1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quá trình hình thành thị trường điện trung quốc và xác định những kinh nghiệm có thể áp dụng cho ngành điện của nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào

87 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tại nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào, trong thời kỳ mở cửa, thời kỳ xây dựng cơ chế thị trường cạnh tranh theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế - xã hội nước nhà phải được chuẩn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ

ÁP DỤNG CHO NGÀNH ĐIỆN CỦA NƯỚC CỘNG HÒA

DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Tp HCM, ngày … tháng … năm …

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ và tên học viên: KHANPHONE SONPANYA Giới tính : Nữ Ngày, tháng, năm sinh : 06-03-1980 Nơi sinh : LÀO Chuyên ngành : Thiết bị, mạng và nhà máy điện

Khoá (năm trúng tuyển) : 2007

1 TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG ĐIỆN TRUNG QUỐC VÀ XÁC ĐỊNH NHỮNG KINH NGHIỆM CÓ THỂ ÁP DỤNG CHO NGÀNH ĐIỆN CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

2 NHIỆM VỤ LUẬN VĂN

NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG ĐIỆN TRUNG QUỐC

ỨNG DỤNG CHO NGÀNH ĐIỆN CỦA NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

3 NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : ………

4 NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: ………

5 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN HOÀNG VIỆT

Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN

TS NGUYỄN HOÀNG VIỆT

Trang 4

Với sự hoàn thành luận văn này.Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS NGUY ỄN HOÀNG VIỆT, người thây đã tận tình hướng dẫn và giúp dỡ chúng tôi trên con đường nghiên cứu khoa học

cảm ơn thầy cô Quản lý khoa học sau đại học và Bộ môn thiết bị mạng và nhà máy điện Trường Đại Học Bách khoa Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập

Xin trân trọng bảy tỏ long biết ơn đối với gia đình người thân và bạn bè đã đồng viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian qua

Cuối cùng, con xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu nặng đến bố, mẹ đã sinh thành và nuôi con khôn lớn, luôn là chỗ dựa vững chắc về tinh thần và vật chất, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con học tập và trưởng thành như ngày hôm nay

KHANPHONE SONPANYA

Trang 5

MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề:

- Điện rất cần thiết cho một xã hội hiện đại, và sự bền vững của đất nước phụ thuộc vào sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung, và ngành năng lượng nói riêng Kinh nghiệm của các nước cho thấy trong giai đoạn công nghiệp hóa thì tốc độ tăng trưởng GDP của quốc gia, gia tăng

- Tại nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào, trong thời kỳ mở cửa, thời kỳ xây dựng cơ chế thị trường cạnh tranh theo định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế -

xã hội nước nhà phải được chuẩn bị nội lực để hội nhập với quốc tế cho nên cần phải nghiên cứu kinh nghiệm của các nước đang phát triển, như Trung Quốc, Trung Quốc là một quốc gia đang phát triển rất nhanh về kinh tế xã hội và công nghiệp điện

- Ngành điện nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào bắt buộc phải có một bước phát triển vượt bậc để đón đầu sự phát triển của xã hội nhằm đáp ứng những đòi hỏi khắt khe hơn trong cơ chế kinh tế mới, và sự phát triển đó tất yếu không thể tách rơi sự phát triển của thế giới Một trong những nội dung quan trọng trong chính sách cơ chế quản lý kinh tế của chính phủ là cải tổ các doanh nghiệp nhà nước nhằm thích nghi với cơ chế thị trường, nâng cao hiệu quả quản lý và khả năng cạnh tranh Bênh cạnh đó, trong chiến lược phát triển năng lượng nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào từ năm 2009 đến năm 2020 sẽ có các phương án giao dịch mua bán điện với các nước trong khu vực Đông Nam Á, do đó công ty điện lực Lào ( Electric Du Lao ) cần phải có những chuẩn bị tích cực một cơ chế quản lý phù hợp

để có thể tham gia với quốc tế mà không bị vi phạm các luật chơi cũng như đảm bảo được chiến lược của mình

1 2 Khái niệm thị trường điện

- Thị trường là một tập hợp người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau, dẫn đến khả năng trao đổi

Cơ chế cung cầu trong thị trường điện: phân tích cung cầu là một biện pháp căn bản

và đầy hiệu quả, có thể áp dụng cho rất nhiều vấn đề quan trọng và thú vị Có thể

Trang 6

Trong thị trường điện:

• Cầu là sản lượng điện năng cần thiết cung cấp cho các nhà truyền tải (cấp 1)- phân phối (cấp 2) và các nhà tiêu thụ

• Cung là tổng năng lượng điện mà nhà sản xuất cung ứng cho thị trường

Quy luật hoạt động của nền kinh tế thị trường: Theo kinh tế học, đặc tuyến cầu và cung cắt nhau tại một điểm gọi là điểm cân bằng giữa giá cả và số lượng Điểm này gọi là điểm thăng bằng thị trường Cơ chế thị trường là xu hướng để cho giá cả thay đổi cho đến khi thị trường thăng bằng (có nghĩa là cho đến khi lượng cung cân bằng với lượng cầu)

• Hoạt động giao dịch buôn bán trong thị trường điện: Hoạt động mua bán trong thị trường điện cạnh tranh thông qua Trung tâm mua bán điện (công ty môi giới) Trung tâm mua bán điện sẽ nhận các đồ thị phụ tải của khách hàng mua điện và các

hồ sơ thầu của các nhà cung ứng năng lượng và thực hiện giao dịch đấu thầu Khi hoạt động đấu thầu hoàn tất, Trung tâm sẽ lên kế hoạch cho các nhà cung ứng kết nối theo như các hợp đồng đã thắng thầu

1.3 Nhiệm vụ và mục tiêu của luận văn

• Nghiên cứu thị trường điện Trung Quốc

• Ứng dụng cho ngành điện của nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a) Thu thập thông tin

• Thu thập thông tin trên các trang Web của Trung Quốc và của các nước, có liên quan đến ngành điện Trung Quốc

• Thu thập thông tin trên các tài liệu của ngành điện nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào

b) Tham khảo các mô hình tổ chức ngành điện của các nước, nhất là các nước Đông

Nam Á và các thuộc phe Xã Hội chủ nghĩa Cũ, từ đó có thể so sánh và tìm ra những đặc điểm của quá trình đổi mới của Trung Quốc và Lào

c) Nghiên cứu và phát triển của ngành điện nước Lào, các đường lối chính sách của

Trang 7

Đảng và nhà nước Lào về ngành điện

d) Trên cơ sơ những thông tin và những nghiên cứu nói trên, có thể tổng kết những

ưu khuyết điểm của quá trình phát triển thị trường điện Trung Quốc, và xác định những kinh nghiệm tốt có thể áp dụng cho nước Lào

1.5 Tính thực tiễn của đề tài

Có thể sử dụng các kết luận của đề tài làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu vấn

đề sự phát triển ngành điện của nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào, trên lĩnh vực thị trường hóa ngành điện

1.6 Nội dung cụ thể của luận văn:

Chương I Trình bày tổng quát về thị trường điện cạnh tranh gồm có: Mô hình

công ty điện lực độc quyền kết dọc truyền thống, khái niệm về thị trường cạnh tranh, một số mô hình thị trường điện cạnh tranh cơ bản điều tiết hoạt động điện lực trong thị trường điện và thương mại điện tử trong thị trường điện

Chương II Trình bày giới thiệu công nghiệp điện lực Trung Quốc gồm có: Sự

phát triển công nghiệp điện của Trung Quốc, và quá trình đổi mới công nghiệp điện Trung Quốc

Chương III Trình bày về khởi tạo thị trường điện Trung Quốc gồm có:

Những bước đi đầu tiên, thị trường điện cấp tỉnh, những quyết sách của nhà nước Trung Quốc về xây dựng thị trường điện cạnh tranh, thị trường điện cạnh tranh cấp khu vực(cấp vùng) thử nghiệm và xây dựng nền thương mại điện tử

Chương IV Trình bày về hiện trạng ngành điện của nước Lào gồm có: Giới

thiệu, mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của tổng công ty điện lực Lào (EDL), hiện trạng cơ sở vật chất và kỹ thuật, chiến lược phát triển ngành điện của nước CHDCND Lào giai đoạn 2009-2020, và đánh giá ngành điện của nước CHDCND Lào

Chương V Tổng kết ưu khuyết điểm của quá trình hình thành thị trường điện

Trung Quốc và xác định những kinh nghiệm có thể áp dụng cho ngành điện của nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào gồm có: Tổng kết ưu khuyết điểm, và xác định những kinh nghiệm có thể áp dụng cho ngành điện của nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào

Trang 9

CHƯƠNG I TỔNG QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG ĐIỆN CẠNH TRANH

1.1 Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc truyền thống

Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc được hình thành và phát triển dựa trên những đặc trưng riêng của sản phẩm điện năng và lý thuyết về hiệu quả kinh tế theo quy mô của tổ chức, lý thuyết về chi phí giao dịch áp dụng vào ngành điện như: các công trình quy mô lớn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, giá thành sản xuất thấp,chi phí giao dịch nội bộ công ty sẽ thấp hơn chi phí của nhiều công ty độc lập Với ngành điện lực,chi phí đầu tư gia nhập hoặc rút khỏi ngành điện là rất lớn, nên thực tế trước những năm 40 của thế kỷ 20 các công ty tư nhân không đủ khả năng và tiềm lực taì chính để tham gia kinh doanh điện năng Vì vậy mô hình độc quyền liên kết dọc là phù hợp nhất, các nước trên thế giới đều xây dựng các công ty điện lực theo mô hình này và đa số thuộc sở hữu nhà nước

Mô hình này về lý thuyết là giảm thiểu được các chi phí cố định Chi phí giao dịch, phối hợp tốt nhất giữa đầu tư, vận hành, khai thác, công tác quản lý

kỹ thuật, công tác điều độ, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng hệ thống điện là ưu việt bởi cùng chịu sự điều hành, chi phối của một ông chủ

Các công ty điện lực có nghĩa vụ cung ứng điện đến mọi khách hàng trên địa bàn phục vụ kể cả các phụ tải ở xa như khu dân cư, miền núi, hải đảo hoặc vùng nông thôn Ngược lại, khách hàng không có cơ hội về quyền lựa chọn người bán điện cho mình mà chỉ mua điện từ một công ty độc quyền

Trong cơ chế này, các công ty điện lực cũng chủ trì tham mưu, đề suất về

cơ chế chính sách quản lý nhà nước về các hoạt động điện lực

Trang 10

Công ty điện

Phát điện

Khách hàng

Phân phối và kinh doanh

Khách hàng

Truyền tải

Khách hàng

Bảng 1.1 Mô hình công ty điện lực độc quyền liên kết dọc truyền thống

Hầu hết chính phủ các nước thường quản lý chặt chẽ giá bán điện dưa theo chi phí giá thành sản xuất do các công ty điện lực đệ trình, mô hình truyền thống thường cho phép thực hiện việc bù chéo giữa các khu vực khách hàng dùng điện

Ví dụ: giá điện ở khu vực thành phố cao hơn ở khu vực nông thôn và miền núi để

bù đắp cho chi phí đầu tư lưới điện ở các khu vực này Đối với các nước đang phát triển,công ty độc quyền kết liên dọc có nhiều cơ hội được vay vốn từ các tổ chức tín dụng quốc tế với lãi suất ưu đãi thấp, thời gian gia hạn dài đẻ xây dựng, phát triển các nhá máy và lưới điện

Tuy nhiên, cho đến những năm đầu thập niên 70, mô hình công ty điện lực truyền thống đã bắt đầu bộc lộ các khuyến điểm: giá bán điện bao gồm chi chí giá thành và chi phí đầu tư hệ thống điện đã làm cho khách hàng dùng điện phải trả giá cho những công trình đầu tư không hiệu quả hay sự lạc hậu của thiết bị và công nghệ, cơ chế độc quyền đã không tạo động lực để các công ty điện lực giảm giá thành, tăng lợi nhuận và nhất là không phải xây dụng các chiến lược cạnh tranh giành thị trường kết quả là ngành điện lực có hiệu quả sản suất kinh doanh và hiệu quả đầu tư không cao

Khái niệm về thị trường điện cạnh tranh.

1.2

Có nhiều định nghĩa khác nhau về thị trường, ở mức độ đơn giản, thị trường

Trang 11

được hiểu như nơi tập hợp các sự thỏa mãn lẫn nhau giữa những người có nhu cầu bán và nhu cầu mua Trong thị trường, người bán có thể là người trực tiếp làm ra sản phẩm, dịch vụ hoặc có người trung gian giữa người mua và người sản xuất Hàng hóa có thể sử dụng ngay để phục vụ cho tiêu dùng, sinh hoạt hoặc cũng có thể làm đầu vào cho một quá trình sản xuất ra hàng hóa khác.

Ở thị trường, với cùng một loaị sản phẩm có thể có nhiều nhà sản xuất hoặc

cung ứng, nhu cầu sử dụng lại có hạn nhưng nhà sản xuất nào cũng muốn mình chiếm lĩnh thị phần càng cao càng tốt để tăng lợi nhuận Chính điều này tất yếu dẫn đến tính cạnh tranh trong thị trường và kết quả là hàng hoá ngày càng phong phú, đa dạng, giá thành thấp, người tiêu dùng càng được hưởng lợi Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy vì lý do gì đó, một loại hàng hóa chỉ có một nhà cung ứng, người tiêu dùng không có cơ hội lựa chọn, nguyên nhân và động lực cạnh tranh không có, giá thành hàng hóa không giảm…

Điện năng là hàng hóa đặc biệt, quá trình sản xuất, truyền tải, phân phối, tiêu thụ điện năng diễn ra đồng thời Nó còn là loại hàng hóa mà người mua không thể cầm, đờ nhưng có thể dùng trước và trả sau Thêm nữa điện năng là sản phẩm mà tổn thất, mất mát giữa sản xuất và tiêu thụ là không thể nào khắc phục một cách hoàn toàn

Điện cạnh tranh là thị trường mà trong đó sản phẩm điện năng phải được bán bởi nhiều nhà cung ứng khác nhau Như vậy, khâu sản xuất điện năng muốn có thị trường cạnh tranh thì các nhà máy điện phải thuộc sở hữu nhiều công ty khác nhau, thay vì trực thuộc một công ty duy nhất quản lý và điều hành Khâu truyền tải và phân phối có đặc điểm là: trên một mặt bằng địa lý không thể để nhiều công ty cùng xây dựng nhiều lưới điện truyền tải và phân phối, do đó có thể chấp nhận một công

ty độc quyền cung ứng dịch vụ này Khâu kinh doanh điện năng muốn có cạnh tranh thì phải tạo cơ chế để có nhiều nhà cung ứng cùng tham gia thị trường

1.3 Một số mô hình thị trường điện cạnh tranh cơ bản

Thực tế cho thấy rằng, trong dây chuyền sản xuât kinh doanh của ngành điện, khâu truyền tải và phân phối luôn mang tính chất độc quyền trong tương lai Lý do chính là vì chi phí đầu tư xây dựng hệ thống lưới điện rất lớn nên việc cung cấp dịch vụ truyền tải và phân phối sẽ rẻ hơn và hiệu quả hơn rất nhiều khi một công ty

Trang 12

1.3.1 Mô hình có sự tham gia của bên thứ ba

Mô hình này thực chất là hình thức “bán dịch vụ truyền tải” trong đó khách

hàng và nhà sản xuất ký với nhau hợp đồng song phương, công ty sở hữu lưới truyền tải chịu trách nhiệm điều hành lưới truyền tải để chuyển tải điện năng từ nhà sản xuất đến khách hàng mua điện và được hưởng một khoản phí dịch vụ cho công việc này, có hai mô hình có sự tham gia của bên thứ ba: mô hình có điều tiết (regurated TPA) và mô hình thoả thuận (negotiated TPA) Trong mô hình TPA có điều tiết, các công ty muốn lưới điện ký kết hợp đồng dựa trên các qui định đấu nối, mức cước phí do cơ quan điều tiết qui định trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của các bên Đối với mô hình TPA thỏa thuận, các công ty tự thỏa thuận về mức cước phí

và các điều kiện để nối lưới Trong hai cách nêu trên, cách thứ nhất có nhiềuưu điểm hơn vì nó sẽ hạn chế được hiện tượng phân biệt đối xử của công ty quản lý lưới điện với các công ty sử dụng lưới điện và tiết kiệm đáng kể chi phí giao dịch

Trang 13

Mô hình có sự tham gia của bên thứ ba được thực hiện cả ở lưới điện truyền tải

và lưới điện phân phối Việc thực hiện mô hình này sẽ hạn chế sự lạm dụng vị thế độc quyền của các côngty điện lực liên kết dọc trong kinh doanh bán điện cho khách hàng, khuyến khích các công ty mới tham gia vào kinh doanh điện Mô hình tham gia của bên thứ ba được lựa chọn trong giai đoạn đầu của công cuộc cải cách thị trường hoá ngành điện ở các nước như: Mỹ, cộng đồng Châu Âu, một số khu vực của Canada, Phần Lan, Nhật, Hà Lan và Bồ Đào Nha….dưới cả hai hình thức thỏa thuận và có điều tiết

Ưu điểm

- Đã tạo ra cạnh tranh trong khâu phát điện và phân phối Giảm vị thế độc quyền của công ty điện truyền thống trong kinh doanh điện;

- Khách hàng được quyền lựa chọn nhà cung cấp;

- Không yêu cầu phải có sự phân tách về chức năng của công ty điện liên kết dọc Hạn chế

- Cần phải có các qui định tham gia lưới và điều tiết đủ mạnh vì sẽ có nhiều kha năng xung đột lợi ích khi công ty liên kết dọc phải cho các đơn vị ngoài sử dụng lưới;

Trang 14

- Phải có phương pháp và qui định tính toán phí truyền tải phức tạp;

- Hệ thống cơ sơ hạ tầng cho vận hành đo đếm sẽ phải đầu tư rất lớn

1.3.2 Mô hình một người mua

Mô hình này được coi là bước đầu của quá trình cải tổ tiến tới tự do hóa trong

kinh doanh điện Mô hình một người mua cho phép các nhà đầu tư tư nhân xây dựng, sở hữu và quản lý các nhà máy điện độc lập (independent power producer – IPP) Các công ty phát điện phải cạnh tranh để bán điện cho đơn vị mua điện duy nhất Đơn vị mua duy nhất độc quyền mua điện từ các nguồn phát và bán điện đến các khách hàng sử dụng điện Các công ty phát điện sẽ cạnh tranh để được xây dựng nhà máy và bán điện theo các hợp đồng mua bán điện ( PPA- power purchase Agreement) thỏa thuận giữa nhà sản xuất điện và đơn vị mua duy nhất Thực chất đây là một mô hình chiển tiếp, được bắt đầu bằng việc cho phép canhh tranh trong lĩnh vực phát điện trong khi chưa có điều kiện để thiết lập các thiết chế của thị trường cạnh tranh đến tận khâu bán buôn và bán lẻ Mô hình bảo đảm rủi ro ít nhất cho các IPP, làm tăng trách nhiệm của các công ty điện lực mặc dù nó vẫn tạo động lực thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vực phát điện Việc lựa chọn thời điểm đầu tư,vị trí đầu tư phụ thuộc vào các nhà lập kế hoạch nhiều hơn là của bản thân doanh nghiệp Thị trường phát điện cạnh tranh một người mua đòi hỏi phải chia tách chức năng của các khâu truyền tải và phát điện trong mô hình liên kết dọc

Việc cho phép các nhà dầu tư tử nhân trong và ngoài nước đầu tư vào xây dựng các IPP sẽ giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho ngân sách của chính phủ đầu tư vào ngành điện, chia sẽ bớt các rủi ro khi đầu tư xây dựng các nhà máy điện Việc đa dạng hóa thành phần trong phát điện cũng là động lực để nâng cao hiệu quả hoạt động giảm giá thành sản xuất điện của các nhà máy điện Trong giai đoạn đầu hình thành thị trường điện, có nhiều nước đã trải qua mô hình này, chủ yếu là các nước Đông Âu thuộc Liên Xô cũ và các nước đang phát triển như: Hàn Quốc, Nam Mỹ, một số nước Đông Nam Á, và tại một số tỉnh của Trung Quốc

Trang 15

Công ty phát Công ty phát Công ty phát

Cty phân phối Cty phân phối

Khách hàng Khách hàng

Cơ quan mua

Khách hàng Cty phân phối

Bảng 1.3 Mô hình thị trường một người mua

- Thu hút được đầu tư vào các nguồn điện mới, giảm nhẹ được yêu cầu vốn đầu tư

từ chính phủ cho ngành điện, là mô hình thích hợp cho thời kỳ có nhu cầu điện tăng với tốc độ cao, nhu cầu đầu tư nguồn điện mới lớn

- Không gây ảnh hưởng lớn tới, các hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty phân phối hiện tại, do đó không ảnh hưởng trực tiếp với các khách hàng sử dụng điện, các công ty phân phối có đủ thời gian cho để tăng cường năng lực tài chính và quản lý, chuẩn bị cho các cấp độ cạnh tranh cao hơn trong tương lai

- Mô hình thị trường đơn giản nên hệ thống các qui định cho hoạt động của thị trường chưa phức tạp

- Nhu cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho vận hành thị trường không lớn

Trang 16

Hạn chế

- Đơn vị duy nhất được độc quyền mua nguồn điện từ các đơn vị phát điện sẽ có nhiều cơ hội cho các tiêu cực trong điều hành thị trường Vì vậy, đòi hỏi phải có mức độ điều tiết rất cao

- Mức độ cạnh tranh chưa cao Chỉ giới hạn cạnh tranh trong phát triển các nguồn điện mới và một phần cạnh tranh trong thị trường ngắn hạn Sức ép đối với các đơn

vị phát điện giảm chi phí, tăng hiệu quả chưa lớn Không có cơ hội cho các công ty phân phối lựa chọn nhà cung cấp

- Đơn vị mua duy nhất phải có năng lực tài chính đủ mạnh để đảm bảo thực hiện các PPA đã ký và đủ uy tín thu hút các nhà đầu tư mới

- Chưa có lựa chọn mua điện cho các công ty phân phối khách hàng

1.3.3 Mô hình thị trường bán buôn cạnh tranh

Mô hình thị trường cạnh tranh bán buôn cạnh tranh tạo ra sự cạnh tranh trong

khâu phát và bán buôn điện Điểm khác biệt nổi bật đối với mô hình một người mua

là các công ty phân phối được quyền lựa chọn mua điện trực tiếp từ bất cứ công ty phát điện nào, không nhất thiết phải từ đơn vị mua duy nhất Tuy nhiên khâu bán lẻ điện đến các khách hàng dùng điện vẫn độc quyền bởi các công ty phân phối quản

lý địa bàn của mình Trong mô hình này sẽ xuất hiện một số công ty kinh doanh mua bán điện nhưng không sở hữu lưới điện Các công ty này sẽ thực hiện các hợp đồng mua điện từ các công ty phát điện và bán điện cho các công ty phân phối Trong mô hình thị trường bán buôn điẹn cạnh tranh, các công ty phát điện sẽ tự

do cạnh tranh và chịu các rủi ro trong đầu tư kinh doanh Các giao dịch mua bán điện năng được thực hiện thông qua các hợp đồng song phương hoặc thông qua thị trường tức thời hoặc dưới cả hai hình thức Thị trường điện có thể ở dạng tự nguyện hoặc bắt buộc Trong thị trường bắt buộc, tất cả điện năng bán buôn tại lưới truyền tải điều bắt buốc phải thực hiện thông qua thị trường Ưu điểm nổi bật của mô hình thị trường điện bắt buộc là số lượng giao dịch ít nên chi phí giao dịch, ít có tranh chấp giữa các bên khi thực hiện các hợp đồng mua bán điện Nhược điểm của mô hình này là người mua chưa hoàn toàn được quyền lựa chọn phương thức mua điện phụ hợp nhất Phần lớn các nước khi mở ra cạnh tranh điều nhanh chóng chuyển sang mô hình này Các nước hiện đang hoạt động theo mô hình này gồm: một số

Trang 17

bang của Mỹ, phần các nước trong cộng đồng châu Âu, Singapore, philipine, một số bang của Ấn Độ

Lưới truyền tải và thị trường bán buôn

Công ty phát

1.3.4 Mô hình thị trường bán lẻ điện cạnh tranh

Mô hình bán lẻ cạnh tranh là bước phát triển cao nhất,cuối cùng của cạnh tranh

Trang 18

trong sản xuất kinh doanh điện Trong mô hình này, cho phép cạnh tranh trong tất

cả các khâu phát điện, bán buôn và bán lẻ điện.vẫn đề cơ bản của mô hình này là sự chia trách hoàn toàn khâu phát điện và bán lẻ ra khỏi khâu truyền tải và phân phối khong còn độc quyền bán lẻ nữa Tuỳ theo từng bước phát triển thị trường, các khách hàng sẽ dần được quyền lựa chọn mua điện từ các công ty bán lẻ, các công ty bán lẻ lại được quyền lưạ chọn điện từ các công ty phát điện hoặc các đơn vị bán buôn điện hoặc thông qua thị trường bán buôn điện Ưu điểm của mô hình cạnh tranh bán lẻ là cho phép tự do kinh doanh và cạnh tranh trong kinh doanh, đầu tư vào các khâu phát và phân phối điện thông qua cạnh tranh, các công ty kinh doanh điện buộc phải tìm cách nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh Điện năng thực sự trở thành hàng hóa,được giao dịch mua bán trên thị trường

Kinh nghiệm của một số nước đã thực hiện mô hình cạnh tranh bán lẻ cho thấy tự

do hóa và cạnh tranh trong kinh doanh điện đã mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực Với sự tham gia kinh doanh điẹn của các doanh nghiệp cá nhân tự nhân và nhà nước, các công ty kinh doanh đặc biệt là các công ty phân phối đã hợp nhiều dịch

vụ gia tăng, đáp ứng tốt nhất mọi yêu cầu của khách hàng Mô hình này được ngành điện các nước trên thế giới phát triển rất nhanh trong những năm gần đây, Hiện nay tại nhiều nước đã đạt được mô hình cạnh tranh bán lẻ toàn diện như: Anh, Bắc Âu, Australia, New Zealand, Argentina, một số bang của Mỹ, chile…

Bảng 1.5 mô hình trường bán buôn điện cạnh tranh

Công ty phân phối Bán lẻ

Công ty phát

Trang 19

Ưu điểm

- Mức độ cạnh tranh tăng rất nhiều khách hàng dùng điện được hưởng lợi trực tiếp

từ cạnh tranh, được lựa chọn mua điện Xoá bỏ hoàn toàn độc quyền trong kinh doanh mua bán điện

- Chất lượng dịch vụ, chất lượng điện năng sẽ được tăng lên đáng kể; giá điện do cạnh tranh cao nên có thể giảm đáng kể

- Giảm dần tiến tới loại bỏ bù chéo trong kinh doanh phân phối và bán lẻ điện giữa các vùng trong cả nước

- Mức độ điều tiết trong thị trường giảm đi rất nhiều so với hai cấp độ trước

1.4 Điều tiết hoạt động điện lực trong thị trường

Vai trò của điều tiết hoạt động điện lực trong thị trường điện:

1.4.1

Điều tiết được định nghĩa là việc thiết lập và đảo bảo hiệu lực thi hành các luật lệ, quy định nhằm thúc đẩy vận hành hiệu quả và tính tối ưu thị trường điện Điều tiết thường chỉ áp dụng cho các ngành công nghiệp có lợi ích công cộng khá lớn, ví dụ như ngành điện, khí đốt, viễn thông, cấp nước v.v…

Đối với ngành điện, cơ quan điều tiết là một mắt xích quan trong cơ bản trong thị trường điện cạnh tranh Để đảm bảo thành công của việc đưa cạnh tranh vào ngành điện, cần thiết phải có một thể chế điều tiết rõ ràng, minh bạch, có một cơ quan điều thiết độc lập được trao đầy đủ quyền để chuyên trách thực hiện các chức năng điều tiết

Mục tiệu chính của điều tiết hoạt động điện lực là bảo vệ quyền và lợi ích cho khách hàng sử dụng điện và các nhà đầu tư Khách hàng sử dụng điện và các nhà đầu tư cần được bảo vệ chống lại sự lũng đoạn thị trường và những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của thị trường điện Ngoài ra điều tiết còn nhằm thúc đẩy các lợi ích công cộng, tối đa hóa các lợi ích xã hội, các giá trị xã hội

Trang 20

Nguyên tắc hoạt động của cơ quan điều tiết điện lực:

1.4.2

Cơ quan điều tiết điện lực là cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức và giám sát thực hiện các mục tiêu, chính sách của chính phủ các chính sách về phát triển điện lực được xã hội chấp nhận Việc thực hiện các mục tiêu chính sách của chính phủ

có thành công hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức và hoạt động của

cơ quan điều tiết điện lực Các hoạt động của cơ quan điều tiết điện lực đồng thời phải đáp ứng các yêu cầu rất khác biệt:

- Đáp ứng các mục tiêu và chính sách đề ra cho phát triển của ngành điện cũng như các chính sách xã hội của chính phủ

- Phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế

- Bảo vệ quyền lợi của người sử dụng

- Bảo vệ quyền lợi của người đầu tư

- Bảo vệ quyền lợi của các đơn vị hoạt động điện lực

- Thỏa mãn các yêu cầu của công luận

- Đáp ứng sự thay đổi về công nghệ

- Giảm thiểu các rủi ro khác

Trang 21

Cơ quan điều tiết Điện lực

Quyền lợi của nhà đầu tư

Quyền lợi của người

Đáp ứng mục tiêu của chính phủ

Phù hợp với nền kinh tế

Các rủi ro khác

Bảng 1.6 các đòi hỏi áp lực đối với cơ quan điều tiết điện lực

Theo kinh nghiệm nhiều nước trên thế giới, muốn hoạt động hiệu quả cơ quan điều tiết điện lực cần: “ phải độc lập với các đơn vị mà nó điều tiết, được bảo vệ khỏi các áp lực chính trị và được trao toàn quyền để điều tiết thị trường bằng các quyết định về chính sách và cưỡng chế thi hành, cơ quan điều tiết có quyền ra các phán quyết, xét sử để thực hiện các chức năng điều tiết và cưỡng chế một cách hiệu quả và rõ ràng Cơ quan điều tiết điện lực phải được cung cấp tài chính đầy đủ từ các nguồn doanh thu tin cậy và dự tính được’’

Để đồng thời đáp ứng được các yêu cầu đa dạng từ nhiều phía như trên, cơ quan điều tiết điện lực cần được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc sau

Vai trò và mục tiêu rõ ràng

- Chức năng điều tiết, trách nhiệm và quyền hành của cơ quan điều tiết điện lực cần phải được qui định cụ thể, rõ ràng trong các văn bản pháp luật để có thể triển khai thực hiện được trên thực tế và có hiệu lực thực sự

Tính độc lập

- Cơ quan điều tiết điện lực cần phải độc lập về quyền lợi với các hoạt động của đơn vị tham gia thị trường để tránh bị chi phối và dẫn tới hoạt động không khách

Trang 22

quan và kém hiệu quả, muốn vậy nguồn tại chính cho cơ quan điều tiết điện lực phải

từ các nguồn ổn định không dễ bị thay đổi (chủ yếu là từ phí thị trường và phí giao dịch thị trường do các đối tượng tham gia giao dịch nộp qua cơ quan điều hành giao dịch thị trường)

Tính tự chủ cao

- Cơ quan điều tiết điện lực phải có quyền tự chủ về tài chính, tự chủ về tài chính sẽ giúp cho các hoạt động điều tiết mạnh hơn trong triển khai thực hiện, đáp ứng đủ và kịp thời các yều cầu, diễn biến của thị trường nguyên tắc này cũng phần nào giúp cho cơ quan điều tiết điện lực đảm bảo được tính độc lập

Tính minh bạch cao trong hoạt động

- Cơ quan điều tiết điện lực cần phải minh bạch trong tất cả các phán quyết, quyết định và hoạt động tài chính của mình Có ‘minh bạch’ thì chính phủ và các tham gia thị trường mới có thể giám sách được cách hoạt động điều tiết điện lực và loại bỏ động cơ quan điều tiết sai lệch chính sách của nhà nước, sai lệch mục tiêu của phát triển thị trường điện Có minh bạch, các phán quyết, quyết định của quan điều tiết điện lực sẽ có sức thuyết phục cao hơn đối với các đối tượng tham gia thị trường Năng lực thực hiện

- Năng lực thực hiện thể hiện ở chỗ có khả năng xem xét phân tích đánh gía, dự báo trước được diễn biến, xây dựng được các cơ chế chiến lược để đáp ứng được diễn biến, ra quyết định và cưỡng chễ thi hành Để thực hiện được nguyên tắc này cơ quan điều tiết điện lực cần tuân thủ các yêu cầu sau:

™ Rõ ràng minh bạch trong các quyết định

™ Tuân thủ chặt chẽ các qui định của pháp luật

™ Nhất quán trong giải quyết và xử lý các vấn đề

™ Đáp ứng thông tin kịp thời chính xác

™ Đáp ứng được các điều kiện thay đổi của thị trường

1.4.3 Nguyên tắc xây dựng tổ chức của cơ quan điều tiết điện lực:

Tuỳ theo vai trò, chức năng và nhiệm vụ điều tiết trong từng cấp độ phát triển của thị trường điện mà nội dung hoạt động điều tiết và cơ cấu tổ chức cụ thể của cơ quan điều tiết điện lực được xây dựng và điều chỉnh cho phù hợp Tuy nhiên, cơ cấu

tổ chức của cơ quan điều tiết điện lực cần được xây dựng sao cho luôn đáp ứng các

Trang 23

nguyên tắc hoạt động nêu trên Tuỳ cơ cấu tổ chức của cơ quan điều tiết điện lực có thể thay đổi qua các cấp độ thị trường nhưng tổ chức của các cơ quan điều tiết điện lực cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

™ Phù hợp với hệ thống tổ chức văn bản pháp luật, liên quan tới các vấn đề về hoạt động doanh nghiệp, cạnh tranh, thanh tra, khiếu nại, tổ tụng…

™ Phù hợp với lộ trình phát triển thị trường và thiết kế chi tiết mô hình tổ chức và hoạt động của thị trường điện lực tại từng cấp độ

™ Tuỳ theo từng cấp độ phát triển của thị trường, điều tiết phải được tập trung, rán phân tán, chồng chéo làm giảm hiệu quả của hoạt động điều tiết

™ Giảm thiểu các điều chỉnh lớn về cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ quyền hạnh của cơ quan điều tiết điện lực khi chuyển dịch qua các cấp độ của thị trường

™ Xây dựng cơ quan điều tiết điện lực có đủ các chức năng, quyền hạn để đảm bảo điều tiết hoạt động điện lực có hiệu quả, đạt được các mục tiêu, chính sách của chính phủ đề ra

™ Đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động độc lập và ổn định đáp ứng đầy đủ và kịp thời các yêu cầu, diễn biến của thị trường

™ Có khả năng phù hợp chặc chẽ với hệ thống cơ quan hành pháp liên quan như: cơ quan quản lý cạnh tranh, thanh tra, cơ quan tư pháp… để kiểm tra, giám sát, xử phạt

và cưỡng chế thi hành các quy định, quyết định về điều tiết trong giá trình điều tiết hoạt động điện lực

1.4.4 Các mô hình cơ quan điều tiết hoạt động điện lực

Việc chọn mô hình tổ chức của cơ quan điều tiết điện lực có vài trò quan trọng

trong việc thực thi thành công điều tiết điện lực Tuỳ theo khuôn khổ pháp lý và mục tiêu chính trị của từng nước, việc lựa chọn mô hình tổ chức cơ quan điều tiết điện lực của từng quốc gia là tương đối khác nhau

Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình tổ chức chính của cơ quan điều tiết điện lực là:

a) Cơ quan điều tiết điện lực độc lập

b) Cơ quan điều tiết điện lực trực thuộc Bộ quản lý ngành

c) Bộ quản lý ngành trực tiếp thực hiện chức năng điều tiết

Trang 24

™ Cơ quan điêu tiết độc lập

Mô hình này cơ quan điều tiết điện lực hoàn toàn độc lập với chức năng quản lý nhà nước của Bộ quản lý ngành Mô hình tổ chức này hiện được áp ụng cho cơ quan điều tiết điện lực tại Úc Canada, Đan mạch, Phần Lan, pháp, Iceland, Ý, Bồ Đào Nhà, Thụy điển, And, Mỹ, Nam phi, Philipin, Mông cổ… cơ quan điều tiết điện lực

ở các nước nêu trên thường được điều hành bởi một cơ quan, đối với các nước có nhiều bang, mỗi bang có một cơ quan điều tiết với đầy đủ các chức năng về điều tiết hoạt động điện lực

Theo mô hình này, cơ quan điều tiết điện lực thường là những cơ quan công cộng độc lập được trao quyền để điều tiết một số lĩnh vực nhất định của một ngành công nghiệp Cơ quan điều tiết điện lực có thể có một số quyền phán quyết như là đặt ra các mức phạt đối với những đơn vị điện lực không thực hiện những qui định của cơ quan điều tiết hoặc đóng vai trò của một quan tòa trong những vụ tranh chấp giữa các đơn vị điện lực tham gia thị trường điện

™ Cơ quan điều tiết trực thuộc Bộ quản lý ngành

Cơ quan điều tiết trực thuộc Bộ quản lý ngành Nhưng được hoạt động tự chủ Phạm vi hoạt động của cơ quan điều tiết này cũng tương tự như cơ quan điều tiết độc lập Mô hình này được áp dụng tại Hungary, Hà Lan, Na Uy, v.v… cơ quan điều tiết điện lực trực thuộc Bộ hoạt động dựa trên một nguồn ngân sách riêng biệt, theo sự quản lý tự chủ và có thể theo một khung pháp lý riêng Kinh nghiệm thực tế cho thấy, các cơ quan điều tiết tự chủ trực thuộc Bộ ở một số nước lại được vận hành, hoạt động với một mức độ độc lập khá cao

™ Bộ quản lý ngành trực tiếp làm chức năng điều tiết

Mô hình này được áp dụng ở một số nước như: Áo, Bỉ, CH Séc, Hy Lạp, Nhật Bản, New Zealand, Thổ nhĩ kỳ,… là các nước chưa hình thành thị trường điện cạnh tranh và ngành điện vẫn còn hoạt động chủ yếu theo mô hình tích hợp dọc, các hoạt động điều tiết tại Bộ phụ thuộc chủ yếu vào chính sách điều tiết của mỗi nước

1.5 Thương mại điện tử trong thị trường điện

1.5.1 Vai trò của hệ thống thông tin năng lượng

Hoạt động của thị trường cạnh tranh đã mang lại lợi nhuận kinh tế và ảnh hưởng

xã hội rất lớn Tuy nhiên, kinh doanh thị trường điện năng thời gian thực tế vẫn rất

Trang 25

phức tạp do có sự khác nhau giữa các thị trường cổ truyền và điện thì không lưu trữ được, nên cần phải có thông tin rộng lớn trên thị trường Đó là lý do tại sao phát triển thị trường điện năng phải dựa trên thông tin và thương mại điện tử, là những

hệ thống tính toán và thương mại không có Internet, mục đích thương mại không thể đạt được

Do yêu cầu thực tế, từ đầu những năm 1960 ngành công nghiệp điện bắt đầu ứng dụng công nghệ thông tin và trở thành một trong những nơi IT sớm nhất được

sử dụng Phân thành 3 bước: Đầu tiên, IT được đưa vào quá trình sản xuất, giám sát

và điều khiển tự động ở các nhà máy điện và trạm biến áp, thứ hai là, IT chuyển sang dùng như công cụ chuyên biệt như tự động hóa truyền tải hệ thống điện, điều khiển tại công suất, thiết kế có hỗ trợ máy tính, hệ thông mô phỏng máy tính Thứ

ba, ứng dụng IT để điều khiển và quản lý toàn bộ hệ thống điện và quản lý thị trường điện

Thị trường điện năng, bao gồm việc điều hành hệ thống, quản lý tải, sự hợp tác của các nhà cung cấp và khách hàng, truyền thống và thương mại điện tử, vì thế, hệ thống vận hành trở nên rất phức tạp và cần hệ thống đo đếm hoàn chỉnh đáng tin cậy và chính xác, hệ thống xử lý thông tin, hệ thống giám sát truyền thông tin, hệ thống kế toán và các bộ luật, điều lệ

Toàn bộ các thủ tục bao gồm cung cấp, truyền tải, phân phối, và sử dụng điện, phải được phối hợp và quản lý trong thị trường điện duy nhất sao cho thị trơừng có thể đáp ứng nhu cầu của các đơn vị

Trong thị trường điện năng số lượng thông tin là rất lớn, bao gồm việc thu thập

dữ liệu và sử lý dữ liệu, quản lý thị trường kinh doanh năng lượng điện, dịch vụ truyền tải, đấu thầu và các công tác thương mại khác Xuất bán thành phẩm cho nhà cung cấp nhu cầu, dịch vụ truyền tải, giá mua bán điện theo thời gian thực, giám sát

và quản lý tiến độ thực hiện hợp đồng, và những thứ tương tự như thế Vì vậy, hệ thống xử lý thông tin phải là hệ thống tốc độ cao và phải có độ tin cậy cao

1.5.2 Vai trò của môi trường kinh doanh đối với thương mại điện tử

Sự phát triển thương mại điện tử là một công trình xã hội mang tính hệ thống và phức tạp, không chỉ liên quan đến việc xây dựng cấu trúc nền tảng thông tin, mà còn phụ thuộc vào tín dụng thương mại, hệ thống trả tiền trong Internet, thẻ ID, các

Trang 26

tiêu chuẩn, hệ thống giao nhận, hệ thống thuế, ban hành đạo luật, và sự bổ sung sửa đổi các luật liên quan và chế độ chính trị Nói cách khác, nó dựa vào 2 yêu tố cơ bản, một là ứng dụng rộng rãi kỹ thuật và một nữa là sử dụng các chính sách và môi trường thị trường, Nghiên cứu sự tiến triển thương mại điện tử trong thị trường năng của nhiều nước có thể dễ dàng kết luận rằng khâu trì trệ chủ yếu các sự phát triển thương mại điện tử là những qui tắc môi trường thị trường và chính sách

™ Hệ thống quản lý thương mại:

Hệ thống quản lý thương mại đặt trên nền tảng của Internet, đóng vai trò quan trọng nhất trong thị trường điện năng, Nó đưa ra một qui tắc cho tất cả các đơn vị tham gia thị trường, như các nhà máy điện và các đơn vị cung cấp điện

™ Hệ thống thanh toán trên Internet :

Để phát triển thị trường điện năng, trước tiên phải hoàn thiện hệ thống thanh toán trên Internet; ngược lại hiệu suất kinh doanh sẽ rất thấp

1.5.3 Kết luận

Trên cơ sở Internet/Intranet, trong thế kỷ này thương mại điện tử sẽ là kiểu kinh doanh chính yếu ở các doanh nghiệp điện rất có ích cho việc vận hành thị trường năng lượng điện Thật ra, thị trường rất phức tạp và gặp hàng loạt trở ngại như chính sách quốc gia, hệ thống kinh tế, các qui định và luật lệ, cấu trúc thị trường và kỹ thuật đo đạc liên quan, phương pháp tính kỹ thuật truyền tải và kỹ thuật tự động hóa Tuy nhiên, với nỗ lực của chính quyền và các chuyên gia có thể tiên đoán rằng nó sẽ có một tương lai sáng sủa

Trang 27

CHƯƠNG II

GIỚI THIỆU CÔNG NGHIỆP ĐIỆN LỰC TRUNG QUỐC

2.1 Thị trường điện Trung Quốc

Từ khi bước vào thời kỳ mở cửa, cuối những năm 70, nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ trung bình 9% mỗi năm Để đạt sự phát triển ổn định như vậy đã có một bước nhảy vọt về sản lượng điện, từ 65 GW vào năm

1980 lên đến 300 GW vào năm 2000 Hiện nay, Trung Quốc xếp thứ hai toàn cầu, cả về dung lượng lắp đặt và khả năng nguồn phát Tuy nhiên, tính về sản lượng bình quân đầu người, với mức 900 kWh, Trung Quốc chỉ xếp hạng 80 trên thế giới Trước xu thế tái lập cơ cấu ngành điện trên thế giới, Trung Quốc đã xúc tiến nhiều nghiên cứu về xây dựng thị trường điện nhằm tạo những cơ hội phát triển mới

2.2 Sự phát triển công nghiệp điện Trung Quốc

2.2.1 Tóm lược:

Công nghiệp điện Trung Quốc ra đời trong thập niên 1880 của thể kỷ 19 Cơ

sở nguyên thuỷ của công nghiệp được hình thành bởi những nhà đầu tư tư nhân và chính phủ hoạt động rải rác trong nhiều hệ thống địa phương Nhà máy điện đầu tiên được xây dựng bởi một công ty And tại Thượng Hải vào 1882-1888, chính quyền Tỉnh Quảng Đông của triều đại Thanh đã lắp đặt một nhà máy điện nhập khẩu tại thành phố Quảng Châu và trở thành nhà sản xuất điện Trung Quốc đầu tiên Những nhà máy điện ban đầu này đã sử dụng than đá địa phương phát điện thắp sáng đường phố Sự gia tăng việc sử dụng điện của các hộ giàu có ở thành thị trong thập kỷ kế tiếp đã thúc đẩy làn sóng đầu tiên của đầu tư công nghiệp điện Cả những công ty tư nhân trong và ngoài nước, cũng như các chính quyền Trung Quốc tiếp nối, đã xây dụng những hệ thống điện địa phương để phục vụ các thành phố lớn như Thượng Hải, Thiên Tân, Bắc Kinh, Trùng Khánh, Vũ Hán, v.v…trong hơn 60 năm, những hệ thống địa phương này phát triển chậm chạp vì đất nước trải qua nhiều cuộc chiến và thay đổi chế độ

Trang 28

Việc thành lập Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949 đã mang lại một thay đổi quan trọng trong việc tổ chức và phát triển của công nghiệp điện Chính quyền mới, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, tin rằng quyền công hữu về tự liệu sản xuất và kế hoạch hóa tập trung nền kinh tế quốc dân sẽ khắc phục được những suy thoái chu

kỳ và mất cân đối củanền kinh tế thị trường tư bản Được chỉ đạo bởi quan điểm này, chế độ mới đã quốc hữu hóa công nghiệp điện, cũng như mọi tài sản kinh tế quan trọng khác, và thực hiện kế hoạch năm năm đầu tiên trong năm 1953 Chính quyền Trung ương trở thành nhà đầu tư độc quyền và người vận hành hệ thống điện trong ba thập niên kế tiếp

Hệ thống điện mà chế độ mới mà kế thừa năm 1949 có công suất lắp đặt 1,85GW Việc xây dựng cơ sở hạ tầng điện trở thành một ưu tiên quốc gia cốt lõi, dài hạn nhằm hỗ trợ chiến lược công nghiệp hóa quy mô lớn mà chính quyền Trung Quốc chấp nhận để phát triển kinh tế Công nghiệp điện được nhận những hỗ trợ tài chính và vật chất mạnh mẽ từ chính quyền trung ương và phát triển ổn định Công suất phát điện đã tăng từ 2.000MW đến 80.000MW giữa những năm từ 1949 đến

1978 (xem hình 2.1) Trong khi đó một hệ thống cấp quốc gia gồm năm vùng liên kết và nhiều hệ thống lưới điện cấp tỉnh dần dần phát triển Tuy nhiên, bất chấp sự gia tăng nhanh việc cung cấp điện luôn luôn tụt hậu so với việc gia tăng nhu cầu về điện theo kế hoạch trung ương Vào giữa thập niên 1970, việc thiếu hụt công suất quốc gia được dự kiến khoảng 5.000MWh hay 12% công suất lắp đặt

Những khó khăn chung về kinh tế kết hợp với yêu cầu toàn diện của trung ương đã khiến chính quyền bắt đầu những cải tổ kinh tế trong năm1979 Những cải tổ ban đầu này, được thực hiện trên toàn bộ nền kinh tế, nhưng chỉ thâm nhập vào lĩnh vực điện dần dần và có chọn lọc Thí dụ, những cải tổ tổng quát đã thức đẩy những nỗ lực liên tục kể từ đầu thập niên 1980 để thay đổi các đơn vị sản xuất từ kế hoạch hóa tập trung sang những doanh nghiệp hạch toán độc lập Trào lưu cải tổ kinh tế được thực hiện ở các lãnh vực khác cũng được đưa vào công nghiệp điện 1986 khi chính phủ phân quyền việc đầu tư, đưa ra quyết định tài trợ cho khu vực phát điện trong một nỗ lực để gia tăng công suất hệ thống nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng Trong thời kỳ cải tổ kể từ năm 1986, các chính quyền tỉnh và địa phương, các

Trang 29

doanh nghiệp phi chính phủ và các nhà sản xuất điện nước ngoài đã được phép đầu

tư vào các dự án được chính quyền trung ương quy hoạch, để bổ sung cho cơ sở hạ tầng điện Phần công suất của những nhà đầu tư mới này đã gia tăng từ số không đến hơn 50% của tổng công suất quốc gia trong khoảng 15 năm, mặc dù chính quyền trung ương tiếp tục là nhà cung cấp độc quyền lớn nhất về phát điện (cũng như người vận hành đơn độc của tất cả các hệ thống truyền tải đường dây và hầu hết các hệ thống phân phối địa phương) Sự phát triển công suất này, được củng cố bởi việc thiết lập một số các ưu đãi thị trường làm lợi cho việc đầu tư mới, dẫn đến sự phát triển chưa từng thấy của công nghiệp điện sự tăng trưởng hiệu quả đã loại trừ thiếu hụt điện triền miên trên khắp nước vào cuối thập niên 1990 và tạo nên hệ thống điện lớn thứ nhì thế giới

Như hình 2.1 cho thấy công suất phát điện đã tăng từ 2,3 GW trong năm 1953 đến 319GW trong 2000 Tỷ lệ tăng trưởng có tầm quan trọng đặc biệt trong những năm cuối của thập niên 1980 và thập niên 1990 bởi vì nhu cầu về điện tăng lên và

sự tiếp tục đầu tư cho tương lai kết hợp với cải tổ kinh tế thị trường Công suất 15GW được cộng thêm vào mỗi năm trên số trung bình Sự phát triển mới này khiến cho sản xuất điện của Trung Quốc trở thành có quy mô thế giới

Hình 2.1 công suất phát điện(1953 – 2010)

Trang 30

Về quy mô các nhà máy phát điện, mặc dù nhiều đơn vị lớn đã được xây dựng trong suốt thời kỳ cải tổ, các đơn vị nhỏ hơn, ít hiệu quả (ít hơn 100MW) vẫn cho hơn một nửa của tổng công suất lắp đặt (hình 2.2) trong đợt cải tổ công nghiệp điện lần thứ nhất vào giữa thập niên 1980, chính quyền các địa phương đã khuyến khích các doanh nghiệp phi chính phủ, đầu tư vào việc phát điện, ưu đãi những nhà máy điện nhỏ, đòi hỏi vốn đầu tư thấp, thời gian xây dựng ngắn

Khi trình độ chuyên môn kỹ thuật của Trung Quốc dần dần được cải thiện vào thập niên 1990 các dự án được triển khai bởi chính quyền trung ương được hoạch định tốt hơn, đáp ứng sự gia tăng của nhu cầu cung cấp điện thông qua những lưới điện lớn Chúng thích ứng với nhà máy điện tầm cỡ lớn hơn (300MW) và những tiêu chuẩn công nghệ cao hơn Các doanh phát điện nhận được tài trợ ưu đãi từ các ngân hàng chính sách nhà nước và đôi khi từ các cơ quan tín dụng quốc tế kết quả

là cấu trúc của điện lực Trung Quốc được xây dựng nên từ những năm 1980 bao gồm cả những nhà máy điện hiện đại, công suất lớn và cả những nhà máy điện lạc hậu, công suất nhỏ

Trang 31

Trong các nguồn năng lượng phi hoá thạch, thủy lực và nguyên tử là những nguồn điện ưu thế Tài nguyên về thủy điện của Trung Quốc rất đồi dào, sự phân phối của chúng chủ yếu tại phía Tây Sự phát triển của thủy điện đã bị chậm do thiếu vốn và những công nghệ cho các trạm thủy điện lớn và những hệ thống truyền tải đường dài, 80% công suất thủy điện có thể khai thác được vẫn chưa được triển khai Trung Quốc bắt đầu phát triển điện hạt nhân vào thập niên 1980 nhà máy điện nguyên tử đầu tiên, 300MW Tần Sơn (Giai đoạn1) tại tỉnh Triết Giang, đã được vận hành vào năm 1992 Vào năm 2000, các nhà máy năng lượng hạt nhân lên đến khoảng 1% công suất lắp đặt

Trang 32

2.2.3 Truyền tải

Các hệ thống truyền tải và phân phối đã được ưu tiên phát triển cao theo kế

hoạch tập trung Trung Quốc Năm 1949, chính nguyền mới đã tiếp nhận một cơ sở

hạ tầng điện lực yếu kém với 6.500 km đường dây truyền tải (35KV và hơn) Nó đã được nhân lên hơn hàng năm trăm lần kể từ đó Sự tăng trưởng nhanh nhất đạt được trong những năm cải tổ sau 1981 (hình 2.4) Đặc biệt, hệ thống truyền tải được phát triển mạnh bởi việc lắp đặt mới các đường dây truyền tải cao thế và mạng lưới phân phối Trung Quốc đã xây dựng đường dây 500KV đầu tiên được lắp đặt Mặc dù lưới điện thuộc miền và tỉnh có những đường dây cao thế này như những mạng truyền tải chính, vào năm 2000, các đường dây 330KV và 500KVchiếm 5% các đường dây truyền tải quốc gia (Bảng 2.1)

Như trong nhiều hệ thống điện phát triển nhanh khác, sự phát triển mạng truyền tải điện Trung Quốc tiếp tục tụt hậu so với sự phát triển của công suất phát điện trong nhiều năm, các hệ thống truyền tải không tương xứng đã hạn chế việc lắp đặt

Trang 33

nhà máy thủy điện và nhà máy đốt than tại những nguồn phong phú ở phía Tây

Trung Quốc Các hệ thống truyền tải điện yếu kém đã tạo nên tắc nghẽn trong sự

trao đổi điện liên tỉnh và xuyên tỉnh Sự yếu kém của cả truyền tải và phân phối trở

nên rõ ràng hơn khi những nhà cung cấp điện không thể tiếp cận với một số lớn

người sử dụng vùng nông thôn ngay cả khi tình trạng dư thừa điện xuất hiện trong

các thị trường điện lực vào cuối thập niên 1990

Bảng 2.1 Hệ thống truyền tải năm 2005(35KV và hơn)

km % Tổng

500KV

860.3 707.142

100 13,4 500KV 25.910 3,7 330KV 8.254 1,2 220KV 122.597 17,3 110KV 195.001 14,2 66KV 46.054 6,5 35KV 309.056 43,7

Trang 34

Kể từ năm 1998, chính quyền trung ương bắt đầu gia tăng đầu tư vào các hệ thống truyền tải và phân phối Từ năm 1998 đến năm 2000, công ty nhà nước, cơ quan kiểm soát cả các mạng truyền tải và phân phối trước khi nó bị bãi bỏ vào năm

2002, đã đầu tư 18,4 tỷ Đô la Mỹ: 7,1 Tỷ Đô la Mỹ trong các hệ thống thành thị và 11,3 trong các vùng nông thôn Một khoản đầu tư bổ sung 23 Tỷ Đô la Mỹ cho truyền tải và phân phối được xác định cho thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (2001-2005) Trạm thủy điện Tam Hiệp và các nhà máy điện tại mỏ than lớn ở phía Tây thúc đẩy phát triển các đường dây truyền tải cao thế đường dài kết nối vào hệ thống lưới điện quốc gia

2.2.4 Tiêu dùng điện

Kể từ năm 1949, chính quyền Trung Quốc đã hướng chiến lược phát triển kinh tế vào công nghiệp hoá, đặc biệt tăng cường tập trung cơ sở hạ tầng vào các lĩnh vực công nghiệp nặng Do các nguồn tài chính có hạn, sản xuất hàng hoá tiêu dùng và công nghiệp dịch vụ buộc phải nhường bước khi hoạch định nguồn tài nguyên, và người tiêu thụ được yêu cầu hy sinh cho sự phát triển tương lai nhanh hơn Cấu trúc của việc tiêu thụ điện cả nước đã phản ánh đầy đủ những ưu tiên phát triển này Hình 2.5 cho thấy khu vực công nghiệp (chế tạo) chiếm hơn 80% tiêu thụ điện quốc gia trong năm 1980 sau 30 năm phát triển theo kế hoạch trung ương Nó tiếp tục là bộ phận tiêu thụ lớn nhất trong năm 2000, mặc dù việc cải tổ kinh tế trong 20 năm qua đã dẫn đến sự phát triển rộng lớn của ngành công nghiệp nhẹ và tiêu thụ điện trong khu vực dân cư

Một đặc điểm điển hình khác của sự phát triển điện Trung Quốc là, không giống như một số nước đang phát triển như Ấn Độ, tiêu thụ điện trong sản xuất nông nghiệp đã chiếm một phần nhỏ,và kết hợp sử dụng điện ngoài giờ cao điểm Đặc biệt khi tăng trưởng kinh tế tăng tốc trong thập niên 1980 và 1990, phần tiêu thụ điện nông nghiệp đã trượt 10% xuống còn chỉ 4% của tổng tiêu thụ điện quốc gia

Trang 35

2.2.5 Phát triển tương lai

Công nghiệp điện đòi hỏi phải phát triển mạnh trong thập niên tới để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng Kinh tế Trung Quốc dự kiến tăng trưởng 7-8% mỗi năm giữa

2001 và 2010 Theo đó, Ủy ban kế hoạch nhà nước đã dự kiến công suất lắp đặt phát điện mới là 110 GW cho kế hoạch 5 năm lần thứ 10(2001-2005), và một khoản

bổ sung 100GW cho 5 năm sau của thập kỷ Việc bổ sung 20GW cho hệ thống mỗi năm tới năm 2010, cho thấy những thách thức nghiện trọng về tài chính, tổ chức, môi trường và công nghiệp

Hơn nữa, công nghiệp điện Trung Quốc dù đã và đang phát triển, nó vẫn còn ở cấp độ phát triển thấp Công suất lắp đặt theo đầu người chỉ là 3KW, và số tiêu thụ điện hàng năm tính theo đầu người chỉ vừa trên 1.000 KWh Cả hai chỉ số này đứng

ở khoảng 50% cấp độ trung bình thế giới Theo dự kiến của công ty điện lực quốc gia, vẫn có khoảng 23 triệu cư dân nông thôn không tiếp cận với điện trong năm

2000 về lâu dài, để tăng những cấp độ này đòi hỏi sự phát triển liên tục, to lớn về

cơ sở hạ tầng điên

2.3 Quá trình đổi mới công nghiệp điện Trung Quốc

2.3.1 Tổ chức công nghiệp trước khi đổi mới:

Công nghiệp điện Trung Quốc trước khi khởi đầu cải tổ giống hình thức của nhiều nước trong các cấu trúc kinh tế và cơ chế chủ yếu

Trước hết, nó được chính quyền sở hữu Chính quyền Trung Quốc, do Đảng Cộng Sản lãnh đạo, đã quốc hữu hóa hệ thống điện của đất nước ngay sau khi nắm

Trang 36

quyền hành vào năm 1949 Công nghiệp điện được quốc hữu hóa đã có một cơ cấu quyền sở hữu, rất đơn giản, chính quyền trung ương đã thực thi hoàn toàn cácquyền

sở hữu Chính quyền chỉ đạo việc quản lý tất cả các tài sản, phân bổ lợi tức mà chúng sản sinh theo quyền lợi tốt nhất của quốc gia, như ngân sách quốc gia tổng quát quy định Các tài sản được quốc hữu hóa và được vận hành bởi những doanh nghiệp nhà nước, kết hợp việc phát điện, truyền tải và phân phối, hoạt động với những đặc quyền độc quyền trong các lĩnh vực dịch vụ Các doanh nghiệp nhà nước hàng dọc này Được đặt dưới sự giám sát hành chính của Bộ công nghiệp điện Thứ hai, toàn bộ nền công nghiệp được tổ chức như hệ thống quốc gia thống nhất có trật tự Bộ công nghiệp điện kiểm soát hệ thống trong mọi tầm mức quan trọng Quy trình hoạch định hành chính trung ương đã ấn định chính sách và thực hành chiến lược năng lượng dài hạn quốc gia, thông qua khảo sát và phát triển công nghệ, tài trợ đầu tư, đặt nhà máy, thiết kế và xây dựng, đến cả các tuật lệ, những lịch biểu phức tạp, và những phân bổ công việc hàng ngày và hạn ngạch người dùng Các doanh nghiệp nhà nước là những xí nghiệp không bao gời độc lập về trách nhiệm quản lý, khả năng phân bổ tài sản, hoặc kiểm soát xử lý số thừa

Thứ ba, không chỉ là các đơn vị sản xuất của chính quyền, doanh nghiệp nhà nước còn phải đảm bảo đời sống xã hội cho cán bộ công nhân viên của họ Nói chung, chính quyền đã giao cho ngân sách doanh nghiệp nhà nước một khoản thù lao thấp cho cán bộ công nhân viên, đáp ứng chi phí sinh hoạt hàng ngày và để đảm bảo doanh nghiệp nhà nước có thể cung cấp các dịch vụ đời sống xã hội toàn diện miễn phí

Sau cùng, Bộ công nghiệp điện đã làm việc với Ủy ban kế hoạch nhà nước, cơ quan chính thiết lập kế hoạch kinh tế, trong việc là dự án điện, hoạch định các dự án mới để đáp ứng nhu cầu, và thiết lập các lịch biểu cho các nhà máy mới Bộ công nghiệp điện còn tách động với nhiều bộ khác và ngân hàng nhà nước để thu xếp việc tài trợ, xây dựng, cung cấp nhiên liệu và nhân viên cho các dự án mới Khi các nhà máy mới được xây dựng, Bộ công nghiệp điện đã điều phối các hoạch động của mình với Ủy ban kinh doanh và kinh tế nhà nước, trong việc phân bổ và xử lý các hạn ngạch phát điện và đưa điện đến người sử dụng theo kế hoạch Về cơ bản, tất cả

Trang 37

các mối quan hệ cung cầu trong dây chuyền tổng thể cung cấp điện đã được hoạch định bởi phân bổ của chính quyền, hơn là các chọn lựa thị trường bởi các xí nghiệp kinh doanh Điều này là sự kiến khuyết trong điều tiết tổng quát và cân bằng giá

2.3.2 Đổi mới để tăng vốn (1986-1996)

- Mở rộng cơ hội đầu tư

Ngày từ thời kế hoạch hóa tập trung, công nghiệp điện Trung Quốc đã đứng trước nhu cầu dài hạn cho việc phát triển hệ thống quy mô lớn Trong nhiều thập kỷ,

nó đã đòi hỏi số tiền đáng kể về đầu tư hàng năm từ chính quyền trung ương, mà cho tới năm 1986 là nguồn đầu tư năng lượng duy nhất Tuy nhiên, từ đầu thập niên

1980, khi những cuộc cải tổ kinh tế, khởi sự thực hiện trong các lĩnh vực khác, làm gia tăng gần gấp đôi tăng trưởng thu nhập, đã mở rộng khoảng cách giữa cung và cầu điện năng, theo các dự toán của chính phủ, vào năm 1979 thâm hụt điện đã lên đến 10GW công suất và 40TWh điện năng Năm1986, nó đã tăng lên khoảng 15GW

và 700TWh, tương đương với 17% tiêu thụ điện hàng năm Sự thiếu hụt trở nên nghiêm trọng tại tỉnh Quảng Đông nơi đang tăng trưởng nhanh Theo trung tâm khảo sát kinh tế kỹ thuật năng lượng tỉnh Quảng Đông, nhiều xí nghiệp thường buộc phải đóng cửa bốn ngày mỗi tuần do thiếu điện nhu cầu khẩn cấp đáp ứng yêu cầu gia tăng điện năng cao hơn khả năng tài chính và hành chính của các cơ quan chính quyền trung ương

Những chuyển biến chính sách quan trọng đầu tiên trong công nghiệp điện được khởi sự vào năm 1986, với mục tiêu bảo đảm đầu tư từ những tổ chức trước đây bị ngăn cản Việc cải tổ bao gồm nhiều biện pháp mở rộng các nguồn tài trợ và tăng giá điện, nhằm thu hút các nhà máy đầu tư Trước hết, chính quyền trung ương từ

bỏ độc quyền đầu tư vào cơ sở hạ tầng điện, và cho phép các cấp chính quyền bên dưới, các doanh nghiệp nhà nước và các công ty nước ngoài được xây dựng và sự hữu các nhà máy phát điện Ủy ban kế hoạch nhà nước còn phân cấp quy trình duyệt xét dự án Ủy ban này vẫn duy trì thẩm quyền xét duyệt các dự án lớn và tất

cả các dự án liên quan đến các nhà đầu tư nước ngoài, còn các dự án 50MW (30triệu đô la Mỹ) hay nhỏ hơn sẽ đòi hỏi chính quyền tỉnh xét duyệt Ba biến thể của những nhà sản xuất độc lập kiểu mới đã hình thành: sở hữu của chính quyền

Trang 38

tỉnh, của chính quyền đia phương, và của các doanh nghiệp phi chính phủ Vào cuối thập niên 1990, các nhà sản xuất điện này đã kiểm soát 54% tổng công suất lắp đặt quốc gia (bảng 2.2)

10%

Khách hàng Khách hàng

Chínhquyềnđiaphương Chính quyền tỉnh

Bộ công nghiệp

Bảng 2.2 Hệ thống điện sau những Cải tổ ban đầu

- Linh hoạt trong giá bán điện năng các nhà máy phát điện

Để khuyến khích đầu tư, chính quyền trung ương đã thiết lập giá biên đặc biệt

cho mọi nhà máy điện phát triển mới Đối với các nhà máy cũ, được xây dựng trước năm 1985 với các trợ cấp của nhà nước giá phát điện chỉ bao gồm các chi phí thiết

bị và xây dựng, chi phí vận hành nhà máy, chi phí truyền tải và phân phối Chính sách được cải tổ, tạo nên hai loại giá cho hai loại nhà máy phát điện cũ và mới, ấn định một công thức về giá biểu điện năng mới căn cứ trên cơ sở chi phí cộng thêm đảm bảo một tỷ suất hoàn vốn 12 -15% và đưa ra một lịch biểu hoàn vốn, thường chỉ trên 10 năm cho các nhà máy với tuổi thọ dài hơn Cuộc cải tổ đã nhận thức rằng điện năng được sản xuất bởi các nhà máy mới sẽ đắt hơn, so với các nhà máy

cũ được nhà nước tài trợ, bởi vì những nhà máy này đã không phải chịu các chi phí

về vốn và thường hưởng lợi từ việc cung cấp nhiên liệu rẻ hơn theo quy hoạch trung

Trang 39

ương Trong thực tế, chính sách mới đã cho phép giá bán lẻ được thiết lập riêng rẽ trên cơ sở chi phí được chấp thuận của nhà máy điện

Bảng 2.3 Bình quân trả cho các nhà máy điện năm 2002

- Linh hoạt trong giá bán điện năng cho các hộ tiêu thụ

Một quản phí 0,02RMB (đồng nhân dân tệ) (0,24 Us cent) mỗi KWh được cộng

vào gía điện của người dùng trên cả nước để tăng vốn cho qũy xây dựng điện Chính quyền trung ương đã phân bổ một nửa các số thu từ hệ thống điện nhà nước trực thuộc Bộ công nghiệp (sau năm 1997) là công ty điện lực quốc gia Bao gồm các cấp thuộc tỉnh) để phát triển nguồn phát điện, truyền tải và phân phối, và giao một nửa cho chính quyền các tỉnh để thành lập các công ty điện năng và cho các nhà sản điện độc lập Thêm vào đó, những chi phí đặc biệt được thu bởi cả chính quyền trung ương và địa phương, để tài trợ các dự án chuyên biệt như xây dựng dự

án thủy điện Tam Hiệp Bảng 2.4 cho thấy các giá biểu phải chi trả của những người sử dụng khác nhau tại vùng thành thị của tỉnh Quảng Đông Lưu ý rằng giá điện của tỉnh Quảng Đông là thuộc loại cao nhất trong nước Xem xét theo mức thu nhập tương đối, giá điện Trung Quốc nói chung không thấp hơn so với nhiều nước đang phát triển hay đã phát triển

Trang 40

Bảng 2.4 Giá biểu cho người sử dụng điện vùng đô thị Quảng Đông 1999

Người sử

dụng

Giá bán điện lưới

Phí xây dựng điện

Tam Hiệp Phí nhiên

liệu đia phương

bổ sung

Phí thành phố

- Tìm kiếm những nguồn vốn đầu tư

Năm 1995, trung Quốc đã thông qua luật điện năng quốc gia đầu tiên, dành cho những nhà đầu tư mới sử dụng công nhận và bảo vệ pháp lý chính thức

Trong thời kỳ chính quyền trung ương bắt đầu khuyến khích các nhà máy đầu tư mới vào lĩnh vực điện, hệ thống tài chính cũng được cải tổ dần Nó đã thử nghiệm trong suốt những năm 1980 và đầu 1990 với nhiều cơ chế khác nhau, cho phép các doanh nghiệp nhà nước giữ lại một phần lãi của họ, nhằm gia tăng tự trị và khuyến khích sản xuất Thêm vào đó, Trung Quốc dần dần từ bỏ việc phân bổ vốn ngân sách ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp nhà nước qua các khoản vay ngân hàng nhà nước, chính quyền trung ương đã nới lỏng kiểm soát các thị trường vốn phi ngân sách của mình, cho phép các xí nghiệp nhà nước lựa chọn phương sách tăng qũy thông qua các thị trường chứng khoán Thí dụ, công ty Quốc tế Hoa Năng được thành lập bởi chính quyền trung ương năm 1985 đã tiếp cận các thị trường chứng

Ngày đăng: 04/04/2021, 06:47

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w