ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG NỀN NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG THỜI KỲ 4.0” Kỷ yếu hội thảo nông nghiệp Chương trình Được tổ chức vào ngày 0407 2018 bởi những giáo sư đầu ngành nông nghiệp .
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KỶ YẾU HỘI THẢO
“ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG NỀN NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG THỜI KỲ 4.0”
HÀ NỘI, 4/7/2018
Trang 2Ban Biên tập Kỷ yếu:
Ông Nguyễn Xuân Trạch (Trưởng ban)
Bà Đỗ Lê Anh Ông Trần Hiệp Ông Hoàng Hiệp Ông Hoàng Đăng Dũng
Bà Nguyễn Thị Ngọc Oanh
Bà Vũ Thị Xuân Bình Ông Trần Bình Đà
Ban cố vấn:
GS Trần Đức Viên
GS Đỗ Kim Chung
GS Vũ Đình Tôn
Trang 3MỤC LỤC NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP
Hiện đại hóa nông nghiệp ở Việt Nam: thách thức và giải pháp
GS TS Nguyễn Xuân Trạch 1
Cơ sở kinh tế ảnh hưởng của cách mạng công nghệ 4.0 đến phân phối tài nguyên đất
nông nghiệp và phúc lợi xã hội
GS TS Nguyễn Văn Song 9 Đặc trưng của sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và những vấn đề đặt ra trong đầu tư
phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam 16
PGS TS Nguyễn Bạch Nguyệt, TS Hoàng Thị Thu Hà .16 Nông nghiệp thông minh - các vấn đề đặt ra và định hướng cho nghiên cứu và đào tạo
GS TS Đỗ Kim Chung .22 Nông nghiệp thông minh 4.0 ở Việt Nam - nhìn từ cách tiếp cận ở tỉnh Lâm Đồng
TS Phạm S .34 Một số kết quả nghiên cứu và ứng dụng mới trong nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
thời kỳ công nghệ 4.0
Nguyễn Quang Thạch .37 Tổng quan các nghiên cứu về nông nghiệp thông minh: Kết quả bản đầu
Dương Nam Hà, Nguyễn Thị Dương Nga, Phạm Văn Hùng, Nguyễn Hữu Nhuần,
Nguyễn Thị Thu Huyền .47 Ngành chăn nuôi gia cầm trong cuộc cách mạng nông nghiệp 4.0 - cơ hội và thách thức
Bùi Hữu Đoàn .58
Xu thế tất yếu và những vấn đề đặt ra cần giải quyết cho nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam PGS TS Trần Quốc Khánh 63 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao
PGS TS Phạm Văn Hùng, NCS Lê Thành Đông, NCS Dương Quốc Toản .69 Thích ứng với nền nông nghiệp 4.0 cần giáo dục nông nghiệp đổi mới sáng tạo
Nguyễn Việt Long .77
ỨNG DỤNG NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TRONG DOANH NGHIỆP
VÀ ĐỊA PHƯƠNG
Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Lâm Đồng tính tất yếu để đột phá
tham gia chuỗi nông sản toàn cầu
TS Phạm S .83 Nông nghiệp 4.0 trong khu vực kinh tế hợp tác, HTX
Lê Tuấn An .88 Thực trạng ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Nguyễn Hoàng Dương .91 Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và đào tạo nguồn nhân lực thời đại 4.0
Ban quản lý khu NNUDCNC tỉnh Hà Nam .97
Trang 4Ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp 4.0 đến ngành nuôi trồng thủy sản khu vực
miền trung Việt Nam
PGS TS Tôn Thất Chất .102 Báo cáo tham luận phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Lâm Đồng
Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng .113 Giá trị tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp trong các doanh nghiệp nông nghiệp áp dụng công nghệ cao - nghiên cứu điển hình tại công ty TNHH Giống Thủy sản Hải Long
Đỗ Quang Giám, Lại Phương Thảo, Phí Thị Diễm Hồng .117 Ứng dụng công nghệ cao trồng dứa trên đất cát vùng ven biển tỉnh Quảng Trị
Đoàn Thu Thủy, Đoàn Văn Lư, Hà Viết Cường, Nguyễn Thị Bích Hồng,
Trần Hiệp, Vũ Văn Liết .122 Ứng dụng công nghệ cao trong ngành thủy sản: Nghiên cứu điển hình tại huyện Hải Hậu,
tỉnh Nam Định
Nguyễn Phượng Lê, Nguyễn Viết Đăng, Nguyễn Thị Thiêm, Lê Thị Thanh Loan,
Nguyễn Thanh Phong, Phạm Thị Thanh Thúy .133
Nghiên cứu định tuýp huyết thanh các chủng vi khuẩn Haemophilus parasuis phân lập
từ lợn tại tỉnh Thanh Hóa, Hưng Yên và Hà Nam
Trương Quang Lâm, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Thị Hoa, Lê Văn Hùng,
Nguyễn Thị Huyên, Nguyễn Thị Yến, Đào Lê Anh, Nguyễn Thị Thu Hương .142
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG NÔNG NGHIỆP
Nông nghiệp công nghệ cao góc nhìn từ phát triển sản xuất ngô ở Việt Nam
Vũ Văn Liết .153 Ứng dụng sinh học phân tử và tin sinh học trong phát hiện và nghiên cứu đặc điểm
dịch tễ học phân tử của một số virus ở lợn nuôi tại Việt Nam
Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Nguyễn Văn Giáp, Trịnh Đình Thâu, Bùi Trần Anh Đào,
Chu Thị Thanh Hương, Lê Văn Trường, Vũ Thị Ngọc, Cao Thị Bích Phượng .165
Công nghệ biofloc trong nuôi tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vanamei thâm canh
Lê Thị Hoàng Hằng, Trần Thị Nắng Thu .173 Phần mềm chẩn đoán bệnh gà phiên bản 2018
Đặng Hữu Anh, Đào Văn Thế, Phạm Quang Dũng .182 Công nghệ thủy canh động với giá thể trơ cho sản xuất rau hữu cơ Thực tiễn và tiềm năng Nguyễn Thị Ngọc Dinh, Phạm Tiến Dũng, Đỗ Thị Thanh .187 Công nghệ IoT trong nông nghiệp 4.0 - giới thiệu hệ thống tích hợp giám sát các thông số
môi trường trong nhà trồng nấm sử dụng mạng cảm biến không dây và công nghệ IoT
ThS Nguyễn Kim Dung, ThS Đặng Thị Thúy Huyền .195
Chọn tạo giống dưa thơm (Cucumis melo L.) Thích hợp trồng trong nhà màng ứng dụng
công nghệ cao
Nguyễn Trung Đức, Phạm Quang Tuân, Nguyễn Thị Nguyệt Anh, Vũ Văn Liết .203 Chọn tạo giống ngô kiểu cây mới cho trông mật độ cao
Vũ Thị Bích Hạnh, Vũ Văn Liết, Trần Thị Thanh Hà, Nguyễn Văn Hà,
Dương Thị Loan, Hoàng Thị Thuỳ, Nguyễn Văn Việt .215 Ứng dụng mô hình hóa và phân tích không gian: Tiềm năng hỗ trợ quản lý chất thải chăn nuôi Ngô Thế Ân, Võ Hữu Công, Cao Trường Sơn, Nguyễn Thị Hương Giang .223
Trang 5Ứng dụng công nghệ cao, chọn tạo giống ngô nếp tím cho thị trường ăn tươi và chế
TS Mai Lan Phương, PGS TS Nguyễn Thị Minh Hiền .257 Nuôi cấy rễ tơ trong sản xuất hợp chất thứ cấp từ thực vật
Nguyễn Thị Lâm Hải, Đinh Trường Sơn, Nguyễn Thị Thùy Linh .262
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 4.0
Thực trạng và giải pháp đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn cho vùng
Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
ThS Nguyễn Đỗ Trường Sơn .266 Đào tạo và nghiên cứu khoa học về lĩnh vực chăn nuôi trong thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Vũ Đình Tôn .271 Ứng dụng công nghệ cao và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển
chuỗi giá trị sản phẩm thịt lợn và cung cấp dịch vụ công cho phát triển chuỗi giá trị
trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0
NCS Tạ Văn Tường .275 Đào tạo nhân lực nông nghiệp 4.0 trên thế giới
Nguyễn Đức Bách .283 Đào tạo nguồn nhân lực ngành cơ điện đáp ứng cuộc cách mạng công nghệ 4.0
Nguyễn Thị Hiên, Nguyễn Thanh Hải .292 Đổi mới công tác đào tạo ngành khoa học đất trong thời kỳ công nghiệp 4.0
Phan Quốc Hưng .299 Nông nghiệp 4.0 và vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn Việt Nam hiện nay
TS Lê Văn Hùng .302 Nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của doanh nghiệp
NCS Đinh Cao Khuê .310 Định hướng mô hình nhân cách sáng tạo cho sinh viên học viện nông nghiệp Việt Nam
đáp ứng nghề nghiệp thời đại 4.0
PGS.TS Đặng Thị Vân - ThS Nguyễn Huyền Thương .314 Nhân tố tác động đến sự gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo
nguồn nhân lực nông nghiệp công nghệ cao gắn với cách mạng công nghiệp 4.0
Trịnh Anh Tuân .320 Đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp thời đại cách mạng công nghiệp 4.0
PGS TS Nguyễn Văn Giang .326
Trang 7HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM: THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP
GS.TS Nguyễn Xuân Trạch
Nhóm nghiên cứu mạnh động vật nhai lại - Khoa chăn nuôi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Các hệ thống nông nghiệp khác nhau trên thế giới đã được hình thành và phát triển trong một thời gian dài của lịch sử nhân loại Khoảng thời gian từ 10 - 12 ngàn năm trước CN, con người đã chuyển từ săn bắn, hái lượm sang chăn nuôi và trồng trọt để chủ động tự túc lượng thực - thực phẩm (Cách mạng nông nghiệp 1.0) Vào cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (cơ giới hóa) diễn ra nhờ sự ra đời của các loại máy móc và kết quả là các hoạt động nông nghiệp cũng được cơ giới hóa (Cách mạng nông nghiệp 2.0) Cuối thế kỷ XX, cùng với cuộc Cách mạng xanh, nông nghiệp thế giới phát triển rất nhanh chóng theo hướng công nghiệp hóa (Cách mạng nông nghiệp 3.0) nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng của con người và thu được lợi nhuận tối đa Tuy nhiên, các hệ thống nông nghiệp theo kiểu công nghiệp (factory farming systems) đồng thời cũng mang lại nhiều rủi ro về kinh tế - xã hội, môi trường và phúc lợi động vật (Thornton, 2010) Bước sang thế kỷ XXI này, thế giới bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 trên cơ sở ứng dụng tích hợp nhiều công nghệ mới vào sản xuất Điều này cũng đã dẫn đến cuộc Cách mạng 4.0 trong nông nghiệp
Ở Việt nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa X của Đảng đã coi “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: Phát triển nông-lâm-ngư nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn Gần đây Chính phủ đã ban hành các chủ trương tái cơ cấu nông nghiệp theo định hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đi đôi với chủ trương xây dựng nông thôn mới và chủ trương đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để hiện đại hóa (HĐH) nông nghiệp ở Việt Nam vừa nâng cao được giá trị gia tăng vừa
đảm bảo được tính bền vững cho nông nghiệp? Cách thức nào để hiện đại hóa nông nghiệp gắn liền được với việc cải thiện đời sống của người nông dân, sự thịnh vượng chung của cộng đồng nông thôn
và bảo vệ được môi trường - sinh thái?
Bài viết phân tích phản biện về tính hai mặt của nông nghiệp truyền thống, tính tất yếu và những rủi ro mà HĐH nông nghiệp có thể gây ra, từ đó đưa ra một số quan điểm về hiện đại hóa nông nghiệp bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh của cuộc Cách mạng nông nghiệp 4.0
2 NÔNG NGHIỆP TRUYỀN THỐNG
2.1 Đặc điểm chung
Nông nghiệp truyền thống thường gồm các hệ thống canh tác hỗn hợp (mixed farming systems) được thực hiện bởi các nông hộ Các hệ thống canh tác này phối hợp chăn nuôi với trồng trọt, có thể bao gồm cả nuôi trồng thủy sản và/hoặc lâm nghiệp, sao cho mặc dù mỗi hợp phần có thể hoạt động độc lập nhưng chúng lại bổ sung được cho nhau Sản phẩm chính của các hợp phần được sử dụng cho tiêu thụ của nông hộ hay bán ra thị trường, trong khi đó các phụ phẩm của mỗi hợp phần (ví dụ như phân chuồng) lại được dùng làm đầu vào cho các hợp phần khác (làm phân bón ruộng hoặc nuôi cá)
Trang 82.2 Ưu điểm
Lợi ích của các hệ thống nông nghiệp truyền thống nói trên là toàn hệ thống cho ra được một khối lượng sản phẩm lớn hơn tổng cộng những sản phẩm đơn lẻ của các hợp phần Những hệ thống này cho phép giảm thiểu chất thải nhờ tái sử dụng và làm giảm bớt nhu cầu đối với nguyên liệu từ bên ngoài và giảm rủi ro cho nông dân Cùng với việc tái sử dụng các chất thải các hệ thống sản xuất kết hợp như vậy còn giúp cho việc bảo vệ môi trường và duy trì tính đa dạng sinh học nhờ việc sử dụng các nguyên liệu bản địa Đó cũng là lý do nông nghiệp truyền thống đòi hỏi ít hoá chất và cơ bản là hữu cơ, đảm bảo an toàn thực phẩm
Tại Việt Nam, nhờ những hệ thống nông nghiệp trong đó chăn nuôi và trồng trọt hay cả nuôi trồng thủy sản phối hợp (VAC) và tận dụng phụ phẩm của nhau nên đã có được một nền nông nghiệp bền vững Giáo sư Orskov (2001), người đã có nhiều hợp tác nghiên cứu ở Việt Nam, có nhận xét rằng
“Việt Nam đang dẫn đầu với mục tiêu tăng cường khai thác dinh dưỡng từ các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo nhằm tăng cơ hội công ăn việc làm ở nông thôn” Preston (1995) một cựu chuyên gia phát triển nông nghiệp bền vững khác của FAO, Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu chăn nuôi để phát triển nông thôn (LRRD)cũng công nhận “ nếu đánh giá về mặt nông nghiệp bền vững thì Việt Nam thuộc vào những nước đi đầu”
3 NÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI
3.1 Đặc điểm chung
Nhằm đáp ứng đủ nhu cầu về thực phẩm ngày càng tăng nhanh của con người, với sự ứng dụng hiệu quả các thành tựu của khoa học và công nghệ, ngành nông nghiệp gần đây đã được hiện đại hóa (agricultural modernization) và cho ra đời nhiều hệ thống nông nghiệp thâm canh (intensive farming systems) theo kiểu công nghiệp (industrial agriculture) Các hệ thống nông nghiệp thâm canh như vậy đòi hỏi có đầu tư lớn để áp dụng các công nghệ hiện đại và sản xuất hàng loạt giống như những nhà máy (factory farms)
3.2 Ưu điểm
Những lợi ích chính của phát triển nông nghiệp hiện đại có thể kể đến như:
- Đáp ứng được nhu cầu lương thực - thực phẩm ngày càng tăng của xã hội, trong đó có cả những
người thu nhập thấp, nhờ tạo ra được khối lượng sản phẩm lớn với giá bán rẻ
- Mang lại thu nhập lớn cho doanh nghiệp nhờ tạo ra được lượng sản phẩm lớn nhất trên mỗi
đơn vị tài nguyên sử dụng với giá thành thấp nhất dựa trên quy mô sản xuất lớn và áp dụng các công nghệ sản xuất có hiệu quả cao
- Có thể ổn định được sản xuất nhờ tham gia chuỗi giá trị và thương mại toàn cầu do đáp ứng
được yêu cầu về khối lượng cũng như chất lượng sản phẩm theo tiêu chí của thị trường và có thể truy xuất được nguồn gốc
Trang 9- Đem lại tăng trưởng kinh tế cho địa phương và quốc gia nhờ đóng thuế từ doanh nghiệp nông
nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ mới hình thành;
- Có thể tạo thêm công ăn việc làm cho một bộ phận dân cư và cơ hội khởi nghiệp cho doanh
nghiệp địa phương trên cơ sở các ngành thị trường có giá trị gia tăng mới;
- Tạo giá trị gia tăng cho một số sản phẩm địa phương (kể cả phụ phẩm nông nghiệp) có thể làm
đầu vào cho nông nghiệp của doanh nghiệp;
- Đa dạng hóa thành phần cộng đồng dân cư (do tuyển dụng công nhân từ các địa phương khác
đến) làm phong phú nền văn hóa địa phương
3.3 Nhược điểm
Theo kinh nghiệm của nhiều nước đang phát triển thì mặc dù nông nghiệp hiện đại có thể mang lại nhiều hơn sản phẩm trên một đơn vị tài nguyên, do vậy mà đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng về nông sản cho tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu, nhưng các công nghệ nông nghiệp thâm canh như vậy (nhất là công nghệ ngoại nhập) hầu như không vượt qua được những trở ngại thường gặp phải trong các hệ thống sản xuất của địa phương hay không đáp ứng được các yêu cầu kinh tế - xã hội của người nông dân (Sansoucy, 1997) Những hậu quả sau đây của việc áp dụng các
hệ thống nông nghiệp hiện đại có thể xảy ra và rất cần được xem xét:
- Nguy cơ làm tăng thất nghiệp và nghèo đói cho nông dân
Một vấn đề quan trọng đang được quan tâm là phải thâm canh nông nghiệp bằng cách nào ở một nước có mật độ dân số cao mà đa số lại sống ở nông thôn Thâm canh nông nghiệp trên quy mô lớn gắn với việc tích tụ/tập trung ruộng đất và sử dụng các công nghệ nhập từ các nước phát triển có nghĩa là sử dụng tối thiểu lao động và sử dụng tối đa các thiết bị tiết kiệm lao động Chính các công nghệ sử dụng tiết kiệm lao động lại đòi hỏi sử dụng nhiều nhiên liệu hoá thạch Có hai yếu tố dẫn đến việc sử dụng các hệ thống nông nghiệp hiện đại là giá lao động cao và giá nhiên liệu rẻ Đây không phải là trường hợp như của Việt Nam, một nước mà 80% dân số sống ở nông thôn và khoảng 70% trong số họ phải dựa vào nông nghiệp để kiếm công ăn việc làm và thu nhập Giá nhiên liệu/năng lượng của Việt Nam cũng không hề thấp do phải nhập siêu
Vấn đề thách thức với Việt Nam là hiện đại hóa nông nghiệp trong lúc đang phải xoá đói giảm nghèo ở nông thôn vì chỉ một bộ phận rất nhỏ nông dân có thể được hấp thụ vào các doanh nghiệp nông nghiệp hiện đại (Orskov, 2001) Các trang trại sản xuất nông nghiệp quy mô lớn và hiện đại sẽ gây khó khăn cho những người sản xuất nhỏ vì họ không thể cạnh tranh được đối với các nguồn lực sẵn có cũng như thị trường (Ogle và Phuc, 1997) và họ cũng có thể không có đủ kỹ năng cho các công việc quản lý tinh xảo cần thiết để tham gia nông nghiệp hiện đại (Preston, 1995) Việc tích tụ ruộng đất cho nông nghiệp hiện đại sẽ làm cho nhiều nông dân mất đất sản xuất Những điều này sẽ dẫn đến việc giảm cơ hội công ăn việc làm ở nông thôn và dễ dàng biến vấn đề thất nghiệp nông thôn thành vấn đề thất nghiệp thành thị thậm chí còn tệ hại hơn trong khi các ngành công nghiệp và dịch
vụ chưa hấp thụ hết số lao động nông thôn dôi dư này Do vậy, nông nghiệp hiện đại có thể mang lợi cho một số ít người có tiềm lực, mang lại nguồn thu cho ngân sách, nhưng với sự trả giá của số đông những người sẽ mất phần của mình đối với các nguồn lợi chung, kể cả hữu hình và vô hình, sẽ dẫn đến nguy cơ mất cơ hội việc làm
- Rủi ro về kinh tế
Các hệ thống nông nghiệp thâm canh đòi hỏi kinh phí đầu tư ban đầu rất lớn và phần lớn dựa trên cây hay con giống, công nghệ và nguyên liệu ngoại nhập Điều đó rất dễ bị rủi ro vì phải phụ thuộc vào những thay đổi giá cả và sự sẵn có của các nguồn đầu vào, cũng như những khó khăn trong việc tiêu thụ lượng sản phẩm trên thị trường quốc tế đầy biến động.Trong điều kiện bình thường người chăn nuôi có thể kiếm được nhiều lợi nhuận qua việc sử dụng các thức ăn nhập khẩu rẻ tiền, nhưng doanh nghiệp của họ rất mẫn cảm với bất kỳ một sự bất ổn nào về kinh tế (Le Viet Ly, 2000;
Trang 10Lê Viết Ly và cs., 2004) Nguy cơ của việc áp dụng các công nghệ nhập nội không phù hợp đã được minh chứng rất rõ qua cuộc khủng hoảng kinh tế 1997 - 1998 ở các nước Đông Nam Á khác Ví dụ, ở Indonexia có tới 80% doanh nghiệp gia cầm bị phá sản, gây ra rất nhiều vần đề về cung cấp thực phẩm và suy dinh dưỡng (Orskov, 2001) Nhìn chung, các hệ thống thâm canh này sẽ làm tăng nhập siêu do phải nhập khẩu nhiều Hơn nữa, người sản xuất đòi hỏi phải có kỹ năng quản lý cao và trình
độ chuyên môn cao trong khi lợi nhuận cận biên có thể rất nhỏ Theo Orskov (2001) một số nước như Nigeria và Venezuela đã xây dựng ngành nông nghiệp thâm canh kỹ thuật cao nhờ có đầu tư từ thu nhập dầu khí, nhưng những hệ thống nông nghiệp như vậy đã không đứng vững khi giá dầu hạ và trợ giá nông nghiệp bị cắt giảm.Theo tổng hợp của tác giả Thiện Tâm (2017), Ấn Độ cũng đã phải chứng kiến làn sóng tự tử của hàng ngàn nông dân trong giai đoạn 2003 - 2013 do vướng phải nợ nần khi tham gia trồng bông biến đổi gen (GMO)
Ở Việt Nam, khủng hoảng về chăn nuôi lợn vừa qua (2017) cũng là một minh chứng rất rõ rệt về rủi ro về kinh tế quá cao cho người chăn nuôi khi thâm canh chăn nuôi mà không gắn được với chuỗi giá trị toàn cầu Chăn nuôi lợn thâm canh không chỉ được áp dụng trong các doanh nghiệp quy mô lớn mà cả ở quy mô nông hộ (giống ngoại, thức ăn công nghiệp) nên đã phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu và thị trường đầu ra Chăn nuôi lợn nông hộ ở Việt Nam hiện không còn là nhỏ lẻ nữa Số lượng lợn trung bình thường xuyên có mặt ở các hộ nông dân là 125,6 con/hộ; trong đó lợn nái là 17,13 (giao động từ 8 - 35 con), lợn thịt là 108,5 con/hộ (giao động từ 22 -1 80 con) (Trần Quốc Việt và cs., 2012) Chăn nuôi nông hộ cũng không còn là phân tán nữa mà là tập trung theo quy
mô thôn xã (trong một xã có tới 50 - 60% số hộ có nông nghiệp) Nếu khu vực này bị tổn thương, sẽ là một gánh nặng cho xã hội và toàn nền kinh tế Hiện tại, Việt Nam đang có một đàn lợn (hầu hết là giống ngoại nhập) đứng thứ 5 trên thế giới với một lượng thức ăn nông nghiệp công nghiệp đứng đầu Đông Nam Á Khi một lượng lớn lợn được sản xuất vượt quá nhu cầu tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu gặp khó khăn thì khủng hoảng thừa đã xảy ra và người gánh chịu hậu quả nặng nề nhất về kinh tế là những người chăn nuôi nông hộ đã tham gia vào chuỗi chăn nuôi hiện đại (đầu tư lớn) nhưng không kết nối được với chuỗi giá trị toàn cầu
- Tác động tiêu cực đến môi trường và đa dạng sinh học
Bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học là hai lĩnh vực đang nhận được sự quan tâm ngày càng lớn trên thế giới Đó là vì các hoạt động của con người đang gây ra đến mức báo động về sự ô nhiễm không khí, phá rừng, xói mòn đất, ô nhiễm đất trồng và nguồn nước và mất tính đa dạng sinh học; tất cả những điều này làm ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống mưu sinh và sức khoẻ của con người và thậm chí là đe doạ đến sự phát triển bền vững (Preston, 1995) Các cơ sở nông nghiệp quy mô lớn hiện đại, đặc biệt là chăn nuôi công nghiệp, gần đây đã phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam Việc này dễ dẫn đến những vấn đề về môi trường bởi trong các cơ sở sản xuất như vậy một số lượng lớn vật nuôi với mật độ cao sẽ sản sinh ra râtrs nhiều chất thải trong khi không có đủ cây trồng để tái sử dụng chúng Các cơ sở chăn nuôi như vậy cũng sẽ làm giảm số lượng các vật nuôi bản địa vốn có sức kháng bệnh rất cao và sử dụng rất tốt các nguồn thức ăn tại chỗ, đặc biệt là các phụ phẩm nông nghiệp
- Tác động tiêu cực đến sự ổn định xã hội và sự thịnh vượng của cộng đồng địa phương
Các doanh nghiệp nông nghiệp lớn có thể mang lại những cơ hội mới cho địa phương, nhưng đồng thời cũng kèm theo nhiều thách thức lớn cho cộng đồng, đặc biệt là trong bối cảnh đất ngày càng chật, người ngày càng đông Những tác động tiêu cực chính lên cộng đồng địa phương có thể kể đến như: (1) Mâu thuẫn về quyền sử dụng sử dụng đất và các tài nguyên khác với cư dân bản địa; (2) Gây ô nhiễm môi trường làm giảm chất lượng cuộc sống và sức khỏe của cư dân địa phương; (3) Làm xuống cấp hạ tầng cơ sở của địa phương, đặc biệt là cầu đường và tắc nghẽn giao thông; (4) Sản phẩm nông nghiệp hiện đại cạnh tranh với sản phẩm nông nghiệp truyền thống, đe dọa sự ổn định sinh kế của những người sản xuất nhỏ lẻ mà không có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp; (5) Chính quyền phải quản lý phức tạp các hoạt động dịch vụ và cư dân mới và (6) Tăng khả năng xung đột và mất an ninh trật tự trong cộng đồng do khác nhau về văn hóa và cạnh trang nguồn lực trong cư dân
Trang 11- Nguy cơ sức khỏe cho con người
Nông nghiệp hiện đại đem lại năng suất cao thường đi kèm với giảm chất lượng thực phẩm của nông sản do có mối tương quan di truyền âm giữa năng suất và chất lượng Hơn nữa, nông nghiệp thâm canh sử dụng phân bón cho cây trồng và thức ăn chăn nuôi được phối trộn theo sự hiểu biết của con người nên không cho được sản phẩm có chất lượng dinh dưỡng và ẩm thực tốt như các loại nông sản được sản xuất theo nông nghiệp truyền thống Thêm vào đó, việc sử dụng thuốc bảo về thực vật cho cây trồng và kháng sinh hay phụ gia trong thức ăn chăn nuôi sẽ dẫn đến tồn dư trong lương thực
- thực phẩm Điều này đem lại nguy cơ lớn đến sức khỏe của người tiêu dùng Đó là chưa nói đến cuộc tranh luận về việc sử dụng các nguồn nguyên liệu biến đổi gen (GMO) phổ biến hiện nay trong chăn nuôi như ngô và đỗ tương nhập khẩu có ảnh hưởng đến sức khỏe của con người hay không
- Vô nhân đạo đối với vật nuôi
Một trong những quan ngại lớn nhất trên thế giới hiện naylà chính quá trình “hiện đại hóa kỹ thuật và thương mại hóa vì lợi nhuận đã làm cho chăn nuôi trở nên vô nhân đạo hơn với chính đối tượng chăn nuôi, tước bỏ đi những phúc lợi cơ bản của con vật” (Broom and Fraser, 2007) Quá trình chọn giống vật nuôi của con người đã tạo ra những giống vật nuôi hiện đại cho năng suất cao nhưng không còn được “tự nhiên” như tổ tiên của chúng Về mặt dinh dưỡng, vật nuôi nuôi thâm canh bị stress rất nặng về trao đổi chất do phải ăn và chuyển hóa nhiều dinh dưỡng để đảm bảo cho nhu cầu sản xuất cao với nhiều tác động tiêu cực tới phúc lợi (Webster, 1994) Về chuồng trại, chăn nuôi công nghiệp đã biến chuồng nuôi thành xưởng máy (factory farm), ở đó vật nuôi chỉ là cỗ máy để biến nguyên liệu là thức ăn thành các sản phẩm mà không được hưởng các phúc lợi cần thiết, nhất là thể hiện các tập tính tự nhiên Chuồng nuôi chật hẹp là nguyên nhân làm cho vật nuôi phải trải qua những đau đớn về thể chất và tinh thần, bao gồm sự què quặt do xương và cơ yếu, da bị trầy xước, những vấn đề về tim mạch, tiêu hóa và những vấn đề về tiết niệu Kèm theo đó là gia tăng những tập tính khác thường của vật nuôi như nhai giả và gặm thanh chắn, biểu hiện của sự bất lực và căng thẳng Đó chỉ mới là một vài ví dụ về những vi phạm về phúc lợi động vật trong chăn nuôi hiện đại
4 PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI VÀ BỀN VỮNG
4.1 Mục tiêu
Các mục tiêu trụ cột của phát triển nông nghiệp hiện đại và bền vững gồm:
- Kinh tế: Hiện đại hóa phải nâng cao giá trị gia tăng cho sản xuất nông nghiệp để mang lại lợi nhuận cao cho người sản xuất và góp phần vào tăng trưởng kinh tế chung của địa phương cũng như
quốc gia nói chung
- Xã hội: Phát triển nông nghiệp hiện đại không được phép gây tổn hại mà phải góp phần cải
thiện sinh kế của nông dân, nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng, trong đó có cả việc đảm đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng
- Môi trường: Phát triển nông nghiệp hiện đại phải đảm bảo giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo
tồn đa dạng sinh học, thích ứng và không làm gia tăng biến đổi khí hậu
- Phúc lợi động vật: Chăn nuôi phải đảm bảo phúc lợi động vật Đây không chỉ đơn thuần là vấn
đề đạo đức của con người đối với động vật mà còn có ý nghĩa kinh tế - xã hội - môi trường và là một đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng văn minh trong bối cảnh hội nhập Ngành chăn nuôi Việt Nam sẽ không kết nối được với chuỗi giá trị toàn cầu nếu không đảm bảo được phúc lợi cho vật nuôi
4.2 Cách tiếp cận
Liệu xã hội hiện nay có thể hiện đại hóa mà vẫn đảm bảo được tính bền vững cho nông nghiệp như 4 mục tiêu đã nếu trên hay không? Nghiên cứu của Karlheinz Knickel và cs (2017) cho thấy có thể phát triển các hệ thống nông nghiệp có hiệu quả cao, công bằng và bao trùm nếu có những cách
Trang 12thức hiện đại hóa nông nghiệp đảm bảo được sự hài hòa với những yêu cầu cấp thiết về môi trường sinh thái và đòi hỏi về kinh tế - xã hội không ngừng thay đổi Nhằm phát huy lợi thế và giảm thiểu những tác động tiêu cực của nông nghiệp hiện đại thế giới đang cố gắng điều chỉnh sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp thông minh (smart agriculture) để hài hòa được lợi ích kinh tế của nông nghiệp với lợi ích của cộng đồng và của môi trường, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
Hình 1 Xu hướng phát triển nông nghiệp hiện đại bền vững
Do vậy, ngành nông nghiệp ở Việt Nam cũng cần hướng các hệ thống nông nghiệp hiện tại
chuyển dịch theo hướng nông nghiệp thông minh (Hình 1) để đảm bảo vừa đem lại giá trị gia tăng vừa phát triển bền vững trong mối quan hệ hữu cơ với “tam nông”, không chỉ vì phát triển nông
nghiệp mà nông dân và nông thôn phải trả giá, không vì phát triển nông nghiệp hiện đại mà môi trường phải trả giá Hơn nữa, Việt Nam là một trong những nước nhạy cảm nhất với biến đổi khí hậu
và trước tiên sản xuất nông nghiệp phải thích ứng được với biến đổi khí hậu thì mới đảm bảo được tính bền vững Do vậy, nền nông nghiệp mà xã hội hướng tới phải là nông nghiện thông minh thích ứng khí hậu (climate - smart agriculture)
4.3 Các giải pháp
- Giải pháp về công nghệ
Công nghệ quyết định năng suất và hiệu quả sản xuất, do vậy cần ứng dụng công nghệ cao (CNC) vào nông nghiệp Đó là ứng dụng kết hợp các công nghệ mới, tiên tiến (Robotics, ICT, IoT, Big Data, GPS, Biotechnology, Nano,…) Nông nghiệp ứng dụng CNC (high-tech agriculure) là con đường hiện đại hóa nông nghiệp tốt nhất trong thời đại 4.0 hiện nay Ứng dụng CNC cho phép thực hành một nền nông nghiệp chính xác (precision agriculture) giúp người sản xuất có thể kiểm soát toàn bộ quá trình (có thể từ xa), giảm thiểu chi phí tài nguyên, tối ưu hóa hiệu quả sản xuất, giảm thiểu chất thải gây ô nhiễm môi trường Khác với cách công nghiệp hóa (CNH) truyền thống chỉ áp dụng cho các trang trai lớn, CNC có thể ứng dụng vào sản xuất nông nghiệp ở bất cứ quy mô nào, không chỉ trang trại lớn mà cả ở nông hộ, cũng không loại trừ nông nghiệp đô thị (vertical farming) và nông nghiệp hữu cơ (organic farming)
Nông nghiệp truyền thống
Nông nghiệp thông minh
NĂNG SUẤT/LỢI NHUẬN/THU NHẬP
Nông nghiệp thâm canh
Trang 13- Giải pháp về tổ chức quản lý sản xuất - kinh doanh
Chỉ đầu tư CNC vào sản xuất chưa thể đảm bảo tính bền vững về kinh tế mà phải quan tâm đến
toàn bộ quá trình, từ sản xuất đến bảo quản, chế biến và thương mại hóa sản phẩm trên toàn chuỗi
giá trị Liên kết theo chuỗi giá trị (ngang và dọc) đem lại giá trị gia tăng cao và ổn định sản xuất -
kinh doanh Sản xuất phải định hướng thị trường, đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng Người tiêu dùng hiện đại đòi hỏi nông sản thực phẩm không chỉ có chất lượng ẩm thực cao mà phải an toàn
và được sản xuất trong các hệ thống nông nghiệp văn minh; do vậy họ phải có khả năng truy xuất được nguồn gốc của từng sản phẩm họ định mua Liên kết theo chuỗi giá trị cho phép làm được điều
đó, nhất là trong thời đại 4.0 hiện nay
- Giải pháp về xã hội
Một trong những mục tiêu cụ thể của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn, bảo đảm sự hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn, nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với trình độ nông dân của các nước tiên tiến trong khu vực (Vũ Văn Phúc, 2015) Do vậy, hiện đại hóa nông nghiệp ở Việt Nam phải đặt trong bối cảnh cân bằng lợi ích tam nông để đảm bảo
rằng nông dân và nông thôn không phải trả giá mà được hưởng lợi Để sản xuất nông nghiệp hiện đại không tổn hại đến sinh kế của nông dân thì cần có phương án để thu hút nông dân và đào tạo họ vào
lao động tại các cơ sở sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC; nếu không phải hỗ trợ tạo việc làm mới cho nông dân (dịch vụ, công nghiệp ) để họ không bị thất nghiệp Để đảm bảo sự thịnh vượng của
công đồng nông thôn các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng CNC phải có nghĩa vụ đóng góp cho
phúc lợi xã hội, phải đảm bảo sản xuất sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng, đảm bảo vệ sinh môi trường và không làm xuống cấp các hạ tầng cơ sở của địa phương
- Giải pháp về môi trường
Hiện đại hóa nông nghiệp phải đi kèm theo các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và xói mòn đa dạng sinh học Việc này phải được thực hiện đồng bộ, bao gồm: (1) Sản xuất sạch hơn (giảm thiểu phát thải), (2) Cô lập chất thải (giảm thiệu tác động của chất thải), (3) Xử lý chất thải (giảm độ độc hại của chất thải), (4) Tái sử dụng chất thải (làm đầu vào cho hoạt động sản xuất khác, sản xuất năng lượng, ) Nhà nước cần có luật pháp về quản lý chất thải nông nghiệp, quy hoạch vùng sản xuất gắn liến với việc cấp và quản lý hạn ngạch chất thải, áp dụng kiểm toán môi trường chăn nuôi Mặt khác, để bảo tồn tài nguyên và đa dạng sinh học, hiện đại hóa nông nghiệp không được loại trừ việc khai thác tối đa các nguồn gen bản địa và nguyên liệu có sẵn của địa phương
- Giải pháp về đảm bảo phúc lợi động vật
Hiện đại hóa chăn nuôi không được phép tước bỏ những nhu cầu phúc lợi cơ bản của vật nuôi (animal welfare) Đó là yêu cầu bắt buộc khi muốn hội nhập và cam kết quốc tế về chăn nuôi Các hoạt động chăn nuôi phải đảm bảo cho vật nuôi được khỏe mạnh về thể chất, thoải mái về tinh thần
và được biểu hiện các tập tính cơ bản của loài Luật Chăn nuôi và Luật Thú y cần có các điều khoản
quy định cụ thể để đảm bảo “5 Không” cho vật nuôi, đó là: (1) Không bị đói khát; (2) Không bị đau đớn, tổn thương và bệnh tật; (3) Không bị khó chịu; (4) Không bị sợ hãi và khổ sở; (5) Không bị hạn
chế các tập tính tự nhiên
5 KẾT LUẬN
Phát triển nông nghiệp thông minh là một xu hướng phát triển nhằm tận dụng lợi thế của KHCN để tăng năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp Áp dụng CNC có thể đem lại năng suất nông nghiệp cao trên mỗi đơn vị tài nguyên/đầu tư và giảm giá thành sản phẩm, do đó mang lại lợi nhuận cao và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nông nghiệp CNC cũng mang lại nhiều rủi ro
về kinh tế - xã hội, môi trường và phúc lợi động vật Để hiện đại hóa nông nghiệp một cách bền vững việc ứng dụng CNC phải được thực hiện một cách thông minh và có điều kiện, trong đó vai trò điều tiết của Nhà nước là hết sức quan trọng
Trang 14TÀI LIỆU THAM KHẢO Broom, D M and Fraser, A F (2007) Domestic Animal Behaviour and Welfare, 4th Edition Wallingford, CABI Karlheinz Knickel, Amit Ashkenazy, Tzruya Calvão Chebach & Nicholas Parrot (2017) Agricultural modernization and sustainable agriculture: Contradictions and complementarities International Journal of Agricultural Sustainability, 15(5): 575-592
Le Viet Ly (2000) Development of a sustainable animal production system based on the advantage of tropical agriculture Workshop-seminar on “Making better use of local feed resources” January, 2000 SAREC-UAF
Lê Viết Ly, Lê Văn Liễn, Bùi Văn Chính, Nguyễn Hữu Tào (2004) Phát triển nông nghiệp bền vững trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Nhà xuất bản Nông nghiệp - Hà Nội
Ogle B and Phuc B H N (1997) Sustainable intensive livestock-based systems in Vietnam IRDCurrent, 14: 16-22 Orskov E R (2001) Sustainable resources management and rural development in Vietnam Paper presented at the seminar on ruminant nutrition held in Hanoi on 12 January 2001 by Vietnam Animal Husbandry Association Preston T R (1995) Strategy for sustainable use of natural renewable resources: constrains and opportunities Tropical Feeds and Feeding Systems FAO, pp: 121-144
Sansoucy R (1997) Livestock - a driving force for food security and sustainable development IRDCurrent, 13(14): 4-11
Thiện Tâm (2017) Làn sóng tự tử của nông dân Ấn Độ vì cây bông biến đổi gen Tri thức VN Truy cập tại: https://trithucvn.net/khoa-hoc/lan-song-tu-tu-cua-nong-dan-an-do-vi-cay-bong-bien-doi-gen.html, ngày 16/8/2018 Thornton P K (2010) Livestock production: recent trends, future pr ospects Phil Trans R Soc B., 365: 2853 - 2867
Trần Quốc Việt, Trần Thị Bích Ngọc, Lê Văn Huyên, Nguyễn thị Hồng, Trần Việt Phương, Sầm Văn Hải, Ninh Thị Huyền (2012) Báo khoa học Viện Nông nghiệp năm 2011 Hà Nội, tháng 11/2012 Tr 338 - 350
Vũ Duy Giảng (2014) Cách tiếp cận mới để phát triển chăn nuôi nông hộ an toàn và hiệu quả Báo Nông nghiệp Việt Nam
Vũ Văn Phúc (2015) Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn - nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Tạp chí Cộng sản
nong-nghiep-nong-thon.aspx, truy cập ngày 14/6/2018
Trang 15http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2015/36724/Day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-CƠ SỞ KINH TẾ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ 4.0 ĐẾN PHÂN PHỐI TÀI NGUYÊN ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ PHÚC LỢI XÃ HỘI
GS TS Nguyễn Văn Song
Trưởng nhóm NCM - Kinh tế và Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Email: nvsong@vnua.edu.vn; Điện thoại: 0984.148.879
TÓM TẮT
Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 sẽ làm thay đổi lớn trong sản xuất, tiêu dùng, mọi mặt đời sống của người sản xuất, người tiêu dùng và các tổ chức trong xã hội Dựa trên các mô hình lý thuyết về kinh tế và toán học, bài viết chứng minh và chỉ rõ ảnh hưởng của ứng dụng công nghệ 4.0 tới sản xuất của doanh nghiệp (trang trại), ngành nông nghiệp, ảnh hưởng tới phân phối nguồn lực đất đai và ảnh hưởng tới phúc lợi của cá nhân trong xã hội Kết quả cho thấy, giá trị sản phẩm biên trên một đơn vị đầu vào sẽ tăng Những sản phẩm, ngành ứng dụng công nghệ 4.0 sẽ thu hút nhiều đất đai vào sản xuất, tốc độ tăng giá đất chậm hơn giá trị sản phẩm biên của trang trại, và phúc lợi xã hội từ đó sẽ tăng theo
Từ khoá: Cách mạng công nghệ 4.0, đất đai, giá trị sản phẩm biên, phúc lợi xã hội, ứng dụng
Economic Basis of the Applied Fourth Industrial Revolution
on Agricultural Land Allocation and Social Welfare
ABSTRACT
The Fourth Industrial Revolution will change the production, consumption, all aspects of life of producers, consumers and other organizations in society Based on theoretical economical models, and mathematics, the paper demonstrates and demonstrates the impacts of applying the fourth industrial revolution to farm production, the agricultural sector, the impact of distribution land resources, and affect the social wellfare The results show that the value of marginal products (VMP) will be increased The applied fourth industrial revolution products, sectors that will attract more land for production, land price will be increased but slower than the farm's marginal product value, and social welfare will be increased./
Keywords: Application, land, social welfare, the fourth industrial revolution, value of marginal product
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng sản phẩm của khu vực sản xuất không chỉ đơn thuần là tăng nguồn lực đầu tư đầu vào Trong thực tế có 3 cách tăng cường khả năng sản xuất của một doanh nghiệp (ví dụ: một trang trại
trong nông nghiệp), một ngành, một nền kinh tế đó là: thứ nhất, vay đầu tư thêm cho sản xuất; thứ
hai, cải tiến khoa học công nghệ, áp dụng khoa học công nghệ mới; thứ ba, tăng cường hợp tác sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm giữa các đơn vị sản xuất, giữa tổ chức kinh doanh, giữa các ngành Trong 3 phương cách tăng năng lực sản xuất như trên thì chỉ có cách thứ 2 đó là cải tiến khoa học công nghệ
là vừa hiệu quả vừa có tính bền vững
Trong tương lai, đổi mới công nghệ sẽ dẫn đến một bước nhảy vọt phía cung sản phẩm, đảm bảo lợi ích lâu dài về hiệu quả và năng suất Chi phí vận chuyển và truyền thông sẽ giảm, chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ trở nên hiệu quả hơn và chi phí thương mại sẽ giảm đi, tất cả sẽ mở ra thị trường mới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Klaus Schwab, 2016) Trong cuộc cách mạng thứ tư này, nhân loại đang hưởng lợi, với một loạt các công nghệ mới kết hợp thế giới vật lý, kỹ thuật số và sinh học Những công nghệ này sẽ tác động đến tất cả các ngành, nền kinh tế và công nghiệp, kết nối hàng tỷ người với thị trường trực tuyến, cải thiện đáng kể hiệu quả của doanh nghiệp (Marr và Bernard, 2016)
Trang 16Mục tiêu của bài viết nhằm chứng minh, phân tích dưới góc độ mô hình kinh tế nhằm chỉ rõ cơ sở dưới góc độ kinh tế ảnh hưởng của ứng dụng công nghệ 4.0 đến sản lượng của mỗi trang trại, mỗi ngành, đồng thời chỉ rõ tác động của ứng dụng công nghệ 4.0 tới tái phân phối nguồn lực đất đai trong nông nghiệp, và ảnh hưởng của ứng dụng công nghệ 4.0 đến phúc lợi xã hội
Phương pháp sử dụng trong bài viết là phương pháp toán học, mô hình hoá dựa trên các lý thuyết kinh tế cơ bản Bên cạnh các phương pháp cơ bản trên, phương pháp phân tích, so sánh thể chế xã hội vĩ mô, đặc biệt là những cơ chế chi phối tiếp cận các nguồn lực quan trọng, tập trung vào các loại đầu vào là đất đai, lao động, và vốn (Whitley, 1999)
2 PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN
2.1 Sự phân phối và dịch chuyển nguồn lực đất đai khi ứng dụng công nghệ 4.0
2.1.1 Sự phân phối nguồn lực đất đai trước khi ứng dụng cách mạng 4.0
Hình 1 Phân bổ đất để sản xuất giữa hai loại sản phẩm hoa
và lúa trong ngành nông nghiệp, trước khi ứng dụng công nghệ 4.0
L là tổng diện tích đất trang trại, hoặc ngành dùng sản xuất, canh tác;
L d-flower là tổng lượng đất đầu tư trồng hoa của trang trại, hoặc của ngành có ứng dụng công nghệ 4.0;
L d- rice là tổng lượng đất đầu tư trồng lúa của trang trại hoặc của ngành không ứng dụng công nghệ 4.0;
P* là giá một đơn vị đất đầu tư cho trồng hoa hoặc trồng lúa trước khi ứng dụng công nghệ 4.0;
Nguồn: Nguyễn Văn Song, 2006
Trong một nền kinh tế của một quốc gia, tổng cung về đất là hoàn toàn không co giãn (đường cung thẳng đứng), trong ngắn hạn, lượng cung đất cho các ngành là cố định, nhưng trong dài hạn thì
VMP flower Giá trị sản phẩm biên của sản xuất hoa
d - flower d d-rice
Lượng đất phân bổ cho trồng hoa Lượng đất phân bổ cho canh tác
lúa
E
P* (Giá đất đầu tư trồng lúa)
Tổng diện tích đất canh tác trong ngành NN
d
L
Trang 17lượng cung đất cho các ngành khác nhau sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào mức độ lợi nhuận mà diện tích đất
đó mang lại Sự chuyển dịch này không chỉ diễn ra giữa các ngành (công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, dịch vụ du lịch…) mà nó còn diễn ra ở chính nội bộ một trang trại, nội bộ của ngành nông nghiệp tuỳ thuộc vào mức độ sinh lời của các loại sản phẩm trong nội bộ ngành nông nghiệp Lượng cung đất trong ngành nông nghiệp cố định là (Ld), trong đó: đất dành cho sản xuất lúa gạo (Ld-rice) và đất canh tác dành cho sản xuất (Ld-flower) Trong trường hợp này để đơn giản, chúng ta giả sử trang trại hoặc ngành sản xuất 2 sản phẩm (Hình 1)
Trước khi trang trại, hoặc ngành nông nghiệp ứng dụng, phát triển công nghệ 4.0; trang trại, hoặc ngành nông nghiệp sẽ đầu tư lượng diện tích đất vào trồng hoa là Ld- flower và lượng diện tích đất vào trồng lúa là Ld- rice ở đó: giá trị sản phẩm biên của đất trồng hoa VMPflower bằng giá trị sản phẩm biên của đất trồng Lúa VMPrice và bằng giá thuê một đơn vị đất để đầu tư Như vậy, giá một đơn vị đất, giá hoa, giá lúa, năng suất cận biên hoa và năng suất cận biên của lúa sẽ là 5 nhân tố làm căn
cứ cho chủ trang trại, để quyết định bao nhiêu diện tích đất sẽ được đầu tư cho trồng hoa và bao nhiêu đất sẽ đầu tư cho trồng lúa hoặc chuyển đổi sang kinh doanh cây trồng, sản phẩm khác Giao điểm giữa hai đường giá trị sản phẩm biên (trong trường hợp trang trại kinh doanh 2 sản phẩm), hoặc giao điểm giữa nhiều đường giá trị sản phẩm biên (trong trường hợp trang trại kinh doanh nhiều sản phẩm) và giá một đơn vị đất sẽ là căn cứ quyết định đầu tư đất, hoặc chuyển đổi đất giữa các sản phẩm trong nội bộ trang trại, nội bộ ngành nông nghiệp
2.1.2 Sự chuyển đổi đất trong nội bộ trang trại, hoặc ngành nông nghiệp khi áp dụng hoặc phát triển công nghệ 4.0
Hình 2 Ảnh hưởng ứng dụng CN 4.0 đến phân phối lại nguồn lực đất trong trang trại
hoặc trong ngành nông nghiệp
Trong đó:
MP Ld -flower là sản phẩm biên của sản xuất hoa sau khi ứng dụng, phát triển CN 4.0;
∆P flower là sự thay đổi giá hoa trên thị trường sau khi ứng dụng, phát triển CN 4.0;
∆P đất là sự thay đổi về giá đất sau khi ứng dụng, phát triển CN 4.0;
VMP flower trước 4.0 là giá trị sản phẩm biên của hoa trước khi ứng dụng, phát triển CN 4.0;
VMP flower sau 4.0 là giá trị sản phẩm biên của hoa sau khi ứng dụng, phát triển CN 4.0;
L* d-trước 4.0 là điểm cân bằng phân bổ đất trước khi ứng dụng, phát triển CN 4.0;
L* d-sau 4.0 là điểm cân bằng phân bổ đất sau khi ứng dụng, phát triển CN 4.0;
d
L L d là tổng diện tích đất canh tác của doanh nghiệp hoặc của ngành nông nghiệp
Trang 18Công nghệ 4.0 khi được ứng dụng và phát triển trong một trang trại, hoặc trong ngành nông nghiệp sẽ tạo ra một bước chuyển lớn, tăng năng suất cây trồng, năng suất vật nuôi Trong trường hợp này để đơn giản, giả sử sản xuất hoa của trang trại hoặc ngành nông nghiệp được áp dụng công nghệ 4.0 vào sản xuất lúa chưa áp dụng vào sản xuất Như vậy, sản phẩm biên (MPLd) của một đơn vị đất đai ngành trồng hoa sẽ điều này sẽ kéo theo giá trị sản phẩm biên của sản phẩm hoa (VMPflower sau
4.0) dịch chuyển lên phía trên (Hình 2) Sự dịch chuyển của đường giá trị sản phẩm biên của đất trồng hoa chính là sự dịch chuyển của “đường cầu” về đất trồng hoa Sự dịch chuyển này tạo ra điểm cân bằng mới về phân bổ đất trong trại hoặc điểm cân bằng mới của thị trường sử dụng đất E4.0 thay cho điểm E Điểm cân bằng mới được xác lập sẽ dẫn tới sự thay đổi về ra quyết định phân phối đất vào sản xuất của trang trại hoặc ngành Các trang trại trồng hoa lúc này có nhu cầu cao hơn trước về đất trồng hoa và sẵn sàng trả giá đất (Pđất sau khi ứng dụng 4.0) cao hơn giá đất trước khi ứng dụng công nghệ 4.0 vào sản xuất hoa (Pđất trước khi ứng dụng 4.0) Điểm cân bằng mới được xác lập E4.0 thay cho điểm E sẽ chuyển diện tích đất (L*d-sau 4.0 - (trừ) L*d-trước 4.0) từ sản xuất lúa sang sản xuất hoa Do ảnh hưởng này, những người sản xuất lúa có giá trị sản phẩm biên EE4.0 sẽ không thể tồn tại nếu tiếp tục trồng lúa
mà phải chuyển sang trồng hoa hoặc sản xuất các sản phẩm khác có giá trị sản phẩm biên lớn hơn giá sử dụng đất sau khi ứng dụng công nghệ 4.0 (VPM > Pđất sau khi ứng dụng 4.0) Kết quả này có hàm ý, mặc dù chỉ sản xuất hoa ứng dụng công nghệ 4.0 vào sản xuất dẫn tới những người sản xuất lúa hoặc những ngành khác có thể bị thất nghiệp, phải tìm việc làm mới, hoặc phải tự nâng cao trình độ để chuyển sang sản xuất hoa, ứng dụng công nghệ 4.0 vào sản xuất
Để xem xét giá đất tăng từ Pđất trước khi ứng dụng 4.0 lên giá đất Pđất sau khi ứng dụng 4.0 sẽ ảnh hưởng đến giá đầu ra, và lợi nhuận của trang trại như thế nào, có thể dựa vào phương trình sau:
Kết quả của hình 2 cho thấy sự tăng lên của giá trị sản phẩm biên của sản phẩm ứng dụng công nghệ 4.0 (∆Pflower *MPLd -flower) lớn hơn sự thay đổi giá đầu vào là đất ∆Pđất theo phương trình sau:
∆Pđất < ∆Pflower *MPLd -flower (1) Nếu ta chia cả 2 vế của bất phương trình trên (1) cho giá đất (Pđất trước khi ứng dụng 4.0) khi chưa ứng dụng công nghệ 4.0, sau đó thay giá đất trước khi ứng dụng công nghệ 4.0 bằng giá trị sản phẩm biên của hoa trước khi ứng dụng công nghệ 4.0 ta có:
∆giá đất < ∆Pflower* MPLd -flower
= ∆Pflower*MP Ld -flower
Kết quả cuối cùng của phương trình 2 cho thấy, tốc độ tăng giá đất (∆giá đất/ Pđất trước 4.0) nhỏ hơn tốc
độ tăng giá hoa (∆Pflower/Pflower) Kết quả này cho phép kết luận: khi áp dụng công nghệ 4.0, tốc độ tăng giá đầu vào (đất) nhỏ hơn tốc độ tăng giá đầu ra (hoa) Hàm ý của vấn đề này là khi áp dụng khoa học công nghệ 4.0 không chỉ năng suất cận biên (MPđất) của đất đai tăng lên mà tốc độ tăng giá đầu
ra lớn hơn tốc độ tăng giá đầu vào nên người sản xuất sẽ có lãi nhiều hơn
Trong trường hợp mô hình nghiên cứu này chúng ta giả sử chỉ một sản phẩm (hoa) trong trang trại, hoặc trong một ngành ứng dụng công nghệ 4.0, như vậy chỉ sản phẩm biên MPflower của đất sẽ tăng Dễ dàng nhận thấy là nếu cả hai sản phẩm hoa và lúa, hoặc 2 ngành cùng ứng dụng tiến bộ công nghệ 4.0 thì cả hai đường VMPflower và của VMPrice sẽ dịch chuyển lên phía trên làm tăng nhu cầu về đầu vào, nhưng do cung đất ít hoặc hoàn toàn không co giãn, dẫn tới giá đất sẽ tăng Sự phân
bổ đất trong trường hợp này sẽ tuỳ thuộc vào sản phẩm nào, ngành nào ứng dụng công nghệ 4.0 nhiều hơn và hiệu quả hơn sẽ thu hút được nhiều đất cho sản xuất hơn
2.2 Sự thay đổi phúc lợi xã hội khi ứng dụng công nghệ 4.0
2.2.1 Chỉ một sản phẩm của trang trại, hoặc một ngành ứng dụng công nghệ 4.0
Trong trường hợp chỉ một sản phẩm (ví dụ: hoa) của trang trại hoặc một ngành ứng dụng công nghệ 4.0, các sản phẩm khác chưa hoặc ứng dụng công nghệ 4.0 Trong trường hợp này đường khả
Trang 19năng sản xuất PPF chỉ chuyển lên từ phía sản xuất sản phẩm được ứng dụng công nghệ 4.0, sản phẩm khác (ví dụ: lúa) sẽ không thay đổi (Hình 3)
Đường khả năng sản xuất (PPFtrước 4.0) của trang trại, hoặc ngành trước khi ứng dụng công nghệ 4.0 vào sản xuất hoa; sản lượng lúa được sản xuất là R0 và sản lượng hoa là F0, với mức sản lượng này, sự cân bằng sẽ tại điểm A và mức phúc lợi xã hội đạt được là U1 Khi sản xuất hoa của trang trại, hoặc của ngành áp dụng công nghệ 4.0, đường năng lực sản xuất hoa sẽ dịch chuyển lên (PPFsau 4.0) Sản lượng hoa sẽ tăng từ F0 lên F4.0, sản lượng lúa
sẽ giảm từ R0 về R1, sự cân bằng sẽ tại điểm B và mức phúc lợi xã hội đạt được là U2 Mức tăng phúc lợi xã hội từ U1 lên U2 do ứng dụng công nghệ 4.0 vào sản xuất hoa
Hình 3 Tăng phúc lợi xã hội, trường hợp chỉ 1 sản phẩm
hoặc 1 ngành ứng dụng công nghệ 4.0
Trong đó:
PPF là đường khả năng sản xuất của một trang trại, ngành nng nghiệp, hoặc quốc gia;
U là đường thoả dụng phản ảnh mức độ phúc lợi xã hội có thể đạt được;
P flower /P rice giá liên quan đo hệ số góc của đường PPF
2.2.2 Cả hai hoặc sản phẩm của trang trại, hoặc nhiều ngành cùng ứng dụng công nghệ 4.0
Trong trường hợp cả hai hoặc nhiều sản phẩm của một trang trại, hoặc của ngành cùng ứng dụng công nghệ 4.0; như vậy, sản phẩm biên của toàn bộ sản phẩm này đều tăng, mặc dù nguồn lực đất đai và các nguồn lực khác trong trang trại, trong ngành không thay đổi Mặc dù nguồn lực không tăng nhưng do ứng dụng khoa học công nghệ 4.0 sẽ làm cho đường khả năng sản xuất (PPF) của doanh nghiệp chuyển lên ở cả hai sản phẩm (Hình 4) Trong trường hợp này khác so với trường hợp chỉ một sản phẩm (hoa), hoặc một ngành ứng dụng công nghệ 4.0, đường PPF chỉ dịch chuyển lên phía trên ở sản phẩm (hoa) có ứng dụng công nghệ 4.0, còn những ngành khác sẽ không dịch chuyển (Hình 3)
Khác với trường hợp chỉ một sản phẩm hoặc một ngành ứng dụng công nghệ 4.0, có thể làm cho sản phẩm ngành khác giảm (ví dụ: sản lượng lúa giảm từ R0 về R1) trong trường hợp (Hình 3), khi chỉ
Trang 20sản lượng của ngành ứng dụng công nghệ 4.0 sẽ tăng Nguồn lực đất trong trang trại, hoặc ngành sẽ chảy vào khu vực ứng dụng công nghệ 4.0 Trong trường hợp cả 2 hoặc nhiều sản phẩm, nhiều ngành cùng ứng dụng công nghệ 4.0 sản lượng của cả 2 hoặc nhiều ngành cùng tăng, sản lượng hoa tăng từ
F0 lên F4.0; sản lượng lúa (không giảm như trường hợp 1) mà cũng tăng từ R0 lên R4.0 Trong trường hợp này chúng ta chưa thể khẳng định được nguồn lực đất đai trong trang trại sẽ bị thu hút về sản xuất sản phẩm nào, ngành nào nhiều hơn Chỉ có thể khẳng định ngành được sản phẩm nào, ngành nào ứng dụng 4.0 tốt hơn, hiệu quả có giá trị sản phẩm biên (VMP) cao hơn sẽ thu hút nguồn lực đất đai nhiều hơn
Xét về hệ số góc của đường PPF để xem mức độ ảnh hưởng của ứng dụng công nghệ 4.0 ảnh hưởng tới giá liên quan (tỉ giá của 2 loại sản phẩm), trong trường hợp cả hai hoặc nhiều sản phẩm hoặc nhiều ngành cùng ứng dụng công nghệ 4.0 chắc chắn sẽ thay đổi, nhưng chúng song song với nhau (Hình 4) chỉ trong trường hợp cả hai sản phẩm hoặc nhiều sản phẩm của nhiều ngành này ảnh hưởng đến giá liên quan (tỉ số giá) của các sản phẩm là như nhau (Hình 4)
Hình 4 Tăng phúc lợi xã hội, trường hợp cả 2, hoặc nhiều sản phẩm
hoặc nhiều ngành cùng ứng dụng công nghệ 4.0
3 KẾT LUẬN
Cách mạng công nghệ 4.0 sẽ tác động đến quá trình sản xuất, chuyển đổi nguồn lực đất đai nói riêng và đầu vào nói chung trong nội bộ trang trại, trong nội bộ ngành và trong một nền kinh tế Sản phẩm, ngành ứng dụng công nghệ 4.0 sẽ tạo ra giá trị sản phẩm biên (VPMinput) của đầu vào tăng, sự tăng giá trị sản phẩm cận biên tạo ra sự phân phối lại nguồn lực trong khu vực sản xuất Đất đai sẽ được thu hút về các sản phẩm, ngành ứng dụng công nghệ 4.0 sẽ nhiều hơn do giá trị sản phẩm biên (VMPđất đai) sẽ lớn hơn làm cho nhu cầu đầu vào nhiều hơn Do nguồn lực đất đai sẽ được thu hút vào các sản phẩm, ngành ứng dụng công nghệ 4.0 dẫn tới diện tích đất dành cho các sản phẩm khác, ngành khác sẽ giảm Sản lượng sản phẩm của các ngành không ứng dụng hoặc đi sau trong đầu tư công nghệ 4.0 sẽ giảm và tỉ lệ thất nghiệp ngành này, khu vực này sẽ tăng
Sự thay đổi làm tăng giá đất so với giá đất cũ, nhưng tốc độ tăng giá trị sản phẩm biên và cụ thể
là sự thay đổi tăng giá đầu ra (hoa) cao hơn so với tăng giá đất Do giá trị sản phẩm biên tăng lên
Trang 21chủ yếu do sản phẩm biên của ngành ứng dụng khoa học công nghệ 4.0 tăng nên hiệu quả nguồn lực
sử dụng sẽ cao hơn và thu hút đất đai nhiều hơn
Trong trường hợp cả hai hoặc nhiều sản phẩm của trang trại, hoặc của ngành cùng ứng dụng công nghệ 4.0 sẽ làm đường PPF dịch chuyển lên phía trên cả hai hoặc nhiều sản phẩm, mặc dù nguồn lực đất đai và đầu vào không thay đổi Sản lượng cả hai ngành cùng tăng Mức tăng nhiều hay
ít tuỳ thuộc vào mức độ và hiệu quả áp dụng công nghệ 4.0
Ứng dụng công nghệ 4.0 trong trường hợp chỉ cho 1 sản phẩm hoặc một ngành (Hình 3), hoặc cho nhiều sản phẩm hoặc nhiều ngành (Hình 4) đều làm tăng phúc lợi xã hội lên một mức cao hơn Mặc
dù nguồn lực của trang trại, của ngành không thay đổi, điều này thể hiện ưu thế của ứng dụng khoa học công nghệ nói chung và ứng dụng công nghệ 4.0 nói riêng cho sản xuất của các trang trại, ngành nông nghiệp, hoặc các doanh nghiệp, hoặc nền kinh tế của một quốc gia /
TÀI LIỆU THAM KHẢO Klaus Schwab (2016) The Fourth Industrial Revolution: what it means and how to respond World Economic Forum Retrieved: 2018-03-20
Marr, Bernard (2016) Why Everyone Must Get Ready For The 4th Industrial Revolution Forbes (blog) Retrieved: 2016-12-12
Nguyễn Văn Song (2006) Kinh tế Tài nguyên và Môi trường Nhà xuất bản Nông nghiệp
Whitley, R (1999) How and why are international firms different? The consequences of cross- border managerial coordination for firm characteristics and behavior, Presented to Sub theme 3 “Business System In Their International Context” of the 15th EGOS Colloquium held at the University of Warwick, 4th - 6th July 1999
Trang 22ĐẶC TRƯNG CỦA SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
TẠI VIỆT NAM
PGS TS Nguyễn Bạch Nguyệt*, TS Hoàng Thị Thu Hà
Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Email*: nguyetnb@neu.edu.vn
Đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao là xu hướng tất yếu nhằm phát triển nền nông nghiệp bền vững Tuy nhiên thực tế trong những năm qua cho thấy, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, hoạt động đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam vẫn còn bộc lộ những khó khăn, hạn chế làm ảnh hưởng đến khả năng thu hút đầu tư và hiệu quả đầu tư của ngành Bởi vậy, để tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao, đòi hỏi các nhà quản lý cần nắm vững các đặc trưng của sản xuất nông nghiệp công nghệ cao cũng như các yêu cầu đặt ra khi thực hiện đầu tư phát triển trong lĩnh vực này Trên cở sở đó, các nhà quản lý mới có thể đưa ra được các giải pháp phù hợp, nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành trong chiến lược phát triển kinh tế dài hạn của đất nước
1 BẢN CHẤT NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
Nông nghiệp công nghệ cao có thể được hiểu một cách khái quát là nền nông nghiệp ứng dụng các công nghệ hiện đại vào toàn bộ quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người, đảm bảo phát triển nông nghiệp bền vững
Theo Vụ Khoa học công nghệ - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nông nghiệp công nghệ cao “là nền nông nghiệp được ứng dụng công nghệ mới vào trong sản xuất, bao gồm: công nghiệp hoá nông nghiệp (cơ giới hoá các khâu của quá trình sản xuất), tự động hoá, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ”
Từ đó cho thấy, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao là hệ thống sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung theo chuỗi giá trị sản phẩm Tất cả các giai đoạn sản xuất theo chuỗi đều đạt trình độ công nghệ sản xuất tiên tiến (công nghệ sinh học, tin học, công nghệ vật liệu mới, cơ giới hoá, tự động hoá…) nhằm tạo ra nhiều sản phẩm nông nghiệp hàng hóa với năng suất, chất lượng, hiệu quả đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, đồng thời nâng cao mức sống cho người lao động
2 ĐẶC TRƯNG CỦA SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
Xuất phát từ bản chất nêu trên, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có những đặc trưng chủ yếu như sau:
- Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao trước hết phải là một hệ thống sản xuất nông
nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn, gắn liền với các cơ sở chế biến và thị trường tiêu thụ Sản xuất tập trung quy mô lớn phải hình thành các vùng, các tiểu vùng sản xuất chuyên môn hóa, các cánh đồng chuyên canh có quy mô đủ lớn phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội ở từng vùng, từng địa phương và cả nước Với quy mô như vậy thì sản xuất nông nghiệp mới có khả năng ứng
Trang 23dụng công nghệ cao để sản xuất ra nhiều hàng hóa nông sản có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu
Mặt khác, do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp diễn ra trên địa bàn rộng lớn phức tạp mang yếu tố vùng và khu vực rất cao, nên không thể cho phép sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển trên tất cả các vùng, các khu vực, các loại vật nuôi, cây trồng khác nhau trong cả nước
Vì vậy, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi phải khảo sát, nghiên cứu kỹ các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội ở từng vùng, từng địa phương và cả nước Với quy mô đủ lớn thì sản xuất nông nghiệp mới có khả năng ứng dụng công nghệ cao để sản xuất ra các nông sản hàng hóa có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu
- Thứ hai, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao được tiến hành theo chuỗi giá trị sản phẩm: từ
lúc bắt đầu cung cấp các yếu tố đầu vào đến hoạt động sản xuất nông nghiệp sau đó thu gom bảo quản chế biến sản phẩm và cuối cùng, bán sản phẩm ra thị trường Sản xuất nông nghiệp theo chuỗi
sẽ đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, thực hiện công bằng lợi ích phân chia lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia chuỗi giá trị Sản xuất nông nghiệp theo chuỗi còn làm tăng nhanh năng suất lao động, năng suất sản phẩm, cải thiện và nâng cao kiến thức, kỹ năng kinh doanh của các tác nhân tham gia chuỗi, đồng thời dễ kiểm soát vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ô nhiễm môi trường sinh thái Sản xuất nông nghiệp theo chuỗi sẽ giúp việc tìm ra hướng đầu tư hợp lý giữa các công đoạn trong chuỗi giá trị sản phẩm dễ dàng hơn
- Thứ ba, trình độ công nghệ sản xuất nông nghiệp trong tất cả các khâu của chuỗi giá trị đều
thực hiện phát triển đồng bộ và đạt trình độ tiên tiến hoặc cao hơn Một yêu cầu quan trọng của việc ứng dụng công nghệ nói chung hay công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp chỉ phát huy tác dụng và đạt hiệu quả cao nhất khi thực hiện đồng bộ các yếu tố công nghệ vào sản xuất Vì các yếu tố công nghệ bao giờ cũng phát huy tác dụng một cách đồng bộ, ngược lại chúng sẽ kìm hãm và cản trở lẫn nhau Việc thực hiện đồng bộ các yếu tố công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp như: Thủy lợi hóa nông nghiệp, cơ, điện khí hóa nông nghiệp, hóa học hóa, sinh học hóa, công nghệ thông tin, quy trình
kỹ thuật, kinh nghiệm và bí quyết sản xuất tiên tiến trong đó
Thủy lợi hóa nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, đảm bảo không chỉ chủ
động tưới tiêu nước cho mọi cây trồng, vật nuôi Đồng thời thủy lợi phải tiến tới tưới tiêu khoa học theo yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi bằng các phương pháp tưới phù hợp như tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt cho các cây trồng ở các vùng sản xuất tập trung, chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa Mặt khác, thủy lợi hóa còn phải thực hiện vai trò bảo vệ nguồn nước tưới, làm nguồn nước tưới không bị cạn kiệt, thiếu nước và không làm ô nhiễm nguồn nước tưới Như vậy, sẽ đảm bảo cho nông nghiệp công nghệ cao phát triển bền vững và phát huy tốt tác dụng của các yếu tố công nghệ khác
Cơ, điện khí hóa có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Do sản xuất
được tiến hành tập trung quy mô lớn nên rất thuận tiện cho máy móc cơ giới hóa hoạt động trong sản xuất, vận chuyển, thu gom và chế biến sản phẩm Trình độ sản xuất càng phát triển thì mức độ cơ giới hóa và tự động hóa ngày càng cao, đó là xu thế tất yếu, là phương tiện mạnh nhất để tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, thực hiện đúng và kịp thời các yêu cầu kỹ thuật của sản xuất Trong quá trình phát triển cơ giới hóa nông nghiệp cần thực hiện phát triển cơ giới hóa giao thông trước để mở đường cho cơ giới hóa phát triển và thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển nhanh hơn Trong nông nghiệp công nghệ cao việc ứng dụng điện khí hóa vào sản xuất rất rộng rãi và phổ biến
để phục vụ trực tiếp cho thủy lợi hóa và cơ giới hóa, đáp ứng yêu cầu sản xuất nói chung Điện khí hóa trong nông nghiệp có rất nhiều ưu điểm Ngoài việc phục vụ trực tiếp cho thủy lợi hóa và cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, điện còn dùng để bảo quản, sấy khô sản phẩm, chiếu sáng phục vụ sản xuất, sưởi ấm cho cây trồng, vật nuôi,… và không gây ô nhiễm môi trường
Hóa học hóa trong phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao yêu cầu việc sản xuất và ứng
dụng các sản phẩm hóa chất không ảnh hưởng đến sức khỏe con người, thân thiện với môi trường và
Trang 24phát triển nông nghiệp bền vững Sản xuất và sử dụng các loại phân bón tổng hợp có hàm lượng dinh dưỡng NPK dễ sử dụng Sản xuất và ứng dụng nhiều các loại vitamin, muối vi lượng và các chất dinh dưỡng khác để trồng rau, hoa quả theo phương pháp thủy canh đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất hàng hóa Xóa bỏ và giảm thiểu tối đa các sản phẩm hóa chất độc hại không thân thiện với môi trường, còn làm hạn chế sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa nông nghiệp như thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ dại, thuốc kích thích tăng trưởng,… Ngoài các sản phẩm hóa chất có nhiều ưu điểm để phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, cần tăng cường sản xuất và sử dụng phổ biến hơn các chế phẩm vi sinh, hóa sinh như thuốc thảo dược để bảo vệ cây trồng, vật nuôi hay phương pháp vật lý chiếu xạ để bảo quản sản phẩm, nhất là sản phẩm xuất khẩu
Sinh học hóa trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao có xu hướng rất phát triển nhất là việc
ứng dụng các thành tựu sinh học Công nghệ sinh học trong nông nghiệp là nội dung cốt lõi của sinh học hóa nông nghiệp Công nghệ sinh học hiện nay được sử dụng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực như: quốc phòng, y tế, bảo vệ môi trường tự nhiên, sản xuất nông nghiệp và nhất là nông nghiệp công nghệ cao Công nghệ sinh học hiện tại và tương lai có rất nhiều tiềm năng cho phát triển nông nghiệp Công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp tăng trưởng nhanh và bền vững Công nghệ sinh học ứng dụng trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao sẽ tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, vừa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm vừa bảo vệ được môi trường Điều đó có được nhờ sự phát triển và gắn kết giữa công nghệ gen, công nghệ tế bào và công nghệ vi sinh Công nghệ sinh học phát triển trước hết được ưu tiên thực hiện ở những vùng sản xuất hàng hóa tập trung công nghệ cao Để ứng dụng nhanh công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp cần phải xây dựng hệ thống giống theo phương pháp công nghiệp từ việc nuôi cấy mô, nuôi cấy bao phấn, thực hiện vi ghép, sản xuất trong nhà lưới,… đến sản xuất ra các giống mới tương đương và đạt tiêu chuẩn các nước phát triển trong khu vực và thế giới
Công nghệ thông tin: Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, thì công nghệ thông tin được coi là
nét đặc trưng nổi bật và là hạt nhân của việc phát triển và ứng dụng các yếu tố công nghệ cao vào sản xuất Công nghệ thông tin sẽ kết nối sản xuất nông nghiệp với thị trường trong nước và thế giới, kết nối giữa các yếu tố công nghệ với nhau Thông qua công nghệ thông tin, người chủ hay người lao động sẽ biết được các công việc của mình đang được thực hiện trên đồng ruộng hay cơ sở nhà nuôi và chế biến sản phẩm, từ đó có các giải pháp kịp thời và phù hợp Vì vậy, công nghệ thông tin ngày càng được coi trọng để phát triển nông nghiệp công nghệ cao Công nghệ thông tin sẽ thúc đẩy việc tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp nhanh và hợp lý, công nghệ thông tin còn là phương tiện chủ lực để nông nghiệp có thể “đi tắt đón đầu”, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước
Quy trình kỹ thuật tiên tiến: Đi liền với các yếu tố công nghệ nêu trên, nông nghiệp công nghệ
cao đòi hỏi phải ứng dụng các quy trình kỹ thuật tiên tiến phù hợp với từng loại cây trồng, vật nuôi, thực hiện đúng và nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh Sử dụng và phát huy những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến, những bí quyết và tay nghề riêng của người lao động tham gia trong chuỗi sản xuất hàng hóa nông sản Phát triển nông nghiệp công nghệ cao là tất yếu của tiến trình phát triển, là cơ sở quan trọng để phát triển nền nông nghiệp hàng hóa lớn bền vững
3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO Ở VIỆT NAM
Những đặc trưng trên cho thấy, để thực hiện đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao đạt được hiệu quả mong muốn, cần phải chú ý đến những vấn đề cơ bản sau:
- Đầu tư phát triển thường đòi hỏi quy mô vốn đầu tư: Khác với đầu tư phát triển nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao được tiến hành trên quy mô lớn, sử dụng công nghệ tiên tiến nên thường đòi hỏi chi phí đầu tư lớn không chỉ cho máy móc thiết bị, cho giống cây trồng, vật nuôi, đầu tư cho chăm sóc, thu hoạch, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Trang 25nông nghiệp mà còn phải chi phí đầu tư vào xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật nông thôn Đặc biệt ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội có nhiều khó khăn, chi phí đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn không phải là nhỏ Kinh nghiệm thực tế cho thấy để đầu tư cho 1ha nhà kính hoàn chỉnh với hệ thống tưới nước, bón phân có kiểm soát tự động theo công nghệ của Israel cần ít nhất từ 10 tỷ đồng đến 15 tỷ đồng; trung bình đầu tư cho 1m2 nhà lưới cũng cần đến 10 triệu đồng…
Về kết cấu hạ tầng nông thôn, trong những năm qua, mặc dù Nhà nước đã triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, kết cấu hạ tầng nông thôn đã có sự cải thiện đáng kể Tuy nhiên, nếu so với nhu cầu của phát triển nông nghiệp công nghệ cao thì vẫn chưa thể đáp ứng được Vốn lớn cần cho đầu tư phát triển đã và đang là trở ngại lớn trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở nước ta Điều này, chủ yếu là do Việt Nam xuất phát từ nền nông nghiệp nhỏ
lẻ, mang nặng tính tiểu nông, manh mún Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Hiện có tới 90% doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp có vốn chỉ dưới 10
tỷ đồng Mặt khác khả năng huy động vốn bên trong doanh nghiệp cho đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao rất thấp, chỉ đáp ứng được khoảng 55-60% nhu cầu Vốn đầu tư chủ yếu phải huy động từ bên ngoài doanh nghiệp Đây cũng được xem là rào cản lớn đối với hoạt động đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam hiện nay
- Địa điểm để thực hiện đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi diện tích có quy mô lớn Thực tiễn cho thấy, để đầu tư phát triển khu nông nghiệp công nghệ cao, ít nhất cũng cần tới 100
ha, đối với các điểm ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, ít nhất cũng cần 10 ha Mặt khác, không chỉ đòi hỏi mặt bằng diện tích lớn, đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao còn đòi hỏi việc lựa chọn địa điểm phải khai thác được các lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương để có thể sản xuất ra sản phẩm nông sản có năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế Tuy nhiên, thực tế triển khai thực hiện đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam cũng gặp những khó khăn khi lựa chọn địa điểm để đầu tư Đó là vấn đề tích tụ đất đai trong nông nghiệp, diện tích đất đai trong nông nghiệp còn manh mún, nhỏ lẻ Hiện nay với khoảng 70 triệu thửa đất nông nghiệp thì có tới 70% chủ thể đất đai là những hộ nông dân Tại Hội thảo về giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tín dụng nông nghiệp công nghệ cao do ngân hàng nhà nước tổ chức tại Hà Nội tháng 7 năm 2017,
TS Nguyễn Đức Kiên - Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế quốc hội cho rằng nền nông nghiệp Việt Nam hiện nay về cơ bản là nền nông nghiệp thực hiện kinh tế hộ là chủ yếu: “Với 40 triệu người làm việc trong nông nghiệp, 3,8 triệu hecta trồng lúa được chia thành hơn 8 triệu thửa ruộng, tự cung tự cấp Việc sản xuất quy mô trang trại, sản xuất hàng hoá lớn là rất ít” Mặt khác, còn phải kể đến đầu tư không theo quy hoạch hoặc chất lượng quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp tại các địa phương chưa tốt đã gây ảnh hưởng đến việc lựa chọn địa điểm cho việc triển khai thực hiện đầu tư nông nghiệp công nghệ cao
- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao: Do xuất phát từ nền nông nghiệp lạc hậu nên nguồn nhân lực sản xuất nông nghiệp ở nước ta có chất lượng thấp, sản xuất theo canh tác truyền thống Khi chuyển sang ứng dụng các công nghệ tiên tiến thì nguồn nhân lực chưa thể đáp ứng được Vì vậy cần phải chú trọng đến đầu tư đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp công nghệ cao để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu phát triển công nghệ, sản xuất và quản lý quá trình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Một trong những nội dung quan trọng trong đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là cần tập trung đầu tư xây dựng chương trình đào tạo gắn trực tiếp với việc sử dụng công nghệ cao trong nông nghiệp ở bậc chính quy và sau đại học Kết hợp đầu tư theo các hình thức đào tạo dài hạn, ngắn hạn cho người lao động trực tiếp tham gia vào sản xuất và quản lý quá trình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Thực tế trong những năm qua, việc triển khai thực hiện “Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020” cho thấy hiệu quả đầu tư cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao không chỉ phụ thuộc vào vốn, đất đai mà yếu tố không kém quan trọng lại là chất lượng nguồn nhân lực Nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao đã gặp phải khó khăn khi tìm nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn phù hợp
Ví dụ như Công ty cổ phần Ecofarm, đây là doanh nghiệp trồng rau quả theo công nghệ nhà lưới lớn
Trang 26nhất ở đồng bằng sông Cửu Long Công ty đã phải đưa gần 100 cán bộ đi học kinh nghiệm ở nước ngoài, xuất phát từ khó khăn trong việc tuyển dụng lao động trong nước đáp ứng yêu cầu của công việc…
- Phải chú trọng đầu tư công nghệ cao đồng bộ trong suốt chuỗi cung ứng: Sản xuất - bảo quản - chế biến - tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Xuất phát từ đặc trưng cơ bản của sản xuất nông nghiệp công nghệ cao phải được tiến hành theo chuỗi giá trị sản phẩm, do đó hoạt động đầu tư chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi chú trọng đầu tư hợp lý và đồng bộ trong các khâu của chuỗi giá trị sản phẩm Chỉ một khâu trong chuỗi giá trị sản phẩm không đảm bảo thì ảnh hưởng đến khâu tiếp theo và từ
đó ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao Ở Việt Nam, chưa thực sự chú trọng đến nội dung này Điều này đã làm giảm giá trị gia tăng của sản phẩm nông sản Mặc dù hiện nay, nông nghiệp Việt Nam đã tham gia vào chuỗi toàn cầu, song mới chỉ ở các khâu có giá trị gia tăng thấp
- Đầu tư trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao phải đảm bảo đầu tư đồng bộ các yếu tố công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp như đầu tư cho thuỷ lợi hoá nông nghiệp, cho cơ điện khí hoá nông nghiệp, hoá học hoá, sinh học hoá, công nghệ thông tin, quy trình kỹ thuật, kinh nghiệm và bí quyết sản xuất tiên tiến trong đó Đầu tư đồng bộ các yếu tố công nghệ thì mới phát huy được tác dụng của chúng Ngược lại, nếu đầu tư không đồng bộ các yếu tố công nghệ, chúng sẽ kìm hãm và cản trở lẫn nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả đầu tư phát triển Tuy nhiên, hiện nay, nước ta chủ yếu mới chỉ tập trung đầu tư ứng dụng công nghệ sinh học
mà chưa chú trọng đến ứng dụng đồng bộ các yếu tố công nghệ trong quá trình sản xuất nông nghiệp Mặt khác ứng dụng công nghệ cao cũng chỉ tập trung vào một số khâu của quá trình sản xuất Do đó dẫn đến năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm nông sản chưa cao và hiệu quả đầu tư cho nông nghiệp công nghệ cao còn hạn chế
- Đầu tư công nghệ cao cho khâu bảo quản và chế biến sản phẩm nông sản: Khác với sản phẩm công nghiệp, sản phẩm nông nghiệp có đặc điểm tươi, sống, có tính thời vụ Do đó đầu tư công nghệ cao cho khâu bảo quản sản phẩm nông nghiệp để đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng cần được chú trọng Mặt khác, để nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm nông sản, cần đẩy mạnh đầu tư công nghệ cao cho công nghiệp chế biến nông sản Theo các chuyên gia kinh tế, mỗi loại hàng hoá nông sản nếu được chế biến có thể nâng cao lãi suất lên đến 300% so với việc bán sản phẩm thô Ở nước ta, hàng hoá nông sản xuất khẩu chủ yếu ở dạng thô, sơ chế, do đó giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hoá nông sản rất thấp, dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp
- Đầu tư cho khâu nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản: Do thực hiện đầu tư ứng dụng các công nghệ hiện đại đã tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá nông sản lớn, mặt khác, đặc điểm của sản phẩm nông nghiệp là tươi sống và mang tính thời vụ Do đó việc nghiên cứu dự báo thị trường, lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm cần được chú trọng Nếu việc nghiên cứu dự báo thị trường không kỹ càng, sản phẩm nông sản không tiêu thụ được hoặc bán với giá rất thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao Trong nghiên cứu thị trường, cần đánh giá chính xác những lợi thế so sánh của hàng hoá nông sản ở Việt Nam, từ đó tập trung nghiên cứu tìm kiếm thị trường và làm chủ thị trường, đặc biệt với thị trường xuất khẩu Đầu tư cho nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm có thể thực hiện đồng bộ nhiều nội dung, trong đó cần chú trọng đầu tư phát triển thương hiệu cho hàng hoá nông sản của Việt Nam (đầu tư xây dựng thương hiệu, đăng ký bảo hộ thương hiệu trong và ngoài nước…), đầu tư xúc tiến thương mại cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài để thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá nông sản Mặc dù là nước xuất khẩu hàng hoá nông sản lớn, song nhiều loại nông, lâm thuỷ sản chưa có thương hiệu trên thị trường quốc tế Việc tiêu thụ hàng hoá nông sản của các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn
và chịu nhiều rủi ro về giá cả Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện các doanh nghiệp bao tiêu mới tiêu thụ khoảng 55% khối lượng nông sản làm ra trong hợp đồng liên kết, còn lại khoảng 45% khối lượng nông sản phải bán ra thị trường tự do
Trang 27Kết luận: Thực tế trong những năm qua cho thấy, đầu tư phát triển công nghệ cao trong sản
xuất nông nghiệp ở Việt Nam bước đầu đã đem lại kết quả nhất định Hiệu quả đầu tư tại các khu nông nghiệp công nghệ cao, điểm sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng công nghệ cao đã vượt trội so với lối canh tác truyền thống trong sản xuất nông nghiệp Điều này thể hiện sự ưu việt trong đầu tư ứng dụng công nghệ cao trong đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp ở nước ta Tuy nhiên, hiệu quả đạt được trong đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao vẫn còn quá khiêm tốn, quá trình thực hiện đầu tư còn nhiều khó khăn và còn bộc lộ nhiều hạn chế trong đầu tư cần khắc phục từ việc xây dựng định hướng đầu tư, huy động các nguồn lực đầu tư cho đến việc phân bổ và quản lý quá trình đầu tư trong suốt chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp (yếu tố đầu vào - sản xuất - bảo quản - chế biến - tiêu thụ sản phẩm)
Để thực hiện mục tiêu đã đề ra trong đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ: “Góp phần xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, đạt mức tăng trưởng trên 3,5% năm; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia cả trước mắt và lâu dài”, một trong các giải pháp hữu hiệu là phải tăng cường và nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao Điều này đòi hỏi các nhà quản lý ở tầm vĩ mô và vi mô cần nắm bắt được các đặc trưng của sản xuất nông nghiệp công nghệ cao cũng như các vấn đề cần chú trọng khi thực hiện hoạt động đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao Từ đó có thể đưa ra giải pháp phù hợp nhằm thực hiện hiệu quả hoạt động đầu tư sản xuất nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam trong thời gian tới
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ khoa học và công nghệ (2013) Phát triển khu nông nghiệp, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao - Kinh nghiệm của Trung Quốc và Việt Nam Kỷ yếu toạ đàm Quốc tế, tháng 11/2013
Phạm Văn Hiển (2014) Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam: Kết quả ban đầu và những khó khăn cần tháo gỡ Nghiên cứu Đông Nam Á 12/2014
Vụ khoa học công nghệ, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020
Lê Thanh Tứ (2016) Áp dụng công nghệ cao trong nền nông nghiệp - Hướng đi đột phá của nông nghiệp Việt nam trong thời kỳ hội nhập, Hội liên hiệp khoa học kỹ thuật Việt Nam
Trần Chí Thiện (2016) Hợp tác quốc tế trong phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Tạp chí kinh tế và thế giới Viện hàn lâm khoa học xã hội, 3
Trần Thanh Quang (2016) Về phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở nước ta Tạp chí cộng sản, 884
Trang 28NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH - CÁC VẤN ĐỀ ĐẶT RA
VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHO NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO
GS TS Đỗ Kim Chung Học viện Nông nghiệp Việt Nam
rẻ sang dựa trên đổi mới và sáng tạo; Ưu tiên phát triển nông nghiệp thông minh ở các nơi có điều kiện nhưng không loại trừ các hình thái nông nghiệp truyền thống; Cần có chương trình nghiên cứu và phát triển nông nghiệp thông minh; Khuyến khích khởi nghiệp trong phát triển và ứng dụng công nghệ nông nghiệp thông minh; Cần đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo hướng bám sát nhu cầu xã hội, khắc phục các thất bại thị trường trong đào tạo, đổi mới nội dung đào tạo và phương thức đào tạo, thực hiện đào tạo đa ngành, tăng cường liên kết; Cần cập nhật các công nghệ của công nghiệp 4.0 để đào tạo công nghệ thông tin, công nghệ vật lý, công nghệ sinh học, công nghệ quản lý điều Hành; Chú trọng bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng đổi với đội ngũ lao động nông nghiệp hiện Hành
Từ khóa: Công nghệ điều hành, công nghiệp 4.0, công nghệ sinh học, công nghệ vật lý, nghiên cứu và đào tạo, nguồn nhân lực, nông nghiệp thông minh
Smart Agriculture - Arose Issues and Recommendations for Research
and Training in Agrilculture
ABSTRACT
Smart Agriculture (SA) is one of the outcomes of the fourth industrial revolution This paper highlights concepts, interrelated elements and technology tendencies and curent situations of SA in the world and Vietnam The paper alsopoints out benefits, challenges and the arosed issues for Vietnam to adopt SA Finally, the paper suggests some viewpoints and orientations for renovating research and training agriculture’s human resource in the country including: Moving from a single disciplinary approach to multiple and interdisciplinary to create no-border linkages among technology generations of Industry 4.0; continuation restructuring agriculture sector by renovating public investment and services in agriculture research and training and moving from resource-base development strategy to renovation and innovation-based one; Prioritizing SA where applicable but still considering traditional farming; There
is a need to conduct SA’s R and D program; Encouraging start-ups in development and application of SA’s technologies; Renovation of training program by closely meeting society’s demand, overcoming market failures in training, renewing training contents and training modes, strengthening linkages with other stakeholders; Updating technologies of the industry 4 for training human resource in digital physical, biological and operational technologies; More attention for training in knowledge and skills for current agriculture labor force
Key words: Bio technology, human resource, industry 4.0, operational technology, physical technology, research and training, smart agriculture
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuộc cách công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đang diễn ra sâu rộng, làm thay đổi toàn diện và sâu sắc đời sống kinh tế và xã hội, trong đó có nông nghiệp Dưới tác động của cuộc cách mạng này, nông nghiệp truyền thống đã phát triển thành nông nghiệp thông minh (Đỗ Kim Chung, 2017) Là
Trang 29một nước có thế mạnh về nông nghiệp, Việt Nam cần nhận thức được ảnh hưởng và tác động của cuộc cách mạng này đến nông nghiệp, từ đó thay đổi chiến lược nghiên cứu và đào tạo để phát huy được các tác động tích cực, hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của cuộc cách mạng này, đảm bảo phát triển nông nghiệp bền vững Bài viết này tập trung thảo luận bản chất và đặc trưng nền nông nghiệp thông minh, xu hướng công nghệ, các vấn đề đặt ra và từ đó, đề xuất định được hướng cho nghiên cứu
và đào tạo trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn
2 NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH
2.1 Nông nghiệp thông minh hay Nông nghiệp công nghệ cao?
Cũng như các ngành kinh tế-xã hội khác, sự phát triển của nông nghiệp đã trải qua 4 cuộc cách
mạng công nghiệp Cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) lần thứ nhất (năm 1784) với sự ra đời của
công nghệ thủy lực và động cơ hơi nước đã tạo tiền đề cho nền nông nghiệp cơ khí hóa ở các khâu
canh tác từ sản xuất, chế biến và vận chuyển nông sản Cuộc CMCN lần thứ hai (giai đoạn 1871 -
1914) với sự ra đời và ứng dụng động cơ điện và dây chuyền sản xuất hàng loạt hàng loạt đã tạo ra cơ hội cho nền nông nghiệp điện khí hóa, phát triển các dây chuyền công nghệ chế biến nông sản và tạo
ra giá trị và năng suất lao động cao Cuộc CMCN lần thứ ba (năm 1969) với sự ra đời và ứng dụng
máy tính, tự động hóa sâu rộng, nông nghiệp đã có sự thay đổi lớn về công nghệ trong trồng trọt (gọi
là cách mạng xanh), bắt đầu từ Mỹ, trong chăn nuôi (gọi là cách mạng trắng) bắt đầu từ Ấn Độ Với
cách mạng xanh và cách mạng trắng, nền nông nghiệp được phát triển với sự phát triển vượt bậc công nghệ giống cây trồng và vật nuôi, ứng dụng máy tính và tự động hóa các quá trình canh tác và
chế biến tạo ra năng suất cao hơn giai đoạn trước Cuộc CMCN lần thứ tư với sự xuất hiện cụm từ
“Insdustry 4.0- Công nghiệp 4.0- CN4.0” tại Đức năm 2011 và được ghi trong Chương trình phát
triển công nghệ của Chính phủ Đức năm 2013 Tháng 1 năm 2015, CN4.0 chính thức trở thành tư
tưởng đổi mới công nghệ của nhiều quốc gia tại Diễn đàn kinh tế thế giới ở Davos Công nghiệp 4.0 là nền công nghiệp thông minh mà trong đó các liên hệ của sản xuất - kinh doanh được tiến hành trong thế giới ảo dựa trên không gian số, được áp dụng cho sản xuất - kinh doanh trong các thế giới thực và
có sự thay đổi cơ bản về phương thức sản xuất - kinh doanh thông minh được điều khiển và hỗ trợ quyết định từ không gian số (Klaus Schwab, 2017; Đỗ Kim Chung, 2017)
Cụm từ “Insdustry 4.0 - Công nghiệp 4.0” - theo nghĩa tiếng Anh, không thuần túy là ngành
công nghiệp theo nghĩa thông thường (manufacturing) mà bao hàm tất cả các ngành và lĩnh vực của nền kinh tế xã hội (agricultural, tourism, trade and services industries…) Cũng như các ngành khác,
yếu tố cốt lõi của công nghiệp 4.0 trong nông nghiệp là trí tuệ nhân tạo (Artificial Intetllegence - AI) trên nền tảng công nghệ thông tin (Information technology - IT) và công nghệ số (Digital Technology
- DT) Vì thế, nền nông nghiệp vận dụng thành quả của CMCN lần thứ tư được gọi là nền Nông nghiệp thông minh (FAO, 2017) Nông nghiệp thông minh còn có thể được gọi là Nông nghiệp số (Digital agriculture) (Daniel Walker, 2017 và Nguyễn Văn Sánh, 2017) và Nông nghiệp khí hậu
thông minh (Climate smart agriculture - CSA) (FAO) Ở Việt Nam, khái niệm này được hiểu là Nông nghiệp 4.0 (Đỗ Kim Chung, 2018), Nông nghiệp công nghệ cao (High-tech agriculture) (Trần Đức
Viên, 2017, Nguyễn Xuân Trạch, 2017) Tuy nhiên, nếu nói nông nghiệp công nghệ cao vẫn còn nhiều
điểm băn khoăn vì khái niệm công nghệ cao, nội hàm của công nghệ cao trong nông nghiệp chưa được làm rõ Nói là “công nghệ cao” thì “cao” cái gì, “cao” so với ai và “cao” như thế nào? vẫn chưa được làm
rõ (Trần Đức Viên, 2017) Cho đến giờ, ít có bài viết về nông nghiệp công nghệ cao mà chủ yếu là các
bài viết liên quan đến nông nghiệp thông minh1 Vì vậy bài này tập trung thảo luận nông nghiệp
thông minh hơn là nông nghiệp công nghệ cao Tính từ “thông minh” của nền nông nghiệp này thể
hiện ở: Thông minh trong đáp ứng nhu cầu thị trường, trong lựa chọn quy trình sản xuất, thông
1 Kết quả tìm kiếm tài liệu liên quan trên Google cho thấy: cụm từ “High-tech Agriculture” có khoảng 20.800 tài liệu, cụm từ
“High-tech farming” có 741.000 tài liệu, cụm từ “The 4.0 Agriculture” có 2.500.000 kết quả và “Smart Agriculture” có
11.900.000 kết quả Truy cập ngày 4/6/2018
Trang 30minh trong việc ra và thực thi các quyết định quản lý cây trồng, vật nuôi thích ứng với điều kiện thời tiết khí hậu và đặc điểm cá thể của từng sinh vật trên từng lô, thửa và cả vùng, thông minh trong tương tác giữa các khâu, các quá trình của sản xuất - kinh doanh trên nền tảng kỹ thuật số, trí tuệnhân tạo và thế giới ảo để tạo ra chuỗi giá trị nông sản thực phẩm hiệu quả và bền vững
Nền Nông nghiệp Thông minh có 4 đặc trưng cơ bản sau đây:
(1) Số hóa và hiện thực hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh từ nông trại, vận chuyển, chế biến, marketing đến người tiêu dùng thông qua hệ thống kết nối internet vạn vật
(2) Kết hợp hữu cơ giữa công nghệ vật lý, công nghệ sinh học và công nghệ điều hành trong tổ chức tổ chức nông trại, các phân xưởng, cơ sở hạ tầng, tạo giống, các tác nghiệp
(3) Tự động hoá và thông minh hóa các hệ thống điều hành giữa thế giới thực với thế giới ảo các hoạt động liên kết theo chiều ngang và theo chiều dọc trong chuỗi giá trị thực phẩm nông sản từ nông trại đến bàn ăn
(4) Đảm bảo cho chuỗi giá trị thực phẩm nông sản (agrofood) diễn ra liên tục, hiệu quả và bền vững (5) Đổi mới và sáng tạo là động lực chủ yếu của tăng trưởng nông nghiệp: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế số, vòng đời của sản phẩm cùng loại ngày càng ngắn, ngày càng nhiều sản phẩm
và dịch vụ bị thay thế Vì thế, đổi mới và sáng tạo thông qua nền kinh tế số và kinh tế chia sẻ sẽ là động lực cho tăng trưởng của các ngành, trong đó có nông nghiệp
1.1 Cấu thành của Nông nghiệp thông minh
CMCN 4.0 có trọng tâm là nền công nghiệp 4.0 với sự phát triển và kết hợp không ranh giới của
Công nghệ vật lý (Physical Technologies-PT), Công nghệ sinh học (Biological Technologies-BT) và Công nghệ vận hành (operational technologies-OT) (Klaus Schwab, 2017; I-Scoop, 2017; Đỗ Kim Chung, 2017) Là ngành kinh tế chịu sự tác động của cuộc cách mạng này, nền nông nghiệp thông minh bao gồm bốn bộ phận hữu cơ (Hình 1)
Hình 1 Cấu thành của nông nghiệp thông minh
Nguồn: Phát triển dựa trên nghiên cứu của Đỗ Kim Chung, (2018)
(1) Công nghiệp 4.0 trong nông nghiệp
Công nghệ rôbốt tự động (Autonomous robots): Công nghệ rôbốt thực hiện các khâu và quá trình
canh tác tự động như gieo trồng, chăm sóc, vắt sữa, phối trộn thức ăn, chế biến nông sản đã được phát triển vượt bậc, có khả năng tương tác hữu hiệu với nhau, làm việc trực tiếp hiệu quả với con người và sẽ được ứng dụng rộng rãi trong các nông trại, cơ sở chế biến, các phân xưởng thông minh để sản xuất kinh doanh, thực hiện các tác nghiệp chuẩn xác và hiệu quả
Trang 31Mô phỏng (Simulations): Công nghệ mô phỏng có thể giúp xây dựng, thử nghiệm các quyết định,
các thiết kế dựa trên nền tảng số liệu thực và một thể giới thực trong các mô hình ảo, được dùng phổ biến để dự tính, dự báo thị trường, sự biến đổi khí hậu, thời tiết, tính toán các phương án sản xuất, chế tạo, chọn lọc và tạo giống cây trồng và vật nuôi trong thế giới ảo trước khi có sự thay đổi thực diễn ra, do đó, hạn chế rủi ro, tăng được hiệu xuất, năng suất và chất lượng
Kết hợp các hệ thống ngang và hệ thống dọc (Horizontal and Vertical Systems integration): Với
phát triển cao của DT và AI, các nông trại, doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước sẽ liên kết với nhau chặt chẽ theo chiều đứng và chiều ngang để tối ưu hóa quá trình ra quyết định, quản lý và điều hành, tăng hiệu lực và hiệu quả của chuỗi giá trị trong nông nghiệp vì có sự liên kết ngang trong nội
bộ của từng nhóm tác nhân và giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị với nhau
Internet vạn vật (The industrial internet of things - IOT): Sự phát triển cao của IT đã cho phép
nhiều thiết bị chuyên dùng, di động kết nối và giao tiếp hiệu quả với nhau, dưới sự điều hành của trung tâm điều khiển một cách tập trung, giúp phi tập trung hóa sự phân tích và ra các quyết định kịp thời, tăng hiệu lưc, hiệu suất trong sản xuất - kinh doanh nông nghiệp (IoT MarketPlace, 2017
và AggreGate: Internet of Thing Integration Flatform, 2017; IoT Smart Farming, 2017)
Đám mây điện toán (The clouds): Công nghệ này đã được phát triển để lưu giữ, chia sẻ nhanh và
hữu hiệu thông tin về khách hàng, thị trường, sản xuất - kinh doanh giữa các bộ phận trong một doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp trên cùng một địa bàn (tỉnh, vùng, quốc gia, các châu lục), tiết kiệm được chi phí lưu giữ và chia sẻ dữ liệu
Chế tạo tích lũy (Additive manufacturing): Các công nghệ chế tạo tích lũy mà đặc biệt là công
nghệ in 3D được dùng để tạo nguyên mẫu và tạo ra từng bộ phận cấu thành của sản phẩm sẽ được sử dụng rộng rãi trong thiết kế các máy móc, nông cụ, nhà xưởng và mô phỏng các quá trình sinh học để chọn tạo giống cây trồng và vật nuôi một cách hiệu quả
Thực tế ảo (Augmented reality): Các hệ thống dựa trên thực tế ảo sẽ hỗ trợ lựa chọn vật tư, thiết
bị, hàng hóa và gửi hướng dẫn sử dụng, bảo trì, sửa chữa thông qua các thiết bị di động và giúp cải thiện việc ra các quyết định, quy trình làm việc, khuyến nông và chuyển giao công nghệ nông nghiệp không bị giới hạn bởi không gian, thời gian và quy mô
Cơ sở dữ liệu và phân tích quy mô lớn (Big data and analytics): Trong bối cảnh phát triển nông
nghiệp hiện nay, việc thu thập, phân tích kỹ càng các số liệu như thiên tai, thời tiết, thị trường, khách hàng, công nghệ… từ rất nhiều nguồn khác nhau, trên các quy mô khác nhau (phân xưởng, nông trại, tập doàn, tỉnh, vùng, quốc gia, châu lục, toàn cầu ) sẽ là khả thi
Siêu an ninh mạng (Cyber security): Với sự kết nối ngày càng tăng thì nhu cầu bảo vệ và bảo
mật các hệ thống công - nông nghiệp, chuỗi giá trị từ sản xuất đến bàn ăn ngày càng tăng Do vậy, đảm bảo an ninh, phát triển các giao diện tin cậy và nhận diện nhanh chóng các lỗ hổng trong bảo mật các quá trình sản xuất - kinh doanh ngày càng trở nên cấp thiết
(2) Công nghệ vật lý (Physical technology) trong nông nghiệp
Trong nền nông nghiệp thông minh, các công nghệ vật lý như công nghệ nano (nanotechnology),
công nghệ cảm biến (Sensor technology) và các vật liệu mới (Graphene, skyrmions…) đã có sự phát
triển vượt bậc Công nghệ nano đã có sự đột phá trong thiết kế, phân tích, chế tạo và ứng dụng các
cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng, kích thước trên quy mô nanomet (1nm=10-9m), làm tăng tỉ trọng gói (Packing density) Công nghệ này có nhiều tiềm năng chế tạo những sản phẩm và vật liệu mới để tạo ra các máy móc, thiết bị, nông cụ, vật liệu làm nhà xưởng, nông trại phục vụ cho quá trình canh tác và chế biến với sức bền cao, chịu đựng trong mọi hoàn cảnh
bất lợi, tăng hiệu dụng và thân thiện hơn với môi trường Công nghệ cảm biến (Sensor technology) đã
có bước đột phá quan trọng về âm thanh, nhiệt, hình ảnh, ánh sáng và thời gian và được ứng dụng nhiều trong lĩnh vực internet vạn vật, chế tạo, điều khiển và tự động hóa các quá trình sản xuất - kinh doanh và quản lý ở phạm vi một nông trại, vùng, quốc gia và toàn cầu, giúp tự động quan trắc, cảnh báo và xử lý kịp thời, chính xác các diễn biến về môi trường, từng cá thể trên đồng ruộng hay
Trang 32trại nuôi và toàn vùng Tế bào quang điện (Solar cells) được phát triển sử dụng pin mặt trời, giúp
điều hành quá trình quản lý sinh vật được chính xác và hiệu quả
(3) Công nghệ sinh học (Bio-technology) trong nông nghiêp
Trong nông nghiệp thông minh, công nghệ sinh học như các công nghệ gen, công nghệ tế bào, công nghệ phân tử… đã có bước phát triển vượt bậc Sự ra đời công nghệ “chỉnh sửa gen - Gen editing” để có
thể thêm hay bớt axit Deoribonucleic (DNA) tại các vị trí chính xác trong bộ gen để tạo ra giống cây trồng có đặc tính trông đợi như màu sắc, hình dáng quả, chất lượng và khả năng kháng lại dịch hại
Công nghệ “Phát động gen - Gen drive” tạo ra khả năng điều khiển biến đổi di truyền cụ thể đối với
quần thể dịch hại, từ đó, tác động vào cách thức sinh tồn, khả năng sinh sản hoặc các đặc điểm khác của cây trồng, vật nuôi theo hướng làm suy giảm quần thể dịch hại, giảm tiềm năng gây hại (Daniel Walker, 2017) Gần đây việc số hoá trong sinh học phân tử đã trở nên dễ dàng với giá rẻ hơn rất nhiều (Hồ Tú Bảo, 2017) Lĩnh vực tin - sinh học dựa trên cơ sở dữ liệu lớn, con người có thể phân tích nguồn
dữ liệu sinh học khổng lồ, trong thời gian ngắn và chính xác là nền tảng cho những tiến bộ của công nghệ sinh học, mở ra nhiều triển vọng cho quản lý thiên tai, khí hậu thời tiết, tài nguyên thiên nhiên nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và chế biến Nhờ đó, các ngành nông lâm nghiệp, thủy sản, chế biến
và thực phẩm, bảo vệ môi trường đã có bước tiến căn bản (Đỗ Kim Chung, 2017)
(4) Nhóm công nghệ điều hành (Operational Technology) trong nông nghiệp
Các công nghệ điều hành như: Phân tích và ra quyết định kinh doanh, lập kế hoạch, quản trị tác nghiệp, điều hành và giám sát một quá trình sản xuất ra một sản phẩm, vận hành một nông trại và
cả hệ thống các nông trại, các phân xưởng, các chuỗi giá trị nông sản đã được thay đổi về chất Quá trình quản lý một chuỗi giá trị cả theo chiều ngang và chiều dọc đã và đang được chuyển đổi từ công
nghệ quản lý truyền thống sang công nghệ điều hành và quản trị số gắn kết các hệ thống số với hệ
thống thực, giữa các hệ thống sản xuất - kinh doanh thực và hệ thống ảo trên nền tảng của IOT
Công nghệ điều hành là “bà đỡ” cho sự phát huy hiệu quả của công nghệ vật lý, công nghệ sinh học trên nền tảng của CN4.0 Hệ thống nông nghiệp thông minh đã được phát triển để tự động tính toán
nhu cầu, nước, dinh dưỡng của cây trồng và vật nuôi và các yếu tố cần thiết khác, giúp ra các quyết định kịp thời và hiệu quả
1.3 Các xu hướng công nghệ trong nền nông nghiệp thông minh
Xu hướng công nghệ trong nền nông nghiệp thông minh diễn ra ở tất cả các lĩnh vực và phức tạp Dưới đây xin tóm tắt một số điểm cơ bản sau:
(1) Kinh tế và quản lý nông nghiệp
Phương pháp Kế hoạch, phân tích, dự báo và lựa chọn các chính sách nông nghiệp, giám sát và quản lý nông nghiệp được thay đổi với độ chính xác và tính khả thi cao nhờ:
Ứng dụng thành quả của công nghệ cảm biến, IoT, phân tích dữ liệu lớn và đám mây điện toán Công nghệ mô phỏng có thể tạo ra mô hình thị trường với các kịch bản khác nhau về tài nguyên, biến đổi khí hậu bằng số liệu thực trong môi trường ảo để lựa chọn các phương án chính sách phù hợp cho phát triển nông nghiệp
Các phần mềm quản lý nông nghiệp thông minh tích hợp quản trị, kỹ thuật và tài chính đã được xây dựng, giúp nông dân tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro trong sản xuất - kinh doanh (2) Quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Công nghệ dự báo thời tiết thông minh iMetos (internet Meterological System) đã được phát triển để quan trắc, thu thập, phân tích, dự báo và cảnh báo sớm thời tiết
Công nghệ viễn thám, cảm biến và định vị toàn cầu được phát triển để xác định, phân tích, đánh giá, chia sẻ thông tin về tình hình khí hậu, thời tiết, tài nguyên thiên nhiên, giúp đánh giá nhanh, chính xác các diễn biến về thời tiết khí hậu, thiên tai diễn ra trên quy mô toàn cầu, từng khu vực, từng quốc gia, từng tỉnh và vùng cả trong ngắn hạn và dài hạn với độ chính xác cao
Trang 33(3) Thủy lợi
Công trình, thiết bị được xây dựng, chế tạo bằng vật liệu nanno
Hệ thống quan trắc và cảnh báo xâm nhập mặn dùng để theo dõi và cảnh báo độ mặn, môi trường trên các kênh, cửa biển, tự động kích hoạt máy bơm nước vào trữ hay tưới tiêu trực tiếp khi có
độ mặn dưới ngưỡng an toàn
Công nghệ điều hành liên hồ chứa thông minh: Được đặt tại các vị trí khác nhau từng hồ chứa trong một hệ thống hồ, sông của một vùng và liên vùng để quan trắc và giám sát tình hình thời tiết khí hậu, tự động cập nhật các thông tin, truyền dữ liệu liên tục và tức thời đến trung tâm điều hành
để quyết định xả lũ ở từng hồ khi có nguy cơ vượt ngưỡng cho phép hay đóng lại để trữ nước khi đã xả
ở ngưỡng an toàn
Công nghệ tưới nhỏ giọt (Drip irrigation) trên cơ sở sử dụng công nghệ cảm biến, giám sát tình trạng độ ẩm đất và không khí, nhu cầu nước của cây trồng, diễn biến nhiệt độ, ánh sáng để tự động tưới, đảm bảo đủ nước và tiết kiệm
(4) Trồng trọt
Các hệ thống canh tác diễn ra trong nhà kính, nhà màng sử dụng vật liệu nano, đèn LED khép kín từ làm đất gieo, trồng sóc đều thông qua rô bốt tự động và các thiết bị cảm biến, cập nhật số liệu thực và thời gian thực qua IoT để quản lý hiệu quả các nông trại
Công nghệ In vitro nhờ số hoá trong sinh học phân tử giúp nhân nhanh các loại giống cây trồng
giữ nguyên đặc tính ưu việt của chúng Một hệ gene có thể được số hoá trong vài giờ với chi phí ít hơn 1.000 USD
Hệ thống tích hợp (Trạm thời tiết thông minh (iMetos), Trạm cảnh báo côn trùng điện từ (iTrap),
Hệ thống thông tin địa lý (GIS)): Cung cấp thông tin về thời tiết khí hậu, độ ướt lá cây, diễn biến về côn trùng, dịch hại trên diện rộng
Các bộ Test Kit đã được phát triển để chẩn đoán nhanh bệnh hại cây trồng
Công nghệ cảm biến, máy bay không người lái kết hợp với IoT được đặt tại các cánh đồng cho phép biết được địa hình, tình hình nước, độ ẩm, nhiệt độ đồng ruộng, biến động của hệ sinh thái đồng ruộng, dinh dưỡng và sức khỏe cây trồng, dinh đưỡng đất để ra các quyết định canh tác kịp thời, giúp cập nhật lưu trữ nhật ký nông vụ điện từ với thời điểm, số lượng, chất lượng đầu vào đã được sử dụng làm cơ sở cho truy xuất nguồn gốc sản phẩm
Công nghệ ảnh vệ tinh kết hợp với công nghệ cảm biến và radar giúp tăng cường năng lực quản
lý đồng ruộng theo thời gian thực, số liệu thực và thực tế thực, cho phép chụp ảnh xuyên mây, không
bị ảnh hưởng của thời gian hay thời tiết
Xử lý chất thải và môi trường bằng công nghệ nano: Hấp phụ H2S, tích hợp cảm biến đo nồng độ
H2S, NH3, kiểm tra thành phần khí sau khi lọc, có van điều khiển lượng khí vào và ra sau khi lọc giúp xử lý được môi trường ở các trại chăn nuôi
Mỗi cá thể được gắn với các thiết bị cảm biến: Công nghệ tự động nhận dạng (Radio Frequency Identification - RFID, chíp điện tử Afitag) tự động cập nhật và phản ánh số liệu thực qua IoT cho người nuôi về sức khỏe, tình trạng sinh lý (động dục, thai sản, tình trạng dinh dưỡng, khả năng phát sinh dịch bệnh) và môi trường, nhu cầu dinh dưỡng là cơ sở cho rôbốt phối trộn thức ăn dựa trên phần mền chuyên dụng (như RationAll) đồng thời là cơ sở để truy xuất nguồn gốc
Toàn bộ các tác nghiệp được số hóa và truyền qua IoT tới chủ trại chăn nuôi qua thiết bị di động
Trang 34đã công bố phát triển thành công một chíp mới có khả năng xác định sự có mặt của 8.101 loại vi sinh vật gây bệnh khác nhau
Các vật liệu nano được dùng trong xây dựng lồng bè, làm lưới và các thiết bị nuôi trồng đánh bắt
có khả năng chống chịu với độ mặn, bão gió, dòng chảy mạnh
Hệ thống nuôi tuần hoàn, công nghệ biofloc, công nghệ enzyme, vi sinh, hóa sinh, sản xuất vắc xin, nhà màng đã được phát triển và ứng dụng ở khâu nuôi trồng thủy sản
(8) Bảo quản và chế biến
Công nghệ giám sát và điều khiển môi trường bảo quản trên nền tảng cảm biến không dây ở hệ thống kho bảo quản, chế biến để giám sát nhiệt độ, độ ẩm, nồng độ khí CO2, lưu trữ, truyền nhận dữ liệu từ các nút cảm biến về máy tính qua IoT
Hệ thống cấp đông (IQF), Hệ thống làm đá vây, đá khô, dây chuyền chế biến liên hoàn, máy phân cỡ, lạng da, máy rà kim loại, máy đóng gói hút chân không đã được ứng dụng trong thủy sản
Hệ thống tế bào sống (Cells alive system), công nghệ cấp đông siêu nhanh, công nghệ sấy chân không, sấy bức xạ hồng ngoại, bảo quản nông sản, thủy sản bằng phương pháp ngủ đông, bao gói kín
đã được ứng dụng để tăng cao chất lượng sản phẩm trong chế biến
Kết hợp với chuyên gia để tư vấn qua tổng đài, giải đáp thắc mắc khi dân có nhu cầu
Cá thể hóa thông tin cho từng nông trại với từng loại cây con, từng cánh đồng và lưu lại toàn bộ lịch sử phát triển của cây trồng, vật nuôi của mỗi thuê bao từ đó chuyên gia tư vấn nắm được tình hình, có những lời khuyên sát thực và hiệu quả Rút ngắn được thời gian, nguồn lực khi tương tác với nông dân
(10) Marketing và tiêu thụ
Công nghệ Quản lý chuỗi thực phẩm nông sản thông minh đã được phát triển trên nền tảng IoT, Công nghệ Blockchain tạo ra sự kết hợp các hệ thống ngang và hệ thống dọc và công nghệ cảm biến giúp điều tiết và liên kết hữu hiệu giữa các tác nhân trong chuỗi, giữa các thành viên trong một nhóm tác nhân với nhau, đảm bảo chuỗi giá trị nông sản vận hành liên tục và hiệu quả
Marketing được tiến hành trực tuyến: sát nhu cầu và tiện lợi, không cần đến các điều kiện về mặt bằng như cách làm truyền thống
Trang 35Hệ thống truy xuất trực tuyến - AgriCheck: tích hợp số liệu thời gian thực về quá trình sản xuất, chế biến, xác định nhãn mác, nguồn gốc của sản phẩm, giúp quản trị bán hàng, kho hàng, phát hiện hàng giả, giúp nhận dạng chính xác truy xuất nguồn gốc và điều hành quản trị bán hàng
2 NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH Ở MỘT SỐ NƯỚC, NHỮNG LỢI ÍCH VÀ THÁCH THỨC Nông nghiệp thông minh có nhiều lợi ích đã được chứng minh nhiều nước trên thế giới như: a) Tạo ra sự liên tục trong sản xuất - kinh doanh, không kể thời gian hay không gian nhờ ứng dụng và duy trì các công nghệ quản lý và giám sát tiên tiến; b) Tăng năng suất và chất lượng, tiết kiệm nguồn lực, giảm chi phí; c) Tăng hiệu lực, hiệu quả của giám sát, đảm bảo quá trình sản xuất liên tục và hiệu quả nhờ cung cấp dữ liệu thời gian thực (Real time data) cho chuỗi cung ứng thời gian thực (Real time supply chain) của nền nông nghiệp thời gian thực (Real time agriculture); d) Tạo ra các
sản phẩm mới, dịch vụ mới; e) Tạo cơ hội việc làm cho lao động có kỹ năng; f) Giúp tái cơ cấu các
nông nghiệp, đổi chiến lược tăng trưởng từ dựa vào tài nguyên sang đổi mới và sáng tạo
Vì những lợi ích trên, tốc độ lan truyền công nghệ 4.0 đang diễn ra trên quy mô toàn cầu và với tốc độ chưa từng có (World Economic Forum, 2016; James C Collins, 2016)2 Nhiều nước và vùng lãnh thổ đã và đang phát triển nông nghiệp thông minh như sau (Nguyễn Thị Lan và cs, 2017; Phạm
S, 2017; Đỗ Kim Chung, 2018): Isarel có chương trình nông nghiệp thông minh về giống, vật liệu, chẩn đoán, dự báo, rôt bốt, nông nghiệp thông minh trên xa mạc (120.000-150.000 USD/năm/ha), Mỹ
đã phát triển trí tuệnhân tạo, công nghệ nano và công nghệ 3D trong tạo giống, các trạm quản lý nông nghiệpthông minh, nông trại thông minh; Thái Lan đã triển khai Chương trình hành động về nông nghiệp thông minh: hình thành trung tâm cho 4 vùng nông nghiệp với các nông trại thông
minh để sản xuất ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế; Trung Quốc thực hiện chương trình Tầm nhìn
phát triển nông nghiệp thông minh với các hợp phần Nền nông nghiệp mới, nông dân mới, ruộng vườn nông thôn mới hài hòa với thành thị; Nhật Bản đã đi sâu vào công nghệ rô bốt tự động trong
canh tác nông nghiệp, thiết bị bay và không người lái; Đài Loan đã trở tHành trung tâm cung cấp các công nghệ cho nông nghiệp thông minh như công nghệ cảm biến, kết nối vạn vật, tế bào năng lượng
mặt trời, thiết bị không người lái và đèn LED Chỉ tính riêng giá trị các sản phẩm công nghệ (phần
cứng và phần mềm) của nông nghiệp thông minh trao đổi trên thị trường trên thế giới sẽ tăng từ 5,18
tỷ đô la năm 2016 đến 11,23 tỷ đô la vào năm 2022 và sẽ tăng 13,27% trong giai đoạn 2017 đến 2022
và có thể đạt đến 40 tỷ đô la vào năm 2026 (Marketsandmarkets, 2018; Future Market Insight - FMI, 2018)
Tuy nhiên, NN4.0 cũng tạo ra những thách thức lớn sau: 1) Môi trường cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt, không phải trong một vùng, một quốc gia mà cả toàn cầu; 2) Các quốc gia có nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào đất đai và lao động sẽ khó khăn hơn vì khả năng hấp thụ công nghệ và đổi mới sáng tạo thấp; 3) Nền nông nghiêp mà lao động thủ công là chính sẽ có nhiều khó khan; 4) Mức độ rủi ro thông in và an ninh mạng lớn (Sara Gustafson, 2016; Jess Fealy, 2017; Đỗ Kim Chung, 2018)
3 NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH Ở VIỆT NAM VÀ CÁC THÁCH THỨC CHO NGHIÊN CỨU
VÀ ĐÀO TẠO
Việt Nam đã và đang bước đầu phát triển nền nông nghiệp thông minh trên nền tảng 53% dân
số đã tiếp cận được internet Đảng và Chính phủ có quyết tâm chính trị lớn, tiếp tục thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nền nông nghiệp chất lượng cao3 Chính phủ đã có Quyết định số
2
Để đo tốc độ lan truyền của công nghệ, một số chuyên gia sử dụng tiêu chí thời gian mà sản phẩm công nghệ đạt ngưỡng 50 triệu người sử dụng Theo tiêu chí này, tốc độ lan truyền công nghệ tăng mạnh trong giai đoạn gần đây: nếu như trước đây để đạt được con số 50 triệu người sử dụng điện thoại cần 75 năm, radio cần 38 năm, TV cần 13 năm thì gần đây Internet chỉ cần 4 năm
và Facebook chỉ cần 3,5 năm (World Economic Forum 2016)
3
Ngày 27/6/2017: Ban Kinh tế TW: Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2017 - Phát triển nông nghiệp chất lượng và hiệu quả Tập trung vào NN công nghệ cao Ngày 14/10/2017: Hội nông dân Việt Nam: Diễn đàn nông dân Việt Nam lần thứ 2: Nông dân sẵn sàng với Nông nghiệp 4.0
Trang 36351/QĐ-TTg về đầu tư hạ tầng trong đó có đầu tư cho khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2016-2020, Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế và chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn (Chính phủ, 2018a và 2018b) Trong một số ngành và lĩnh vực
đã bước đầu ứng dụng có hiệu quả công nghệ NN 4.0: Công nghệ gen, sinh học phân tử khá phát triển; Công nghệ iMetos đã bước đầu được ứng dụng; Hệ thống AgriOne của Viettel đã cho khuyến nông qua SMS; Phần mềm quản lý nông nghiệp thông minh đã được Công ty Mimosa TEK ở TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, Đà Lạt, Gia Lai, Nghệ An; Trang trại TH: gắn chíp điện tử Afitag vào bò để quản lý động dục, phát hiện trước 4 ngày, tự động hóa quy trình vắt sữa - khép kín; Hệ thống cảm biến nano, dung dịch nano bạc: sử dụng trong thủy sản; AgriCheck được áp dụng trong sản xuất kinh doanh giống cây nông nghiệp; Tập đoàn Minh Phú áp dụng cơ sở dữ liệu đám mây cho chế biến tôm tạo ra sản phẩm đạt chuẩn của thị trường khó tính; Đà lạt: nông trại hoa, rau thông minh (Đỗ Kim Chung, 2018) Nhờ vậy, nông nghiệp những năm qua có bước tăng trưởng vững Năm
2017, đã có gần 2.000 DN thành lập mới trong lĩnh vực nông lâm thủy sản, nâng số DN hoạt động trong ngành lên hơn 5.600 Nhiều DN, tập đoàn lớn đã chọn nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ làm hướng đi chính và đã đầu tư hàng tỷ USD, đạt được những thành công rõ rệt Năm 2017, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp đạt 2,94%, vượt mục tiêu so với Chính phủ đề ra và giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt con số 36,37 tỷ USD (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2018)
Tuy nhiên, cũng có một số thách thức lớn đang đặt ra cho Việt Nam trong phát triển nông nghiệp thông minh:
Nhu cầu nông sản tăng về số lượng và nghiêm ngặt hơn về chất lượng Dân số Việt Nam sẽ tăng từ
95,0 triệu dân năm 2018 tới 140 triệu dân vào năm 2050, nhu cầu lương thực tăng tối thiểu tới 70%
Tài nguyên thiên nhiên nhất là đất và nước ngày càng khan hiếm dưới áp lực của đô thị hóa và
công nghiệp hóa Nền nông nghiệp còn lệ thuộc vào tài nguyên ở bên ngoài (89% lượng nước ở ĐBSCL
và 67% lượng nước ở Tây Bắc và Đông Bắc và ĐBSH phụ thuộc vào bên ngoài) các đầu vào và đầu ra chủ yếu lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc (Cục quản lý tài nguyên nước, 2017)
Nông nghiệp Việt Nam vẫn là nền sản xuất nhỏ và manh mún, chuỗi giá trị nông sản chưa được phát triển bền vững, trình độ ứng dụng công nghệ còn thấp Một số ngành và lĩnh vực vẫn chưa đạt
trình độ của CMCN lần thứ 2 Vì thế, sức cạnh tranh của nông nghiệp thấp, chuỗi giá trị thực phẩm nông sản chưa phát triển Điều này làm cho năng suất lao động thấp, sản lượng nông nghiệp bình quân trên mỗi lao động ở Việt Nam chỉ bằng 1/3 của Indonesia và chưa bằng 1/2 so với Thái Lan và Philippines (Ngân hàng thế giới, 2017)
Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong lao động xã hội còn cao: Năm 2016 vẫn còn tới 41,9%4 Đại
đa số nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của áp dụng các thành tựu của CMCN lần thứ 4 Nông nghiệp thiếu nhân lực trình độ cao5 Tình trạng trên là nông nghiệp nói chung, nhất là các lĩnh vực như Khai thác, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, nông hóa thổ nhưỡng, thủy lợi… không hấp dẫn người học Điều này là thách thức lớn cho một quốc gia biển và nông nghiệp như Việt Nam Sự lạc hậu trong chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo, bất cập trong đội ngũ giáo viên cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến trình độ, kỹ năng và thái độ làm việc của sinh viên tốt nghiệp còn nhiều hạn chế (Nguyễn Thị Lan và cs, 2017)
Trong đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp còn thiếu cách tiếp cận liên ngành và đa ngành Các chương trình đào tạo còn cứng nhắc, chưa phủ hết nhu cầu của xã hội và đáp ứng được yêu cầu của đổi mới và sáng tạo trong vận dụng thành quả của công nghiệp 4.0 trong nông nghiệp Phương pháp đào tạo còn nặng về lý thuyết hơn là tạo ra các cơ hội thực hành Liên kết giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác chưa mạnh
4
Trong khi ở Mỹ tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội này là 0,86%, Úc 1,7%, Pháp: 1,63%, Nhật Bản: 3,0, Hà Quốc: 4,8%, Philippine: 20,3%, Thái Lan: 32,9% Tỷ lệ lao động nông thôn được đào tạo chỉ đạt 11,2% nên năng suất lao động chỉ bằng 1-1,5% so với các nước phát triển (Nguyễn Văn Bộ, 2017)
5
Có sơ sở nghiên cứu và đào tạo được đầu tư các phòng lab hiện đại ngang bằng và hơn các lab ở Nhật Bản, nhưng không có nhân lực có kỹ năng sử dụng tối đa các thiết bị đó, hao mòn vô hình diễn ra, gây lãng phí lớn
Trang 37Mặc dù có một số doanh nghiệp đã áp dụng được công nghệ của nền nông nghiệp thông minh, nhưng hầu hết các công nghệ này là nhập khẩu, ít có sản phẩm công nghệ được sản xuất tại Việt Nam
4 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG CHO NGHIÊN CỨU VÀ ĐÀO TẠO TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHO NÔNG NGHIỆP
4.1 Quan điểm
Cần đổi mới hướng tiếp cận trong nghiên cứu và đào tạo: Cần chuyển từ tiếp cận đơn ngành sang
đa ngành và liên ngành để tạo ra sự liên kết không ranh giới giữa các loại công nghệ của nền công nghiệp 4.0 với công nghệ sinh học, công nghệ vật lý và công nghệ quản lý và điều hành từ đó giải quyết các vấn đề phát triển nông nghiệp
Tiếp tục tái cơ cấu nông nghiệp bằng việc đổi mới đầu tư công và dịch vụ công trong nông nghiệp, nghiên cứu và đào tạo theo hướng chuyển nền nông nghiệp chủ yếu dựa vào đất đai và lao động giá
rẻ sang nền nông nghiệp đổi mới và sáng tạo, khắc phục các tác động tiêu cực của CMCN 4.0
Ưu tiên phát triển nông nghiệp thông minh ở các nơi có điều kiện nhưng không loại trừ các hình thái nông nghiệp truyền thống với công nghệ phù hợp với trình độ kinh tế - xã hội của từng vùng, miền cụ thể gắn với thị trường
4.2 Định hướng nghiên cứu
Để phát triển được nền nông nghiệp thông minh, hoạt động nghiên cứu cần tập trung vào ứng dụng thế hệ công nghệ thứ 4 của Công nghiệp 4.0 để nâng cao sức cạnh tranh của nông sản trong chuỗi giá trị, chủ động và ứng phó tốt với sự biến động về tài nguyên nước và thị trường đầu vào và đầu ra bên ngoài
Bên cạnh nhập khẩu các công nghệ tiên tiến của các nước để đi tắt đón đầu, cần có chương trình
phát triển Nông nghiệp thông minh trong đó, công nghệ được phát triển bởi người Việt nam (“Made
by Vietnam” không chỉ là “Made in Vietnam”) Cần đầu tư vào nghiên cứu, đổi mới và sáng tạo, ứng
dụng và chuyển giao 3 nhóm công nghệ sau đây: 1) công nghệ thông tin và công nghệ số (mô phỏng,
internet vạn vật, chế tạo tích lũy, thực tế ảo, kết hợp các hệ thống dọc và ngang, cơ sở dữ liệu lớn, đám mây điện toán và siêu an ninh mạng); 2) công nghệ vật lý (rôbốt tự động, máy bay không người lái, cảm biến, tế bào năng lượng mặt trời, công nghệ nano, nhà màng, nhà lưới…), công nghệ sinh học (công nghệ tế bào, công nghệ phân tử, công nghệ gen, sinh học phân tử ) và 3) công nghệ quản lý và vận hành (phân tích, dự báo, lập kế hoạch, quản trị tác nghiệp, điều hành, giám sát và kiểm soát, truy suất nguồn gốc ) với đặc điểm và điều kiện Việt Nam theo hướng tạo ra chuỗi giá trị nông sản
thực phẩm bền vững, tạo cơ hội cho tất cả nông dân, trang trại và doanh nghiệp được tham gia
Khuyến khích khởi nghiệp trong phát triển và ứng dụng công nghệ của nông nghiệp thông minh
ở các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, chế biến, marketing các sản phẩm nông lâm thủy sản để phát triển chuỗi nông sản bền vững bằng cách tăng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu nông nghiệp thông minh trong điều kiện Việt Nam, tăng liên kết giữa doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu, đào tạo, hình thành vườn ươm công nghệ để nhân rộng
4.3 Định hướng đào tạo
Về ngành và lĩnh vực đào tạo: Cần chủ động và linh hoạt trong xác định các ngành và lĩnh vực
đào tạo đáp ứng với nhu cầu của xã hội về sản phẩm mới và dịch vụ mới dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4
Trong thực hiện chiến lược tái cơ cấu nông nghiệp, cần đổi mới đầu tư công bằng cách tăng
nguồn lực để thu hút và khuyến khích người học vào các lĩnh vực nông nghiệp mà thị trường thất bại
(ít hấp dẫn người học như thủy sản, khai thác và đánh bắt, trồng trọt chăn nuôi, nông hóa thổ nhưỡng )
Trang 38Có thể thực hiện đào tạo đa ngành hay liên kết với các cơ sở đào tạo khác để có đủ khả năng đào
tạo và làm chủ được công nghệ công nghệ vật lý, công nghệ sinh học và công nghệ quản lý và điều hành trong nền nông nghiệp thông minh Kết hợp với các cơ sở đào tạo của các nước có nền nông nghiệp phát triển để thực hiện liên kết đào tạo, trao đổi giáo viên và sinh viên để có nguồn nhân lực
có trình độ chuyên sâu với kiến thức, kỹ năng nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý, năng lực tiếp nhận, làm chủ công nghệ ứng dụng và phát triển vào thực tế Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành nông nghiệp
Về chương trình đào tạo: Cần đổi mới cách tiếp cận trong xây dựng chương trình đào tạo theo
hướng liên ngành và đa ngành, để thực hiện sự kết hợp không ranh giới giữa công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin với công nghệ vật lý, công nghệ sinh học và công nghệ quản lý và điều
hành Cần đổi mới chương trình và nội dung đào tạo bằng việc cập nhật và tích hợp các xu hướng
công nghệ của CMCN4.0 và nông nghiệp thông minh vào nội dung chương trình đào tạo và hướng
nghiệp, gắn với nhu cầu của xã hội để có lực lượng lao động có khả năng tiếp cận, phát triển và ứng
dụng được các thành quả của CMCN lần thứ 4 trong nông nghiệp Cần tập trung đào tạo công nghệ
thông tin (công nghệ số, trí tuệnhân tạo, cơ sở dữ liệu lớn, đám mây điện toán, công nghệ 3D, siêu an
ninh mạng…) công nghệ vật ý (công nghệ nano, rô bốt tự động, công nghệ cảm biến, máy bay không người lái, các máy canh tác phục vụ cho nền canh tác chính xác ), công nghệ sinh học (công nghệ gen, công nghệ tế bào, công nghệ phân tử…) và công nghệ quản lý điều Hành (công nghệ kết hợp hệ
thống dọc và hệ thống ngang, blockchains, theo dõi, giam sát, phân tích và dự báo trên cơ sở dữ liệu lớn, quản lý truy suất nguồn gốc )
Đổi mới phương thức đào tạo gắn lý thuyết với thực Hành, sử dụng tối đa thực tế ảo, mô phỏng,
gắn với thực tiễn của doanh nghiệp và nông dân để đào tạo nguồn nhân lực có đủ kiến thức, kỹ năng
và thái độ cần thiết, đáp ứng được yêu cầu phát triển nông nghiệp
Chú trọng bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng đổi mới với đội ngũ lao động hiện hành bằng mở các lớp đào tạo ngắn hạn, đào tạo trên cơ sở công việc để có nguồn nhân lực áp dụng được các thành quả
và khắc phục những tác động tiêu cực của CMCN 4.0 tạo ra, phục vụ tốt tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
TÀI LIỆU THAM KHẢO AggreGate: Internet of Thing Integration Flatform (2017) IoT Solutions for Agriculture, trên http://aggregate.tibbo.com/industries/agriculture
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2018) Báo cáo tình hình nông nghiệp năm 2017 trong Hội nghị trực tuyến tổ chức tại Hà Nội ngày 4/1/2018
Cục quản lý Tài nguyên nước, Bộ tài Tài Nguyên và môi trường (2015) Tài nguyên nước Việt Nam: Những vấn đề đặt ra đối với việc tiếp tujuc hoàn thiện chính sách, phát luật về tài nguyên nước, trên http://dwrm.gov.vn, try cập ngày 14 tháng 6 năm 2018
Hồ Tú Bảo (2017) Hiểu về Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, trên cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-4-3574624.html, truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2017
http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/hieu-ve-Nguyễn Văn Bộ (2017) Ứng dụng công nghệ trong nền Nông nghiệp 4.0, Diễn đàn nông dân Việt Nam lần thứ 2: Nông dân sẵn sang với Nông nghiệp 4.0 ngày 14/10/2017, Hà Nội, tr 43-56
Đặng Mậu Chiến (2017) Thực trạng chính sách phát triển công nghệ cao, triển vọng và thành tựu ứng dụng trong thực tiễn phát triển nông nghiệp ở Việt Nam và trên thế giới, Diễn đàn kinh tế Việt Nam 2017, Ngày 27/6/2017 Chính phủ (2018a) Quyết định số 351/QĐ-TTg về phê duyệt chương trình mục tiêu đầu tư hạ tầng kinh tế ven biển, khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2016-2020, Hà Nội ngày 29/3/2018
Chính phủ (2018b) Nghị định Số: 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn Hà nội ngày 17 tháng 4 năm 2018
Đỗ Kim Chung (2017) Cách mạng công nghiệp lần thứ 4: Bản chất, Tác động và một số định hướng chính sách cho phát triển kinh tế xã hội, Nghiên cứu Kinh tế, Số 9 (472), Tháng 9 năm 2017, tr 3-11
Đỗ Kim Chung (2017) Nông nghiệp 4.0: Bản chất, Xu hướng và một số gợi ý chính sách Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 15(10): 1456-1466
Trang 39Daniel Walker (2017) High-tech Agricultural Development in Australia and Some Ideas for Vietnam, Vietnam Economic Forum, pp 214-220
Diễn đàn kinh tế thế giới (2017) Báo cáo cạnh tranh toàn cầu năm 2017
FAO (2017) Climate-Smart Agriculture, trên http://www.fao.org/climate-smart agriculyure
Future market insight-FMI (2018) Smart Agriculture Solution Market: APEJ Set to Dominate the Global Market in Terms of CAGR During the Forecast Period: Global Industry Analysis and Opportunity Assessment, 2016-
2026 Accessed on: https://www.futuremarketinsights.com/reports/smart-agriculture-solution-market
Jess Fealy (2017) View From the Paddock, Qeenland Country Life, http://www.queenslandcountrylife.com.au/story/4590064/farming-and-the-fourth-industrial-revolution/
James C Collins (2016) Agriculture and the Fourth Industrial Revolution: Building a Smarter, More Sustainable Food System Accessed on: http://foodsecurity.dupont.com/2016/03/23/agriculture-and-the-fourth-industrial-revolution-building-a-smarter-more-sustainable-food-system/
IoT MarketPlace (2017) Libelium Smart Agriculture solution at the Smart Garden in Colombian Microsoft office, http://www.libelium.com/libelium-smart-agriculture-solution-at-the-smart-garden-in-colombian-microsoft-office/ IoT Smart Farming (2017) Filter and Discover IoT Agriculture Resources, https://www.postscapes.com/smart-agriculture/
I-Scoop (2017) Industry 4.0: the fourth industrial revolution - guide to Industrie 4.0, trên scoop.eu/industry-4-0/
https://www.i-Klaus Schwab (2017) The fourth Industrial Revolution, Diễn đàn Kinh tế Thế Giới, Davos
Marketsandmarkets (2018) Smart Agriculture Market worth 11.23 Billion USD by 2022, Trên https://www.marketsandmarkets.com/PressReleases/smart-agriculture.asp Truy cập ngày 2/6 năm 2018
Ngân hàng thế giới (2017) Báo cáo Phát triển Việt Nam, Hà Nội
Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Việt Long, Hoàng Hiệp và Trần Hiệp (2017) Thách thức và định hướng đào tạo nhân lực cho nền nông nghiệp 4.0, Diễn đàn nông dân Việt Nam lần thứ 2: Nông dân sẵn sang với Nông nghiệp 4.0 ngày 14/10/2017, Hà Nội, tr 57-63
Phạm S (2017) Nhà nông Việt Tận dụng gì với NN.40, Diễn đàn nông dân Việt Nam lần thứ 2: Nông dân sẵn sang với Nông nghiệp 4.0 ngày 14/10/2017, Hà Nội, tr 43-56
Sara Gustafson (2016) The digital revolution in agriculture: Progress and constraints Accepted on: http://www.ifpri.org/blog/digital-revolution-agriculture-progress-and-constraints
Nguyễn Văn Sánh (2017) Ứng dụng nông nghiệp thông minh phát triển ngành hàng lúa gạo Việt Nam: Dựa vào kinh nghiệm quốc tế và trong nước, Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2017, Hà nội ngày 27/6/2017, tr 221-232 Nguyễn Xuân Trạch (2017) Xu hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp công nghệ cao bền vững Hội thảo về Nông nghiệp công nghệ cao trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Vĩnh Phúc, ngày 10/8/2017 Trần Đức Viên (2017) Tích tụ ruông đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao: Khuyến nghị chính sách Truy cập tại: http://tiasang.com.vn/-dien-dan/Tich-tu-ruong-dat-va-phat-trien-nong-nghiep-CNC-Khuyen-nghi-chinh-sach-10689, ngày truy cập: 25/5/2017,
World Economic Forum (2016) “The Future of Jobs: Employment, Skills, and Workforce Strategy for the Fourth Industrial Revolution
Trang 40NÔNG NGHIỆP THÔNG MINH 4.0 Ở VIỆT NAM - NHÌN TỪ CÁCH TIẾP CẬN Ở TỈNH LÂM ĐỒNG
TS Phạm S Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng
Việc ứng dụng nông nghiệp thông minh 4.0 có thể là một giải pháp cấp bách để bảo đảm an ninh lương thực và chất lượng nông sản phục vụ toàn cầu trong bối cảnh tình trạng xung đột và bất ổn, dịch bệnh và biến đổi khí hậu đang diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường
1 NÔNG NGHIỆP 4.0 VÀ SỰ THAM GIA CỦA CÔNG NGHỆ
Theo tổng kết của các tổ chức quốc tế, đến nay các thành phần chủ yếu của nông nghiệp 4.0 được tập trung các nội hàm sau: (1) Ứng dụng cảm biến kết nối vạn vật hầu hết các trang trại nông nghiệp (IoT Sensors); các thiết bị cảm biến và thiết bị thông minh được kết nối và điều khiển tự động trong suốt quá trình sản xuất nông nghiệp giúp ứng phó với biến đổi khí hậu, cải thiện vi khí hậu trong nhà kính; (2) Công nghệ đèn LED sử dụng đồng bộ trong canh tác kỹ thuật cao để tối ưu hóa quá trình sinh trưởng, ứng dụng ở các quốc gia có quỹ đất nông nghiệp ít hoặc nông nghiệp đô thị; (3) Canh tác trong nhà kính, nhà lưới, sử dụng công nghệ thủy canh, khí canh nhằm cách ly môi trường
tự nhiên, chủ động ứng dụng đồng bộ công nghệ; (4) Tế bào quang điện (Solar cells) nhằm sử dụng hiệu quả không gian, giảm chi phí năng lượng, hầu hết các thiết bị trong trang trại/ doanh nghiệp được cấp điện mặt trời và các bộ pin điện mặt trời; (5) Sử dụng người máy (Robot) thay cho việc chăm sóc cây trồng, vật nuôi ngày càng trở nên phổ biến, được ứng dụng trong các quốc gia già hóa dân số
và quy mô sản xuất lớn; (6) Sử dụng các thiết bị bay không người lái (Drones) và các vệ tinh (Satellites) để khảo sát thực trạng thu thập dữ liệu của các trang trại, từ đó phân tích khuyến nghị trên cơ sở dữ liệu cập nhật được để quản lý trang trại chính xác; (7) Công nghệ tài chính phục vụ trang trại trong tất cả các hoạt động từ trang trại được kết nối ra bên ngoài, nhằm đưa ra công thức quản trị trang trại có hiệu quả cao nhất và gần đây một số quan điểm cần đưa nội hàm trí tuệ nhân tạo (AI) đối với nông nghiệp thông minh 4.0
Qua nghiên cứu thực tế một số mô hình nông nghiệp 4.0 trong và ngoài nước cho thấy công nghệ đèn LED thường áp dụng ở các nước có một trong những đặc thù như: có nền công nghiệp phát triển cao, có nền nông nghiệp hiện đại, những quốc gia dễ ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu hoặc diện tích sản xuất nông nghiệp ít như: Philippin, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Bỉ, Đài Loan… họ đã khai thác công nghệ đèn LED nhằm tăng hệ số sử dụng đất; đây là công nghệ tạo bước sóng ánh sáng tối
ưu nhất, nhờ đó cây trồng được cung cấp ánh sáng hầu như đáp ứng tuyệt đối quá trình sinh trưởng
từ lúc trồng đến lúc thu hoạch; vì vậy cho năng suất tối ưu và chất lượng tốt nhất hiện đã và đang trở thành công nghệ không thể thiếu để canh tác trong nhà ở các khu công nghiệp và nông nghiệp đô thị, đáp ứng nhu cầu thực phẩm có chất lượng và tuyệt đối an toàn thực phẩm Ngược lại với công nghệ đèn LED, công nghệ robot thường được sử dụng ở các nước có diện tích đất nông nghiệp rộng, sự già hóa dân số nhanh, địa hình canh tác bằng phẳng, cây trồng yêu cầu tính thời vụ cao như: Nga, Mỹ, Canada, Úc, Trung Quốc và một số quốc gia trồng cây ăn quả ôn đới ở Châu Âu
Như vậy theo nội hàm của nông nghiệp 4.0, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chưa hẳn là nông nghiệp thông minh, nhưng nông nghiệp thông minh phải là trên cơ sở nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Đây là vấn đề cốt lõi để từ đó nông nghiệp Việt Nam có cách tiếp cận nhanh nhưng không nóng vội chạy theo phong trào; với phương châm: “Đi ngay, đi nhanh và đi chính xác” (lựa chọn cây trồng vật nuôi có lợi thế so sánh, công nghệ ứng dụng phù hơp và mục tiêu sản xuất kinh doanh là chính)