Tuy vậy, đây cũng là một trongnhững đối tác có nền văn hóa kinh doanh rất đặc thù, muốn thành công trong hoạtđộng giao dịch đàm phán,cần tìm tòi để hiểu được những khác biệt cơ bản tiềm
Trang 1BÀI TẬP HỌC PHẦN CHUYÊN ĐỀ ĐÀM PHÁN KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: VĂN HÓA ĐÀM PHÁN KINH
TẾ QUỐC TẾ CỦA TÂY BAN NHA
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Lớp học phần Chuyên đề đàm phán kinh tế quốc tế (219)_01
Hệ Chính quy
Giáo viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thường Lạng
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
LỜI CAM ĐOAN 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
1.Tính tất yếu của đề tài 5
2 Tổng quan nghiên cứu 6
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Kết cấu của bài viết 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VĂN HOÁ ĐÀM PHÁN 8
1.1 Khái niệm, vai trò của văn hoá 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Vai trò 9
1.2 Nội dung 10
1.2.1 Giá trị văn hoá 10
1.2.2 Ngôn ngữ và tín ngưỡng 11
1.2.3 Những điều linh thiêng và cấm kị 12
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hoá 13
1.3.1 Trình độ công nghệ 13
1.3.2 Trình độ cá nhân 14
1.3.3 Chính sách chính phủ 14
CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM VĂN HOÁ ĐÀM PHÁN KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA TÂY BAN NHA 16
2.1 Tình hình thương mại và đầu tư quốc tế của Tây Ban Nha 16
2.1.1 Tình hình thương mại 16
2.1.2 Đầu tư 17
2.1.3 Dịch vụ 18
2.2 Đặc điểm văn hoá 19
2.2.1 Giả định và giá trị của Tây Ban Nha 19
2.2.2 Ngôn ngữ và tín ngưỡng 20
2.2.3 Điều cấm kị và linh thiêng 21
2.3 Đánh giá văn hoá 23
Trang 32.3.1 Thành tựu 23
2.3.2 Hạn chế 24
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 24
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN GIỮA VIỆT NAM VÀ TÂY BAN NHA 26
3.1 Định hướng 26
3.1.1 Triển vọng quan hệ thương mại đầu tư hai nước 26
3.1.2 Định hướng đàm phán 28
3.2 Các giải pháp để thích nghi văn hoá 28
3.2.1 Giải pháp từ nhà nước 29
3.2.2 Giải pháp từ doanh nghiệp 29
3.2.3 Giải pháp từ cá nhân 29
3.3 Kiến nghị 30
3.3.1 Kiến nghị với đối tác 30
3.3.2 Điều kiện thực hiện kiến nghị 30
Tài liệu tham khảo 32
PHỤ LỤC 33
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tiểu luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu trường Đại Học Kinh tế Quốc dân vì đã tạo điều kiện về cơ sở vậtchất với hệ thống thư viện hiện đại, đa dạng các loại sách, tài liệu thuận lợi choviệc tìm kiếm, nghiên cứu thông tin
Xin cảm ơn giảng viên bộ môn - Thầy Nguyễn Thường Lạng đã hỗ trợ em hoànthành đề tài này
Do chưa có nhiều kinh nghiệm làm để tài cũng như những hạn chế về kiến thức,trong bài tiểu luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhậnđược sự nhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía Thầy để bài tiểu luận đượchoàn thiện hơn
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài: “Văn hóa đàm phán Kinh tế Quốc tế của Tây Ban
Nha” là một công trình nghiên cứu độc lập dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng
dẫn: PGS.TS Nguyễn Thường Lạng Ngoài ra không có bất cứ sự sao chép củangười khác Các số liệu, kết quả trình bày trong báo cáo là hoàn toàn trung thực,
em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm, kỷ luật của bộ môn và nhà trường đề ra nếunhư có vấn đề xảy ra
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính tất yếu của đề tài
Thế giới đã và đang diễn ra những biến đổi to lớn và sâu sắc, một trong nhữngbiến đổi hết sức quan trọng đó là sự xích lại ngày một gần nhau của các quốc giatrên thế giới Hơn lúc nào hết, các hoạt động giao lưu trên mọi lĩnh vực đặc biệt làgiao lưu kinh tế đang trở nên sôi động nhằm hướng tới hình thành một nền kinh tếthế giới thống nhất Ngày nay, chẳng có gì là lạ khi các quốc gia hăm hở tìm kiếmcác cơ hội làm ăn với những nền kinh tế lớn dù cho họ chẳng biết gì về đất nước
đó, lịch sử của nó, trào lưu tư tưởng, con người hay các tập quán kinh doanh thôngthường Song trong bối cảnh của nền kinh tế thế giới đang ngày càng diễn biến hếtsức phức tạp, sự cạnh tranh để giành giật thị trường, cơ hội kinh doanh ngày mộtcây gắt thì các yếu tố văn hóa thể hiện rõ trong kinh doanh của doanh nghiệp ngàymột chứng tỏ vai trò hết sức quan trọng của đó Đặc biệt sự thấu hiểu văn hóa củanước đối tác sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới thành công của một cuộc giao dịch đàmphán thương mại, giai đoạn đầu tiên quyết định tới việc hợp đồng có được thànhlập hay không
Tại châu Âu, Tây Ban Nha là một trong những nền kinh tế rực rỡ và có sức
ảnh hưởng nhất tại khu vực phía Tây Nam Việc có được cơ hội làm ăn với các đối
Trang 7tác Tây Ban Nha sẽ tạo điều kiện cho cả 2 quốc gia tận dụng được các thành tựukhoa học hiện đại, các nguồn lực sẵn có để phát triển nền kinh tế quốc dân và dầnnâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế Tuy vậy, đây cũng là một trongnhững đối tác có nền văn hóa kinh doanh rất đặc thù, muốn thành công trong hoạtđộng giao dịch đàm phán,cần tìm tòi để hiểu được những khác biệt cơ bản tiềm ẩntrong sự nhận thức giữa các nền văn hóa khác nhau.
Chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ 5/1977, đến nay, trải qua hơn 4 thập
kỉ phát triển, đến nay, hoạt động giao lưu kinh tế Việt Nam-Tây Ban Nha đã đạtđược nhiều thành tựu đáng kể Không thể phủ nhận rằng Tây Ban Nha là một đốitác có nền văn hoá rực rỡ và mang đậm bản sắc riêng; với tư cách là một sinh viênchuyên ngành Kinh tế quốc tế, có cơ hội được học tập và tìm hiểu về nhiều quốcgia trên thế giới, trong đề án này, em xin phép được đóng góp một vài ý kiến và thểhiện những suy nghĩ cá nhân về vấn đề ‘‘Văn hoá đàm phán kinh doanh của nướcTây Ban Nha’’
2 Tổng quan nghiên cứu
Phó giáo sư – Tiến sĩ Hoàng Đức Thân, đã chỉ ra trong “Giáo trình giao dịch
và đàm phán kinh doanh” (2006) rằng: Đặc trưng quốc tế hoá là đặc trưng nổi bậtnhất mang tính thời đại Đặc trưng này đã xoá nhoà biên giới cứng giữa các quốcgia, tạo ra sự phụ thuộc ngày càng lớn hơn giữa cắc nước Giao lưu quốc tế, mởcửa, hội nhập trở thành xu hướng tất yếu khách quan Giao thoa giữa các nền vănhoá đặt ra những yêu cầu mới cho mỗi chủ thê tham gia giao dịch, đàm phán.Nhiều vấn đề không một quôc gia riêng rẽ nào có thế giải quvết được mà phải đàmphán toàn cầu, chung sức cả thế giới để giải quyết.”
Trang 83 Mục đích nghiên cứu
Bài viết nhằm thực hiện các mục tiêu sau:
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về văn hoá những khác biệt cụ thể cần lưu ýtrong khi đàm phán với đối tác Tây Ban Nha
Đánh giá thực trạng mối quan hệ giao thương Việt Nam -Tây Ban Nha; đưa
ra những điểm cần lưu ý cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tiến hành giaodịch đàm phán với các doanh nghiệp Tây Ban Nha
Đề xuất một số kiến nghị giải pháp để các doanh nghiệp Việt Nam hoànthiện kỹ thuật đàm phán với đối tác Tây Ban Nha nhằm tạo dựng một mốiquan hệ hợp tác lâu dài hai bên cùng có lợi
4 Phạm vi nghiên cứu
Bài viết tập trung nghiên cứu những đặc trưng tiêu biểu trong văn hóa của TâyBan Nha và những ảnh hưởng ảnh hưởng của văn hóa kinh doanh Tây Ban Nha đếnviệc đàm phán ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của bài viết là đàm phán thương mại quốc tế, không bànđến đàm phán ngoại giao và đàm phán trong các hoạt động khác Về mặt thời gian,tập trung vào hoạt động đàm phán giữa Việt Nam và Tây Ban Nha, chủ yếu từ khithiết lập quan hệ ngoại giao (1977) đến nay
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện quá trình nghiên cứu, các số liệu được lấy từ thống kê của Tổngcục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Phòng Thương mại và Công nghiệp ViệtNam( VCCI) kết hợp với phương pháp so sánh, diễn giải và phân tích
6 Kết cấu của bài viết
Bài viết được chia làm 3 chương:
-Chương I: Tổng quan về văn hoá đàm phán
-Chương II: Đặc điểm văn hoá đàm phán kinh tế quốc tế của Tây Ban Nha
-Chương III: Định hướng và giải pháp để phát triển
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VĂN HOÁ ĐÀM PHÁN
1.1Khái niệm, vai trò của văn hoá
Trang 101.1.1 Khái niệm
Văn hoá gắn liền với sự ra đời và phát triển của nhân loại Bản thân vấn đề
văn hoá rất đa dạng và phức tạp Khái niệm văn hoá mang nội hàm rộng với rất
nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thầncủa con người
Tại phương Tây, văn hóa - culture (trong tiếng Anh, tiếng Pháp) hay kultur (tiếng Đức) đều xuất xứ từ chữ Latinh cultus, có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông nom cây lương thực, hay ngắn gọn là sự vun trồng Sau đó từ cultus được mở
rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự giáo dục, đào tạo và phát triển mọi
khả năng của con người Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hóa bao hàm
ý nghĩa: văn là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thểđạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầmquyền, còn hoá là việc đem cái văn để cảm hoá, giáo dục và hiện thực hoá trongthực tiễn, đời sống
Vậy, văn hoá trong từ nguyên của cả phương Đông và phương Tây đều có
một nghĩa chung căn bản là sự giáo hoá, vun trồng nhân cách con người (bao gồm
cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa là làm cho con người vàcuộc sống trở nên tốt đẹp hơn
Khái niệm đầu tiên được đề cập đến tại Việt Nam là của Hồ Chí Minh,
Người cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người sáng
tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn
Trang 11hóa” theo cách hiểu đơn giản, văn hóa là do con người tạo ra nhằm phục vụ cho
mục đích cao nhất của mình là sinh tồn
Năm 1994 UNESCO đưa ra khái niệm văn hóa, mà ngày nay nó được chấp nhận và
sử dụng rộng rãi ở Việt Nam và các nước trên thế giới Khái niệm văn hóa củaUNESCO là một khái niệm phù hợp để xem xét yếu tố văn hóa trong đàm phán –
UNESCO định nghĩa rằng “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét
riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng […]
“[…] Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự
ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới
mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân.”
Theo định nghĩa này, văn hóa không phải là một lĩnh vực riệng biệt Văn hóa làtổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Vănhóa là chìa khóa của sự phát triển
1.1.2 Vai trò
Trong thực tế, văn hóa không chỉ xem xét như một phạm trù tĩnh mà văn hóakhông ngừng biến đổi theo thời gian Văn hóa là một quá trình sống, có thể ảnhhưởng của nó đối với 1 vùng, 1 quốc gia hôm nay là thế này, nhưng có thể ngày
Trang 12mai sẽ khác Chẳng hạn như văn hoá ‘‘đồ ăn nhanh’’ với Việt Nam cách đây 20năm còn là một điều xa lạ nhưng ngày nay, nó đã trở thành một điều quá đỗi bìnhthường trong cuộc sống của nhiều người Việt Khi tìm hiểu về những nền văn hóakhác nhau có thể nhận thấy nhiều đặc điểm văn hóa gần như tương đồng nhưng lạikhác nhau về bản chất Nhiều nước khác nhau có thể nói chung một thứ ngôn ngữ
là tiếng Anh nhưng không có nghĩa là tiếng Anh được nói và hiểu như nhau ở tất cảmọi nơi và lại càng không có nghĩa là các doanh nghiệp ở các nước nói tiếng Anhnhư ngôn ngữ thứ nhất thì sẽ có cùng một phong cách đàm phán Có nhiều dân tộc
ở Châu Á sử dụng đũa trong các bữa ăn hàng ngày nhưng điều đó cũng không cónghĩa là vị trí của đôi đũa ở các nước sử dụng nó đều được hiểu như nhau Nếu ởĐài Loan chống thẳng đôi đũa trên một cái bát không có ý nghĩa gì đặc biệt thì ởNhật Bản đó lại là một hành vi hết sức nguy hại vì người Nhật chỉ chống đũa thẳngtrên những cái bát trong bữa ăn tối ở những nhà có tang để dành riêng cho người đãchết như là một cử chỉ tưởng nhớ Trong các bưã tiệc đàm phán với người Nhật,chống đũa lên bát là biểu hiện cho kém may mắn và cản trở việc đặt quan hệ hợptác lâu dài Do tính thay đổi và biến động của văn hoá, các nhà giao dịch luôn cầnphải cẩn trọng, tìm hiểu kĩ càng trước khi quyết định giao dịch, đàm phán với phíađối tác đến từ nơi khác
1.2Nội dung
1.2.1 Giá trị văn hoá
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan
hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạonên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế
Trang 13hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo vàphát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa làtrình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu vàhình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vậtchất và tinh thần mà do con người tạo ra.
Văn hóa là 1 hệ thống các giá trị chân lý, chuẩn mực, mục tiêu mà con người cùngthống nhất với nhau trong quá trình tương tác và hoạt động sáng tạo Nó được bảotồn và chuyển hóa cho những thế hệ nối tiếp theo sau
Văn hóa là cơ sở phát triển kinh tế: Toàn bộ các yếu tố văn hóa (tài sản hữu hình vàtài sản vô hình) được biểu hiện trong lĩnh vực kinh tế là các cơ sở vật chất dùngcho sản xuất kinh doanh và năng lực lao động của con người, là cơ sở cho quá trìnhphát triển kinh tế, xã hội Nền văn hóa phát triển cao đồng nghĩa với người laođộng có năng lực cao Do vậy xây dựng, phát triển nền văn hóa là nhiệm vụ củamỗi quốc gia
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội: Vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúcđẩy sự phát triển kinh tế, xã hội Các giá trị văn hóa tạo nên nền tảng vững chắccủa xã hội đó là nền tảng tinh thần Cái nền tảng đó tạo nên giá trị làm người, tạonên sức mạnh ghê gớm của dân tộc, giúp dân tộc vượt qua thách thúc bạo tàn củathiên nhiên và giặc ngoại xâm Cho thấy tinh thần đoàn kết mạnh mẽ trong chiếntranh và xây dựng đất nước
Trang 14Văn hóa với vấn đề hội nhập quốc tế: Thông qua giao lưu văn hóa xã hội quốc tế,các nền văn hóa chắt lọc đc những tinh tú văn hóa của nhau và ứng dụng vào nềnvăn hóa của mình Hội nhập quốc tế là cơ hội tốt nhất cho nên văn hóa giao lưu vàhọc hỏi lẫn nhau để đưa thế giới lên nên văn minh ngày càng cao.
1.2.2 Ngôn ngữ và tín ngưỡng
Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp, được con người hay động vật sử dụng để liênlạc hay giao tiếp với nhau, là hệ thống thông tin liên lạc được sử dụng bởi một cộngđồng hoặc quốc gia cụ thể
Ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển bởi nó bảo đảm sự
đa dạng về văn hóa và giúp các nền văn hóa có thể giao thoa, trao đổi với nhau.Ngôn ngữ cũng giúp tăng cường hợp tác, xây dựng xã hội tri thức toàn diện, bảotồn các di sản văn hóa và tạo điều kiện tiếp cận với một nền giáo dục có chất lượngcho mọi người Mỗi tiếng nói đều là nguồn ngữ nghĩa độc đáo để hiểu, viết và mô
tả thực tế thế giới Tiếng mẹ đẻ cùng với sự đa dạng của ngôn ngữ có ý nghĩa quantrọng để xác định bản sắc của các cá nhân như là nguồn sáng tạo và phương tiện đểbiểu hiện văn hóa, bảo đảm sự phát triển lành mạnh của xã hội
Là một vấn đề vô cùng phức tạp, thực ra tín ngưỡng không phải là hiện tượng mêtín thuần tuý theo cách hiểu thông thường Lịch sử cho thấy rằng các loại tínngưỡng khác nhau có sức sống dai dẳng và ảnh hưởng lâu dài mà khó có hệ tưtưởng nào sánh được Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội củamỗi dân tộc, địa phương, quốc gia mà niềm tin vào "tín ngưỡng" thể hiện ra các
Trang 15hình thức tôn giáo, đức tin cụ thể khác nhau Chẳng hạn như niềm tin vào ĐứcChúa Trời, của Kitô giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật giáo, niềm tin vàoThánh, Thần của tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng Thành Hoàng, Đạo Mẫu Cáchình thức tôn giáo tín ngưỡng này dù rộng hẹp khác nhau, dù phổ quát toàn thế giớihay là đặc thù cho mỗi dân tộc thì cũng đều là một thực thể biểu hiện niềm tinvào cái thiêng chung của con người.
1.2.3 Những điều linh thiêng và cấm kị
Ở bất kì xã hội nào, dù là hiện đại hay lạc hậu đến đâu cũng luôn tồn tại nhữngđiều linh thiêng và cấm kị, do người dân ở đó tin rằng có thể đem lại điềm gở hoặcxui xẻo Các điều cấm kỵ có tính chất tương đối, có thể được coi là không thể chấpnhận được ở nền văn hóa hay tôn giáo này lại có thể hoàn toàn chấp nhận được ởnền văn hóa hay tôn giáo khác Chẳng hạn như người Hàn Quốc kiêng kỵ việc viếttên bằng bút đỏ vì họ cho rằng bút đỏ chỉ dùng để ghi tên người đã khuất, thếnhưng đây lại là một việc hết sức bình thường ở những quốc gia khác Một điềucấm kỵ đã được chấp nhận ở một nhóm người hay một bộ lạc có thể làm cho họgắn kết với nhau hơn, giúp nhóm người đó nổi bật giữa những nhóm người khác vàtạo nên "chất riêng" cho nhóm người đó Chẳng hạn như việc cả người Nhật vàViệt Nam đều tránh việc cắm thẳng đôi đũa vào bát cơm khi ăn vì nó gây liêntưởng đến người đã khuất Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ hay tôn giáo đều mangtrong mình những bản sắc riêng biệt, đi cùng với đó đức tin về những điều linhthiêng Vậy nên, trước khi giao dịch, gặp gỡ một đối tác nào đó đến từ khu vựckhác, ta cần phải tìm hiểu kĩ càng, tránh không vi phạm những điều cấm kị hay linhthiêng của họ, gây mất thiện cảm
Trang 161.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến văn hoá
1.3.1 Trình độ công nghệ
Trước hết, có thể nói rằng, công nghệ là một lĩnh vực trọng yếu của văn hoá.Khoa học và công nghệ có tác động to lớn tới toàn bộ đời sống vật chất và tinh thầncủa xã hội Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là cơ sở để thựchiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng chiến lược con người, pháttriển văn hoá của thế giới Khoa học và công nghệ đã và đang tăng cường khả năngtruyền dẫn, lan toả và khuyếch tán văn hoá trong quá trình phát triển Cuộc cáchmạng về khoa học công nghệ đang hàng ngày hàng giờ thay đổi tư duy nhân loại.Các thành quả khoa học công nghệ đã làm cho loài người xích lại gần nhau hơn đểtiếp nhận những gì mới lạ đến từ ngoài lãnh thổ Khoa học công nghệ đã được ápdụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu, với những thành tựu về công nghệ thông tin,phát thanh, truyền hình, internet, văn hoá nhân loại được lan toả khắp hành tinh hếtsức nhanh chóng, ngoài sức tưởng tượng của con người
Khoa học và công nghệ đang làm thay đổi căn bản đời sống văn hoá của thế hệtrẻ hiện nay so với văn hoá truyền thống của dân tộc Khi công nghệ tự động pháttriển, Internet cùng với điện thoại di động và truyền hình vô cùng phổ biến đã tạo
ra đời sống văn hoá mới Khái niệm không gian và thời gian thay đổi, trái đất nhưnhỏ bé hơn
Khoa học và công nghệ với tính hai mặt của nó tác động một cách phức tạpđến văn hoá: vừa thúc đẩy sáng tạo phát triển, lại vừa can thiệp thô bạo và cơ cấubên trong của văn hoá Điều này sẽ được kiểm chứng trong một tương lai gần, khi
Trang 17con người hoàn toàn lệ thuộc vào kỹ thuật, thì văn hoá và con người sẽ biến đổi dữdội.
1.3.2 Trình độ cá nhân
Có thể nói, mỗi cá nhân đóng một vai trò không nhỏ trong việc bảo tồn và pháttriển văn hoá Trong thời đại giao thoa văn hoá, chúng ta vừa dễ dàng tiếp nhậnnhững điều mới mẻ từ các nền văn hoá khác nhau, nhưng đồng thời cũng dễ dàngđánh mất bản sắc dân tộc Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển văn hoá trong thời đại
mở cửa vẫn luôn là một trọng trách khó nhưng hết sức cần thiết với mỗi cá nhân
Để trả lời được câu hỏi nêu trên, mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ phải tự mìnhphấn đấu, rèn luyện, tự trau dồi cho bản thân những kỹ năng cần thiết, khôngngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nỗ lực rèn luyện vì lợi ích chungcủa cộng đồng và vì chính sự phát triển của cá nhân Quan trọng hơn, các bạn trẻcần xây dựng bản lĩnh văn hóa, sẵn sàng đấu tranh với những hoạt động, sản phẩmvăn hóa không lành mạnh
Trang 18sắc văn hóa của dân tộc Ngoài ra, cần tích cực đầu tư, thực hiện nghiêm túc trongviệc tổ chức các lễ hội văn hoá nhằm lan toả giá trị tốt đẹp của văn hoá không chỉđến các công dân mà còn đến bạn bè nước bạn ăng cường đầu tư, đẩy mạnh tổngkết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, nâng cao khả năng dự báo, định hướng pháttriển văn hóa, con người; tiếp tục mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa theo hướng
có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả; khuyến khích hình thành các quỹ đào tạo,khuyến học, phát triển nhân tài, quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật, đápứng nhu cầu tinh thần của người dân và giới thiệu văn hóa với bạn bè quốc tế
Chính phủ cũng cần huy động các nguồn lực xã hội, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạtđộng văn hóa; coi trọng bảo tồn các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, các giá trịvăn hóa của dân tộc thiểu số; có các chính sách mới, phù hợp nhằm thu hẹp khoảngcách phát triển, hưởng thụ văn hóa ở các vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng
xa Ngoài ra, cần đẩy mạnh phát triển các thiết chế văn hóa, đảm bảo tính hiệu quảtrong sử dụng, phù hợp với vùng miền, tập quán dân tộc; đầu tư có trọng tâm, trọngđiểm, minh bạch, công khai và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển vănhóa, đầu tư cho văn hóa phải tương đương với tăng trưởng kinh tế; phát triển côngnghiệp văn hóa
Trang 19CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM VĂN HOÁ ĐÀM PHÁN KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA TÂY BAN NHA
2.1 Tình hình thương mại và đầu tư quốc tế của Tây Ban Nha
2.1.1 Tình hình thương mại
Kể từ giữa thế kỷ XX, với sự tự do hoá nền kinh tế, thương mại của Tây BanNha ngày càng được mở rộng và phát triển Buôn bán trao đổi hàng hoá trở nên dễdàng hơn, đặc biệt là giữa các nước trong khối Liên minh châu Âu (EU)
Trong năm 1977, hàng hóa tại thị trường các nước trong EC (tên cũ của Liênminh Châu Âu) đã chiếm tới 37% kim ngạch xuất khẩu của nước này Sau khi TâyBan Nha gia nhập EC vào năm 1986, con số này còn tăng cao hơn nữa Trong năm
1987, xuất khẩu vào EC là 63,8% và nhập khẩu là 54,6% Các bạn hàng lớn nhấtcủa Tây Ban Nha là Pháp, Đức, Italia và Bồ Đào Nha Ngày nay, thương mại quốc
tế đã chiếm đến hơn 55% GDP của đất nước Tuy nhiên, với việc nhập khẩu nhiềuhơn xuất khẩu như hiện nay, thâm hụt thương mại của nước này tương đối lớn
Xuất khẩu
Trang 20Với nền kinh tế tương đối đa dạng nhiều ngành nghề khác nhau, các mặt hàngxuất khẩu của Tây Ban Nha cũng rất phong phú cả về chủng loại lẫn số lượng Kimngạch xuất khẩu cuả Tây Ban Nha năm 2014 là 317,3 tỷ USD Những nước nhậpkhẩu hàng hóa lớn nhất cuả Tây Ban Nha là Pháp 16,7%; Đức10,5%, Bồ Đào Nha7,8%, Italy 7,3%; Anh 7% (năm 2013) Các mặt hàng xuất khẩu chính của Tây BanNha gồm máy móc, phương tiện vận chuyển, thực phẩm, dược phẩm, thuốc men vàhàng tiêu dùng khác Nhìn chung, giá trị xuất khẩu của Tây Ban Nha ngày càngtăng, đem lại nguồn lợi lớn cho nền kinh tế đất nước Tuy nhiên, gần đây, nhữngnhà phân tích kinh tế đang lo ngại về việc đồng Euro mạnh có thể đẩy giá hàng hoáxuất khẩu của Tây Ban Nha lên cao
Nhập khẩu
Giá trị hàng hoá nhập khẩu của Tây Ban Nha trong năm 2014 đạt 337,9 tỷUSD Trong số đó, những mặt hàng nhập khẩu chính của nước này là nhiên liệu vàdầu Mặc dù, nhiều khoáng sản nhưng Tây Ban Nha lại rất thiếu những nguồnnhiên liệu Trong năm 2009, nước này đã nhập hơn 1,7 triệu thùng dầu/ngày Ngoài
ra, Tây Ban Nha còn nhập các thiết bị máy móc, hoá chất, thực phẩm, hàng tiêudùng và dược phẩm Những nước xuất khẩu chính cho thị trường nước này là Đức13%, Pháp 11,8%, Ý 6,7%, Trung Quốc 5,8%, Hà Lan 5%, Anh 4,5% (năm 2013)
2.1.2 Đầu tư
Là nền kinh tế năng động đứng thứ 8 trên thế giới, Tây Ban Nha luôn được coi
là một trong những địa điểm đầu tư hấp dẫn trên thế giới với tốc độ tăng trưởngkinh tế cao hơn mức trung bình của châu Âu và có tỷ lệ tạo việc làm cao nhất khuvực Tây Ban Nha vừa là nước thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cao