1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý việc sử dụng internet của học sinh trung học tại bắc kạn cao bằng và hòa bình

101 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu quản lý việc sử dụng Internet của học sinh trung học ở Việt Nam có tính cấp thiết về mặt thực tiễn và lý luận. Về mặt thực tiễn, các mối nguy hại trên môi trƣờng Internet đang là chủ đề đƣợc các quốc gia cũng nhƣ Việt Nam đang phải đối mặt. Tại Việt Nam, viêc sử dụng Intnernet ngày càng trở nên phổ biến, học sinh ngày càng tiếp xúc với Internet nhiều hơn, ngay cả với học sinh ngƣời dân tộc thiểu số thuộc các khu vực chƣa phát triển. Báo cáo “Digital in 2018 in Vietnam” của Wearesocial (2018) đã thống kê số ngƣời sử dụng Internet và tham gia các hoạt động trên không gian mạng trên thế giới và của Việt Nam. Tính đến tháng 12018, thế giới đã có hơn 6 tỉ ngƣời dùng, riêng Việt Nam đã có khoảng 64 triệu ngƣời sử dụng Internet trên tổng số 94 triệu dân (khoảng 67% dân số) và 55 triệu tài khoản (57% dân số) trên các trang MXH. Trong khi đó, theo số liệu từ Cục Dân số năm 2018, Việt Nam có 25,2% dân số là trẻ dƣới 15 tuổi, điều này cho thấy đang có rất nhiều học sinh trung học đang sử dụng Internet tại Việt Nam. Nghiên cứu về Digital kids AsiaPacific: insights into children’s digital citizenship” của UNESCO (2019) thực hiện khảo sát 1.061 học sinh 15 tuổi tại 20 trƣờng học từ 5 tỉnh thành ở Việt Nam (Lào Cai, Hà Nội, Đà Nẵng, Lâm Đồng và Cần Thơ). Kết quả là 42% bắt đầu sử dụng Internet từ khoảng 9 đến 12 tuổi, 28% học sinh bắt đầu sử dụng Internet trong độ tuổi từ 12 đến 15. Việc sử dụng Internet sớm đã tăng thêm nguy cơ gặp phải những rủi ro cho các em học sinh. Theo báo cáo về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em” tháng 12020, giai đoạn từ 112015 đến 3062019, toàn quốc phát hiện hơn 7.800 vụ xâm hại trẻ em, với gần 8.600

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG MẠNG INTERNET CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC TẠI CÁC TỈNH BẮC KẠN, CAO BẰNG VÀ HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG MẠNG INTERNET CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC TẠI CÁC TỈNH BẮC KẠN, CAO BẰNG VÀ HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 8 34 04 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM VŨ THẮNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết luận, nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chính xác Những kết quả của luận văn này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình!

Học Viên

Nguyễn Mạnh Cường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này là một phần kết quả học tập, đào tạo tại chương trình Thạc sỹ Quản lý công của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội hợp tác với Trường Đại học Uppsala của Thụy Điển Tác giả xin gửi lời biết ơn chân thành đến các Thầy, Cô đã dành tâm huyết truyền tải đến các học viên những lý thuyết, phương pháp và tinh thần một cách khoa học, giúp học viên có cơ sở lý thuyết, tư duy phân tích rộng và khoa học

Tác giả cũng xin cảm ơn TS Phạm Vũ Thắng, người đã hướng dẫn nhiệt tình hướng dẫn, những chỉ dẫn đầy kinh nghiệm của thầy giúp em dần từng bước hoàn thiện đề tài của mình

Tác giả xin cảm ơn PGS.TS Trần Đức Hiệp, chủ tịch hội đồng đánh giá kết quả nghiên cứu sơ bộ, cùng các thành viên hội đồng đã góp ý và giúp tác giả điều chỉnh hướng nghiên cứu của mình

Tác giả xin cảm ơn gia đình, các anh chị, các bạn đã có góp ý, gửi các tài liệu và hỗ trợ tiến hành các khảo sát rất có giá trị, bên cạnh đó là sự động viên tinh thần, sự hỗ trợ của gia đình đã tạo điều kiện thời gian để hoàn thành luận văn

Luận văn không thể thực hiện được nếu không có nghiên cứu của các tác giả đi trước, những người mà công trình nghiên cứu về chủ đề khó nhưng

đã làm sáng tỏ một cách rõ ràng, mạch lạc, thể hiện trình độ chuyên môn rất sâu của các tác giả Xin gửi lời biết ơn các tác giả, nghiên cứu này được khởi nguồn và đặt trên nền móng nghiên cứu rất giá trị của các tác giả

Cuối cùng xin cảm ơn các anh chị Trung tâm Đào tạo và Giáo dục Quốc tế trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội (CITE)) đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành chương trình đao Thạc sĩ Quản lý công (MPPM)

Một lần nữa em xin chân thành cám ơn!

Trang 5

TÓM TẮT

Thế giới đã bước sang cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khi mà con người ngày càng sử dụng nhiều các thiết bị thông minh và kết nối với nhau trên không gian Internet Nhiều khảo sát quốc tế đã cho thấy tỉ lệ người trẻ sử dụng các thiết bị thông minh và tham gia vào mạng xã hội ở Việt Nam rất lớn

Bên cạnh những lợi ích to lớn, nó cũng là môi trường với các mối đe dọa cho người sử dụng, đặc biệt với nhóm đối tượng trẻ em trong độ tuổi đến trường Ngoài những mối nguy hiểm do những kẻ ẩn danh thực hiện như lạm dụng hình ảnh khiêu dâm trẻ em, dụ dỗ trên mạng, đăng tải các văn hóa phẩm đồi trụy, trẻ còn phải đối mặt với hành vi bắt nạt trên mạng do chính những người mà các em quen biết thực hiện Đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới phân tích về những rủi ro này và chỉ ra tầm quan trọng của việc đưa những vấn đề này vào trong các chương trình nghị sự để xây dựng chính sách quản

lý được hoạt động trên không gian mạng

Bắc Kạn, Cao Bằng và Hòa Bình là ba tỉnh miền núi phía bắc, thuộc nhóm các tỉnh nghèo so với mặt bằng chung cả nước, người dân tộc thiểu số chiếm đa số Tuy nhiên, trẻ em ở các vùng này cũng đã tiếp cận và tham gia vào môi trường Internet khá nhiều và là đối tượng rất dễ bị lừa gạt và dụ dỗ

Do điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế, đồng thời hiểu biết của cộng đồng

về những mối nguy hại trên không gian mạng cũng rất hạn chế nên các em học sinh ở đây sẽ phải đối diện với các mối đe dọa mà thiếu vắng đi sự trợ giúp từ người lớn trong cộng đồng

Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ phân tích thực trạng Quản lý việc sử dụng mạng Internet của học sinh trung học tại các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Hòa bình Từ đó, tác giả đưa ra những khuyến nghị cho cơ quan quản lý nhà nước của ba tỉnh về các can thiệp có thể thực hiện để quản lý vấn đề này.Nghiên cứu sẽ phân tích thực trạng về hiểu biết và kĩ năng của học sinh

Trang 6

tai ba tỉnh, đồng thời phân tích những yếu tố bối cảnh xung quanh ảnh hưởng đến việc định hình hành vi của các em học sinh Từ đó đưa ra các vấn đề tồn tại cần điều chỉnh trong quản lý việc sử dụng Internet của học sinh trong thời gian tới

Trang 7

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH ẢNH iii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1 Cơ sở lý luận 8

1.1.1 Khái niệm về quản lý việc sử dụng Internet của học sinh trung học 8

1.1.2 Lý thuyết áp dụng 11

1.1.3 Các yếu tố tác động đến Quản lý việc sử dụng Internet của học sinh 22

1.2 Cơ sở thực tiễn 26

1.2.1 Brazil 26

1.2.2 Malaysia 27

1.2.3 Mauritius 29

1.2.4 Trung Quốc 30

Tiểu kết chương 1 32

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 33

2.1.1 Phương pháp phân tích lý thuyết 33

2.1.2 Phương pháp tổng hợp lý thuyết 34

2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 34

2.2.1 Phương pháp điều tra 34

2.2.2 Phương pháp quan sát 36

2.2.3 Phương pháp chuyên gia 36

2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 36

Trang 8

2.3 Những hạn chế trong phương pháp nghiên cứu 37

Tiểu kết chương 2 38

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG INTERNET CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC TẠI CÁC TỈNH BẮC KẠN, CAO BẰNG VÀ HÒA BÌNH 39

3.1 Thực trạng quản lý việc sử dụng Internet của học sinh trung học 42

3.1.1 Chính sách hiện hành và hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước 42

3.1.2 Quản lý của nhà trường 52

3.1.3 Quản lý của gia đình 54

3.2 Thực trạng việc sử dụng mạng Internet của học sinh trung học 58

3.2.1 Xu hướng của học sinh trên môi trường Internet 58

3.2.2 Suy nghĩ của học sinh trung học về Internet và MXH 60

3.2.3 Trải nghiệm của học sinh trung học khi sử dụng MXH 62

Tiểu kết chương 3 66

CHƯƠNG 4 67

KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 67

4.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 67

4.2 Đối với nhà trường 70

4.3 Đối với phụ huynh 72

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

2 GD & ĐT Giáo dục và Đào tạo

3 ISPs Các nhà cung cấp dịch vụ Internet (Internet

Server Providers)

4 LĐTB&XH Lao động, Thương binh và Xã Hội

7 OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

8 THCS & THPT Trung học cơ sở và Trung học phổ thông

10 UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên

hợp quốc

11 UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc

12 VNNIC Trung tâm Internet Việt Nam

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

2 Bảng 3.1 Tần suất sử dụng internet của học sinh 40

3 Bảng 3.2 Tỉ lệ gặp những chuyện không vui trên mạng 51

4 Bảng 3.3 Thời gian dành cho các hoạt động hàng ngày 56

5 Bảng 3.4 Tỉ lệ và tần suất sử dụng internet cho các mục

6 Bảng 3.5 Trải nghiệm của học sinh trên MXH 63

Trang 11

DANH MỤC HÌNH ẢNH

1 Hình 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng

2 Hình 3.1 Cách học sinh phản ứng với tình huống trên MXH 49

4 Hình 3.2 Cách học sinh phản ứng với tình huống trên

3 Hình 3.3 Trẻ thường hỏi ai khi sử dụng Internet 64

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu quản lý việc sử dụng Internet của học sinh trung học ở Việt Nam có tính cấp thiết về mặt thực tiễn và lý luận Về mặt thực tiễn, các mối nguy hại trên môi trường Internet đang là chủ đề được các quốc gia cũng như Việt Nam đang phải đối mặt Tại Việt Nam, viêc sử dụng Intnernet ngày càng trở nên phổ biến, học sinh ngày càng tiếp xúc với Internet nhiều hơn, ngay cả với học sinh người dân tộc thiểu số thuộc các khu vực chưa phát triển

Báo cáo “Digital in 2018 in Vietnam” của Wearesocial (2018) đã thống

kê số người sử dụng Internet và tham gia các hoạt động trên không gian mạng trên thế giới và của Việt Nam Tính đến tháng 1/2018, thế giới đã có hơn 6 tỉ người dùng, riêng Việt Nam đã có khoảng 64 triệu người sử dụng Internet trên tổng số 94 triệu dân (khoảng 67% dân số) và 55 triệu tài khoản (57% dân số) trên các trang MXH Trong khi đó, theo số liệu từ Cục Dân số năm 2018, Việt Nam có 25,2% dân số là trẻ dưới 15 tuổi, điều này cho thấy đang có rất nhiều học sinh trung học đang sử dụng Internet tại Việt Nam

Nghiên cứu về Digital kids Asia-Pacific: insights into children’s digital citizenship” của UNESCO (2019) thực hiện khảo sát 1.061 học sinh 15 tuổi tại 20 trường học từ 5 tỉnh thành ở Việt Nam (Lào Cai, Hà Nội, Đà Nẵng, Lâm Đồng và Cần Thơ) Kết quả là 42% bắt đầu sử dụng Internet từ khoảng 9 đến 12 tuổi, 28% học sinh bắt đầu sử dụng Internet trong độ tuổi từ 12 đến 15

Việc sử dụng Internet sớm đã tăng thêm nguy cơ gặp phải những rủi ro cho các em học sinh Theo báo cáo về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật

về phòng, chống xâm hại trẻ em” tháng 1/2020, giai đoạn từ 1/1/2015 đến 30/6/2019, toàn quốc phát hiện hơn 7.800 vụ xâm hại trẻ em, với gần 8.600

Trang 13

đối tượng xâm hại và số trẻ em bị xâm hại là gần 8.100 em Trong đó, số trẻ

em nữ bị xâm hại gấp 7 lần số trẻ em nam (1.059 em nam và 7.032 em nữ)

Từ năm 2010 - 2018, các cơ quan phát hiện, xử lý 319 vụ xâm hại tình dục trẻ

em sử dụng thủ đoạn mạng xã hội, và mỗi ngày, có khoảng 720.000 hình ảnh trẻ em bị xâm hại đưa lên mạng

Tuy tiếp xúc với Internet sớm nhưng các em không có được những hướng dẫn từ người lớn trong gia đình và nhà trường Theo báo cáo “Đánh giá năng lực bảo vệ trẻ em trực tuyến” của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội năm 2017, 2/3 phụ huynh không hề kiểm tra hoạt động trên mạng của con cái, và đa số phụ huynh không hề giới hạn thời gian sử dụng mạng của con mình Thiếu đi sự quan tâm của phụ huynh, những bạn trẻ đã thiếu đi các kiến thức về hoạt động trên Internet, không hiểu hết các cách thức quản lý thời gian của bản thân, không có khả năng nhận diện những rủi ro và tự bảo vệ bản thân trước những rủi ro đó Bộ môn tin học trong nhà trường hiện tập trung nhiều hơn vào việc hướng dẫn học sinh các kĩ năng văn phòng nhưng chưa có các nội dung liên quan đến việc sử dụng Internet và tự bảo vệ mình trên môi trường này

Vì vậy, việc quản lý được việc sử dụng Internet của học sinh là một việc cấp thiết có thể giúp các em, ngoài việc khai thác được tối đa những tài nguyên sẵn có trên môi trường mạng, còn có thể tự bảo vệ mình trước những mối nguy hại trên môi trường mạng, đặc biệt là trước tình trạng xâm hại tình dục qua môi trường này càng gia tăng

Về mặt lý luận, đã có các nghiên cứu sử dụng internet ở Việt Nam như:

Đề tài ước đầu nghiên cứu về thực trạng nghiện Internet của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn quận Hải Quân và Liên Chiểu - thành phố Đà N ng" của Bùi thi Huệ (2016) đã chỉ ra một số tác động tiêu cực

của internet đến giới trẻ hiện nay như: mạng internet dễ dẫn tới sự say mê,

Trang 14

lôi cuốn quá đà, ảnh hưởng đến sức khỏe, học tập và có những cách cư xử

k lạ, rơi vào chứng bệnh “nghiện internet” Theo nghiên cứu cho thấy thời gian mà giới trẻ dành cho internet càng nhiều sẽ gây nên tâm lý lo lắng cho phụ huynh càng lớn Đây là một tiêu cực xuất hiện kèm với sự phát triển của hình thức truyền thông mới trên internet, điều này tạo nên những thói quen xấu trong lối sống của giới trẻ hiện nay, cụ thể trong nghiên cứu này

Báo cáo Thanh niên dân tộc thiểu số trong không gian mạng” của tác

giả Đỗ Qu nh anh và Trương Lan Anh (2017) nghiên cứu tại tỉnh Bắc Kạn cho biết, việc sử dụng Internet không còn là điều xa lạ đối với các thanh niên dân tộc thiểu số Thế giới internetd đã mở ra cánh cổng mới để họ có thể nhanh chóng tiếp thu những tri thức mới Đồng thời, đó cũng là một phương tiện tốt để truyền thông về các chính sách pháp luật đến với cộng đồng một cách hiệu quả Tuy nhiên, đi kèm với nó mà những rủi ro trên môi trường mạng mà ngay cả những thanh niên tại các thành phố lớn, những người sử dụng khá thành thạo và tiếp xúc thường xuyên, cũng không thể tránh khỏi

Trang 15

Điều này cũng đặt ra thách thức về các cơ chế quản lý cũng như bảo vệ người

sử dụng trên môi trường mạng, đặc biệt là với trẻ em

Trong cuốn sách “Internet: Mạng lưới xã hội và sự thể hiện bản sắc”

của tác giả Nguyễn Thị Phương Châm (2013) Tác giả tập trung phân tích tác động của bối cảnh xã hội với sự đổi mới toàn diện về kinh tế - xã hội tới thực trạng và thói quen sử dụng Internet của giới trẻ qua khảo sát nhóm thanh niên (tuổi từ 16 -30) ở Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh tác giả đi sâu tìm hiểu lý do giới trẻ thể hiện bản sắc cá nhân và bản sắc nhóm hay nhu cầu

kh ng định cái tôi nhằm tạo dựng phong cách hiện đại xuất phát từ: đam mê công nghệ, ăn ngủ cùng Internet, cởi mở và thoáng trong các mối quan hệ, dễ

bị chi phối bởi tâm lý đám đông, năng động, thực tế, táo bạo, dám thể hiện bản thân, thích khám phá, sáng tạo cũng như thử nghiệm những cái mới, cái khác lạ Đặc biệt, Internet và mạng lưới xã hội thực sự mang đến những trải nghiệm đa dạng hóa thân vào nhiều vai trò, vị trí, tính cách không có thực như

đi vào một thế giới đa bản sắc, đa phong cách

Công trình này đã khai thác những vấn đề triển vọng cần nghiên cứu trong thời gian tới: Giáo dục qua Internet; Internet và sự trải nghiệm tính hiện đại; Cuộc sống online: sự hòa nhập và chia rẽ; Biên giới, ranh giới trong không gian của Internet; Phong cách sử dụng Internet; Quyền lực và Internet;

Sự bất cập trong sử dụng Internet hiện nay; Định hướng về văn hóa cho giới trẻ Qua đó, đưa ra những cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách

về phát triển, quản lý Internet, những nhà giáo dục và cả xã hội tham khảo để

từ đó có cách nhìn khách quan, chính xác hơn về văn hóa mạng góp phần xây dựng văn hóa mạng lành mạnh, phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội đương đại

Các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra các vấn đề của các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới trên đã chỉ ra rất nhiều khía cạnh khác nhau của

Trang 16

việc sử dụng Internet và các chính sách Trong đó có những báo cáo có dung

dữ liệu tại Việt Nam nhưng chỉ ở mức độ là một dữ liệu để tổng hợp và chỉ ra

xu hướng của của khu vực, cũng đã có những nghiên cứu trong nước về vấn

đề này nhưng độ tuổi tham gia nghiên cứu là từ 15 tuổi trở lên và các nghiên cứu chủ yếu được thực hiện ở các thành phố lớn, những nơi phát triển Với tốc độ phát triển của công nghệ hiện nay, Internet và thiết bị thông minh đã phủ đến cả những vùng khó khăn nhất của Việt Nam Trẻ em hiện nay đã được tiếp xúc với thiết bị thông minh từ rất sớm, và nhiều em đã sử dụng thành thạo máy tính từ cấp 2

Như vậy, mặc dù việc sử dụng Internet của học sinh ngày càng phổ biến, trong khi đó, các hình thức tấn công trên mạng Internet ngày càng tinh

vi và đa dạng, học sinh trở thành đối tượng dễ bị tấn công khi mà các em sử dụng Internet rất nhiều nhưng không hề có sự quản lý từ gia đình, nhà trường

và các cơ quan quản lý nhà nước, hơn nữa, các em không được trang bị kĩ năng tự vệ tham gia môi trường Internet, đặc biệt đối với học sinh người dân tộc

Việc nghiên cứu đề tài “Quản lý việc sử dụng Internet của học sinh

trung học tại các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Hòa Bình” trở nên hết sức cần

thiết để đề xuất các chính sách nhằm tạo ra một môi trường Internet an toàn cho học sinh và nâng cao nhận thức của học sinh về việc sử dụng Internet, từ

đó có thể nhận diện rủi ro và tự bảo vệ chính mình

Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ thực hiện đánh giá kĩ năng và nhận thức những trẻ từ 11 đến 18 tuổi, trong đó có những trẻ người dân tộc thiểu số

và vấn đề quản lý việc sử dụng Internet của học sinh thuộc ba tỉnh miền núi là Bắc Kạn, Cao Bằng và Hòa Bình để đánh giá được các vấn đề của quản lý và đưa ra các kiến nghị để cải thiện vấn đề này

Trang 17

Câu hỏi nghiên cứu

- Học sinh trung học tại ba tỉnh trên đang sử dụng mạng Internet như thế nào ?

- Thực trạng hoạt động quản lý việc sử dụng Internet của học trung học tại ba tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Hòa Bình như thế nào?

- Những hành động can thiệp mà các cơ quan quản lý nhà nước có thể thực hiện ?

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung vào hai mục tiêu chính như sau :

1- Đánh giá việc quản lý sử dụng Internet của học sinh trung học thuộc địa bàn nghiên cứu tại ba tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng Và Hòa Bình ở các góc độ :

a Chính sách pháp luật và kết quả thực tế việc quản lý

b Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt quản lý

c Thực trạng nhận thức của học sinh về việc sử dụng Internet

2 – Đưa ra những khuyến nghị về những can thiệp mà các cơ quan quan quản lý nhà nước tại ba tỉnh như UBND cấp tỉnh/thành phố/huyện, Sở/Phòng GD&ĐT và các phòng GD&ĐT, Phòng VH-TT, Hiệu trưởng các trường trung học có thể thực hiện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu : Các quy định và hoạt động quản lý của UBND cấp tỉnh/thành phố/huyện, Sở/Phòng GD&ĐT, Sở/Phòng VH-TT, hiệu trưởng các trường THCS & THPT đối với việc sử dụng Internet của học sinh trung học

- Phạm vi nghiên cứu :

+ Về không gian : Đề tài được nghiên cứu tại ba tỉnh Hòa Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn

Trang 18

+ Về thời gian : Đề tài này được thực hiện với bộ dữ liệu thu thập được trong khoảng thời gian trong năm 2019

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

+ Phương pháp phân tích lý thuyết: tác giả phân tích các tài liệu, báo cáo về môi trường Internet, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng Internet của học sinh

+ Phương pháp tổng hợp lý thuyết: Sử dụng các nghiên cứu quốc tế để

có bức tranh toàn cảnh việc quản lý sử dụng Internet của học sinh trên thế giới và các vấn đề mà Việt Nam sẽ phải đối mặt, từ đó xác định tầm quan trọng của việc quản lý và áp dụng bài học quốc tế cho Việt Nam

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp điều tra: tác giả sử dụng phiếu điều tra trên 1920 học

sinh, 25 phụ huynh để đánh giá việc sử dụng Internet của học sinh và quản lý của gia đình

+ Phương pháp quan sát: tác giả quan sát thực tế các bối cảnh xung quanh tác động đến việc sử dụng Internet của trẻ và giải thích được những hạn chế trong quản lý

+ Phương pháp chuyên gia: tác giả phỏng vấn một số giáo viên, hiệu trưởng và các bộ phòng giáo dục, sở giáo dục về hoạt động quản lý việc sử dụng Internet của học sinh

+ Phương pháp phân tích thông tin: Phân tích các dữ liệu đã thu thập

trên

5 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn gồm 4 chương :

Chương 1 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng quản lý việc sử dụng Internet của học sinh trung

học tại các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Hòa Bình Chương 4 Khuyến nghị chính sách

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm về quản lý việc sử dụng Internet của học sinh trung học

Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công

cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP) Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân và các chính phủ trên toàn cầu

Theo từ điển tiếng Việt, nghĩa của từ sử dụng là lấy làm phương tiện để

phục vụ nhu cầu, mục đích nào đó Theo định nghĩa này, sử dụng mạng Internet có nghĩa là khai thác, tìm kiếm các tài nguyên của mạng Internet để

phục vụ một nhu cầu hay mục đích nào đó, cụ thể như giải trí, học tập, làm với Trong đề tài này, tác giả xem x t khái niệm sử dụng mạng Internet trên các khía cạnh mục đích, thời gian sử dụng, địa điểm, cách thức sử dụng, thời gian và tần suất sử dụng

Sự ra đời của Internet đã làm thay đổi cả thế giới với những tiện ích khổng lồ mà nó mang lại như việc truy cập dữ liệu, tìm kiếm thông tin, liên lạc….Với sự phát triển công nghệ, ngày càng có nhiều ứng dụng ra đời giúp cuộc sống trở nên thuận tiện hơn khi chỉ cần ngồi một chỗ có thể thực hiện rất nhiều hoạt động như làm việc, mua sắm, đọc tin tức ở các vùng địa lý cách trở Số lượng người dùng Internet cũng vì thế mà ngày càng tăng cao ở nhiều lứa tuổi, đặc biệt với nhóm trẻ trong độ tuổi đi học Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào nhóm đối tượng là trẻ trong độ tuổi đi học tại các trường trung học

Trang 20

Cấp trung học tại Việt Nam được chia là hai cấp là Trung học cơ sở (THCS) và Trung học phổ thông (THPT) Trong đó, độ tuổi theo học cấp THCS là từ 11-15 tuổi (tương ứng từ lớp 6 đến lớp 9) và độ tuổi theo học cấp THPT là từ 16-18 (tương ứng từ lớp 10 đến lớp 11) Tuy nhiên, có những em

đi học sớm hơn và cũng có những em đi học muộn hơn

Như vậy, học sinh trung học là trẻ đang theo học tại các trường học cấp

THCS và THPT, độ tuổi là từ 11 – 18 tuổi, có thể hơn hoặc kém một chút do việc học sớm hoặc muộn

Đối với học sinh cấp THCS và THPT thì việc học tập vẫn là hoạt động chủ đạo, nhưng cũng là giai đoạn các em có sự phát triển về tâm sinh lý Đây

là độ tuổi rất nhanh nhạy với những cái mới Đồng thời các em khao khát muốn có những quan hệ bình đ ng trong cuộc sống và có nhu cầu sống cuộc sống tự lập Tính tự lập của các em thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành vi, tự lập

về tình cảm và tự lập về đạo đức, giá trị Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh Chính những đặc điểm tâm sinh lý trên cũng là điều kiện thuận lợi giúp các em tiếp cận nhanh mới mạng Internet và

sử dụng mạng Internet với những mục đích khác nhau

Để có thể quản lý được việc sử dụng Internet của học sinh, cần phải có

sự tham gia của nhiều bên Chủ thể của quản lý trong nghiên cứu này là các chủ thể của quản lý là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chính vì vậy, cần nhìn vấn đề ở góc độ quản lý công

Quản lý công (Pubblic Management) là một cách tiếp cận để điều

hành các tổ chức dịch vụ công được sử dụng trong các tổ chức và cơ quan dịch vụ công và chính phủ, ở cả cấp địa phương và quốc gia Thuật ngữ này lần đầu tiên được giới thiệu bởi các học giả ở Anh và Úc để mô tả các phương pháp được phát triển trong những năm 1980 như là một phần của nỗ lực làm

Trang 21

cho dịch vụ công trở nên hiệu quả hơn bằng cách sử dụng mô hình quản lý khu vực tư nhân

Trước đó, thế giới dùng cách tiếp cận Hành chính công (Public Administration) để điều hành khu vực công Thuật ngữ “hành chính” (administration) có nghĩa hẹp hơn so với thuật ngữ “quản lý” (management) Trong lĩnh vực công, “hành chính công” và “quản lý công” cũng có ý nghĩa khác nhau Hành chính công đề cập đến thủ tục, quy trình để thực hiện chính sách đã được hoạch định bởi người khác thành hành động cụ thể trong thực tế quản lý, điều hành Trong khi đó quản lý công được hiểu theo nghĩa rộng hơn, ngoài việc bao gồm quy trình, thủ tục hành chính, quản lý công còn liên hệ tới việc xác định ai, tổ chức nào sẽ thực hiện và chịu trách nhiệm về việc đảm bảo đạt được mục tiêu, kết quả mà nhà hoạch định chính sách đã đề ra

“Trong khi hành chính có nghĩa là tuân thủ các quy định thì quản lý có nghĩa

là đạt kết quả và chịu trách nhiệm về việc đó” (Hughes, 2012, Tr 33) Vì vậy,

sự thay đổi từ “hành chính công’” sang “quản lý công” được coi là sự thay đổi lớn về học thuyết và thực tế trong việc quản lý đối với lĩnh vực công Ngày nay, thuật ngữ Quản lý công được sử dụng phổ biến, ngược lại Hành chính công ít được sử dụng hơn

Bozeman và Straussman cho rằng quản lý công thành công “chắc chắn đòi hỏi phải có cảm giác về chiến lược”; quản lý công có phạm vi rộng hơn, thống nhất hơn, và ít được xác định rõ bởi chuyên môn chức năng như hành chính công Quản lý công “trong một chừng mực nào đó, là việc quản lý môi trường bên ngoài của tổ chức (Bozeman và Straussman, 1990, Tr 214)

Học sinh là những đối tượng nằm ngoài các cơ quan nhà nước, việc sử dụng Interet của học sinh không thể chi phối trực tiếp thông qua các chính sách pháp luật Việc sử dụng Internet của học sinh bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố xung quanh Hiện nay, chưa có khái niệm cụ thể về vấn đề Quản lý

Trang 22

việc sử dụng Internet của học sinh Tuy nhiên, nói về quản lý xã hội, theo tác

giả Đỗ Hoàng Toàn, “Quản lý xã hội là sự tác động liên tục, có tổ chức của

chủ thể quản lý xã hội lên xã hội và các khách thể có liên quan, nhằm duy trì

và phát triển xã hội theo các đặc trưng và các mục tiêu mang tính xu thế phát

triển khách quan của xã hội” (Đỗ Hoàng Toàn, 2000, Tr.61)

Với định nghĩa trên, theo tác giả, quản lý việc sử dụng internet của học sinh là quá trình tác động liên tục và phù hợp của các cơ quan quản lý nhà

nước, phụ huynh và nhà trường đến hành vi sử dụng Internet là học sinh nhằm giáo dục và bảo vệ học sinh khỏi những mối nguy hại trên môi trường Internet; nâng cao kĩ năng và điều chỉnh thái độ của học sinh khi sử dụng Internet phù hợp mục tiêu mà Đảng và nhà nước đề ra

Theo cách hiểu này, đối tượng quản lý là học sinh và chủ thể của hoạt động quản lý gồm các cơ quan nhà nước, gia đình, trường học và các tổ chức cung cấp dịch vụ Internet Trong phạm vi ba tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Hòa Bình thì các chủ thể nhà nước bao gồm: UBND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; Sở và phòng LĐTBXD; Phòng Văn hóa và Thông tin; Sở và Phòng GD&DT

1.1.2 Lý thuyết áp dụng

1.1.2.1 Lý thuyết xã hội hóa

Thuyết Xã hội hóa ra đời gắn liền với tư tưởng của các nhà xã hội học người Mỹ như: Neil Smelser, Fichter Vai trò của cá nhân khi tham gia vào quá trình xã hội hóa là điểm trung tâm của Lý thuyết xã hội hóa Theo đó, tất

cả các cá nhân đều học cách cách ứng xử , giao tiếp với những người khác để đáp ứng lại những trông đợi từ cộng đồng mà họ đang sinh sống

Thông qua quá trình xã hội hóa, con người hình thành nên tính cách của mình, học được cách ứng xử trong một xã hội hay một nhóm Nói cách khác, chính là quá trình con người sinh vật học hỏi để trở thành con người xã

Trang 23

hội Như Vậy, xã hội hoá bắt đầu từ khi con người ta sinh ra và chỉ kết thúc khi con người không còn tồn tại

Như Vậy, xã hội hoá là quá trình tiếp nhận nền văn hóa của xã hội nhờ đó chúng ta hình thành nên lối tư duy và ứng xử phù hợp với cộng đồng mà ta sinh

Xã hội hoá cũng được chuyển giao giữa các thế hệ, và đó là cách thức mà các cá nhân hòa nhập với cộng đồng của mình, thể hiện những trải nghiệm của mình và

xử sự theo những hành vi mà họ được học từ những người lớn trong gia đình Thông qua quá trình xã hội hoá, con người chấp nhận và thích nghi với những quy tắc của xã hội, sử dụng chúng để quy định hành vi của mình

Thông qua quá trình học hỏi, giáo dục và truyền thông, đã khiến các môi trường xã hội xung quanh có ảnh hưởng quyết định đối với mỗi cá nhân Bàn về xã hội hoá, các nhà nghiên cứu thường quan tâm đến bốn môi trường

xã hội hoá quan trọng sau: Gia đình; Nhà trường, và các tổ chức xã hội; Nhóm xã hội; Các phương tiện truyền thông đại chúng

Môi trường xã hội hoá: Gia đình

Gia đình là nền tảng ban đầu của mỗi cá nhân Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, chúng ta đã học hỏi và bước vào quá trình xã hội hóa, điều này có ảnh hưởng quyết định tới thái độ và hành vi khi đã lớn, cho nên gia đình, như là nhóm người hướng dẫn đầu tiên với mỗi cá nhân trong mọi xã hội, nên nó có tầm quan trọng chính yếu

Mỗi người đều trải qua một quá trình sinh trưởng cùng với gia đình trước khi trở nên độc lập Để trở thành những thành viên xã hội một cách đầy đủ, gia đình, như một môi trường xã hội đầu tiên là nơi cá nhân tiếp xúc và trải qua quá trình xã hội hoá của mình, ở đó, mỗi người được học để biết mình là ai, mình cần trở thành người như thế nào, và phải biết đối xử với người khác ra sao

Nhà trường và các t chức xã hội ngoài gia đình

Các tổ chức xã hội, đặc biệt là nhà trường, có tầm quan trọng ngày

Trang 24

càng tăng trong quá trình xã hội hoá của mỗi cá nhân Khi một đứa trẻ tới trường, học sinh không chỉ tiếp thu các kiến thức mà cả những quy tắc và những cách thức quy định hành vi Những quy tắc ứng xử với thầy cô, bạn bè trong nhà trường

Nhóm xã hội

Bên cạnh gia đình và các tổ chức, các nhóm xã hội (đặc biệt là nhóm bạn) cũng là môi trường xã hội hoá quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của mỗi cá nhân

Khi đến trường, các cá nhân bắt đầu có những mối quan hệ khác trong mạng lưới quan hệ của mình ngoài gia đình, nhân đặc biệt là nhóm tương đương trong giai đoạn vị thành niên (nhóm bạn bè), vì trong giai đoạn này, các nhóm vị thành niên tạo điều kiện cho cá nhân chấm dứt sự phụ thuộc vào người lớn và thiết lập một vị thế xã hội bình đ ng mà từ trước tới giờ mỗi cá nhân chưa có được Các nhóm bạn cũng được hình thành theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung, thường bạn bè là ngang tuổi với nhau Trong những nhóm bạn này sẽ hình thành nên những quy tắc và chuẩn mực của nhóm, đồng thời qua đó các cá nhân học hỏi nhiều từ những người bạn của mình Việt Nam cũng có câu thành ngữ hướng dẫn cá nhân vào việc này:

“Học thầy không tầy học bạn”

Truyền thông đại chúng

Truyền thông đại chúng ngày càng phát triển đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống xã hội Sự phát triển của truyền thông đã đưa nó trở thành nguồn cung cấp kinh nghiệm cũng như kiến cho cộng đồng và các cá nhân

Khi nói đến truyền thông đại chúng, chúng ta thường nghĩ tới một dạng thiết chế dùng để phục vụ sự trao đổi thông tin, giao lưu tư tưởng, giải trí Trên thực tế, những gì mà truyền thông đại chúng mang lại cho chúng ta nhiều hơn chúng ta tưởng "truyền thông cung cấp cho chúng ta kinh nghiệm

Trang 25

gián tiếp về các sự kiện và quá trình xẩy ra vượt quá kinh nghiệm xã hội của chúng ta Chúng ta ngày càng "biết" nhiều hơn, và được khuyến khích để làm như vậy thông qua các kinh nghiệm trung gian ở tivi, phim ảnh, radio, báo chí, sách" (Bilton, 1993, Tr.382) Bên cạnh đó một cách có chủ định, truyền thông đại chúng trở thành một cái chung, một cái để mọi so sánh có thể dựa vào, qua đó tạo nên sự hiểu biết chung cho mọi người, làm cho mối quan hệ giữa con người - con người và con người - sự vật trở nên gần gũi với nhau hơn Thực tế này chỉ cho chúng ta thấy rằng truyền thông đại chúng "không đơn giản cung cấp thông tin phản ánh thế giới xã hội con người, mà đúng ra chúng cấu trúc thế giới đó cho chúng ta, không chỉ bằng cách gia tăng tri thức của chúng ta về thế giới mà còn giúp chúng ta "có ý thức về nó"" (Bilton, Tr.382)

Đặc biệt trong thời điểm này, các trang mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, đem lại cho con người khả năng kết nối rộng lớn và dễ dàng tiếp xúc với thông tin trên toàn thế giới Thậm chí, MXH còn có thể thay thế chức năng báo chí với các thông tin nóng hổi được đăng lên bởi chính những người sử dụng khác Các đơn vị truyền thông đại chúng như báo chí và truyền hình hiện nay cũng đã phát triển mạnh các trang báo mạng và các tài khoản trên MXH để đáp ứng thị hiếu của người dùng và theo kịp sự phát triển của công nghệ

Ứng dụng lý thuyết xã hội hóa vào lý giải hoạt động sử dụng mạng Internet của học sinh cấp trung học có thể thấy rằng: Các môi trường xã hội hóa đều có những tác động nhất định đến việc sử dụng mạng Internet của học sinh Trong đó, đặc biệt là các môi trường xã hội hóa nhóm xã hội (nhóm bạn bè) Khi trong nhóm đều có những hoạt động chung như cùng tham gia Facebook, cùng chơi game online thì các các nhân trong nhóm cũng sẽ tham gia hoặc biết về những điều này để tránh sự lạc lõng trong nhóm Thông qua MXH, các cá nhân tiếp thu thông tin theo những cách riêng của mình tu vào hoàn cảnh sống, những khả năng cá nhân, những điều kiện kinh tế - xã hội -

Trang 26

chính trị mà họ chịu sự chi phối

Với tiếp thu tri thức, thông tin qua truyền thông đại chúng ngày càng trở nên quan trọng đối với cá nhân trong quá trình xã hội hoá của họ vì sự phát triển của thông tin hướng tới một xã hội thông tin Trong xã hội thông tin, con người có xu hướng tiếp xúc với nhau theo cách gián tiếp Khoảng cách về không gian và thời gian được thu hẹp nhưng người ta lại đặt nhiều vấn đề về sự tiếp xúc mặt đối mặt Rõ ràng là kiểu tiếp xúc này có những tác dụng nhất định trong quá trình xã hội hoá nói riêng và trong các sinh hoạt xã hội khác nói chung, nhưng đây dường như lại là một xu hướng tất yếu của xã hội hiện đại

Hành động xã hội trước hết nó là một hành vi cụ thể của cá nhân hoặc nhóm, nhưng hành vi đó mang một ý nghĩa, một giá trị và hướng đến một đối tượng khác, đó chính là lúc hành vi đó đã mang tính xã hội Hành động xã hội mang tính duy lý, tức là cá nhân căn cứ vào các giá trị chuẩn mực xã hội để điều chỉnh hay tiếp nhận khi hành động

Định nghĩa hành động xã hội

“Một hành động xã hội là một hành động của một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá nhân đó tính đến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi hành động đó” (theo Bùi

Trang 27

Thế Cường, 2008) Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng có thể có từ những người khác thì không phảilà hành động xã hội

Phân loại hành động xã hội:

Hành động hợp lý về mục đích: Loại hành động này căn cứ vào những mong đợi của đối tượng bên ngoài và coi đó là phương tiện để đạt được mục đích Hay đó chính là với người hành động phải suy nghĩ và quyết định xem chọn mục đích nào, phương tiện nào để đạt được mục đích

Hành động hợp lý về giá trị: Là hành động mà chủ thể luôn hướng đến những giá trị xã hội

Hành động hợp lý theo truyền thống: Đó là những hành động tuân thủ theo những theo thói quen, nghi lễ, phong tục, của truyền thống Ví dụ như

tổ chức đám giổ linh đình, mê tín dị đoan

Hành động hợp lý theo cảm xúc: Là hành động tự phát, không có sự cân nhắc, không theo quy luật, không có sự phân tích mà hoàn toàn phụ thuộc vào cảm xúc chủ quan

Weber cho rằng tất cả các loại hành động của con người đều có thể chia vào nhóm một trong bốn loại hành động đã nêu trên Tuy nhiên, một hành động có thể thuộc nhiều hơn một nhóm vì điều này còn phụ thuộc các bối ảnh xung quanh hành động Bốn loại hành động này không phải độc lập với nhau

mà chúng đan xen, bổ trợ và đặc biệt trong thực tiễn ranh giới giữa các hành động không phải lúc nào cũng có thể minh định được

Khả năng áp dụng lý thuyết hành động xã hội trong nghiên cứu này Trên cơ sở những phân tích trên, khi xem lý thuyết hành động xã hội là một phương pháp luận trong nghiên cứu này chúng ta có thể nhận thấy thực tế với ứng dụng trong luận giải một số nội dung sau: Một cá nhân khi thực hiện một hành động nào đó đều gắn vào hành động đó một ý nghĩa nhất định, một mục tiêu nhất định Hành động sử dụng mạng Internet của học sinh cũng là một

Trang 28

hành động xã hội mà thông qua hành động này, mỗi cá nhân mong muốn sẽ đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của họ như nhu cầu tìm kiếm thông tin, giải trí, giao tiếp, trao đổi thông tin Và hơn thế nữa, trong xã hội hiện đại, thì với sử dụng mạng Internet còn là một việc hiển nhiên Vì vậy, nếu muốn hướng các em

sử dụng Internet cho những mục đích tốt, chúng ta không nên có những quan điểm tiêu cực như ngăn cấm hay cản trở mà giúp các em học sinh mà nên coi đó như một hoạt động thông thường trong sinh hoạt hàng ngày

1.1.2.3 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Internet của học sinh

Để lý giải các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Internet của học sinh trung học, tác giả lựa chọn lý thuyết xã hội hóa và lý thuyết hành động xã hội Trong các khung phân tích được áp dụng, khung phân tích về bối cảnh sử dụng Internet của trẻ là phù hợp nhất với hai lý thuyết trên

Khung phân tích này được phát triển bởi Sonia Livingstone và Leslie Haddon (2009) để tổng hợp và giải thích về các yếu tố tác động, sự khác biệt của từng quốc gia, ảnh hưởng đến cách tiếp cận và sử dụng các thiết bị công nghệ của học sinh Mặc dù khung lý thuyết này được áp dụng để giải thích về

sự khác biệt của trẻ em và thanh thiếu niên khi sử dụng Internet giữa các quốc gia tại Châu Âu, tuy nhiên nó cũng tất hữu ích khi áp dụng cho các nước đang phát triển như Việt Nam, ít nhất ở việc là các ví dụ minh họa để thấy các yếu

tố bối cảnh có khả năng định hình những rủi ro mà thanh thiếu niên sẽ gặp phải khi sử dụng Internet

Trang 29

Hình 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Internet của trẻ

(Nguồn: EU Kids Online: Final Report)

Việc áp dụng đầy đủ các yếu tố như trong bảng trên nằm ngoài phạm vi bài nghiên cứu, hơn nữa, việc thiếu các dữ liệu cũng không cho ph p tác giả đưa ra được các phân tích toàn diện Dưới đây, tác giả lựa chọn các cạnh (bối cảnh kinh tế và công nghệ; giáo dục và văn hóa; pháp lý và chính trị) và cung cấp cái nhìn tổng quan về cách các nhóm trên tác động đến trẻ em ở các vấn

đề như: việc truy cập và sử dụng Internet; Kĩ năng khi tham gia môi trường Intenet Có minh họa bằng các bằng chứng từ những nước phát triển

Bối cảnh thị trường

Rủi ro và cơ hội của việc sử dụng Internet được hình thành nhờ sự đa dạng về đặc điểm của từng cá thể ở khả năng truy cập và sử dụng các ứng dụng công nghệ Sự khác nhau này xuất hiện bởi điều kiện kinh tế, xã hội và bối cảnh công nghệ mà cá nhân đang sinh sống trong đó Tình trạng kinh tế đóng vai trò quyết định trong đánh giá khả năng truy cập và sử dụng Internet,

Trang 30

đặc biệt với các vùng đang phát triển, nơi mà việc truy cập Internet chưa phổ biến Dựa vào cơ sở hạ tầng và xem x t thống kê vẫn cho thấy những sự khác biệt lớn giữa các châu lục, khu vực và quốc gia khi xem x t khả năng truy cập băng thông rộng (ITU-D, 2009) Mặc dù giá truy cập Internet băng thông rộng vẫn khá cao ở các nước đang phát triển nhưng trong đó vẫn có Ấn Độ và Trung Quốc đang tiến rất gần với các nước thuộc khối OECD về việc sử dụng Internet và truy cập băng thông rộng Dưới đây là hai ví dụ về chủ đề này:

Sự khác biệt rõ rang nhất giữa quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển thể hiện ở phương tiện truyền thông kĩ thuật số mà thanh thiếu niên đang sử dụng Điện thoại di động đã nhanh chóng trở thành công cụ cơ bản tại các quốc gia đang phát triển, kể cả những quốc gia k m phát triển nhất Thực

tế, những nơi có thị trường điện thoại di động phát triển mạnh nhất chính là ở các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là ở Châu Á và Châu Phi (ITU/UNCTAD 2007) Sự phát triển của thị trường điện thoại không đi kèm với sự an toàn, ví dụ như, việc này đã tạo điều kiện phát sinh các hình thức khai thác mới cho tệ nạn khiêu dâm trẻ em và hạn chế đi sự kiểm soát của phụ huynh với con em của mình

Ngoài ra, các số liệu thống kê cho thấy sự khác biệt quan trọng giữa các quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển là mối liên hệ giữa xã hội

và nền kinh tế ở góc độ vi mô; thu nhập và địa điểm truy cập Internet Đối với phương tây và các nước phát triển ở Châu Á, nhà riêng là nơi có thời lượng truy cập Internet nhiều và liên tục nhất, lặp đi lặp lại, trong khi đó lại không phải nơi được sử dụng nhiều tại các quốc gia đang phát triển Các số liệu hiện tại chưa chỉ ra được bức tranh rõ ràng về vị trí truy cập thường xuyên chung nhất ở các quốc gia đang phát triển Nhưng ở một số quốc gia, như Brazil và Thái Lan, thì thể hiện lượng truy cập cao nhất ở các trung tâm thương mại, trong khi một số khác lại thể hiện người truy cập thường tập trung ở địa điểm

Trang 31

có Internet công cộng hoặc miễn phí khác như trường học và trung tâm cộng đồng (ITU, 2008, Tr19)

Tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể, sự khác biệt quan trọng giữa những người đang cung cấp dịch vụ sử dụng mạng Internet trên thị trường là sự an toàn nói chung và hành vi nói riêng Báo cáo của một số quốc gia đang phát triển, ví dụ ở Philippine, lại nhấn mạnh vai trò của quán cà phê Internet Theo như trường hợp nghiên cứu của UNICEF Philippine, người lớn và thanh niên đều đến các quán cà phê Internet để truy cập các nội dung liên quan đến tình dục, xu hướng này đã dẫn đến ý tưởng liên kết các bên liên quan nhằm thiết lập các quán cà phê Internet thân thiện với trẻ em (UNICEF Philippines,

2007, tr.10) Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hình thức này sẽ có mặt trái là những người sử dụng Internet tại các địa điểm này sẽ bị giám sát nội dung để đảm bảo tuân thủ quy tắc và tập quán địa phương

Bối cảnh Văn hóa và gia đình

Một phần quan trọng thứ hai của ngữ cảnh ở vĩ mô đã định hình kĩ năng và thái độ của thanh thiếu niên khi sử dụng và truy cập vào Intenet chính

là văn hóa và giáo dục Một loạt các yếu tố văn hóa khác cũng sẽ định hình bức tranh về vấn đề trực tuyến của trẻ Một số yếu tố chung (giới tính và đạo đức) và các các quan niệm từ lúc nhỏ sẽ định hình cách người lớn hướng dẫn con mình sử dụng các Internet

Một yếu tố quan trọng cần tính đến khi xem x t việc sử dụng Internet

và sự khác biệt giới tính Thống kê toàn cầu cho thấy tỷ lệ sử dụng Internet của hai giới tính là tương đương nhau trong cả hai nhóm tuổi từ 2-14 tuổi và 15-24 tuổi (ITU,2008, tr 23) Tuy nhiên, vẫn có những bằng chứng cho thấy

sự chênh lệch về giới sẽ đúng với một số quốc gia đang phát triển Ví dụ, một báo cáo quốc gia của Nigeria về việc tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin của phụ nữ Báo cáo đã chỉ ra các rào cản văn hóa trong gia đình và nhà

Trang 32

trường đã ảnh hưởng đến chênh lệch giới tính trong giáo dục nói chung và vấn

đề giáo dục về công nghệ thông tin nói riêng Trong một trích dẫn của báo cáo,

số liệu được ghi nhận từ hai quán Internet cho thấy, có chưa đến 20% số người đến quán và ngồi trước máy tính tại đó là nữ và hầu hết họ ngồi cạnh một bạn nam, là người sử dụng chính (Josephine Nkiru Alumanah, 2005, Tr 25)

Bối cảnh Giáo dục và trường học

Đã có nhiều nghiên cứu khác nhau chỉ ra mối liên hệ giữa giáo dục và việc sử dụng Internet của trẻ em Có một nghiên cứu đã giải thích sự khác nhau của việc sử dụng Internet của trẻ nằm ở học vấn, ở nơi có mặt bằng học vấn cao hơn thì sẽ có tỉ lệ sử dụng Internet cao hơn (Livingstone và Haddon,

sử dụng Internet chưa được cung cấp nhiều mặc dù sáng kiến này đang được lan rộng (Livingstone và Haddon, 2009, Tr 21)

Bối cảnh Chính sách và pháp luật

Chính sách và pháp luật thường bao hàm nhiều khía cạnh và khó để đo lường được mức độ ảnh hưởng của nó đến các điều kiện và mô hình sử dụng Internet; thái độ và kĩ năng sử dụng Internet Nhưng trong các nghiên cứu quốc gia về tình hình trực tuyến của trẻ em ở Châu Âu lại cho thấy một mối

Trang 33

quan hệ giữa mức độ phổ cập của Internet với nhận thức về các rủi ro thông qua việc quan sát các quốc gia có Internet phổ biến, dường như các sáng kiến

để phổ cập kiến thức và nhận diện rủi ro trên môi trường Internet lại được ưu tiên trong các chương trình chính sách (Livingstone và Haddon, 2009, Tr 21) Các truyền thống pháp lý, cách tiếp cận, kỹ thuật pháp lý và việc thực thi pháp luật trong thực tế cũng sẽ là bối cảnh định hình lên bức tranh về vấn đề

an toàn trên mạng với trẻ em Theo một nghiên cứu tại Châu Âu, các quốc gia

có cách tiếp cận vấn đề một cách tự do hơn, tức là ít có can thiệp của chính sách hơn lại là môi trường có nhiều rủi ro hơn với trẻ (Livingstone và Leslie Haddon, Tr 21)

Tầm quan trọng của việc xây dựng nhận thức như là một phần của chương trình nghị sự chính sách công được mô tả một cách mẫu mực trong một báo cáo khu vực về hình ảnh lạm dụng tình dục trẻ em ở Belarus, Moldova, Nga và Ukraine Nghiên cứu tóm tắt như sau: Các quốc gia được nghiên cứu đang phải đối mặt sự gia tăng nhanh chóng các công nghệ thông tin và truyền thông được hỗ trợ bởi các chính sách của chính phủ đang tích cực thúc đẩy sự phát triển đáng kể của Internet trên toàn quốc và đặc biệt là trong các lĩnh vực giáo dục Do đó, ngày càng nhiều trẻ em sử dụng Internet, tạo ra những cơ hội mới để học hỏi và chia sẻ thông tin hoặc giao tiếp trên toàn thế giới Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến ngày càng có nhiều trường hợp tấn công tình duc, đặc biệt là các biện pháp phòng ngừa và bảo vệ không được đưa vào một cách có hệ thống ở các quốc gia được nghiên cứu ở giai đoạn đầu phát triển CNTT (ECPAT International, 2008, Tr.8)

1.1.3 Các yếu tố tác động đến Quản lý việc sử dụng Internet của học sinh

Báo cáo “Children in Digital world” của UNICEF (2017) đã chỉ ra vấn

đề sử dụng Internet của trẻ em các nước đang phát triển ở Châu Á và Châu Phi cũng không còn là điều gì quá mới mẻ, tuy một số nơi có điều kiện k m

Trang 34

về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất, kinh tế còn chưa phát triển nên trẻ em không có các thiết bị thông minh và không có nhiều cơ hội sử dụng Internet nhưng việc tiếp cận với nó là điều tất yếu và hầu như các em đều đã biết đến

và được tiếp xúc Báo cáo này cũng chỉ ra những nguy hiểm các em sẽ đối mặt, từ đó đưa ra hệ thống giải pháp đề suất dành cho các quốc gia, trong đó quan trọng hàng đầu vẫn là các chính sách giáo dục các em để trẻ có thể tự bảo vệ mình, bên cạnh vai trò của nhà nước và các tổ chức

Trong cuốn sách “Children, risk and safety on the Internet: research and policy challenges in comparative perspective” của Sonia Livingstone, Leslie Haddon và Anke Görzig Bristol (2012) Các tác giả đã nghiên cứu trên 25,000 trẻ em ở Châu Âu, từ đó chỉ ra những trải nghiệm tiêu cực và những vấn đề mới mà các đang gặp phải trên môi trường Intenet Nhìn chung, trẻ dù được tiếp xúc với Internet khá sớm nhưng cũng vẫn thiếu khá nhiều kĩ năng

để tự bảo vệ mình trong bối cảnh thời điểm đó và những hình thái khác trong tương lai Từ đó chỉ ra những vấn đề về chính sách và những lỗ hổng trong quy trình bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, đồng thời đề xuất những điều chỉnh áp dụng trên toàn Châu Âu và từng quốc gia và đánh giá lại hiệu quả các chính sách đã có để chuẩn bị cho tương lai khi vấn đề này ngày càng phát triển hơn

Trong cuốn “Working Towards a Deeper Understanding of Digital Safety for Children and Young People in Developing Nations” của các tác giả Urs Gasser, Colin Maclay, John Palfrey (2010) Việc bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng không còn chỉ là giáo viên hay phụ huynh phải suy nghĩ mà ngay cả những nhà nghiên cứu chính sách, những người xây dựng chính sách cũng cần phải quan tâm vì sự phát triển trong tương lai của quốc gia Những mối nguy hiểm trên môi trường mạng sẽ là thách thức chung mà cả thế giới phải đối mặt, đặc biệt là với những quốc gia đang phát triển

Trang 35

Báo cáo “EU Kids Online” của tác giả Sonia Livingstone and Leslie Haddon (2009), nhóm tác giả đã chỉ ra mối tương quan của bối cảnh xã hội ở

vĩ mô ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi sử dụng của trẻ em tại các nước Châu Âu Trong đó, vai trò của nhà nước trong việc ban hành chính sách và đưa vấn đề này vào trong các chương trình nghị sự xây dựng chính sách công nên được ưu tiên đặc biệt với các nước đang phát triển trong bối cảnh sự phát triển của phương tiện truyền thông kỹ thuật số

Trong nghiên cứu “Securing the next generation: enhancing e-safety awareness among young people” của tác giả Megan, Egan, Bare, Young và Elizabeth (2009) thực hiện tại mỹ, kết quả cho thấy: “Tất cả các nhóm đã chọn phụ huynh làm ứng cử viên tốt nhất để dạy về an toàn trên internet Trong số các giáo viên, 97% xếp hạng phụ huynh là ứng cử viên lựa chọn đầu tiên của họ và 3% xếp giáo viên là lựa chọn đầu tiên Trong số các bác sĩ, 97% phụ huynh xếp hạng là ứng cử viên lựa chọn đầu tiên và 3% xếp hạng giáo viên là lựa chọn đầu tiên Trong số các phụ huynh, 96% tự xếp mình là ứng cử viên lựa chọn đầu tiên và 4% xếp hạng giáo viên là lựa chọn đầu tiên Trong số thanh thiếu niên, có nhiều câu trả lời hơn Hầu hết thanh thiếu niên,

có 74,7% xếp phụ huynh là ứng cử viên lựa chọn đầu tiên, 13,8% giáo viên xếp hạng là lựa chọn đầu tiên, 5,7% xếp hạng thực thi pháp luật là lựa chọn đầu tiên, 1,5% cộng đồng xếp hạng là lựa chọn đầu tiên, 3% xếp nhà thờ là lựa chọn đầu tiên và 3% được viết trong câu trả lời về việc làm một bộ phim liên quan đến an toàn trên mạng hoặc tạo ra một bài thuyết trình về an toàn trên mạng” Như vậy, nghiên cứu kết luận rằng phụ huynh là đối tượng tốt nhất để quản lý và dạy học sinh về Internet

Dựa vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu đã có, tác giả nhận định các yếu tố tác động đến vấn đề quản lý việc sử dụng Internet của học sinh trung học bao gồm:

Trang 36

- Thái độ và nhận thức của học sinh: học sinh tiếp xúc với Internet dễ

dàng thông qua các thiết bị thông minh Trong hoàn cảnh các phụ huynh bận rộn với công việc và cũng là những người mới trong môi trường này, học sinh thường tự học và trải nghiệm hoặc qua hướng dẫn từ bạn bè Việc quản lý được các em phụ thuộc nhiều vào thái độ của học sinh đối với môi trường này

và thái độ của các em trước các quy định quản lý Theo Lý thuyết hành động

xã hội thì thái độ này lại liên quan đến quá trình trải nghiệm của học sinh, chính vì những trải nghiệm và cảm nghĩ của học sinh về Internet sẽ ảnh hưởng đến việc tuân thủ các quy định quản lý và ý thức áp dụng những gì được học

- Giáo dục từ gia đình và nhà trường: đây là hai môi trường mà các

em tiếp xúc nhiều nhất, để học sinh có nhận thức tốt thì cần sự hướng dẫn từ gia đình và nhà trường, từ đó học sinh hiểu được vấn đề trên môi trường Internet Từ đó mà các em sẽ thay đổi dần thái độ và hành vi của mình để tự

bảo vệ bản thân trên loại môi trường này

- Nhận thức của cộng đồng: Theo Lý thuyết xã hội, hành vi của học

sinh sẽ hình thành dựa trên cộng đồng xung quanh học sinh rất nhiều Nhận thức của các cán bộ quản lý, phụ huynh, giáo viên, chủ đơn vị kinh doanh dịch vụ Internet đều có tác động đến hành vi sử dụng Internet của trẻ, vì vậy

mà muốn quản lý được vấn đề này, các đối tượng trên cũng cần hiểu được tầm quan trọng của vấn đề quản lý và đồng hành thực hiện khi có các hoạt động liên quan

- Chính sách và pháp luật: quản lý việc sử dụng Internet của học sinh

trung học trên môi trường mạng làm vấn đề cần được ở cấp độ quốc gia Các chính sách về vấn đề này cần được xây dựng để đưa vào luật pháp; các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cần triển khai hoạt động để quản lý thông qua các trung gian từ cộng đồng Vì vậy cần có hoạt động tuyên truyền liên

Trang 37

tục và trên diện rộng để đảm bảo cả cộng đồng nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề quản lý việc sử dụng Internet của học sinh và chung tay tham gia

1.2 Cơ sở thực tiễn

Đã có khá nhiều những nghiên cứu, báo cáo học thuật để nói về những nguy hiểm mà trẻ em sẽ phải đối mặt trên môi trường Internet trong một thế giới phát triển, đặc biệt là ở thời đại 4.0 như hiện nay, và cũng có những nghiên cứu khác đã đưa ra những giải pháp, hành động hoặc những kiến nghị

cụ thể để bảo vệ trẻ em trên môi trường Internet Có nhiều những phương pháp khác nhau được đề xuất, có những nghiên cứu chỉ tập trung vào một loại mối đe dọa trên Internet nên chỉ đưa ra cách thức nhận diện và bảo vệ trẻ khỏi mối nguy hại đó, có những nghiên cứu sẽ chỉ ra tất cả các mối đe dọa và phát hiện ra những hành động có thể dẫn đến những nguy hiểm trên mạng Có một

số nghiên cứu khác sẽ tập trung vào sự can thiệp của chính phủ, trong khi một

số khác lại đề cao vai trò của những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng Internet

Dưới đây là các ví dụ về những can thiệp được áp dụng tại các quốc gia đang phát triển để chúng ta có thế so sánh các cách tiếp cận khác nhau tùy bối cảnh của từng quốc gia Có rất nhiều chính sách và phương thức khác nhau được áp dụng trên thế giới, tuy nhiên ở đây tác giả muốn lấy ra ba ví dụ về phương thức và cách tiếp cận đã được thực hiện và thành công, quan trọng hơn là chỉ ra tầm quan trọng của việc xác định chính xác bối cảnh để có thể tìm ra phương án phù hợp

1.2.1 Brazil

Chính phủ Brazil đã có một biện pháp khắc phục để xử lý vấn đề các nội dung khiêu dâm trẻ em trên Internet Các tổ chức phi chính phủ đã làm việc với các cơ quan pháp lý và các công tố viên liên bang để thu thập các dữ

Trang 38

liệu và hành động để chống lại tội phám ấu dâm, và một ủy ban đặc biệt của quốc hội đã nỗ lực phối hợp để thuyết phục các ISPs hợp tác cùng với chính quyền địa phương và tiến tới xa hơn là có các hợp đồng hợp tác Trong năm

2008, một thỏa thuận quan trọng đã được ký kết giữa công tố viên Liên bang của Sao Paulo và Google, chủ của một ứng dụng mạng xã hội Orkut rất phổ biến tại Brazil, để loại bỏ các nội dung khiêu dâm Thỏa thuận hợp tác này đã đặt ra một số lượng lớn các nghĩa vụ, trong đó có một số như sau (Martins,2009):

 Lưu trữ dữ liệu bao gồm Email đăng nhập, địa chỉ đăng nhập, nhật ký truy cập, dữ liệu và thời gian kết nối của 180 ngày;

 Xóa các dữ liệu có nội dung bất hợp pháp trên Orkut trong vòng 72 giờ;

 Có các hoạt động nâng cao nhận thức;

 Cung cấp các công cụ liên hệ trong trường hợp cần liên hệ khẩn cấp về tội phạm kỹ thuật số giữa các công tố liên bang và công ty;

 Hợp tác cùng Safenet, một NGO của Brazil, để phát hiện các nội dung khiêu dâm trẻ em;

 Sử dụng công nghệ lọc để phát hiện các hình ảnh khiêu dâm trẻ em;

 Có các cuộc họp 6 tháng với các cơ quan thực thi pháp luật

Một số thỏa thuận tương tự cũng đã được đưa vào một số đạo luật về tội phạm mạng đang gây tranh cãi (đạo luật Lei Azeledo) (Azeredo, 2009), đạo luật này đang được quốc hội xem x t và đang là chủ đề tranh luận sôi nổi giữa hai nhóm ủng hộ quyền riêng tư và các học giả nghiên cứu về tội phạm mạng (Global Voices, 2009)

1.2.2 Malaysia

Malaysia đã thực hiện “Chương trình nâng cao nhận thức toàn dân về bảo mật trên mạng” (CyberSAFE) để giải quyết các vấn đề an toàn không gian mạng

Trang 39

Đây là một sáng kiến của CyberSecurity Malaysia (một cơ quan của Bộ Khoa học, Công nghệ và Đổi mới) tìm cách nâng cao nhận thức của công chúng về công nghệ và các vấn đề xã hội mà người dùng Internet phải đối mặt, đặc biệt là về những rủi ro mà họ gặp phải khi trực tuyến Các nhiệm vụ của chương trình CyberSAFE là định hướng truyền đạt kiến thức thực tế về

an toàn mạng và cung cấp thông tin và tài nguyên cần thiết cho nhiều cộng đồng để đảm bảo trải nghiệm trực tuyến của họ là tích cực và an toàn (CyberSecurity Malaysia, 2016)

Trong các hoạt động của chương trình CyberSAFE, có một chương trình thực hiện tại trường học, đây là một nỗ lưc hợp tác của đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông chính tại Malaysia là Digiv cùng với Childline Malaysia,

Ủy ban truyền thông đại chúng và đa phương tiện Malaysia (MCMC), Bộ Giáo Dục Malaysia và CyberSecurity Malaysia Chương trình CyberSAFE sẽ lựa chọn và tập huấn cho những học sinh tại một số trường về an toàn kĩ thuật

số Chương trình tiếp cận nhà trường với nhiều cách khác nhau như tổ chức các hoạt động tại trường học có xuất hiện của các diện CyberSAFE hay các chương trình tập huấn dành cho giáo viên

Trong năm 2014, chương trình đã mở rộng phạm vi hoạt động thông qua sáu hội thảo thí điểm, đào tạo hơn 130 giáo viên CNTT và có sự tham gia với 38.000 sinh viên và hơn 4.100 giáo viên trường học (MCMC, 2015) Ngoài ra, vào năm 2014, chương trình CyberSAFE in School đã tiến hành chuyên sâu nghiên cứu khảo sát hành vi liên quan đến Internet của gần 14.000 học sinh tại các trường học ở Malaysia Chương trình CyberSAFE đã xuất bản nhiều loại sách như quyển “Hướng dẫn về mạng di động an toàn trên Internet” và đã sản xuất video (có sẵn trên YouTube) xử lý các vấn đề như bắt nạt trên mạng, theo dõi trên mạng và dụ dỗ Chương trình cũng duy trì một trang web tương tác mà trẻ em có thể đăng ký và tìm hiểu về an toàn mạng

Trang 40

thông qua các cuộc thi, trò chơi và video Sự hợp tác giữa chính phủ và Digi trong chương trình CyberSAFE tại trường học Chương trình là một ví dụ tốt

về cách khu vực công có thể khai thác khu vực tư nhân hợp tác về các sáng kiến để thúc đẩy lợi ích chung

1.2.3 Mauritius

Là một phần trong chiến lược bảo vệ thông tin cấp quốc gia, Ban Máy tính quốc gia (National Computer Board) của nước Mauritius đã thành lập Ủy ban về an toàn trên mạng cho trẻ em, chịu trách nhiệm phát triển kế hoạch hành động về an toàn mạng cho trẻ em Ủy ban bao gồm các công chức nhà nước, công an, đại diện của các tổ chức hoặc cộng đồng có hoạt đông liên quan đến Internet đã được thành lập và có nhiệm vụ tìm ra những giải pháp để biến môi trường Internet trở thành một nơi an toàn hơn cho trẻ em tại Mauritius nhưng không làm giảm đi sự hứng thú của trẻ với những lợi ích mà Internet mang lại (National Computer Board, 2009) Kế hoạch hành động được tiến hành bắt đầu từ tháng 1 năm 2009, dựa trên báo cáo về tình trạng

An toàn trên mạng của trẻ em ở Mauritius tại thời điểm đó, tập trung vào các báo cáo của những cơ quan quan thực thi pháp luật và các cơ quan nhà nước khác có liên quan, chiểu theo các quy định pháp luật của Mauritius và khảo sát quốc tế trên lĩnh vực này Các phân tích trên đã giúp Ủy ban đưa ra một số khuyến nghị, được ngắn gọn dưới đây:

 Chiến dịch về nâng cao nhận thức cộng đồng (Tổ chức các Ngày An toàn trên mạng; lập kênh An toàn trên mạng cho trẻ cả trên truyền hình

và truyền thanh; Cuộc thi thiết kế logo về an toàn trên mạng; các tiết học nâng cáo kiến thức tại trường học; chương trình tại trung tâm phụ

nữ và cộng đồng; website…);

 Các thước đo về an toàn dành cho các điểm truy cập Internet công cộng

và tại trường học (Bao gồm các chính sách bảo vệ thông tin; công cụ

Ngày đăng: 04/04/2021, 17:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo, 1999. Kế hoạch tổ chức quản lý: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Hà Nội: Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch tổ chức quản lý: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Thống kê
2. Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1998). Đại cương về quản lý, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998
3. Nguyễn Thị Phương Châm, 2013. Mạng lưới xã hội và sự thể hiện bản sắc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạng lưới xã hội và sự thể hiện bản sắc
4. Đoàn Thùy Dương, 2014, Sinh viên và mạng xã hội Facebook: Một phân tích về sự tiến triển vốn xã hội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh viên và mạng xã hội Facebook: Một phân tích về sự tiến triển vốn xã hội
6. Nguyễn Thị Hậu, 2013. Mạng xã hội với giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạng xã hội với giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh
14. Nguyễn Thị Phương Thảo, 2013. Tác động của Game online đối với việc học tập và nâng cao kiến thức của học sinh đô thị hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của Game online đối với việc học tập và nâng cao kiến thức của học sinh đô thị hiện nay
16. Đỗ Hoàng Toàn, 2000. Quản lý xã hội, NX KHKT. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý xã hội, NX KHKT
18. Barry Wellman, 1996. Computer Networks As Social Networks: Collaborative work. Telework and Virtual community” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Computer Networks As Social Networks": Collaborative work. Telework and Virtual community
20. Bilton, T. Bonnett, 1993. Nhập môn xã hội học. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn xã hội học
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
21. Bourdieu, P. (1986). The Forms of Capital. In J. G. Richardson (Ed.), Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education (pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Forms of Capital. In J. G. Richardson (Ed.), Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education
Tác giả: Bourdieu, P
Năm: 1986
22. Bozeman và Straussman, 1990. Handbook of American Public Administration” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of American Public Administration
25. Eduardo Azeredo, 2009. The 2009 Status of razil’s legislation on the fight against cybercrime, Council of Europe Conference on Cooperation against Cybercrime, Strasbourg 10-11 March 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The 2009 Status of razil’s legislation on the fight against cybercrime, Council of Europe Conference on Cooperation against Cybercrime
27. Graham T. Allison, 1980. “Public and Private Management: Are They Fundamentally Alike in All Unimportant Respects?” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public and Private Management: Are They Fundamentally Alike in All Unimportant Respects
28. Hood, Christopher (1 March 1991). "A Public Management for all Seasons?". Public Administration. 69 (1): 3–19. doi:10.1111/j.1467- 9299.1991.tb00779.x. and Hood and Jackson 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Public Management for all Seasons
29. Isabelle Michelet, 2003. Our Children at Risk Online: The Example of Thailand, in: A Survey Report, Our Children at Risk Online, The Example of Thailand, ECPAT International 2003.30. ISTT report, p. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Our Children at Risk Online: The Example of Thailand, in: A Survey Report, Our Children at Risk Online, The Example of Thailand, ECPAT International 2003
39. O.E Hughes. 2012. Public administration and management: an introduction, edition 4rd , Palgrave Macmillan, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public administration and management: an introduction
40. Petter Bae Bradtzaeg, 2012, social Networking Sites: Their Users and Social Implications- A longitudinal Study” Sách, tạp chí
Tiêu đề: social Networking Sites: Their Users and Social Implications- A longitudinal Study
44. UNESCO, 2016. A policy review: Building digital citizenship in Asia- Pacific through safe, effective and responsible use of ICT” Sách, tạp chí
Tiêu đề: A policy review: Building digital citizenship in Asia-Pacific through safe, effective and responsible use of ICT
46. Yan Hong, Xiaoming Li, Rong Mao, Bonista Stanton, 2007. Internet Use Among Chinese College Students: Implications for Sex Education and HIV Prevention, Cyberpschology & Behavior, Volume 10, Number 2, 2007.Tài liệu Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Internet Use Among Chinese College Students: Implications for Sex Education and HIV Prevention, Cyberpschology & Behavior
52. CyberSecurity Malaysia, 2016. CyberSAFEMalaysia. http://www.cybersafe.my/about.html (Accessed 10 June 2016.) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w