1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam.

215 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 215
Dung lượng 12,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam.Quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam.Quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam.Quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam.Quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình khoa học được nghiên cứu độc lập Nguồn gốc số liệu rõ ràng và kết quả điều tra của tác giả phản ánh trung thực Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình khoa học này./.

Người cam đoan

TRẦN XUÂN TÙNG

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8

g vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 23

NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP DO NHÀ NƯỚC NẮM GIỮ 100% VỐN ĐIỀU LỆ 25

2.1 Cơ sở lý

luận về doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ 25 2.2 Lý luận về quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ 36 2.3 Nội dung quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ 40 2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý của chủ sở hữu Nhà nước đối

với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ 46 2.5 Phương pháp và tiêu chí đánh giá quản lý của chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ 54 2.6 Kinh nghiệm quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp

do

Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở một số quốc gia và bài học cho

Việt Nam 60

VỚI DOANH NGHIỆP DO NHÀ NƯỚC NẮM GIỮ 100% VỐN ĐIỀU LỆ Ở

VIỆT NAM 79

3.1 Khái quát thực trạng hoạt động của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam 79 3.2 Thực trạng quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam 86 3.3 Đánh giá quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ 128

CHỦ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP DO NHÀ NƯỚC NẮM

GIỮ 100% VỐN ĐIỀU LỆ 135

4.1 Đánh giá bối cảnh thời gian tới ảnh hưởng đến việc hoàn thiện quản

của chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ

100% vốn điều lệ ở Việt Nam 135 4.2 Quan điểm và phương hướng hoàn thiện quản lý của chủ sở hữu Nhà

nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ 138 4.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý của chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh

nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ 144

KẾT LUẬN 170 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 172 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 173 PHỤ LỤC 180

THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 99/2012/NĐ-CP 180 PHỤ LỤC 2 MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU

LUẬN ÁN 184 Phục lục 3 DANH SÁCH PHỎNG VẤN, XIN Ý KIẾN CHUYÊN GIA 207

Trang 3

DN100% VNN : Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

KHHTT : Kế hoạch hóa tập trung

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1 Phân biệt chức năng quản lý hành chính nhà nước và chức năng

quản lý của CSH nhà nước đối với DN nhà nước nắm giữ 100% VĐL 39

Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá kết quả công việc đối với Hội đồng quản trị 59

Bảng 3.1 Số lượng DN nhà nước nắm giữ 100% VĐL giai đoạn 2012 - 2018 79

Bảng 3.2 Tổng tài sản của các DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL 80

Bảng 3.3 Vốn CSH của DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL 81

Bảng 3.4 Doanh thu của các DN Nhà nước nắm giữ 100% VĐL (tỷ đồng) 82

Bảng 3.5 Lợi nhuận trước thuế của DN 100% vốn nhà nước (tỷ đồng) 83

Bảng 3.6 Tỷ suất lợi nhuận của DN đang hoạt động có kết quả kinh doanh phân theo loại hình DN (%) 84

Bảng 3.7 Thu nộp ngân sách Nhà nước của các DN 100% vốn Nhà nước 85

Bảng 3.8 Trả lời của cán bộ quản lý cơ quan CSH, DNNN về mức độ phù hợp của mô hình thực hiện chức năng đại diện CSH nhà nước tại các DNNN 89

Bảng 3.9 Mức độ phù hợp của việc phân công, phân cấp thực hiện chức năng đại diện CSH đối với DNNN 96

Bảng 3.10 Số lượng DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL 2012-2017 100

Bảng 3.11 Danh sách các TĐKT, TCTNN đã được Chính phủ phê duyệt, ban hành Điều lệ 103

Bảng 3.12 Đánh giá của cán bộ quản lý về chiến lược, kế hoạch SXKD, kế

hoạch đầu tư phát triển của DNNN 112

Bảng 3 13 Hệ số mức lương của người quản lý Công ty chuyên trách 116

Bảng 3.14 Mức tiền lương cơ bản đề xác định Quỹ tiền lương của người quản lý công ty chuyên trách 117

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HỘP

Trang

Sơ đồ 2.1 Phương pháp đánh giá theo thẻ điểm cân bằng 60

Sơ đồ 2.2 Mô hình thực hiện chức năng CSH Nhà nước ở Trung Quốc 63

Sơ đồ 2.3 Mô hình thực hiện chức năng CSH tại các DNNN ở Hàn Quốc 67

Sơ đồ 2.4 Sơ đồ tổ chức của Bộ DNNN Indonesia 72

Sơ đồ 3.1 Mô hình thực hiện chức năng CSH nhà nước theo Nghị định 99/2012/NĐ-CP 87

Sơ đồ 3.2 Mô hình thực hiện chức năng đại diện CSH nhà nước khi thành lập Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp 92

Biểu đồ 3.1 Tỷ suất lợi nhuận của các DN theo sở hữu từ 2010 – 2017 83

Biểu đồ 3.2 Tỷ suất lợi nhuận của các DN có vốn nhà nước từ 2010 - 2017 84

Hộp 1 Công tác thẩm định bổ sung VĐL, phát hành trái phiếu, thoái vốn và

giám sát tài chính đối với các TĐKT ở Bộ Công Thương 105

Hộp 2 Thực trạng giám sát tài chính tại TĐ Dệt may 126

Trang 6

hiện ở một số nội dung sau:

Thứ nhất, vấn đề này đã được nhiều nghiên cứu trong nước và nước ngoài đề

cập đến Tuy nhiên, các nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm từ nước ngoài theo nhiều trường phái, quan điểm và hoàn cảnh thực tiễn khác nhau nên áp dụng vào trong nước có nhiều bất cập Các nghiên cứu trong nước sát với tình hình hơn nhưng vẫn còn khoảng cách nhất định giữa lý luận với thực tiễn phức tạp ở Việt Nam Do vậy, những vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề này cần được hệ thống hóa có chọn lọc, bổ sung, từ đó xây dựng cơ sở khoa học về quản lý của chủ sở hữu (CSH) Nhà nước đối với doanh nghiệp (DN) do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều

lệ (VĐL) ở Việt Nam trong tình hình mới.

Thứ hai, trong những năm qua khu vực kinh tế nhà nước đã có những đóng

góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Tuy nhiên, thời gian qua cho thấy khu vực này còn nhiều bất cập cần giải quyết như: quy mô còn lớn, lĩnh vực hoạt động rộng, cạnh tranh chưa bình đẳng, quản lý thiếu chuyên nghiệp, hiệu quả thấp, tình trạng tham nhũng, thất thoát vốn nhà nước nghiêm trọng, … Những vấn đề trên đòi hỏi cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ khu vực kinh tế nhà nước trong thời gian tới.

Thứ ba, đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cũng là một trong những

trọng tâm chỉ đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước Tại Hội nghị Trung ương 3 Khóa

XI (2011), BCH Trung ương Đảng đã xác định một trong ba trụ cột của tái cơ cấu nền kinh tế là tái cơ cấu DNNN, trong đó trọng tâm là tái cơ cấu các tập đoàn (TĐ), tổng công ty (TCT) Nhà nước Theo đó, ngày 17/07/2012 Thủ tướng Chính phủ ra quyết

định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Đề án: “Tái cơ cấu DN nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế (TĐKT), tổng công ty nhà nước (TCTNN) giai đoạn 2011-2015” Nghị

quyết Đại hội Đảng lần thứ XII (2016) tiếp tục khẳng định một trong các nhiệm vụ trọng tâm là chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại DNNN [ 20 ].

Trang 7

Thứ tư, mặc dù đã có nhiều kết quả tích cực nhưng mô hình thực hiện chức

năng quản lý của chủ sở hữu (CSH) Nhà nước đối với DNNN vẫn còn những hạn chế, tồn tại như sau: (i) Chưa tách bạch rõ mục tiêu, công cụ, phương pháp, tổ chức

bộ máy và cán bộ thực hiện chức năng đại diện CSH với chức năng quản lý nhà nước (QLNN) đối với DNNN của các cơ quan hành chính Nhà nước; (ii) Vẫn còn tình trạng phân tán, thiếu thống nhất, thiếu chuyên nghiệp và chuyên trách trong thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ CSH Nhà nước, đặc biệt đối với các TĐ kinh tế nhà nước, TCT quan trọng; (iii) Chưa có cơ chế tạo động lực, chế tài cho tất

cả các cơ quan, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước được giao.

Thứ năm, đổi mới quản lý của CSH Nhà nước đối với DNNN hiện đang chịu

sức ép mạnh mẽ từ hội nhập, sự phát triển của thị trường và sự thay đổi của hệ thống luật pháp Ví dụ, theo cam kết gia nhập TPP (nay là CPTPP), DNNN (trừ lĩnh vực an ninh – quốc phòng) phải hoạt động theo CCTT; không được có hành vi phản cạnh tranh khi có vị trí độc quyền, gây ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư; phải minh bạch hóa một số thông tin như tỷ lệ sở hữu của Nhà nước, các báo cáo tài chính đã được kiểm toán và được phép công bố; đặc biệt Nhà nước không được trợ cấp quá mức gây ảnh hưởng đến lợi ích của người khác; … Do vậy, quản lý của CSH nhà nước cũng cần thay đổi phù hợp Mặt khác, thị trường phát triển, khu vực

tư nhân cũng đòi hỏi cạnh tranh công bằng với khu vực nhà nước Do đó, cơ chế quản lý đối với DNNN cần đổi mới theo hướng tách bạch giữa QLNN và quản trị

DN Cùng với đó, sự thay đổi của hệ thống luật pháp ở Việt Nam thời gian gần đây cũng yêu cầu cần đổi mới quản lý của CSH Nhà nước đối với các DN có vốn Nhà nước.

Do đó, quản lý của CSH nhà nước đối với các DN 100% vốn nhà nước là một vấn đề cấp thiết cần nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay khi khu vực DNNN với các DN 100% vốn nhà nước đang được nghiên cứu thu hẹp lại chỉ giữ những lĩnh vực, ngành nghề thực sự quan trọng, thiết yếu phục vụ cho phát triển bền vững

KT - XH, an ninh quốc phòng Theo đó, quản lý của CSH nhà nước đối với đối tượng này cũng cần phải có những đổi mới, hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới, trong đó có việc tách bạch giữa quản lý của CSH nhà nước với QLNN đối với

DN và quản lý của CSH nhà nước với quản lý hoạt động SXKD của DN.

Trang 8

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của Luận án là đề xuất phương hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý của CSH nhà nước đối với các DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL (trong một số trường hợp gọi là DN 100% vốn nhà nước) trong điều kiện mới hiện nay.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau:

- Hệ thống hóa có bổ sung, phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý của CSH nhà nước đối với DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL.

- Tổng kết kinh nghiệm quốc tế và trong nước có liên quan đến đề tài và rút

ra bài học cho Việt Nam.

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý của CSH nhà nước đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam trong thời gian qua.

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý của CSH nhà nước đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam trong thời gian tới.

3 Đố ượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu những cơ sở khoa học phục vụ cho việc đề xuất những phương hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý của CSH nhà nước đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (VĐL) Điều đó dựa trên nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý của CSH nhà nước đối với

DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam Các DN này bao gồm: các Công

ty mẹ của TĐ, TCT nhà nước, công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ - công ty con, công ty TNHH MTV độc lập thuộc các Bộ ngành, địa phương.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: (1) Luận án chỉ nghiên cứu quản lý của CSH nhà nước đối với

DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL, tức là nghiên cứu quản lý của Nhà nước với

tư cách là chủ đầu tư vốn, luận án không nghiên cứu quản lý hành chính của Nhà

Trang 9

nước đối với DN; (2) Nghiên cứu quản lý của CSH nhà nước đối với DN tức là nghiên cứu các quyền và trách nhiệm của CSH nhà nước đối với DN, trong đó tập trung vào đối tượng CSH là các cơ quan: Chính phủ, Ủy ban quản lý vốn nhà nước (QLVNN) tại DN, các Bộ ngành địa phương và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước (SCIC); Nội dung quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh của DN không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án.

- Về không gian: Nghiên cứu quản lý của CSH nhà nước đối với các DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL trên phạm vi cả nước.

- Về thời gian: Luận án sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý của CSH nhà nước đối với DN Nhà nước nắm giữ 100% VĐL trong giai đoạn từ 2012 -

2019 Trong đó, thông tin và dữ liệu phục vụ nghiên cứu chủ yếu được thu thập, điều tra trong gian đoạn 2012 – 2018.

4 Cách ti p cận v ươ g á g ê ứu

4.1 Cách tiếp cận nghiên cứu

Cách tiếp cận nghiên cứu của luận án dựa trên lý thuyết về CSH và người đại diện Quản lý của CSH nhà nước đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL là tổng thể các phương thức tác động của CSH nhà nước đối với các DN nhằm thực hiện các mục tiêu CSH Nhà nước đặt ra Tuy nhiên ở Việt Nam, CSH đối với DNNN có nhiều cấp khác nhau: từ toàn dân - Quốc hội - Chính phủ - Bộ quản lý ngành, ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh - Người đại diện, trong đó cấp trực tiếp là người đại diện trong các DNNN, còn cấp cuối cùng là toàn dân.

Mặt khác về mặt lý luận, quản lý của CSH nhà nước khác với QLNN, QLNN đề cập đến quản lý vĩ mô (quản lý hành chính) còn quản lý của CSH nhà nước là quản lý ở cấp vi mô (cấp DN) Do vậy, về bản chất CSH vốn nhà nước như là nhà đầu tư vốn vào DN nên quản lý của CSH nhà nước về bản chất là quản

lý của nhà đầu tư đối với phần vốn của mình tại DN nhằm thực hiện các mục tiêu

đã định Quản lý của CSH nhà nước đối với DNNN là sử dụng quyền hạn của người sở hữu vốn để can thiệp vào các hoạt động của DNNN nhằm thực hiện mục tiêu của CSH vốn.

Do vậy, nghiên cứu về quản lý của CSH nhà nước đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL sẽ tập trung vào các mối quan hệ quản lý sau:

Trang 10

(1) Quản lý của các cơ quan được giao quyền đại diện CSH đối với DN 100% vốn nhà nước: hoạt động quản lý của các cơ quan này là xây dựng thể chế (quy định, cơ cấu tổ chức, cơ chế) cho các DN 100% vốn nhà nước hoạt động nhằm đảm bảo thực hiện mục đích của CSH.

(2) Quản lý của các cơ quan CSH đối với những người được trao quyền đại diện CSH tại DN thông qua những quy định CSH đặt ra đối với trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của những người đại diện.

(3) Quản lý của người đại diện CSH (CTCT, Chủ tịch và thành viên HĐTV) đối với hoạt động của DN 100% vốn nhà nước.

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Các phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng như:

- Phương pháp chuyên gia: phỏng vấn, tham khảo ý kiến các cán bộ, chuyên

gia đã và đang trực tiếp, gián tiếp thực hiện các công việc liên quan đến vấn đề nghiên cứu để thu thập thông tin, ý kiến phục vụ nghiên cứu của Luận án.

- Nghiên cứu trường hợp điển hình: khảo sát thực tiễn tại một số Bộ ngành,

địa phương được giao đại diện CSH và một số DN 100% vốn nhà nước (TĐ, TCT nhà nước).

Nghiên cứu định lượng được tiến hành bằng cách thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, kết hợp dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, trong đó:

+ Dữ liệu thứ cấp được thu thập, tổng hợp từ các cơ sở dữ liệu của tổng cục thống kê; các nghiên cứu, tài liệu về hoạt động quản lý của CSH nhà nước đối với

Trang 11

DNNN từ các Bộ ngành, địa phương, các DNNN, các tổ chức trong nước và quốc

tế Thông tin, dữ liệu thu thập sẽ được kiểm định tính chính xác, từ đó tổng hợp, phân tích, so sánh để tạo ra những thông tin đa chiều phục vụ cho hoạt động nghiên cứu của luận án.

+ Dữ liệu sơ cấp sơ cấp phục vụ nghiên cứu định lượng được thu thập thông qua điều tra, khảo sát dựa trên phiếu phỏng vấn với 3 nhóm đối tượng: Cán bộ quản

lý cơ quan đại diện CSH; Cá nhân được giao đại diện CSH (CTCT, Thành viên HĐTV); Cán bộ quản lý tại DN 100% vốn nhà nước Nghiên cứu định lượng nhằm lượng hóa các tiêu chí đánh giá thực trạng quản lý của CSH đối với DN 100% vốn nhà nước ở Việt Nam hiện nay.

Bảng 1 Thông tin hoạt động điều tra, khảo sát của Luận án

lượng

Ghi chú

định tính

2 Nghiên cứu trường hợp điển hình Trường

3.1 Cán bộ quản lý cơ quan đại diện CSH Phiếu 60

NC định lượng

3.2 Cá nhân được giao đại diện CSH (CTCT,

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý của CSH nhà nước đối với DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam trong thời gian tới.

6 K t cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận án được trình bày

Trang 12

trong 4 chương:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.

- Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

- Chương 3: Thực trạng quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ ở Việt Nam.

- Chương 4: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Mục đích của luận án là xây dựng được cơ sở khoa học để đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý của CSH nhà nước đối với DN

do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam Do vậy, luận án sẽ nghiên cứu tổng quan trên 3 nhóm vấn đề chính: (i) DNNN và DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL; (ii) CSH nhà nước; và (iii) Quản lý của CSH nhà nước đối với DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL Ba vấn đề trên được tổng quan theo hai nhóm: những nghiên cứu nước ngoài và những nghiên cứu trong nước có liên quan.

1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN

1.1.1 Nghiên cứu về doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Các nghiên cứu, tài liệu từ nước ngoài về DNNN đều khẳng định DNNN là

DN mà Nhà nước nắm quyền kiểm soát, chi phối Phần lớn cho rằng quyền kiểm soát, chi phối của Nhà nước có được do sở hữu đa số phần vốn của DN World Bank (2014) đã lấy ví dụ ở Hàn Quốc, DN công là DN có toàn bộ nguồn vốn hoặc hơn một nửa nguồn vốn được nhận từ Chính phủ (hoặc 30% và quyền chi phối chính) Các nghiên cứu, tài liệu khác như hướng dẫn số 80/273 (European Union), World Bank (1999), Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC) và Viện Hàn lâm về Quản lý hành chính (Mỹ), (Spullber Nicolas (1997), (Rees Ray, 1989), OECD (2005) cũng đã đưa

ra nhiều quan điểm khác nhau về DNNN Trong đó, tiêu biểu là khái niệm của

OECD (2005) trong hướng dẫn quản trị công ty trong DNNN: “Thuật ngữ DNNN dùng để chỉ các doanh nghiệp mà Nhà nước có quyền kiểm soát thông qua sở hữu toàn bộ, đa số hoặc thiểu số quan trọng” [37 ].

Từ khái niệm của OECD (2005), dựa trên mức độ sở hữu DNNN gồm 3 loại:

sở hữu toàn bộ VĐL, sở hữu đa số VĐL và sở hữu thiểu số VĐL nhưng vẫn có khả năng chi phối DN Do vậy, DN do Nhà nước sở hữu 100% VĐL là DNNN mà Nhà nước sở hữu toàn bộ VĐL hay nói cách khác là DNNN có một CSH duy nhất là Nhà nước.

Trang 14

1.1.2 Nghiên cứu v chủ sở hữu N ướ ối với doanh nghiệp nhà nước

- Lý thuyết quyền sở hữu được phát triển bởi Eirik G Furuboth & Svetozar Pejovich (1972) [ 49 ] và sau đó được Eugenne F Fama & Michael C Jensen (1983) [ 48 ], Oliver Hart & John Moore (1990) [ 64 ] Lý thuyết quyền sở hữu đã cung cấp một phương thức phân tích DN và tổ chức của DN dù đây không phải là mục tiêu đầu tiên của nó Theo lý thuyết này, một quyền sở hữu trên một tài sản được xác định trên 3 thuộc tính sau: (1) Quyền sử dụng tài sản này; (2) Quyền rút ra được thu nhập từ tài sản này; (3) Quyền chuyển nhượng cho một người thứ ba Từ cơ sở của

lý thuyết sở hữu, đổi mới quản trị công ty hướng tới những giá trị sau: (i) Tính công bằng - đảm bảo đối xử công bằng với mọi cổ đông; (ii) Tính giải trình - đảm bảo sự giám sát có hiệu quả từ phía HĐQT và đảm bảo có trách nhiệm giải trình của HĐQT trước cổ đông; (iii) Tính minh bạch - đảm bảo các thông tin quan trọng liên quan đến công ty đều công khai một cách kịp thời, chính xác; (iv) Tính trách nhiệm

- đảm bảo các bên liên quan đều có trách nhiệm hợp tác tích cực trong việc phát triên công ty.

- Trong hướng dẫn của OECD (2005) về quản trị công ty trong DNNN [ 65 ]

đã đề cập đến vai trò của CSH Nhà nước Theo hướng dẫn này, Nhà nước cần đóng vai trò CSH có hiểu biết và tích cực, xây dựng chính sách sở hữu rõ ràng và nhất quán, đảm bảo việc quản trị DNNN được thực hiện một cách minh bạch và có trách nhiệm với mức độ chuyên nghiệp và hiệu quả cần thiết Cụ thể có 6 hướng dẫn về vấn đề này như sau:

“(A) Chính phủ phải xây dựng và ban hành chính sách sở hữu xác định rõ mục tiêu chung của sở hữu nhà nước, vai trò của Nhà nước trong quản trị DNNN và cách thức Nhà nước sẽ thực thi chính sách sở hữu của mình.

(B) Chính phủ không cần tham gia vào công việc quản lý hàng ngày của DNNN và phải cho phép DN có quyền tự chủ hoạt động hoàn toàn để đạt được mục tiêu đề ra.

(C) Nhà nước cần cho phép HĐQT của DNNN thực hiện trách nhiệm của mình và tôn trọng quyền tự chủ của họ.

(D) Việc thực thi quyền sở hữu cần được xác định rõ ràng trong quản trị

Trang 15

DNNN Điều này có thể được thực hiện thông qua thành lập một cơ quan điều phối,

hoặc phù hợp hơn là bằng việc tập trung hóa chức năng sở hữu nhà nước.

(E) Cơ quan điều phối hoặc sở hữu DNNN phải chịu trách nhiệm trước các

cơ quan dân cử như Quốc hội và phải xác định rõ ràng mối quan hệ với các cơ quan Nhà nước liên quan, bao gồm cơ quan kiểm toán tối cao của Nhà nước.

(F) Nhà nước với tư cách CSH tích cực phải thực hiện quyền sở hữu theo cơ cấu pháp lý của mỗi DN Các trách nhiệm chính của CSH nhà nước bao gồm: (1)

Tham gia Đại HĐCĐ và biểu quyết; (2) Xây dựng quy trình đề cử HĐQT cụ thể và minh bạch ở các DNNN sở hữu toàn bộ hoặc phần lớn cổ phần, và tham gia tích cực vào việc đề cử HĐQT của tất cả các DN; (3) Thiết lập hệ thống báo cáo cho phép giám sát và đánh giá thường xuyên hiệu quả của DN; (4) Trao đổi thường xuyên với

cơ quan kiểm toán độc lập và cơ quan kiểm toán của nhà nước, khi mức độ sở hữu

và luật pháp cho phép; (5) Đảm bảo chính sách thù lao cho thành viên HĐQT của DNNN thúc đẩy lợi ích lâu dài của DN và có thể thu hút và khuyến khích các chuyên gia trình độ cao”.

- Theo nghiên cứu của Rennie, M and F Lindsay (2011) [ 69 ], Chính phủ Úc

đã ban hành và thực hiện chính sách cạnh tranh bình đẳng, trong đó nhấn mạnh bình đẳng giữa DNNN và DNTN Theo đó năm 1998, Chính phủ Liên bang của Úc kết hợp 3 cơ quan hiện tại (gồm: Ủy ban Công nghiệp, Ủy ban Tư vấn Quy hoạch kinh

tế và Văn phòng Kinh tế Công nghiệp) thành một thực thể mới là Ủy Ban Năng Suất (UBNS) UBNS được thiết kế để trở thành một Ủy ban nghiên cứu độc lập và

tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề liên quan Các chức năng của UBNS có liên quan đến cạnh tranh bình đẳng bao gồm: (1) Điều tra các khiếu nại liên quan đến cạnh tranh bình đẳng về các DNNN và các hoạt động kinh doanh; (2) Báo cáo, tham mưu cho các Bộ trưởng trong các vấn đề công nghiệp và năng suất; và (3) Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến ngành công nghiệp, phát triển công nghiệp và năng suất, bao gồm các vấn đề liên quan đến cạnh tranh bình đẳng [63].

1.1.3 Nghiên cứu về quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

- Hướng dẫn của OECD [ 65 ] về quản trị công ty trong DNNN gồm các nội

Trang 16

dung sau: (1) Đảm bảo khuôn khổ pháp lý và quản lý hiệu quả cho các DNNN; (2) Nhà nước đóng vai trò CSH; (3) Đối xử bình đẳng với cổ đông; (4) Quan hệ với các bên có quyền lợi liên quan; (5) Minh bạch và công bố thông tin; (6) Trách nhiệm của HĐQT ở DNNN Trong từng nội dung kể trên, OECD cũng có những hướng dẫn chi tiết đối với từng tiểu mục nhỏ Bộ hướng dẫn của OECD về quản trị công ty trong DNNN cung cấp một chuẩn mực được quốc tế công nhận giúp các Chính phủ đánh giá và cải thiện cách thực hiện các chức năng sở hữu trong DNNN Bộ Hướng dẫn này được xây dựng trên kinh nghiệm cụ thể từ một số lượng lớn các quốc gia thành viên và không thành viên của OECD trên toàn thế giới, và cung cấp các khuyến nghị cụ thể về các biện pháp giải quyết các khó khăn trong quản trị công ty khi nhà nước là CSH.

- Đảm bảo sử dụng vốn hiệu quả là mục tiêu quan trọng nhất của của CSH vốn nhà nước tại các DNNN và được đo lường bằng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn CSH (ROE) Rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã phân tích và kiểm nghiệm mức độ ảnh hưởng của các nhân tố bên trong DN đến hiệu quả sử dụng vốn, được chia thành 2 nhóm chính như sau:

Thứ nhất gồm các nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm cơ bản của DN

với hiệu quả sử dụng vốn Trong nhóm này, các nhân tố quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn được xem xét là: quy mô công ty, cơ cấu vốn, tỷ lệ vốn góp của Nhà nước,

và thời gian hoạt động của công ty Về nhân tố quy mô công ty, các nghiên cứu của Zeitun và Tian (2007) [ 74 ], Abbasali et al (2012) [ 40 ] đã chứng minh mối liên quan thuận chiều và có ý nghĩa thống kê giữa độ lớn của tổng tài sản và khả năng sinh lợi của DN Các nhân tố cấu trúc vốn được thể hiện trong các kết quả nghiên cứu của Fosberg và Ghosh [ 51 ], Zeitun và Tian [ 74 ], Mramor và Crnigoj [4]

[63] hay Abbasali et al [ 40 ] Các tác giả đều cho thấy hệ số nợ có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất sinh lợi trên vốn CSH Liên quan đến tỷ lệ vốn góp của Nhà nước, nghiên cứu của Gumbau-Albert và Maudos [ 54 ] đã phát hiện sự suy giảm hiệu quả hoạt động của công ty khi tăng tỷ lệ sở hữu của Nhà nước Tuy nhiên, khi nghiên cứu về thời gian hoạt động (tuổi của công ty) các nghiên cứu đưa ra những kết quả không đồng nhất Nghiên cứu của Boyan Jovanovic [ 45 ] , Ericson và Pakes [ 47 41 ]

Trang 17

cho rằng cho mối quan hệ đồng biến giữa tuổi của một công ty và hiệu quả hoạt động của nó, tuy nhiên nghiên cứu của Leonard-Barton [ 59 ], Agarwal và Gort [ 39 ] lại có kết quả ngược lại Sự khác biệt này có thể là do xuất phát từ những ưu điểm

và nhược điểm của các công ty lâu năm Các công ty này có ưu điểm là sự tiêu chuẩn hóa về quy trình sản xuất và xây dựng được đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm, nhờ đó làm tăng hiệu quả hoạt động Mặc dù vậy, các công ty lâu năm lại

có thể có những kiến thức, kỹ năng và nguồn nhân lực lỗi thời so với các công ty mới thành lập, cấu trúc các công ty này cũng cứng nhắc hơn và khó thay đổi khi cần thiết, vì vậy làm suy giảm hiệu quả hoạt động vốn của DN.

Thứ hai gồm các nghiên cứu tác động của cấu trúc ban quản trị với kết quả

hoạt động của DN Các nghiên cứu tìm hiểu cấu trúc ban quản trị bao gồm: số lượng thành viên ban quản trị và sự tách biệt giữa vai trò GĐ và CSH đối với hiệu quả hoạt động của công ty Nhìn chung các kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng thành viên ban quản trị càng nhỏ thì kết quả hoạt động của công ty càng cao (kết quả nghiên cứu của Andres, Azofra và Lospez [ 41 ]; Mak và Yuanto [ 61 ]; Liao, 2010 [ 60 ].

Tóm lại, các nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn của các công ty cho thấy có nhiều nhân tố tác động đến yếu tố này Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc điểm và điều kiện nội tại của từng công ty, mỗi yếu tố sẽ có mức độ tác động khác nhau đến kết quả hoạt động của công ty.

1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN

1.2.1 Nghiên cứu v chủ sở hữu ướ ối với doanh nghiệp nhà nước

- Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thanh về “Vấn đề CSH và người đại diện: một số gợi ý chính sách cho Việt Nam” đã nêu khái niệm về CSH và người đại diện

[ 35 ] Theo đó, CSH (principals) là chủ của các nguồn lực, còn người đại diện (agent) hay quản lý là người được ủy quyền (được thuê) của CSH nguồn lực và được trao một số quyền hành nhất định với nguồn lực của CSH để phục vụ lợi ích của CSH Tác giả cũng cho rằng tồn tại vấn đề CSH và người đại diện hay nghịch lý người đại diện đề cập đến những khó khăn nảy sinh trong điều kiện thông tin không hoàn hảo và không cân xứng khi CSH thuê người đại diện để thực hiện lợi ích của

Trang 18

mình, nhưng người đại diện có thể không hành động vì lợi ích của CSH mà vì bản thân họ (tư lợi) Nguyên nhân là do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành đã tạo ra thông tin không cân xứng (asymestric information), người đại diện có

ưu thế hơn về thông tin nên dễ dàng hành động tư lợi, hơn nữa việc giám sát các hành động của người đại diện cũng khó khăn, phức tạp.

- Các nghiên cứu trong nước khi đề cập đến quyền của CSH nhà nước đối với DNNN đều thống nhất rằng quyền sở hữu đồng nghĩa với quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt (mua, bán) tài sản Tuy nhiên, Nguyễn Mạnh Quân đã đưa ra một quan điểm khá mới về quyền sở hữu DNNN trong cơ chế thị trường [ 28 ] Tác giả cho rằng trung tâm của tất cả các khái niệm DNNN đều nhấn mạnh đến vấn đề sở hữu Chuyển sang KTTT, quan niệm về sở hữu cũng cần điều chỉnh CPH DNNN là một hình thức chuyển dần quyền sở hữu tài sản nhà nước cho

xã hội Thực chất đây là quá trình chuyển đổi về nhận thức theo định hướng thị

trường Trở ngại lớn nhất của quá trình này là tâm lý “sợ mất quyền kiểm soát” đối với DNNN và tài sản của nhà nước Tâm lý này phát sinh từ một nguyên tắc “quyền kiểm soát tương ứng với quyền sở hữu” Tuy nhiên, nguyên tắc “51:49” về sở hữu

không phải luôn đúng Có nhiều bằng chứng thực tiễn về các DN liên doanh ở nước

ta và trên thế giới minh chứng cho thực tế trên Nguyên nhân dẫn đến tình trạng

“không tương xứng” này là do sự chênh lệch về trình độ và năng lực quản lý.

1.2.2 Nghiên cứu về quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

1.2.2.1 Nghiên cứu về mô hình thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

- Theo CIEM , chức năng đại diện CSH nhà nước là việc tác động của cơ quan quản lý bằng các phương thức thuộc phạm vi chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ của CSH đối với DN trong quá trình hoạt động Trên thế giới hiện tồn tại 3 mô hình thực hiện chức năng đại diện CSH nhà nước đối với DNNN như sau [ 8 ]:

Mô hình thứ nhất: Các cơ quan nhà nước vừa thực hiện chức năng QLNN về

kinh tế, vừa thực hiện chức năng của CSH DN Ở đây tuy có sự phân công, phân cấp trong việc thực hiện các quyền của CSH nhà nước (bao gồm cơ quan lập pháp

Trang 19

và hành pháp các cấp) ở mức độ và phạm vi khác nhau, nhưng không có sự tách bạch giữa hai chức năng này trong tổ chức bộ máy công quyền Các cán bộ trong các cơ quan nhà nước thực hiện đồng thời cả hai loại công vụ, trong đó Quốc hội tham gia với tư cách giám sát là chủ yếu, còn quyền CSH được giao thực hiện theo

cơ chế ủy quyền và phân cấp cả theo chiều ngang lẫn chiều dọc.

Mô hình thứ hai: Mô hình tách bạch tổ chức thực hiện chức năng CSH vốn

nhà nước khỏi bộ máy hành chính nhà nước, thành lập các tổ chức trung gian là đại diện CSH, như thành lập các công ty đầu tư tài chính, công ty quản lý vốn hoặc tổ chức kinh tế chuyên thực hiện chức năng làm CSH phần vốn nhà nước đầu tư tại các DN.

Mô hình thứ ba: Mô hình tách bạch chức năng quản lý hành chính nhà nước

và chức năng CSH nhà nước tại DN, thành lập cơ quan nhà nước chuyên trách giám sát và quản lý vốn nhà nước ở cả cấp trung ương cũng như địa phương.

- Nguyễn Đình Cung và Bùi Văn Dũng [ 13 ] cũng đề cập đến mô hình thực hiện chức năng CSH Nhà nước đối với DNNN của một số nước trên thế giới với

một số mô hình đáng chú ý là: (1) Mô hình song trùng thực hiện chức năng CSH Nhà nước: bản chất song trùng của mô hình này là đồng thời có 2 cơ quan hoặc tổ

chức cùng phối hợp thực hiện chức năng CSH, trong đó có một bộ quản lý ngành và một bộ “tổng hợp” – thường là bộ Tài chính Cả hai Bộ này đều có quyền cử đại diện vào HĐQT của DNNN và đều cùng chịu trách nhiệm thực hiện các quyền của

CSH; (2) Mô hình phi tập trung hay mô hình phân cấp thực hiện chức năng CSH Nhà nước: chức năng CSH được thực hiện bởi nhiều bộ ngành hoặc chính quyền địa phương; (3) Mô hình tập trung hóa: toàn bộ chức năng đại diện CSH nhà nước

được chuyển ra khỏi bộ máy quản lý ngành và giao cho một cơ quan của Chính phủ thực hiện.

- Trần Tiến Cường [ 12 ] cũng đã khái quát về mô hình thực hiện chức năng CSH Nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam Chức năng CSH nhà nước đối với DNNN đã được thực hiện với nhiều mô hình như “bộ chủ quản, cơ quan hành chính chủ quản” (trước khi có Luật DNNN 1995); mô hình “song trùng” đại diện chủ hữu của bộ quản lý ngành và Bộ Tài chính (giai đoạn 1995-2000 khi lập Tổng cục quản lý

Trang 20

vốn và tài sản nhà nước tại các DN thuộc Bộ Tài chính); mô hình “phân tán có giới hạn” đối với loại DNNN do Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập (giai đoạn 2000-2003 sau khi giải thể Tổng cục quản lý vốn và tài sản nhà nước tại các DN), và mô hình “phân tán” đại diện chủ hữu đối với các TĐKT, TCT nhà nước (từ

2004 đến nay theo Luật DNNN 2003 và Luật DN 2005) Cho dù có những điều chỉnh hoặc thay đổi, nhưng cốt lõi của những mô hình này vẫn là không có sự phân tách giữa chức năng đại diện CSH nhà nước và chức năng QLNN đối với các DNNN.

Nhiều nghiên cứu khác cũng đề cập đến mô hình quản lý của CSH Nhà nước đối với DNNN, tuy nhiên các nghiên cứu đó cũng dựa trên tổng hợp kinh nghiệm của các mô hình của một số quốc gia trên thế giới như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia, Newzealand, Singapore, Indonesia và một số quốc gia khác và căn cứ vào thực tiễn đổi mới quản lý của Nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam để xây dựng các

mô hình Tựu chung lại, mô hình quản lý của CSH Nhà nước đối với DNNN trong nghiên cứu của Nguyễn Đình Cung & Bùi Văn Dũng (2013) hay của CIEM (2013); Trần Tiến Cường (2013) đã cơ bản khái quát được các kinh nghiệm của các nước trên thế giới và các mô hình được đề cập trong các nghiên cứu trong nước khác.

1.2.2.2 Nghiên cứu về quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

- Những nghiên cứu của CIEM, Nguyễn Đình Cung & Bùi Văn Dũng và một

số nghiên cứu khác đều khái quát tiến trình đổi mới phương thức thực hiện chức năng CSH Nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam qua 4 giai đoạn sau:

+ Giai đoạn trước năm 1995 (Trước thời điểm Luật DNNN 1995 có hiệu lực thi hành): chức năng QLNN và chức năng đại diện CSH nhà nước của các cơ quan

hành chính nhà nước đối với DNNN chưa được phân định rõ ràng.

+ Giai đoạn 1995 – 2003: Giai đoạn này, tại Việt Nam đã có sự tách bạch ở

một mức độ nhất định về chức năng QLNN và chức năng đại diện CSH nhà nước đối với DNNN (quy định tại các điều 25, 26 và 27 Chương IV Luật DNNN 1995).

+ Giai đoạn từ 2003 đến 15/11/2012: (trước thời điểm ban hành Nghị định

99/2012/NĐ-CP) Từ năm 2003 đến nay, các quyền CSH vốn nhà nước theo Luật DNNN năm 2003 được xác định và phân thành các nhóm quyền như: Các quyền về

Trang 21

tổ chức và nhân sự; Các quyết định về phương hướng phát triển SXKD; Các quyền

về lĩnh vực quản lý vốn và tài sản nhà nước; Các quyền kiểm tra, giám sát kết quả hoạt động kinh doanh.

+ Giai đoạn từ 15/11/2012 đến nay (Kể từ khi ban hành Nghị định 99/2012/NĐ

CP) Nghị định 99/2012/NĐ-CP đã làm rõ khái niệm về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của CSH nhà nước đối với DNNN.

- Các nghiên cứu liên quan đến thực trạng thực hiện chức năng CSH nhà nước đối với DNNN về cơ bản có kết quả khá thống nhất Trong đó có thể dẫn chứng nghiên cứu của CIEM (2013) làm đại diện, nghiên cứu này đã tổng hợp thực trạng trên thông qua 3 cơ chế sau đây: (1) Cơ chế đại diện của CSH vốn nhà nước thông qua bộ quản lý ngành; (2) Cơ chế đại diện CSH nhà nước thông qua các TĐ, TCT, công ty mẹ quản lý công ty con; (3) Cơ chế thực hiện quyền CSH nhà nước thông qua SCIC.

1.2.2.3 Nghiên cứu về phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước

- Về phương hướng hoàn thiện quản lý của CSH Nhà nước đối với DNNN

+ Theo Nguyễn Đình Cung & Bùi Văn Dũng [ 13 ], việc đổi mới mô hình tổ chức thực hiện quyền CSH Nhà nước đối với DNNN cần thực hiện theo các hướng sau đây: (1) Xây dựng mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước đối với DNNN đảm bảo tách toàn diện chức năng QLNN với chức năng đại diện CSH nhà nước; (2) Hoàn thiện khung pháp luật về tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ của CSH Nhà nước, hạn chế tối đa tình trạng nhiều cơ quan, nhiều cấp tham gia thực hiện quyền đại diện CSH Nhà nước; (3) Đổi mới nội dung, phương thức can thiệp của CSH Nhà nước theo hướng thực hiện quyền CSH với tư cách là thành viên, cổ đông công ty theo nguyên tắc quản trị DN hiện đại; (4) Hình thành cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả hoạt động của cơ quan thực hiện quyền, nghĩa vụ của CSH Nhà nước.

+ Theo Trần Kim Hào và Nguyễn Thị Nguyệt [ 21 ], để nâng cao hiệu quả hoạt động của các DN nhà nước nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế, các tác giả cho rằng: Trong giai đoạn 2011 – 2015 theo tinh thần Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg, các Bộ ngành, UBND tỉnh, HĐTV của các TĐ kinh tế, TCT nhà nước cần tập trung

Trang 22

đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới DNNN do mình quản lý Định hướng cải tổ DNNN là giảm số lượng DNNN có cổ phần chi phối, cơ cấu lại DN thành viên theo lĩnh vực chuyên môn hóa, đảm bảo hiệu quả, thu hút thêm vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác, tạo ra sự biến đổi về chất trong tổ chức quản trị DN.

+ Phạm Quang Trung và Bùi Huy Nhượng [ 36 ] Tác giả đã đưa ra một số quan

điểm phát triển và hoàn thiện mô hình TĐ kinh tế nhà nước (TĐKTNN) Quan điểm 1: Hoàn thiện mô hình TĐKTNN theo hướng tái cấu trúc toàn diện các TĐKTNN.

Các TĐ này trước hết phải là một tổ chức kinh doanh có quyền hạn và nghĩa vụ bình

đẳng so với các DN khác, hoạt động và cạnh tranh theo CCTT; Quan điểm 2: Hoàn

thiện mô hình TĐKTNN phải tôn trọng tính đăc thù và tính đa dạng của các TĐKT trong môi trường kinh tế cạnh tranh, không gò ép các TĐKTNN theo một khuôn mẫu

chung; Quan điểm 3: Hoàn thiện mô hình TĐKTNN phải đảm bảo Nhà nước thực

hiện quyền CSH đối với các TĐKTNN trong khuôn khổ pháp luật, không can thiệp

sâu và trực tiếp vào hoạt động của TĐKTNN; Quan điểm 4: Các TĐKTNN phải tập trung vào kinh doanh những ngành nghề, lĩnh vực chính được Nhà nước giao; Quan điểm 5: Tạm ngừng thí điểm thành lập mới TĐKTNN để tập trung hoàn thiện khung

pháp lý, đánh giá tổng thể và tái cấu trúc các TĐKTNN hiện có.

- Nghiên cứu về giải pháp hoàn thiện quản lý của CSH Nhà nước đối với

DNNN

+ Đề xuất các chính sách cải cách triệt để khu vực DNNN nhằm tạo đà tăng trường kinh tế, Phạm Thế Anh và cộng sự [1 ] Để xuất bốn khuyến nghị: Một là,

minh định rõ lại mục tiêu cung cấp hàng hóa, dịch vụ công của các DNNN để giảm

không chỉ số lượng DNNN mà cả tỷ trọng DNNN trong nền kinh tế; Hai là, cải cách cơ chế đại diện CSH nhà nước theo hướng tập trung và chuyên nghiệp; Ba là,

cải cách hệ thống trách nhiệm và khuyến khích trong việc quản trị DNNN theo hướng người đại diện vốn CSH là quản gia của Nhà nước; người điều hành DNNN

được hưởng lợi ích theo cơ sở thị trường; Bốn là, DNNN là khu vực tiên phong về

minh bạch thông tin.

+ Trên góc độ QLNN, Trần Hữu Nam [ 25 ] cho rằng để quá trình tái cấu trúc DNNN thực sự nâng cao được hiệu quả hoạt động của DNNN mà trước tiên là TĐ, TCT nhà nước, cần tập trung thực hiện thành công một số giải pháp sau đây: (1)

Trang 23

Tiếp tục đổi mới luật pháp, cơ chế chính sách theo hướng đặt DNNN vào môi trường hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với các DN khác; (2) Giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và DN bằng việc xây dựng Luật đầu

tư công hoặc Luật quản lý vốn nhà nước; (3) Khẩn trương xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của DN, TĐKT, TCTNN để làm cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN; (4) Nâng cao chất lượng công tác quản trị nội bộ DNNN bằng việc ban hành các quy định khung cho một hệ thống DN hiện đại; (5) Nâng cao năng lực, quyền hạn, trách nhiệm và tính chuyên nghiệp cho cơ quan đại diện CSH bằng việc ban hành cơ chế hoạt động và lựa chọn người đại diện vốn Nhà nước tại công ty có vốn nhà nước; (6) Tiếp tục đẩy mạnh CPH, kể cả CPH hoàn toàn TCT, thu hẹp tỷ trọng và giảm số lượng DN do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, chỉ duy trì DN 100% vốn nhà nước trong những ngành cần độc quyền, có vị trí then chốt trong nền kinh tế….

+ Cũng liên quan đến tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam, Nguyễn Mạnh Quân

(2013) đã kết luận một số vấn đề đáng chú ý: Thứ nhất, cần có nhận thức đúng đắn

về DNNN trong cơ chế KTTT (chức năng, nhiệm vụ, vai trò của DNNN đã thay đổi

trong CCTT); Thứ hai, cần thực hiện các biện pháp kiểm soát hữu hiệu, tích cực

hoạt động của DNNN và đối với các khu vực, lĩnh vực kinh tế thông qua DNNN;

Thứ ba, cần tăng cường năng lực quản lý cho DNNN.

- Về đổi mới phương thức thực hiện chức năng CSH nhà nước đối với DNNN

+ Xuất phát từ chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về đổi mới phương thức thực hiện chức năng sở hữu nhà nước đối với DNNN, CIEM (2013) cho rằng có thể xác định các giải pháp cần thiết như sau: (1) Chính phủ là cơ quan quản lý thống nhất và tổ chức thực hiện các quyền của CSH nhà nước đối với DNNN; (2) Cần xác định rõ chức năng cơ bản của CSH nhà nước và chức năng cơ bản của QLNN; (3) Tiếp tục thực hiện giảm thiểu tình trạng nhiều cơ quan, nhiều cấp “đại diện” CSH nhà nước; (4) Xác định đúng phạm vi, đối tượng quản lý của CSH nhà nước; (5) Đổi mới nội dung, phương thức can thiệp của CSH nhà nước theo hướng thực hiện quyền CSH với tư cách là thành viên, cổ đông công ty theo nguyên tắc quản trị DN hiện đại; (6) Cần xác định rõ DN là một pháp nhân độc lập với các thành viên và cổ đông của mình; (7) Xác định quan hệ giữa cơ quan thực

Trang 24

hiện chức năng đại diện CSH nhà nước với người đại diện theo uỷ quyền là quan hệ hợp đồng là chủ yếu; (8) Hình thành cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả hoạt động của cơ quan thực hiện chức năng đại diện CSH nhà nước.

+ Nguyễn Đình Cung & Bùi Văn Dũng [ 13 ] Cho rằng có thể tách chức năng đại diện CSH với chức năng QLNN và hoàn thiện mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước theo 03 phương án sau: (1) Chính phủ thành lập Ủy ban Quản lý, giám sát DNNN làm đầu mối thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước đối với các TĐ kinh tế, TCT Nhà nước quan trọng; (2) Bộ quản lý ngành thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước tại các TĐ, TCT Nhà nước có ngành nghề kinh doanh chính thuộc ngành quản lý của bộ UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước tại các DNNN sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích trực thuộc SCIC thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước tại các DNNN còn lại; (3) Chính phủ thống nhất thực hiện quyền, nghĩa vụ CSH Nhà nước đối với DNNN thông qua SCIC Ba phương án trên có tính chất, mức độ tập trung, lộ trình thực hiện khác nhau và những ưu nhược điểm riêng Phương án thứ 2 có mức độ tập trung thấp (nhiều đầu mối thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước); Phương án

1 và phương án 3 có mức độ tập trung cao (ở cấp Trung ương chỉ có một đầu mối thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước) nhưng có sự khác biệt về đầu mối thực hiện Trong khi tại phương án 1, đầu mối thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước là một cơ quan trong bộ máy tổ chức Nhà nước thì tại phương án 3 đầu mối thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước là một DN Tuy nhiên, phương án

1 mang tính toàn diện, đột phá và có nhiều ưu điểm quan trọng, nhất là việc khắc phục triệt để những hạn chế của việc chưa tách bạch chức năng QLNN với chức năng đại diện CSH.

+ Trần Tiến Cường [ 12 ], đã đề xuất những giải pháp có tính định hướng để thực hiện phân tách giữa chức năng đại diện CSH nhà nước và chức năng QLNN như sau: (1) Đổi mới tư duy về thực hiện chức năng đại diện CSH nhà nước tách bạch với chức năng QLNN của các cơ quan QLNN; (2) Tách về tổ chức bộ máy thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước; (3) Tăng cường giám sát thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước; (4) Tăng cường quyền lực, trách nhiệm của Quốc hội trong giám sát thực hiện quyền CSH nhà nước; (5) Tăng cường tính minh

Trang 25

bạch trong thực hiện chức năng đại diện CSH nhà nước; (6) Thiết lập hệ thống thông tin, dữ liệu về DNNN và xây dựng các căn cứ tạo nền tảng cho việc thực hiện chức năng giám sát của đại diện CSH nhà nước; (7) Tăng cường năng lực quản trị của người đại diện theo uỷ quyền của CSH nhà nước và người đại diện vốn; (8) Đổi mới cơ chế tuyển dụng và cơ chế tiền lương đối với người đại diện CSH nhà nước; (9) Bổ sung, hoàn chỉnh khung pháp luật thực hiện quyền CSH nhà nước đối với DNNN; (10) Tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện tách bạch chức năng CSH nhà nước; (11) Quy định về văn bản CSH ban hành tách bạch với văn bản quy phạm pháp luật.

- Nghiên cứu về cải cách phương thức quản lý, giám sát phần vốn Nhà nước tại DN

+ Đề tài nghiên cứu của CIEM [ 6 ] khuyến nghị cần sớm đổi mới tăng quyền chủ động hoạt động SXKD, tự chủ về tài chính, giảm sự can thiệp của cơ quan Nhà nước trong quá trình hoạt động kinh doanh, tăng cường giám sát thông qua kiểm toán độc lập, tiêu chuẩn của người đại diện CSH, tách biệt chức năng quản lý kinh

tế và chức năng QLNN trong trong DN và hướng đến giảm dần số lượng DNNN ở một số lĩnh vực ngành nghề không cần thiết nắm giữ Tuy nhiên, nghiên cứu chưa làm rõ được nội dung bản chất của lý thuyết và thực tiễn, chưa chỉ ra được mô hình quản lý vốn áp dụng tại Việt Nam.

+ Theo Nguyễn Mạnh Quân [ 27 ], cải cách phương thức quản lý, giám sát đối với DNNN, phân quyền nhiều hơn nhưng kiểm soát chặt chẽ hơn là bài toán cần có lời giải đúng đắn Có thể tiếp cận vấn đề này từ góc độ chức năng quản lý DN Phân quyền cho DNNN nhiều hơn, điều đó có nghĩa là DNNN có nhiều quyền chủ động hơn trong việc ra quyết định và thực thi các quyết định thuộc các chức năng hoạch định, tổ chức, nhân lực và điều hành Để hỗ trợ DNNN kịp thời và đúng đắn, cơ quan QLNN cần giữ lại và tham gia tích cực vào việc thực hiện chức năng kiểm soát hoạt động của DNNN.

+ Nguyễn Cúc [ 11 ] cũng cho rằng: Tăng cường vai trò giám sát trong quản lý DNNN, trong đó giám sát việc tổ chức thực hiện vai trò đại diện CSH tại các DNNN là giải pháp không thể thiếu để tái cấu trúc thành công Kinh nghiệm thế giới, sau khi tái cơ cấu phải thiết lập một cơ chế giám sát, thực hiện chế độ kiểm toán, kiểm tra, giám sát công khai, minh bạch Xác định rõ nội dung giám

Trang 26

sát của CSH đối với DNNN.

- Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN

+ Trần Kim Hào và Nguyễn Thị Nguyệt [ 21 ] cho rằng cần thực hiện các giải pháp sau đây: (1) tách bạch vai trò quản lý và sở hữu DNNN phù hợp với thực trạng DNNN hiện nay Tuy nhiên, nên thực hiện theo phương án thận trọng, nghĩa là mô hình song trùng sau đó chuyển dần sang mô hình tập trung; (2) Cần chú trọng công tác quản trị DN, quản lý của Nhà nước; (3) Cần hoàn thiện cơ chế giám sát từ phía

cơ quan QLNN để dảm bảo hiệu quả và hiệu lực; (4) Cần tiếp tục cải thiện thể chế, chính sách tạo khung pháp lý đồng bộ để DNNN nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả SXKD, đẩy mạnh sắp xếp, tái cơ cấu DN, …; (5) Thực hiện công khai và minh bạch hóa thông tin đối với DNNN ít nhất theo các tiêu chí như đang áp dụng đối với công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.

+ Phạm Quang Trung và Bùi Huy Nhượng [ 36 ], đã đề xuất giải pháp và kiến nghị phát triển và hoàn thiện mô hình TĐKTNN ở Việt Nam với những nội dung : (1) Hoàn thiện khung pháp luật cho hoạt động của TĐKTNN; (2) Nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đối với DNNN nói chung và TĐKTNN nói riêng; (3) Hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền CSH Nhà nước đối với TĐKTNN; (4) Hoàn thiện cơ chế giám sát tài chính đối với TĐKTNN; (5) Thay đổi cơ chế chính sách về nguồn nhân lực đối với TĐKTNN; (6) Phát triển TĐKTNN trên cơ sở tái cấu trúc một cách sâu sắc và toàn diện; (7) Tiếp tục đổi mới mang tính “đột phá” mạnh mẽ hơn về tư duy, nhận thức và hành động đối với việc tái cấu trúc và hoàn hiện mô hình TĐKTNN; (8) Tạm ngừng thành lập mới TĐKTNN và tiếp tục đẩy nhanh tái cấu trúc, chấn chỉnh tổ chức, hoạt động của TĐKTNN đã được thí điểm thành lập.

+ Theo Ngô Quang Minh [ 24 ], Hoạt động của các DNNN hiện nay chủ yếu tập trung vào hoạt động của các TĐ và các TCTNN, các DNNN còn lại rất ít và quy

mô nhỏ không đáng kể Nếu giải quyết được sự yếu kém của các TĐ và TCTNN, thì

về cơ bản vấn đề DNNN sẽ được giải quyết Để nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh của các TĐ, TCTNN cần tập trung vào một số vấn đề sau: (1) Không nên gọi là DNNN mà nên gọi là DN có vốn nhà nước (với các tỷ lệ vốn nhà nước khác nhau) để xóa hẳn sự phân biệt DNNN với các loại DN khác; (2) Cần

Trang 27

nhận thức lại vai trò đích thực của DNNN theo đúng tinh thần của các văn kiện của Đảng; (3) Cần đặc biệt chú ý đến cơ chế kiểm soát hoạt động của các TĐ và các TCTNN, cũng như trách nhiệm của tổ chức và cá nhân về lĩnh vực này; (4) Nhà nước kiên quyết không ưu đãi, hỗ trợ các TĐ, TCTNN dưới dạng bao cấp hoặc bảo hộ; (5) Tiếp tục chuyển đổi sở hữu, tái cơ cấu, xác định phạm vi và tiêu chí cụ thể đối với các DN 100% vốn nhà nước, Nhà nước chiếm cổ phần chi phối; (6) Xây dựng các liên kết kinh tế, kỹ thuật giữa các DNNN với các DN thuộc mọi thành phần kinh tế nhằm phát huy sức mạnh, khai thác lợi thế, khắc phục yếu kém trong hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao sức cạnh tranh; (7) Xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược sản phẩm, thương hiệu,

+ Đề tài “Đổi mới, sắp xếp và vấn đề quản trị DNNN ở Việt Nam” do CIEM

thực hiện [ 5 ], đã đánh giá về quản trị tại DNNN ở Việt Nam từ năm 1990 - 2005 Kết quả nghiên cứu cho rằng: công tác quản lý vốn nhà nước còn lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm, không hiệu quả; việc quyết định đầu tư vốn nhà nước được thực hiện bởi nhiều cấp dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, chồng chéo, không thống nhất, kém hiệu quả; việc giao vốn, cấp vốn trực tiếp từ ngân sách hoặc cho vay ưu đãi vẫn mang nặng tính hành chính, bao cấp, … Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân do cơ chế, chính sách pháp luật về quản lý vốn còn chưa đầy đủ, không rõ ràng, chưa theo kịp xu thế phát triển của nền kinh tế, … Nghiên cứu đã chỉ ra được những bất cập, nhưng chưa đề xuất được mô hình tổ chức để thành lập một tổ chức kinh doanh vốn độc lập nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư của nhà nước.

+ Trong nghiên cứu cũng của CIEM [ 7 ] đề cập đến khía cạnh DNNN mặc dù

đã chuyển hoạt động theo mô hình công ty TNHH 1TV, tuy nhiên vẫn chưa tự chủ trong kinh doanh mà vẫn giữ thói quen xin phép các cơ quan Nhà nước thực hiện các vấn đề thuộc thẩm quyền của DN Điều này là do đại diện CSH vẫn chưa trở thành yếu tố cấu thành của quản trị công ty TNHH 1TV do hạn chế về năng lực, trách nhiệm và điều kiện hoạt động để CTCT/Chủ tịch và các thành viên HĐTV đảm nhận chức năng đại diện vốn CSH Mặt khác, quy định về KSV cũng đang tồn tại nhiều hạn chế, trong đó vướng mắc lớn nhất là cơ chế hoạt động của các KSV với tư cách là các cá nhân được CSH bổ nhiệm để kiểm tra, giám sát hoạt động của

Trang 28

Ban lãnh đạo công ty chưa rõ ràng Tuy nhiên, vấn đề tồn tại trong thực tế là thành phần KSV chủ yếu vẫn là người của công ty và do công ty trả lương, ….

+ Ngô Kim Thanh [ 34 ], đã đề xuất về công tác quản trị DN nhằm thúc đẩy

và đảm bảo quá trình tái cấu trúc DNNN thành công Những vấn đề quản trị quan trọng được tác giả đề xuất là: (1) Đổi mới tư duy trong quản trị DN; (2) Nâng cao năng lực điều hành DN, trong đó cần tách biệt vai trò lãnh đạo DN và điều hành DN; (3) Nâng cao năng lực quản trị công ty trong DNNN; (4) Tạo sự đồng thuận để tái cấu trúc DNNN thành công.

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN

1.3.1 Những vấn đề rút ra từ các nghiên cứu được đề cập ở trên

- Những hướng nghiên cứu đã được thực hiện

Các nghiên cứu về quản lý của CSH Nhà nước đối với DNNN chủ yếu tập trung vào các hướng nghiên cứu sau: (1) Những vấn đề lý luận và thực tiễn về DNNN và quản lý của CSH Nhà nước đối với DNNN; (2) Nghiên cứu và đánh giá

hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về quản lý của CSH Nhà nước đối với DNNN; (3) Tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam; (4) Mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện CSH Nhà nước đối với DNNN; (5) Quản trị DNNN.

- Những kết quả nghiên cứu đã đạt được

+ Hệ thống được những vấn đề lý luận về DNNN và quản lý của CSH nhà nước đối với DNNN như các quan niệm khác nhau về DNNN, vai trò của DNNN, quyền của CSH nhà nước và nghiên cứu về các mô hình quản lý của CSH nhà nước đối với DNNN Các nghiên cứu cũng đã phân tích những kinh nghiệm của quốc tế

về quản lý DNNN và rút ra một số bài học có thể ứng dụng cho Việt Nam.

+ Hệ thống và đánh giá hệ thống văn bản pháp luật về DNNN và quản lý của CSH nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam thời gian qua Các nghiên cứu cũng chỉ

ra được những thay đổi tích cực cũng như những hạn chế trong các văn bản pháp luật liên quan.

+ Khái quát được tiến trình đổi mới phương thức thực hiện chức năng CSH nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam thời gian qua Đánh giá thực trạng cơ chế, chính sách, mô hình về quản lý của CSH nhà nước đối với DNNN ở Việt Nam hiện nay.

Trang 29

+ Đề xuất những phương hướng và giải pháp để hoàn thiện quản lý của CSH nhà nước đối với DNNN Các giải pháp được chính được đề xuất như: tái cấu trúc DNNN; Đổi mới phương thức thực hiện chức năng CSH Nhà nước; giải pháp nâng cao trình độ quản trị DNNN, …

1.3.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Từ những kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đã được đề cập ở trên cùng với bối cảnh mới của KT-XH gắn với những cam kết của hội nhập; sự thay đổi của hệ thống luật pháp, cách mạng công nghiệp 4.0 … Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới như:

- Về mặt lý luận, cần tiếp tục làm rõ vai trò, vị trí của DNNN trong thời kỳ mới gắn với xu thế phát triển KT-XH và đặc biệt là gắn với những cam kết của hội nhập khu vực và thế giới.

- Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cơ sở lý luận và tổng kết kinh nghiệm quốc

tế về quản lý của CSH nhà nước đối với DNNN Từ đó làm cơ sở đề xuất xây dựng khung pháp lý, cơ chế chính sách và mô hình quản lý phù hợp với đặc điểm của Việt Nam trong bối cảnh mới.

- Đánh giá thực trạng quản lý của CSH nhà nước đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trong đó tập trung vào việc phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả quản lý như: khung pháp lý, mô hình quản lý và nội dung quản lý.

- Nghiên cứu và đề xuất những giải pháp để hoàn thiện quản lý của CSH nhà nước đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL ở Việt Nam theo hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế và các cam kết hội nhập.

Trang 30

2.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp nhà nước

Trong tiếng Anh có rất nhiều thuật ngữ khác nhau dùng để chỉ DNNN như: Government-owned Corporation, State-owned Company, State-owned Entity, State Enterprise, Publicly owned Corporation, Government Business Enterprise, Government Enterprise, Government Invested Enterprise, Commercial Government Agency,…

Về sở hữu, DNNN được hiểu là DN do Nhà nước nắm giữ toàn bộ VĐL hoặc nắm giữ quyền chi phối Tuy nhiên, việc sử dụng tiêu chí sở hữu để xác định loại hình DNNN cũng có sự khác biệt nhất định giữa các quốc gia Vì vậy, nhiều định chế quốc tế, các hiệp định đa phương hoặc song phương đều nỗ lực đưa ra cách hiểu thống nhất về DNNN cho các bên có liên quan trong từng trường hợp.

OECD (2005) trong hướng dẫn quản trị công ty trong DNNN đã xác định: “Thuật ngữ DNNN dùng để chỉ các DN mà Nhà nước có quyền kiểm soát thông qua sở hữu toàn bộ, đa số hoặc thiểu số quan trọng” [65 ].

Theo Liên minh Châu âu (Eropean Union), trong hướng dẫn số 80/723 của

Ủy ban Châu âu (EC) đã định nghĩa: “Doanh nghiệp công (hiểu theo nghĩa kinh doanh) là các chủ thể hoạt động kinh doanh mà các cơ quan công quyền có thể điều hành, chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp bởi vai trò của CSH thông qua phần vốn góp hoặc gây ảnh hưởng đến quy tắc hoạt động”[67 ].

Trong báo cáo của World Bank (1999) đã định nghĩa về DNNN như sau:

“DNNN là một chủ thể kinh tế mà quyền sở hữu hay kiểm soát thuộc về chính phủ,

và phần lớn thu nhập của chúng được tạo ra từ việc bán hàng hóa và dịch vụ”[ 38 ].

Trang 31

Trong các nền kinh tế, tồn tại một khu vực/loại hình tổ chức kinh tế được biết với tên gọi DN Công hữu (Public Enterprise – PE) Cộng đồng Kinh tế Châu

Âu (EEC) và Viện Hàn lâm về Quản lý hành chính (Mỹ) định nghĩa DN công hữu

như sau: “Một DN công hữu hay một DN có sự tham gia của xã hội, là DN trong đó

tổ chức đại diện có quyền kiểm soát thực sự đối với chúng, bất kể phần sở hữu trong đó của họ là nhiều hay ít” và DN công hữu: “được thành lập với tư cách pháp nhân độc lập theo luật định, được tài trợ bằng những khoản vốn góp [từ xã hội] và có quyền sử dụng và tái sử dụng tài sản của mình” [67 ].

DNNN đang tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất mang tính toàn cầu về loại hình DN này Khái niệm DNNN đã được nhiều nghiên cứu trong nước đề cập đến trong thời gian qua.

Theo Mai Công Quyền [ 29 ], trong thời kỳ phát triển ban đầu của mô hình DNNN, khái niệm DNNN có nội hàm để chỉ các đơn vị kinh doanh được thành lập bởi chính quyền Nhà nước Trung ương hay địa phương và các Bộ, ngành thuộc Chính phủ, chịu sự kiểm soát từ Chính phủ Theo đó, DNNN chỉ bao gồm duy nhất các tổ chức kinh doanh hoàn toàn do Nhà nước hoặc các cơ quan chức năng của Nhà nước cấp vốn Các loại hình DN khác như công ty cổ phần, DN liên doanh, công ty TNHH có phần vốn góp từ Chính phủ, hay các cơ quan của Chính phủ, với nghĩa hẹp không thuộc loại hình DN này.

Trên cơ sở các khái niệm liên quan và sự thay đổi về vị trí chức năng của DNNN trong cơ chế KTTT, Nguyễn Mạnh Quân đã đưa ra định nghĩa:

“Doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế tự quyết thuộc quyền sở hữu của nhà nước, do nhà nước kiểm soát và thường được các Chính phủ sử dụng như một công cụ chính sách để thực hiện các mục đích phát triển KT-XH và điều tiết nền kinh tế thông qua việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động SXKD” [ 28 ].

Tác giả cũng đã trình bày định nghĩa nêu trên dưới dạng biểu thức như sau: DNNN = Kinh doanh + Công hữu = Công cụ + Chính sách

Hay:

DN = Kinh doanh = Công cụ = Phương tiện

Nhà nước = Công hữu = Chính sách = Mục đích

Cách định nghĩa trên đã chỉ rõ bản chất của DNNN về tính chất là một tổ chức kinh doanh, về sở hữu là thuộc xã hội (toàn dân), trong đó hoạt động kinh

Trang 32

doanh chỉ là công cụ, phương tiện để nhà nước, người đại diện quyền sở hữu xã hội,

có thể thực hiện những mục đích xã hội rộng lớn.

Ở Việt nam, khái niệm DNNN cũng có sự thay đổi theo từng thời kỳ Trước năm 1995, xí nghiệp quốc doanh (nay là DN do Nhà nước sở hữu 100% VĐL) được xác định là những đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân thuộc sở hữu Nhà nước Năm

1995, lần đầu tiên khái niệm DNNN được đưa vào Luật do Quốc hội ban hành.

Điều 1, Luật DNNN 1995 đã định nghĩa: “DNNN là một tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu KT-XH do Nhà nước giao” Khái niệm

này không nhắc đến vấn đề sở hữu, nhưng hàm ý xác định Nhà nước nắm giữ toàn

bộ VĐL.

Sau khi Luật DNNN năm 2003 được ban hành, khái niệm DNNN có thay đổi

căn bản, theo đó “DN Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ VĐL hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối” hoạt động dưới hình thức công ty Nhà

nước quy định tại Luật này Tiếp đó, Luật DN năm 2005 tại Khoản 22, Điều 4 định

nghĩa: “DNNN là DN trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% VĐL” và gần đây nhất

tại kỳ họp thứ 8 ngày 26 tháng 11 năm 2014, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật số: 68/2014/QH13-Luật DN (Luật DN 2014), Luật DN

2014 đã quy định rõ: “DNNN là DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL” [32 ].

2.1.1.2. Khái niệm v doanh nghiệp do N ước nắm giữ 100% vố u lệ

Khái niệm DNNN ở Việt Nam thay đổi theo tiến trình thay đổi các văn bản luật, căn cứ quan trọng nhất để xác định DNNN là tỷ lệ vốn sở hữu nhà nước Theo Luật DN 2005, DNNN là DN trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% VĐL Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về phạm vi, đối tượng DNNN theo định nghĩa này, nhất là các DN thành viên của các TĐ kinh tế và TCT Nhà nước Nghị định 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của CSH nhà nước đối với DNNN đã làm rõ hơn khái niệm DNNN Theo Nghị định này, DNNN là DN mà Nhà nước nắm giữ trên 50% VĐL, bao gồm 2 loại như sau [ 14 ]: Một là, DN mà Nhà nước nắm giữ 100% VĐL là công ty TNHH 1TV; Hai là, DN mà Nhà nước nắm giữ trên 50% VĐL là công ty cổ phần, công ty

TNHH hai thành viên trở lên Tuy nhiên, khi Luật DN 2014 ra đời với quy định DNNN là DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL thì DNNN chỉ còn duy nhất một

Trang 33

loại là: công ty TNHH 1TV do nhà nước nắm giữ 100% VĐL.

Trên góc độ sở hữu, Điều 200 Luật Dân sự 2015 về thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được đầu tư vào doanh nghiệp quy định: khi tài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp thì Nhà nước thực hiện quyền của chủ

sở hữu với tài sản đó theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, quản lý, sử dụng

vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp [ 33 ].

Từ những vấn đề trên, Luận án đưa ra khái niệm DN do Nhà nước nắm giữ

100% VĐL như sau: Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là

Doanh nghiệp nhà nước, do Nhà nước làm chủ sở hữu, chịu trách nhiệm trong

phạm vi vốn góp và hoạt động dưới hình thức Công ty TNHH 1TV do nhà nước nắm

giữ 100% VĐL.

Công ty TNHH 1TV do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL bao gồm: (1) Công ty TNHH 1TV do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL là công ty mẹ của TĐ kinh tế nhà nước, công ty mẹ của TCT nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; (2) Công ty TNHH 1TV độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL.

2.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Từ khái niệm và kết hợp với so sánh với các loại hình DN khác (DN tư nhân, CTCP, Công ty TNHH 2TV trở lên, công ty hợp danh…), DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL (DNNN) có những đặc điểm chủ yếu sau:

- Đặc điểm pháp lý

Theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014, “doanh nghiệp” được hiểu là "Tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sớ giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” Bởi vì

DNNN mang những đặc điểm của doanh nghiệp nói chung nên DNNN hoạt động cũng vì mục đích kinh doanh Tuy nhiên mục tiêu lợi nhuận không phải lý do duy nhất để thành lập các DNNN Nhà nước không đầu tư ồ ạt hay tràn lan vào mọi lĩnh vực mà chỉ tập trung vào những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế như năng luợng, viễn thông, hàng không (ví dụ như Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam ) DNNN hoạt động trong những ngành nghề quan trọng hoặc những ngành nghề, khu vực mà tư nhân không đầu tư, do đó ngoài mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, các DNNN đã trở thành một công cụ thực hiện vai trò điều tiết

vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước, ổn đinh thị trường và giải quyết những vấn đề xã hội.

Trang 34

- Đặc điểm về sở hữu

Vấn đề sở hữu đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL (DNNN) khá phức tạp với nhiều tầng nấc khác nhau Ai là chủ sở hữu của DNNN? Theo quy định của Hiến pháp thì DNNN thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện Theo Luật Dân sự 2015, Nhà nước thực hiện hiện quyền chủ sở hữu đối với tài sản thuộc

sở hữu toàn dân đầu tư vào DN Như vậy, có thể khẳng định Nhà nước là CSH duy nhất đối với DNNN Tuy nhiên trên thực tế, Nhà nước lại trao quyền CSH cho các

cơ quan nhà nước – cơ quan đại diện CSH Nhà nước (Chính phủ, Bộ ngành, UBND tỉnh, Công ty quản lý vốn…) và các cơ quan này lại thành lập các tổ chức (như HĐTV) hay cử các cá nhân (như CTCT) để đại diện cho các cơ quan đó thực hiện quyền của CSH tại DN.

DN 100% VNN sau khi thành lập là một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thể kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ là người quản lý tài sản và kinh doanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nước Nhà nước giao vốn cho DN, DN phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao.

- Đặc điểm về hình thức của DN và mô hình tổ chức quản lý

DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL tồn tại dưới hình thức công ty TNHH 1TV do nhà nước làm CSH, các DN này sẽ không còn tồn tại dưới dạng CTCP theo các hình thức khác nhau Do vậy, mặc dù CSH là Nhà nước nhưng cũng chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi VĐL.

Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm CSH có thể được tổ chức quản lý theo 2 mô hình: mô hình HĐTV hoặc mô hình CTCT Theo mô hình HĐTV,

cơ cấu tổ chức quản lý Công ty bao gồm: HĐTV, KSV chuyên trách, TGĐ, các Phó TGĐ, Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc Theo mô hình CTCT, cơ cấu tổ chức quản lý bao gồm: CTCT, TGĐ, các Phó TGĐ, KSV, Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc.

- Đặc điểm về tư cách pháp lý và trách nhiệm tài sản

Doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% VĐL (DNNN) hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, theo khoản 2 Điều 73 Luật

Trang 35

Doanh nghiệp (2014) quy định “công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư

cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp” Do

đó, DNNN cũng có tư cách pháp nhân.

Doanh nghiệp nhà nước thực hiện hoạt động kinh doanh độc lập, tham gia vào các giao dịch, chịu trách nhiệm riêng bằng tài sản của doanh nghiệp (bao gồm tài sản hình thành từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước, những khoản hỗ trợ, tài sản hình thành trong quá trình doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, ) và hoạt động theo sự điều tiết của nền kinh tế thị trường, chịu tác động bởi những quy Luật Cạnh tranh, không phụ thuộc vào những mệnh lệnh hành chính của nhà nước.

Do có tư cách pháp nhân, khi tham gia thực hiện các giao dịch DNNN chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính và các khoản nợ phát sinh trong hoạt động kinh doanh bằng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của DN Ngoài ra, cũng giống như CSH công ty TNHH một thành viên khác, nhà nước - với tư cách là CSH của DNNN - chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi phần vốn Nhà nước cam kết góp vào DN.

2.1.3 Vai trò của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Về mặt lý luận, vai trò của DNNN (hay DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL) được thể hiện trên những nội dung sau:

- Theo lý thuyết học về phúc lợi, Tulkens, Nelson, và Shepherd (1976) chỉ ra

có 2 nhóm lý lẽ kinh tế ủng hộ sự hình thành DNNN: hiệu quả kinh tế và mục tiêu

xã hội Theo nhóm lý lẽ hiệu quả kinh tế, sự tồn tại của DNNN là cần thiết để hiệu chỉnh các khiếm khuyết của thị trường như thị trường độc quyền tự nhiên, tính kém hiệu quả của thị trường vốn (đầu tư vào các lĩnh vực tư nhân không muốn), sự hiện diện của các hiệu ứng ngoại hiện như tạo mới công nghệ, và tính bất bình đẳng của thị trường Theo nhóm lý lẽ mục tiêu xã hội, sự vận động của thị trường khiến cho một số bộ phận dân cư bị thiệt thòi do không thích ứng được với sự thay đổi cơ cấu kinh tế Việc hình thành DNNN sẽ giúp cho Nhà nước dễ dàng hỗ trợ những bộ phận thiệt thòi này thông qua các chính sách trợ giá, chẳng hạn trợ cấp giáo dục hay

y tế qua hệ thống trường công và bệnh viện công.

- Theo khung lý thuyết của kinh tế học thể chế mới (NIEs) được xây dựng bởi các nhà kinh tế nổi tiếng như Coase, Williamson và North Khác với kinh tế học

Trang 36

vi mô chính thống, NIEs không hướng đến giải quyết vấn đề phân bổ nguồn lực hiệu quả Vì thế khi ứng dụng phân tích cho khu vực DNNN, NIEs không đặt vấn

đề về vai trò của DNNN như là một công cụ để hiệu chỉnh các sai lệch/thất bại của thị trường Đối với các nhà kinh tế thuộc NIEs thì DNNN hay DN tư nhân chỉ là những cấu trúc quản chế (governance Structure) khác nhau để ràng buộc các giao dịch diễn ra giữa các chủ thể Để xác lập được vị trí của DNNN trong nền kinh tế, các nhà kinh tế học thể chế đặt câu hỏi: một dịch vụ/hàng hóa công ích được cung ứng bằng cấu trúc quản chế nào sẽ cho chi phí giao dịch thấp hơn? Các cấu trúc quản chế sẵn có để lựa chọn ở đây có thể là các đơn vị hành chính nhà nước, các tổ chức phi lợi nhuận, các DNNN với mức độ sở hữu khác nhau, các công ty tư nhân

bị điều tiết, hay các công ty tư nhân/cá nhân độc lập Picot và Wolff (1994) đã xác lập ba tiêu chí dựa trên các đặc điểm: thuộc tính của dịch vụ/hàng hóa công được giao dịch; việc xác lập các quyền tài sản; và vấn đề mối quan hệ ủy thác – đại diện.

- Trong hướng dẫn của OECD [ 65 ] về quản trị công ty trong DNNN khi đề cập đến vai trò của DNNN cho rằng: bất chấp những tranh luận về hiệu quả hoạt động, kinh doanh và cạnh tranh, các DNNN vẫn đang tồn tại hoạt động khách quan trong hầu hết các nền kinh tế Ở nhiều nước, kể cả các nước công nghiệp phát triển, DNNN vẫn chiếm một tỷ lệ quan trọng trong GDP, lực lượng lao động và vốn DNNN thường chủ yếu hoạt động trong các ngành cung cấp dịch vụ công cộng và

cơ sở hạ tầng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Đây là những ngành có tác động lớn đối với phần lớn dân cư và các ngành kinh tế khác.

- Vai trò của DNNN được luận giải xuất phát từ vai trò của Nhà nước trong quản lý, điều tiết KT-XH Với tư cách là “cánh tay nối dài” đảm nhận một phần vai trò, chức năng của Nhà nước, DNNN thường được giao đảm nhận các vai trò cụ thể sau: (1) Giúp khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường và khu vực tư nhân; (2) Đảm nhận những lĩnh vực mới, tạo động lực phát triển cho một số ngành, lĩnh vực khác và toàn bộ nền kinh tế nhưng đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn vượt quá khả năng của các DN tư nhân trong nước; thời gian thu hồi vốn chậm, hệ số rủi ro cao, các DN tư nhân không muốn tham gia.

- Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công cộng (công hữu) về tư liệu sản xuất (sở hữu

Trang 37

toàn dân và sở hữu nhà nước) Kinh tế nhà nước bao gồm các DNNN, các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể đưa vào vòng chu chuyển kinh tế “Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế” Các DNNN, bộ phận quan trọng nhất của kinh tế, giữ vị trí then chốt; phải đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả KT-XH và chấp hành pháp luật.

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý cũng như quản lý, điều hành DNNN ở Việt Nam, DN do nhà nước nắm giữ 100% vốn có những vai trò cụ thể như sau:

Thứ nhất, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế và là công cụ vật chất quan

trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết, bình ổn giá cả, đảm bảo các cân đối lớn, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô;

Thứ hai, cung cấp sản phẩm, dịch vụ trực tiếp phục vụ quốc phòng an ninh

và các sản phẩm dịch vụ thiết yếu cho xã hội mà thị trường không đảm bảo cung ứng nhằm duy trì phúc lợi chung cho xã hội;

Thứ ba, đầu tư vào những địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó

khăn, vùng sâu, vùng xa mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư nhằm mục đích phát triển KT-XH miền núi, vùng sâu, vùng xa, giảm sự chênh lệch với các vùng khác;

Thứ tư, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực phát triển cho các ngành, lĩnh

vực khác và toàn bộ nền kinh tế, đòi hỏi đầu tư lớn;

Thứ năm, là lực lượng chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế.

2.1.4 Chủ sở hữu v gườ ại diệ ối với doanh nghiệp do N ước nắm giữ 100% vố u lệ

2.1.4.1.Khái niệm về chủ sở hữu và người đại diện

CSH (principals) là chủ của các nguồn lực, còn người đại diện (Agent) hay quản lý là người được ủy quyền (được thuê) của CSH nguồn lực và được CSH nguồn lực trao một số quyền hành nhất định đối với nguồn lực của người CSH để phục vụ lợi ích của CSH.

Trang 38

Ví dụ, trong các DN, các GĐ, quản lý và người làm công là người được ủy quyền theo luật định (được thuê – Agents) để tối đa hóa lợi nhuận từ DN cho CSH,

và các cổ động (Principals) Trong Chính phủ và các cơ quan quyền lực của nhà nước, các chính khách, quan chức chính phủ, quan tòa hay những người được cử tri, hay nhân dân trao quyền cho họ để đưa ra các quyết định chính sách công, điều hành đất nước nhằm phục vụ lợi ích của cử tri hay công dân nước họ.

Ngoài ra Theo Điều 164 Luật Dân sự 2005, Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của CSH theo quy định của pháp luật; CSH là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ 3 quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản [ 30 ] Theo cách hiểu trên, CSH đã giao quyền sử dụng (điều hành) tài sản của mình cho người người đại diện (người quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu của CSH.

2.1.4.2.Mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người đại diện

Trong khoa học kinh tế và chính trị, vấn đề CSH và người đại diện hay nghịch lý đại diện đề cập đến những khó khăn nảy sinh trong điều kiện thông tin không hoàn hảo và không cân xứng khi CSH thuê người đại diện để thực hiện lợi ích của mình, nhưng người đại diện có thể không hành động vì lợi ích của CSH mà

vì bản thân họ (tư lợi).

Do có sự tách biệt giữa CSH và người đại diện hay tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành, nên về mặt lý thuyết và thực tế đã xuất hiện vấn đề khi một người hoạt động vì lợi ích của người khác, thì về bản chất người đại diện công ty luôn có xu hướng tư lợi cho họ hơn là hành động vì người CSH và các cổ đông [66].

Nguyên nhân của hiện tượng trên là do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành đã tạo ra thông tin không cân xứng, người điều hành (đại diện) có

ưu thế hơn CSH về thông tin, nên dễ dàng hành động tư lợi, hơn nữa việc giám sát các hành động của người đại diện cũng rất tốn kém, khó khăn, phức tạp nên đối với người đại diện hành động theo nhiệm vụ được giao là vì lợi ích của những người khác thì họ sẽ cần đến động lực phù hợp như được hưởng kết hợp một số lợi ích như vật chất, tinh thần hoặc bị bắt buộc thực hiện trách nhiệm, nhiệm vụ được ủy thác Thông thường với nhiều quyền tự chủ, nhiều động lực vật chất và tinh thần thì người đại diện hay được ủy quyền sẽ làm việc hiệu quả và đẩy đủ hơn nhiệm vụ mà

Trang 39

người CSH giao cho, còn việc trừng phạt có tính cưỡng bức thì hiệu quả sẽ thấp hơn Do vậy, DN cần phải xây dựng theo cách mà người đại diện hăng say, cần cù làm việc theo hướng lợi ích của CSH của họ và lợi ích của họ là gắn liền với nhau trong dài hạn.

2.1.4.3 Chủ sở hữu và người đại diện đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

Theo Điều 53, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc

sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện CSH và thống nhất quản lý” Mặt khác, theo

Điều 200 Luật Dân sự 2015 về thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản

được đầu tư vào DN: “Khi tài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp thì Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản đó…” Theo

đó, Nhà nước là CSH đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL Sau đó, Nhà nước lại giao cho các tổ chức, cá nhân (trực thuộc) thực hiện chức năng đại diện cho CSH Nhà nước tại DN Như vậy, phần tài sản thuộc sở hữu toàn dân tại DNNN ở cấp cuối cùng được giao cho một số tổ chức, cá nhân đại diện, giám sát, điều hành.

DNNN do Nhà nước đầu tư vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước Sau khi được thành lập, DNNN là một chủ thể kinh doanh nhưng không có quyền sở hữu đối với tài sản mà chỉ là người quản lý, kinh doanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nước Nhà nước giao vốn cho DNNN và DNNN phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao cho để duy trì khả năng kinh doanh của DN Tất cả các DN đều chịu sự quản lý trực tiếp của một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo sự phân cấp của Chính phủ Vấn đề vốn và việc sử dụng vốn của DNNN, vốn Nhà nước giao cho DN quản lý và sử dụng là vốn ngân sách cấp, vốn có nguồn gốc ngân sách và vốn của DNNN tự lích lũy.

Theo Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào SXKD tại DN (2014), một số khái niệm liên quan đến CSH Nhà nước như sau:

“Cơ quan đại diện CSH nhà nước là cơ quan, tổ chức được Chính phủ giao

thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện CSH nhà nước đối với DN do mình quyết định thành lập hoặc được giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm đối với phần

Trang 40

vốn nhà nước đầu tư tại CTCP, công ty TNHH hai thành viên trở lên Hiện nay ở nước ta, cơ quan đại diện CSH nhà nước tại DN do nhà nước nắm giữ 100% VĐL

là Chính phủ, các Bộ ngành, chính quyền địa phương, SCIC (SCIC) theo phân công, phân cấp có quyền quyết định đối với toàn bộ vốn, tài sản của DN trong phạm vi vốn góp”.

Ngày 03/02/2018, Chính phủ đã thành lập Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại

DN (CMSC) để thực hiện vai trò đại diện CSH đối với DNNN (bao gồm 19 TĐKTNN, TCTNN do các Bộ ngành chuyển giao).

“Người đại diện CSH trực tiếp tại DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL (gọi

là người đại diện CSH trực tiếp) là cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền

bổ nhiệm vào HĐTV, CTCT để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện CSH nhà nước tại DN”.

“Người đại diện phần vốn của DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL tại CTCP, Công ty TNHH (gọi là người đại diện phần vốn của DN) là cá nhân được

DN ủy quyền bằng văn bản để thực hiện quyền, trách nhiệm của DN đối với phần vốn của DN đầu tư tại CTCP, công ty TNHH hai thành viên trở lên”.

“Người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại CTCP, công ty TNHH hai thành viên trở lên (gọi là người đại diện phần vốn nhà nước) là cá nhân được cơ

quan đại diện CSH ủy quyền bằng văn bản để thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện CSH nhà nước đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại CTCP, công ty TNHH hai thành viên trở lên”.

“Người quản lý DN bao gồm Chủ tịch và thành viên HĐTV, CTCT, TGĐ

hoặc GĐ, Phó TGĐ hoặc Phó GĐ, Kế toán trưởng”.

“Vốn nhà nước tại DN bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có

nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; vốn từ quỹ đầu tư phát triển tại DN, quỹ hỗ trợ sắp xếp DN; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn khác được Nhà nước đầu tư tại DN”.

Như vậy, CSH Nhà nước có nhiều tầng nấc khác nhau Trong phạm vi nghiên

cứu của Luận án: CSH Nhà nước đối với DN do Nhà nước nắm giữ 100% VĐL là các cơ quan, tổ chức được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện CSH Nhà nước đối với DN 100% vốn Nhà nước, đó là: Chính phủ, CMSC, các

Bộ ngành, Chính quyền địa phương và SCIC.

Ngày đăng: 04/04/2021, 20:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thế Anh và cộng sự (2014), "Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước để tạo đà cho tăng trưởng phát triển kinh tế", Kinh tế & Phát triển, (202), tr. 44-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cấu trúc doanh nghiệp nhànước để tạo đà cho tăng trưởng phát triển kinh tế
Tác giả: Phạm Thế Anh và cộng sự
Năm: 2014
2. Ban Chấp hành Trung ương (2017), Nghị quyết Hộ nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ghị quyết Hộ nghị lần thứnăm Ban chấp hành trung ương khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới vànâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2017
3. Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp (2015), B áo cáo tại Hội nghị trực tuyến với các địa phương, tập đoàn, tổng công ty về đẩy mạnh tái cơ cấu DNNN ngày 13/11/2015, Ban chỉ đạo Đổi mới và phát triển doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: áo cáo tạiHội nghị trực tuyến với các địa phương, tập đoàn, tổng công ty về đẩymạnh tái cơ cấu DNNN ngày 13/11/2015
Tác giả: Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp
Năm: 2015
4. Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp (2018), Báo cáo tình hình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016- 2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáotình hình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016-2018
Tác giả: Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp
Năm: 2018
5. CIEM (2006), Đổi mới, sắp xếp và vấn đề quản trị doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam, Trung tâm thông tin tư liệu quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới, sắp xếp và vấn đề quản trị doanh nghiệpNhà nước ở Việt Nam
Tác giả: CIEM
Năm: 2006
6. CIEM (2009), Cải cách phương thức quản lý, giám sát phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Trung tâm thông tin tư liệu quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách phương thức quản lý, giám sát phần vốnnhà nước tại doanh nghiệp
Tác giả: CIEM
Năm: 2009
7. CIEM (2011), Các vấn đề tài chính phát sinh khi chuyển toàn bộ doanh nghiệp Nhà nước sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp từ 01/07/2010, Trung tâm thông tin tư liệu quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề tài chính phát sinh khi chuyển toàn bộdoanh nghiệp Nhà nước sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp từ01/07/2010
Tác giả: CIEM
Năm: 2011
8. CIEM (2013), Đổi mới phương thức thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước: kinh nghiệm quốc tế và gợi ý chính sách cho Việt Nam, CIEM, Trung tâm thông tin tư liệu quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương thức thực hiện chức năng đại diệnchủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước: kinh nghiệm quốc tếvà gợi ý chính sách cho Việt Nam
Tác giả: CIEM
Năm: 2013
9. CIEM (2014), Thành lập cơ quản, tổ chức chuyên trách thực hiện tập trung chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, Trung tâm thông tin tư liệu quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành lập cơ quản, tổ chức chuyên trách thực hiệntập trung chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp
Tác giả: CIEM
Năm: 2014
10. Chu Văn Cấp và các cộng sự (2004), Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin
Tác giả: Chu Văn Cấp và các cộng sự
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
11. Nguyễn Cúc (2013), "Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước phù hợp với sự vận động các quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", Tạp chí cộng sản, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước phù hợpvới sự vận động các quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướngxã hội chủ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Cúc
Năm: 2013
12. Trần Tiến Cường (2013), "Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước và vấn đề phân tách giữa chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nước đối với DNNN", Báo cáo chuyên đề từ CIEM năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước vàvấn đề phân tách giữa chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý nhà nướcđối với DNNN
Tác giả: Trần Tiến Cường
Năm: 2013
13. Nguyễn Đình Cung và Bùi Văn Dũng (2013), Đổi mới mô hình thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và ứng dụng vào Việt Nam, CIEM, Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới mô hình thựchiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhànước: Lý luận, kinh nghiệm quốc tế và ứng dụng vào Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Cung và Bùi Văn Dũng
Năm: 2013
14. Chính phủ (2012), Nghị định 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 99/2012/NĐ-CP về phân công, phâncấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nướcđối với doanh nghiệp nhà nước
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
15. Chính phủ (2015), Nghị định số 91/2015/NĐ-CP về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 91/2015/NĐ-CP về đầu tư vốn nhànước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
16. Chính phủ (2015), Nghị định số 97/2015/NĐ-CP về quản lý người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp là công ty TNHH MTV mà nhà nước nắm giữ 100% VĐL, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 97/2015/NĐ-CP về quản lý ngườigiữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp là công ty TNHH MTV mà nhànước nắm giữ 100% VĐL
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
17. Chính phủ (2018), Nghị định 131/2018/NĐ-CP về quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ghị định 131/2018/NĐ-CP về quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban quản lý vốn nhànước tại doanh nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2018
18. Chính phủ (2019), Nghị định số 10/2019/NĐ-CP về thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 10/2019/NĐ-CP về thực hiệnquyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2019
19. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
26. Trần Ngọc (2018), Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn tình trạng "bình mới, rượu cũ, tại trang web https://vov.vn/kinh-te/doanh- nghiep/co-phan- hoa-doanh-nghiep-nha-nuoc-con-tinh-trang-binh-moi-ruou-cu-845345.vov. [Truy cập ngày 15/12/2018] Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w