Thông qua việc so sánh đối chiếu những đặc trưng văn hóa trong giao tiếp phi ngôn ngữ của hai dân tộc, chúng ta sẽ có thể tránh được những sự hiểu lầm không đáng có trong giao tiếp giữa
Trang 1Trang 1
MỤC LỤC
Trang
DẪN NHẬP 3
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 5
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN 9
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU 11
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 11
CHƯƠNG I: TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13
1 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN 13
1.1 Giao tiếp phi ngôn ngữ 13
1.1.1 Khái niệm giao tiếp 13
1.1.2 Khái niệm giao tiếp phi ngôn ngữ 14
1.2 Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ 17
1.2.1 Khái niệm văn hóa giao tiếp 18
1.2.2 Khái niệm văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ 19
2 TIỀN ĐỀ THỰC TIỄN 19
2.1 Địa lý - tự nhiên 19
2.2 Nguồn gốc tộc người 22
2.3 Tiền đề lịch sử - văn hóa Korea 23
2.3.1 Sơ lược lịch sử bán đảo Korea 23
2.3.2 Tiến trình văn hóa Korea 24
CHƯƠNG II: GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI HÀN 37
1 NGÔN NGỮ CƠ THỂ 37
1.1 Khái niệm ngôn ngữ cơ thể 37
1.2 Các loại ngôn ngữ cơ thể của người Hàn 38
1.2.1 Đầu và các bộ phận của đầu 38
1.2.2 Tay 44
1.2.3 Tư thế cơ thể 49
Trang 2Trang 2
2 NGÔN NGỮ MÔI TRƯỜNG 53
2.1 Khái niệm ngôn ngữ môi trường 53
2.2 Các loại ngôn ngữ môi trường của người Hàn 54
2.2.1 Ngôn ngữ thời gian 54
2.2.2 Ngôn ngữ không gian 56
3 NGÔN NGỮ VẬT THỂ 65
3.1 Khái niệm ngôn ngữ vật thể 65
3.2 Các loại ngôn ngữ vật thể của người Hàn 65
3.2.1 Trang phục 65
3.2.2 Quà tặng 68
CHƯƠNG III: GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ VÀ ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI HÀN 73
1 THÍCH VÒNG VO 73
2 THÍCH GIAO TIẾP – NGẠI GIAO TIẾP 76
2.1 Thích giao tiếp 76
2.2 Ngại giao tiếp 80
3 ĐIỀM TĨNH – SÔI NỔI 83
3.1 Điềm tĩnh 83
3.2 Sôi nổi 85
4 PHÉP TẮC – THÂN MẬT 86
4.1 Phép tắc 86
4.2 Thân mật 88
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 3và văn hóa (xã hội chịu ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, trọng chữ hiếu, xem trọng nam giới ) Đối với văn hóa, xét cho kỹ, Korea và Hàn Quốc vẫn có những điểm khác biệt rõ rệt, mà một trong số đó là văn hóa giao tiếp Chính vì sự đa dạng,
phong phú trong văn hóa giao tiếp của mỗi nước nên việc hiểu biết lẫn nhau về vấn đề
này ngày càng trở nên cần thiết
Hơn nữa, trong những năm gần đây, dưới sự tác động của toàn cầu hóa, chính sách mở cửa và xu hướng xích lại gần nhau của các quốc gia trên thế giới đang đặt ra nhu cầu giao lưu và hòa nhập trong tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội, đặc biệt
là giao lưu văn hóa Không ngoại lệ, mối quan hệ giữa Korea và Việt Nam trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa đã có những bước tiến nhanh chóng Giao lưu văn hóa, khoa học - kỹ thuật giữa hai nước này ngày càng phát triển và được quan tâm… Sau 16 năm thiết lập quan hệ, thông qua những mối giao lưu, hợp tác mà ngày càng có nhiều người Hàn đến với Việt Nam Ngày càng có nhiều công ty Korea thành lập và hoạt động tại Việt Nam với lượng lao động là người Việt tăng đáng kể Song song đó, lực lượng lao động người Việt sang làm việc tại Korea cũng tăng lên rất nhiều Việc giới thiệu văn hóa giao tiếp của người Hàn Quốc cho cộng đồng dân tộc và quốc gia khác, trong đó có Việt Nam là điều cần thiết Giữa các dân tộc và giữa các
quốc gia đều cần hiểu biết về văn hóa giao tiếp của nhau để tăng thêm sự hiểu biết cho mình Đồng thời sẽ hạn chế được những mâu thuẫn, sự hiểu lầm không đáng
có trong quá trình giao tiếp1 và có thể cùng nhau tiến xa hơn trong các mối quan hệ
1 Chẳng hạn gần đây việc kết hôn giữa người Hàn và người Việt tăng nhanh Chính do không hiểu ngôn ngữ, cách ứng xử giao tiếp với nhau nên nảy sinh những mâu thuẫn và để lại những hậu quả
đau lòng
Trang 4Trang 4
và các lĩnh vực hợp tác
Mở rộng vấn đề, ta có thể chia giao tiếp thành hai loại: giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ2 (tương ứng với mỗi loại giao tiếp là văn hóa giao tiếp ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ) Nếu như giao tiếp ngôn ngữ có chức năng
chính chỉ là truyền đạt nội dung thông tin thì giao tiếp phi ngôn ngữ ngoài việc có chức năng giống với giao tiếp ngôn ngữ còn có chức năng xác định mối quan hệ của những người tham gia quá trình giao tiếp Đối với người Hàn Quốc, giao tiếp phi ngôn ngữ là quan trọng vì chúng tôi rất xem trọng mối quan hệ người – người trong giao tiếp Hơn nữa, có những điều mà chúng tôi không thể diễn tả được bằng lời thì chúng tôi sẽ dùng những hình thức phi ngôn ngữ (nét mặt, di chuyển, điệu bộ tay chân ) để diễn đạt Có những trường hợp cần đến phi ngôn ngữ để diễn đạt thì mới đạt được sự
khéo léo, tế nhị và sắc thái trong giao tiếp Chính vì thế mà giao tiếp phi ngôn ngữ có
vai trò rất quan trọng trong giao tiếp giữa người với người và cần được nghiên cứu
tìm hiểu
Một lý do khác khiến chúng tôi nghiên cứu đề tài này là niềm đam mê tìm hiểu văn hóa truyền thống của chính dân tộc Hàn chúng tôi Trải qua gần 5000 năm lịch sử, nền văn hóa của chúng tôi có rất nhiều những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc và đặc trưng còn lưu giữ lại Văn hóa giao tiếp là một trong những truyền thống được duy trì và truyền lại cho thế hệ con cháu dân tộc Hàn Với lòng tự hào dân tộc, chúng tôi muốn tìm hiểu khía cạnh này và giới thiệu đến bạn bè quốc tế, trong đó Việt Nam là một trong những người bạn bè thân thiết nhất của chúng tôi Hơn nữa, từ khi du học sang Việt Nam, chúng tôi đã tiếp xúc với rất nhiều người Việt Nam và cũng biết được rằng đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam có những cách thức giao tiếp rất hay, đáng học hỏi Một phần muốn tìm hiểu về văn hóa giao tiếp, đặc biệt là văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của con người Việt Nam mà chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu và so sánh
2 Theo GS.TSKH Trần Ngọc Thêm dùng từ “ngôn từ” mới chính xác hơn từ “ngôn ngữ”, bởi
vì “ngôn ngữ” là một hệ thống công cụ và phương tiện giao tiếp, còn “ngôn từ” là lời nói được sử dụng trong lúc giao tiếp Theo đó, giao tiếp được chia thành hai loại: giao tiếp ngôn từ và giao tiếp phi ngôn từ (tương ứng với hai loại giao tiếp này là văn hóa giao tiếp ngôn từ và văn hóa giao tiếp phi ngôn từ) Tuy nhiên, trong tiếng Hàn chỉ có từ “ngôn ngữ” chứ không có từ “ngôn từ” nên trong luận văn này dùng từ “ngôn ngữ” (tức là tương đương nghĩa với từ “ngôn từ”)
Trang 5Trang 5
văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Việt Nam với người Hàn
Xuất phát từ những lý do khách quan và chủ quan nêu trên mà chúng tôi quyết
định lấy đề tài: “Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn Quốc (so sánh với
Việt Nam)” để làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của chúng tôi
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Giao tiếp là việc luôn diễn ra hằng ngày giữa người với người Nhưng giao tiếp như thế nào để được coi là có văn hóa? Người Hàn Quốc rất xem trọng văn hóa trong giao tiếp Lời nói trong giao tiếp ngôn ngữ luôn được trao chuốt nhưng người Hàn lại chú ý nhiều hơn đến những cử chỉ, điệu bộ và hành động trong giao tiếp phi ngôn ngữ Với đề tài này, chúng tôi muốn đi vào tìm hiểu kỹ lưỡng và toàn diện những đặc trưng cũng như những chuẩn mực trong văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn
Đồng thời, chúng tôi cũng muốn tìm hiểu văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Việt Thông qua việc so sánh đối chiếu những đặc trưng văn hóa trong giao tiếp phi ngôn ngữ của hai dân tộc, chúng ta sẽ có thể tránh được những sự hiểu lầm không đáng có trong giao tiếp giữa hai bên
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn Quốc (so sánh đối chiếu với văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Việt Nam) Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ là một vấn đề trừu tượng nhưng cũng đã có
nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn nó Chúng tôi xin nêu ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về văn hóa giao tiếp nói chung và văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ nói riêng của người Hàn và người Việt Nam như sau:
Ở phạm vi cơ sở lý luận, có một số công trình tiêu biểu sau:
Trong tác phẩm “커뮤니케이션과 인간” (Con người và giao tiếp), tác giả
Jeong Huyn Suk đã trình bày một cách khoa học về vấn đề giao tiếp Tác giả đã nêu ra các vấn đề như: khái niệm giao tiếp, các loại hình giao tiếp, đặc điểm và chức năng của giao tiếp Đặc biệt, tác giả đã cho người đọc những kiến thức lý luận về giao tiếp phi ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp ngôn ngữ cũng như văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn Những nội dung trong cuốn sách này sẽ giúp ít cho chúng tôi trong việc trình bày các khái niệm liên quan đến giao tiếp cũng như chức năng, nhiệm vụ của giao tiếp (cả ngôn ngữ lẫn phi ngôn ngữ)
Trang 6Trang 6
“비언어 커뮤니케이션” (Giao tiếp phi ngôn ngữ) của tác giả 최윤희 (Choi Yoon-hee, 2004) đã cho người đọc những nhận thức về giao tiếp phi ngôn ngữ: khái niệm, cấu trúc, chức năng và các hình thức Nhưng đáng tiếc là tác giả chưa trình bày
về văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu và bổ sung thiếu sót này qua đề tài của chúng tôi
Tác giả Nguyễn Quang (2008) cũng từng trình bày về vấn đề giao tiếp phi ngôn
ngữ qua tác phẩm “Giao tiếp phi ngôn từ qua các nền văn hóa” Tác giả đã cho người
đọc một cái nhìn tổng thể nhưng thật chi tiết về giao tiếp phi ngôn từ của nhiều nền văn hóa trên thế giới Đối với tác phẩm này, chúng tôi xin tiếp nhận các khái niệm liên quan cũng như cách phân chia giao tiếp phi ngôn ngữ
Các tác phẩm cùng tên “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của mỗi tác giả Trần Ngọc Thêm (1997), Chu Xuân Diên (2002) và Trần Quốc Vượng (chủ biên, 2003) đã trình bày những lý luận chung về văn hóa, cấu trúc văn hóa và đặc biệt là diễn trình văn hóa Việt Nam Tuy rằng mỗi vị có mỗi cách nhìn khác nhau về cùng một vấn đề (khái niệm văn hóa, cấu trúc văn hóa ) nhưng đã cung cấp rất nhiều thông tin có giá trị khoa học cao Từ những lý luận này, chúng tôi có thể hiểu rõ hơn về những đánh giá của các nhà nghiên cứu Việt Nam về văn hóa, văn hóa giao tiếp và đặc biệt là chúng tôi có được một cái nhìn tổng thể về tiến trình văn hóa Việt Nam (sẽ thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình so sánh văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ giữa hai dân tộc Hàn
và Việt Nam)
Nói về phần tiền đề thực tiễn thì chúng tôi tiếp cận một số tài liệu như:
“한국의 종교, 문화로 읽는다” (Đọc hiểu văn hóa và tôn giáo Hàn Quốc)
của tác giả 최준식 (Choe Chun sik) đã cho người đọc thấy được một cái nhìn tổng thể về 3 tôn giáo lớn ở Korea: shaman giáo, phật giáo và Nho giáo Tác giả đã trình bày các vấn đề về quá trình du nhập, lịch sử phát triển, sự ảnh hưởng đến văn hóa và lối sống người Hàn của mỗi loại tôn giáo Đồng thời tác giả còn phân tích sự tác động qua lại giữa ba tôn giáo đó Đây đúng là một tài liệu quý cho chúng tôi khi tìm hiểu về
sự tác động của tư tưởng tôn giáo đến sự hình thành văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn
“Hello from Korea” (2003), “Facts about Korea” (2008), “Welcome to
Trang 7Trang 7
Korea” (2008), “ Guide to Korean Culture” (2008) Thông qua các quyển sách này,
các nhà nghiên cứu thuộc bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc (Ministry of Culture, Sports and Tourism) kết hợp với Cơ quan Thông tin hải ngoại Hàn Quốc (Korean Overseas Information Service) đã cung cấp những thông tin khái quát về đất nước và con người Hàn Quốc (điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, nguồn gốc dân tộc, tiến trình văn hóa của dân tộc ) Những thông tin này rất hữu ích cho chúng tôi khi tiến hành phân tích về những tiền đề thực tiễn hình thành nên những nét đặc trưng trong văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn
Ở chương II,chúng tôi đã tiếp cận một số công trình tiêu biểu sau:
“예절 문화개론” (Khái luận văn hóa lễ nghi) của tác giả 김득중 (Kim Deuk-jung) Thông qua vấn đề giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn, tác giả nêu lên vấn đề quan trọng nhất là sự tôn kinh đối phương và sự khiêm tốn của bản thân Tác giả trình bày về văn hóa lễ nghi trong giao tiếp của người Hàn Đây sẽ là tài liệu hữu ích cho chúng tôi trong việc tìm hiểu những quy phạm trong giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn
Tác giả Roger E Axtell (Y Nhã biên dịch, 2004) đã trình bày về tầm quan trọng
của cử chỉ trong giao tiếp của con người trong tác phẩm “Cử chỉ những điều nên làm
và nên tránh trong ngôn ngữ cử chỉ khắp thế giới” Đi sâu vào phân tích những cử chỉ
phổ biến nhất thế giới, những cử chỉ từ đầu đến chân, những cử chỉ quan trọng cần nhớ Điều còn thiếu sót của tác phẩm này là tác giả chỉ đơn thuần trình bày những ví
dụ và ý nghĩa biểu hiện “bên ngoài” của những cử chỉ, hành động mà ít nói đến tính chất văn hóa “bên trong” mỗi cử chỉ, hành động ấy Tuy nhiên, các ví dụ cụ thể rất phong phú, giúp chúng tôi có nhiều ý tưởng trong việc so sánh văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn và người Việt
Hai khóa luận tốt nghiệp “Bước đầu tìm hiểu văn hóa giao tiếp của Việt Nam
và Hàn Quốc” của Vũ Hồng Vẹn (1999) và “Những hiểu biết về giao tiếp của người Hàn” của Nguyên Phương (2005) nếu kết hợp với nhau sẽ rất có ích cho người tìm
hiểu về văn hóa giao tiếp của người Hàn và người Việt Sở dĩ chúng tôi nói như vậy là
vì tác giả Vũ Hồng Vẹn tuy trình bày theo lối so sánh văn hóa giao tiếp giữa hai bên nhưng thiếu những dẫn chứng cụ thể, còn tác giả Nguyên Phương lại có những dẫn chứng cụ thể, thực tế nhưng lại chỉ trình bày văn hóa giao tiếp riêng của dân tộc Hàn
Trang 8Trang 8
Trên cơ sở hai khóa luận này, chúng tôi có thêm những dẫn chứng thú vị bổ sung cho phần so sánh đối chiếu văn hóa giao tiếp giữa hai bên
Ở chương III, chúng tôi đã tiếp cận một số công trình tiêu biểu sau:
“한국인의 커뮤니케이션 가치관” (Giá trị quan trong giao tiếp của người Hàn Quốc) của tác giả 임태섭 (Lim Tae-seop) đã thể hiện niềm tin và thái độ mà người Hàn có trong những hành vi giao tiếp ngôn ngữ cũng như phi ngôn ngữ Đồng thời, cuốn sách còn cho người đọc biết về những giá trị quan của người Hàn trong văn hóa giao tiếp Tác phẩm này sẽ cung cấp cho chúng tôi những đặc tính của văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn
Chúng tôi còn tìm thấy một số đặc trưng khác của văn hóa giao tiếp của người
Hàn qua hai nghiên cứu: “한국인의 전통적 커뮤니케이션 가치관에 대한 연구” (Nghiên cứu về giá trị quan trong giao tiếp mang tính truyền thống của người Hàn)
của tác giả 김문수 (Kim Mun-su) và “한국인의 커뮤니케이션 가치관 - 전통과
변화” (Giá trị quan trong giao tiếp của người Hàn – truyền thống và sự biến đổi) của
tác giả 임태섭 (Im Thae-seop) Trong công trình của mình, tác giả Kim Mun-su đã phân tích những câu tục ngữ, quán ngữ trong tiếng Hàn để tìm ra những chuẩn mực trong văn hóa giao tiếp của người Hàn Còn tác giả đã tìm ra những giá trị quan trong văn hóa giao tiếp của người Hàn thông qua những dẫn chứng cụ thể trong đời sống truyền thống, và qua đó tác giả trình bày cả sự biến đổi qua thời gian của những chuẩn mực, quy phạm trong giao tiếp của người Hàn Từ những chuẩn mực ấy, cả hai tác giả
đã rút ra được những đặc trưng trong văn hóa giao tiếp nói chung của người Hàn Chúng tôi xin tiếp nhận những nhận định manh tính chủ quan về văn hóa giao tiếp của người Hàn này và từ đây chúng tôi sẽ phát triển thành những đặc trưng trong văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của dân tộc Hàn
Ngoài ra, còn có nhiều bài báo, tạp chí, bài viết trên các trang web, các sách
phổ thông khác có đề cập đến Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn Quốc (và văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Việt Nam) Chúng tôi cũng sẽ tiếp cận
những nguồn tài liệu này để làm phong phú thêm luận văn của chúng tôi
Trang 9Trang 9
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu chính yếu của đề tài này là văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn Quốc trong những lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội Korea
Cuộc sống của con người vốn được hình thành bởi vô vàn các mối quan hệ qua lại chặt chẽ, mà cốt lõi của nó là các hành vi tiếp xúc, trao đổi thông tin với nhau thông qua tiếng nói, ngôn ngữ, cử chỉ và hành động giao tiếp Vì vậy, luận văn này nghiên cứu về
sự giao tiếp phi ngôn ngữ giữa con người với con người trong xã hội Korea
Phạm vi không gian nghiên cứu của luận văn là trong gia đình và nơi công sở
như (công ty, trường học, bệnh viện…), những nơi xuất hiện nhiều nhất những hình
thức giao tiếp phi ngôn ngữ Như vậy, chúng tôi sẽ không đề cập đến không gian giao tiếp ngoài gia đình và ngoài cơ sở (chẳng hạn: đường phố, xe điện ngầm )
Phạm vi thời gian nghiên cứu: chúng tôi sẽ chủ yếu tìm hiều những biểu hiện
văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ trong cuộc sống hiện đại ngày nay Tất nhiên, trong những biểu hiện của nó có cả những biểu hiện của quá khứ, bởi vì xã hội Korea ngày nay vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm những giá trị văn hóa của xã hội truyền thống
Phạm vi nội dung nghiên cứu: văn hóa giao tiếp vốn liên quan chặt chẽ với
phong tục, tập quán, cách suy nghĩ của cộng đồng sử dụng nó, do đó, nội dung của
luận văn là nghiên cứu về những quy phạm trong giao tiếp phi ngôn ngữ và đặc
tính chung của văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn Quốc Nói về những
quy phạm, những chuẩn mực trong giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn, chúng tôi sẽ tìm hiểu ở các hình thức phi ngôn ngữ sau: ngôn ngữ cơ thể (nét mặt, ánh mắt, cử chỉ
và chuyển động thân thể, tư thế ) và ngôn ngữ vật thể (quần áo, trang sức, quà tặng ) Đồng thời, do có so sánh với văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Việt nên chúng tôi cũng sẽ tìm hiểu những quy phạm, những chuẩn mực trong giao tiếp phi ngôn ngữ của họ
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
Ý nghĩa khoa học:
Với đề tài này, chúng tôi có thể góp phần khẳng định phi ngôn ngữ rất quan trọng trong giao tiếp của con người Sử dụng những hình thức phi ngôn ngữ để giao tiếp sẽ truyền đạt nội dung muốn nói nhanh hơn giao tiếp bằng ngôn ngữ lời nói Đồng thời, những cử chỉ, hành động trong giao tiếp phi ngôn ngữ là một công cụ giúp thể
Trang 10có liên quan đến Korea Nếu biết được văn hóa giao tiếp của người Hàn Quốc sẽ tạo
nhiều thuận lợi cho việc tiếp xúc với người Hàn Quốc và làm tăng sự hiểu biết và thiện cảm trong quá trình tiếp xúc và giao tiếp với họ
Ngược lại, người Hàn Quốc cũng định cư ở các nước rất nhiều, trong đó có Việt Nam Vì vậy, giữa người Hàn và người Việt chắc chắn sẽ có lúc giao tiếp với nhau Thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài này, người Việt Nam sẽ có thể hiểu rõ hơn về văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn Quốc (và ngược lại, người Hàn cũng sẽ hiểu văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Việt) Khi đã hiểu được văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn, người Việt có thể giao tiếp với người Hàn một cách chuẩn mực nhất và tự nhiên nhất trong cùng môi trường làm việc hoặc học tập Từ đó, người Việt tránh được sự hiểu nhầm, sự mâu thuẫn trong ứng xử khi giao tiếp với người Hàn Khi ấy, văn hóa giao tiếp đã giúp hai dân tộc tạo được bầu không khí thân thiện, ấm áp khi giao tiếp vì vậy sẽ làm tăng hiệu quả của việc giao tiếp
Luận văn này cũng sẽ góp phần bổ sung những phần còn thiếu hay chỉnh sửa những chỗ hiểu sai về văn hóa giao tiếp nói chung và văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn Quốc nói riêng trong những công trình hay luận văn trước đây đã nghiên cứu về lĩnh vực này Đồng thời, góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu
về văn hóa giao tiếp của người Hàn Quốc Nó sẽ giúp ích cho những ai muốn nghiên cứu về văn hóa giao tiếp của người Hàn Quốc trong gia đình và ngoài xã hội
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU
+ Phương pháp nghiên cứu văn hóa học:
Trang 11Trang 11
Đây là phương pháp chủ yếu để thực hiện đề tài này Với phương pháp văn hóa học, chúng tôi đi sâu tìm hiểu những đặc trưng của văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn Quốc Từ đó, chúng tôi dẫn chứng ra những biểu hiện cụ thể của văn hóa giao tiếp của người Hàn Quốc thông qua những hình thức phi ngôn ngữ
+ Phương pháp nghiên cứu lịch sử - lô gíc:
Chúng tôi dùng phương pháp này chủ yếu để tìm hiểu cơ sở hình thành và nguồn gốc lịch sử của nền văn hóa Korea Căn cứ vào các tài liệu lịch sử, chúng tôi sẽ trình bày theo thời gian những đặc trưng và giá trị của văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn Quốc (từ truyền thống đến hiện đại)
+ Phương pháp phân tích – tổng hợp:
Nguồn tư liệu mà chúng tôi có được chủ yếu thu thập từ sách, những bài báo, những công trình nghiên cứu trước và những thông tin từ Internet có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài Dựa trên những tư liệu này, chúng tôi sẽ phân tích và rút ra những dữ liệu cần thiết cho đề tài Sau đó, chúng tôi sẽ tổng hợp các dữ liệu, tiến hành trình bày những đặc trưng trong giao tiếp phi ngôn ngữ của dân tộc Hàn
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Để người xem có thể dễ dàng đọc và hiểu được về văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn, ngoài phần dẫn luận và kết luận, luận văn được chia ra làm 3 chương:
- Chương I: TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Đây là chương trình bày về những lý luận chung về giao tiếp, giao tiếp phi ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ Đồng thời, chương này trình bày về những tiền
đề thực tiễn hay những cơ sở hình thành nên văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn (điều kiện tự nhiên, nguồn gốc tộc người, các quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa dân tộc Hàn với các dân tộc khác)
- Chương II: GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI HÀN
Chúng tôi sẽ trình bày về những hình thức giao tiếp phi ngôn ngữ của người
Hàn (ngôn ngữ cơ thể: ánh mắt, nét mặt, nụ cười ; ngôn ngữ vật thể: trang phục, trang sức, quà tặng ; và ngôn ngữ môi trường: không gian và thời gian giao tiếp)
Thông qua những hình thức giao tiếp có vẻ như đơn giản nhưng chúng tôi muốn nói lên giá trị quan của người Hàn trong việc đối nhân xử thế Tất nhiên cũng có phần so
Trang 12Trang 12
sánh đối chiếu tương ứng với những hình thức giao tiếp phi ngông ngữ của người Việt Nam
- Chương III: GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
VĂN HOÁ GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI HÀN
Từ những quy phạm, những chuẩn mực qua các hình thức giao tiếp phi ngông ngữ, chúng tôi sẽ phân tích những đặc trưng cơ bản trong văn hóa giao tiếp phi ngông ngữ của người Hàn Quốc
Trang 13Trang 13
CHƯƠNG I
TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Giao tiếp phi ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp có một vai trò rất quan trọng trong đời sống con người Hình thái giao tiếp đã được bắt đầu từ rất sớm, ngay từ những hoạt động sống đầu tiên của con người thời tiền sử, rồi dần phát triển đến mức cao và hoàn chỉnh ở xã hội loài người khôn ngoan (Homo Sapiens) với phương tiện duy nhất mà chỉ có con người mới có, đó là ngôn ngữ Sự xuất hiện của ngôn ngữ trong giao tiếp của con người làm cho mối quan
hệ trong xã hội loài người trở nên phong phú và đa dạng hơn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Nó tạo động lực cho sự phát triển thể lực và trí tuệ của con người
Quá trình hình thành và phát triển giao tiếp là từ các mối quan hệ xã hội giữa người với người trong lao động Một cá thể từ khi được sinh ra cho đến khi trưởng thành không thể tồn tại riêng rẽ một mình Quá trình hoạt động cũng như các mối quan
hệ trong giao tiếp sẽ góp phần hình thành nên nhân cách của một con người Vì vậy con người chính là hạt nhân của các mối quan hệ giao tiếp Thông qua giao tiếp, nhu cầu trao đổi thông tin, kinh nghiệm sống, sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau sẽ được thực hiện Giao tiếp là sợi dây liên kết giữa con người với nhau trong mọi hoạt động sống
Như vậy, có thể hiểu theo nghĩa hẹp: “Giao tiếp [ ] là quá trình chia sẻ và
trao đổi thông tin giữa mọi người bằng cả ngôn từ và phi ngôn từ” [Saville – Troike,
1986, dẫn theo Nguyễn Quang 2008: 38]; và cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn:
“Giao tiếp là quá trình trao đổi và tiếp xúc nhau giữa con người với bản thân, với xã hội, với thiên nhiên, với gia đình, trực tiếp hay gián tiếp thông qua các công cụ như tiếng nói, ngôn ngữ, hành vi, tâm lý,… nhằm tạo nên những quan hệ, những tri thức, những hiểu biết trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống con người, của cộng đồng, nhóm xã hội và cá nhân con người.” [Phạm Vũ Dũng 1996: 12]
Xem xét các định nghĩa này, chúng tôi đồng ý với Phạm Vũ Dũng, bởi định nghĩa của ông đầy đủ và thuyết phục hơn cả Bởi lẽ, định nghĩa của ông đã nêu lên được bản chất, các đặc tính, các phương tiện và mục đích của giao tiếp
Trang 14Trang 14
1.1.2 Khái niệm giao tiếp phi ngôn ngữ
Khi xã hội loài người ngày càng phát triển thì các hình thức giao tiếp cũng tăng theo Nếu phân loại giao tiếp theo các hình thức giao tiếp này thì giao tiếp bao gồm các loại: giao tiếp ngôn ngữ, giao tiếp phi ngôn ngữ, giao tiếp hình họa, giao tiếp điện tử, [Nguyễn Quang 2008: 43] Trong các loại giao tiếp này thì giao tiếp phi ngôn ngữ
là một bộ phận không thể thiếu trong tất cả các tình huống “người – đối – người” Theo Nguyễn Quang [2008: 61]:
“Giao tiếp phi ngôn ngữ là toàn bộ các bộ phận kiến tạo nên giao tiếp không thuộc mã ngôn từ [ ], có nghĩa là không được mã hóa bằng từ ngữ, nhưng có thể thuộc về cả hai kênh [ ] ngôn thanh và phi ngôn thanh [ ] Nó bao gồm các yếu tố cận ngôn (phi ngôn từ - ngôn thanh) như tốc độ, cường độ, ngữ lưu và các yếu tố ngoại ngôn (phi ngôn từ - phi ngôn thanh) thuộc ngôn ngữ thân thể như cử chỉ, dáng điệu, hiện diện , thuộc ngôn ngữ vật thể như áo quần, trang sức , và thuộc ngôn ngữ môi trường như khoảng cách đối thoại, địa điểm giao tiếp ”
Theo Choi Yoon-hee [2004: 199]:
“Giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp không cần từ ngữ; là trạng thái khi mỗi người giao tiếp với nhau mà không cần lời nói; là ngành khoa học nghiên cứu về nhãn giao, mùi hương, cử chỉ, cách sử dụng thời gian, tiếp xúc thân thể, nét mặt ”
Như vậy, hai định nghĩa này đều cho rằng giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp thông qua ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ vật thể và ngôn ngữ môi trường Riêng Nguyễn Quang lại đưa thêm một kênh giao tiếp phi ngôn ngữ khác là cận ngôn (phi ngôn từ - ngôn thanh) Tuy nhiên, trong luận văn này, do nội dung chính là nói về văn hóa trong giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn, mà các hình thức cận ngôn như thế sẽ khó có thể truyền tải những yếu tố văn hóa này, nên chúng tôi chỉ tiếp cận 3 yếu tố ngoại ngôn ban đầu
Tầm quan trọng của giao tiếp phi ngôn ngữ
Giao tiếp phi ngôn ngữ có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì giao tiếp bao gồm ba yếu tố: ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và giọng điệu Ngôn ngữ, theo Mehrabian, chỉ góp phần nhỏ nhất 7% trong việc tác động đến người nghe, giọng điệu chiếm tới 38% và yếu tố phi ngôn ngữ lại trở nên quan trọng nhất vì sở hữu được 55% [Nguyễn Quang 2008: 63] Những công trình
Trang 15Trang 15
nghiên cứu ngày nay đã ghi vào danh mục hơn một triệu bản mã và tín hiệu liên quan đến các loại phi ngôn ngữ Tất cả các tín hiệu ấy đều có sức mạnh, có thể truyền tải thông tin và cảm xúc qua lại giữa các đối thể giao tiếp
Trong giao tiếp, ngoài lời nói, chúng ta còn phải để ý và hiểu được các cử chỉ, điệu bộ của cơ thể và thông điệp qua những ngôn ngữ vật thể của người đối diện Khi
có được kinh nghiệm đó, chúng ta sẽ nhận biết người đối diện, nhận biết bản thân và kiểm soát bản thân cũng như người đối diện bằng hành động phi ngôn ngữ Thông thường sau khi chào hỏi xã giao, người ta thường chú ý đến những cử chỉ phi ngôn
ngữ của người đối diện Anh ta bắt chéo chân tay trong khi nói chuyện? Anh ta nhìn thẳng vào mắt mình? Anh ta che miệng khi đặt câu hỏi? Quan sát và hệ thống các cử
chỉ đó lại, có thể đánh giá được tính cách của đối tượng giao tiếp Giao tiếp phi ngôn ngữ phản ánh cảm xúc thực sự bên trong nên khi kiểm soát hành vi, cử chỉ của mình
và của người đối diện, chúng ta sẽ thấy được những mặt ưu và mạnh của giao tiếp phi ngôn ngữ
Đối với những người không có khả năng nói, giao tiếp phi ngôn ngữ chính là một cách để họ giao tiếp với cuộc sống bên ngoài Họ dùng tay và các hành động của
cơ thể để trao đổi thông tin và tình cảm của mình Họ không còn thấy tự ti và mở rộng lòng mình hơn với mọi người
Đặc biệt, trong giao tiếp giao văn hóa, giao tiếp phi ngôn ngữ rất quan trọng Giả sử hai người thuộc hai quốc gia khác nhau, với hai ngôn ngữ khác nhau (và họ không biết một ngôn ngữ trung gian nào khác, chẳng hạn tiếng Anh) thì họ không thể đối thoại với nhau Khi ấy, nếu bỏ qua những sự khác biệt về văn hóa giao tiếp giữa hai bên thì hai người sẽ truyền đạt thông điệp thông qua những cử chỉ, điệu bộ của
cơ thể (những hành động cử chỉ được nhiều dân tộc trên thế giới cùng hiểu như nhau)
Rõ ràng trong trường hợp này, giao tiếp phi ngôn ngữ tỏ ra chiếm ưu thế và rất hữu hiệu Chính vì lẽ đó mà giao tiếp phi ngôn ngữ giúp cho mối quan hệ giữa con người với con người ngày càng được mở rộng
Đặc trưng của giao tiếp phi ngôn ngữ
Để hiểu rõ hơn về loại hình giao tiếp phi ngôn ngữ, chúng ta hãy tìm hiểu những đặc điểm nổi bật của nó:
+ Giao tiếp phi ngôn ngữ thường truyền tải thông điệp một cách không rõ
Trang 16Trang 16
ràng: Sự không rõ ràng đó được thể hiện qua việc một người thực hiện hành vi giao
tiếp có chủ định hay không có chủ định Ví dụ: Khi người A cười với người B với mục đích truyền tải sự thân thiện, nếu người B tiếp nhận thông điệp theo đúng cách mà người A mong muốn thì có nghĩa là sự giao tiếp đạt hiệu quả
+ Giao tiếp phi ngôn ngữ là diễn biến liên tục: Sự giao tiếp bằng lời chỉ xảy ra
khi lời nói được cất lên và kết thúc ngay khi âm thanh của lời nói đó kết thúc Trong khi đó, giao tiếp phi ngôn ngữ xảy ra và kéo dài cho tới khi nào đối tượng giao tiếp vẫn còn nằm trong hoạt động giao tiếp
+ Giao tiếp phi ngôn ngữ mang tính đa kênh: Chúng ta tiếp nhận những dấu
hiệu của giao tiếp bằng lời nói trong cùng một lúc và chúng chỉ được thể hiện bằng ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết Tuy nhiên với giao tiếp phi ngôn ngữ, chúng ta có thể tiếp nhận thông tin bằng nhiều cách như nhìn, nghe, cảm nhận, ngửi hoặc nếm
+ Giao tiếp phi ngôn ngữ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về trạng thái tình cảm của người mà chúng ta giao tiếp: Cho dù người đó có dùng lời lẽ thế nào đi nữa để nói
về cảm xúc của họ thì qua những hành động, cử chỉ, sự biểu hiện của họ, ta cũng có thể biết được cảm xúc thật của họ
+ Giao tiếp phi ngôn ngữ có thể được nhận biết qua những nền văn hóa khác nhau: Mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa có hệ thống ngôn ngữ riêng biệt cho nên những
người đến từ nền văn hóa khác khó có thể hiểu được Ngược lại, một vài nghiên cứu chỉ rằng đa số những người đến từ các quốc gia khác nhau lại có chung cách biểu lộ cảm xúc trên mặt như vui, buồn, giận dữ, sợ hãi, ngạc nhiên… Do vậy, trong trường hợp ngôn ngữ bất đồng, cách giao thiệp hiệu quả nhất chính là giao tiếp phi ngôn ngữ Bằng cách dùng những dấu hiệu giao tiếp đơn giản như gật đầu, chỉ tay, bắt tay, cười
+ Giao tiếp phi ngôn ngữ kèm theo với giao tiếp ngôn ngữ nhưng giao tiếp phi ngôn ngữ có thể tồn tại độc lập Nói một cách khác, ngôn ngữ chỉ là một bộ phận của
quá trình giao tiếp và trong đời sống thì giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ luôn luôn gắn chặt với nhau Sự khác biệt duy nhất giữa chúng là: con người không suy nghĩ về hành vi phi ngôn ngữ của mình như ngôn ngữ nói mà họ thường sử dụng Nhưng điều này không có nghĩa là hành vi phi ngôn ngữ có thể bộc lộ hoặc che đậy trạng thái cảm xúc của người nói và ít quan trọng hơn giao tiếp ngôn ngữ
Trang 17Trang 17
1.2 Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ
Khái niệm văn hóa rất đa dạng, phong phú Các định nghĩa về văn hóa được
các học giả đưa ra nhằm phục vụ, định hướng cho lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Do
đó, vấn đề phân loại văn hóa (hay cấu trúc văn hóa) cũng được nhìn nhận khác nhau Đối với TS Sin In-a (신인아), viện trưởng Viện Nghiên cứu huấn luyện văn hóa giao văn hóa (S.E.N) của Hàn Quốc đã phân loại văn hóa thành 3 loại lớn:
+ Thứ nhất là văn hóa trong “nghệ thuật cao cấp” Đây là những loại hình văn
hóa tinh tế như là nghệ thuật, kịch nói, văn chương, hội họa, phim ảnh, âm nhạc, cho chúng ta thấy được sự khác biệt với những hoạt động trong cuộc sống hằng ngày như
ăn uống, trò chuyện, sinh hoạt
+ Thứ hai là văn hóa mang tính truyền thống Ở Korea, các loại văn hóa hữu
hình như kiến trúc chùa chiền và các loại văn hóa vô hình như múa mặt nạ (Talchum -
탈춤), quốc nhạc (Kukak - 국악) và những tư tưởng tam cương ngũ thường, tôn ti
trật tự của Nho giáo là những văn hóa đã in sâu vào tâm trí của người Hàn quốc
+ Thứ ba là văn hóa mang tính quốc gia: là tất cả những hình thức sinh hoạt
như là ăn, mặc, ở, phong tục tập quán, tôn giáo, ngôn ngữ của riêng quốc gia đó [Sin In-a 2001: 18]
Sở dĩ chúng tôi đưa ra 3 loại hình văn hóa này là nhằm tạo cơ sở định hướng cho việc phân tích biểu hiện văn hóa trong những hành vi giao tiếp phi ngôn ngữ của
người Hàn Quốc Đồng thời, trên cơ sở phân loại này, chúng tôi sẽ trình bày về mối
quan hệ qua lại giữa văn hóa và giao tiếp
+ Văn hóa truyền thống của một dân tộc quy định nên cách thức giao tiếp của dân tộc ấy hay nói cách khác giao tiếp là công cụ truyền đạt văn hóa Mỗi dân tộc có
hệ tư tưởng, giá trị quan khác nhau Đối với Korea, văn hóa truyền thống vô hình như
hệ tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Shaman giáo đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành tính cách dân tộc Chính tính cách dân tộc đã quy định nên những cách thức giao tiếp đặc trưng Chẳng hạn, do ảnh hưởng tính tôn ti trật tự của Nho giáo mà khi giao tiếp, người dưới không được nhìn thẳng vào mắt người trên mà phải luôn nhìn xuống
+ Ngược lại, giao tiếp lại có thể hình thành nên một thứ văn hóa riêng của dân tộc – văn hóa mang tính quốc gia Thông thường, trong giao tiếp giao lưu văn hóa giữa
Trang 18Trang 18
hai hay nhiều nền văn hóa với nhau thì chủ thể của mỗi nền văn hóa sẽ hiểu biết và học hỏi thêm được nhiều nét hay nét đẹp trong văn hóa khác Chẳng hạn, thông qua quá trình giao tiếp với các nền văn hóa phương Tây mà ở Korea đã hình thành nên một loại văn hóa “ppalli ppalli” (빨리 빨리 - nhanh nhanh) Lối giao tiếp nhanh lẹ dần dần được toàn thể người Hàn thực hiện, và nó trở thành một văn hóa mang tính quốc gia
1.2.1 Khái niệm văn hóa giao tiếp
Trong quá trình phát triển lịch sử xã hội, việc giao tiếp giữa người với người trong một xã hội và một dân tộc nào đó được kế thừa từ thế hệ trước sang thế hệ sau và hoàn thiện dần để cuối cùng được thực hiện theo những nguyên tắc, những chuẩn mực
và những quy định nhất định và mang tính truyền thống mà xã hội đó, dân tộc đó coi là
có giá trị đạo đức và thẩm mỹ
Vậy “Văn hóa giao tiếp của một xã hội, một dân tộc là toàn bộ những nguyên tắc, những chuẩn mực và những quy định chỉ đạo hoạt động giao tiếp giữa người trong xã hội đó và dân tộc đó Để sự giao tiếp đó được xem là có giá trị đạo đức, có giá trị thẩm mỹ hợp lý, phù hợp với quan niệm của xã hội đó và dân tộc đó về văn hóa
và văn minh, về truyền thống và bản sắc dân tộc và phù hợp với những điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh tế, văn hóa của dân tộc đó Văn hóa giao tiếp của một xã hội, một dân tộc được thực hiện thành tập quán, phong tục truyền thống của xã hội đó, dân tộc đó” [Trần Tuấn Lộ 1995: 90] Nói cách khác, theo nhà nghiên cứu Phạm Vũ Dũng thì
“Văn hóa giao tiếp chính là những định chuẩn giao tiếp được tinh tuyển, được tạo thành nề nếp, được hoàn thiện và nâng cao cả về cách thức, nếp ứng xử ngôn ngữ, lời nói và cử chỉ, hành vi, cả về phương thức trao đổi và tiếp xúc với nhau trong xã hội”
[Phạm Vũ Dũng 1996: 20]
Ngoài việc giao tiếp giữa những người trong một nước với nhau, còn có sự giao tiếp giữa những người nước này, dân tộc này với người nước khác, dân tộc khác Với tính chất là sự giao tiếp giữa hai người thuộc hai dân tộc và hai đất nước khác nhau (truyền thống văn hóa, phong tục tập quán khác nhau ) tất nhiên không thể thực hiện bằng cách tuân theo những nguyên tắc, chuẩn mực và quy định của chỉ một bên nào,
mà phải có những nguyên tắc, chuẩn mực chung mang tính quốc tế cho sự giao tiếp giữa hai bên
Trang 19Trang 19
1.2.2 Khái niệm văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ
Trong số những tài liệu chúng tôi tìm được, không có tài liệu nào đưa ra khái niệm văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ Các tác giả chỉ dừng lại ở việc trình bày khái niệm văn hóa giao tiếp Tuy nhiên, dựa trên cơ sở những định nghĩa về văn hóa giao tiếp, chúng tôi xin đưa ra khái niệm văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ theo ý chủ quan như sau:
Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của một xã hội, một dân tộc là toàn bộ những nguyên tắc, những chuẩn mực và những quy định chỉ đạo hoạt động giao tiếp giữa người với người trong xã hội đó và dân tộc đó thông qua những hình thức phi ngôn ngữ (ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ vật thể và ngôn ngữ môi trường) nhằm đạt đến những giá trị thẩm mỹ Đồng thời, nó là biểu hiện của hệ tư tưởng, hệ giá trị truyền thống của xã hội đó hay dân tộc đó
Trong văn hóa giao tiếp nói chung của một dân tộc nào đó, ngoài những biểu hiện lời nói, những yếu tố khác như diện mạo, nét mặt, ngoại hình, trang phục cũng
có ý nghĩa riêng Trước hết là các chủ thể giao tiếp tri giác lẫn nhau: quan sát tướng
mạo, vẻ mặt, dáng điệu, tư thế, tác phong, cách ăn mặc, cách trang điểm, ánh mắt, lời nói, nụ cười… của nhau Chính những hình ảnh tri giác này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc đánh giá nhân cách, trình độ văn hoá, tình cảm và sự lựa chọn phương án giao tiếp Chẳng hạn, trong giao tiếp, giữa các đối tượng giao tiếp phải có cử chỉ và hành động đáp lại Khi đó tình huống đòi hỏi các đối tượng giao tiếp phải suy nghĩ, tư duy thật nhanh để quyết định để có cử chỉ hay hành động đáp lại như thế nào là đúng, là tốt,
là cao thượng, là tự trọng Từ đó hình thành nên cái gọi là văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ
Trong giới hạn của khóa luận, chúng tôi chủ yếu trình bày về những biểu hiện
“bên trong” của những hành vi phi ngôn ngữ - những cái thể hiện văn hóa của dân tộc Hàn Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẽ trình bày rất khái quát ý nghĩa đơn thuần “bên ngoài” của những dấu hiệu phi ngôn ngữ đó
2 TIỀN ĐỀ THỰC TIỄN
2.1 Địa lý - tự nhiên
Về vị trí địa lý, Korea nằm trên bán đảo Triều Tiên, thuộc khu vực Đông Bắc Á
Trang 20Trang 20
Toàn bộ bán đảo Triều Tiên từ Bắc xuống Nam có chiều dài khoảng 1.100 km Phía Bắc bán đảo giáp với Trung Quốc và Liên bang Nga; phía Tây là biển Hoàng Hải; về phía Đông là biển Nhật Bản và phía Đông Nam là eo biển Hàn Quốc Trên cả 3 vùng biển (Đông, Nam, và Tây) xung quanh đất liền đều có rất nhiều vũng, vịnh và vô số đảo lớn nhỏ (khoảng hơn 3000 đảo) Từ yếu tố vị trí địa lý đã có những tác động đến văn hóa và chính trị suốt nhiều thời kỳ Trong khi giữ vai trò cầu nối cho sự truyền đạt văn hóa từ châu Á tới Nhật Bản, bán đảo Hàn đã trở thành đối tượng cạnh tranh giữa Trung Quốc, Nhật Bản và Nga trong cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX
Về địa hình, khoảng 70% lãnh thổ của bán đảo là núi đá, trong đó chiếm chủ yếu
là đá ga-nít rất gắn chắc Những khu vực này được kết hợp với hoạt động núi lửa thời tiền sử, đáy biển bị đẩy lên đã tạo nên phong cảnh lởm chởm của Korea như chúng ta thấy ngày nay Thêm nữa, bán đảo nói chung được bao quanh bởi những dãy núi Núi Taebaek (태백 – Thái Bạch) như là một xương sống, ngăn cách biên giới giữa bán đảo Triều Tiên với Trung Quốc Dãy núi hùng vĩ này chạy dọc theo bờ biển phía Đông, kéo dài xuống tận miền Nam của Hàn Quốc, với những vách đá dựng đứng và nhiều
đá nhỏ được tạo nên do sự va đập của hàng nghìn con sóng ngày đêm dội vào Những nhánh núi của hệ thống núi Taebaek một phần đâm thẳng ra phía Tây và Tây Nam của Hàn Quốc và đã tạo ra những độ dốc thoai thoải
Korea có số lượng sông suối tương đối nhiều Toàn bán đảo có 4 sông lớn: sông Yalu (Áp Lục giang), sông Taedong (Đại Đồng giang), sông Nakdong (Lạc Đông giang) và sông Han (Hàn giang) Gần như các con sông chảy về hướng Tây, đổ vào biển Vàng Chính những nhánh núi của dãy Taebaek đan chéo khắp nơi và cắt ngang các con sông này đã tạo nên các đồng bằng nhỏ, hẹp Từ đó, Korea chỉ có khoảng 20% đất đai có thể trồng trọt được và đa số đất trồng trọt được nằm ở các vùng phía Tây và Nam
Trang 21Trang 21
Khí hậu Korea ôn hòa, có bốn mùa rõ rệt Korea nằm trong vành đai khí hậu ôn
đới ấm gió mùa Đông Á nên hầu hết lãnh thổ nóng và ẩm ướt vào mùa hạ, lạnh và khô hanh vào mùa đông (mùa đông kéo dài hơn các mùa khác), còn mùa xuân và mùa thu ngắn nhưng mát và nắng đẹp Các tháng 6, 7, 8 (mùa hè) trong năm là những tháng có mưa nhiều và to, trong đó tháng 7 là tháng ẩm ướt nhất năm Mùa đông bắt đầu từ cuối tháng 11 và kéo dài đến đầu tháng 3 Vào mùa đông mưa ít và bầu trời quang đãng, chịu ảnh hưởng khí hậu lạnh từ Siberia (Nga) thổi đến
Nhờ tính chất địa hình núi đá mà lại là đá ga-nít cứng nên tính cách con người Hàn Quốc rất là cứng rắn, rất là mạnh mẽ Sống trong một điều kiện địa lý tự nhiên vô cùng khắc nghiệt như thế này, người Hàn Quốc cần phải có sức bền bĩ, mạnh mẽ cả về thể chất lẫn tinh thần Địa hình hiểm trở khiến người Hàn Quốc phải hết sức năng động và linh hoạt để thích ứng với địa hình này Song song đó, sự hòa hợp giữa khí hậu ôn hòa, biển rộng xung quanh và đất liền đã làm cho dân tộc Hàn Quốc có phần
êm dịu về tính cách Từ đó, người Hàn Quốc trở nên yêu chuộng sự bình yên, yêu chuộng hòa bình Chính vì hai hướng tác động của điều kiện địa hình như thế mà trong
Hình I.1 70% lãnh thổ bán đảo Triều Tiên là đồi núi (thể hiện bằng màu vàng,
ảnh bên trái) và núi đá chủ yếu là đá ga-nít rất cứng (ảnh bên phải)
Trang 22Trang 22
tính cách người Hàn Quốc vừa cứng rắn (trong khi chống chọi với kẻ thù, thiên tai ) vừa êm dịu (khi không có bất cứ thiên tai hay kẻ địch nào, tức là khi họ được sống trong hòa bình)
2.2 Nguồn gốc tộc người
Theo các bằng chứng khảo cổ học thì trên bán đảo Triều Tiên đã có người sinh sống cách đây khoảng 500 ngàn năm Dựa trên các tài liệu ngôn ngữ và khảo cổ, tổ tiên người Hàn Quốc ngày nay có nguồn gốc di cư từ Bắc Siberia, đến Mông Cổ, Mãn Châu (Trung Quốc) rồi xuống bán đảo vào khoảng 5000 năm trước Công nguyên Họ định cư ở đây, phối ngẫu và di truyền nòi giống [John H Koo & Andrew C Nahm 2004: 34 - 35]
Theo dân tộc học, người Hàn Quốc thuộc chủng Mongloid Người Hàn da vàng, tóc đen, xét về những đặc trưng cơ thể thì người Hàn thuộc tộc người Mông Cổ Ngôn ngữ của họ thuộc ngữ hệ Altai, cùng ngữ hệ với các ngôn ngữ khác như tiếng Thổ Nhĩ
Kỳ, Tungus, hay Mông Như vậy, người Hàn có liên quan với các tộc người phương Bắc nhiều hơn phương Nam Vì vậy ít nhiều mang trong mình tính chất du mục (trọng động) của dân săn bắn và chăn nuôi Siberia
Từ thời kỳ đồ đồng (khoảng thế kỷ VIII - IV tr.CN), nghề nông nghiệp lúa nước vốn bắt nguồn từ khu vực Đông Nam Á cổ đại phía nam sông Dương Tử qua cư dân Hoa Hạ ở lưu vực sông Hoàng Hà đã thâm nhập vào bán đảo Korea và từ đó trở thành loại hình kinh tế chủ yếu trong suốt lịch sử Korea3 Chất nông nghiệp lúa nước thiên về âm tính và trọng tĩnh
3 www.vanhoahoc.com/site/index.php?option=com_content&task=view&id=554&Itemid=47
Hình I.2
Trang 23Trang 23
Từ hai tính chất nông nghiệp (âm tính) và du mục (dương tính), kết hợp với điều kiện sống khắc nghiệt đã quy định nên những nét tính cách đặc trưng của người Hàn Chính những tính cách này đã góp phần hình thành nên những quy phạm, những chuẩn mực trong văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn
2.3 Tiền đề lịch sử - văn hóa Korea
2.3.1 Sơ lược lịch sử bán đảo Korea
Buổi đầu lịch sử Korea thường được đánh mốc vào năm 2333 tr.CN (theo truyền thuyết vua Tangun sáng lập ra vương quốc Gojoseon (고조선 - Triều Tiên cổ) Trong khi các nhà học giả còn đang tranh cãi về tính chất lịch sử của huyền thoại này, người ta vẫn cho rằng các quốc gia cổ xưa của Hàn Quốc do các cộng đồng thị tộc sáp nhập với nhau tạo thành
Vào thời cổ đại, trên bán đảo Triều Tiên đã hình thành 3 vương quốc: Goguryeo
ở miền Bắc, Silla ở miền Đông và Baekje ở miền Tây Nam Vương quốc Silla, bắt đầu
từ năm 57 tr CN đã thống nhất bán đảo Triền Tiên vào năm 668 s CN Vào cuối thế
kỷ thứ IX, Silla thống nhất trở nên suy yếu dẫn đến sự ra đời của nước hậu Beakche ở miền Tây Nam vào năm 892 và Hậu Goguryeo ở miền Trung vào năm 901, làm thu hẹp dần lãnh thổ Silla và tái tạo thời kỳ 3 vương quốc mới trong lịch sử Triền Tiên (thường gọi là thời kỳ Hậu Tam quốc)
Năm 918, Wangkeon (왕건 - Vương Kiến) lên ngôi vua nước Hậu Goguryeo, tiêu diệt nước Silla vào năm 935 và Hậu Baekje vào năm 936, thống nhất bán đảo Triều Tiên, lập ra vương quốc Goryeo và đặt đô tại Seongak (nay là Gaeseong), từ đó
có tên tiếng Anh là Korea Năm 1392, nguyên soái Lý Thành Quế (Yi Seongy) lật đổ triều đình Goryeo, lập vương triều Yi Vương quốc Joseon dưới triều Yi được 27 vị vua trị vì và chấm dứt vào năm 1910 Trong khoảng thời gian đó, Vương triều Yi chấp nhận thân phận chư hầu trước nhà Minh Trung Quốc để duy trì mối quan hệ giữa hai nước Từ đó văn hóa Trung Quốc đã ảnh hưởng sâu đậm tới văn hóa Triền Tiên Các vua triều Yi chấp nhận Nho giáo là hệ tư tưởng chính thống, trung tâm và đàn áp Phật giáo
Từ năm 1910 đến 1945, Korea đã trở thành thuộc địa của Nhật Bản Tháng 8/1945, Nhật Bản đầu hàng quân đội Đồng Minh, Korea giành được độc lập Tháng
Trang 24Trang 24
9/1945, Korea bị chia cắt thành hai miền bởi vĩ tuyến 380 Bắc: miền Nam dưới sự chiếm đóng của Mỹ và miền Bắc đi theo khối Liên Xô Mùa thu năm 1948, hai quốc gia với hai thể chế chính trị khác nhau ở hai miền bán đảo được thành lập: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (phía Bắc) theo xã hội chủ nghĩa và Đại Hàn Dân Quốc (phía Nam) theo tư bản chủ nghĩa Những nỗ lực cho việc thống nhất đất nước vẫn đang tiến hành một cách tích cực đối với dân tộc Hàn, bởi trước đây họ vốn là một quốc gia thống nhất trên một vùng lãnh thổ, một dân tộc thuần nhất, một ngôn ngữ chung và một nền văn hóa độc đáo riêng biệt
2.3.2 Tiến trình văn hóa Korea
Tiến trình văn hóa Korea có thể chia thành 8 giai đoạn: văn hóa tiền sử, văn hóa Joseon cổ, văn hóa Tam quốc, văn hóa Silla thống nhất, văn hóa Goryeo, văn hóa đầu Joseon, văn hóa cuối Joseon và văn hóa hiện đại Tám giai đoạn này tạo thành 3 lớp: lớp văn hóa bản địa, lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa, lớp văn hóa giao lưu với phương Tây
2.3.2.1 Lớp văn hóa bản địa
Lớp văn hóa bản địa được hình thành qua hai giai đoạn: giai đoạn văn hóa tiền
sử và giai đoạn văn hóa Joseon cổ
(1) Giai đoạn văn hóa tiền sử:
Các nhà khảo cổ đã khẳng định rằng có thể những cư dân du mục tiền sử thuộc nhóm ngôn ngữ Altai đã từ Siberia, Mãn Châu và Mông Cổ (ở Bắc Á và Trung Á) đã
di cư đến bán đảo Hàn từ thời đá mới khoảng 6.000 – 2.000 năm trước công nguyên
Họ là những thợ săn, ngư dân và nông dân, những người thờ cúng các thần linh thiên nhiên, thuộc hệ thống tín ngưỡng đa thần giáo (Shaman) Chính họ đã đồng hóa dân cư bản địa tạo thành dân tộc Đông di (Turgus) và có những đóng góp nhất định vào nền văn minh Hoa Hạ Trải suốt 5000 năm, những tín ngưỡng và tập tục của họ vẫn tồn tại cho đến ngày nay Phương thức sinh sống chủ yếu của họ là tìm kiếm thức ăn có sẵn trong tự nhiên Họ cũng chế tạo nhiều loại đồ gốm, có thể được coi là hình thức nghệ thuật đặc trưng của thời kỳ đá mới Âm nhạc và nhảy múa cũng sớm ra đời và đặc biệt phát triển trong các lễ nghi tôn giáo
(2) Giai đoạn văn hóa Joseon cổ (thế kỷ I tr CN):
Sự xuất hiện của đồ đồng đã góp phần ra đời của hàng loạt quốc gia thành ấp
Trang 25Trang 25
trong vùng mà sớm nhất là Joseon cổ Đồ đồng đã dẫn đến sự biến đổi trong đời sống kinh tế xã hội, đáng kể nhất là nền nông nghiệp trồng lúa nước, thay thế cho săn bắt và hái lượm trước kia Nghề trồng lúa nước chính là du nhập từ khu vực Đông Nam Á, qua Trung Hoa đến bán đảo Triều Tiên
Văn hóa đồ sắt đến từ Trung Hoa với văn hóa đồ đồng Siberia trước đó đã tiếp xúc và ảnh hưởng lẫn nhau, rồi kết hợp với văn hóa bản địa của bán đảo Hàn để tạo nên một nền văn hóa khá đặc sắc và độc đáo ở vương quốc Joseon cổ Thời kỳ này xuất hiện những quan niệm về thế giới bên kia, vì vậy người ta đã xây mộ cho người chết Họ chôn người chết trong mộ đá che bằng những phiến đá lớn tạo nên nền văn hóa cự thạch nổi tiếng
(3) Trong lớp văn hóa bản địa này có một điểm đáng lưu ý là Shaman giáo –
tôn giáo bản địa của người Hàn Shaman giáo là một trong những yếu tố quan trọng
góp phần quy định nên những đặc trưng tính cách của người Hàn
Về xuất xứ tên gọi, thuật ngữ Shaman giáo (tiếng Anh: Shamanism) có lẽ bắt
nguồn từ tên của một bộ lạc là ở vùng Siberia của nước Nga ngày nay, đó là bộ lạc Shaman Bộ lạc này sống ở khu vực gần Mãn Châu, Mông Cổ và Tây Tạng, có ảnh
hưởng nặng từ các tín ngưỡng dân gian pha trộn với phật giáo cổ Thuật ngữ Shaman giáo được các nhà nghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo và nhân học phương Tây đặt ra để
chỉ một hình thức tín ngưỡng tôn giáo bản địa của dân cư vùng Siberia ra đời từ thời
kỳ đồ đá Ngày nay, sau một quá trình lan truyền từ cái nôi Siberia, Shaman giáo đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới
Shaman giáo là một tín ngưỡng bách thần, mà trong đó mọi người tìm sự trợ
giúp của thần linh thông qua người trung gian là các ông đồng, bà cốt khi con người đối diện với những vấn đề lớn mà thông thường họ không thể tự mình giải quyết được Trong cuộc sống, có những lúc con người không thể giải quyết được những vấn đề bằng chính năng lực bản thân, không thể tự dự đoán được tương lai của mình, cũng như không thể hoàn thành một số việc nào đó Chính những lúc như thế này, cách giải quyết tốt nhất, theo quan niệm của những người tin theo, là dựa vào sức mạnh siêu nhiên của thần linh, của các linh hồn, hay thậm chí là của ma quỷ Sự bế tắc của con người trước các bệnh tật hay các hiện tượng thiên nhiên cũng chính là cơ sở hình thành nên Shaman giáo
Trang 26là Gut (굿 - các buổi tế lễ trong nghi thức shaman giáo)
Ở Hàn Quốc, các nhà nghiên cứu cũng đã tìm thấy những bằng chứng cho thấy
sự tồn tại của Shaman giáo ngay từ thời kỳ đồ sắt Shaman giáo du nhập vào bán đảo Triều Tiên cùng với cư dân bản địa Altai ở vùng Siberia thuộc Liên Xô trước đây Sở
dĩ các học giả đã xây dựng được cái sườn cơ bản cho Shaman giáo ở Hàn Quốc là dựa vào Shaman giáo đã từng có ở châu Âu và đặc biệt là ở vùng Siberia, Đông Bắc Á Chỉ
có khác ở nghệ thuật lên đồng để liên lạc với thần linh của các mudang Trong Shaman giáo của Hàn Quốc, thần linh tự nhập vào cơ thể của các mudang, còn các ông đồng bà cốt ở vùng Siberia không ngồi im chờ đợi thần tìm đến như ở Hàn Quốc mà khi họ đã đạt được trạng thái lên đồng thì hồn rời khỏi xác, trực tiếp lên trời hoặc xuống địa ngục để gặp thần linh Người Hàn Quốc tin tưởng tuyệt đối vào thần linh và mong muốn thần linh lúc nào cũng ở bên cạnh mình, phù hộ và che chở mình Đó cũng là xuất phát từ nền văn hóa nông nghiệp Còn người Siberia xuất phát từ văn hóa săn bắn hái lượm, họ phải không ngừng đấu tranh sinh tồn với tự nhiên để có thể tiếp tục sống tốt hơn nên họ phải chủ động đi tìm thần linh, tìm người phù hộ cho mình
Lịch sử Shaman giáo ở Hàn Quốc không được nhiều người biết đến Shaman giáo hiện diện trong các lễ hội tôn giáo của xã hội Korea cổ đại: nghi thức tế thiên tạ
Trang 27Trang 27
ơn trời Yeonggo (영고) hay lễ múa trống gọi hồn Từ khi chưa hình thành quốc gia, chỉ là một xã hội liên minh bộ lạc, xã hội bộ tộc, thì tộc trưởng nắm quyền lực chính trị, còn các mudang nắm quyền lực về tôn giáo Hai thế lực này tồn tại song song và tạo nên sự liên kết, đoàn kết giữa tộc trưởng và các mudang Từ khi Tangun (단군) lập nước Go Joseon (Triều Tiên Cổ – nhà nước đầu tiên ở Korea) thì ông thâu tóm tất cả quyền lực vào trong tay mình, ông vừa là vua vừa là thầy tế lễ Nhưng càng về sau này, khi lãnh thổ quốc gia ngày càng được mở rộng, công việc hành chính đã chiếm nhiều thời gian của nhà vua thì vua đã không còn lo chuyện tế lễ được nữa Kể từ đó vương quyền và thần quyền được tách ra Quyền lực của nhà vua được xem trọng hơn quyền lực của các mudang nên các mudang phải phục tùng vương quyền và chỉ đảm nhận các công việc thuộc về tôn giáo hoặc quản trì tất cả các nghi thức tôn giáo như cầu mưa, cầu an…
Vào đầu thời Goryeo, các nghi thức Shaman diễn ra nhiều đến nỗi mà các mudang trở thành các nhà “kinh doanh buôn bán” những điệu nhảy cầu mưa, cầu an, cầu thần linh phù họ cho gia đình Do đó, đến cuối thời Goryeo thì nó bắt đầu xuất hiện những nhược điểm Khi các kỷ cương và giáo lý của Khổng giáo thâm nhập vào Hàn Quốc, người Hàn Quốc bắt đầu tin tưởng và đi theo Nho giáo Nho giáo dần trở thành một tôn giáo quan trọng của người Hàn Người ta bắt đầu đuổi các mudang ra khỏi kinh đô, phá bỏ các gut đường (nơi diễn ra các nghi lễ cúng bái của các mudang) Như vậy, thời kỳ này là thời kỳ chuyển biến giữa một shaman giáo được ưu ái và một shaman giáo bị loại trừ
Các chính sách Shaman giáo vào thời kỳ Joseon thể hiện tính hai mặt Một mặt,
nó kìm hãm sự phát triển của Shaman giáo Nếu như trong thời kỳ xã hội bộ lạc, các mudang giữ vị trí tối cao thì đến bây giờ vị trí đó dần dần bị hạ thấp và trở thành các thường dân Nhà nước cũng đưa ra các chính sách ngăn cấm các mudang hoạt động hay tổ chức các buổi gut Nhưng thực ra các chính sách này vẫn không có hiệu lực vì các mudang vẫn tiến hành các buổi gut và các nghi lễ Shaman Nhưng mặt khác, do lúc đó y học chưa phát triển nên mọi người không thể chữa các bệnh nguy hiểm mà không nhờ đến khả năng liên lạc với thần linh của các mudang Nhìn chung, các tín đồ của Shaman giáo cũng có nhiều người trong hoàng tộc nhà vua, trong số đó đặc biệt là
Trang 28Trang 28
các hoàng phi rất sùng bái Shaman giáo, bởi vì trong Nho giáo thân phận của người phụ nữ bị coi khinh rẻ rúng mà Shaman giáo lại là tôn giáo chia sẻ và giải tỏa mọi lo
âu, phiền muộn của con người đặc biệt là đối với phụ nữ
Trong thời Nhật thuộc, thực dân Nhật đã tiến hành đàn áp, khủng bố dân tộc Hàn Do vậy, rất nhiều người Hàn tìm đến Shaman giáo để xin các vị thần linh cứu rỗi Sau ngày giải phóng, càng có nhiều người muốn tìm về với văn hóa truyền thống nên chính phủ đã cho xây dựng lại các kut đường, khôi phục lại các làng Shaman truyền thống Từ đó, số lượng các mudang và các kut đường cũng tăng lên với một chừng mực nhất định Mặc dù hiện nay số lượng các chùa chiền và nhà thờ tăng lên nhanh chóng nhưng Shaman giáo chưa một lần rời bỏ người Hàn và có lẽ người Hàn không thể sống thiếu Shaman
Như vậy có thể nói rằng Shaman giáo là tôn giáo bản địa của người Hàn Quốc Shaman giáo không có triết lý hay giáo điều nhưng lại có sức ảnh hưởng mạnh mẽ lên đời sống hàng ngày của người dân Hàn cả quá khứ lẫn hiện tại Giống như các mudang khi làm lễ gut họ nhảy múa một cách “cực đoan” Họ gần như thoát khỏi cuộc sống hiện tại với những bước nhảy “điên cuồng” Người Hàn hiện đại cũng vậy, khi làm một việc gì đó thường có khuynh hướng làm việc mang tính cực đoan nên trong công
ty khi làm việc cũng làm chăm chỉ đến nỗi không thể hình dung được Khẩu hiệu “sẽ sống tốt” (잘살아보세 – jal salabose) trong cuộc vận động Saemaul (새마을 - làng mới4) giúp người Hàn trong một thời gian ngắn đã tạo nên sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc Thêm nữa, khi uống rượu, họ thường uống đến tăng 1, tăng 2, tăng 3… rồi mới chịu về Tóm lại, khi làm việc gì họ cũng cố làm hết sức, làm một cách cực đoan
2.3.2.2 Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa
Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa được hình thành qua bốn giai đoạn:
giai đoạn văn hóa Tam Quốc, giai đoạn văn hóa Silla thống nhất, giai đoạn văn hóa Goryeo, giai đoạn văn hóa thời kỳ đầu Joseon Đặc trưng chung của lớp văn hóa này là
sự tiếp nhận có chọn lọc các giá trị văn hóa, trong đó có văn hóa Phật giáo và Nho
4 Phong trào này là phong trào xây dựng, hiện đại hóa nông thôn Hàn Quốc dưới chế độ độc tài Pak Chung-hee Kết quả của phong trào này là nông thôn dần phát triển, đời sống nông dân được cải thiện…
Trang 29Trang 29
giáo (và cả Đạo giáo), từ Trung Hoa5
(1) Giai đoạn văn hóa Tam quốc (thế kỉ I TR CN - thế kỉ VII):
Năm 108 tr CN, nền văn hóa Trung Hoa lại có ảnh hưởng trực tiếp hơn nữa đến văn hóa Korea khi nhà Hán chinh phục được nửa phía Bắc của bán đảo này và chia nó ra thành bốn vùng lãnh thổ Lịch sử thành văn của Korea đã được khai sinh từ biến cố đó Các bộ lạc Korea đã giành lại được ba trong số bốn lãnh thổ nói trên vào năm 75 tr CN Lãnh địa còn lại tên là Lalang vẫn chịu sự đô hộ của Trung Quốc Và thông qua nền đô hộ của Trung Quốc ở Lalang mà những đặc trưng của nền văn minh Trung Quốc như hệ thống văn tự, tư tưởng tôn giáo, tổ chức chính quyền và nghệ thuật chế tác đồ sắt đã được chuyển giao vào các bộ lạc trên bán đảo Korea
(2) Giai đoạn văn hóa Silla thống nhất (thế kỉ VII - thế kỉ X):
Thời gian này, Silla xúc tiến các mối quan hệ với nhà Đường (Trung Quốc) ngày càng nhiều Đạo Phật là hệ tư tưởng thống trị và đóng vai trò hạt nhân trong đời sống văn hóa và tinh thần, chùa chiền và tượng Phật được xây dựng rất nhiều Nho giáo cũng dần dần nổi lên và triều đình Silla thống nhất bắt đầu việc nghiên cứu nền học thuật Nho giáo
(3) Giai đoạn văn hóa Goryeo (thế kỷ X – cuối thế kỷ XIV):
Phật giáo và Nho giáo song song phát triển Phật giáo ấn hành bộ Đại Tạng Kinh Tripitaka, xây dựng nhiều đền đài, tu viện và tiến hành các nghi lễ đạo Phật Nho giáo phát triển với tư cách là một tôn giáo chính thống Thành lập trường học Khổng giáo Một số thành tựu văn hóa đáng kể như: Hán văn cổ được ưa thích và việc chép
sử đạt được nhiều thành tựu; văn học bắt đầu phát triển, thể hiện ý thức dân tộc trong các tác phẩm; kỹ thuật in ấn bằng các bản khắc bằng gỗ, những kiến thức về y học dân gian
(4) Giai đoạn văn hóa đầu Joseon (cuối thế kỷ XIV – giữa thế kỷ XVI)
Văn hóa dân tộc đã được chú trọng, bộ chữ Hangeul được xây dựng Nho giáo cực thịnh Tống nho phát triển, giới sĩ phu nho giáo được hình thành Triết học, văn
5 Trong lớp văn hóa này, tuy nói là lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa nhưng không có nghĩa
là giao lưu văn hóa chỉ với Trung Hoa thôi mà còn có cả những quốc gia khác trong khu vực Nhưng
vì sự giao lưu giữa Korea với các quốc gia khác trong khu vực rất ít nên chúng tôi không đề cập đến
khu vực trong lớp văn hóa này
Trang 30Trang 30
chương, thư pháp, âm nhạc phát triển nhanh Phật giáo bị công kích và đi vào suy thoái Đạo giáo thì đan xen với Phật giáo và Nho giáo Chữ Hangeul là một thành tựu quan trọng của giai đoạn này và vẫn sử dụng cho đến hôm này Đó là loại chữ trung gian giữa chữ tượng hình mà mỗi ký hiệu là một âm vị, được kết cấu lại theo kiểu tượng hình
(5) Trong số những thứ tiếp nhận từ Trung Hoa thì Phật giáo đã trở thành một
công cụ đắc lực cho giai cấp thống trị củng cố quyền lực và sự cai trị của mình
Đạo Phật được hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên do thái tử Siddharta (624-544 tr.CN, con vua Ấn Độ) sáng lập nên Sau nhiều năm suy ngẫm và chiêm nghiệm ông đã cho rằng “đời là bể khổ” Không chỉ nói đến nỗi khổ, ông còn bàn về thuyết nghiệp chướng, luân hồi Ông nhận định rằng loài người phải trải qua sinh – lão - bệnh - tử, rồi lại tái sinh theo vòng luân hồi lẩn quẩn
Để tránh không sa vào vòng luân hồi ấy thì con người phải tìm cách giải thoát cho mình Đó cũng chính là những tư tưởng chủ đạo của Phật giáo
Phật giáo được du nhập vào Hàn Quốc vào khoảng thế kỷ thứ IV sau công nguyên (thời kỳ Tam quốc), chủ yếu từ Trung Quốc Phật giáo được giới thiệu trước tiên ở Goguryeo bởi nhà sư Sundo (người Trung Quốc) đến từ nhà Tiền Tấn (Trung Quốc) vào năm 372, khi ngài mang theo những bức tượng Phật và Kinh phật Mười hai năm sau, vào năm 384, nhà sư Malanada (người Ấn Độ) mang Phật giáo đến Baekje từ triều Đông Tấn (Trung Quốc) Còn ở Silla, Phật giáo được du nhập vào đây vào khoảng giữa thế kỷ thứ IV bởi nhà sư Ado, người đến từ vương quốc Goguryeo Nhưng nếu như ở Goguryeo và Baekje, Phật giáo được tiếp nhận ngay khi mới được giới thiệu thì ở Silla, do lúc đầu có sự phản đối dữ dội của tầng lớp quý tộc nên Phật giáo chỉ được phổ biến rộng rãi kể từ năm 527 (sau nhiều nỗ lực của vua Beopheung (Pháp Hưng, trị vì từ năm 514 đến năm 540) nhằm đưa Phật giáo đến với đông đảo người dân ở đây), gần một thế kỷ sau khi nó được truyền bá vào [Edward J.Shultz, Edward W.Wagner 1984: 59]
Một đặc điểm nổi bật trong việc áp dụng Phật giáo ở Hàn Quốc là nó được đề xuất bởi các bậc quan nhất phẩm của triều đình Phật giáo thoạt đầu được truyền bá vào Hàn Quốc chưa phải là một tôn giáo của quần chúng mà là tôn giáo của chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền và giới quý tộc Nó giống như một công cụ củng cố
Trang 31Trang 31
quyền lực của vương triều Bởi vì những triết lý của Đạo Phật phù hợp với việc hỗ trợ tinh thần cho cơ cấu cai trị, với Phật tổ là hình tượng duy nhất để cúng bái giống như vua là hình tượng duy nhất của quyền lực
Với vai trò lớn lao như thế nên vào thời kỳ Silla thống nhất (676 - 936) Phật giáo trở thành quốc đạo, mặc dù hệ thống chính quyền vẫn theo cơ cấu Nho giáo Nhiều lễ nghi đã được hình thành và phát triển cùng với những yêu cầu mang tính tôn giáo để phụng sự cho việc bảo vệ đất nước khỏi họa ngoại xâm, một điều dường như là thường trực ở bán đảo nhỏ bé này khi mà vây quanh là hai nước lớn với nền văn minh rực rỡ là Trung Quốc và Nhật Bản Người dân Hàn Quốc với sự cần cù, chăm chỉ và lòng yêu nước mãnh liệt đã xây dựng nên một đất nước thống nhất, và lòng yêu nước như là một kim chỉ nam xuyên suốt chiều dài lịch sử và trong tâm thức của người Hàn Quốc Vì vậy mà ngay từ đầu, Phật giáo được tiếp nhận vào Hàn Quốc với một khuynh
hướng duy nhất, đó là “tư tưởng nhất tâm” - nghĩa là mọi sự vật trong vũ trụ đều gắn
bó mật thiết với nhau Đây cũng là thời kỳ mà nền nghệ thuật rực rỡ nhất của Hàn Quốc được sáng tạo ra Nhiều đền chùa được xây dựng, những bức tượng tuyệt đẹp cũng được trạm khắc nên như đền Bulguksa (불국사 - Phật Quốc tự, nay thuộc Gyeongju) và bức tượng Phật bằng đá nổi tiếng ở hang Seokguram (석굴암 - Thạch Khuất am, thuộc Gyeongju) được tạo nên vào năm 751 Đến cuối triều đại Silla, Thiền Tông với tư tưởng tìm kiếm trí tuệ thông qua sự khổ luyện, có nguồn gốc từ Trung Quốc được du nhập vào Hàn Quốc và trở thành một trong những trường phái Phật giáo quan trọng ở Hàn Quốc
Phật giáo tiếp tục là quốc giáo dưới triều đại Goryeo (918 - 1392) Trong suốt thời kỳ Goryeo, nhiều vị vua đã phát tâm xây dựng chùa tháp và ủng hộ nhiều mặt cho chánh pháp Nghệ thuật và kiến trúc mang phong cách Phật giáo tiếp tục phát triển với
sự hỗ trợ của các tầng lớp thượng lưu Đại Tạng kinh Cao Ly (Tripitaka Koreana hay
còn gọi là Tam Tạng Kinh) đã được chạm khắc ra trên 81.000 tấm ván gỗ vào thế kỷ thứ 11, một trong những thành công rực rỡ của Phật giáo Hàn Quốc dưới triều đại Goryeo
Sự sụp đổ của triều đại Goryeo vào năm 1392 đã khiến Phật Giáo dần đi xuống, bởi vì những nhà cầm quyền mới của đất nước, vương triều nhà Yi - Joseon, đã bắt
Trang 32Trang 32
đầu chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo du nhập vào từ Trung Quốc Trước những điều này, nhiều nhà sư đã tham gia vào chính trị Việc làm này đã dẫn đến nhiều xung đột trong vương triều (vì một bên là theo Nho giáo, một bên lại là tư tưởng Phật giáo) Nhưng sau đó sự phát triển của Nho Giáo cũng đã dẫn đến việc Phật Giáo
bị đàn áp và hạn chế bởi những vị vua của Joseon Biểu hiện của sự đàn áp này là những ngôi đền, chùa không còn được xây dựng ở trung tâm thành thị nữa mà phải xây trong rừng, núi Các nhà sư không còn được tôn trọng và trong nhiều năm không được phép đặt chân vào thành thị
Trong suốt thời kỳ Nhật thuộc, Phật giáo được thừa nhận và ủng hộ bởi chính quyền Nhật Bản Tuy nhiên, sự đàn áp về chính trị và sự tác động theo hướng sai lệch với giáo lý nhà Phật của Phật giáo Nhật Bản đã tạo ra một bóng mờ bao trùm Phật giáo Hàn Quốc Các tông phái Phật giáo bản xứ không được phát triển và một điều lạ là tăng sĩ được chính quyền cai trị Nhật Bản khuyến khích lấy vợ Vị trụ trì của mỗi chùa phải được bổ nhiệm bởi những kẻ cầm quyền Nhật Bản Chính những điều này đã làm cho Phật giáo Hàn Quốc dần mất đi tính đặc trưng của nó vốn được hình thành từ thời Tam quốc
Nhìn chung, so với các tôn giáo khác thì Phật giáo ít ảnh hưởng đến tính cách người Hàn Hệ quả của việc này là nó ít ảnh hưởng đến văn hóa giao tiếp của dân tộc Hàn, bởi vì tính cách dân tộc là một trong những yếu tố quy định nên lối giao tiếp của dân tộc đó Từ thời kỳ Joseon đến nay, do Phật giáo bị đàn áp bởi chính quyền thống trị nên nó mất dần vị thế của mình trong xã hội Nhưng khách quan mà nói thì tư tưởng Phật giáo vẫn còn in sâu trong tâm thức của người Hàn Người Hàn vẫn thực hành theo những lời dạy của Phật giáo như hành thiện tích đức, thương yêu giúp đỡ người khác, kiên trì nhẫn nại…Chính những tư tưởng ấy của Phật giáo đã làm phong phú thêm đời sống tinh thần của dân tộc Hàn
(6) Nho giáo cũng là một trong những thứ được du nhập vào từ Trung Hoa và
nó đã sớm ảnh hưởng đến đời sống người Hàn
Nho giáo là một loại hình tín ngưỡng và đạo đức du nhập vào bán đảo Triều Tiên trong thời Tam Quốc (vào khoảng thế kỉ IV) [Nguyễn Long Châu 2000: 110] Ban đầu, Nho giáo đóng vai trò là một hệ thống các giá trị đạo đức như lòng nhân từ,
sự tiết hạnh, sự trung thực, lễ nghi, sự trị vì sáng suốt của nhà vua được đặt ra như
Trang 33Trang 33
những nguyên tắc, đạo lý chính thống trong việc trị quốc tề gia
Hình thức truyền bá sơ khai ban đầu của Nho giáo là những tài liệu ghi chép của người Trung Quốc Những tài liệu ghi chép này vẫn còn lưu giữ cho đến ngày nay cho thấy Nho giáo có ảnh hưởng lên bán đảo Triều Tiên từ rất sớm Ở vương quốc Goguryeo, một trường đại học nhà nước có tên gọi Daehak (대학 - Đại Học) được thành lập năm 372 và một số trường tư dạy Nho giáo cũng được thành lập Ở vương quốc Baekje đã thành lập những trường học tương tự như vậy nhưng sớm hơn
Quốc gia Silla thống nhất đã gửi một nhóm các học giả sang vương triều nhà Đường - Trung Quốc quan sát trực tiếp việc dạy học ở các trường Nho giáo ở đấy và mang về rất nhiều những ghi chép về các vấn đề này Đến thế kỷ thứ 10, đối với triều đại Goryeo, Phật giáo là quốc giáo của nước này nhưng Nho giáo lại là trụ cột triết lý
và cơ cấu của nhà nước Kì thi tuyển quan lại hay chế độ khoa cử (과거 – khoa cử),
bắt chước hệ thống thi cử của Trung Quốc thế kỷ thứ 10, đã khuyến khích rất nhiều việc học tập Nho giáo và khắc sâu vào tâm trí người Hàn Quốc những giá trị của Nho giáo
Đến năm 1392, triều đại Joseon sau khi thành lập đã lấy Nho giáo làm quốc giáo và sử dụng nó như là một hệ tư tưởng chính thống trong việc trị nước Joseon rất chú ý phát triển hệ thống giáo dục, nghi lễ và việc cai trị dân chúng theo tư tưởng Nho giáo Đến khi Hàn Quốc bị Nhật Bản xâm chiếm (1910 - 1945), những người theo Nho giáo đã tập hợp lực lượng gọi là nghĩa quân Nho giáo đứng lên chiến đấu chống lại quân xâm lược Cũng đã có những nỗ lực đổi mới Nho giáo cho phù hợp với sự thay đổi của các điều kiện của thời đại
Nho giáo là một tôn giáo bản địa của khu vực Đông Á và ngự trị trong một thời gian dài ở hầu hết các nước trong khu vực Tuy nhiên, tùy vào những điều kiện khách quan và chủ quan mà mỗi quốc gia có cách tiếp cận riêng Hàn Quốc là một trong những quốc gia chịu sự ảnh hưởng của Nho giáo rất mạnh mẽ Sự hiện đại, hào nhoáng bởi nền kinh tế phát triển như hôm nay sẽ khiến chúng ta nghĩ rằng Hàn Quốc đã bị Tây phương hóa? Nhưng thực chất cho đến hôm nay, khi mà các giá trị truyền thống
đã ăn sâu vào tâm tưởng người Hàn thì họ không thể nào tách cuộc sống của mình ra khỏi những nề nếp cũ
Trang 34Trang 34
Trong trật tự của xã hội Nho giáo Hàn Quốc, Nho giáo qui định các mối quan
hệ xã hội thông qua tuổi tác, thế hệ, giới tính và địa vị, tạo ra thứ bậc rõ ràng giữa người lớn – kẻ nhỏ, nam – nữ, người cai trị - kẻ bị trị Tính bề trên và tuân phục hàm ý trong các cặp quan hệ này là trọng tâm của hệ tư tưởng huyết thống Hàn Quốc cuối thời kỳ Joseon Tư tưởng phụ hệ thể hiện các nguyên tắc Nho giáo: nam có giá trị hơn
nữ, người lớn hơn người nhỏ Người phụ nữ phải tòng phục người đàn ông, người nhỏ phải phục tùng người lớn
Tư tưởng Nho giáo còn ảnh hưởng đến văn hóa giao tiếp ấy là tạo ra các hình thức kính ngữ, xưng hô, cách thức giao tiếp và ý thức trong các mối quan hệ như gia đình, xã hội… Tôn ti trật tự được tôn trọng không những ở các từ ngữ mà còn ở ngôn ngữ nói Ngôn ngữ Hàn Quốc chú trọng thứ bậc, tuổi tác, các hình thức ngỏ lời, các động từ, từ ngữ thay đổi tùy theo người nói là ai, cho nên, nghe qua cách nói chuyện
có thể biết được khoảng cách xã hội, tuổi tác giữa các chủ thể giao tiếp
2.3.2.3 Lớp văn hóa giao lưu với Nhật Bản và phương Tây
Tiến trình văn hóa Korea đang trong lớp văn hóa giao lưu với phương Tây Lớp văn hóa này cho đến nay gồm hai giai đoạn: giai đoạn văn hóa thời kỳ cuối Joseon và giai đoạn văn hóa hiện đại Xu hướng chung của lớp văn hóa này là sự tiếp nhận những giá trị văn hóa kiểu phương Tây và sự học tập những thành tựu khoa học - kỹ thuật của phương Tây
(1) Giai đoạn văn hóa cuối Joseon (giữa thế kỷ XVII – giữa thế kỷ XX)
Những tư tưởng khai sáng và hiện đại hóa từ phương Tây tràn vào Korea lúc thì trực tiếp, lúc thì gián tiếp qua con đường Trung Hoa, Nhật Bản Hình thành các phong trào “Thực học” (Silhak – 실학 - 實學), “Tây học” (Seohak - 서학 - 西學) Văn hóa dân gian phát triển Văn hóa chính thống bị suy thoái nhiều, tận cùng của sự suy thoái diễn ra vào thời kỳ Nhật thuộc (1910-1945)
(2) Giai đoạn văn hóa hiện đại (giữa thế kỷ XX – hiện nay)
Cùng với sự đi lên của kỹ thuật Hàn Quốc trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, văn hóa Korea cũng khởi sắc và phát triển mạnh mẽ Trong khi đó, ở miền Bắc bán đảo (Triều Tiên), khoa học - kỹ thuật suy thoái, văn hóa truyền thống không
Trang 35Trang 35
được giữ gìn, quân sự lại được chú trọng
Nhìn chung, lớp văn hóa giao lưu với phương Tây tuy vẫn còn đang tiếp diễn, hay nói cách khác là nó đang định hình, nhưng đã tạo ra một số đặc điểm dễ nhận thấy:
a Cũng giống như Việt Nam, giai đoạn giao lưu với phương Tây ở Korea đã chứng kiến việc đô thị hóa diễn ra nhanh chóng trong xã hội, cùng với nó là sự lớn mạnh của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhu cầu về một cuộc sống văn minh, tiện nghi
b Chính công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà trong xã hội Korea ý thức về vai trò con người cá nhân được nâng cao, nhưng ý thức cộng đồng truyền thống vẫn còn tồn tại khá mạnh mẽ
c Một khi ý thức cá nhân được nâng cao thì sự phân biệt thứ bậc theo trật tự Nho giáo truyền thống dần phai mờ Vị trí của phụ nữ và tầng lớp thường dân được nâng cao Đặc biệt, nếu như trong xã hội Korea truyền thống người phụ nữ không được xem trọng thì trong thời hiện đại họ lại có nhiều đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội
d Một đặc điểm nổi bật của lớp văn hóa này là sự thích nghi với một lối sống hiện đại, nhanh nhẹn, làm việc theo tác phong công nghiệp Trong xã hội truyền thống, người Hàn rất thích “chậm chậm” (jeon jeon hi - 전전히), biểu hiện qua việc những người thuộc tầng lớp quý tộc Lưỡng ban (yang ban – 양반 - 兩班) không bao giờ chạy Dưới áp lực của công việc trong thời hiện đại, người dân Korea dần dần chuyển sang lối sống hối hả, lúc nào cũng “nhanh nhanh” (ppalli ppalli - 빨리 빨리) Đây cũng chính là một trong những nét tính cách đặc trưng của người Hàn
Chúng tôi xin khái quát về các lớp, các giai đoạn văn hóa và văn tự trong tiến
trình văn hóa Korea trong bảng I.1 dưới đây:
Trang 36Trang 36
I- Lớp văn hóa bản địa
II- Lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa
III- Lớp văn hóa giao lưu với phương Tây
1 Giai đoạn văn hóa tiền sử
3 Giai đoạn văn hóa Tam
Chữ Hangeul
Trang 37Trang 37
CHƯƠNG II
GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI HÀN
1 NGÔN NGỮ CƠ THỂ
1.1 Khái niệm ngôn ngữ cơ thể
Ngôn ngữ cơ thể chính là cách thức truyền đạt ý tưởng và cảm xúc của chủ thể giao tiếp trong quá trình giao tiếp thông qua những cử chỉ, điệu bộ, hành động… của
cơ thể Ngôn ngữ cơ thể là một phương tiện tối quan trọng để thực hiện giao tiếp phi ngôn ngữ Nó hầu như phản ánh chính xác những suy nghĩ, cảm xúc của chủ thể và đối tượng tiếp nhận thông tin trong giao tiếp Trong giao tiếp, đôi khi chỉ cần những hành động, cử chỉ được biểu lộ cũng có thể giúp chủ thể giao tiếp hiểu được đối tượng có tiếp nhận thông tin mình trao đổi hay không
Hành động và cử chỉ của thân thể trong giao tiếp rất đa dạng và phong phú Theo tài liệu nghiên cứu cho biết mỗi người có thể diễn đạt suy nghĩ và cảm xúc của chính mình qua khoảng 270.000 hành động, cử chỉ và số lượng cử chỉ, điệu bộ cơ thể
có thể lên đến 700.000 loại [Nguyễn Quang 2008: 111] Dù có thể có những hành động và cử chỉ giống nhau khi giao tiếp nhưng với mỗi quốc gia, mỗi ngôn ngữ, mỗi dân tộc thì hành động và cử chỉ đó sẽ mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau Việc sử dụng những cử chỉ, điệu bộ một cách có ý thức sẽ giúp truyền đạt thông tin chính xác hơn Tuy nhiên, trong giao tiếp hầu như bất kỳ ai cũng dùng cử chỉ, điệu bộ của thân thể thường xuyên đến độ đôi khi trong một vài trường hợp những điều muốn được giấu kín nhưng do quán tính trong việc dùng ngôn ngữ của thân thể đã vô tình để đối tượng nhận ra được Cho nên chúng ta rất thường dùng những cử chỉ, điệu bộ một cách
vô thức khi giao tiếp với nhau
Trong giao tiếp giao văn hóa, khi gặp rào cản ngôn ngữ lời nói, việc tìm hiểu trước những ý nghĩa của hành động, cử chỉ ngôn ngữ của cơ thể là quan trọng để không hiểu lầm nhau Khi nói thì những điệu bộ, cử chỉ của cơ thể sẽ phụ họa theo lời nói để giúp truyền đạt ý nghĩa cho nó Điệu bộ phải phù hợp với phong tục tập quán, nền văn hóa dân tộc thì việc giao tiếp mới hiệu quả
Trang 38Trang 38
1.2 Các loại ngôn ngữ cơ thể của người Hàn
Có nhiều cách phân loại ngôn ngữ cơ thể Theo tổng kết của tác giả Nguyễn
Quang trong công trình Giao tiếp phi ngôn từ qua các nền văn hóa thì có 3 cách phân
loại là theo chức năng của các hiện tố (hiện tố biểu tượng, hiện tố biểu cảm…), theo nguồn gốc và điểm xuất phát của các hiện tố (hiện tố bẩm sinh, hiện tố di truyền, hiện
tố cá nhân…) và theo các bộ phận, khu vực và sự tương tác giữa các bộ phận của cơ thể Dựa vào cách phân loại thứ ba, chúng tôi xin nêu ra những loại ngôn ngữ cơ thể
như sau: 1- ánh mắt (hay còn gọi là nhãn giao); 2- nét mặt (hay còn gọi là diện hiện,
bao gồm những bộ phận nhỏ: đầu, miệng, môi, tai, lông mày, mũi, cằm, trán); 3- các đặc tính thể chất (hình thức của mắt – to, nhỏ…; hình dáng thân thể - cao, thấp, béo, gầy…; chân tay – dài, ngắn…); 4- cử chỉ và chuyển động thân thể; 5- tư thế cơ thể; và 6- Động chạm [Nguyễn Quang 2008: 112 - 113]
Trong giao tiếp nói chung, gần như tất cả các bộ phận cơ thể đều được sử dụng
để truyền đạt những điều muốn nói Mỗi bộ phận và mỗi cử chỉ của từng bộ phận đều thể hiện những ý nghĩa “bên ngoài” riêng biệt Nhưng điều chúng tôi muốn tiến đến là những ý nghĩa văn hóa được thể hiện “bên trong” mỗi cử chỉ, hành động ấy của cơ thể Những cái “bên trong” ấy chính là những giá trị quan trong giao tiếp phi ngôn ngữ của mỗi dân tộc Do đó, trong phạm vi bài luận, chúng tôi chủ yếu trình bày về những loại
cử chỉ, hành động nào có mang yếu tố văn hóa “bên trong” Cụ thể, chúng tôi chỉ trình bày về: ánh mắt, nét mặt, các cử chỉ của tay, tư thế cơ thể (tư thế đi đứng, tư thế ngồi
và tư thế chào hỏi) Tất cả những yếu tố vừa liệt kê, trong văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Hàn, được quy định nghiêm ngặt qua “Kích mông yếu quyết” (격몽요결 – gyeokmong yogyeol - 擊蒙要訣)
1.2.1 Đầu và các bộ phận của đầu
Đầu của con người có rất nhiều bộ phận nhỏ như trán, đôi mắt, tai, lông mày, mũi, đôi môi, gò má và mỗi bộ phận có thể thể hiện nhiều nội dung ý nghĩa khác
nhau trong lúc giao tiếp Trong giao tiếp, ở hầu hết các nền văn hóa, việc gật đầu là
biểu lộ có, đúng, đồng tình hay đồng ý và lắc đầu là biểu lộ không, sai, phản đối hay không đồng tình Các vị trí chuyển động khác nhau của đầu cũng có thể chuyển tải các
thông điệp biểu cảm và thông tin khác nhau, chẳng hạn: ngẩng cao đầu có thể thể hiện
sự tự tin, thách thức hay kiêu căng ; cúi đầu xuống thể hiện sự phục tùng, biết lỗi, đắn
Trang 39Trang 39
đo suy nghĩ ; gục đầu xuống thể hiện sự tuyệt vọng, đau khổ tột cùng Một cái nhướn lông mày lên có thể biểu lộ nội dung chưa hiểu, nghi ngờ, ngạc nhiên…; hạ lông mày xuống thể hiện sự mệt mỏi, chán chường, phục tùng, suy nghĩ mông lung Cái bĩu môi thường thể hiện sự chê bai, khinh bỉ, không bằng lòng… Hành động há mồm há hốc thường được hiểu là hành động tỏ vẻ ngạc nhiên, kinh hãi, đau đớn nhưng
cũng có lúc là cảm giác sung sướng…
Theo chúng tôi, những biểu hiện trên đây của các bộ phân trên khuôn mặt chỉ mới là những biểu hiện “bên ngoài” chứ chưa phải là nội dung văn hóa “bên trong” Khi đề cập đến những biểu hiện văn hóa “bên trong” qua phần đầu và các bộ phận trên đầu thì người Hàn thường đề cập đến những biểu hiện của các bộ phận: đầu (nói chung), ánh mắt, miệng và nụ cười
1.2.1.1 Đầu
Trong văn hóa giao tiếp của người Hàn hiện đại, cũng giống như người Việt
Nam, đầu phải luôn được giữ thẳng và tạo ra tư thế ngay ngắn trong lúc trò chuyện,
đối thoại với người khác Ngoài việc thể hiện sự đồng tình khi gật đầu hay sự phản đối khi lắc đầu, người ta còn thể hiện sự khiêm tốn hay tôn kính thông qua những chuyển động của đầu Khi gặp người lớn tuổi hơn hay có địa vị xã hội cao hơn thì người thấp hơn về tuổi và địa vị sẽ chào hỏi và thể hiện sự tôn kính của mình bằng cách cúi đầu chào Hành động này làm cho người trên có cảm tình hơn đối với người dưới và góp phần làm cho buổi giao tiếp đạt hiệu quả
Tuy nhiên cần chú ý một điều trong quá trình giao tiếp liên nhân ở Hàn Quốc là cấm sờ đầu người khác Người Hàn quan niệm rằng phần đầu là phần quý giá nhất mà cha mẹ đã ban cho họ Cái đầu là nơi chứa bộ não, là nơi chứa trí khôn của một người
Từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi, người Hàn rất quý trọng và bảo vệ đầu của mình
Do đó, việc sờ lên đầu người khác là một điều cấm kỵ, vì khi sờ tay lên đầu có thể làm cho đầu óc bị tổn thương Điều này cũng giống như người Việt Nam kiêng kỵ sờ đầu người khác (nhưng có chỗ khác là người Việt quan niệm “đầu cổ là nơi thờ ông thờ bà”) Nhưng nói đi cũng cần nói lại, tuy quy tắc là như thế nhưng cũng có ngoại lệ: người lớn có thể vuốt đầu người nhỏ Trong xã hội Korea, người lớn tuổi hơn như cha
mẹ, ông bà và người có địa vị cao hơn có thể vuốt tóc những người nhỏ tuổi hơn mình (mặc dù đối tượng bị vuốt tóc có thể đã cao tuổi) hay có địa vị thấp hơn Hình
Trang 40Trang 40
ảnh ông bà vuốt tóc hay sờ đầu người con hay cháu – những người có thể đã đạt đến
độ tuổi “thất thập cổ lai hy” – rất dễ bắt gặp trong các gia đình người Hàn ngày nay và hành động ấy thể hiện sự thương yêu của người lớn đối với người nhỏ tuổi hơn Tương
tự, hình ảnh người có địa vị, chức vụ cao hơn sờ đầu hay vuốt tóc ngườ có địa vị, chức
vụ thấp hơn mình cũng thường xuyên được nhận thấy Hành động này biểu hiện sự khen ngợi, tạo nên sự thân thiện cần thiết trong giao tiếp Ở Việt Nam, có đôi chút khác biệt với người Hàn: chỉ có người lớn tuổi là có thể vuốt tóc người nhỏ tuổi (chủ yếu là trẻ em, từ thanh thiếu niên trở lên thì không bị vuốt tóc hay sờ đầu nữa), còn người có địa vị cao hơn ít có khả năng sờ đầu người có địa vị thấp hơn Sự khác biệt này có thể lý giải là do trong xã hội Korea, Nho giáo ảnh hưởng rất mạnh dẫn đến tính tôn ti trật tự rất cao; còn ở Việt Nam thì Nho giáo cũng có ảnh hưởng nhưng mức độ không sâu sắc bằng Korea
1.2.1.2 Ánh mắt
Đôi mắt của con người là một bộ phận quan trọng trên cơ thể con người, giúp con người giao tiếp với người khác, với thiên nhiên Chuyển động của đôi mắt và tiếp xúc ánh mắt tạo ra độ biểu cảm cao nhất so với các bộ phận khác trên cơ thể trong quá trình giao tiếp liên nhân Đôi mắt có thể biểu lộ rất nhiều biểu hiện khác nhau của tâm
tư, tình cảm, thái độ, trạng thái tâm lý… của con người Ánh mắt có thể phản ánh trạng
thái cảm xúc, bộc lộ tình cảm, tâm trạng và ước nguyện của con người Với vai trò quan trọng của ánh mắt như thế nên cả người Hàn lẫn người Việt Nam đều có câu:
“Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn”
Nói đến chuyển động của ánh mắt thì có rất nhiều loại Mỗi loại cử chỉ của ánh mắt thì tùy vào mỗi nền văn hóa mà có ý nghĩa khác nhau Nhưng nhìn chung, những
cử chỉ biểu lộ của ánh mắt sau đây có thể được hiểu giống nhau ở mỗi dân tộc: nhìn dịu dàng thể hiện sự yêu thương, trìu mến, thành thật ; mở to mắt và nhìn trừng trừng nghĩa là đang giận dữ; hay khi nhìn trố mắt là đang tỏ vẻ ngạc nhiên, lo sợ, thẫn thờ… [Nguyễn Quang 2008: 126]
Tuy nhiên, trong các nền văn hóa khác nhau, ánh mắt được nhìn nhận và được gán cho những ý nghĩa khác nhau Nhìn chung, trong các nền văn hóa Âu – Mỹ, ánh mắt được xem trọng và được sử dụng nhiều trong giao tiếp liên nhân Việc tiếp xúc ánh mắt liên tục trong giao tiếp tạo nên tín hiệu đáng tin ở người nghe Đối với người