1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính linh hoạt như một nét bản sắc văn hóa của âm nhạc truyền thống việt nam

106 217 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong văn hóa âm nhạc Việt Nam, âm nhạc truyền thống là một bộ phận quan trọng, là phương diện mà tính linh hoạt được thể hiện khá rõ nét, góp phần tạo nên bản sắc cho âm nhạc dân tộc nó

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VĂN HÓA HỌC

_

NGÔ ANH ĐÀO

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS PHAN THU HIỀN

TP HỒ CHÍ MINH, năm 2009

TÍNH LINH HOẠT NHƯ MỘT NÉT BẢN SẮC VĂN HÓA

CỦA ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG

Trang 2

1.2.2 Bản sắc văn hóa Việt Nam từ cái nhìn loại hình 15

Trang 3

CHƯƠNG 2

TÍNH LINH HOẠT TRONG CẤU TRÚC NGHỆ THUẬT ÂM NHẠC

2.1 Xét từ chủ thể và hoạt động sáng tác, biểu diễn, thưởng thức 31

2.1.1 Chủ thể sáng tác, biểu diễn, thưởng thức 31

2.1.2 Hoạt động sáng tác, biểu diễn, thưởng thức 35

3.2 Tính linh hoạt và khả năng tiếp biến ảnh hưởng âm nhạc khu vực 65 3.3 Tính linh hoạt và khả năng tiếp biến ảnh hưởng âm nhạc phương Tây 74 3.4 Tính linh hoạt và khả năng tiếp biến trong thời kỳ hội nhập 83

Trang 4

PHỤ LỤC 104 BẢNG CHÚ GIẢI MỘT SỐ THUẬT NGỮ ÂM NHẠC

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đối với một quốc gia thuộc loại hình văn hóa nông nghiệp như Việt Nam, tính linh hoạt là một nét bản sắc tiêu biểu Nó hiện diện trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có âm nhạc

Là một nghệ thuật tinh tế, tuy không miêu tả trực tiếp, nhưng âm nhạc thông qua giai điệu, tiết tấu, nhịp điệu, âm sắc toát lên từ lời ca, tiếng hát, tiếng đàn, mọi sắc thái, cung bậc tình cảm phong phú nơi tâm hồn được biểu hiện Do đó, có thể nói, âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần con người và là một thành tố không thể thiếu của văn hóa tổ chức đời sống cá nhân Hiểu về âm nhạc cũng chính là hiểu phần nào về văn hóa

Trong văn hóa âm nhạc Việt Nam, âm nhạc truyền thống là một bộ phận quan trọng, là phương diện mà tính linh hoạt được thể hiện khá rõ nét, góp phần tạo nên bản sắc cho âm nhạc dân tộc nói riêng hay văn hóa Việt nói

chung Xuất phát từ ý nghĩa trên, chúng tôi đã chọn Tính linh hoạt như một

nét bản sắc văn hóa của âm nhạc truyền thống Việt Nam làm đề tài luận

văn

2 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu Tính linh hoạt như một nét bản sắc văn hóa của

âm nhạc truyền thống Việt Nam nhằm mục đích chỉ ra tính linh hoạt như

một nét bản sắc tạo nên cái hay, cái độc đáo cho âm nhạc truyền thống nước

ta

Xét trên bình diện tổng thể, âm nhạc cũng là một thành tố của văn hóa, vì vậy, từ nét bản sắc của âm nhạc truyền thống, chúng ta có thể hiểu phần nào về bản sắc văn hóa Việt Nam nói chung

Trang 6

3 Lịch sử vấn đề

Trong phạm vi tài liệu mà chúng tôi đã có điều kiện tiếp xúc, âm nhạc truyền thống không phải là một vấn đề mới Nó được đề cập đến trong một số sách nghiên cứu về văn hóa và sách chuyên ngành âm nhạc

a Sách nghiên cứu về văn hóa

Trong Việt Nam văn hóa sử cương, Đào Duy Anh xem âm nhạc là

một lĩnh vực của nghệ thuật và điểm qua vài nét về âm nhạc truyền thống của dân tộc từ đời Lý cho đến những thập niên đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, ông tập trung nói về những sở đoản của âm nhạc dân tộc như: “nhạc của ta chỉ là những bài tiết âm”, “tài tử của ta chỉ tinh về phép nhịp phách chứ không biết cách hòa hiệp các âm điệu khác nhau ” hay “âm nhạc xưa này không có ghi chép, mà cao độ của mỗi tiếng thì mập mờ, cho nên người học nhạc chỉ học truyền khẩu mà người tấu nhạc thì tấu chừng với nhau, miễn là thuận tay, vừa tai là được Bởi thế, xoang điệu thường không giữ được tính chất thuần túy

mà thành tạp nhạp” [Đào Duy Anh 2006: 319] Nhận định trên có phần mang tính chủ quan khi người viết chưa thấy rõ các sở đoản đó lại chính là đặc trưng của âm nhạc truyền thống nước ta

Trần Ngọc Thêm trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam xếp âm

nhạc thuộc nghệ thuật thanh sắc Từ đặc điểm loại hình văn hóa, tác giả đã nhận xét về biểu hiện của tính linh hoạt trong phương thức biểu diễn: “Âm nhạc truyền thống không đòi hỏi mọi nhạc công phải chơi giống hệt nhau Chỉ cần bắt đầu và kết thúc giống nhau và chơi đúng theo hơi quy định, còn ở các phách giữa thì mỗi nghệ nhân có thể bộc lộ hết tài năng của mình” [Trần Ngọc Thêm 2004: 310]

Với Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trần Quốc Vượng xem âm nhạc là

thành tố của nghệ thuật biểu diễn Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử và địa văn hóa, ông phác họa một vài nét cơ bản của âm nhạc truyền thống ở mỗi

Trang 7

giai đoạn lịch sử và ở từng vùng văn hóa, chẳng hạn như: “Nghệ thuật âm nhạc là ngành nghệ thuật quan trọng đã khá phát triển thể hiện đời sống tinh thần của cả cư dân Đông Sơn Nhạc cụ đáng lưu ý là trống đồng, sau đó là sênh, phách, khèn” [Trần QuốcVượng 2003: 123] hay: “nét đặc sắc của dân

ca xứ Huế là âm sắc, ngữ âm địa phương không lẫn với vùng nào trên đất nước ta, đồng thời ảnh hưởng của dân ca, âm nhạc Champa đối với dân ca xứ Huế là điều không thể phủ nhận” [Trần Quốc Vượng 2003: 250]

Từ hướng nghiên cứu văn hóa Việt trên cơ sở kết hợp giữa phương

pháp lịch đại và đồng đại, trong Cơ sở văn hóa Việt Nam, Chu Xuân Diên xếp

âm nhạc thuộc nhóm nghệ thuật diễn xướng cùng với múa và các trò diễn sân khấu từ đơn giản đến phức tạp Nói về âm nhạc truyền thống, tác giả nhận định: “Trong âm nhạc truyền thống của người Việt, bộ gõ là loại nhạc cụ có nguồn gốc lâu đời, có tính chất đa dạng và phổ biến nhất… Về thanh nhạc thì đặc biệt có sự phong phú của các loại ca hát dân gian từ dân ca lao động, dân

ca nghi lễ phong tục đến dân ca sinh hoạt ” [Chu Xuân Diên 2002: 207]

Đặng Đức Siêu khi viết về âm nhạc truyền thống, trong Sổ tay văn hóa Việt Nam, ông nhận xét: “Vốn âm nhạc dân tộc của chúng ta rất phong

phú Ông cha ta lại có ý thức tiếp thu và phát triển tinh hoa của những dòng

âm nhạc nước ngoài để làm cho âm nhạc dân tộc thêm đa dạng” [Đặng Đức Siêu 2006: 317]

Trong những sách nghiên cứu về văn hóa vừa nêu trên, ngoại trừ

Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm đã nêu cụ thể về tính linh hoạt của âm nhạc cổ truyền dân tộc, và Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh có kèm theo một vài nhận xét của chính tác giả, các công trình

còn lại hầu như chỉ mang tính chất điểm xuyết khi đề cập đến âm nhạc truyền thống Việt Nam

Trang 8

b Sách chuyên ngành âm nhạc: chủ yếu tập trung vào một số nhà nghiên

cứu, lý luận phê bình âm nhạc như Trần Văn Khê, Tô Vũ, Nguyễn Thụy Loan, Tô Ngọc Thanh

Trong Lược sử âm nhạc Việt Nam, với phương pháp nghiên cứu lịch sử, tác giả Nguyễn Thụy Loan đã khái quát tiến trình lịch sử và nêu

những nhận xét về bản sắc văn hóa âm nhạc Việt Nam: “Nền tảng cổ truyền của âm nhạc Việt Nam chính là một nền âm nhạc bản địa mang truyền thống Đông Nam Á, với đủ những đặc trưng của nó…” [Nguyễn Thụy Loan 1983: 7]

Âm nhạc và sân khấu kịch hát dân tộc - một công trình tập hợp

những bài viết về âm nhạc dân tộc của Mịch Quang, trong đó, tác giả nhắc đến tính linh hoạt và xem đó như một ưu điểm nổi bật: “Hiện tượng làn điệu, bài bản dân ca lẫn nhạc cổ, luôn luôn biến hóa, thay đổi hình dạng tùy theo người đàn, người hát, lời hát, không phải là sự tùy tiện , mà là một sự diệu kỳ được tạo nên do cấu trúc động, mở” [Mịch Quang 1995: 54]

Tác giả Tô Vũ với công trình Sức sống của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, qua hai chuyên luận Diễn tấu trong nghệ thuật âm nhạc truyền thống và Nhạc khí với tính dân tộc và tính hiện đại trong âm nhạc, tuy

không trực tiếp đề cập nhưng thông qua những luận điểm của người viết, chúng ta cũng có thể nhận ra được sự có mặt của tính linh hoạt trong âm nhạc truyền thống

Cũng là một công trình được viết dành riêng cho chuyên ngành lý

luận phê bình âm nhạc, Âm nhạc Việt Nam - truyền thống và hiện đại, bằng những khảo sát về Nhạc khí truyền thống Việt Nam và Âm nhạc cổ truyền Nam Bộ, Tô Vũ một lần nữa đã cung cấp các cứ liệu quý giá cho quá trình tìm

hiểu về tính linh hoạt của âm nhạc truyền thống

Trang 9

Khi bàn về ảnh hưởng của ngôn ngữ trong nét nhạc của dân ca Việt Nam hay khi nói về ưu, nhược điểm của nghệ thuật cải lương, Trần Văn Khê

trong Trần Văn Khê và Âm nhạc dân tộc có nhắc đến một vài đặc điểm mà

chúng ta có thể xem đó như là những biểu hiện tính linh hoạt của âm nhạc truyền thống, như: “nét nhạc của một bài dân ca thường bị nét nhạc của hai câu lục bát chi phối Người dân Việt không bị khung ngôn ngữ gò bò mà lại

có nhiều phương pháp để vượt khỏi khung ấy, sáng tạo nhiều nét nhạc độc đáo… cho những chữ luyến, láy, vuốt riêng theo chiều hướng của thanh điệu

để nét nhạc được uyển chuyển, tiếng ngân nga dài hơi, người ngâm sử dụng nhiều nốt để ngân một chữ trong lời thơ” [Trần Văn Khê 2000: 254]

Ở công trình Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống, tác giả giới

thiệu một cách cơ bản tất cả các thể loại của âm nhạc truyền thống Việt Nam Tuy nhiên, theo chính lời tự nhận xét của Trần Văn Khê thì những cái hay trong âm nhạc truyền thống chưa được đề cập đến

Với Âm nhạc Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, Dương Viết Á đã tập

hợp nhiều quan điểm, ý kiến của các nhà nghiên cứu, kết hợp với những nhận định, phân tích của mình để tổng hợp lại tiến trình của âm nhạc Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ đến những năm 2000 và nêu lên một số vấn đề của âm nhạc Việt Nam như: tính dân tộc trong ca từ, phong cách trong lời mới theo điệu cổ…

Ngoài những công trình tiêu biểu nêu trên, còn có rất nhiều tác giả với các công trình chuyên sâu về một hình thức, thể loại nào đó như: Võ

Thanh Tùng với Nhạc khí dân tộc Việt, Đắc Nhẫn với Tìm hiểu âm nhạc cải lương, Quan họ nguồn gốc và quá trình phát triển của Đặng Văn Lung, Hồng

Thao, Trần Linh Quý

Nhìn chung, số lượng công trình về âm nhạc truyền thống không phải là ít, tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có một công trình độc

Trang 10

lập nào khảo sát cụ thể về tính linh hoạt của âm nhạc truyền thống và xem xét tính linh hoạt như một nét bản sắc văn hoá của âm nhạc truyền thống Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu tính linh hoạt của âm nhạc truyền thống Việt Nam và biểu hiện của nó xét từ các góc độ: chủ thể, hoạt động, phương tiện,

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

a Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu của luận văn nhận định tính linh hoạt như một nét bản sắc văn hóa, góp phần tạo nên cái hay, cái độc đáo cho âm nhạc truyền thống Việt Nam nói riêng và rộng hơn nữa là văn hóa Việt Nam nói chung

b Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài có ý nghĩa quan trọng đối với người viết trong việc nghiên cứu sâu về văn hóa âm nhạc Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn hy vọng sẽ góp

Trang 11

phần giúp một bộ phận công chúng trẻ và những người đang quan tâm sẽ hiểu hơn về bản sắc âm nhạc truyền thống cũng như bản sắc văn hóa Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

a Phương pháp nghiên cứu

Luận văn là một đề tài thuộc lĩnh vực văn hóa học, do đó chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: xem văn hóa như hệ thống lớn với âm nhạc là một thành tố trực thuộc Đến lượt mình, âm nhạc lại tiếp tục trở thành một hệ thống nhỏ hơn gồm nhiều yếu tố

- Phương pháp so sánh: so sánh một số yếu tố của âm nhạc truyền thống Việt Nam như: chủ thể sáng tác, biểu diễn, đối tượng thưởng thức, thang

âm điệu thức… với các yếu tố tương ứng trong âm nhạc truyền thống phương Tây và âm nhạc cổ truyền Trung Hoa, từ đó làm nổi bật lên tính linh hoạt như một nét bản sắc của văn hóa âm nhạc Việt Nam

- Phương pháp liên ngành: vận dụng kiến thức và phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành liên quan như: lịch sử, âm nhạc để tìm hiểu các vấn đề của âm nhạc, âm nhạc truyền thống nói riêng hay văn hóa âm nhạc Việt Nam nói chung

- Phương pháp thực nghiệm: tìm hiểu âm nhạc truyền thống Việt

Nam thông qua việc nghe, quan sát từ biểu diễn thực tế

b Nguồn tài liệu

Do phạm vi nghiên cứu của đề tài nên nguồn tài liệu được sử dụng chủ yếu là các sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả trong và ngoài nước thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: văn hóa học, âm nhạc, nghệ thuật học Nguồn này cung cấp cho chúng tôi những cứ liệu quan

Trang 12

trọng để hiểu về văn hóa, bản sắc văn hóa Việt Nam, các thể loại của âm nhạc truyền thống, các lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng thu thập nguồn tư liệu là các cuộc phỏng vấn trực tiếp với những chuyên gia, nhà nghiên cứu về âm nhạc, văn hóa, kết hợp với việc sưu tầm gián tiếp trên mạng Internet các bài viết, các băng, đĩa về âm nhạc truyền thống Việt Nam và một số thể loại tiêu biểu của

7 Bố cục luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận Đây là chương có tính chất lý luận, trình bày về: tính linh hoạt, bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa Việt Nam, âm nhạc,

âm nhạc truyền thống Việt Nam, là cơ sở để triển khai phân tích ở những chương tiếp theo

Chương 2: Tính linh hoạt trong cấu trúc nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam

Chương này tìm hiểu những biểu hiện của tính linh hoạt trong cấu trúc nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam, nhìn từ các góc độ: chủ thể, hoạt động, phương tiện, sản phẩm

Chương 3: Tính linh hoạt của âm nhạc truyền thống Việt Nam trong giao lưu tiếp biến, hội nhập văn hóa

Tính linh hoạt của âm nhạc truyền thống được xem xét với khả năng tiếp biến những ảnh hưởng ngoại nhập Bên cạnh đó, tính linh hoạt còn được nghiên cứu trong mối liên hệ với bản sắc nông nghiệp

Trang 13

1.1 Tính linh hoạt

Khi nói về văn hóa Việt Nam, người ta thường nhắc đến tính linh hoạt như một trong những nét bản sắc tiêu biểu và có nguồn gốc từ văn hóa nông nghiệp

Đối với nhà nông, việc mùa màng bội thu, con người đông đúc đáp ứng được nhu cầu công việc là ước vọng lớn nhất trong cuộc sống của họ Để mong ước này trở thành hiện thực thì hoa màu và con người phải sinh sôi nảy

nở Cây cỏ, hoa trái mọc lên từ đất, phát triển và lớn lên dưới ánh nắng mặt trời Còn con người được sinh ra và nuôi dưỡng bởi mẹ - cha Người xưa đã đồng nhất đất với mẹ, trời với cha Hợp nhất hai cặp “đất - trời” và “mẹ - cha”, triết lý âm dương hình thành ở bước khởi thủy Bên cạnh đó, trong cuộc sống hằng ngày, đối diện với rất nhiều cặp đối lập cùng tồn tại như: ngày - đêm, sáng - tối, lạnh - nóng, tốt - xấu , con người phát hiện và hiểu rằng tất

cả mọi sự vật, hiện tượng đều có tính hai mặt, đều mang thuộc tính âm - dương Âm - dương gắn bó mật thiết với nhau, chuyển hóa cho nhau, không

có gì âm hoàn toàn hoặc dương hoàn toàn mà ngược lại, trong âm có dương,

Trang 14

trong dương có âm Nhận thức được quy luật này nên người Việt đã chọn cho mình triết lý sống quân bình Và cũng chính triết lý quân bình đó đã mang đến lối ứng xử linh hoạt trong mọi hoàn cảnh

Từ những phân tích trên, có thể thấy, cơ sở hình thành tính linh hoạt bắt nguồn từ triết lý quân bình âm dương Và tính linh hoạt của văn hóa nông nghiệp là khả năng thích nghi và ứng biến cao trong mọi hoàn cảnh

1 2 Bản sắc và bản sắc văn hóa Việt Nam

1.2.1 Bản sắc văn hóa

Ngày nay, theo xu thế chung của thời đại, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ Nguy cơ đứng trước sự hòa tan, đánh mất dần bản sắc văn hóa dân tộc đã trở thành mối lo ngại lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới Do vậy, hơn bao giờ hết, vấn đề bản sắc văn hóa rất được quan tâm Vậy bản sắc văn hóa là gì? Câu hỏi này, cho đến nay, tuy đã có nhiều cách giải thích nhưng nhìn chung vẫn chưa có sự thống nhất Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về văn hóa cũng đưa ra khá nhiều định nghĩa từ các hướng tiếp cận khác nhau

Theo Minh Chi: Bản là “cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân của một sự vật, còn sắc là “hiển hiện ra ngoài” Bản sắc văn hóa là “những giá trị gốc”, “những giá trị tiêu biểu nhất” được “khẳng định trong quá trình lịch

sử xây dựng, củng cố và phát triển của dân tộc Việt Nam” Chúng biểu hiện ra trong mọi lĩnh vực và mang tính dân tộc sâu sắc [Lê Ngọc Trà 2001: 13]

Ngô Đức Thịnh xem “các giá trị đặc trưng bản chất của văn hóa dân tộc, hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của đất nước” là bản sắc văn hóa [ www.suutap.com/dangian/]

Cùng bàn về vấn đề trên, Lê Ngọc Trà cho rằng: “Cái tạo nên bản sắc riêng, nét đặc trưng riêng trong văn hóa của một dân tộc chính là toàn bộ những cái vốn có trong bản thân nó, những cái nằm trong bản chất tạo thành

Trang 15

cốt lõi, diện mạo của nó, những cái mà khi nhắc đến dân tộc ấy, nền văn hóa

ấy, người ta không thể không nói tới” [Lê Ngọc Trà 2001: 4]

Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong bài giảng về Bản sắc văn hóa Việt Nam đã nhận định bản sắc văn hóa là một hệ thống giá trị tinh thần

tồn tại tương đối lâu bền hơn cả trong truyền thống văn hóa dân tộc, tạo nên tính đặc thù, khu biệt dân tộc ấy với các dân tộc khác Giữa bản sắc văn hóa

và văn hóa có mối liên hệ với nhau Bản sắc văn hóa gắn liền, là một thuộc tính và là phần chung nhất, khái quát nhất của văn hóa Bản sắc văn hóa được xác định với ba cấp độ: khái quát, cụ thể và phái sinh Các cấp độ này tương ứng với: hệ thống các đặc trưng bản sắc (khái quát), hệ thống các đặc điểm cụ thể của các đặc trưng bản sắc (cụ thể) và hệ thống các hệ quả và hậu quả của các đặc trưng bản sắc (phái sinh) Có năm đặc trưng tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam, đó là: ưa hài hòa, thiên về âm tính, cộng đồng tình cảm, tổng hợp,

và linh hoạt

Nhìn chung, đa số ý kiến của các học giả Việt Nam đều thống nhất khi bàn về khái niệm bản sắc văn hóa Bản sắc văn hóa có thể được hình dung như là những giá trị mang tính đặc trưng, bản chất, bền vững, được hình thành, tồn tại và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử Những giá trị này giúp nhận diện, phân biệt giữa cộng đồng, dân tộc này với cộng đồng dân tộc khác Nhờ bản sắc văn hóa mà mỗi quốc gia có thể tự nhận diện về chính mình, đồng thời khẳng định và xác lập vị thế trên trường quốc tế

Bản sắc văn hóa cho đến hiện tại vẫn còn là một khái niệm cần được tiếp tục tìm hiểu thêm bởi tính chất quan trọng của nó trong việc tìm ra những đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam khi đặt trong quan hệ giao lưu văn hóa với các quốc gia, các dân tộc khác trên thế giới

Trang 16

1.2.2 Bản sắc văn hóa Việt Nam từ cái nhìn loại hình

Đã từ lâu, con người nhận ra các nền văn hóa trên thế giới vô cùng phong phú và đa dạng Sự phong phú, đa dạng đó được tạo nên bởi những tương đồng, khác biệt muôn màu muôn vẻ của các nền văn hóa Để tìm hiểu

về chúng, giới nghiên cứu đã nêu ra các lý thuyết như: thuyết khuếch tán văn hóa, thuyết vùng văn hóa và thuyết loại hình kinh tế - văn hóa Mỗi thuyết đều

có ưu, nhược điểm riêng của mình Ở Việt Nam, từ cơ sở thuyết loại hình kinh tế - văn hóa, tác giả Trần Ngọc Thêm đã xây dựng một hướng tiếp cận tổng hợp, dựa vào các đặc trưng địa lý - khu vực và các đặc điểm mang tính lịch sử - kinh tế để từ đó xác định loại hình văn hóa Theo ông, trên thế giới,

có hai loại hình văn hóa cơ bản là: văn hóa gốc nông nghiệp - trọng tĩnh, điển hình là các nền văn hóa phương Đông và văn hóa gốc du mục - trọng động, tiêu biểu cho các nền văn hóa phương Tây Việt Nam thuộc Đông Nam Á - một trong những cái nôi đầu tiên xuất hiện loài người, với điều kiện tự nhiên: nắng nóng, mưa nhiều, sông ngòi dày đặc, cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, do vậy, văn hóa Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp Bản sắc văn hóa Việt Nam cũng chịu sự chi phối của loại hình này Vì bản sắc văn hóa được xem là một tổng thể các giá trị đặc trưng, tồn tại theo suốt chiều dài lịch sử, gắn chặt với việc hình thành và phát triển của một cộng đồng, dân tộc Có thể nói, Việt Nam mang bản sắc văn hóa nông nghiệp, với những đặc trưng cơ bản như: lối tư duy tổng hợp, trọng tình, phong cách sống linh hoạt, thái độ mềm dẻo hiếu hòa trong đối phó, dung hợp trong tiếp nhận Nó đối lập với phương Tây xuất phát từ loại hình văn hóa gốc du mục, vốn trọng sức mạnh, tư duy thì thiên về phân tích, phong cách sống nguyên tắc, độc tôn trong tiếp nhận còn trong đối phó lại cứng rắn, hiếu thắng

Trang 17

Bảng so sánh các đặc trưng của hai loại hình văn hóa

Tiêu chí Văn hóa trọng tĩnh

Coi thường, tham vọng chế ngự thiên nhiên

Lối nhận thức, tư duy Thiên về tổng hợp và

biện chứng (trọng quan hệ), chủ quan, cảm tính và kinh nghiệm

Thiên về phân tích và siêu hình, (trọng yếu tố), khách quan, lý tính và thực nghiệm

Nguyên tắc

tổ chức cộng

đồng

Trọng tình, trọng đức, trọng văn, trọng

nữ

Trọng sức mạnh, trọng tài, trọng võ, trọng nam

Ứng xử môi trường

xã hội

Dung hợp trong tiếp nhận, mềm dẻo, hiếu hòa trong đối phó

Độc tôn trong tiếp nhận, cứng rắn, hiếu thắng trong đối phó

[Trần Ngọc Thêm 2004:48]

Trang 18

Từ góc nhìn loại hình văn hóa, bản sắc văn hóa Việt Nam và những đặc trưng cơ bản có thể được nhận diện Đây là một hướng tiếp cận khoa học

đã phản ánh toàn cảnh nền văn hóa Việt với đầy đủ các tính chất, sắc thái đa dạng trong sự so sánh tương đồng, khác biệt với các nền văn hóa khác

1.3 Âm nhạc và âm nhạc truyền thống Việt Nam

1.3.1 Âm nhạc

a Khái niệm

Nhắc đến âm nhạc, chúng ta liên tưởng đến một loại hình nghệ thuật tương đối trừu tượng nhưng lại chứa đựng sự hấp dẫn lớn bởi nó có “sức truyền cảm rất mạnh, phản ánh bằng ngôn ngữ âm thanh tâm hồn con người mỗi thời đại” [Hà Huy Giáp 1972:12] Có lẽ chính vì vậy mà âm nhạc luôn dành được nhiều sự quan tâm, ưu ái Cho đến ngày nay, các câu hỏi như: “âm nhạc là gì” hay “âm thanh như thế nào thì gọi là âm nhạc”… vẫn còn là chủ

đề thú vị, thu hút sự tranh luận đối với cả giới chuyên môn lẫn những người yêu thích âm nhạc Do đó, khái niệm âm nhạc mang tính chất mở và có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau

Từ điển Encyclopedia of Cultural Anthropology định nghĩa: “âm

nhạc được tạo thành từ âm thanh lặp lại, kéo dài của giọng nói hoặc âm thanh phát ra từ các nhạc cụ Âm nhạc là hoạt động thuộc về con người” [David Levinson: 821]

Trong công trình tập hợp những bài viết nghiên cứu về âm nhạc thế

giới World music- A Global Journey, Terry.E.Miller và Andrew Shahriari

xem âm nhạc “là một hiện tượng mang tính ý niệm chỉ tồn tại trong tinh thần, chí ít đó là nơi có sự phân biệt giữa “tiếng ồn” và “âm nhạc” Bình thường, chúng ta được bao quanh bởi những âm thanh như: âm thanh của tự nhiên, âm thanh nhân tạo, âm thanh chính giọng nói con người Sự phân biệt giữa “âm nhạc” với “tiếng ồn” thường đến một cách tự nhiên và phụ thuộc vào khả

Trang 19

năng nhận thức của mỗi người Khả năng ấy hình thành từ kinh nghiệm sống,

từ môi trường văn hóa mà con người được sinh ra, nuôi dưỡng Chính môi trường này sẽ chuyển tải những ý niệm chung để phân biệt hai loại âm thanh trên Do vậy, khái niệm “âm nhạc” cần thiết phải được xác định một cách văn hóa [Terry E Miller, Andrew Shahriari 2006:12]

Theo hai nhà nghiên cứu, chúng ta hiểu âm nhạc theo một nghĩa rộng, bao gồm cả hiện tượng thanh nhạc lẫn khí nhạc, nhưng không phải tất

cả mọi người đều có cách nghĩ giống nhau Một số người lại phân biệt giữa

âm nhạc và ca hát, với họ, âm nhạc chỉ đơn thuần là khí nhạc

Trong lĩnh vực thanh nhạc, giữa lời nói và lời hát cũng có sự phân biệt Người nghe đến từ nền văn hóa này có thể không như người nghe đến từ nền văn hóa khác khi cùng nhận xét về một hiện tượng Ví dụ, người ta khó phân biệt giữa “lời nói” và “lời hát” khi nghe những những “lời được tôn cao”(heightened speech) trong các nghi thức, nghi lễ tôn giáo, đặc biệt với những tôn giáo không khuyến khích hoặc cấm ca hát Chẳng hạn, Phật giáo Tiểu thừa ở Thái Lan không cho phép tu sĩ được hát Nhưng nếu nghe họ tụng

kể Jataka (Những câu chuyện tiền thân Đức Phật) thì phần đông, những người phương Tây sẽ miêu tả đó là ca hát Cùng một hiện tượng, là tụng kể, thuyết pháp trong phối cảnh của người Thái, nhưng lại là âm nhạc trong phối cảnh của người nghe phương Tây Không phối cảnh nào sai mà mỗi phối cảnh

“đúng” theo những quy tắc, chuẩn văn hóa của mình [Terry.E.Miller, Andrew Shahriari 2006:12]

Những nhà nghiên cứu ký hiệu học, khi nhận định về âm nhạc, họ cho rằng âm thanh âm nhạc, tự bản thân nó là một biểu tượng trung tính không có ý nghĩa cố hữu Do vậy, âm nhạc được xem như một “văn bản” hoặc một “dấu tích” nào đó cần phải giải nghĩa Trong quá trình sáng tạo âm nhạc, người nhạc sỹ đã mã hóa những ý nghĩa, những cảm xúc vào sự biên

Trang 20

soạn một bản nhạc hay một bài hát Bản nhạc, bài hát đó sẽ được cắt nghĩa bởi người nghe Và sự cắt nghĩa đó là kết quả do môi trường văn hóa và sự trải nghiệm đời sống đem lại Khi một cộng đồng, một nhóm người có bối cảnh sống tương tự nhau, cùng chia sẻ những tình cảm, suy nghĩ trên nền tảng chung nào đó, lúc thưởng thức một tác phẩm hoặc một buổi biểu diễn âm nhạc, có khả năng tất cả hay số đông trong họ đều giải mã âm nhạc mà họ nghe tương tự nhau, nhưng cũng có trường hợp, mỗi người lại hiểu theo một cách khác Nói tóm lại, sự nhận thức phải hay không phải là âm nhạc chỉ mang tính tương đối Việc cắt nghĩa âm nhạc không nhất thiết phải được truyền đạt từ chủ thể sáng tạo đến chủ thể thưởng thức Người nghe có thể hiểu theo cách riêng của mình Tuy nhiên, khi có cùng một bối cảnh sống, cùng chia sẻ tương đồng văn hóa, giữa người sáng tạo và người nghe sẽ tìm thấy điểm chung Họ có thể cùng cảm nhận, cùng nhận định giống nhau đối với âm nhạc và ngược lại Ví dụ, người Ấn Độ khi nghe trình diễn một làn điệu raga, họ hiểu những ý nghĩa gắn với làn điệu raga này Trong khi đó, khán giả Châu Âu biết ít hoặc không biết về âm nhạc, văn hóa Ấn Độ sẽ giải nghĩa raga theo kinh nghiệm của bản thân và theo những quy chuẩn âm nhạc

ở xã hội mà họ đang sống Do vậy, không thể nghe âm nhạc Ấn mà không hiểu biết về văn hóa Ấn Độ, vì mỗi raga đều gắn kết với một thời gian, không gian, sắc thái tình cảm nhất định Sự gắn kết này được quy định bởi văn hóa Trên thế giới, những trường hợp nhận xét, đánh giá một cách chủ quan, sai lầm thường xảy ra không ít Những kiểu thức văn hóa của dân tộc mình được xem là quy chuẩn, còn những kiểu thức của dân tộc khác lại xem như “kỳ lạ”,

“khác thường” [Terry E.Miller, Andrew Shahriari 2006: 13] Như vậy, để nhận diện âm nhạc một cách đúng đắn thì phải xuất phát từ các phương diện văn hóa

Trang 21

Mỗi nền văn hóa đều có những chuẩn mực riêng Và chính những chuẩn mực đó quy định cách nhận thức của con người Có thể mượn lời nhận định của Nattiez - nhà âm nhạc học người Mỹ như một sự tổng kết chung cho việc xác định khái niệm âm nhạc: “Chúng ta nhận ra sự tồn tại của âm nhạc trên toàn thế giới, nhưng tất cả những cái mà ta xem như là các yếu tố thuộc

về âm nhạc thì không nhất thiết phải được chấp nhận ở mọi đối tượng” [www.conbusen.com]

b Phân loại:

Âm nhạc có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau

Nếu dựa trên hệ tọa độ chủ thể - không gian - thời gian, chúng ta có: âm nhạc của các dân tộc trên thế giới như: Nga, Trung Quốc, Việt Nam, Pháp, Ý, Nam Phi….(chủ thể); âm nhạc phương Đông, phương Tây hay âm nhạc Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, Châu Úc (không gian); âm nhạc cổ - trung

- cận - hiện đại (thời gian)

Xét theo bình diện “hình thức - ý nghĩa - phân bố”, âm nhạc gồm:

cổ điển, lãng mạn, hiện thực…(hình thức); truyền thống, hiện đại (ý nghĩa); phương Tây, phương Đông (phân bố)

Tùy thuộc vào việc xác định những tình huống, bối cảnh, và mục tiêu cần hướng đến mà người ta sẽ lựa chọn cách phân loại âm nhạc thích hợp nhất

c Đặc trưng

Là một tiểu thành tố của văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, âm nhạc cũng hàm chứa những đặc trưng chung của văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử

Âm nhạc trước hết có tính hệ thống Vì nó là một thực thể bao gồm nhiều yếu tố, bộ phận hợp thành, có mối quan hệ tương tác với nhau Trong thực thể thống nhất này, nếu một trong số chúng bị tách rời hoặc bỏ đi thì sẽ

Trang 22

lập tức ảnh hưởng đến những cái còn lại Một bản giao hưởng viết cho dàn nhạc sẽ không thể biểu hiện được hết tính chất quy mô, hoành tráng của mình khi vắng mặt các nhạc khí thuộc một bộ nào đó (bộ dây, bộ hơi hoặc bộ gõ) Một bài hát chỉ hay, đi vào lòng công chúng khi có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa giai điệu, nhịp điệu, tiết tấu, ca từ bên cạnh sự thể hiện truyền cảm của người nghệ sỹ Hai trường hợp trên chỉ là những ví dụ đơn giản, phác họa cho tính hệ thống của âm nhạc Trên thực tế, âm nhạc là một

hệ thống lớn, có độ phức tạp cao, bao gồm nhiều hệ thống nhỏ Nó là hệ thống của hệ thống

Bên cạnh tính hệ thống, âm nhạc còn có tính giá trị Là sản phẩm được tạo nên bởi con người, do vậy, âm nhạc mang tính giá trị Cũng như giá trị văn hóa, giá trị âm nhạc phụ thuộc vào: không gian, thời gian và chủ thể định giá

Trên bình diện không gian, cùng một đối tượng, chẳng hạn như thể loại opera (nhạc kịch) ở phương Tây, đa số khán giả đều ưa chuộng Vé xem một buổi trình diễn tuy đắt đỏ nhưng vẫn thu hút nhiều người Ngược lại, ở Việt Nam, chỉ một số ít những người yêu thích nó Như vậy, khi đặt trong không gian là các nước Châu Âu thì opera có giá trị, còn đặt ở không gian nước ta, thể loại này lại không có giá trị đáng kể và không thể so với cải lương, tuồng, chèo

Ở bình diện thời gian, ta thấy một hiện tượng mà ngày nay không còn tồn tại Đó là thể loại âm nhạc nhà thờ rất được xem trọng vào thời trung

cổ ở các nước Tây Âu Nhưng càng về sau, vị trí của nó càng mờ nhạt và dần dần lùi vào quá khứ

Cuối cùng, căn cứ theo chủ thể định giá, trường hợp cải lương ở Việt Nam có thể xem như một sự minh họa Cải lương chỉ hay đối với thế hệ những người lớn tuổi, yêu thích nghệ thuật truyền thống Đối với các bạn trẻ

Trang 23

tuổi đôi mươi, nó không được đánh giá cao, đôi khi còn bị xem là lạc hậu Đối tượng thưởng thức của cải lương đa phần chỉ là những người lớn tuổi

Ngoài bộ ba bình diện: không gian - thời gian - chủ thể, tính giá trị của âm nhạc cũng được xem xét theo mục đích

Theo mục đích, âm nhạc bao gồm cả giá trị vật chất và tinh thần

Âm nhạc phục vụ cho đời sống tinh thần của con người là điều tất yếu Tuy nhiên, nó cũng mang giá trị vật chất Ví dụ như, các buổi hòa nhạc mang đến cho con người về mặt tinh thần những giây phút được thư giãn và tận hưởng nghệ thuật, nhưng đồng thời, nó cũng đem lại cả giá trị vật chất cho nhà tổ chức, thông qua việc bán vé để đi nghe hòa nhạc Do vậy, việc xác định giá trị vật chất hay tinh thần trong âm nhạc chỉ mang tính tương đối

Được tạo nên bởi con người, đồng thời tác động trở lại đối với chủ thể đã sinh ra nó, âm nhạc gắn liền với tính nhân sinh Những vật phẩm sẵn có trong tự nhiên như tre, trúc, nứa…, qua sự sáng tạo của con người, chúng trở thành các nhạc khí chứa đựng thanh âm du dương, thánh thót Những âm thanh đầy sức hấp dẫn này, đến lượt mình, lại quay về phục vụ cho đời sống tinh thần chúng ta Nó mang đến những giây phút thư thái, nhẹ nhàng, làm nảy sinh nhiều cung bậc cảm xúc trong tâm hồn Không một loại hình nghệ thuật nào không mang dấu ấn sáng tạo của con người và tách rời với tính nhân sinh, âm nhạc tất nhiên không nằm ngoài quy luật đó Nhưng có lẽ, âm nhạc gần gũi với nhân loại hơn cả nhờ vào khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến tâm

tư, tình cảm ở mỗi người

Tính lịch sử là đặc trưng cuối cùng của âm nhạc Âm nhạc của thế giới hay của bất kỳ một quốc gia nào đều trải qua một quá trình hình thành và được tích lũy theo thời gian qua nhiều thế hệ khác nhau Từ những phát hiện đầu tiên về âm thanh là giọng nói của chính mình, cho đến khi con người biết

sử dụng nó như một phương tiện để tạo ra những giai điệu trầm bổng, bên

Trang 24

cạnh việc chế tạo ra nhạc cụ, đó là cả chặng đường lâu dài phát triển tuần tự

từ thấp đến cao Tính lịch sử duy trì sự tồn tại và mang đến cho âm nhạc một

bề dày

Với tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh, tính lịch sử, âm nhạc

là một tiểu thành tố mang đầy đủ những đặc trưng chung của văn hóa

1.3.2 Âm nhạc truyền thống Việt Nam

Khi nói về âm nhạc truyền thống, người ta thường hình dung đó là những nền âm nhạc có tính chất lâu đời, có bề dày lịch sử Ở phương Tây, âm nhạc truyền thống vào thời kỳ đầu thường được đồng nhất với âm nhạc dân gian (folk music) Không gian xuất hiện của nó là ở các miền quê hay vùng nông thôn [www.music.priceton.edu] và âm nhạc truyền thống chỉ ra “tính bản địa trong âm nhạc của một nhóm người khi họ trình diễn ở một bối cảnh

xã hội nào đó” [www.wordiq.com] Về sau này, từ khoảng thế kỷ X trở đi, khi

âm nhạc dân gian xâm nhập vào các thành thị, nó nhanh chóng được các tầng lớp thượng lưu ở đây tiếp nhận Họ đã bác học hóa âm nhạc dân gian Kết quả của quá trình này là sự ra đời của âm nhạc bác học với các trường phái như:

cổ điển, lãng mạn Vì vậy, khi nói đến âm nhạc truyền thống ở phương Tây, khái niệm này sẽ dùng để chỉ chung cho cả hai bộ phận âm nhạc: dân gian và bác học

Ở Việt Nam, ngày nay, âm nhạc truyền thống nhìn chung được hiểu theo nghĩa: đó là nền âm nhạc cổ, có lịch sử hình thành, phát triển và tồn tại

từ lâu đời Nói đến âm nhạc truyền thống tức là đã có sự phân biệt với âm nhạc hiện đại, với các dòng nhạc khác như: nhạc tiền chiến, nhạc cách mạng, nhạc trẻ… Cho đến nay, giới nghiên cứu vẫn chưa tìm ra sự thống nhất cuối cùng cho khái niệm này về mặt khoa học Một số quan điểm đồng ý với nhận định: âm nhạc cổ truyền hay cổ nhạc hoặc âm nhạc truyền thống đều chỉ cùng

Trang 25

một nội dung nhưng khác nhau ở tên gọi Tuy nhiên, có những ý kiến cho rằng:

Âm nhạc truyền thống là khái niệm rộng, bao hàm ý khái quát nền âm nhạc của một đất nước, trong đó tích tụ những yếu tố âm nhạc đã có lâu đời

và mặc dù được phát triển thành nhiều dòng nhạc, thể loại khác nhau, vẫn duy trì những yếu tố riêng biệt đó Âm nhạc truyền thống bao gồm cả âm nhạc cổ truyền, âm nhạc dân gian, dân tộc [Văn Minh Hương 2002: 307].

Dù theo nghĩa hẹp hay nghĩa rộng, tựu trung lại, âm nhạc truyền thống là khái niệm dùng để chỉ một nền âm nhạc có quá trình hình thành, phát triển lâu đời theo dòng chảy lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay Buổi ban đầu, vốn xuất phát từ các sinh hoạt diễn xướng trong dân gian nhưng cùng với

sự tiến bộ của xã hội, sự nâng cao tri thức ở con người, âm nhạc đó đã có những bước phát triển đáng kể và trở thành một hệ thống

Xét theo trục thời gian, tiến trình của âm nhạc truyền thống Việt Nam tương ứng với tiến trình văn hóa với ba lớp thời gian: bản địa, giao lưu với Trung Hoa và khu vực, giao lưu với phương Tây Ở mỗi lớp lại bao gồm những giai đoạn nhỏ khác nhau

a Lớp văn hóa bản địa

Mốc thời gian của âm nhạc truyền thống ở lớp văn hóa bản địa được xác định chủ yếu qua hai giai đoạn: tiền sử và Văn Lang - Âu Lạc

Khoảng 2500 năm trước công nguyên, âm nhạc đã manh nha xuất hiện Việc khảo cổ học tìm ra các nhạc cụ cổ sơ là minh chứng cụ thể cho thấy sự có mặt của nó Tuy nhiên, tất cả chỉ mang tính chất khởi nguồn Bởi

vì lúc đầu, không ít trong số các nhạc cụ đó làm ra để phục vụ cho một số yêu cầu bức thiết của cuộc sống Chúng không thuần túy xuất phát từ ý thức về nhu cầu cần được thưởng thức âm nhạc Tiếng mõ sừng trâu, tiếng tù và bằng

Trang 26

ốc biển để báo hiệu thông tin, tiếng đàn ống tre, đàn T’rưng dùng sức gió hay nước tạo ra âm thanh đuổi chim chóc đến phá nương rẫy

Bước sang thời đại Văn Lang - Âu Lạc, âm nhạc được phát triển ở một nấc thang mới cao hơn so với trước đây Thành tựu của nghề nông nghiệp trồng lúa nước mà song hành cùng đó là các tín ngưỡng, các hội làng, hội lễ…

đã tạo môi trường thuận lợi cho sự sinh sôi, nảy nở những hình thức ca hát dân gian (hát giao duyên, hát rí ren…) - nền tảng của thanh nhạc truyền thống sau này Nghề luyện kim đồng đạt đến đỉnh cao với các sản phẩm như trống đồng, cồng chiêng…cũng góp phần làm phong phú, đa dạng hơn cho hệ khí nhạc Sự hiện diện của đàn đá, khèn bầu thể hiện khả năng thẩm âm tốt của người Việt cổ khi họ đã biết đến “âm nhạc đa âm theo kiểu giai điệu với bè trì tục1” [Nguyễn Thụy Loan 1994: 3]

Âm nhạc Việt Nam thời tiền sử, Văn Lang - Âu Lạc, tuy chỉ mới ở bước khởi đầu, chưa trở thành một loại hình nghệ thuật độc lập và vẫn tồn tại trong tổng thể diễn xướng dân gian, nhưng nó lại là nền móng, cơ sở vững chắc để âm nhạc các giai đoạn sau có thể phát triển một cách hoàn hảo

b Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực

Ở lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực, âm nhạc truyền thống tồn tại qua hai đoạn: chống Bắc thuộc và Đại Việt

Sự suy vong của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc và việc trở thành thuộc địa của phương Bắc không làm cho nền âm nhạc Việt Nam bị triệt tiêu hay mất đi, mà ngược lại, những sắc thái truyền thống từ các giai đoạn trước vẫn được kế thừa, bảo tồn và tiếp tục phát triển Nền ca nhạc dân gian với các hình thức dân ca phong tục (như hát xoan, hát ghẹo…), các hội hát có nguồn gốc từ hội lễ nông nghiệp thờ thần linh, thờ người có công với đất nước (như hội hát Dô thờ thánh Tản Viên) ngày càng khắc sâu và nuôi dưỡng âm điệu

1

Bè trì tục: xuất phát từ từ Basso Otinato của tiếng Ý: chỉ bè trầm xuất hiện liên tục không thay đổi trong suốt tác phẩm âm nhạc

Trang 27

dân tộc trong tâm hồn mỗi người Âm nhạc lúc này là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho ý thức đối kháng bất khuất chống lại âm mưu đồng hóa của quân xâm lược Bên cạnh xu hướng chống Hán hóa, sự cộng cư xen kẽ giữa người Việt

và người Hán đã mang đến những yếu tố mới trong âm nhạc Đạo giáo, Phật giáo xuất hiện, gieo mầm cho những loại hình ca hát tôn giáo mới, trên cơ sở tục hát thờ của dân ta vốn đã có từ xa xưa Một số nhạc khí từ Trung Hoa, Ấn

Độ cũng được truyền vào Việt Nam như: trống phong yêu cổ, cặp chũm chọe, đàn tỳ bà…Giai đoạn chống Bắc thuộc có thể xem như bước đệm để âm nhạc truyền thống chuẩn bị bước vào một thời kỳ mới mà đỉnh cao là sự ra đời của nhà nước Đại Việt với các triều đại: Đinh, Lý, Trần, Lê

Sau khi giành được độc lập và xây dựng nhà nước phong kiến, nền

âm nhạc Việt Nam dần dần đi vào quy trình chuyên môn hóa, phân chia thành hai bộ phận chính: âm nhạc dân gian và âm nhạc cung đình Trong âm nhạc dân gian, các loại hình ca hát gắn liền với lễ thức tôn giáo, tín ngưỡng nông nghiệp vẫn phát triển không ngừng và là một điểm mạnh của bộ phận này Song hành cùng nhạc dân gian, nhạc cung đình tất yếu cũng có những chuyển biến mới, thể hiện bước tiến của mình Các nhạc khí có nguồn gốc từ Ấn Độ, Trung Hoa tiếp tục được du nhập vào nước ta làm giàu thêm hệ thống khí nhạc dân tộc Ngoài ra, một số lý thuyết âm nhạc Trung Hoa, như hệ thống thang âm - điệu thức: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ, quan niệm bát âm… được người Việt tiếp thu Một điểm mới so với trước kia là âm nhạc cung đình đã có sự quy chế hóa Các quy tắc cụ thể về việc sử dụng âm nhạc thể hiện rõ, ví dụ như: dàn đại nhạc, tiểu nhạc gồm nhạc cụ gì và chúng được dùng trong hoàn cảnh nào Tuy đã có sự phân định nhưng âm nhạc dân gian

và âm nhạc cung đình vẫn gắn bó mật thiết, thẩm thấu qua lại với nhau Đến thời Lê, mối liên hệ khắng khít giữa hai dòng nhạc này bị cắt đứt Những người đại diện cho nhà nước bài xích âm nhạc dân gian ra khỏi môi trường

Trang 28

cung đình Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng này là do Nho giáo chiếm vị trí độc tôn trong hệ tư tưởng của chính quyền phong kiến Nó ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống xã hội, trong đó bao gồm cả lĩnh vực nghệ thuật Cấu trúc dàn nhạc, nhạc khí, quan niệm về bát âm…đều mô phỏng theo âm nhạc cung đình triều Minh Khi Lê Thánh Tôn lên ngôi, nhạc cung đình dần dần thoát khỏi cái bóng âm nhạc Trung Hoa Ông và những nhà nghiên cứu

âm nhạc lúc bấy giờ đã tiếp thu một cách có chọn lọc các yếu tố âm nhạc của người anh em láng giềng, trên cơ sở chúng phải phù hợp với tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ của dân tộc Sự ra đời của điệu thức Nam, điệu thức Bắc đã chứng minh cho tư duy sáng tạo không ngừng ở người Việt Như một tất yếu của lịch sử, khi đã trải qua một thời kỳ cực thịnh, Nho giáo cũng bắt đầu đi vào con đường suy vi Chính thời điểm này, âm nhạc truyền thống đánh dấu

sự phát triển mạnh mẽ Âm nhạc dân gian và cung đình không còn tách biệt rạch ròi Chúng bộc lộ sức sống mãnh liệt qua sự xuất hiện của hàng loạt những loại hình mới như: dân ca gắn với phường nghề (ví phường củi, ví phường vải…), ca nhạc tín ngưỡng dân gian kết hợp với lễ nghi phong tục (hát quan họ, hát văn…), ca nhạc tôn giáo (kể hạnh, chèo đò), ca nhạc thính phòng (hát ả đào, ca trù…), ca kịch cổ truyền (chèo, tuồng)

Có thể nói, ở lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực, âm nhạc truyền thống Việt Nam có được những thành quả đáng kể xét từ nội dung đến hình thức Và đó cũng là một cột mốc quan trọng cần được ghi nhận trong tiến trình phát triển của âm nhạc Việt Nam

c Lớp văn hóa giao lưu với văn hóa phương Tây

Văn hóa Đại Nam và văn hóa hiện đại là hai giai đoạn nằm trong lớp văn hóa này Âm nhạc nhìn chung vẫn tiếp tục kế thừa thành tựu của các thế hệ trước ở giai đoạn văn hóa Đại Nam, bên cạnh đó, còn có sự xuất hiện một số hình thức, thể loại mới có nguồn gốc từ dân ca, nhạc lễ cung đình như:

Trang 29

ca Huế, ca kịch bài chòi, ca nhạc tài tử Chế độ phong kiến trên đường diệt vong, văn hóa Tây phương tràn vào Việt Nam theo bước chân xâm lược của người Pháp, tất cả các nhân tố đó tạo nên ảnh hưởng không nhỏ đối với âm nhạc truyền thống Sự hình thành sân khấu cải lương hay việc cải biên những thể loại truyền thống để tạo thành chèo văn minh, hát bội canh tân, chèo cải lương đã phản ánh rất rõ dấu ấn giao lưu Đông - Tây của buổi giao thời Ở lĩnh vực khí nhạc, một số cải tiến được thực hiện cho nhạc cụ dân tộc bên cạnh xu hướng dân tộc hóa nhạc khí có nguồn gốc phương Tây Cây đàn guitar vốn xuất phát từ Tây Ban Nha thì nay đã được khoét lõm cần phím xuống để trở thành cây đàn Việt Nam đệm cho âm nhạc cải lương Có thể nói, ảnh hưởng phương Tây là điểm xuyên suốt cơ bản của âm nhạc truyền thống trong giai đoạn này

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, âm nhạc truyền thống cũng tiến vào một giai đoạn lịch sử mới: giai đoạn văn hóa hiện đại Cho đến hôm nay, nền âm nhạc truyền thống dường như ít có những sự biến động lớn Trong đời sống xã hội, vai trò của nó mờ nhạt hơn so với các giai đoạn trước kia Đây có thể xem như một thời kỳ mang tính chất khó khăn và thử thách dành cho nền âm nhạc truyền thống lâu đời của Việt Nam Một mặt vừa phải gìn giữ, bảo tồn các tinh hoa từ thế hệ cha ông để lại, mặt khác phải phát huy những đặc sắc vốn có của mình nếu không muốn bị hòa tan trước làn sóng phát triển mạnh mẽ của âm nhạc hiện đại

Tiểu kết

Được sáng tạo nên bởi con người và là một tiểu thành tố của văn hóa, giữa âm nhạc và văn hóa có mối liên hệ mật thiết với nhau Văn hóa ảnh hưởng đến âm nhạc và ngược lai, âm nhạc cũng góp phần phản ánh văn hóa Chính vì vậy, khi phân tích, đánh giá về âm nhạc của một quốc gia nào đó cần phải xem xét dưới góc nhìn văn hóa Nghiên cứu âm nhạc truyền thống Việt

Trang 30

Nam cũng không ngoại lệ Nó được xem xét từ bản sắc nông nghiệp của văn hóa Việt với tính linh hoạt là một đặc trưng tiêu biểu

Như mọi nền âm nhạc trên thế giới, âm nhạc cổ truyền dân tộc cũng trải qua một quá trình định hình, phát triển lâu đời với những bước thăng trầm khác nhau Cho đến ngày nay, âm nhạc truyền thống vẫn tồn tại và là nơi thể hiện rõ bản sắc văn hóa âm nhạc dân tộc

Hình 1: Sinh hoạt âm nhạc thời Văn Lang - Âu Lạc

(tưong ứng với lớp văn hóa bản địa) [Nguồn: http://www.khoahoc.net/photo/amnhaccotruyen-4.gif]

Trang 31

Hình 2: Hát ca trù ( tương ứng với lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực)

[Nguồn: http://www.ktdt.com.vn/images_upload/small_34346.jpg]

Hình 3: Ban nhã nhạc cung đình triều Nguyễn (tưong ứng với lớp văn hóa giao lưu với phương Tây)

[Nguồn : http://www.hueworldheritage.org.vn/disanvh/Imagesnhahat/doinhanhac.jpg]

Trang 32

CHƯƠNG 2 TÍNH LINH HOẠT TRONG CẤU TRÚC NGHỆ THUẬT

ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

Có nhiều hướng khác nhau khi xem xét về cấu trúc nghệ thuật âm nhạc Ở chương hai của luận văn, chúng tôi chọn cách tiếp cận từ quan điểm hoạt động với trục tọa độ: chủ thể - phương tiện - sản phẩm, xem cấu trúc âm nhạc truyền thống như một lát cắt ngang đồng đại và nhìn trong cái nhìn tĩnh

2.1 Xét từ chủ thể và hoạt động sáng tác, biểu diễn, thưởng thức

2.1.1 Chủ thể sáng tác, biểu diễn, thưởng thức

Do xuất phát từ cuộc sống nông nghiệp, ở Việt Nam, vai trò của cộng đồng được chú trọng Truyền thống này chi phối và ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống Trong âm nhạc cổ truyền dân tộc, chủ thể sáng tác hầu như khuyết danh Các tác phẩm dù dưới hình thức, thể loại nào, đều là những công trình sáng tạo của một tập thể Nhiều thế hệ cứ thế nối tiếp nhau xây dựng, bồi đắp và lưu truyền từ đời này đến đời kia, thông qua phương thức truyền khẩu, truyền ngón, truyền nghề Khởi đầu của mọi nền nghệ thuật, âm nhạc trên thế giới đều là khuyết danh Nhưng ở Việt Nam, trên phương diện thời gian, truyền thống khuyết danh này kéo dài rất lâu Khi văn hóa phương Tây lan rộng và ảnh hưởng sâu đậm trên mọi lĩnh vực thì lúc ấy, tác quyền mới được biết đến Trước đó, việc tìm ra tác giả không được chú ý Chúng ta biết đến Beethoven, Mozart với các tác phẩm như “Ánh trăng”, “Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ”… nhưng không ai có thể biết “Bình bán”, “Kim tiền”, “Ngũ đối thượng,

Trang 33

Ngũ đối hạ”… xuất xứ từ đâu, mặc dù chúng là những bài bản kinh điển của

âm nhạc cung đình mang tính chính thống và vẫn còn trình diễn cho tới ngày nay Trong khi đó, ở Châu Âu, ngay từ thời cổ đại, danh tính chủ thể sáng tác

đã sớm xác định Theo một văn bản cổ còn lưu lại, bài hát “Ode” cho dàn đồng ca được Pinda - một nhạc sỹ người Hy Lạp viết từ năm 470 trước công nguyên [Nguyễn Xinh 1983: 11] Hai truyền thống văn hóa khác nhau mang lại nhận thức, phương thức ứng xử khác biệt Văn hóa nông nghiệp chú trọng đến tập thể, văn hóa du mục thì tập trung vào cá nhân

Truyền thống dân chủ ở văn hóa nông nghiệp còn là một điều kiện thuận lợi để xây dựng nên quan hệ bình đẳng, linh hoạt giữa chủ thể sáng tác, biểu diễn và thưởng thức Trong các tác phẩm thanh nhạc hay khí nhạc, vì bình đẳng nên tập thể tác giả khuyết danh đã tạo một không gian “mở” để ở

đó, người biểu diễn có thể linh hoạt sáng tạo ra những cách đàn, cách hát theo kiểu riêng của họ Tùy theo năng lực chuyên môn, bối cảnh, cảm xúc lúc biểu diễn mà mỗi người sẽ có sự thể hiện khác nhau Do vậy, những điệu hát, bài

ca, bản nhạc luôn “được tái tạo qua mỗi nghệ nhân, thậm chí qua mỗi lần đàn, hát” [Mịch Quang 1995:48] Chính vì thế, chúng trở nên sinh động hơn Có thể nói, mỗi lần thưởng thức là một lần người nghe lại phát hiện thêm nhiều điểm mới Ví dụ, cùng là một bản “Kim tiền” Huế trong nhạc lễ, nhưng nó được thể hiện theo nhiều cách

Lần đầu tiên, chúng ta có thể nghe:

“Ú xán liu- Xề cộng tồn liu

Ú xán ú- liu cộng liu xề”

Sau một thời gian, khi có dịp nghe lại, cũng là câu nhạc đó nhưng đã

có sự thay đổi dù nó vẫn được diễn tấu bởi cùng một người:

Ú liu ú xán liu Xán ú liu xề xàng xề công liu”[Mịch Quang 2004: 79]

Trang 34

Tổ hợp ba âm Ú, liu, xề, theo quy định là những âm đi giai điệu

chính nên chúng được giữ lại, còn những âm khác có thể ngẫu hứng biến hóa theo người biểu diễn

Trong một trường hợp khác, quan hệ bình đẳng, linh hoạt giữa chủ thể sáng tác và chủ thể biểu diễn được nhà nghiên cứu Mịch Quang chỉ ra thông qua ví dụ là một câu trong điệu hát khách của tuồng Câu hát như sau:

“Góc biển đầu non” Đối với câu hát này, theo quy định, người diễn viên sẽ không hát trơn mà phải hát có luyến láy Luyến láy là kỹ thuật giúp câu hát ngân dài hơn, nhờ đó nó trở nên sinh động, phù hợp với tính chất thanh nhạc trong tuồng nói riêng hay trong thanh nhạc truyền thống nói chung Theo quy

định, sau chữ “non” phải có một láy bắt buộc gọi là láy lệ2 Tuân thủ theo nguyên tắc này, người biểu diễn sẽ hát thành:

“Góc biển ư đầu ứ ư non ư” (câu 1a)

Nhưng, cũng câu hát đó, một người khác lại có thể hát:

“ Góc ư biển ứ ư đầu ư ư ừ non ư” (câu 1b)

Như vậy, chỉ cần bảo đảm sự có mặt của láy lệ là chữ “Ư” sau chữ

“non”, phần còn lại, tổ hợp “ư, ứ ư” (câu 1a) hay “ư, ứ ư, ư ư ừ”(câu 1b) là

láy thường3 thì chủ thể biểu diễn hoàn toàn được phép ứng tác linh hoạt Vì vậy, người nghe có thể nhận ra hai cách xử lý câu hát rất khác nhau nơi người diễn viên Chính quan hệ bình đẳng, linh hoạt giữa chủ thể sáng tác và chủ thể biểu diễn đã dẫn đến sự có mặt của láy thường Nó là một môi trường thuận lợi để người nghệ sỹ tự do thể hiện nghệ thuật theo ý mình

Nếu âm nhạc truyền thống Việt Nam cho phép tái tạo với các bài bản thì hiện tượng này tuyệt đối không xảy ở phương Tây Vì âm nhạc truyền thống của họ đã sớm đi vào con đường bác học hóa Từ thế kỷ XI, người ta đã

Trang 35

sáng tạo ra bốn dòng kẻ chính và một dòng kẻ phụ để ghi chép nhạc Vì vậy, người biểu diễn cứ vậy mà đàn, hát theo những gì đã ghi sẵn trong bài bản hay trong tác phẩm và không có quyền thêm bớt dù chỉ một chút

Khi đến với âm nhạc, thính giả lắng nghe và vận dụng những kiến thức âm nhạc - văn hóa - xã hội, kết hợp với cảm xúc của bản thân để đưa ra những đánh giá, nhận định Trường hợp này tuy phổ biến nhưng chưa phải là mẫu số cho mọi nền âm nhạc Nó chỉ hoàn toàn đúng đối với âm nhạc Tây phương và âm nhạc hiện đại ngày nay Trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, chủ thể thưởng thức không bị gò bó, giới hạn chỉ ở vai trò là một khán giả đến để nghe hát, đàn Ngược lại, người ta có quyền tham gia vào phần trình diễn như một nghệ sỹ thực thụ Ranh giới giữa người biểu diễn, người thưởng thức rất mờ nhạt và có khi cả hai đan cài vào nhau Ca trù là một trường hợp điển hình

Theo truyền thống, người đánh trống chầu trong hát ca trù là một trong những khách ở bên ngoài được cử ra để tham gia vào cuộc hát Cùng với đào nương, kép đàn, cả ba tạo thành một dàn nhạc Bằng tiếng trống của mình, họ vừa tham gia biểu diễn với tư cách như một nhạc công, vừa có thể nhận xét về tiếng đàn, hát của nghệ sỹ như một thính giả bình thường

Người đánh trống chầu phải là người am hiểu về âm luật, lề lối, cách thức, quy tắc chung của hát ca trù để tránh sự sai lầm trong việc khen chê Nguyễn Xuân Diện trong bài nghiên cứu “Hát cửa đình” (tiền thân của hát ca trù) có kể lại một giai thoại ở làng Đường Lâm Do không nắm vững về nghệ thuật này nên người đánh trống chầu rơi vào tình huống không biết thưởng thức, không nhận ra được những câu hát, tiếng đàn, phách hay mà đào, kép đã công phu luyện tập để khen - chê đúng chỗ Gặp phải cô đào đanh

đá, bằng câu hát: “Nào những ông nghè, ông cống ở đâu, để cho ông lão móm ngồi câu con trạch vàng”, cô ta đã làm cho người cầm chầu xấu hổ phải bỏ roi

Trang 36

chầu, không dám tiếp tục công việc trên nữa [Nguồn: http://vannghevietnam.vn] Nhận thức vai trò quan trọng của người đánh trống chầu mà dân gian ta có câu: “Ở đời có bốn thứ ngu: làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu” Cùng một lúc kiêm cả hai vai trò thưởng thức, biểu diễn, có lẽ hiện tượng này chỉ xuất hiện ở âm nhạc truyền thống Việt Nam Nó vừa thể hiện tính linh hoạt của văn hóa nông nghiệp, vừa như một dấu vết còn lại phản ánh quan hệ dân chủ làng xã bao đời nay

Hình 4: Một buổi hát ca trù

[Nguồn: http://images.google.com.vn/imgres?imgurl]

2.1.2 Hoạt động sáng tác, biểu diễn, thưởng thức

Do chủ thể sáng tác trong âm nhạc truyền thống là một tập thể nên hoạt động sáng tác cũng là hoạt động mang tính cộng đồng Quá trình biểu diễn thường song hành với quá trình sáng tác Khi ba, bốn người cùng hòa tấu một bản đàn hay hát lên một câu ca, làn điệu nào đó, với những xúc cảm âm nhạc dâng trào, họ bắt đầu ứng tác Và chính lúc này, hoạt động sáng tạo diễn

ra Những đoạn rao (dạo) trong nhạc tài tử hay đoạn lưu không trong nhạc chèo vốn không có trong bài bản Mỗi lần biểu diễn lại gắn với một hoạt động sáng tạo mới Tùy theo tính chất bản nhạc, tùy theo cảm xúc của nghệ sỹ mà

Trang 37

người biểu diễn sẽ ngẫu hứng, linh động sáng tạo ra những câu, đoạn nhạc tương thích với bối cảnh trình diễn Nhờ vậy, hoạt động biểu diễn trở nên uyển chuyển, sinh động

Trong âm nhạc tài tử, trước khi bước vào bài bản chính, các nhạc công thường tấu lên một đoạn nhạc ngẫu hứng tự do Đoạn nhạc này được gọi

là rao hoặc dạo Vì là sự ứng tác tại chỗ nên rao rất linh hoạt và không theo một khung mẫu cụ thể nào Người biểu diễn chỉ cần đàn đúng theo hơi, điệu, còn phần giai điệu cụ thể tùy ý sáng tạo Khi trình bày một bài theo điệu Bắc thì trước đó, ở đoạn rao, thông thường, người biểu diễn sẽ chọn lối rao Bắc với tiếng đàn nhanh, vui nhộn Ngược lại, nếu bài thuộc điệu Oán, rao sẽ theo lối Oán, đàn chậm, ngân nga nhiều tạo ra những âm não nề biểu thị tính chất buồn rầu, sầu oán Xét về mục đích, đoạn nhạc rao trước tiên là một cách so dây đàn theo kiểu Việt Nam Ở phương Tây, do nặng về tư duy phân tích nên mọi thứ đều được xác định khá rạch ròi, rành mạch Dựa vào âm thanh phát ra của một sợi dây căng thẳng với tần số rung động trong một giây đồng hồ, người phương Tây đã chọn ra âm La bằng 440 Hertz làm âm chuẩn quốc tế Căn cứ theo âm La này mà các loại nhạc cụ điều chỉnh cao độ âm thanh của mình Ngoài ra, việc so và lên dây đàn còn được thực hiện bởi một dụng cụ chuyên dụng Trong khi đó, đối với âm nhạc tài tử, khái niệm về âm chuẩn là không tồn tại Mặc dù, thời điểm ra đời của nó là khi xã hội Việt Nam đã có

sự giao lưu với phương Tây và một số yếu tố hiện đại cũng xuất hiện Tuy nhiên, người biểu diễn vẫn chỉ dùng đôi tai để lắng nghe nhau mà không ứng dụng máy móc hay quy chuẩn đo theo lối hiện đại Do vậy, rao là một hình thức giúp các nhạc công chỉnh sửa dây đàn của mình cho hòa với nhau, cho hợp với giọng của ca sỹ Bên cạnh đó, rao còn có mục đích nhằm gợi cảm hứng cho những người cùng biểu diễn Trong nghệ thuật nói chung hay âm nhạc nói riêng, điều này rất quan trọng Vì sự hiểu nhau, ăn ý giữa các bạn

Trang 38

diễn sẽ là một yếu tố quan trọng góp phần làm nên thành công cho buổi trình diễn Ngẫu hứng ứng tác, chủ động linh hoạt, khuôn mẫu không cố định gò

bó, rao trở thành “môi trường” lý tưởng để nghệ sỹ bộc lộ tài năng của mình Người đàn hay thì tiếng đàn ngọt, biến hóa tài tình hợp lý, đúng nơi đúng chỗ Ngược lại, người đàn kém, tiếng đàn thô, đơn điệu Người am tường về nhạc chỉ cần nghe qua đoạn nhạc này là có thể nhận xét, đánh giá về chủ thể biểu diễn Mục đích cuối cùng của rao như một sự mào đầu báo trước cho người thưởng thức biết về nội dung âm nhạc sẽ trình bày Đoạn nhạc dạo mang âm hưởng sầu thương, buồn man mác, bi lụy hay vui tươi, khỏe khoắn… sẽ cung cấp cho thính giả những thông tin, chẳng hạn như, đây là bài thuộc điệu Oán, điệu Nam hoặc điệu Bắc, hơi Ai, hơi Xuân…

Cũng mang tính chất ứng tác ngẫu hứng nhưng lưu không trong âm nhạc chèo lại là đoạn nhạc nối giữa các trổ hát4 Khi người diễn viên ngừng ca thì nó sẽ được tấu lên Và dàn nhạc tùy vào bối cảnh, tình tiết, tính chất của lớp diễn mà sáng tạo nên giai điệu

Chúng ta có thể so sánh giữa rao, lưu không với khúc dạo đầu và gian tấu của âm nhạc truyền thống Châu Âu để thấy sự khác biệt giữa Đông - Tây Về mục đích, chúng tương tự như nhau Tuy nhiên, nếu ở Việt Nam, hoạt động sáng tác xuất hiện cùng với hoạt động biểu diễn diễn, thì ngược lại,

ở phương Tây, hoạt động sáng tác thường đứng độc lập Nghệ sỹ đơn thuần là người có nhiệm vụ thể hiện lại bằng ngôn ngữ âm thanh những nội dung, hình thức âm nhạc mà các nhạc sỹ đã viết nên trước đó Họ tuân thủ tác phẩm một cách nghiêm ngặt, tuyệt đối không có sự sáng tạo tại chỗ từ việc ứng tác linh hoạt ngẫu hứng Do đô thị phương Tây hình thành và phát triển từ rất sớm, nó chi phối và lấn át cả nông thôn Bộ phận âm nhạc dân gian khi đi vào thành

4

Trổ hát: Đoạn nhạc trong một điệu hát hay một bài hát được hợp thành từ phần chính (giai điệu của bài ca)

và các phần khác, tạo nên lối biểu hiện riêng biệt của hát chèo

Trang 39

thị, chúng nhanh chóng được bác học hóa, chính quy hóa Và sản phẩm của sự bác học hóa này là việc âm nhạc ghi chép rất cụ thể, ranh giới phân định sáng tác, biểu diễn cũng rõ ràng

Ở Việt Nam, hoạt động sáng tác, biểu diễn còn gắn với hoạt động truyền nghề, vì truyền thống khuyết danh tồn tại lâu dài, hệ thống ký âm pháp trong âm nhạc lại rất mờ nhạt Chúng chỉ hiện diện trong môi trường cung đình Những văn bản ký âm còn lưu lại đến ngày nay đa phần đều từ thế kỷ XIX trở đi Do vậy, hình thức tốt nhất để tiền nhân lưu truyền và phổ biến âm nhạc chính là truyền khẩu, truyền ngón, truyền nghề Người thầy sẽ trực tiếp thị phạm, dạy cho học trò những ngón đàn độc đáo, những kỹ thuật hát tinh tế, miễn là người học có niềm đam mê, sự yêu thích âm nhạc thực sự Việc dạy

và học mang tính tài tử nhiều hơn là chuyên nghiệp Do tính chất truyền nghề

mà trong âm nhạc truyền thống Việt có nghi thức thờ tổ nghề Theo tâm thức dân gian, tổ nghề là người có công sáng lập, gây dựng hoặc trao truyền lại một nghề nào đó cho dân chúng của một vùng Để tưởng nhớ công ơn tiền nhân, hằng năm, cứ vào dịp giỗ tổ nghề, những người hoạt động trong lĩnh vực đó lại cùng tập trung về một địa điểm, tổ chức lễ cúng tế Hát bội, cải lương, hát xẩm, ca trù đều có hoạt động thờ tổ nghề

Trang 40

Hình 5: Lễ giỗ tổ sư cổ nhạc ở Nam Bộ [Nguồn:http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/html/news_detail.php?nid=1503]

Hình 6: Lễ giỗ tổ hát xẩm [Nguồn:http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200903/original/images17

43158_IL0U5171.jpg]

Ngày đăng: 04/04/2021, 22:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Blacking John 1990: How musical is man . – University of Washington Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: How musical is man
2. Bùi Huyền Nga 1998: Bảo tồn, tiếp thu và phát triển vốn âm nhạc dân tộc cổ truyền. – T/c Văn hóa nghệ thuật, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, tiếp thu và phát triển vốn âm nhạc dân tộc cổ truyền". – T/c "Văn hóa nghệ thuật
3. Cagan. M 2004: Hình thái học của nghệ thuật. – H: NXB Hội Nhà văn 4. Cao Xuân Phổ 1993: Về văn hóa Đông Nam Á. – T/c Nghiên cứu ĐôngNam Á, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thái học của nghệ thuật". – H: NXB Hội Nhà văn 4. Cao Xuân Phổ 1993: "Về văn hóa Đông Nam Á". – T/c "Nghiên cứu Đông "Nam Á
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn 4. Cao Xuân Phổ 1993: "Về văn hóa Đông Nam Á". – T/c "Nghiên cứu Đông "Nam Á"
5. Chu Xuân Diên 2002: Cơ sở văn hóa Việt Nam. – Tp.HCM: NXB Đại học Quốc gia Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Tp. HCM
6. Chương Di Hòa (cb) 2002: Hý khúc Trung Quốc. – H: NXB Thế giới 7. Dương Viết Á 2005: Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn văn hóa (tập1&2). –H: NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hý khúc Trung Quốc". – H: NXB Thế giới 7. Dương Viết Á 2005: "Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn văn hóa
Nhà XB: NXB Thế giới 7. Dương Viết Á 2005: "Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn văn hóa" (tập 1&2). –H: NXB Hà Nội
8. Đào Duy Anh 2006: Việt Nam văn hóa sử cương. – H: NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
9. Đào Việt Hưng 1999: Tìm hiểu điệu thức dân ca người Việt Bắc Trung Bộ. – H: NXB Âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu điệu thức dân ca người Việt Bắc Trung Bộ
Nhà XB: NXB Âm nhạc
10. Đặng Đức Siêu 2006: Sổ tay văn hóa Việt Nam. – H: NXB Lao động 11. Đắc Nhẫn 1987: Tìm hiểu âm nhạc cải lương. – Tp HCM: NXBTp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay văn hóa Việt Nam". – H: NXB Lao động 11. Đắc Nhẫn 1987: "Tìm hiểu âm nhạc cải lương
Nhà XB: NXB Lao động 11. Đắc Nhẫn 1987: "Tìm hiểu âm nhạc cải lương". – Tp HCM: NXB Tp.HCM
12. Đặng Văn Lung, Hồng Thao, Trần Linh Quý 1978: Quan họ nguồn gốc và quá trình phát triển. – H: NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan họ nguồn gốc và quá trình phát triển
Nhà XB: NXB KHXH
13. Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề 1994: Việt Nam ca trù biên khảo. – TpHCM: NXB Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam ca trù biên khảo
Nhà XB: NXB Tp.HCM
14. Đỗ Xuân Tùng 1996: Khả năng và phương thức tồn tại các thể loại ca nhạc cổ truyền Việt Nam. – T/c Văn hóa nghệ thuật, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng và phương thức tồn tại các thể loại ca nhạc cổ truyền Việt Nam". – T/c "Văn hóa nghệ thuật
15. Đỗ Xuân Tùng 1996: Thang âm điệu thức dân tộc với nghệ sỹ biểu diễn đàn dây kéo phương Tây. – T/c Văn hóa nghệ thuật, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thang âm điệu thức dân tộc với nghệ sỹ biểu diễn đàn dây kéo phương Tây". – T/c "Văn hóa nghệ thuật
16. Đôn Truyền 2006: Hơi trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. – T/ c Văn hiến Việt Nam, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơi trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. "– T/ c" Văn hiến Việt Nam
17. E.Miller.Terry & Shariari Andrew 2006: World Music - A Global Journey. – New York: Routledge Sách, tạp chí
Tiêu đề: Music - A Global Journey
18. Grout.J.Donald 1988: A history of Western music. – New York, London: W.W. Norton and Company Sách, tạp chí
Tiêu đề: A history of Western music
19. G. Jason 2008: Rock Hà Nội và Rumba Cửu Long. – H: NXB Tri thức 20. Hà Huy Giáp, Nguyễn Xuân Khoát 1972: Về tính dân tộc trong âmnhạc Việt Nam. – H: NXB Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rock Hà Nội và Rumba Cửu Long". – H: NXB Tri thức 20. Hà Huy Giáp, Nguyễn Xuân Khoát 1972: "Về tính dân tộc trong âm "nhạc Việt Nam
Nhà XB: NXB Tri thức 20. Hà Huy Giáp
21. Hoàng Kiều 2001: Thanh điệu tiếng Việt và âm nhạc cổ truyền. – H: Viện Âm nhạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh điệu tiếng Việt và âm nhạc cổ truyền
22. Hoàng Sơn 1996: Âm nhạc sân khấu cải lương quá trình hình thành và phát triển. – T/c Văn hóa nghệ thuật, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm nhạc sân khấu cải lương quá trình hình thành và phát triển". – T/c "Văn hóa nghệ thuật
23. Hồng Đăng 1983: Các nhạc khí trong dàn nhạc giao hưởng. – H: NXB Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhạc khí trong dàn nhạc giao hưởng. – H
Nhà XB: NXB Văn hóa
24. Hữu Ngọc 2006: Lãng du trong văn hóa Việt Nam. – H: NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lãng du trong văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB Thanh niên

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w