội mà hình thức gia đình

mở rộng là phổ biến so với những nơi mà phần lớn các gia đình là gia đình hạt nhân vì gia đình mở rộng có nhiều điều kiện hỗ trợ về kinh tế hơn cho các cặp vợ chồng mới tạo lập cuộc sống riêng

Thời điểm kết hôn của dân cư sống ở khu vực đô thị có thể chậm hơn

so với khu vực nông thôn vì những chi phí cho việc tạo lập gia đình, đặc biệt là xây dựng nhà cửa Ngoài ra, những điều kiện cần thiết cho việc quản

lý hộ gia đình ở khu vực đô thị thường khó đạt được hơn Vì vậy, cư dân đô thị phải dành nhiều thời gian hơn cho việc phát triển kỹ năng nghề nghiệp, chuẩn bị các nguồn lực Do đó, họ thường phải trì hoãn vấn đề kết hôn Đối với nữ công nhân nhập cư, với cường độ làm việc liên tục nhưng đồng lương còn thấp nên rất nhiều người trong số họ mặc dù đã có người yêu nhưng vấn đề lập gia đình vẫn rất xa vời Bởi vì, nếu họ lập gia đình

mà lương không có dư thì làm sao lo cho cuộc sống gia đình rồi còn có con cái

Nữ công nhân cũng ý thức được, nếu lập gia đình, họ cũng sẽ không nhận được sự giúp đỡ gì về kinh tế và các vấn đề khác từ người thân Bởi

vì, lý do mà công nhân nữ phải di cư vào thành phố là tìm kiếm việc làm để giúp đỡ gia đình họ về mặt kinh tế

Ngày đăng: 04/04/2021, 22:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mỹ Ánh (2007), “Lao động nữ trong các khu công nghiệp, khu chế xuất: Bao giờ mới tìm được hạnh phúc riêng tư”, ViettNamNet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động nữ trong các khu công nghiệp, khu chế xuất: Bao giờ mới tìm được hạnh phúc riêng tư”
Tác giả: Mỹ Ánh
Năm: 2007
2. Linh Anh (2004), “Rời quê lên phố, bỏ phố về quê”, VietNamNet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rời quê lên phố, bỏ phố về quê”
Tác giả: Linh Anh
Năm: 2004
3. Kim Anh (2004), “Nữ công nhân stress, stress, stress”, Việt Báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ công nhân stress, stress, stress”
Tác giả: Kim Anh
Năm: 2004
4. Đỗ Thị Bình (2006), “Một số cách tiếp cận lý thuyết trong nghiên cứu gia đình”, Nghiên cứu gia đình và giới, (2), tr.16-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số cách tiếp cận lý thuyết trong nghiên cứu gia đình”, "Nghiên cứu gia đình và giới
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Năm: 2006
5. Bùi Thế Cường (2006), Các lý thuyết Xã hội học, Giáo trình giảng dạy lớp cao học Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết Xã hội học
Tác giả: Bùi Thế Cường
Năm: 2006
6. Nguyễn Hữu Dũng – Trần Võ Hùng Sơn – Vũ Đức Tuấn (1997), “Di cư của phụ nữ nông thôn và ảnh hưởng của di cư đến nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long”, Xã hội học, (2), tr.39-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di cư của phụ nữ nông thôn và ảnh hưởng của di cư đến nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long”, "Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng – Trần Võ Hùng Sơn – Vũ Đức Tuấn
Năm: 1997
7. Phạm Duy Đức (2007), “Xây dựng môi trường văn hoá trong công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, Cộng sản điện tử, (126) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng môi trường văn hoá trong công nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, "Cộng sản điện tử
Tác giả: Phạm Duy Đức
Năm: 2007
8. Trần Hàn Giang (2001), Nữ công nhân khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh và dịch vụ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam, Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ công nhân khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh và dịch vụ trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
Tác giả: Trần Hàn Giang
Năm: 2001
9. Bùi Thị Thanh Hà (2003), Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới”, Khoa học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới
Tác giả: Bùi Thị Thanh Hà
Năm: 2003
10. Bùi Thị Thanh Hà (2006), “Sự gắn kết của nữ công nhân với công việc và doanh nghiệp”, Khoa học về Phụ nữ, (2), tr.44-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự gắn kết của nữ công nhân với công việc và doanh nghiệp”, "Khoa học về Phụ nữ
Tác giả: Bùi Thị Thanh Hà
Năm: 2006
11. Bùi Thị Thanh Hà (2009), “Công nhân nhập cư với việc tìm kiếm bạn đời”, Xã hội học, (2), tr.41-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhân nhập cư với việc tìm kiếm bạn đời”, "Xã hội học
Tác giả: Bùi Thị Thanh Hà
Năm: 2009
12. Hải Hà (2007), “Tại các khu công nghiệp: Lao động nữ luôn biến động, vì sao?”, Hà Nội Mới, (6), tr.8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại các khu công nghiệp: Lao động nữ luôn biến động, vì sao?”, "Hà Nội Mới
Tác giả: Hải Hà
Năm: 2007
13. Minh Hà (2005), “70% công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất là lao động nhập cư”, Tuổi Trẻ online Sách, tạp chí
Tiêu đề: 70% công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất là lao động nhập cư”
Tác giả: Minh Hà
Năm: 2005
14. Dũng Hiếu (2008), “Bức xúc đời sống công nhân”, VietNamNet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức xúc đời sống công nhân”
Tác giả: Dũng Hiếu
Năm: 2008
15. Nguyễn Thị Ngân Hoa (2007), “Quan niệm về hôn nhân của nữ công nhân chưa có gia đình”, Giới - Việc làm và đời sống gia đình, Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về hôn nhân của nữ công nhân chưa có gia đình”, "Giới - Việc làm và đời sống gia đình
Tác giả: Nguyễn Thị Ngân Hoa
Năm: 2007
16. Nguyễn Minh Hoà (1999), Xã hội học những vấn đề cơ bản, Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Minh Hoà
Năm: 1999
17. Nguyễn Thị Hoà (1998), “Nữ công nhân ngành may Thành phố Hồ Chí Minh: Vài nét về môi trường lao động”, Khoa học về Phụ nữ, (1), tr.9-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ công nhân ngành may Thành phố Hồ Chí Minh: Vài nét về môi trường lao động”, "Khoa học về Phụ nữ
Tác giả: Nguyễn Thị Hoà
Năm: 1998
18. Hoàng Hùng (2002), “Hôn nhân và việc làm của nữ công nhân ngành may”, Phụ nữ chủ nhật, (3), tr.28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và việc làm của nữ công nhân ngành may”, "Phụ nữ chủ nhật
Tác giả: Hoàng Hùng
Năm: 2002
19. Nguyễn Lan Hương (2002), “Vài nét về thực trạng và giải pháp cho vấn đề lao động ở khu công nghiệp, khu chế xuất”, Khoa học Xã hội, (5), tr.22- 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về thực trạng và giải pháp cho vấn đề lao động ở khu công nghiệp, khu chế xuất”, "Khoa học Xã hội
Tác giả: Nguyễn Lan Hương
Năm: 2002
22. Thu Hương (2006), “Hạnh phúc công nhân - Yêu vội, cưới gấp”, VietNamNet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạnh phúc công nhân - Yêu vội, cưới gấp”
Tác giả: Thu Hương
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm