1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tiểu luận Ẩm thực ngày tết Nguyên Đán của người Mường ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

37 147 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 62,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xu thế hội nhập khi văn hóa ngoại lai ngày càng xâm chiếm mạnh mẽ đã làm cho các giá trị văn hóa truyền thống biến đổi và đang có nguy cơ bị mai một, trong đó có ẩm thực ngày Tết. Vậy nên cần có những chính sách thực tiễn nhằm bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Với những lý do trình bày trên đây ,cộng với niềm say mê của bản thân mình, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Ẩm thực ngày tết Nguyên Đán của người Mường ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình làm báo cáo của mình.

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành báo cáo và sản phẩm thực tập này, trước tiên xin chânthành cảm ơn tới các thầy cô giảng viên đã tổ chức chuyến đi thực tập này để cóthêm kinh nghiệm cho bản thân, tạo điều kiện áp dụng những kiến thức đã họcvào trong quá trình đi thực tập

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

MỞ ĐẦU 1.Lịch sử vấn đề

“Cơm đồ nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui tháng tới…”Đó là câu nói

đã được đúc kết từ xa xưa của ông cha khi nói về truyền thống dân tộc Mường –văn hóa Mường

Người Mường là một tộc người có nguồn gốc bản địa ở Việt Nam, họ đãxây dựng nên một nền văn hóa đa dạng, phong phú Đó là những tác phẩm vănhọc có giá trị như Đẻ đất đẻ nước, Nàng nga hai mối, hay trang phục truyềnthống độc đáo cùng tiếng chiêng rộn rã, những lễ hội đậm chất nhân văn , trongđó không thể không kể đến ẩm thực đặc biệt là ẩm thực ngày Tết Nguyên Đán

Ẩm thực truyền thống là một thành tố của văn hóa tộc người Muốn hiểu biếtcặn kẽ về bản sắc văn hóa của một dân tộc thì tìm hiểu ẩm thực ngày tết sẽ chochúng ta biết nhiều hơn về đặc trưng văn hóa của dân tộc đó Trong bối cảnhhiện nay, nghiên cứu ẩm thực truyền thống còn cung cấp cơ sở khoa học choviệc giải quyết vấn đề dinh dưỡng, tăng cường thể lực, sức khỏe…cho các tộcngười , địa phương, khu vực, quốc gia Không những thế ,việc nghiên cứu ẩmthực cũng như các thành tố văn hóa khác còn góp phần phát triển du lịch vănhóa Chính thế , nghiên cứu ẩm thực người Mường là một nhu cầu thực tiễnphát triển kinh tế - xã hội hiện nay

Trong xu thế hội nhập khi văn hóa ngoại lai ngày càng xâm chiếm mạnh

mẽ đã làm cho các giá trị văn hóa truyền thống biến đổi và đang có nguy cơ bịmai một, trong đó có ẩm thực ngày Tết Vậy nên cần có những chính sách thựctiễn nhằm bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong thời kỳ hộinhập hiện nay

Với những lý do trình bày trên đây ,cộng với niềm say mê của bản thânmình, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Ẩm thực ngày tết Nguyên Đán của ngườiMường ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình làm báo cáo của mình

2.Lịch sử nghiên cứu

Theo cách phân chia khoa học thì ăn uống được xếp vào mảng văn hóađảm bảo nhu cầu sinh tồn còn gọi là văn hóa vật chất Vì vậy ,ăn uống đã được

Trang 3

đề cập đến trong các công trình nghiên cứu dân tộc học ở cả trong và ngoàinước Có nhiều tác phẩm viết về ẩm thực người Mường như văn hóa ẩm thựcdân gian Mường Hòa Bình của tác giả Bùi Chi (2001) Trong công trình này, tácgiả đề cập tới những món ăn truyền thống, văn hóa rượu cần và những ứng xửxã hội trong ăn uống của người Mường ở Hòa Bình Hay cuốn Văn hóa truyềnthống một số tộc người ở Hòa Bình do Nguyễn Thị Thanh Nga chủ biên (2007)đề cập một cách khái quát đến cách ăn uống của người Mường Một học giảngười Pháp là Jeanne Cuisiner (1995) cũng đã có một công trình nghiên cứu khátoàn diện về người Mường ở Việt Nam, trong đó đối tượng nghiên cứu chủ yếulà người Mường ở Hòa Bình, công trình cũng đã đề cập đến ẩm thực với cácmón ăn truyền thống và giải thích nguồn gốc sử dụng lá chuối xanh và để giữamâm Đây là những tài liệu quan trọng là cơ sở giúp tôi hoàn thành bài báo cáonày, tuy nhiên những nghiên cứu trên chỉ trình bày một cách khái quát màkhông đi sâu vào từng địa điểm, và cách ăn uống của từng lễ hội, từng mùatrong năm Đặc biệt, chưa có đề tài ẩm thực nào nghiên cứu cách chi tiết đầy đủvề ẩm thực người Mường ở huyện Kỳ Sơn truyền thống cũng như một số biếnđổi hiện nay Chính vì vậy, thực hiện đề tài này ,tôi hy vọng sẽ kết hợp các cáchtiếp cận trên và có thể đi sâu tìm hiểu nghiên cứu sâu hơn, hoàn thiện hơn vềẩm thực của người Mường ở huyện Kỳ Sơn xưa kia cũng như trong bối cảnh hộinhập hiện nay.

3.Mục đích nghiên cứu

Đề tài này nhằm tìm hiểu tập quán ăn uống ngày Tết Nguyên Đán truyềnthống của người Mường ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình những xu hướng biếnđổi trong tập quán ăn uống ngày Tết của đồng bào hiện nay Từ đó, bước đầuxây dựng những cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số kiến nghị, giải pháp đểbảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa ẩm thực tốt đẹp của người Mường ởhuyện Kỳ Sơn trong phát triển bền vững hội nhập

4.Nhiệm vụ nghiên cứu

-Khái quát người Mường ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

-Ẩm thực trong ngày Tết Nguyên Đán truyền thống

Trang 4

-Biến đổi trong ẩm thực ngày Tết.

-Cơ sở, giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người trongẩm thực người Mường ở huyện Kỳ Sơn

5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

-Đối tượng nghiên cứu của đề tài là âm thực ngày Tết Nguyên Đán cũngnhư các hoạt động liên quan của người Mường ở huyện Kỳ Sơn

-Địa bàn nhiên cứu của đề tài là huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận chung là dựa trên chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng

Hồ Chí Minh trong quá trình nghiên cứu tập quán ăn uống của người Mường.Đó là đặt nội dung nghiên cứu trong bối cảnh môi trường tự nhiên, kinh tế, xãhội và văn hóa của tộc người mà cụ thể là dân tộc Mường và của vùng

Phương pháp thực tiễn được đề tài sử dụng chủ yếu là phương pháp điềndã Dân tộc học, điều tra, điền dã thực địa,…

Quan sát tham dự được thực hiện trong suốt quá trình điền dã các đốitượng quan sát chủ yếu là điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác, tập quán chănnuôi hái lượm, cách chế biến, thưởng thức thực phẩm, những ứng xử xã hộitrong ăn uống

Đối tượng phỏng vấn là những người cao tuổi còn minh mẫn có uy tíntrong cộng đồng và am hiểu phong tục tập quán trong ăn uống xưa để tìm hiểu

rõ hơn về sự thay đổi trong tập quán ăn uống

Trang 5

Bên cạnh đó tôi còn sử dụng tổng hợp để thu thập lại những tài liệu hiệncó của địa phương nơi nghiên cứu về những nội dung liên quan của đề tài.

Phương pháp tổng hợp, phân tích: Tổng hợp, tham khảo tài liệu từ những côngtrình đã công bố về ẩm thực, đặc biệt là ẩm thực Mường

8.Kết cấu của đề tài

Ngoài lời mở đầu, phụ lục, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung báocáo được kết cấu như sau:

Chương 1: Khái quát về người Mường ở huyện Kỳ Sơn

Chương 2: Ẩm thực ngày Tết Nguyên Đán của người Mường ở huyện KỳSơn trong truyền thống

Chương 3: Những biến đổi trong ẩm thực ngày Tết Nguyên Đán củangười Mường ở huyện Kỳ Sơn hiện nay

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN KỲ SƠN,

Khí hậu:

Nằm ở vùng giữa của tỉnh Hòa Bình, huyện Kỳ Sơn có độ cao trung bình

so với mực nước biển từ 200 – 300 m, có địa hình đồi núi thấp, ít núi cao nhưngcó độ dốc lớn, từ 30 - 40o, theo hướng thấp dần từ đông nam đến tây bắc Cũngnhư các huyện khác, Kỳ Sơn có khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông lạnh, khôvà ít mưa, mùa hè nóng và mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21,8oC-24,7oC, nhiệt độ cao nhất là 40oC, nhiệt độ thấp nhất là 20oC, lượng mưa trungbình 1.800 - 2.200 mm ở các ngọn núi cao có khí hậu mát mẻ, vào mùa hè cóthể làm khu điều dưỡng, nghỉ ngơi

Tài nguyên:

Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20.204,36 ha,

trong đó, đất nông nghiệp là 2.906,48 ha (14,4%), đất lâm nghiệp là 5.675,26 ha(28,1%), đất chưa sử dụng là 10.744,59 ha (53,2%).Vùng đất Kỳ Sơn có cấu tạođịa chất tương đối phức tạp Do lớp thổ nhưỡng được hình thành qua nhiều thời

kỳ kiến tạo vỏ trái đất nên đất ở Kỳ Sơn rất đa dạng Theo tài liệu điều tra thổnhưỡng năm 1974, Kỳ Sơn có hai nhóm đất chính: đất đồi núi chiếm 78%, đất

Trang 7

ruộng chiếm 22% Ngoài ra còn các loại đất phù sa không được bồi, đất phù sasông Đà được bồi.Huyện Kỳ Sơn có nguồn tài nguyên nước dồi dào với 20 kmsông Đà chảy qua các xã Trung Minh, Dân Hạ, Hợp Thành, Hợp Thịnh và thịtrấn Kỳ Sơn, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

Tài nguyên nước:Trên địa bàn huyện còn có nhiều con suối lớn nhỏ có

khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.Trước kia, doquá trình điều tiết dòng chảy, sông Đà thường gây ra lũ lụt làm hai bên bờ bị xói

lở mạnh Đập thủy điện sông Đà hoàn thành đã chủ động được trong việc điềutiết dòng chảy, hạn chế được lũ lụt và hạn hán

Tài nguyên rừng:Thảm rừng Kỳ Sơn khá phong phú, cung cấp rất nhiều

loài gỗ quý như lim, lát các loại cây dược liệu như sa nhân, hoài sơn, thổ phụclinh, ngũ gia bì và nhiều loại lâm sản như măng, mộc nhĩ, nấm hương Tuynhiên, việc khai thác bừa bãi của con người đã làm cho diện tích và trữ lượngcác thảm rừng bị suy thoái nghiêm trọng, cần phát huy phong trào trồng mới,bảo vệ rừng

Tài nguyên khác:Ở Kỳ Sơn có mỏ đất sét khoảng 2 triệu m3 và các mỏ

cát ở Hợp Thành, Hợp Thịnh, rất thuận lợi cho việc sản xuất nguyên vật liệu xâydựng Tuy nhiên, những nguồn tài nguyên quý đó chưa được khai thác phục vụcho cuộc sống.Huyện Kỳ Sơn có cảnh quan môi trường với nhiều núi đá, hangđộng, hồ nước, rừng thông khá hấp dẫn và nhiều danh thắng đẹp có thể pháttriển du lịch

Trang 8

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp đạt kết quả khá, chủ yếu tập trung vào các mặthàng truyền thống như: vật liệu xây dựng, đồ may mặc và một số mặt hàngkhác.

Hoạt động thương mại và du lịch được tăng cường đảm bảo các nhu cầusản xuất, kinh doanh của người tiêu dùng ở các thành phần kinh tế, đáp ứng nhucầu đời sống của nhân dân

Bộ, dân tộc Mường có quan hệ thân thuộc và gần gũi với dân tộc Kinh

1.3 Phương thức mưu sinh

Người Tày có truyền thống trồng lúa nước lâu đời với kỹ thuật thâmcanh các biện pháp thuỷ lợi Ngoài ra, đồng bào còn trồng trọt trên đất bãi vớilúa khô, hoa màu, cây ăn quả Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, giacầm Các nghề thủ công gia đình được chú ý, nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩmvới nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo Chợ là một hoạt động kinh tế quantrọng.Người Tày sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi Trong trồngtrọt họ lấy lúa nước làm chủ đạo, có hai vụ đó là vụ mùa và vụ chiêm Ngoài racùng với các dân tộc khác trong vùng như người Kinh, Mông, Dao họ còn làmnương rẫy ở các vùng đồi núi xung quanh xã để trồng hoa màu và cây ăn quả

Họ chăn nuôi các loại gia súc như trâu, bò để lấy sức kéo, nuôi các loại gia cầmnhư gà, vịt, ngan làm thực phẩm

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân Dân xã MinhQuang đã đẩy mạnh công tác công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nôngthôn, tăng sản phẩm tiêu dùng và xuất khẩu, nâng cao đời sống nhân dân lêntừng bước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, áp dụng khoa học ỹ thuật vàosản xuất

Trang 9

Trồng trọt: nhân dân ở xã đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật về sảnxuất, thâm canh, đưa những giống cây trồng sản xuất cao, chuyển đổi cơ cấugiống, mùa vụ đồng thời tăng cường công tác khuyến nông, chuyển giao côngnghệ khoa học vào sản xuất vì vậy năng xuất, sản lượng không ngừng tăng lênNăm 2014 diện tích đất cây trồng hàng năm của xã là 208,22 ha, chiếm 89.9%diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất trồng cây lâu năm 23,39 ha, chiếm 10,1%diện tích đất sản xuất nông nghiệp, diện tích trồng cây lâu năm của xã chủ yếu làcác loại cây công nghiệp lâu năm như chè, các loại cây ăn quả.

Chăn nuôi: những năm qua, chăn nuôi đã được coi trọng và trở thànhngành sản xuất quan trọng trên địa bàn xã Đàn gia súc tăng nhanh cả về sốlượng và chất lượng đàn gia cầm bị ảnh hưởng do xuất hiện dịch cúm gia cầm,nhưng đến nay đã được khống chế và phục hồi nhanh chóng

1.4 Xã hội truyền thống

Từ xưa đến nay, dân tộc Mường quen cư trú thành từng xóm, quê, nhiềuxóm, quê gộp lại thành một Mường Trong thời Phong Kiến, người Mường đã bịcác giai cấp thống trị bóc lột Do đó, tổ chức chính quyền của người Mườngcũng giống người Kinh

Nhà cửa, xóm làng của người Mường thường dựng dưới chân đồi, chân núi,nơi tiếp giáp đồng ruộng, nhà cửa người Mường khác các dân tộc khác là hay nằmsát nhau và có chung hàng rào Người Mường dựng nhà dựa vào những nguyên vậtliệu có sẵn từ cột nhà, mái nhà, tường nhà,…tất cả đều lấy từ trên rừng trong xã hội

cũ các khu làng Mường được bao cọc bởi rừng nguyên sinh và đồng ruộng nươngrẫy các làng mường thường cách nhau 2-3km, nên thường khá độc lập với nhau vềmặt địa lý Thậm chí những làng chèo làng trại nhỏ trên các đỉnh núi hay các sườnnúi có thể nhìn thấy nhau song để đi đến đó phải mất nửa ngày hay hàng ngày đường

đi bộ, leo dốc lội suối điều này cho thấy rõ sự lệ thuộc của ngườ Mường, khu dân cưMường vào rừng, đồi, đất, lệ thuộc tới mức hòa vào đó nếu tách các làng Mường rakhỏi đó nó không phải là làng Mường nữa

Trang 10

1.5 Đặc điểm văn hóa

Văn hóa vật chất: Nhà ở, nếp sinh hoạt, phong tục tập quán, những nét

ứng xử với thiên nhiên với con người đã làm nên nền văn há tộc nười độc đáocủa người Mường không tộn lẫn vào đâu

Trước cách mạng tháng 8- 1945 người Mường cư trú ở vùng đồi, núi thấpkhai khẩn các thung lũng hẹp khá bằng phẳng ven các con sông co suối làmruộng cấy lúa nước hay trồng cây hoa màu Các làng Mường sống trên vùng núicao hay xa các con sông, suối địa hình tương đối dốc hay không đủ nguồn nước

họ chuyển sang phát nương, làm rẫy canh tác trên vùng đất dốc, ngoài ra taynghề khai thác nguồn lợi thiên nhiên như săn bắt hái lượm vồn đã tồn tại từ lâuđời cũng được người Mường chú trọng từ đặc điểm địa hình, thiên nhiên baoquanh cùng phương thức sản xuất đã sản sinh ra hệ thống tri thức bản địa củangười Mường trong ứng xử với thiên nhiên để phục vụ cho đời sống của mìnhtrong việc sản xuất, làm nhà để ở, trong việc săn bắt, làm mương máng, xe cọnnước để dẫn nước vào tưới tiêu Biết quan sát quy luật con nước, trăng sao định

ra lịch Khao Roi, lịch Đá Rò để tính ngày tháng và định thời gian mừa vụ trongsản xuất nông nghiệp

Về ngôn ngữ : tiếng mường thuộc hệ ngôn ngữ Việt- Mường thuộc hệ

Nam Á và rất gần với tiếng Kinh Ngôn ngữ Mường là tài sản đặc biệt quý giácủa người mường cũng như của dân tộc Việt Nam , ngoài chức năng là giao tiếphàng ngày nó còn chứa trong mình lượng thôn tin và những tín hiệu được mãhóa truyền tải từ quá khứ đến hiện tại và tương lai từ hệ ngôn ngữ nhiều nhàkhoa học cho rằng người Mường và người Kinh có cùng một gốc

Về phong tục tập quán: các phong tục truyền thồng như đám cưới, đám

ma, các nghi lễ vòng đời, hoạt động tín ngưỡng như lễ tết đều mang trong mìnhcác hoạt động diễn xướng văn hóa văn nghệ dân hian độc đáo đặc sắc

Người Mường đã tạo ra một kho tàng văn hóa nhất là lĩnh vực văn hóa,ghệ thuật dân gian có dung lượng đồ sộ với hàng trăm câu chuyện, truyền thuyếtdân gian truyền miệng , trong đó nổi bật hơn cả là bộ Mo tang lễ trong đó có sửthi Đẻ Đất- Đẻ Nước nổi tiếng

Trang 11

Chương 2

ẨM THỰC NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở

HUYỆN KỲ SƠN TRONG TRUYỀN THỐNG

2.1 Khái quát ẩm thực người Mường ở huyện Kỳ Sơn

2.1.1 Những món ăn hàng ngày của người Mường ở huyện Kỳ Sơn

Núi rừng, ruộng đồng, sông suối Kỳ Sơn đã cung cấp những sản vật quý,cùng bàn tay khéo léo, óc sáng tạo và tìm tòi, người Mường đã tạo nên nhữngmón ăn, đồ uống riêng của mình Những món ăn của người Mường là kết quảcủa sự chắt chiu, tần tảo của người phụ nữ Đồng bào quan niệm người phụ nữkhéo léo phải là người phụ nữ nấu ăn ngon

Trong mỗi bữa ăn có các món chính là cơm tẻ đồ, và thức ăn chủ yếu làthịt lợn, thịt gà, cá và món rau

Những món ăn của người Mường chủ yếu khai thác từ thiên nhiên và chănnuôi Với nhiều sản vật mà thiên nhiên mang lại như rau rừng, măng rừng, đánhbắt cá ở suối, săn bắt động vật,…

Cách chế biến món ăn của người mường khá đa dạng nhưng chủ yếu sửdụng các cách chế biến là đồ và xào

Người Mường thích ăn các món có khẩu vị chua, chẳng hạn các món càmuối củ kiệu, rau cải nương muối dưa, rau sắn muối dưa nấu thịt vịt…Đặc biệtngười Mường lại thích loại măng ngâm chua Từ măng chua họ có thể kết hợpvới các nguyên liệu khác để chế biến thành nhiêu món ăn

Ngoài vị chua người Mường thích ăn những món có vị đắng như là đu đủ,những món có vi cay nóng đặc biệt là ớt Trong nhà của đồng bào lúc nào cũngcó một hũ ớt ngâm măng Người Mường ít ăn các món có vị ngọt

Người Mường không chỉ coi ăn uống là việc nuôi sống bản thân mà cònnhững giá trị văn hóa cần được giữ gìn và phát huy

2.1.2 Những đồ uống, thức hút của người Mường

Trước đây người Mường uống nước lã là chính Họ làm những ống bương

to chứa được khoảng 3 lít và lấy nước ở suối Ngày nay hầu như không còn ai

Trang 12

uống nước lã nữa, trừ những khi bắt buộc Thay vào những chiếc ống bươngđựng nước lã trước đây treo ở góc nhà là những xong đun nước sôi để nguội vàphích nước nóng.

Ngoài ra đồng bào còn sử dụng lá vối nấu nước để uống, đây là loại nướctốt cho phụ nữ và trẻ nhỏTrong bữa ăn hàng ngày, đàn ông Mường thường hayuống rượu Rượu này do người Mường tự nấu lấy

Hút thuốc và ăn trầu là những tập quán có từ lâu đời của người Mường, đãthành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày của họ

Tục hút thuốc lào: Xưa kia hầu hết đàn ông Mường đều biết hút thuốc lào,rất nhiều người đã tập hút khi còn là trẻ nhỏ

Từ xưa người Mường đã biết ăn trầu cau Nhiều phụ nữ khoảng 15, 16tuổi đã bắt đầu nhuộm răng Theo quan niệm của người Mường thì hàm răngđen mới là đẹp, thể hiện quan niệm thẩm mỹ của người Mường

Ăn uống hàng ngày của người Mường rất độc đáo, phong phú với nhiềumón ăn, đồ uống và cách chế biến khac nhau Trong ngày tết người phụ nữMường lại trổ tài nấu nướng của mình hơn Họ nấu rất nhiều món ăn ngon, hấpdẫn để cúng tổ tiên cầu năm tới sức khỏe, mùa màng bội thu và cũng để nhiềungười thân trong gia đình đến thưởng thức

Một mâm cỗ ngày Tết được chế biến thành nhiều món ăn với nhiều ýnghĩa sâu sắc và đậm tính nhân văn, mỗi món ăn là sự gửi gắm những ướcnguyện của con cháu đối với của họ cũng như tình cảm của con người trong giađình Chính vì vậy, các món ăn ngày Tết thường chế biến rất độc đáo và côngphu không giản dị như những món ăn ngày thường

2.2 Các món ăn và cách chế biến món ăn trong ngày Tết

Theo quan niệm của người Mường Tết nguyên đán là những ngày quantrọng nhất trong năm, là ngày đất trời chuyển giao năm cũ sang năm mới Vì vậygia đình nào cũng dọn dẹp nhà của sạch sẽ và có tập quán là dựng cây nêu ởngoài cổng Theo phong tục, người Mường không ăn Tết Ông Công, Ông Táomà sắm sửa Tết bắt đầu từ ngày 27 tết, tỏng dịp tết đồng bào sẽ chuẩn bị các

Trang 13

nguồn lương thực, thực phẩm chủ yếu là khai thác ở rừng và nhà tự sản xuât lấyđể phục vụ cho ngày Tết cổ truyền.

Đêm 29 tháng chạp, người Mường gói bánh chưng, sắm mâm rau quả,rượu, trầu cau, để đón ma nhà và tổ tiên về ăn tết

Theo tập quán vào dịp tết cổ truyền, mỗi gia đình người Mường phải cómột mâm cơm mặn cúng tổ tiên bắt đầu từ sáng mùng một tết Cỗ dâng cúngphải soạn đầy đủ các món, đó là bánh chưng, bánh uôi, bánh lá, bánh chim cúc

cu, thịt lơn luộc, lòng lợn, gan lợn, giò, xôi nếp đồ, rượu mỗi mâm hai chai, mậtmỗi mâm một chai, bát nước lã, tăm, trầu cau, nước mắm ớt, rồi bưng lên đặtvào vị trí sẵn trên bàn thờ Bàn thờ tổ tiên được đặt một mâm thờ các cụ kỵ, ởcửa vóng tôông ( có đặt 2 mâm 1 mâm thờ ông bà , bố mẹ, mâm còn lại là thờvua bếp cả ba mâm cơm không đong bằng bát , đũa không tính bằng đôi màcơm được nắm bằng một nắm thật to, đuac được để hàng chục đôi TiếngMường gọi là “cơm tổ túa nãm – cơm đống, đũa nắm” để biểu thị mâm đó thờrất nhiều tổ tiên mà con cháu không nhớ hết

Sau khi tổ tiên đã hưởng xong con cháu xin được “rút mâm lui, lùi mâmxuống” Mâm cỗ được bày ra đó là các món ăn đó là bánh chưng, bánh lá, bánhuôi, cơm nếp đồ và cơm tẻ đồ (cơm tưởi) , thịt lợn thui luộc, món thịt gà luộc đãđược thái ra từng miếng , thịt gà nấu măng chua, cá ướp chua, măng đắng đồ vàkhông thể thiếu món nước mắm ớt Nhưng cách bày khác với mâm thờ, mỗimâm lót một lá chuối hoặc hai lá dong cho kín, gọi đây là lá đựng thịt Phần đầucó cuống được quy định là phía dưới của lá Khi đặt mâm phải quay đầu ngọncủa lá vào trong phía nhà , giữa ngọn lá dong người ta đặt một lá thịt xếp hìnhtháp tròn, bì của miếng thịt luộc quay ra ngoài Xung quanh lá thịt luộc bày cácmón đựng trong đĩa hoặc bát con Mỗi món ít nhất là hai đĩa hoặc hai bát Cơmnếp đồ xới ra bát con, có mâm bảy có mâm ba bát, các món thịt lợn thui luộc, cágắp khô, cá ướp chua, giò được bày ra đĩa , món thịt gà nấu măng chua được bày

ra bát tô

Trang 14

Theo truyền thống đại diện gia đình đi mời các bác, các chú, anh em tổtiên, họ hàng, xóm giềng đến dự và cùng chế biến các món ăn truyền thống củadân tộc

2.2.1 Những món ăn được chế biến từ gạo

2.2.1.1 Bánh chưng

Trên thế giới, mỗi quốc gia lại có những món ăn truyền thống độc đáoriêng, nhưng chỉ Việt Nam là có một loại thức ăn vừa độc đáo, vừa bổ dưỡng,vừa gắn liền với truyền thuyết lịch sử lâu đời, lại có ý nghĩa sâu xa về vũ trụ vànhân sinh đến thế, đó chỉ có thể là chiếc bánh chưng

Bánh chưng là lễ vật không thể thiếu trong tết Nguyên Đán, đó là món ăntrang tọng nhất, cao quý nhất thể hiện lòng tưởng nhớ , biết ơn của con cháu đốivới các vua Lang của dân tộc Mường, gia đình nhà nào cúng bao nhiêu người thìlàm bấy nhiêu cái bánh chưng

Người Mường cũng có truyền thuyết về sự tích bánh Chưng tương tự nhưTruyện bánh Chưng của người Việt chép trong Lĩnh Nam Chích Quái của TrầnThế Pháp

Bánh Chưng tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ xưa kia của người Việt.Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng “Bánh Chưng vuông tượng trưng cho đất vàgiành cho mẹ, bánh Chưng tròn dài tượng trưng cho dương Đó là tín ngưỡng vàtriết lý nõ – nường – chày – cối – Chưng – dầy của dân gian, của tín ngưỡngphồn thực dân gian” Bánh Chưng gói gém trong nó là cả một nền văn minhnông nghiệp lúa gạo Trong bầu không khí văn minh đó người Mường đã sốnghòa hợp với thiên nhiên vừa đấu tranh với thiên nhiên Lá dong gói bánh Chưngđược lấy từ tự nhiên Bánh Chưng chính là sản phẩm của trồng trọt và chănnuôi

Khi ăn bánh Chưng vuông, ta phải bóc lớp vỏ bên ngoài của bánh, sau đólấy lạt cắt chéo bánh, cắt chéo như vậy sẽ giúp cho mỗi miếng bánh sẽ đều cónhân, bánh Chưng dìa thường cắt lát ngang, gọi là “đồng bánh”

Trang 15

Bánh Chưng thường được ăn với nhiều món khác nhau Khi ăn ta sẽ cảmnhận được vị cay của hạt tiêu vị béo của thịt và mùi thơm của các gia vị Lôicuốn nhiều người ăn.

Nguyên liệu chế biến

Nguyên liệu chế biến bao gồm: Gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn, hạt tiêu, ládong, ống giang

Gạo nếp: Thường dùng loại gọa thu hoạch vụ mùa Gạo vụ này thường to,tròn, dẻo đều và mới thu hoạch sẽ thơm dẻo hơn các vụ khác

Đỗ xanh: Đỗ thường được lựa chọn rất công phu, đỗ phải mẩy, có àu vàngtươi và có mùi thơm

Hạt tiêu rừng: là loại gia vị có mùi cay và mùi thơm, thương cho vào cácmón để tăng thêm vị thơm và làm món ăn hấp dẫn

Thịt: Thường là thịt lợn, chọn lượn ỉ nuôi bằng phương pháp thủ công(nuôi chuồng hoặc nuôi thả, thức ăn bằng rau cám nuôi tự nhiên không dùngthuốc tăng trọng và thức ăn gia súc) thịt ba chỉ với sự kết hợp của mỡ và nạc chonhân bánh có vị béo đậm đà

Lá để gói: là dong tươi,lá dong chọn lá dong rừng bánh tẻ, to đều, khôngrách

Lạt buộc: Bánh Chưng thường dùng lạt nứa buộc

Quy trình gói bánh

Lá dong được rửa thật sạch hai mặt lau thật khô

Gạo nếp: Nhặt bỏ hết những hạt gạo khác lẫn vào , vo sạch, ngâm gạo từ

12 – 14 tiếng tùy từng loại gạo

Đỗ xanh: ngâm nước ấm cho mềm và nở, đãi hết vỏ, vớt ra để ráo

Thịt lợn: đem rửa thật ráo, cát thành từng miếng nhỏ, ướp với muối tiêu,hành tím để khoảng 2 giờ cho ngấm

Khi chuẩn bị đầy đủ, người Mường Kỳ Sơn bắt tay vào gói bánh, có 2cách gói : gói bằng tay và gói theo khuôn hình vuông.Khi gói người ta cắt tỉabớt lá dong cho đều nhau, họ đặt lá dong lên trên lạt, lấy một bát gọa nếp đầy đổ

Trang 16

vào tâm của hai lá, lấy một nắm đỗ xanh rải đều ở giữa, lấy thịt rải đều vào giữabánh, lấy tiếp một nắm đỗ xanh rải đều và phủ kín thịt Đồng thời gấp hai lớp ládong trên vào, tiếp hai lá dưới cũng vậy, rồi buộc lạt chặt lại

Luộc Bánh

Luộc là cách thức làm chín thức ăn đơn giản, bằng cách cho nguyên chíntrong nước sôi, lấy nồi to theo số lượng bánh gói, rải mấy lá dong kín đáy nồixong xếp từng bánh vào, sau đó đổ nước cho ngập bánh và đậy vung đun, trongquá trình đun, phải thêm nước nóng để đảm bảo nước luôn ngập bánh

Sau khi luộc chín vớt bánh ra, rửa lá trong nước lạnh cho hết nhựa, rồi đểcho bánh khô ráo

Bánh Chưng được dùng tỏng thờ cúng tổ tiên, đây là lễ vật quan trọngnhất nhằm bày tỏ tình cảm chân thành của gia đình với tổ tiên

2.2.1.2 Món cơm nếp đồ

Cơm nếp đồ là món ăn truyền thống của người Mường Người Mường cócâu rằng : “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới”, có thể thấyrằng món cơm đồ gắn bó với người Mường như thế nào Đó không đơn thuần làmột món ăn mà còn là lễ vật để dâng cúng tổ tiên

*Nguyên liệu chế biến

Nguyên liệu chế biến gồm: Gạo nếp nương là giống lúa nếp cái “Tlởngkhe” nghĩa là trứng con ngóe Giống lúa này được trồng vào mùa vụ, năng suấtkhông cao do kén đất

Cách chế biến

Do đây là lúa nếp, nên đồ là cách làm chín thức ăn phổ biến nhất của vùngngười Mường, đồng bào thường đồ rất nhiều loại thức ăn như: đồ cơm, đồ bánh,

đồ khoai, người ta cho thức ăn vào “hông” (chõ bằng gỗ khoét) Tác dụng của

đồ là khi chín thức ăn không bị nát và có vị đậm đà hơn

Trước khi đồ đồng bào ngâm gạo trong nước lã khoảng 5 đến 6 giờ đồng

hồ, rồi vớt gạo ra cái “koch” (dụng cụ đan bằng tre hình phễu), sau đó bỏ gọa

Trang 17

vào hông và đặt lên viềng , đun cho đến khi cơm chín dẻo, sau đó người ta dỡcơm ra một cái bâm (một cái nong nhỏ đan bằng tre, có chân bằng gỗ).

Khi nấu xong để tránh bụi bà con thường đậy nắp bâm vào, khi ăn người

ta thường cầm đũa tay phải , nắm cơm tay trái, vừa ăn vừa nắm cho hạt dẻo, daivà dính vào nhau.Người Mường rất thích ăn cơm nếp với thịt gà và cá nướngkhô

2.2.2 Những món ăn chế biến từ thịt

2.2.2.1 Món thịt chua

Đây là món ăn không thể thiếu trong dịp tết Nguyên Đán của ngườiMường ở Kỳ Sơn, con cháu thường làm món này để thờ cúng tổ tiên cảm tạ sựphù hộ và cũng muốn báo với tổ tiên là năm qua làm ăn thuận lợi, có của ăn củađể Người Mường rất thích ăn món này Món này khi ăn được bày ra đĩa vàthường ăn với lá sung non, muối ớt, đặc trưng của món này là hương vị của thịtquyện với thính và lá sung non

Nguyên liệu để chế biến thịt chưa khá đơn giản nhưng hết sức cầu kì Lợnđể làm thịt chua phải là lợn Mán đen, nuôi tự nhiên, không nuôi bằng chất kíchthích và chỉ ăn rau củ, thịt lợn ăn phải thơm ngon, săn chắc, bì phải giòn mới đủtiêu chuẩn làm thịt chua

Ngoài thịt còn có thính ngô nghiền nhỏ, rang vàng cho thơm thính là gia

vị quan trọng để làm nên vị thơm ngon của thịt chua xứ Mường.Cùng với thínhlà muối tinh và lá ổi dùng để rắc đầy lên bề mặt của thịt

Cách chế biến

Thịt lợn Mán được sơ chế sạch sẽ, loại bỏ hết phần bạc nhạc bên ngoài, đểnguyên phần thớ thịt Dùng dao sắc mòng và thái lát mỏng miếng thịt thành từngmiếng nhỏ sau đó tẩm ướp gia vị và thính cho đều rồi nén thịt vào ống tre Thịtcàng nén chặt càng giòn và ngon

Sau đó, người Mường dùng lá ổi rửa sạch để ráo phủ lên bề mặt thịt, dùnghai thanh nứa nén chặt bên trên lá ổi rồi mới bịt ống

Thịt chua được ủ nơi thoáng khí và sạch sẽ Nếu vào mùa hè, thì khoảng 3– 4 ngày là ăn được

Trang 18

Với người dân xứ Mường, thịt chua là một món ăn hấp dẫn dùng để thiếtđãi khách quý.

2.2.2.2 Món thịt gà luộc

Gà luộc là món ăn bình dân mà quan trọng hơn cả đó là lễ vật dâng cúngtổ tiên Khi dâng cúng tổ tiên gà phải để cả con, không được thái ra từng miếng.Người Mường còn có tục xem chân gà, khi nhìn chân gà có thể đoán định đượcgia đình nắm sau như thế nào Vì vậy, món ăn không chỉ là món ăn bắt buộcngày tết ,mà còn mang ý nghĩa tâm linh.Vì vậy, nó được sử dụng trong nhiềunghi lễ cúng ở lễ hội cầu mùa, làm vía cho trẻ nhỏ

Món này được bày ra đĩa và khi ăn thường được chấm với nước chấm ớthoặc muối ớt, đặc trưng của món này là tỏa mùi thơm của lá chanh và vị ngọtcủa thịt gà và có màu vàng óng

Nguyên vật liệu chế biến

Nguyên vật liệu chế biến gồm: Thịt gà, lá chanh

-Lá chanh có vị cay và mùi thơm rất đặc trưng, thường hay cho vào cácmón thịt gà, thịt ngan, thịt vịt

-Gà là vật nuôi không thể thiếu trong mỗi gia đình người Mường , nó lànguồn cung cấp thực phẩm tại chỗ, thường xuyên và là nguồn thực phẩm tươisống và lễ vật dâng lên cúng tổ tiên Thịt gà là nguyên liệu khá phổ biến và đượcchế biến thành nhiều món ăn khác nhau Con gà được chọn cúng tổ tiên phải làcon gà trống Không quá to cũng không quá nhỏ, chân gà phải cao, nhiều màuvàng tươi, bộ lông gà nhìn đẹp mắt, gà phải được chăn thả, không cho ăn cácloại cám công nghiệp

Ngày đăng: 04/04/2021, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia Việt Nam (1999), “Người Mường ở Việt Nam”, NXB. Văn hoa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: NgườiMường ở Việt Nam
Tác giả: Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia Việt Nam
Nhà XB: NXB. Văn hoa dân tộc
Năm: 1999
4. Viện Dân Tôc học (1987), “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)”, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phíaBắc)
Tác giả: Viện Dân Tôc học
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1987
1. Trần Bình (2007), Văn hoa các dân tộc thiểu số vùng Tây bắc Khác
2. Nguyễn Việt Hương, Phạm Việt Long, giáo trình văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam (Tài liệu chưa xuất bản) Khác
5. Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hoa Việt Nam”, NXB. Tp HCM Khác
6. Cổng thông tin điện tử huyện Kỳ Sơn; wikipedia.com Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w