1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do nhà nước quản lý tại việt nam

114 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nguyên nhân dẫn đến việc các đơn vị cung cấp dịch vụ công chưa thể xây dựng kho dữ liệu về khách hàng của mình vì quy mô dân số lớn, năng lực về vốn, nhân lực và công nghệ của các

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

- *** -

VŨ THÀNH CHUNG

THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CÔNG

DO NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Hà Nội - 2021

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, là kết quả của quá trình tự nghiên cứu của riêng tôi Ngoại trừ các nội dung tham khảo từ các công trình khác như nêu rõ trong luận văn, các số liệu được trình bày trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, các ý kiến, kết luận là trung thực, khách quan dựa trên nghiên cứu lý luận và thực tiễn và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã có từ trước

Tác giả

Vũ Thành Chung

Trang 3

Trong quá trình thực hiện, do hạn chế về lý luận, kinh nghiệm cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các Thầy, Cô giáo

và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn

Tác giả

Vũ Thành Chung

Trang 4

iii

MỤC LỤC

I PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 5

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CÔNG DO NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ TẠI VIỆT NAM 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 5

1.2 Cở sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công 8

1.2.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt 8

1.2.2 Khái niệm dịch vụ công 9

1.2.3 Khái niệm dịch vụ công do Nhà nước quản lý 10

1.2.4 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt 10

1.2.5 Nội dung về thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý 13

1.2.6 Tiêu chí đánh giá không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do nhà nước quản lý……… 18

1.2.6.1 Độ an toàn, bảo mật của nền tảng công nghệ cho thanh toán không dùng tiền mặt………18

1.2.6.2 Tính tiện lợi, đơn giản của các thao tác thanh toán không dùng tiền mặt trên nền tảng công nghệ 18

1.2.7 Các yếu tố tác động đến thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý tại Việt Nam 19

1.3 Kinh nghiệm về thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công của các quốc gia khác trên thế giới 27

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 27

1.3.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 36

CHƯƠNG 2 40

Trang 5

iv

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 40

2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 42

2.3 Phương pháp xử lý tài liệu, số liệu 41

CHƯƠNG 3 45

THỰC TRẠNG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CÔNG DO NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ TẠI VIỆT NAM 45

3.1 Khái quát về tình hình thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do nhà nước quản lý tại Việt Nam 45

3.1.1 Khái quát về thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam hiện nay 45

3.1.2 Quá trình phát triển thanh toán không dùng tiền mặt 46

3.1.3 Đặc điểm thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam 48

3.1.4 Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ cung cấp điện 49 3.1.5 Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt trong cung cấp nước sạch 52 3.1.6 Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt trong học phí 54

3.1.7 Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt trong viện phí 56

3.1.8 Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt đối với thu, nộp thuế 58

3.2 Phân tích thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý tại Việt Nam 61

3.2.1 Thực trạng kế hoạch quản lý và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý tại Việt Nam 61

3.2.2 Thực trạng triển khai tổ chức thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch công do Nhà nước quản lý tại Việt Nam 63

3.2.3 Thực trạng kiểm tra, giám sát thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý tại Việt Nam 68

3.3 Đánh giá về thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý tại Việt Nam 70

Trang 6

v

3.3.1 Những mặt đạt được 70

3.3.2 Những hạn chế 83

3.3.3 Nguyên nhân 87

CHƯƠNG 4 89

4.1 Bối cảnh tác động 89

4.2 Quan điểm, định hướng quản lý và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý tại Việt Nam 90

4.3 Các giải pháp quản lý thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý tại Việt Nam 92

KẾT LUẬN 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 7

vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tốc độ tăng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt

2018-2019 ……… 64 Bảng 3.2: Biến động hệ thống ATM, POS trên toàn quốc 2018-2019 …… 65 Bảng 3.3: Giá trị giao dịch bình quân qua hệ thống thanh toán liên ngân hàng

2018 -2019……… 67

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Biến động hệ thống ATM, POS trên toàn quốc 2018-2019……66 Biểu đồ 3.2: Giá trị giao dịch bình quân qua hệ thống thanh toán liên ngân hàng 2018 -2019……… 67

Trang 8

vii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu chữ viết tắt Nguyên nghĩa

12 TTKDTM Thanh toán không dùng tiền mặt

Trang 9

1

I PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam hiện vẫn còn là một trong những quốc gia có tỷ lệ thanh toán tiền mặt khá lớn Việc dùng tiền mặt thanh toán dẫn đến nhiều bất cập cho cả

cơ quan quản lý và người dân như: tốn thêm chi phí, không an toàn, tạo nhiều

cơ hội tiêu cực cho quản lý kinh tế, khó khăn hơn cho quản lý và kiểm soát

Do đó quản lý và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) không chỉ là nhiệm vụ quan trọng, là chủ chương của Chính phủ và NHNN Việt Nam hiện nay mà còn là xu hướng mang tính thời đại trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0

Chính vì thế, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều quy định nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho thanh toán không dùng tiền mặt đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý nói riêng

Những dịch vụ công do Nhà nước quản lý phổ biến mà người dân sử dụng hiện nay như điện, nước, học phí, viện phí, nộp tiền thuế… đã được một

số người dân ở các thành phố lớn của Việt Nam triển khai thanh toán qua hệ thống thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, tuy nhiên, vẫn còn một số địa phương chưa triển khai được

Một số nguyên nhân dẫn đến việc các đơn vị cung cấp dịch vụ công chưa thể xây dựng kho dữ liệu về khách hàng của mình vì quy mô dân số lớn, năng lực về vốn, nhân lực và công nghệ của các đơn vị cung cấp dịch vụ công (nhất là trong lĩnh vực nước sạch, các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, các trường học ở vùng sâu, vùng xa… ) còn hạn chế, thói quen sử dụng tiền mặt của người dân vẫn còn tồn tại nhiều, hành lang pháp lý cho việc thanh toán không dùng tiền mặt đối với các ngân hàng thương mai, các tổ chức thanh toán trung gian chưa được chấp nhận, xác định các loại hình giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt của khách hàng còn chưa rõ ràng; cơ chế thu phí,

Trang 10

2

trả phí giữa đơn vị cung cấp dịch vụ với các tổ chức thanh toán trung gian, các tổ chức tín dụng và khách hàng sử dụng dịch vụ chưa được xác lập theo hướng ưu tiên người sử dụng nhằm khuyến khích hình thức thanh toán không dùng tiền mặt

Những hạn chế này cũng chính là những nhiệm vụ, giải pháp mà Ngân hàng Nhà nước cần nhìn nhận và khắc phục nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam, trước hết là việc hoàn thành mục tiêu thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý, nhằm hướng tới một xã hội không dùng tiền mặt, bảo đảm an toàn, minh bạch các giao dịch kinh tế, tạo thuận lợi cho các bên cung cấp dịch vụ và cả người sử dụng dịch vụ công, góp phần giảm lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế, giảm chi phí xã hội, kích thích nền sản xuất và tiêu dùng nội địa, góp phần tăng cường phát triển kinh tế bền vững Xuất phát từ thực tiễn đó, trên cơ sở những lý luận đã học cùng với quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về tình hình hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do nhà nước quản lý, tôi

lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do nhà nước quản lý tại Việt Nam”

2 Câu hỏi nghiên cứu

Luận văn tập trung vào hai câu hỏi nghiên cứu sau:

- Ngân hàng nhà nước cần làm gì để quản lý và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý?

- Hệ thống ngân hàng thương mại, các tổ chức thanh toán trung gian và các tổ chức cung cấp dịch vụ công cần làm gì để tham gia quản lý và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt đồi với dịch vụ công do Nhà nước quản lý?

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Trang 11

3

Trên cơ sở đánh giá tập quán, thực trạng của thanh toán các dịch vụ công hiện nay, tác giả đề xuất các giải pháp để ngân hàng Nhà nước hoàn thiện thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn phải giải quyết các nhiệm

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Dịch vụ công do Nhà nước quản lý

- Phương thức thanh toán không dùng tiền mặt

- Các chính sách của Nhà nước nhằm quản lý và phát triển thanh toán

không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý tại Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Tập trung vào các dịch vụ công cơ bản do Nhà nước quản lý hiện nay là viện phí, học phí, điện, nước, thuế

- Về thời gian: Từ năm 2019 tới cuối năm 2020

- Về không gian: Một số địa phương ở các vùng, miền tại Việt Nam đang triển khai thanh toán không dùng tiền mặt như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vĩnh Phúc, Hải Phòng,…

Trang 12

4

II KẾT CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 04 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và thực tiễn thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý tại Việt Nam

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý tại Việt Nam

Chương 4: Định hướng và giải pháp thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý tại Việt Nam

Trang 13

5

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CÔNG

DO NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ TẠI VIỆT NAM

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Trong xu hướng toàn cầu hóa và tự do hóa tài chính, sự phát triển mạnh

mẽ của công nghệ cùng các chính sách phát triển bền vững của Chính phủ đã tạo nền tảng vững chắc cho hiện đại hóa hệ thống thanh toán, thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) phát triển, từng bước giúp người dân và doanh nghiệp tiếp cận, sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng một cách dễ dàng, thuận tiện Thanh toán không dùng tiền mặt

đã và đang trở thành phương tiện thanh toán phổ biến và được nhiều quốc gia khuyến khích sử dụng, nhất là các phương tiện thanh toán điện tử Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước ban hành văn bản hợp nhất - Nghị định số 10/VBHN-NHNN ngày 22/2/2019 hợp nhất Nghị định 101/2012/NĐ-CP, Nghị định 80/2016/NĐ-CP và Nghị định 16/2019/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền thì vấn đề TTKDTM nói chung và đẩy mạnh TTKDTM đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý nói riêng càng được quan tâm và chú trọng tìm hiểu, nghiên cứu Có thể kể đến một số nghiên cứu gần đây về thanh toán không dùng tiền mặt như dưới đây

Nghiên cứu chung về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt:

Luận án tiến sỹ “Phát triển Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho khu vực dân cư tại Việt Nam”, của Đặng Công Hoàn (2015), trường Đại

học Kinh tế - ĐHQGHN Đề tài đã đánh giá được thực trạng phát triển của dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho khu vực dân cư tại nước ta hiện nay, làm rõ vai trò của các chính sách của Nhà nước trong việc thúc đẩy và phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho khu vực dân cư Đặc biệt đề tài đã đánh giá của thanh toán không dùng tiền mặt đối với với nền

Trang 14

6

kinh tế và cộng đồng theo mô hình hồi quy theo chuỗi thời gian với các biến:

Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt và TPTTT, GDP Bình quân đầu người

và Tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm, để thực hiện phân tích tương quan Tuy nhiên đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu thực trạng và đề ra giải pháp phát triển các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt thông qua các phương thức hiện đại, có mức độ ứng dụng công nghệ thông tin cao như: Thẻ thanh toán (thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước), dịch vụ thanh toán điện tử (Internet banking, Mobile Banking, ví điện tử…) phục vụ nhóm khách hàng dân cư

Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt”, của Lê thị Linh

(2018), trường Đại học Đà Nẵng Luận văn đã đưa ra mô hình tổng hợp và phân tích cụ thể, chi tiết các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động TTKDTM Tuy nhiên, đề tài mới chỉ đề cập đến các dịch vụ TTKDTM dành cho đối tượng khách hàng cá nhân và một số giải pháp chưa nêu rõ điều kiện cụ thể để áp dụng trong thực tiễn

Thời gian gần đây, phát triển các dịch vụ TTKDTM thông qua các phương thức hiện đại, có mức độ ứng dụng công nghệ thông tin cao đang là

xu hướng trên toàn thế giới Tại Việt Nam, vấn đề thanh toán không dùng tiền mặt rất được quan tâm, có thể kể đến một số bài viết, công trình nghiên cứu

về vấn đề này như:

“Thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam”, của Ths Mai Thị Quỳnh

Như (2014) Bài viết trên tạp chí Ngân hàng, nêu lên những hạn chế và đề xuất một số giải pháp phát triển TTKDTM tại Việt Nam Tuy nhiên, bài viết chỉ đề cập đến những vấn đề chung, chưa làm rõ những hạn chế và giải pháp cho việc thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý

Trang 15

không dùng tiền mặt hiện đại

“Xã hội không tiền mặt”, của Lê Thạch Nam (2017) trên tạp chí Tài chính,

bài viết đã khái quát những lợi ích của việc sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho các tổ chức và cá nhân, tiềm năng phát triển các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam và những khó khăn, thách thức trong việc triển khai phổ biến các dịch vụ này

Các bài viết trên khái quát sơ bộ về thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt ở nước ta thời gian gần đây và đưa ra một số giải pháp để phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong thời gian tới nhưng các tác giả chưa đi sâu về phân tích thực trạng cũng như đưa ra các giải pháp sát đáng cho vấn đề

“đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý”

Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt trong những năm gần đây đã được nghiên cứu trên nhiều phạm vi, đối tượng và các hướng nghiên cứu khác nhau Các luận án, luận văn trên đã góp phần hoàn thiện hệ thống lý thuyết về thanh toán không dùng tiền mặt, đồng thời các tác giả đã đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam nói chung, chỉ ra thành quả đạt được, hạn chế của dịch vụ này như hiện nay để đưa ra các giải pháp phù hợp Tuy nhiên, các đề tài hầu hết chưa đi sâu vào phân tích cụ thể thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản

lý Do vậy với việc hệ thống hoá và đưa ra cách nhìn mới về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, đồng thời dựa trên số liệu thực tế về thanh toán không dùng tiền mặt đối với các dịch vụ công cơ bản của nhà nước hiện nay

là viện phí, học phí, điện, nước, thuế để nhận định những nguyên nhân, hạn

Trang 16

8

chế, từ đó có các giải pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý

1.2 Cở sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công

1.2.1 Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt

Thanh toán đơn giản là thuật ngữ ngắn gọn mô tả việc chuyển giao các phương tiện tài chính từ một bên sang một bên khác Tiền là phương tiện thực hiện trao đổi hàng hóa, đồng thời là việc kết thúc quá trình trao đổi Lúc này tiền thực hiện chức năng phương diện thanh toán Sự vận động của tiền tệ có thể tách rời hay độc lập tương đối với sự vận động của hàng hóa

Thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền không chỉ sử dụng để trả các khoản nợ về mua chịu hàng hóa mà chúng còn được sử dụng để thanh toán khoản nợ vượt ra ngoài phạm vi trao đổi như nộp thuế, trả lương, đóng góp các khoản chi dịch vụ…

Lưu thông không dùng tiền mặt là các quá trình tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán không trực tiếp bằng tiền mặt mà thực hiện bằng cách trích chuyển trên các tài khoản ở ngân hàng,

tổ chức tín dụng hoặc bu trừ lẫn nhau giữa những người phải thanh toán và những người thụ hưởng

Thanh toán không dùng tiền mặt chỉ được phát triển và hoàn thiện trong nền kinh tế thị trường và được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế tài chính đối nội cũng như đối ngoại Sự phát triển rộng khắp của thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay là do yêu cầu phát triển vượt bậc của nền kinh

tế hàng hóa Kinh tế hàng hóa phát triển càng cao, khối lượng hàng hóa trao đổi trong nước và nước ngoài càng lớn thì cần có nhứng cách thức trả tiền thuận tiện, an toàn và tiết kiệm

Xét về mặt lý luận, thanh toán không dùng tiền mặt là một hình thức vận động của tiền tệ Ở đây, tiền vừa là công cụ kế toán, vừa là công cụ để chuyển hóa hình thức giá trị của hàng hóa và dịch vụ Mặt khác, thanh toán

Trang 17

9

không dùng tiền mặt là nghiệp vụ có quá trình chứa đựng những công nghệ tinh vi và phức tạp Khi thực hiện chức năng phương tiền thanh toán có thể sử ụng tiền đủ giá (vàng) hoặc dấu hiệu giá trị

Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

1.2.2 Khái niệm dịch vụ công

Dịch vụ công (DVC) được hiểu là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội và người dân; vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội,

do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực

tư nhân thực hiện

Cung ứng dịch vụ được hiểu “liên quan đến việc cung cấp hàng hóa công hữu hình và bản thân các dịch vụ vô hình” Như vậy, DVC không chỉ thuần tuý là dịch vụ do Nhà nước cung cấp, bản chất của nó là sự cung ứng hàng hóa, sản phẩm hữu hình hoặc vô hình cho lợi ích công cộng

Dịch vụ công hay dịch vụ công cộng là một dịch vụ nhằm phục vụ tất

cả các thành viên của cộng đồng Nó thường được chính phủ cung cấp cho những người sống trong phạm vi quyền hạn, trực tiếp (thông qua khu vực công) hoặc bằng cách cung cấp tài chính cho các dịch vụ

Xét theo phương diện kinh tế học, dịch vụ công (hàng hóa công cộng) có một

Trang 18

10

- Đặc biệt, hàng hóa công cộng không thể vứt bỏ được, có nghĩa là ngay khi không được tiêu dùng nữa thì hàng hóa công cộng vẫn sẽ tồn tại Hiểu đơn giản đơn, thì những hàng hóa nào mà có thể thỏa mãn cả ba đặc tính trên thì được gọi là hàng hóa công cộng thuần túy, còn những hàng hóa nào không thỏa mãn cả ba đặc tính trên sẽ được gọi là hàng hóa công cộng không thuần túy

Trong bài Luận văn này, dịch vụ công cơ bản do Nhà nước quản lý hiện nay tại Việt Nam bao gồm tiền điện, nước, viện phí, học phí, và tiền thuế nộp vào ngân sách Nhà nước

1.2.3 Khái niệm dịch vụ công do Nhà nước quản lý

Dịch vụ công có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Xét theo tính chất của dịch vụ có thể chia thành: dịch vụ công mang tính thiết chế như cảnh sát, quân đội, hộ tịch…, dịch vụ công mang tính xã hội như giáo dục, y tế, điện, nước, thu thuế và dịch vụ công mang tính kinh tế kỹ thuật như giao thông, viễn thông, năng lượng…

Việc cung ứng dịch vụ công dựa trên nguyên tắc tất cả công dân được tiếp nhận bình đẳng các dịch vụ công Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm và giám sát tính hiệu quả trong cung ứng và tính công bằng trong thụ hưởng dịch vụ công Trong khuôn khổ bài luận văn của mình, tác giả tập trung vào các dịch vụ công cơ bản của nhà nước ta cung cấp hiện nay là viện phí, học phí, điện, nước, thuế

1.2.4 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt

Bản chất của của việc thanh toán không dùng tiền mặt chính là hạn chế lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế, giảm thiểu chi phí xã hội Hoạt động này sẽ trực tiếp làm giảm số lượng tiền mặt đang được lưu hành trên thị trường hàng hóa bằng cách khuyến khích từng người tiêu dùng TTKDTM Họ

có thể sử dụng các dịch vụ thu chi, thẻ ngân hàng, thanh toán trực tuyến mà không làm thay đổi giá trị tiền mặt tương đương Có sự xuất hiện của tiền mặt

Trang 19

11

hay không chính là sự khác biệt lớn nhất giữa hai hình thức thanh toán bằng tiền mặt và không dùng tiền mặt, do đó TTKHDT có những vai trò sau:

Một là, vai trò của TTKDTM đối với nền kinh tế: TTKDTM góp phần

giảm tỷ trọng tiền mặt lưu thông, từ đó có thể tiết kiệm được chi phí lưu thông như in ấn, phát hành, bảo quản, vận chuyển…Mặt khác, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hoá và lưu thông tiền tệ TTKDTM tạo điều kiện tập trung nguồn vốn lớn cho xã hội vào NH để tái đầu tư cho nền kinh tế, phát huy vai trò điều tiết, kiểm tra của Nhà nước vào hoạt động tài chính ở tầm vĩ

mô và vi mô Qua đó, kiểm soát được làm phát đồng thời tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động

Hai là, vai trò của TTKDTM đối với ngân hàng thương mại: Các nhà tổ

chức thực hiện hoạt động kinh doanh trong nền KTTT đều quan tâm đến vấn

đề thanh toán là: an toàn – tiện lợi- quay vòng vốn nhanh NH trở thành trung tâm tiền tệ - tín dụng – thanh toán trong nền kinh tế TDKDTM góp phần không nhỏ vào thành công đó của NH TTKDTM tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn của NH TTKDTM không những làm giảm được chi phí lưu thông mà còn bổ sung nguồn vốn cho NH thông qua hoạt động mở tài khoản thanh toán của các tổ chức và cá nhân Như vậy, ngân hàng sẽ luôn có một lượng tiền nhất định tạm thời nhàn rỗi trên các tài khoản này với chi phí thấp Nếu sử dụng nguồn vốn này thì ngân hàng không chỉ kiếm được lợi nhuận, giành thắng lợi trong cạnh tranh mà còn mang lại lợi ích rất lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân TTKDTM còn thúc đẩy quá trình cho vay Nhờ có nguồn vốn tiền gửi không kỳ hạn, NH còn có cơ hội để tăng lợi nhuận cho mình bằng cách cấp tín dụng cho nền kinh tế NH thu hút được nguồn vốn với chi phí thấp nên trên cơ sở đó hạ lãi suất tiền vay, khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân vay vốn NH để đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh có lãi Mặt khác, thông qua TTKDTM, NH có thể đánh giá được tình hình sản xuất kinh doanh, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp Từ đó giúp NH an toàn

Trang 20

12

trong kinh doanh, góp phần hạn chế rủi ro và nâng cao được hiệu quả hoạt động đầu tư tín dụng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh TTKDTM giúp cho NHTM thực hiện chức năng tạo tiền Trong thực tế nếu thanh toán bằng tiền mặt, thì sau khi lĩnh tiền mặt ra khỏi NH, số tiền đó không còn nằm trong phạm vi kiểm soát của NH Nhưng nếu TTKDTM thì NH thực hiện trích chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi của người phải trả sang cho người thụ hưởng hoặc bù trừ giữa các tài khoản của các NHTM với nhau Như vậy, thực chất của cơ chế tạo tiền của hệ thống NH là tổ chức thanh toán qua NH và cho vay bằng chuyển khoản Vì vậy, khi TDKDTM càng phát triển thì khả năng tạo tiền càng lớn, tạo cho NH lợi nhuận đáng kể TTKDTM góp phần mở rộng đối tượng thanh toán, tăng doanh số thanh toán TTKDTM tạo điều kiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ một cách an toàn, hiệu quả, chính xác, tin cậy và tiết kiệm được thời gian, chi phí Trên cơ sở đó tạo niềm tin cho công chúng vào hoạt động của hệ thống NH, thu hút người dân và doanh nghiệp tham gia thanh toán qua NH Như vậy, TTKDTM giúp NH thực hiện việc mở rộng đối tượng thanh toán, phạm vi thanh toán (trong và ngoài nước) và tăng doanh số thanh toán, làm tăng lợi nhuận, tăng năng lực cạnh tranh của NH

Ba là, vai trò của TTKDTM đối với NH Trung ương: Thanh toán

không dùng tiền mặt tăng cường hoạt động lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế, tăng cường vòng quay của đồng tiền, khơi thông các nguồn vốn khác nhau, tạo điều kiện quan trọng cho việc kiểm soát khối lượng giao dịch thanh toán của dân cư và của cả nền kinh tế Qua đó, tạo tiền đề cho việc tính toán lượng tiền cung ứng và điều hành thực thi chính sách tiền tệ có hiệu quả

Bốn là, vai trò TTKDTM đối với cơ quan tài chính: Tăng tỷ trọng

TTKDTM không chỉ có ý nghĩa tiết kiệm chi phí lưu thông mà còn giúp cho công tác quản lý tài sản của doanh nghiệp được tốt hơn Nếu các giao dịch trong nền kinh tế được thực hiện chủ yếu bằng chuyển khoản thì tiền chỉ chuyển từ tài khoản người này sang tài khoản người khác, từ tài khoản của

Trang 21

13

doanh nghiệp này sang tài khoản của doanh nghiệp khác, từ NH này sang NH khác nên tiền tệ vẫn nằm trong hệ thống NH Do đó, tổn thất tài sản Nhà nước

và tổn thất tài sản của người dân sẽ được hạn chết rất nhiều

Như vậy, trên cơ sở tài khoản tiền gửi và các tài khoản thanh toán qua

NH đã giúp cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý như bộ chủ quản, cơ quan thuế…có điều kiện để kiểm tra, theo dõi doanh thu, chi phí, xác định kết quả kinh doanh chính xác Do đó giảm thiểu các tác động tiêu cực của các hoạt động “kinh tế ngầm”, tăng cường tính chủ đạo của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế và điều hành các chính sách kinh tế tài chính quốc gia, góp phần làm lành mạnh hoá kinh tế – xã hội

1.2.5 Nội dung về thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công

1.2.5.1 Lập kế hoạch, chiến lược

Ngân hàng Nhà nước xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện, xác định

cụ thể các nhiệm vụ, lộ trình, thời hạn hoàn thành và phân công trách nhiệm cho các đơn vị, tổ chức có liên quan

Kế hoạch đề ra các nội dung chính bao gồm: Hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế chính sách; Nâng cấp, mở rộng, cấu trúc lại Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng; Xây dựng, phát triển các hệ thống và dịch vụ thanh toán bán lẻ; Đẩy mạnh thanh toán điện tử trong khu vực Chính phủ,

Trang 22

14

dịch vụ hành chính công; Đổi mới hệ thống bù trừ và quyết toán chứng khoán; Đổi mới hệ thống thanh quyết toán trên thị trường tiền tệ và ngoại tệ liên ngân hàng; Tăng cường quản lý, giám sát hoạt động thanh toán và chuyển tiền quốc tế; Giám sát và áp dụng các tiêu chuẩn cho các hệ thống thanh toán theo các tiêu chí và chuẩn mực quốc tế; Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, đào tạo, hướng dẫn và bảo vệ người tiêu dùng trong thanh toán không dùng tiền mặt; Tăng cường cơ chế phối hợp thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt

Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ của mình, triển khai kịp thời, có hiệu quả các cơ chế, chính sách về thanh toán không dùng tiền mặt; nắm bắt tình hình thanh toán trên địa bàn để báo cáo, đề xuất với cấp ủy, chính quyền địa phương và Ngân hàng Nhà nước theo quy định

Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán xây dựng kế hoạch phát triển thanh toán không dùng tiền mặt của đơn vị mình

để tổ chức thực hiện cụ thể, có hiệu quả các nhiệm vụ đề ra trong kế hoạch

Ngân hàng Nhà nước có văn bản gửi các Bộ, ngành liên quan đề nghị chủ động triển khai hoặc phối hợp Ngân hàng Nhà nước để triển khai các nhiệm vụ theo kế hoạch đã đề ra

Ngân hàng Nhà nước làm đầu mối, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị liên quan tổ chức triển khai, theo dõi, đôn đốc thực hiện các nội dung, nhiệm vụ theo kế hoạch đã đề ra

1.2.5.2 Tổ chức thực hiện

Tổ chức thực hiện triển khai thanh toán không dùng tiền mặt đối với các dịch vụ công do Nhà nước quản lý bao gồm thuế, điện, nước, học phí, viện phí, Ngân hàng Nhà nước thực hiện những công việc sau:

Chủ động nghiên cứu, tham mưu cho UBND tỉnh, thành phố và phối hợp chặt chẽ với các Sở, Ban ngành trên địa bàn để triển khai có hiệu quả các

Trang 23

15

giải pháp thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công theo Quyết định 241/QĐ-TTg của Chính phủ và Quyết định số 923/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN với ưu tiên trong thời gian tới cho lĩnh vực y tế, giáo dục, cụ thể:

Thứ nhất, phối hợp với các Sở, ban ngành trên địa bàn tham mưu, đề xuất xây dựng và ban hành kế hoạch hành động của UBND tỉnh, thành phố về triển khai Nghị quyết 02/NQ-CP và Quyết định số 241/QĐ-TTg của Chính phủ; kế hoạch hành động cần gắn với những giải pháp, mục tiêu cụ thể và yêu cầu về thời hạn hoàn thành cũng như đơn vị đầu mối chịu trách nhiệm triển khai

Thứ hai, đề xuất, kiến nghị UBND tỉnh, thành phố có văn bản chỉ đạo các đơn vị cung ứng dịch vụ công trên địa bàn (cơ sở y tế, giáo dục, công ty nước sạch, điện lực, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính, ) xây dựng hệ thống công nghệ thông tin, phần mềm ứng dụng có khả năngkết nối với phần mềm ứng dụng của các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để tổ chức, cá nhân sử dụng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công

Thứ ba, đề xuất giải pháp với UBND tỉnh, thành phố và phối hợp với các Sở, Ban ngành và tổ chức cung ứng dịch vụ công trên địa bàn áp dụng các phương án triển khai thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công, như: Các trường học, bệnh viện và các đơn vị cung ứng dịch vụ công thông báo số tài khoản của đơn vị mình mở tại ngân hàng để tổ chức, cá nhân chuyển tiền thanh toán dịch vụ công bằng các dịch vụ thanh toán mà ngân hàng đang cung ứng (chuyển tiền qua mobile, thanh toán qua các kênh ngân hàng điện tử, ); Các trường học, bệnh viện và đơn vị cung ứng dịch vụ công lắp đặt thiết bị chấp nhận thẻ, thanh toán ứng dụng QR để cho phép phụ huynh, học sinh, người bệnh, người dân, sử dụng thiết bị di động, thẻ ngân hàng để thanh toán (tương tự như việc thanh toán tiền mua hàng hóa tại các

Trang 24

16

cửa hàng, siêu thị); Các trường học, bệnh viện và đơn vị cung ứng dịch vụ công xây dựng hệ thống công nghệ thông tin cho phép ghi nhận thông tin cần thanh toán (số tiền, mã hồ sơ/khách hàng, ) để người sử dụng truy cập các ứng dụng trên internet, mobile và thực hiện trả tiền thông qua các sản phẩm dịch vụ thanh toán tiện ích của ngân hàng (thanh toán qua thiết bị di động, thanh toán qua internet, ví điện tử, dịch vụ thanh toán hóa đơn, ) tương tự như việc thanh toán hóa đơn tiền điện, cước viễn thông hiện nay

Thứ tư, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn triển khai các công việc sau:

- Tích cực phối hợp với các Sở, Ban ngành và các đơn vị cung ứng dịch

vụ công liên quan trên địa bàn triển khai các giải pháp, phương thức thanh toán không dùng tiền mặt

- Nghiên cứu, áp dụng chính sách phí dịch vụ thanh toán hợp lý và triển khai các chương trình ưu đãi, khuyến mại (ví dụ như: miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán cho khách hàng, các cơ sở y tế, giáo dục, đơn vị cung ứng dịch vụ công trong thời gian đầu triển khai; áp dụng các chương trình tặng quà, tích điểm, hoàn tiền, tham gia quay số trúng thưởng, cho những khách hàng đăng ký, sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, ) để khuyến khích các đơn vị cung ứng dịch vụ công và khách hàng ưu tiên lựa chọn sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt khi thực hiện thanh toán dịch vụ công

- Phổ biến, hướng dẫn đầy đủ, kịp thời cho khách hàng biết về quy trình thủ tục, thao tác thực hiện và các biện pháp đảm bảo an toàn khi thực hiện giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công nói riêng

- Thực hiện tốt công tác tiếp nhận và xử lý tra soát, khiếu nại của khách hàng, trong quá trình triển khai, nếu có vướng mắc, sai sót phải kiểm

Trang 25

17

tra, xác định nguyên nhân và phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan

để phản hồi, giải thích cặn kẽ cho khách hàng

- Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan truyền thông, báo chí,

tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán trên địa bàn xây dựng các chương trình truyền thông về đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công, tập trung trước hết cho lĩnh vực y tế, giáo dục

- Mặt khác, thường xuyên cập nhật, nắm bắt kịp thời các quy định pháp luật, cơ chế chính sách và các văn bản chỉ đạo của NHNN về hoạt động thanh toán để tổ chức triển khai Thực hiện kiểm tra, chủ động theo dõi nắm bắt tình hình thực hiện đối với hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán, dịch vụ trung gian thanh toán đối với dịch vụ công trên địa bàn và báo cáo NHNN về những khó khăn, vướng mắc phát sinh để theo dõi, tổng hợp và phối hợp với các đơn vị liên quan nghiên cứu, xử lý

1.2.5.3 Kiểm tra giám sát

Kiểm tra giám sát thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công

do Nhà nước quản lý bao gồm kiểm tra giám sát quy trình thanh toán, chất lượng và kết quả hoạt động của các hệ thống thanh toán nhằm phát hiện ra những điểm cần điều chỉnh Sau khi xác định những điểm cần điều chỉnh NHNN phải điều chỉnh kế hoạch, điều chỉnh tổ chức thực hiện để hoàn thiện các hoạt động TTKDTM đảm bảo tính an toàn, ổn định và hiệu quả của hệ thống thanh toán, đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật của Việt Nam

Kiểm tra, giám sát quản lý TTKDTM để phân tích phát hiện kịp thời và cảnh báo rủi ro trong vận hành hệ thống thanh toán nhằm giảm thiểu các rủi

ro phát sinh trong quá trình vận hành hệ thống thanh toán, tăng cường tính minh bạch trong kết nối liên thông giữa các hệ thống thanh toán từ NHNN, ngân hàng thương mại, các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, các đơn vị cung cấp dịch vụ công

Trang 26

18

Đồng thời, kiểm tra, giám sát quản lý TTKDTM là cầu nối phối hợp với các bộ, ngành liên quan tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật trong hoạt động thanh toán và đảm bảo quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của khách hàng sử dụng dịch vụ cũng như tăng cường niềm tin của khách hàng vào thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý

1.2.6 Tiêu chí đánh giá thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ

công do nhà nước quản lý

1.2.6.1 Độ an toàn, bảo mật của nền tảng công nghệ cho thanh toán không

dùng tiền mặt

Các nền tảng công nghệ cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

ra đời dựa trên sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ Tuy nhiên, vấn đề bảo mật thông tin cá nhân, bảo mật cho việc vận hành nền tảng công nghệ đó là điều cực kỳ quan trọng đối với các nhà cung cấp nền tảng, các đơn

vị cung cấp dịch vụ công và quan trọng hơn cả là những người sử dụng, chi trả cho các dịch vụ công đó hàng ngày Sẽ không có khách hàng nào sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt đối với các hàng hoá nói chung nếu như nền tảng cung cấp dịch vụ đó không đảm bảo độ an toàn và tính bảo mật cao Để tăng cường thúc đẩy việc này, năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 241/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với dịch vụ công: thuế, điện, nước, học phí, viện phí và các chương trình an sinh xã hội và ban hành Bộ tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa và Bộ tiêu chuẩn cơ sở “Đặc tả kỹ thuật QR Code hiển thị từ phía đơn vị chấp nhận thanh toán tại Việt Nam” làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán áp dụng nhằm tăng khả năng thanh toán liên thông, tăng cường an toàn, bảo mật giao dịch khách hàng…

1.2.6.2 Tính tiện lợi, đơn giản của các thao tác thanh toán không dùng tiền mặt trên nền tảng công nghệ

Trang 27

1.2.7 Các yếu tố tác động đến thanh toán không dùng tiền mặt đối với

dịch vụ công do Nhà nước quản lý tại Việt Nam

1.2.7.1 Các yếu tố chính sách pháp luật tác động đến thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý

Chủ trương của Chính Phủ đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt và triển khai đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng với các dịch vụ công như thuế, điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội thông qua các công cụ chính sách của Nhà nước

Các công cụ chính sách của Chính phủ: Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP với những nội dung nhằm tạo sự chuyển biến về môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và năng suất lao động Một trong những nội dung của Nghị quyết này là việc đẩy nhanh thanh toán không dùng tiền mặt Theo đó, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Thành phố cần chỉ đạo yêu cầu 100% trường học, bệnh viện, công ty điện, công ty cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường, viễn thông, bưu chính trên địa bàn đô thị phối hợp với ngân hàng,

tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để thu học phí, viện phí, tiền điện bằng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt Trong đó, ưu tiên các giải pháp thanh toán trên thiết bị di động, thanh toán qua thiết bị chấp nhận thẻ Quyết định 2545/QĐ-TTg ngày 30/12/2016 phê duyệt đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại VN giai đoạn 2016-2020 và quyết định

Trang 28

20

241/QĐ-TTg ngày 23/2/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng với các dịch vụ công như thuế, điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội

Các công cụ chính sách từ ngân hàng Nhà nước: đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN yêu cầu ngành ngân hàng phải đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, đặc biệt là thanh toán qua ngân hàng đối với các dịch vụ công; đảm bảo các hệ thống thanh toán, hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán ổn định, an toàn và hiệu quả Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp với Bộ Tài chính liệt kê và công khai chi tiết danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng, từ đó đưa ra công cụ chính sách phù hợp Ngân hàng Nhà nước cũng đã có văn bản đề nghị các ngân hàng thương mại tuỳ theo điều kiện kinh doanh của đơn vị áp dụng chính sách ưu đãi hợp lý cho khách hàng thanh toán không dùng tiền mặt Các chính sách ưu đãi được nêu ra như: miễn giảm phí dịch vụ thanh toán, tặng quà cho khách hàng khi mở mới tài khoản thanh toán, thẻ hoặc thực hiện chuyển khoản, thanh toán hàng hoá, dịch

vụ, hoá đơn bằng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt Các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt được Ngân hàng Nhà nước liệt kê gồm cà thẻ, thanh toán qua các ứng dụng trên điện thoại di động, thanh toán qua mã

QR, trích nợ tự động…Ngân hàng Nhà nước cũng đề nghị ngân hàng thương mại phối hợp với các đơn vị cung cấp dịch vụ chấp nhận thanh toán như dịch vụ điện, nước, học phí, viện phí thực hiện các chương trình khuyến mại, quảng

bá dịch vụ như tặng quà, hoàn tiền, giảm giá dịch vụ, tặng điểm thưởng nhằm khuyến khích khách hàng thanh toán không dùng tiền mặt Hơn nữa, ngân hàng cần xem xét thực hiện ưu đãi phí chiết khấu đối với các đơn vị chấp nhận tham gia thanh toán không dùng tiền mặt Đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, Ngân hàng Nhà nước cũng đề nghị phối hợp với các đơn vị liên quan áp dụng chính sách ưu đãi cho khách hàng sử dụng dịch vụ trung gian thanh toán để thanh toán không dùng tiền mặt

Trang 29

21

Đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử, Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phải báo cáo phương án cho phép nạp tiền mặt vào ví điện tử không qua tài khoản thanh toán ngân hàng Xác định hạn mức số tiền nạp ví điện tử và giá trị giao dịch hàng tháng Đồng thời Ngân hàng Nhà nước

đã đề nghị có các ưu đãi cho khách hàng đăng ký, liên kết thành công tài khoản với tài khoản thanh toán mở tại ngân hàng

Để hoàn thiện đồng bộ chính sách chính sách thanh toán không dùng tiền mặt, Chính phủ tiếp tục rà soát, hoàn thiện hành lang pháp lý: Nắm bắt xu thế phát triển của hoạt động thanh toán, Ngân hàng Nhà nước chú trọng rà soát, nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách, khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thanh toán, nhằm tiếp tục thúc đẩy TTKDTM Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 02/2019/TT-NHNN ngày 28/02/2019 sửa đổi,

bổ sung một số điều của Thông tư số 23/2014/TT-NHNN hướng dẫn việc mở

và sử dụng các tài khoản thanh toán tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán Thông tư này về cơ bản đã xử lý vướng mắc liên quan đến việc thực hiện Thông tư số 23/2014/TT-NHNN Trước đó, Ngân hàng Nhà nước cũng

đã công bố các yêu cầu kỹ thuật thẻ thanh toán nội địa công nghệ chip tiếp xúc và không tiếp xúc tại Việt Nam, tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa Theo Ngân hàng Nhà nước, việc áp dụng tiêu chuẩn thẻ chip sẽ gia tăng nhiều tính năng, tiện ích cho khách hàng, góp phần quan trọng thúc đẩy TTKDTM, nhờ những tiện ích về độ an toàn, bảo mật và tiện dụng NHNN cũng đặt rõ lộ trình cho các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trong việc chuyển đổi từ thẻ từ sang thẻ chip

Cũng nhằm thúc đẩy TTKDTM, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1/1/2019, Ngân hàng Nhà nước đang chủ động nghiên cứu phương án cho phép nạp tiền mặt vào ví điện tử không qua tài khoản ngân hàng; xác định hạn mức, số tiền tối đa được nạp vào ví điện tử

và giao dịch hằng tháng (báo cáo Chính phủ trước quý III/2019) Bên cạnh

Trang 30

22

đó, Ngân hàng Nhà nước cũng nghiên cứu xây dựng cơ chế quản lý thử nghiệm trong hoạt động công nghệ tài chính, nghiên cứu triển khai thí điểm việc sử dụng tài khoản viễn thông thanh toán với những giao dịch có giá trị nhỏ, trình Thủ tướng Chính phủ trong thời gian tới

Cùng với hoàn thiện chính sách pháp luật, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục tập trung vào việc phát triển hoạt động TTKDTM Cụ thể là theo dõi, đôn đốc việc thực hiện đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với việc thu phí các dịch vụ công như: thuế, điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội… Trong những tháng đầu năm 2019, Ngân hàng Nhà nước đã ra văn bản yêu cầu các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán đẩy mạnh thanh toán điện tử đối với dịch vụ công Theo đó, các tổ chức này cần chú trọng nghiên cứu và tích cực triển khai áp dụng các giải pháp để cải tiến quy trình nghiệp vụ, tối ưu hóa quy trình xử lý nhằm cung ứng đa dạng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán chất lượng, với chi phí hợp lý để thanh toán thuận tiện, nhanh chóng, an toàn đối với các khoản phí, lệ phí, thanh toán hóa đơn điện, nước, học phí, viện phí Đồng thời, nghiên cứu giải pháp về mô hình kết nối giữa các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán với Cổng dịch vụ công quốc gia, hệ thống một cửa điện tử của các Bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, đơn vị liên quan nhằm đơn giản hóa thủ tục và tạo điều kiện thanh toán điện tử đối với các khoản phí, lệ phí, thanh toán hóa đơn điện, nước, học phí, viện phí

1.2.7.2 Các yếu tố môi trường kinh tế tác động đến thanh toán không bằng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý

Môi trường kinh tế xã hội là tổng hòa các mối quan hệ về kinh tế và xã hội tác động lên hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý Môi trường kinh tế thuận lợi sẽ tạo điều kiện tốt cho hoạt động của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ

Trang 31

Hệ thống thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán là tổng thể bao gồm các yếu tố: cơ sở pháp lý và các điều kiện tổ chức thanh toán, các chủ thể tham gia thanh toán, các dịch vụ thanh toán, các phương tiện

và các phương thức thanh toán Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau tạo thành hệ thống thanh toán qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán trong nền kinh tế Trong đó, các yếu tố quan trọng hàng đầu là các quy định của pháp luật và của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán làm dịch vụ thanh toán; hệ thống cơ sở kỹ thuật hạ tầng và công nghệ sử dụng để cung cấp dịch vụ thanh toán

1.2.7.3 Các yếu tố ảnh hưởng của môi trường văn hóa, xã hội tác động đến thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản

Yếu tố về môi trường văn hóa xã hội: Môi trường văn hoá- xã hội được hình thành từ những tổ chức và những nguồn lực khác nhau có ảnh hưởng cơ bản đến giá trị của xã hội như cách nhận thức, trình độ dân trí, trình độ văn hoá, lối sống, thói quen sử dụng và cất trữ tiền tệ và sự hiểu biết của dân chúng về hoạt động thanh toán qua ngân hàng Trình độ văn hoá- xã hội cao

sẽ giúp hoạt động thanh toán qua ngân hàng phát triển mạnh và ngược lại Sự

Trang 32

24

phát triển của hệ thống thanh toán bắt nguồn từ các giao dịch thương mại mang tính xã hội và dựa trên các quy ước, tập quán, thói quen trong mua bán, thanh toán một xã hội, người dân có thói quen tiêu tiền mặt, việc phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn

1.2.7.4 Các yếu tổ ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật và công nghệ thanh toán tác động tới thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật cho phép các tổ chức cung ứng dịch

vụ thanh toán có thể phát triển các dịch vụ thanh toán khác nhau để khách hàng lựa chọn Công nghệ thông tin phát triển đã tạo ra một bước tiến nhảy vọt trong lĩnh vực thanh toán, tác động mạnh mẽ đến cách thức mà người ta thực hiện một giao dịch thanh toán, thanh toán không dùng tiền mặt phát triển với một tốc độ nhanh nhất từ trước tới nay Các yếu tố khoa học kỹ thuật và công nghệ thanh toán ảnh hưởng đến thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ do Nhà nước quản lý như sau:

Một là, về đồng bộ cơ sở hạ tầng, hệ thống công nghệ thông tin giữa

ngân hàng thương mại, tổ chức trung gian và các đơn vị cung cấp dịch vụ công đồng bộ cơ sở hạ tầng, hệ thống công nghệ thông tin để quản lý dữ liệu tập trung Phân công, phân nhiệm rõ ràng cho đầu mối phụ trách tại các đơn

vị dịch vụ công Đồng thời, Công ty cổ phần thanh toán Quốc gia Việt Nam phối hợp với các ngân hàng và tổ chức trung gian để đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý nói riêng Công ty cổ phần thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) trong vai trò là trung tâm chuyển mạch quốc gia, cung ứng hạ tầng thanh toán điện tử cho các ngân hàng, các trung gian thanh toán, các đơn vị cung cấp công để người dân có thể dễ dàng và nhanh chóng thực hiện thanh toán NAPAS đang phối hợp cùng các ngân hàng trực

Trang 33

25

tuyến, các đơn vị hành chính công xây dựng hạ tầng để người dân có thể dễ dàng, nhanh chóng thanh toán trực tuyến qua mạng Internet, thanh toán trên ứng dụng chạy trên điện thoại thông tin Từ hạ tầng này, người dân có thể thanh toán qua kênh giao dịch của các ngân hàng, thanh toán qua kênh giao dịch của tiền gửi

Hai là, về kết nối cơ sở dữ liệu khách hàng của các đơn vị cung cấp

dịch vụ công với hệ thống thanh toán ngân hàng, các tổ chức trung gian và các đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông Trong các yếu tố về kết nối cơ sở dữ

liệu khách hàng phải đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng xây dựng

cơ sở dữ liệu khách hàng của đơn vị cung cấp dịch vụ công, cụ thể như dưới đây:

i/ Yếu tố pháp lý: cần có hệ thống pháp lý thống nhất, đồng bộ trong công tác xây dựng dữ liệu, chia sẻ dữ liệu khách hàng của các đơn vị cung cấp dịch vụ công

ii/ Yếu tố kỹ thuật: Lựa chọn đầu tư thiết bị, phần mềm để xây dựng

lưu trữ cơ sở dữ liệu khách hàng, đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu, kết nối cơ sở dữ liệu của từng nghành, kết nối cơ sở dữ liệu với từng địa phương, kết nối với các nghành liên quan và kết nối với hệ thống của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng

iii/ Yếu tố tài chính: Khả năng tài chính để đầu tư xây dựng cơ sở dữ

liệu khách hàng của đơn vị cung cấp dịch vụ công là rất quan trọng và có tính tiên quyết để xây dựng được cơ sở dữ liệu khách hàng của đơn vị cung cấp dịch vụ công

iv/ Yếu tố con người: nguồn lực con người tham gia khối lượng công việc rất lớn từ kê khai, nhập dữ liệu chính xác để hình thành cơ sở dữ liệu khách hàng và xử lý cơ sở dữ liệu khách hàng của đơn vị cung cấp dịch vụ công (nghành điện, nước, viện phí, học phí, thuế, hải quan)

Trang 34

26

Ba là, yếu tố cơ sở hạ tầng của nghành ngân hàng để có công nghệ nền

tảng: Ngành ngân hàng kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin và viễn thông đóng vai trò chủ chốt cung cấp công nghệ nền tảng để thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt Các NHTM và các đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông cần tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển mạnh các phương thức thanh toán điện tử như ngân hàng trực tuyến, tăng tốc độ thanh toán qua internet, đảm bảo tiện lợi trong giao dịch thanh toán qua điện thoại di động, thanh toán không tiếp xúc và chấp nhận thanh toán không tiếp xúc, thanh toán không tiếp xúc trên các thiết bị di động khác, thanh toán qua QR Code, Tokenization ;

áp dụng các biện pháp an ninh, tiêu chuẩn bảo mật mới, tiên tiến phù hợp với

xu hướng thanh toán trên thế giới, đảm bảo thanh toán nhanh chóng, an ninh

an toàn, tiện lợi và có chi phí hợp lý

Bốn là, yếu tố về quy chế an toàn thông tin: Để xây dựng hệ thống công

nghệ nền tảng cho thanh toán không dùng tiền mặt, nghành ngân hàng đã ban hành quy chế an toàn thông tin và triển khai các giải pháp xuyên suốt từ lớp mạng tới lớp ứng dụng, cùng các hệ thống giúp đảm bảo an ninh, an toàn và hoạt động liên tục cho các hệ thống CNTT, chuẩn hóa hạ tầng CNTT theo chuẩn quốc tế Trang bị và quản lý tài nguyên hạ tầng trên nền tảng ảo với hầu hết các hệ thống ứng dụng, hoàn thành triển khai trục tích hợp giúp tăng khả năng tích hợp và tự động hóa trong trao đổi thông tin giữa các hệ thống

1.2.7.5 Các yếu tố ảnh hưởng của khả năng, năng lực cán bộ làm công tác quản lý thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công do Nhà nước quản lý

Cùng với cơ sở pháp lý, quy chế nghiệp vụ, công cụ, phương thức tổ chức thanh toán và nâng cấp kỹ thuật, vấn đề tuyển dụng, đào tạo trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý thanh toán và kỹ thuật nghiệp vụ là yếu

tố chủ quan tác động trực tiếp vào quản lý thanh toán không dùng tiền mặt

Trang 35

27

Ngân hàng Nhà nước cũng đã triển khai nhiều giải pháp kỹ thuật mới, vận hành và sử dụng đồng bộ các hệ thống phần mềm thông minh, ứng dụng những thành tựu mới nhất của CNTT, triển khai theo mô hình tập trung từ Trung ương đến địa phương… để quản lý thanh toán không dùng tiền mặt Tuy nhiên, khả năng sử dụng các chương trình tin học của một số cán bộ vẫn còn hạn chế chưa phát huy được tính năng công nghệ hiện đại áp dụng vào thanh toán không dùng tiền mặt đối với các dịch vụ công do Nhà nước quản

lý Một số cán bộ có trình độ ngoại ngữ cao còn ít chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt trong thời kỳ phát triển cách mạng công nghệ 4.0 Một số cán bộ còn yếu kém về lề lối làm việc, tác phong chậm chạp và vẫn còn một bộ phận cán bộ còn chưa thực hiện đầy

đủ tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ, vẫn để xảy ra các sự cố không mong muốn trong hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt

1.3 Kinh nghiệm về thanh toán không dùng tiền mặt đối với dịch vụ công của các quốc gia khác trên thế giới

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

1.3.1.1 Kinh nghiệm về thanh toán không dùng tiền mặt của Trung Quốc

Kinh nghiệm của Trung Quốc, một quốc gia đông dân nhất thế giới và có nhiều đặc điểm kinh tế - xã hội tương đồng, là sự tham khảo tích cực cho Việt Nam trong thực hiện phát triển TTKDTM Một trong các giải pháp để phát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế là mở rộng thanh toán trên các thiết bị di động, vì tiện lợi, nhanh chóng và xu hướng người dân sử dụng các thiết bị di động ngày càng rộng rãi và tăng nhanh

Các hệ thống thanh toán tại Trung Quốc:

Trong những năm gần đây, sự phát triển của các hệ thống thanh toán tại Trung Quốc đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Phát triển TTKDTM, nhất là dịch vụ thanh toán di động ở Trung Quốc ngày càng phát triển mạnh mẽ Quá trình phát triển và ứng dụng

Trang 36

28

công nghệ thông tin vào hoạt động thanh toán ở Trung Quốc đã làm tăng nhanh tốc độ chu chuyển luồng vốn và trao đổi thương mại, thúc đẩy quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, tiền tệ, hoạt động sản xuất kinh doanh

Trung Quốc đã thiết lập được một hệ thống thanh toán bao gồm 3 cấp: Ngân hàng Trung ương (NHTW), ngân hàng thương mại (NHTM), các tổ chức phi tài chính, tạo thành một hệ thống đồng bộ, ngày càng hoàn thiện và thống nhất trên toàn quốc, với nòng cốt là hệ thống thanh toán giá trị cao (HVPS) và hệ thống thanh toán điện tử giá trị thấp theo lô (BEPS), cùng với

hệ thống thanh toán séc (CIS), hệ thống thanh toán bù trừ tự động (ACH), hệ thống thanh toán nội bộ của các NHTM, hệ thống thanh toán bù trừ thẻ liên ngân hàng (CUP), hệ thống thanh toán ngoại tệ trong nước (CDFCPS) là những cấu phần quan trọng trong hệ thống thanh toán quốc gia Trong đó, NHTW (PBOC) giữ vai trò là Nhà vận hành hệ thống HVPS và BEPS, CIS, đồng thời là người quản lý và giám sát các hệ thống thanh toán khác Đặc biệt, đối với hệ thống thanh toán CUP, PBOC tuy không trực tiếp vận hành, nhưng đã định hướng trực tiếp và có nhiều hỗ trợ trong quá trình hình thành

bù trừ thẻ liên ngân hàng của CUP, hệ thống xử lý giấy tờ có giá của các NHTM, Do đó, sự an toàn và ổn định trong vận hành của các hệ thống thanh toán tại Trung Quốc phụ thuộc rất nhiều vào sự vận hành của Hệ thống thanh toán HVPS

Việc phát triển các hệ thống thanh toán tại Trung Quốc hiện nay tuy chịu sự chi phối của các động lực thị trường, nhưng vai trò của Nhà nước và

Trang 37

29

Chính phủ vẫn là nhân tố đặc biệt quan trọng Việc đầu tư phát triển các hệ thống thanh toán và tạo lập hệ thống thanh toán cốt lõi, xương sống trong nền kinh tế đòi hỏi cần phải có sự can thiệp của Nhà nước và Chính phủ Trên cơ

sở đó, các hệ thống thanh toán khác như hệ thống thanh toán bán lẻ, hệ thống thanh toán chứng khoán, hệ thống thanh toán ngoại tệ liên ngân hàng, sẽ được kết nối với hệ thống thanh toán cốt lõi nhằm đảm bảo thông suốt cho hoạt động thanh toán trong nền kinh tế Sự phát triển các hệ thống thanh toán

đã giúp cho các phương tiện thanh toán qua ngân hàng ở Trung Quốc duy trì mức tăng trưởng nhanh và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thay thế tiền mặt Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và Internet, hoạt động thanh toán điện tử của Trung Quốc đã duy trì đà tăng trưởng mạnh, hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của thương mại điện tử Đặc biệt, hoạt động thanh toán qua Internet phát triển rất nhanh với mức tăng đột biến về khối lượng giao dịch Hiện tăng trưởng phát hành thẻ ngân hàng đã chậm lại do gần tới ngưỡng, nhưng tỷ lệ thẻ tín dụng được phát hành đang tăng nhanh hơn Các ngân hàng cũng tập trung vào chất lượng và hiệu quả của thẻ, đặc biệt chất lượng của các dịch vụ thẻ, thay vì chạy theo số lượng như trước đây

Môi trường chấp nhận thẻ ngân hàng tại Trung Quốc tiếp tục được cải thiện, tính tiện ích và tiện lợi đối với người dân đang ngày càng rõ ràng hơn Việc phát hành và sử dụng thẻ ngân hàng được thực hiện theo quy chế quản lý nghiệp vụ thẻ ngân hàng của NHTW Trung Quốc, trong đó quy định rõ các ngân hàng thương mại muốn phát hành thẻ phải có đủ điều kiện và được NHTW cho phép Để bảo đảm an toàn hoạt động các máy móc, thiết bị phục

vụ thanh toán thẻ như ATM, POS, PBOC phối hợp với Bộ Công an nhằm điều tra và trấn áp tội phạm liên quan tới việc làm thẻ giả và gian lận thẻ, trừng trị nghiêm khắc đối với các hoạt động gian lận thẻ Trong đẩy mạnh phát triển TTKDTM, vai trò của Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước

Trang 38

30

Trung Quốc là rất quan trọng; cần thiết phải áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, kể cả các biện pháp hành chính bắt buộc trong quan hệ thanh toán đối với một số lĩnh vực cụ thể, nhất là trong chi tiêu ngân sách nhà nước Những kinh nghiệm trong việc phát triển hoạt động TTKDTM tại Trung Quốc là bài học cho Việt Nam trong việc đẩy mạnh phát triển TTKDTM

Kinh nghiệm quản lý thanh toán trên các thiết bị di động ở Trung Quốc:

Ở các nước phát triển, hầu hết người dân đều có các tài khoản ngân hàng và việc sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến để thanh toán cho hàng hoá và dịch vụ đã trở nên rất thông dụng Vì vậy, thanh toán di động hay ví tiền điện tử khó có thể “chen chân” vào một thị trường đã bão hoà Tuy nhiên,

ở các quốc gia mà một phần không nhỏ dân cư không có tài khoản ngân hàng trong khi các công ty viễn thông lại phủ sóng rộng rãi như Trung Quốc thì thanh toán qua điện thoại di động hay ví tiền điện tử có cơ hội phát triển nhanh chóng Thành công của thanh toán trên thiết bị di động ở Trung Quốc thể hiện rõ ràng nhất qua 3 lĩnh vực:

Thứ nhất, thanh toán qua điện thoại di động: Mua sắm trực tuyến được

đẩy mạnh cùng với sự phát triển của điện thoại thông minh Điều tra tại Trung Quốc cho thấy, có 95% người sử dụng internet bằng điện thoại di động

Alipay, dịch vụ thanh toán của Alibaba đã nhanh chóng trở thành sự lựa chọn cho ví tiền điện tử, tuy nhiên nó cũng phải đối mặt với thách thức lớn khi Tencent - một công ty game và tin nhắn trình diện chức năng thanh toán cho ứng dụng của điện thoại Wechat với số người sử dụng lên tới 889 triệu tài khoản vào quý IV/2016 (Statista, 2017)

Thứ hai, ví tiền thông minh: Ví tiền thông minh là sự cải tiến đặc biệt,

khi ứng dụng trên điện thoại di động có thể kết nối trực tuyến tới các giao dịch bán lẻ trực tiếp Mã vạch có dạng ma trận (QR code) đã có mặt khắp nơi

ở các cửa hàng bán lẻ hay quán ăn sử dụng ngôn ngữ Trung Quốc Người sử dụng chỉ đơn giản mở ứng dụng Wechat hay Alipay chụp QR code và thanh

Trang 39

31

toán hay là người bán hàng thu tiền của khách hàng bằng việc chụp ma trận

mã vạch của khách hàng

Thứ ba, thương mại điện tử giúp tiếp cận các khách hàng nhỏ lẻ Hầu

hết các ngân hàng ở Trung Quốc đã bỏ qua những người vay tiền số lượng ít

mà chỉ tập trung cho các doanh nghiệp nhà nước vay Thêm vào đó, sự thiếu vắng hệ thống xếp hạng tín dụng cá nhân đã khiến cho các ngân hàng lưỡng

lự khi cho các cá nhân vay

Với sự ra đời của thương mại điện tử, xếp hạng tín dụng cho khách hàng đã được tạo ra nhờ sử dụng các thông tin cá nhân và lịch sử các giao dịch mua sắm trực tuyến Alibaba và JD.com, hai cổng thanh toán điện tử lớn nhất của Trung Quốc cho phép người tiêu dùng có thể vay với số tiền nhỏ hơn 10.000 NDT

Các yếu tố tác động đến mô hình thanh toán di động tại Trung Quốc:

Yếu tố cơ bản tác động đến các mô hình thanh toán di động ở Trung Quốc chính là các quy định thắt chặt yêu cầu về giấy phép hoạt động tài chính cho các công ty nhận tiền gửi hoặc cung cấp các dịch vụ thanh toán Các tổ chức phi tài chính muốn cung cấp các dịch vụ thanh toán điện tử bắt buộc phải có giấy phép tài chính hoặc là đối tác với một công ty đã được cấp giấy phép nếu không muốn bị chấm dứt hoạt động

Yếu tố thứ hai là cạnh tranh giữa những nhà cung cấp dịch vụ điện thoại và các ngân hàng tại Trung Quốc Nếu các công ty cung cấp dịch vụ điện thoại có lợi thế về số lượng thuê bao và cơ sở hạ tầng của mạng di động thì các ngân hàng Trung Quốc lại có lợi thế về vốn và vị thế trên thị trường

Một yếu tố khác có tác động tích cực là thị trường dành cho thanh toán qua điện thoại di động ở Trung Quốc có tiềm năng phát triển vô cùng lớn Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, sức mua của người tiêu dùng Trung Quốc cũng tăng lên trong những năm gần đây, góp phần mở rộng thị trường

Trang 40

32

thanh toán di động trong tương lai gần và tạo ra những cơ hội cho người chơi cũng như các mô hình hoạt động

1.3.1.2 Kinh nghiệm về thanh toán không dùng tiền mặt của Nhật Bản

Những năm gần đây, hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đang rất phát triển Chính phủ Nhật cũng chủ trương phát triển xã hội không tiền mặt nên hình thức thanh toán này nhận được nhiều ưu đãi hơn cả thanh toán bằng tiền mặt Kể từ năm 2019 khi mà thuế tiêu dùng của Nhật tăng từ 8% lên 10% thì hình thức cashless ngày càng được sử dụng nhiều hơn vì nhiều ưu đãi Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đã trở nên phổ biến và được người Nhật đánh giá có 3 ưu điểm chính là: tiện lợi, nhiều ưu đãi và an toàn Hiện tại có 5 hình thức thanh toán không dùng tiền mặt phổ biến nhất tại Nhật bản như sau:

i/ Thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng được sử dụng rộng rãi, nhiều hình thức thanh toán tiền mặt cũng liên kết với thẻ này Chỉ cần một tấm thẻ tín dụng là gần như có thể thanh toán hầu hết các giao dịch Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể làm được thẻ tín dụng do cần có sự kiểm tra, thẩm định dựa trên các điều kiện khi đăng kí

ii/ Thẻ ghi nợ: Tiền được rút trực tiếp từ tài khoản ngân hàng tại thời điểm thanh toán Khác với thẻ tín dụng không cần phải qua thẩm định Chỉ cần có tài khoản ngân hàng là khi tiến hành thanh toán, số tiền bị trừ đi trực tiếp từ tài khoản bằng với số tiền giao dịch, không cần mất công bỏ tiền vào tài khoản

iii/ Thanh toán điện tử: Là hình thức thanh toán bằng thẻ hoặc ứng dụng trên điện thoại thông minh tương ứng bằng việc sử dụng số tiền đã được nạp vào thẻ đó

Thẻ liên quan đến đi lại: Các loại thẻ được phát hành bởi các công ty vận

tải Ban đầu các thẻ này được tạo ra với mục đích là thẻ vé tháng hay thẻ đi xe buýt, tàu điện nhưng sau này nó được phát triển thêm các chức năng như

Ngày đăng: 04/04/2021, 16:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w