1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận Văn hóa Quan họ làng Diềm, thôn Viêm Xá xã Hòa Long thành phố Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh

36 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 64,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3 1. Tính cấp thiết của đề tài 3 2.Tình hình nghiên cứu 5 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6 4.Mục đích nghiên cứu 7 5.Phương pháp nghiên cứu 7 6. Những đóng góp của bài nghiên cứu 7 CHƯƠNG 1 :TỔNG QUAN VỀ LÀNG DIỀM 8 1.1.Không gian tự nhiên của làng Diềm 8 1.1.1. Vị trí địa lý 8 1.1.2. Điều kiện tự nhiên 8 1.2.Không gian văn hóa của làng Diềm 9 1.2.1.Hệ thống các di tích lịch sử 9 1.2.2. Đời sống văn hóa xã hội của nhân dân 10 1.3.Đền thờ vua Bà, thủy tổ quan họ 10 CHƯƠNG 2: QUAN HỌ LÀNG DIỀM – CHIỀU SÂU VĂN HÓA NGHỆ THUẬT 12 2.1.Cơ sở ra đời của quan họ 12 2.2. Đặc trưng quan họ làng Diềm xưa 12 2.2.1. Cách hát quan họ xưa 12 2.2.2. Cách tổ chức quan họ 14 2.2.3. Trang phục của người quan họ 16 2.2.3.Nghệ nhân quan họ làng Diềm 18 2.3. Sự biến đổi của quan họ trong xã hội ngày nay 19 2.4. Ảnh hưởng của quan họ tới đời sống tinh thần của người dân làng Diềm 20 2.4.1. Lễ hội làng Diềm 20 2.4.2. Ảnh hưởng trong cốt cách người quan họ 21 CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG DÂN CA QUAN HỌ LÀNG DIỀM 25 3.1 .Thực trạng sinh hoạt quan họ ở làng Diềm hiện nay. 25 3.2.Bảo tồn giá trị văn hóa quan họ làng Diềm 27 3.2.1. Thuận lợi 27 3.2.2. Khó khăn 28 3.3. Định hướng phát huy giá trị văn hóa quan họ làng Diềm 32 KẾT LUẬN 34 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2.Tình hình nghiên cứu 5

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4.Mục đích nghiên cứu 7

5.Phương pháp nghiên cứu 7

6 Những đóng góp của bài nghiên cứu 7

CHƯƠNG 1 :TỔNG QUAN VỀ LÀNG DIỀM 8

1.1.Không gian tự nhiên của làng Diềm 8

1.1.1 Vị trí địa lý 8

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 8

1.2.Không gian văn hóa của làng Diềm 9

1.2.1.Hệ thống các di tích lịch sử 9

1.2.2 Đời sống văn hóa xã hội của nhân dân 10

1.3.Đền thờ vua Bà, thủy tổ quan họ 10

CHƯƠNG 2: QUAN HỌ LÀNG DIỀM – CHIỀU SÂU VĂN HÓA NGHỆ THUẬT 12

2.1.Cơ sở ra đời của quan họ 12

2.2 Đặc trưng quan họ làng Diềm xưa 12

2.2.1 Cách hát quan họ xưa 12

2.2.2 Cách tổ chức quan họ 14

2.2.3 Trang phục của người quan họ 16

2.2.3.Nghệ nhân quan họ làng Diềm 18

2.3 Sự biến đổi của quan họ trong xã hội ngày nay 19

2.4 Ảnh hưởng của quan họ tới đời sống tinh thần của người dân làng Diềm20 2.4.1 Lễ hội làng Diềm 20

2.4.2 Ảnh hưởng trong cốt cách người quan họ 21

Trang 2

CHƯƠNG 3: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG

DÂN CA QUAN HỌ LÀNG DIỀM 25

3.1 Thực trạng sinh hoạt quan họ ở làng Diềm hiện nay 25

3.2.Bảo tồn giá trị văn hóa quan họ làng Diềm 27

3.2.1 Thuận lợi 27

3.2.2 Khó khăn 28

3.3 Định hướng phát huy giá trị văn hóa quan họ làng Diềm 32

KẾT LUẬN 34

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1.Bắc Ninh – Kinh Bắc, miền Quan họ ngàn năm văn hiến, nơi đây có

dòng sông Cầu nước chảy lơ thơ, có núi Hồng Vân, có chùa Phật Tích, có nhữngngười con trai con gái cần cù lao động, thiết tha yêu đời Những liền chị CầuLim, những liền anh Khúc Toại… đẹp nết, đẹp người, đẹp cả lời ăn tiếng nói.Quan họ trọng nhau vì nết, mến nhau vì tình, say nhau giọng hát dân ca Mùaxuân về họ rủ nhau cùng trảy hội cầu vui Trong những ngày hội các làng Quan

họ gốc trải suốt rộng dài Giêng Hai ấy, tiếng ca Quan họ vừa say đắm hòa quyệncùng tiết xuân đầm ấm ở không gian trung tâm hội, lại vừa thiết tha trong cáccuộc hát canh thâu đêm suốt sáng, kỳ cho “mãn võ tan canh” mới thôi ở “nhàchứa” từng ngõ xóm

Không khí tràn ngập niềm vui rạo rực ấy đã ra đời cách ngày nay nhiềutrăm năm Với tài sáng tạo của người Quan họ, quá trình tồn tại của dân ca quan

họ Bắc Ninh là một quá trình liên tục sàng lọc cái cũ, phát triển cái mới, từkhông gian, bài bản tới các hình thức diễn xướng cho phù hợp với con người vàcuộc sống của từng thời kỳ mà Quan họ tồn tại Chính vì vậy, mãi đến tận hômnay, dân ca Quan họ Bắc Ninh vẫn đang ngày mỗi ngày nở hoa kết trái, đã trởthành một tài sản phi vật thể đặc biệt quí giá với những đặc trưng tiêu biểu mà takhó có thể tìm thấy ở những loại hình dân ca, nhạc cổ truyền khác

Dân ca quan họ Bắc Ninh là loại hình có thiết chế văn hóa hoàn chỉnh và

ổn định Thiết chế ấy là sự hợp thành của cả 3 yếu tố: Tổ chức (bọn Quan họ),

cơ sở vật chất (nhà chứa) và phương thức hoạt động (giao lưu của các bọn Quan

họ kết bạn giữa các làng và giao lưu của các bọn Quan họ nam nữ trong nội bộlàng)

Dân ca Quan họ Bắc Ninh là loại hình ca đổi giọng, có nhiều làn điệu(xưa gọi là giọng).Cho tới nay các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được 213 giọng(làn điệu) khác nhau, mỗi giọng lại có bài ra, bài đối và dị bản

Trang 4

Dân ca quan họ Bắc Ninh đã đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật âm nhạc vànghệ thuật thi ca Mỗi giọng là một ca khúc hoàn chỉnh, nhà và lời găn bó hữu

cơ với nhau Có thể nói, dân ca Quan họ là sự kế thừa và sáng tạo từ các loạihình dân ca, nhạc cổ vốn có của vùng quan họ và nhiều vùng của đất nước

Dân ca quan họ Bắc Ninh là loại hình có nhiều hình thức diễn xướng.Chotới giữa thế kỷ trước, quan họ có 4 hình thức diễn xướng là hát chúc mừng, hátthờ, hát hội, hát canh Mỗi hình thức có địa điểm riêng, thời gian riêng và tuânthủ theo lề lối riêng rất qui chính

Dân ca quan họ Bắc Ninh là biểu hiện tình cảm của những người Quan

họ, tình cảm trong sáng thủy chung, trân trọng, quý trọng và đề cao lẫn nhau chứkhông riêng là tình yêu nam nữ như các loại hình dân ca giao duyên khác Đặcbiệt, đỉnh cao của tình cảm ấy là sự bình đẳng, toàn diện giữa nam và nữ (cụ thể

là các liền anh, liền chị)

Sự hòa quyện thống nhất của tất cả những nét đặc trưng tiêu biểu trên đãtạo cho dân ca Quan họ Bắc Ninh có sức lan tỏa và thu hút sự mến mộ củakhông chỉ người trong nước mà còn cả bạn bè, du khách quốc tế Chính vì vậy,ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại thủ đô các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất,UNESCO đã công nhận dân ca quan họ Bắc Ninh là “Di sản văn hóa phi vật thểđại diện cho nhân loại”

Đó là niềm vinh dự và tự hào vô hạn của nhân dân vùng Quan họ.tỉnh BắcNinh và cả nước, đồng thời cũng là trách nhiệm lớn lao trong việc bảo tồn, pháttriển loại hình dân ca – sản phẩm tinh thần quý báu này

1.2.Làng Diềm là tên gọi nôm của thôn Viêm Xá, xã Hòa Long, thành phố

Bắc Ninh Vốn nổi tiếng là cái nôi của những làn điệu dân ca quan họ, lại cách

Hà Nội chỉ khoảng 40 km, nên ngôi làng cổ của vùng quê Kinh Bắc này từ lâu

đã trở thành điểm đến yêu thích của nhiều du khách bởi nơi đấy chính là cái nôi

ra đời của quan họ, người ta muốn cảm nhận được hết cái hay cái đẹp cái tìnhcủa quan họ thì phải tìm đến chính môi trường đã sản sinh ra nó

Trang 5

1.3 Trong những năm gần đây, hòa chung với xu thế phát triển của đất

nước, dân ca Quan họ Bắc Ninh cần được bảo tồn và phát huy ngày càng trở nên

có ý nghĩa và thiết thực hơn Đặc biệt trong thời kỳ toàn cầu hóa hiện nay, khiđất nước ta đã hội nhập với thế giới thì việc bảo tồn những yếu tố văn hóa truyềnthống ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết để đảm bảo “hòa nhập màkhông hòa tan” trong việc giao lưu văn hóa với các nước khác trên thế giới.Chính vì vậy, một trong những vấn đề cấp bách trong sự nghiệp xây dựng nềnvăn hóa ở nước ta đã được Đảng ta xác định tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa VIII: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kếtcộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để tạo những giá trị vănhóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóavật thể và văn hóa phi vật thể”

Nghiên cứu dân ca Quan họ Bắc Ninh ở làng Diềm nhằm góp phần tìmhiểu những giá trị văn hóa dân gian truyền thống tiềm ẩn trong cách hát, lối hát,giọng điệu, hình thức diễn xướng và trang phục, giúp chúng ta bảo tồn và pháthuy hình thức dân gian này trong cuộc sống hiện nay Ngoài ra việc nghiên cứunày còn góp phần tìm hiểu, lý giải nguồn gốc, các tiêu chí xác định làng quan họgốc, các di tích lịch sử cũng như các giá trị văn hóa truyền thống gắn liền vớinó.Đó là một hoạt động cần thiết giúp chúng ta trong việc “bảo tồn và phát huycác giá tri văn hóa phi vật thể”

Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trên những phương diễn thực tiễn và

lý luận trong việc sưu tầm nghiên cứu dân ca nhằm bảo tồn và phát huy các giátrị văn hóa truyền thống, tôi chọn đề tài “Văn hóa Quan họ làng Diềm, thônViêm Xá, xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh” để làm bài thuyếttrình cho môn Phương pháp Nghiên cứu Khoa học

2.Tình hình nghiên cứu

Từ lâu đề tài về quan họ Bắc Ninh đã được rất nhiều người quan tâm tìmhiểu và nghiên cứu dưới nhiều góc độ và quan điểm khác nhau,phản ánh khá rõ

Trang 6

các nét đặc sắc của văn hóa quan họ Nhưng để tìm hiểu nghiên cứu về từnglàng quan họ gốc thì chưa nhiều Một số tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu:

2.1.Các công trình nghiên cứu về quan họ Bắc Ninh

Đặng Văn Lung Quan họ-nguồn gốc và quá trình phát triển Luận án PTS

Văn học 1980, 200 trang

Hoàng Tiêu ,Sơ bộ khảo sát về dân ca quan họ Bắc Ninh Luận văn cử

nhân khoa học lịch sử.Trường Đại học Tổng hợp, 1966, 140 trang

Nguyễn Đình Bưu, Bàn thêm về quan họ ,Văn hóa dân gian 1985.

Nguyễn Thị Vân Anh, Hội hát quan họ vùng Kinh Bắc, Luận văn cử nhân

khoa học, Đại học Văn hóa , 1998 73 trang

2.2 Các công trình nghiên cứu về làng Diềm

Đỗ thị Thúy, Văn hóa truyền thống làng Viêm Xá , luận văn thạc sỹ Văn

hóa học, trường đại học Văn hóa Hà Nội, 2003, 127 trang

Nguyễn Thị Hường, Viêm Xá-một làng quan họ cổ, Luận văn cử nhân

khoa học, Đại học Văn hóa Hà Nội, 2004, 74 trang

Niên luận của khoa du lịch trường đại học khoa học xã hội và nhân văn,

đề tài : làng Diềm Bắc Ninh với việc phát triển du lịch văn hóa

2.3 Các công trình ngiên cứu về làng quan họ khác :

Hoàng Mai Hương, Sinh hoạt văn hóa Quan họ của một số làng quan họ

thuộc tỉnh Bắc Ninh ,2008

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Văn hóa quan họ Làng diềm là một trong 31 làng quan họ gốc trên địa bànthành phố Bắc Ninh

Trang 7

4 Mục đích nghiên cứu

Có thêm những hiểu biết về làng Diềm và văn hóa quan họ làng Diềm

Từ đó có những phương hướng cho việc gìn giữ bảo tồn và phát huy giá trị vănhóa quý báu này

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp liên ngành văn hóa học

Phương pháp điều tra điền dã thực địa tại địa phương, quan sát miêu tảphỏng vấn

Trên những nguồn tài liệu có được tổng hợp phân tích đánh giá làm nổibật nội dung nghiên cứu

6 Những đóng góp của bài nghiên cứu

Nghiên cứu phân tích những giá trị văn hóa của Dân ca quan họ làngViêm Xá như một loại hình nghệ thuật đặc sắc, độc đáo và tiêu biểu trong cáchình thức diễn xướng dân gian của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ, góp phầnvào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

Phân tích những mặt hạn chế và tích cực trong công tác quản lý nhà nước

về Dân ca quan họ, bước đầu đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy Dân caQuan họ làng Viêm Xá nói riêng và Dân ca Quan họ Bắc Ninh nói chung tronggiai đoạn hiện nay

7 Kết cấu bài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bàinghiên cứu được chia làm 3 chương như sau

- Chương 1: Tổng quan về làng Diềm

- Chương 2: Quan họ làng Diềm- chiều sâu văn hóa nghệ thuật

- Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống Dân caQuan họ làng Diềm

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LÀNG DIỀM 1.1 Không gian tự nhiên của làng Diềm

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Làng Diềm là một làng gốc nông nghiệp, mang đặc trưng làng Việt củavùng đồng bằng Bắc bộ, với nghề chính là cấy lúa và trồng các loại cây lươngthực và chăn nuôi, ngoài ra còn các nghề phụ như thêu , dệt , làm mộc, buônbán…

Làng Diềm đầy ắp những huyền tích, nằm bên con sông Nguyệt Đức códòng suối Thiếp, có con sông Cổ Ngựa uốn quanh, có ngọn Kim Lĩnh đột khởigiữa một vùng ruộng lúa nương dâu xanh mướt…

Ra khỏi những ồn áo tấp nập bon chen người ta tìm về đây không chỉ đểnghe quan họ mà còn được đắm mình vào vào không khí thôn quê, vào cái đầm

ấm yên vui của xóm làng và hơn nữa là được sống trong cái nghĩa cái tình củangười quan họ

Nghe hát quan họ thì ở đâu cũng có , nhưng chỉ đến đây mới thực sự cókhông gian để thưởng thức đầy đủ và trọn vẹn các hình thức sinh hoạt trongnghề chơi quan họ, bởi đó chính là nơi cội nguồn nơi phát tích khởi thủy xa xưa

Thứ nhất là làng Đông Bang

Thứ nhì Đình Bảng

Vẻ vang đình Diềm

Trang 9

1.2.Không gian văn hóa của làng Diềm

1.2.1.Hệ thống các di tích lịch sử

Làng Diềm hội tụ trong mình đầy đủ cái đẹp của một thiếu nữ vùng KinhBắc.Đó là cái hiền hòa kín đáo của vùng đất,đó là cái tĩnh lặng bình yên củakhông gian,cái huyền ảo linh thiêng của giếng Ngọc đền Cùng,cái cổ kính uynghiêm của đình Diềm và đền thờ đức vua Bà thủy tổ làng quan họ

Ngay đầu làng là khu di tích đền Cùng giếng Ngọc, Đền Cùng vốn là mộtngôi đền có từ thời nhà Lý thờ “Nhị Nhân Thần Nữ” là hai nàng công chúa TiênDong (hoặc Tiên Dung) và Thủy Tiên, con của vua Lý Thánh Tông Tươngtruyền, vào một đêm trời trong xanh gió mát, hoàng hậu đang nằm ngủ chợt thấy

có ánh hào quang rọi sáng khắp nhà Từ trong ánh hào quang ấy, có hai con cáchép vàng hiện ra xin được đầu thai làm người Chẳng bao lâu sau đó, HoàngHậu có thai rồi sinh hạ được hai quý nữ, đặt tên là Ngọc Dong và Thủy Tiên.Hai nàng càng lớn càng xinh đẹp, lộng lẫy.Khi tới tuổi xuân sắc hai nàng khôngnhững nổi tiếng trong đám hồng quần về yểu điệu thục nữ mà còn vang truyềnthiên hạ về tài trí của bậc quân tử

Bấy giờ ở vùng núi Kim Lĩnh của làng Diềm còn hoang sơ, có nhiều thú

dữ Hai nàng liền xin phép vua cha cho về đây để diệt trừ thú dữ, giúp dân làngtránh tai họa Sau này, khi vua cha tận dụng một hang động lớn dưới chân dãynúi Kim Lĩnh để làm “Thủ Khố Ngân Sơn” hai nàng liền tự nguyện xin đượctrông nom, quản lí kho quân lương này Rồi nhằm ngày tiết Thanh Minh (3/3 âmlịch) một năm nọ, hai nàng cùng hướng về kinh thành lạy ba lạy rồi khấn “chúngcon xin mãi mãi ở lại chốn này để phù giúp dân lành” rồi cùng hóa cá Dân làngtri ân công ơn hai nàng liền lập đền thờ ở ngay chính nền kho “Thủ Khố NgânSơn” dưới chân núi Kim Lĩnh và đặt tên đền là đền Cùng

Theo một số ngọc phả hiếm hoi còn sót lại trong làng thì khi dân làng lậpđền thờ ở đây, trước đền đã có giếng Ngọc Giếng lúc đó chưa rộng lớn và sâunhư bây giờ nhưng nước ở đó đã rất trong, ngọt và mát nên dân làng Diềm vẫn

Trang 10

thường hay dùng nước ở đây ăn uống Trong dân gian còn truyền tụng rất nhiềuhuyền thoại về lai lịch, nguồn gốc của giếng Ngọc – chiếc giếng được dân làngDiềm tôn là “bầu sữa mẹ vĩ đại” của cả làng bao đời nay Nhiều người cho rằnggiếng Ngọc chính là hiện thân của hai nàng công chúa Ngọc Dong và Thủy Tiên.

Ngoài ra nơi đây có đình Diềm, chùa Diềm và đặc biệt đền thờ đức vua

Bà thủy tỏ quan họ, Đây là một trong những minh chứng rõ rang nhất về mộtlàng quan họ gốc ở Bắc Ninh

1.2.2 Đời sống văn hóa xã hội của nhân dân

Người dân ở đây mang đạm nét tư duy nông nghiệp của vùng đồng bằngBắc bộ, cuộc sống yên bình trọng tình nghĩa, tinh thần nhân ái hiếu khách

Họ thường giúp đỡ nhau trong cuộc sống, giao lưu với nhau trong vănhóa, đặc biệt là truyền dây cho thế hệ sau một giá trị tinh thần quý báu đó làquan họ

1.3 Đền thờ vua Bà, thủy tổ quan họ

Truyền thuyết xưa kể lại,công chúa con của vua Hùng đời thứ sáu đến tuổicập kê nhà vua liền mở hội kén chọn phò mã,trước hết nhà vua mở cuộc thi đấuvật nhưng người thắng không được công chúa bằng lòng ưng thuận nên nhà vua

mở thêm lễ hội cướp cầu.Nhưng cả ba lần quả cầu công chúa tung ra người đànông đó đều bắt được , công chúa đành chấp nhận Trước khi lấy chồng côngchúa có một thỉnh cầu với vua cha đó là được đi du ngoạn 3 tháng 10 ngày bằngthuyền để ngắm cảnh non sông hữu tình.Nàng còn xin vua cha cho mang theogồm 49 người nam và 49 người nữa khác họ để làm tùy tùng

Khi thuyền của công chúa đang đi trên sông thì một cơn giông vũ ập dếncuốn đi mọi thứ,đoàn tùy tùng của nàng dạt vào một bến sông ,nơi đó chính làlàng Diềm nhưng trước đây nó là khu rừng rậm hoang vắng.Cả ba quả cầu cũngtrôi theo rồi dạt về đây,Công chúa cùng đoàn người lên bờ ,nàng lập một ngôimiếu nhỏ thờ ba quả cầu ,cùng những tùy tùng của mình phát rừng làm ruộng

Trang 11

tăng gia sản xuất ,dựng nhà để ở và gả chồng cho họ,49 đôi qua những vùng lâncận sinh sống và trở thành nguồn cội của 49 làng quan họ ngày nay

Công chúa dậy họ cấy lúa, trồng màu, trồng dâu nuôi tằm ,dệt lụa ươm

tơ ,dậy họ trồng mía mật rồi xuống sông bắt cá

Khi làm một công việc gì nàng lại sáng tác ra một bài ca rồi dạy mọingười ca hát , khi lời ca của công chúa cất lên mọi người đều thấy vui vẻ phấnchấn làm việc hăng say, đoàn kết và yêu thương nhau hơn

Khi trời hạn hán nàng mở hội cầu đảo cầu mưa mang lời ca của mìnhdâng lên thần thánh ,mong được mưa gió thuận hòa cho dân làng

Sau này khi một cơn giông vũ lại ập đến mang công chúa bay về trời ,người dân thương tiếc lập đền thờ cho bà và 3 quả cầu.Những lời ca bà sáng tácđược họ truyền nhau gìn giữ và đó chính là quan họ sau này Người trong làngtôn sùng gọi bà là vua bà thủy tổ quan họ

Trước đây đền thờ gồm có 3 gian tiền tế và hậu cung hướng mặt ra sông

vì đây là nơi mà vua Bà đặt chân tới.Sau này, đến năm 2000 đền được tu sửa vàcho ngoảnh về hướng Nam Hằng năm nhân dân trong làng vẫn tổ chức lễ hộivào ngày mùng 6 tháng hai (ngày vua Bà về trời) để tưởng nhớ tới công ơn củabà

Vốn xưa quan họ Bắc Ninh Muốn tìm tích cũ về làng Diềm thôn Thuỷ tổ Quan họ làng ta Những lời ca xướng Vua Bà sinh ra Xưa nay nam nữ trẻ già

Ai mà ca được mới là hiển vinh Ngầm xem các giọng cho tinh

Ai mà ca được là hiển vinh trên đời

Trang 12

CHƯƠNG 2 QUAN HỌ LÀNG DIỀM – CHIỀU SÂU VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

2.1 Cơ sở ra đời của quan họ

Quan họ là một sản phẩm ra đời trong lòng xã hội nông nghiệp,Cái yếu tốnông nghiệp ấy thể hiện rõ trong nguồn gốc, trong từng lời ca trong làn điệu vàtrong cốt cách tâm hồn người quan họ

Những lời ca mang nội dung bình dị thân quen,nó ca ngợi cuộc sống laođộng hằng ngày từ việc cấy lúa, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải,nó ca ngợi tình yêuđôi lứa tình bằng hữu, xóm làng, ca ngợi vẻ đẹp quê hương ,tình yêu đất nước…Cảm hứng chủ đạo trong sáng tạo bài bản của người quan họ là tình cảm , tìnhyêu nam nữ Nhưng đó chỉ là cái biểu hiện bề ngoài Còn cái được biểu hiện làtình người nói chung Người Quan họ khuyên nhau sống sao cho đúng đạo làmngười , với các hình tượng khái quát trong lời ca như : cương thường , quân tử -thục nữ , anh hùng -thuyền quyên Người Quan họ mong ước sống hòa thuận ,tình bạn bền chặt và thủy chung với những hình tường khái quát như : bạnkim lan , lời nguyện non nước , sắt cầm , trúc mai …Đây là biểu hiện nhân văn

là tính trọng tình đặc trưng của nền nông nghiệp lúa nước

Làn điệu quan họ chậm rãi ngân nga , như những lời bộc bạch tâm tình tự

sự ,đó cũng là đặc trưng của tính mùa vụ tính tuần hoàn trời đất của vòng quaybốn mùa xuân hạ thu đông Đặc biệt khi những lời quan họ vang lên nó làm chongười ta gần laị với nhau yêu thương nhau và cùng nhau cố gắng cùng nhau xâyđắp quê hương, nó cổ vũ tinh thần lao động hăng say, làm cho người ta quên đicái mệt mỏi của nghề thuần nông vất vả

Trang 13

2.2 Đặc trưng quan họ làng Diềm xưa

2.2.1 Cách hát quan họ xưa

Làng Diềm có hơn 200 câu hát cổ mẫu mực so với các làng Quan họ khác,những câu hát đối của Diềm khác các làng vài điểm ở điệu thức nhấn nhá, luyếnláy cùng ca từ theo lối tự sự với cách dùng ngôn ngữ cổ dân gian

Quan họ k đơn giản chỉ là một loại hình dân ca như các loại hình dân cakhác.Quan họ là một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp với sự cầu thành của

5 mặt hoạt động : Tục kết bạn Quan họ ,văn hóa hành vi ( ứng xử ) Quan họ,dân

ca Quan họ,lễ hội Quan họ và văn hóa tín ngưỡng Quan họ.Năm mặt này hòaquyện , thống nhất và chi phối lẫn nhau , mặt nọ là điều kiện,là môi trường củamặt kia,tất cả tạo ra 1 không gian văn hóa rất quy chỉnh.Trong đó, dân ca Quan

họ là phương tiện cơ bản để người Quan họ thực hiện có hiệu quả tất cả các mặthoại động của mình

Quan họ khác với các loại hình dân ca khác đó là ở cái nghề,những nghệnhân lớn tuổi trong làng cho biết :”Hát quan họ thì dễ nhưng chơi được quan họmới là cái khó” Những người chơi được quan họ không phải chỉ thuộc nhiều bàikhông chỉ có chất giọng tốt mà còn phải am hiểu về nó không ngừng rèn luyệnkhông ngừng học hỏi, và đặc biệt phải có cái tâm quan họ

Một nghệ nhân trong làng cho biết : “Chơi Quan họ cần có 8 chữ Đó làVang- rền- nền- nảy” để nói về cách ca và “Lời- ăn- nết- ở” để nói về làm ngườiQuan họ Điều làm nên “Vang- rền- nền- nảy” là cách hát chứ không phải là kỹthuật hát, mà cơ bản là phải hát “lôi ra”, nghĩa là ca chậm rãi, nhả cho hết âm màQuan họ thì có nhiều âm kéo dài lắm, chứ cứ ca “tiếng mau sầm sập như trời đổmưa” như ca Quan họ trên vô tuyến ngày nay mà cũng nói là “vang- rền- nền-nảy” thì chả hiểu ra làm sao nữa! Hát vang- rền- nền- nảy thì không khó lắm, cứđúng bải bản các cụ truyền lại mà ca thì thì sẽ có đủ 4 chữ này Còn như muốn

có 4 chữ “Lời- ăn- nết- ở” mới là khó biết bao, vì đây là học làm người

Trang 14

Quan họ xưa là hình thức hát đối đáp, có bên ra bên đối hài hòa,và lànhững lời hát chay không có nhạc cụ kèm theo, không gian quan họ là ở nhàchứa ở sân đình ,bến nước , hai bên ngồi cách xa nhau và ra lơi đối đáp,cách hátchậm rãi như lời tự sự có dùng rất nhiều các từ nối “hừ la”í a, ư hừ…các từ nàyđượcngân dài tạo cho lời quan họ như mênh mang như dàn trải,đúng như cái đặctrưng của một vùng đồng bằng Bắc bộ

Hát quan họ đối đáp có lề lối là phải hát theo nguyên tắc hát đối giọng.Trong hát đối có người hát dẫn và người hát luồn Mở đầu canh hát bao giờ cũngphải ca những bài giọng lề lối như: La rằng, Đường bạn,Tình tang, Cây gạo…sau đó mới hát đến các bài thuộc giọng vặt.Chẳng hạn, bên bọn nữ ra câu Larằng: "Em mong người như cá mong mưa/ Mong người như bữa cơm trưa đóilòng" thì bên bọn nam cũng phải đối lại bằng một câu khác cũng trên giọng Larằng: "Lẽ ra em cũng ở nhà/ Trong lòng bối rối như đà người mong" Cuối cùng

là những bài thuộc giọng giã bạn Đây là tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hơnkém, được thua giữa các bọn quan họ Chính điều này đã kích thích, bắt buộctrong hát đối đáp phải có bài độc.Đó là những bài hát mới mà đối phương chưabiết song vẫn phải đảm bảo hội tụ đủ các tố chất âm hưởng riêng của âm nhạcquan họ Do đó, trong mỗi bọn quan họ thường có một người chuyên sáng tác ranhững bài đối, giọng mới Họ chính là những “Nhạc sỹ dân gian”- tác giả củahàng trăm làn điệu quan họ được truyền khẩu từ đời này qua đời khác cho tớingày nay

2.2.2 Cách tổ chức quan họ

Cách thức tổ chức quan họ ngày xưa cũng thật đặc biệt Quan họ là để vui

để hát cho nhau nghe để giao lưu kết bạn chứ không phải quan họ là biểudiễn,người ta thành lập các bọ quan họ, các nhà chứa,các thành viên trong bọnchơi với nhau thân thiết như anh em ruột thịt cho nên mới đặt tên phiếm chỉ theothứ tự số lượng cũng là biểu hiện thứ tự trên dưới: anh hai,anh ba, anh tư,chịhai,chị ba,chị tư thậm chí nhiều khi họ còn giúp nhau cày cấy cho xong vụ

Trang 15

chiêm trước tết nguyên đán để sang xuân cùng có điều kiện đi “chơi quan họ”.Một bọn chỉ cần thiếu một người thì khó có thể mà “đi chơi” nếu có chăng chỉ

là cố đi để”giữ bạn” Trước tết nguyên đán cả bọn phải “ngủ bọn” với nhau hàngtháng tại nhà chứa để ôn luyện lề lối,bài bản….phục vụ cho việc “chơi Quan họ”các tháng giêng,hai

Tìm hiểu phong tục tập quan các làng Quan họ.Lễ hội và các hoạt độngtín ngưỡng trong ngày lễ hội mùa xuân là điều kiện, là môi trường của nhữngsinh hoạt văn hóa Quan họ.Lễ hội, tín ngưỡng của mỗi làng lại có những đặcđiểm riêng Do đó, muốn tham gia hoạt động Quan họ trong lễ hội của một làngQuan họ nào đó, người chơi phải tìm hiểu để biết được đặc điểm riêng của lễ hộilàng ấy

Do yêu cầu phải hiểu biết sâu sắc nhiều mặt như trên, mà việc tu dưỡnghọc tập phải thường xuyên, liên tục trong nhiều năm, kể cả khi đã chính thứcthành liền anh, liền chị rồi vẫn phải tiếp tục học tập, tu dưỡng, đúng như câungười xưa thường nói “Nghề chơi cũng lắm công phu”

- Người “chơi Quan họ” phải là chuyên tâm, chuyên nghiệp Đó là cácliền anh, liền chị tập hợp trong các tổ chức “bọn Quan họ”

Thực tế, trong mỗi làng Quan họ xưa đều có tới hàng tram người biếtnghiệp.Ngày xưa, “chơi Quan họ” là sự giao lưu giữa những bọn Quan họ kếtbạn với nhau Vậy cho nên, những ai không tham gia bọn Quan họ thì không

“chơi Quan họ” được bởi không có bạn chơi

Mỗi làng Quan họ xưa thường có nhiều bọn Quan họ nam nữ như làngViêm Xá có 10 bọn, Lũng Giang có 8 bọn… Mội bọn có 5 liền anh (hoặc 5 liềnchị) trực tiếp đi “chơi Quan họ”.Như vậy lực lượng Quan họ chuyên nghiệp cólàng lên tới 50 người như làng Viêm Xá, hay 40 người như làng Lũng Giang

Khái niệm “chuyên nghiệp” cần được hiểu đúng là chuyên tâm vào việc

“chơi quan họ”, thường xuyên “chơi quan họ” Ngoài ra họ vẫn phải lao độngsản xuất, hoặc buôn bán để mưu sinh như những người dân khác

Trang 16

Đã là chuyên nghiệp, đã là thành viên của một bọn Quan họ thì bắt buộc

ai cũng phải tham gia vào việc sáng tác bài bản Quan họ

Thực ra, trong mỗi bọn Quan họ xưa đều có người chuyên làm nhiệm vụsáng tác, bao gồm sáng tác các giọng mới và sáng tác các bài đối Đó là nhữngngười vừa hiểu biết sâu sắc về Quan họ (vốn thời trẻ đã từng là liền anh, liềnchị) vừa có học thức uyên thâm về văn học nghệ thuật, có năng khiếu sáng tạo.Cho nên, các liền anh, liền chị chỉ là “tham gia sáng tác” Cụ thể là tham giasáng tác trong một số trường hợp như: Sauk hi hát xong giọng mới ( gọi là bàiđộc), người chuyên sáng tác ca giọng đó cho cả bọn nghe vài lần Sau đó cácthành viên trong bọn gió ý bổ sung, sửa lại cho hợp lý, hay hơn Cuối cùng,người trực tiếp sáng tác tập hợp, chỉnh lý lại cho hoàn chỉnh Nhiều khi bài ca(giọng) được hoàn chỉnh khác xa so với lúc khởi thảo

Khi các liền anh, liền chị sắp đến tuổi lo toan, bận rộn, không đi chơi được nữa, họ rủ các em bé tập trung lại “ngủ bọn” để dạy các em hát, dạy các

em những lề luật trong giao tiếp Quan họ Tiếng hát và phong tục cứ vậy mà lưutruyền mãi.Đến nay ở Diềm không ít nhà có đến ba thế hệ yêu thích và tham giaQuan họ

Có thể nói, văn hoá quan họ có gốc từ tục kết chạ giữa các làng Việcquan họ tham gia làm lễ ở đình và ca hát trong ngày lễ hội của nhau cũng là xuấtphát từ quan họ của các làng kết chạ, sau dần trở thành phổ biến chung cho cảvùng quan họ Mặt khác, có rất nhiều làng kết chạ với nhau do cùng thờ chungThành hoàng làng Vậy nên, việc hình thành tín ngưỡng chung của các làngcùng chạ là tất yếu các bọn quan họ kết bạn truyền đời có gốc từ tục kết chạ do

đó phải tuân thủ theo tục lệ làng xóm Những bọn quan họ kết bạn khác ra đờisau đã lấy đó làm chuẩn mực để noi theo, dần trở thành lễ nghi phổ cập chungcho cả vùng Và chính sự tham gia, hoà nhập vào văn hoá tín ngưỡng trong tụckết chạ, kết bạn của người quan họ tự bao đời, đã tạo ra bản sắc riêng vô cùngđộc đáo của sinh hoạt văn hoá quan họ hôm nay

Trang 17

2.2.3 Trang phục của người quan họ

Trang phục của người quan họ xưa cũng giản dị nhưng nó ẩn trong mìnhnhững ý nghĩa sâu xa

Theo quan điểm thẩm mỹ của người quan họ để có sự gắn bó lâu dài toàndiện thì phải lấy chữ nhân làm đầu Trước hết việc đề cao chữ Nhân của ngườiquan họ biểu hiện rõ trong việc đội khăn mỏ quạ và khăn xếp

Các nam thanh nữ tú khi đi chơi hội khi đội khăn mỏ quạ thì đặt lên vànhkhăn vấn tóc , gấp hình mỏ quạ ở giữa đường rẽ ngôi của tóc , bắt 2 góc khăn về

2 phía tai rồi thắt múi lại đằng sau gáy Tiếp thu hình thức đội khăn mỏ quạ củathiếu nữ ngày hội , các Liền chị Quan họ lại có cách riêng Khi nắn mỏ quạ thìphải thành hình chữ nhân

Các nam thanh đi trẩy hội xưa cũng đội khăn xếp Khăn xếp đc cuốn sẵn

và khâu cố định , khi đi hội thì chỉ cần đặt lên đầu là xong Còn như khăn xếpcủa các liền anh là một dải vải lụa hoặc nhiễu mầu đen hoặc thâm , đc gấp theochiều dài vải Mỗi lần dùng làm khăn , nam Quan họ tự vấn lên đầu sao cho 2nếp gấp đầu tiên tạo thành chữ nhân

Hoặc khi vận khăn mỏ quạ, cố ý để lộ ra một chút thấp thoáng màu hồngđào của khăn vấn Cũng như vậy, khi mặc áo ngoài ( áo dài 5 thân), các liền chịcũng để lộ ra một phần nhỏ cổ yếm đào… Nón thúng quai thao của Quan họcũng phải trắng hồng, quai nón (dù đơn hay kép) cũng phải là màu hồng đào.Cùng với nón thúng quai thao, khăn mỏ quạ và sự lấp ló đầy gợi cảm của vấnđào, yếm đào đã tạo ra vẻ đẹp xuân sắc, kín đáo và đầy sức quyến rũ của ngườicon gái Quan họ

Việc sử dụng nón quai thao, ô lục soạn cũng hình thành những qui địnhgần như là bắt buộc

Nón quai thao không phải dùng là để tránh mưa, tránh nắng, mà là để làmduyên cho các liền chị.Vậy nên thường các liền chị “tay cầm nón quai thao”,không đội lên đầu, thỉnh thoảng lại nghiêng nón, che một phần khuôn mặt đểlàm duyên Các liền chị chỉ đội nón khi vào tiết xuân có những hạt mưa bụi bay

Trang 18

lất phất Hoặc như khi hát dưới thuyền, người ta còn nghiêng nón che hướng gió

để những tiếng ca ngọt ngào khỏi bị gió bay đi…

Khi cầm ô che, bao giờ những liền anh Quan họ xưa cũng cầm chếch quavai cho hiện khuôn mặt chữ điền trong lòng ô, biểu hiện sự cương thường củabậc “làm trai đứng vững trong trời đất”, tuyệt đối không bao giời được giương ôcao thẳng đầu, trừ khi có mưa to

Rồi các vận yếm, áo, váy… của các liền chị, các vận áo, quần… của cácliền anh cũng đều có những qui định riêng, đòi hỏi người “chơi Quan họ” phảitìm hiểu, học tập rất công phu mới biết hết và thực hiện tốt

2.2.4.Nghệ nhân quan họ làng Diềm

Các tiêu chí để xác định nghệ nhân Quan họ phải xuất phát từ cơ sở làbản chất nội tại của Quan họ,từ những nét đặc trưng cơ bản của những ngườitham gia sinh hoạt văn hóa Quan họ.Nghĩa là người muốn tham gia “chơi Quanhọ” không phải chỉ là người thuộc nhiều bài bản, có giọng hát tốt như tham giahát trống quân,hát ví và nhiều loại dân ca khác,mà còn phải thường xuyên tudưỡng , tu luyện , học tập nhiều năm để có vốn hiểu biết toàn diện về tất cả cácmặt hoạt động Quan họ , để có tâm hồn trong sáng , tình cảm chân thực , thắmthiết , thủy chung , trau dồi cả giọng ca và nhời ăn , tiếng nói…chỉ khi nào biếttrọng nhau về nết,mến nhau vì tình , say nhau về giọng nói câu ca,khi ấy người

ta mới có thể hòa mình vào cuộc “chơi Quan họ”.Đã đi “chơi Quan họ” rồi cẫncòn phải tiếp tục tu dưỡng,rèn luêỵ,học tập để đáp ứng nhu cầu “ có tinh mớitường” của Quan họ.Đã di “chơi Quan họ” rồi,lại còn hải biết cách giữ lấy

“nghề” lâu dài của mình cho con, cho cháu,cho các thế hệ sau ở xóm giềng,nhưcác nghệ nhân Quan họ ngày nay thường nói “tre già để chỗ cho măng”

Ở làng Diềm có rất nhiều người đã được phong tặng danh hiệu nghệ nhân

Cụ Ngô Thị Khu

Cụ Ngô Thị Nhi

Cụ Trần Thị Phụng

Ngày đăng: 04/04/2021, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w