Từ khóa: Phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động, Mô hình kết hợp về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ, Chi phí chuyển đổi, Sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế... Luận văn cao học QTKD-K
Trang 1Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
PHẠM ĐÌNH HUY
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH SỬ DỤNG PHẦN MỀM DẪN ĐƯỜNG TRÊN ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 08 NĂM 2010
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS CAO HÀO THI
Cán bộ chấm nhận xét 1: PGS TS NGUYỄN THỐNG
Cán bộ chấm nhận xét 2: TS NGUYỄN VĂN NGÃI
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày 17 tháng 08 năm 2010 Thành phần Hội đồng chấm đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS TS NGUYỄN THỐNG
2 TS CAO HÀO THI
3 TS NGUYỄN VĂN NGÃI
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HCM CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
Tp HCM, ngày 28 tháng 06 năm 2010
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: Phạm Đình Huy Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 02/12/1983 Nơi sinh: Tỉnh Cà Mau
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Khoá (Năm trúng tuyển): 2008
1- TÊN ĐỀ TÀI: Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng phần mềm dẫn
đường trên điện thoại di động
2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN: Luận văn thực hiện các nhiệm vụ dưới đây:
- Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động
- Đo lường ý định sử dụng phần mềm thông qua các biến độc lập
- Xem xét yếu tố nào là quan trọng nhất (trọng số) ảnh hưởng đến ý định sử dụng phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 01/02/2010
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 25/06/2010
5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN (Ghi đầy đủ học hàm, học vị): TS Cao Hào Thi
Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN
(Họ tên và chữ ký)
Trang 4ABSTRACT
Mobile Navigation is projected to be the highest revenue-generating in mobile application but the number of users of this application in Viet Nam is still limited This paper empirically investigated what factors make the mobile subscribers reluctant to use mobile navigation For the purpose, the Unified Theory of Acceptance and Use of Technology (UTAUT) model, adding the concepts of move-
in cost and attractiveness of alternativeness were employed As a result, “facilitating condition”, "perceived usefulness", "perceived ease-of-use" and "social influence" are positively related to the intention to use while “move-in cost” is negatively related However, "attractiveness of alternativeness" was found to have no significant influence in developing the intention to use Mobile Navigation and
"perceived ease-of-use" is a sub factor of perceived usefulness
Key Words: Mobile Navigation, Unified Theory of Acceptance and Use of Technology (UTAUT), Move-in Cost, Attractiveness of Alternativeness
Trang 5TÓM TẮT
Phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động là ứng dụng thu được nhiều lợi nhuận nhất trong các ứng dụng trên điện thoại nhưng số lượng người sử dụng ở Việt Nam thì rất hạn chế Do đó nghiên cứu này sẽ tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định
sử dụng phần mềm Mô hình kết hợp về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ, thêm hai nhân tố chi phí chuyển đổi và sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế là các thành phần mà đề tài nghiên cứu sử dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần “các điều kiện thuận tiện”, “nhận thức tính hữu ích”, ”nhận thức tính dễ sử dụng” và
“ảnh hưởng của xã hội” tương quan đồng biến với ý định sử dụng phần mềm, trong khi đó “chi phí chuyển đổi” tương quan nghịch biến Tuy nhiên, “sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế” lại không có ảnh hưởng đến ý định sử dụng và “nhận thức tính
dễ sử dụng” là một nhân tố con của thành phần nhận thức sự hữu ích
Từ khóa: Phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động, Mô hình kết hợp về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ, Chi phí chuyển đổi, Sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn thầy Cao Hào Thi đã tận tình hướng dẫn, góp ý và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này Nếu không có sự giúp đỡ của thầy thì tôi không thể hoàn thành được luận văn Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Quản lý công nghiệp, Phòng đào tạo Sau đại học Trường đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh, các học viên lớp MBA 2008 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian khóa học vừa qua Những lời cảm ơn sau cùng xin dành cho ba mẹ, các em trong gia đình đã hết lòng quan tâm và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này
Phạm Đình Huy
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hỗ trợ từ Thầy hướng dẫn, những người tôi đã cảm ơn và trích dẫn trong luận văn này Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
TP.HCM, ngày 28 tháng 06 năm 2010
Tác giả
Phạm Đình Huy
Trang 8Bảng 3.2: Các thang đo được sử dụng trong nghiên cứu 30 Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến ảnh hưởng đến ý định sử dụng 35
Bảng 4.8: Bảng xác định tầm quan trọng của các biến độc lập 47
Trang 9CÁC CHỮ VIẾT TẮT
3G : Third Generation (Thế hệ điện thoại thứ 3)
EFA : Exploratory Factor Analysis (Phân tích nhân tố khám phá) GPS : Global Positioning System (Hệ thống định vị toàn cầu) GPRS : General packet radio service
(Dịch vụ truyền nhận dữ liệu bằng sóng radio) LBS : Location Based Services (Các dịch vụ dựa trên định vị) PDA : Personal Digital Assistant (Thiết bị số hỗ trợ cá nhân)
(Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ) TRA : Theory of Reasoned Action (Thuyết hành động hợp lý) TPB : Theory of Planned Behaviour (Thuyết hành vi dự định) UTAUT : Unified Theory of Acceptance and Use of Technology
(Mô hình kết hợp về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ)
Trang 10MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Nhiệm vụ luận văn thạc sĩ
Abstract
Tóm tắt
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục hình và bảng biểu
Các chữ viết tắt
CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU
1.1 Tổng quan về phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động 1
1.1.1 Định nghĩa phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động 2
1.1.2 Thực trạng trên thế giới 3
1.1.3 Thực trạng ở Việt Nam 6
1.2 Đặt vấn đề 8
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 8
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu 8
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 9
1.4 Phạm vi nghiên cứu 9
1.5 Bố cục luận văn 9
1.6 Ý nghĩa thực tiễn 10
CHƯƠNG 2 - CƠ SỚ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Thuyết hành động hợp lý 11
2.2 Thuyết hành vi dự định 12
2.3 Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ 12
2.4 Mô hình kết hợp về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ 14
2.5 Mô hình nghiên cứu 15
Tóm tắt chương 2 22
CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thiết kế nghiên cứu 23
3.2 Nghiên cứu định tính 24
3.2.1 Các thông tin cần thu thập 24
3.2.2 Đối tượng phỏng vấn 25
3.3 Nghiên cứu chính thức 25
Trang 113.3.1 Nghiên cứu sơ bộ và hiệu chỉnh thang đo 25
3.3.2 Thiết kế thang đo cho bảng câu hỏi 26
3.3.3 Diễn đạt và mã hóa thang đo 29
3.4 Nghiên cứu định lượng 29
3.4.1 Thiết kế mẫu 29
a Tổng thể nghiên cứu 29
b Khung chọn mẫu 29
c Phương pháp chọn mẫu 29
d Kích thước mẫu 31
e Cách lấy mẫu 31
3.4.2 Các kết quả và thông tin về mẫu 31
3.4.3 Thu thập và phân tích dữ liệu 32
Tóm tắt chương 3 32
CHƯƠNG 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thống kê mô tả các biến định tính 33
4.1.1 Kết quả khảo sát về giới tính 33
4.1.2 Kết quả khảo sát về tuổi 33
4.1.3 Kết quả khảo sát về trình độ 33
4.1.4 Kết quả khảo sát về nghề nghiệp 33
4.1.5 Kết quả khảo sát về số ngày đi du lịch trung bình trong một năm 34
4.1.6 Kết quả khảo sát về số ngày đi công tác xa trung bình trong một năm 34
4.1.7 Kết quả khảo sát về mức thu nhập 34
4.1.8 Kết quả khảo sát về tính năng của điện thọai 34
4.2 Thống kê mô tả các biến độc lập và phụ thuộc 35
4.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng phần mềm 35
4.2.2 Ý định sử dụng 36
4.3 Phân tích độ tin cậy 36
4.3.1 Thang đo các biến độc lập 37
4.3.2 Thang đo ý định sử dụng 39
4.4 Phân tích nhân tố 39
4.5 Mô hình điều chỉnh 41
4.6 Kiểm định mô hình 43
4.6.1 Kiểm định hệ số tương quan Pearson 43
4.6.2 Phân tích hồi quy 44
4.7 Kết quả kiểm định giả thuyết 47
Trang 124.8 Kiểm định sự khác biệt của các biến định tính 49
4.8.1 Kiểm định ý định sử dụng giữa phái nam và nữ 49
4.8.2 Kiểm định ý định sử dụng giữa những người có độ tuổi khác nhau 50
4.8.3 Kiểm định ý định sử dụng giữa những người có trình độ khác nhau 50
4.8.4 Kiểm định ý định sử dụng giữa những người có nghề nghiệp khác nhau 4.8.5 Kiểm định ý định sử dụng giữa những người có số ngày đi du lịch khác
nhau 4.8.6 Kiểm định ý định sử dụng giữa những người có số ngày đi công tác khác nhau 4.8.7 Kiểm định ý định sử dụng giữa những người có thu nhập khác nhau 51
4.8.8 Kiểm định ý định sử dụng dựa trên tính năng điện thoại 52
Tóm tắt chương 4 53
CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 Kết quả và đóng góp của đề tài 54
5.1 Kết quả 54
5.2 Đóng góp của đề tài 55
5.2 Các hàm ý về mặt quản lý 54
5.2.1 Ý nghĩa thực tiễn 55
5.2.2 Kiến nghị một số giải pháp để áp dụng kết quả nghiên cứu 55
5.3 Các hạn chế và nghiên cứu tiếp theo 58
5.3.1 Hạn chế 58
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 58
Tài liệu tham khảo 59
Phụ lục A 63
Phụ lục B 72
Trang 13Luận văn cao học QTKD-K2008 1 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Theo một cuộc khảo sát sơ bộ thị trường tại Thành Phố Hồ Chí Minh tháng 6/2009
của Green Control thì có khoảng 70% người trả lời cho biết đã từng sử dụng hoặc
đã nghe nói đến các chương trình tìm và dẫn đường, điện thoại có thể sử dụng được
phần mềm là 65%, cơ sở hạ tầng của các nhà công ty viễn thông tương đối tốt với
sự ra đời của 3G của Viettel, MobiFone và VinaPhone vào cuối năm 2009 Phần
mềm dẫn và tìm đường lại rất thành công ở Mỹ và Châu Âu theo ReportLinker cuối
năm 2009 thì có 150 triệu người sử dụng phần mềm tìm và dẫn đường trên điện
thoại di động, có khoảng 500 triệu thuê bao điện thoại ở Châu Âu, 300 triệu ở Mỹ
(Dataxis, 2009) Như vậy tỉ lệ sử dụng phần mềm tìm và dẫn đường là 18.75% Số
lượng thuê bao thật của Việt Nam khoảng 50 triệu theo VnExpress, nhưng số lượng
người sử dụng phần mềm dẫn đường và tìm đường thì rất ít tại Việt Nam, tỉ lệ sử
dụng chưa đến 1% (Green Control, 2009) Như vậy yếu tố nào tác động vào nhận
thức của cá nhân trong việc sử dụng phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động
là một vấn đề cần quan tâm của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này, đó chính là lý
do hình thành nghiên cứu Chương này giới thiệu tổng quan về phần mềm dẫn
đường, các khái niệm cơ bản, thực trạng sử dụng phần mềm dẫn đường trên thế
giới và Việt Nam, lý do hình thành đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Tổng quan về phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động
Năm 2005, GPS (Global Positioning System, hệ thống định vị toàn cầu dùng để xác
định vị trí của một đối tượng nào đó trên thế giới) là khái niệm mơ hồ với nhiều
người Công nghệ phát triển, chip thu tín hiệu ngày càng nhỏ và tích hợp mọi thiết
bị kỹ thuật số thì GPS dần quen thuộc, trở thành “vũ khí” chinh phục của nhà sản
xuất
Theo nhận định của giới công nghệ, hệ thống định vị toàn cầu – GPS – cực kỳ hữu
ích trong việc giúp người dùng xác định vị trí cũng như định hướng di chuyển Tuy
nhiên, thời gian trước đây bên cạnh việc các tọa độ được định vị còn khá thưa thớt,
không đầy đủ thì những thông tin mà GPS cung cấp vẫn chỉ ở dạng các tọa độ, khó
Trang 14Luận văn cao học QTKD-K2008 2 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
tiếp cận với phần đông người tiêu dùng bình thường Chính vì thế, GPS chủ yếu chỉ
được dùng trong giới nghiên cứu hoặc những người say mê “trò chơi” tìm đường
Trong khi những nhà nghiên cứu, thám hiểm vẫn trung thành với dòng máy GPS
chuyên biệt thì việc những con chip thu sóng ngày càng nhỏ gọn hơn và có thể tích
hợp vào bất kì thiết bị di động cầm tay nào lại mở ra một thị trường rộng lớn hơn
cho công nghệ này Hiện nay những chiếc PDA (Personal Digital Assistant, thiết bị
hỗ trợ số dùng cho cá nhân, giống như một máy tính thu nhỏ nhưng tính năng sẽ
hạn chế) hay điện thoại di động đều lần lượt được trang bị thêm tính năng GPS,
thậm chí có hãng sản xuất máy ảnh kỹ thuật số cũng đã tiết lộ về dòng máy tích hợp
chip định vị toàn cầu Song song đó, những phần mềm bản đồ liên tục ra đời và
“phủ sóng” mọi ngóc ngách trên thế giới đã giúp GPS phát huy vai trò của mình
một cách mạnh mẽ hơn Với một chiếc điện thoại di động có tích hợp tính năng
GPS và phần mềm bản đồ phù hợp, người dùng sẽ không sợ lạc đường tại một
thành phố xa lạ hoặc ngay cả khi ở trong thành phố quen thuộc của mình thì tính
năng GPS cũng có thể phát huy vai trò giúp tìm đường thoát khỏi những khu vực
kẹt xe dễ dàng hơn (DIGILIFE, 2008)
1.1 1 Định nghĩa phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động
Phần mềm dẫn đường trên điện thoại động là một dịch vụ mà nó cho phép người sử
dụng xác định được vị trí của họ đang đứng, tìm kiếm các vị trí khác, hướng dẫn
bằng cách nào để đi đến đó (Navinova, Phần Lan, 2007)
Có thể hiểu cách khác, phần mềm dẫn đường cho đi động được cài đặt vào điện
thoại và được sử dụng để tìm đường và dẫn đường Người sử dụng có thể tìm kiếm
địa chỉ hoặc các địa điểm như nhà hàng, khách sạn, quán ăn vv , chia sẻ địa điểm
ưa thích với bạn bè, các thông tin về thời tiết…Nếu điện thoại có tích hợp thiết bị
GPS (thiết bị định vị toàn cầu), phần mềm còn giúp cho người sử dụng luôn biết
được mình phải rẽ trái, rẽ phải ở đoạn đường nào với hướng dẫn bằng bản đồ và
giọng nói (khác với các phần mềm chỉ đơn thuần hiển thị bản đồ và chỉ dẫn bằng
chữ viết) Các điện thoại hỗ trợ cài đặt phần mềm và kết nối internet thì sử dụng
được phần mềm này
Trang 15Luận văn cao học QTKD-K2008 3 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Phần mềm dẫn đường trên điện thoại có 2 dạng: một là on-board có nghĩa dữ liệu về
bản đồ sẽ lưu trữ vào điện thoại; dạng thứ 2 là off-board dữ liệu bản đồ sẽ lưu trữ
trên máy chủ khi điện thoại cần thông tin thì sẽ truy vấn trực tiếp lên máy chủ thông
qua internet
Trong nghiên cứu này chỉ cố gắng tập trung vào nghiên cứu phần mềm dẫn đường
trên điện thoại di động ở dạng off-board vì on-board dữ liệu bản đồ sẽ được cài vào
điện thoại nó đòi hỏi điện thoại phải có cấu hình cao, do đó số lượng điện thoại sẽ bị
hạn chế Một số hình ảnh về phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động được
LBS (Location Based Services, các dịch vụ dựa trên định vị như xác định vị trí của
điện thoại di động, vị trí của một người nào đó…) đã được triển khai và phát triển
từ nhiều năm nay trên thế giới Tuy nhiên cho đến cuối những năm 1990, LBS vẫn
chưa được phát triển rộng rãi vì những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Các phương pháp định vị có độ chính xác chưa cao, khả năng truyền tải dữ liệu
Trang 16Luận văn cao học QTKD-K2008 4 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
- Thiết bị cầm tay có màn hình hiển thị và khả năng xử lý không phù hợp nên chưa
có khả năng đáp ứng nhu cầu
- Điện thoại di động chưa phát triển
- Hệ thống mạng và cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được và chỉ tập trung một vài nơi
trung tâm
- Chưa có bản đồ số hoàn chỉnh
- Thiếu các tiêu chuẩn trong công nghệ và các vấn đề liên kết với nhau giữa người
dùng và nhà cung cấp dịch vụ, hay các nhà cung cấp với nhau
- Tiếp thị không thành công - nhận thức của người tiêu dùng về phạm vi ứng dụng
và lợi ích mang lại của LBS còn quá ít
- Các dịch vụ còn nghèo nàn và chưa có hiệu quả cao, chi phí quá đắt so với người
dùng
- Mối quan tâm về việc vi phạm quyền riêng tư
Đến năm 1999, khi mà sự phát triển công nghệ nhanh chóng, cơ sở hạ tầng và các
điều kiện được đáp ứng, pháp luật rõ ràng cùng với sự phát triển của các thuê bao sử
dụng điện thoại di động thì các dịch vụ dựa trên vị trí được phát triển rộng rãi đặc
biệt là ở các nước phát triển Các cuộc thi về ý tưởng, hội thảo chuyên ngành, cũng
như về mô hình kinh doanh cung cấp dịch vụ LBS đã được tổ chức thường xuyên
hàng năm ở nhiều quốc gia Nhiều chuyên gia phân tích nổi tiếng và các tổ chức
nghiên cứu thị trường hàng đầu, các công ty lớn trong các ngành công nghệ viễn
thông, định vị, sản xuất thiết bị điện tử trên khắp thế giới tỏ ra rất quan tâm đến thị
trường tiềm năng LBS này Theo Jack Gold, một chuyên gia của công ty nghiên cứu
J.Gold Associates Hoa Kỳ tin tưởng rằng tính năng định vị sẽ là một trong những
tính năng di động sử dụng nhiều nhất giống như dịch vụ tin nhắn SMS trong vài
năm tới Một số nhà phân tích khác (ABI Research, Gartner) cũng cho rằng chỉ
riêng giá trị dịch vụ tìm đường trên điện thoại di động cũng sẽ đưa lại nguồn thu
trên hàng trăm triệu USD/năm Thực tế cho thấy doanh thu từ dịch vụ này tăng
nhanh chóng qua các năm Theo nghiên cứu mới đây của công ty nghiên cứu thị
trường Gartner tháng 11 năm 2008 thì số người đăng ký sử dụng dịch vụ LBS trên
Trang 17Luận văn cao học QTKD-K2008 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
toàn cầu là 16 triệu người và dự báo đạt khoảng 43.2 triệu người đăng ký trong năm
2008 (tăng 170%) và doanh thu từ 485 triệu USD trong 2007 lên 1,3 tỉ USD năm
2008 (tăng 168%) Gartner cũng cho rằng LBS sẽ được sử dụng phổ biến khắp toàn
cầu trong 2 đến 5 năm tới Doanh thu sẽ đạt 8 tỉ USD vào năm 2011 Còn theo
nghiên cứu của ABI, công bố ngày 4 tháng 4 năm 2008, LBS phát triển từ 515 triệu
USD năm 2007 đến 13,3 tỷ USD vào năm 2013 Riêng thị trường châu Âu, mức
tăng trưởng trung bình là 34% năm và đạt 622 triệu EUR tương đương 788 triệu
USD vào năm 2010 Thị trường bao gồm 13 nước châu Á- Thái Bình Dương được
kỳ vọng là thị trường phát triển nhanh nhất với hai cường quốc về công nghệ điện tử
viễn thông hàng đầu Nhật Bản và Hàn Quốc giành được doanh thu 383,6 triệu USD
trong năm 2007 và đến năm 2013 sẽ là 2,8 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng hàng năm
39,3% (giai đoạn 2007-2013)
Theo các nghiên cứu trên ta thấy thị trường LBS là một thị trường mới nổi và đầy
tiềm năng trong tương lai Các công ty sản xuất và cung cấp dịch vụ đã có động thái
muốn nhảy vào thị trường này là ông trùm trong lĩnh vực sản xuất điện thoại di
động Nokia (chiếm 38,6% thị phần ĐTDĐ) tuyên bố sẽ mua nhà cung cấp bản đồ
kỹ thuật số Navteq (Mỹ) với giá 8,1 tỷ USD Xu hướng này cho thấy LBS đang là
mục tiêu chung của các nhà sản xuất phần cứng và nhà cung cấp dịch vụ
LBS là dịch vụ dựa trên vị trí được sử dụng chủ yếu thông qua công cụ là chiếc điện
thoại di động, nên chịu tác động và ảnh hưởng rất lớn từ thị trường điện thoại, đặc
biệt là điện thoại thông minh Theo Gartner (2009), ước tính thị trường điện thoại
thông minh sẽ tăng 52% với khoảng 190tr chiếc/năm Thị trường Ấn độ, Trung
đông, Châu Phi là một thị trường lớn, trong khi đó thị trường Châu Âu, Trung
Quốc, Mỹ la tinh là thị trường phát triển chậm hơn Các chuyên gia (ABI Research,
Nokia, Research In Motion) cũng dự báo năm 2009 sẽ là năm của các dòng điện
thoại thông minh
Đánh giá từ khía cạnh số lượng khách hàng, người sử dụng sẵn sàng bỏ qua những
điểm yếu của dịch vụ định vị Chẳng hạn, hãng Networks In Motion có 1 triệu
khách hàng, từ những người trả 3 USD/ngày cho tới những người trả 10 USD/tháng
Trang 18Luận văn cao học QTKD-K2008 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Các nhà cung cấp khác bao gồm Sprint Nextel Corp, với dịch vụ tìm kiếm địa
phương Ask.com, và InfoSpace Inc giúp người sử dụng điện thoại tìm nhà hàng hay
dịch vụ từ vị trí của họ (Reuters, 2007)
1.1.3 Thực trạng ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam gia nhập vào WTO, chính
thức bước vào thị trường quốc tế, cùng với việc học tập được phong cách làm việc
chuyên nghiệp, tiếp cận và ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao
trình độ Việt Nam đã và đang có nhiều thuận lợi trong việc phát triển các công
nghệ cao, trong đó có các công nghệ về viễn thông và điện thoại di động Đây là
điều kiện cần để LBS thâm nhập vào thị trường Việt Nam Thực tế ở nước ta cách
đây vài năm, một số nhà cung cấp tận dụng ưu điểm của tin nhắn điện thoại để đưa
ra dịch vụ chỉ đường bằng tin nhắn cho khách hàng, điển hình là dịch vụ nhắn tin
qua tổng đài 333 Tuy nhiên việc nhắn tin còn phụ thuộc quá nhiều vào nhà cung
cấp với những yếu tố như chất lượng mạng, sóng điện thoại , và nhược điểm lớn
nhất của công nghệ này là người sử dụng phải mất tiền cho mỗi lần muốn tìm
đường (cước tin nhắn), sau đó phải đọc và nhớ đoạn văn bản (text) hướng dẫn mới
đi được Bên cạnh dịch vụ nhắn tin, các website có dịch vụ chỉ đường hiện nay như
www.basao.com.vn, www.diadiem.com lúc đầu cũng đã từng được người dùng
chào đón nồng nhiệt, khi muốn đi đến điểm nào đó, người sử dụng vào mạng
Internet và nhập những yêu cầu cần thiết như điểm đi, điểm đến và hệ thống sẽ chỉ
ra lộ trình đi Dịch vụ này tiện lợi hơn dịch vụ hỏi đường bằng tin nhắn một chút vì
người dùng thấy được bản đồ tương đối chi tiết Tuy nhiên để sử dụng được dịch vụ
này, người dùng cần có một chiếc máy tính kết nối Internet Đó cũng chính là yếu tố
bất tiện vì không thể vừa lái xe vừa thao tác trên máy tính hoặc lúc nào cũng phải
mang kè kè chiếc máy tính bên mình
Với công nghệ bản đồ trực tuyến hay GPS, người sử dụng chẳng cần phải dừng xe
hơi để hỏi đường hoặc giở bản đồ để tìm hướng đi tiếp Chỉ cần điền vào đó điểm
đến trước lúc khởi hành vài ba giây, hệ thống sẽ tự điều chỉnh lộ trình sao cho người
dùng dễ dàng quan sát và đảm bảo một cự ly ngắn nhất
Trang 19Luận văn cao học QTKD-K2008 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Tại thời điểm này, đa số những chiếc điện thoại GPS đã có thể dùng được ở Việt
Nam với ít nhất hai gói bản đồ là Hà Nội và Tp.HCM Tùy thuộc vào các phần mềm
được tích hợp vào mà các ứng dụng có được là nhiều hay ít
Bên cạnh điện thoại Nokia N95, hiện nay trên thị trường cũng đã có nhiều mẫu điện
thoại được tích hợp sẵn chip GPS như O2 Orbit, HTC P3300, HTC X7500, Eten
Glofiish X500; Mỗi máy đều tích hợp các phần mềm kèm theo, nhưng để sử dụng ở
Việt Nam, người dùng cần cài đặt phần mềm thích hợp để có thể sử dụng được
những gói bản đồ trong nước; Những phần mềm mạnh nhất hiện nay đều sử dụng
trên nền hệ điều hành Windows Mobile, tiêu biểu nhất là OziExplorer và Vietmap
(70 USD), tính năng của các phần mềm này cũng gần tương tự như NAVFone Pro
Hệ thống bản đồ của OziExplorer được phát triển bởi ChieuTruc và các thành viên
khác trên diễn đàn gsm.com.vn, có dữ liệu của rất nhiều địa phương trên cả nước
Hệ thống này có một điểm hạn chế là khi phóng quá to thì bản đồ dạng file.jpg này
dễ bị vỡ hình Riêng Vietmap là phần mềm có bản quyền, hệ thống bản đồ dạng số
nên khắc phục được điểm yếu nói trên của OziExplorer, phần mềm này được đánh
giá là mạnh nhất hiện nay
Cuối năm 2006, tại TP Hồ Chí Minh, VietMap đã công bố 2 sản phẩm
VIETMAP-GPSmiles52 và VIETMAP-GPSr12 bao gồm thiết bị định vị toàn cầu và phần mềm
điều khiển kèm bản đồ của 22 tỉnh, thành phố lớn tại Việt Nam
VIETMAP-GPSmiles52 giống như cuốn cẩm nang tra cứu thông tin và du lịch cập nhật 36 loại
thông tin với hơn 10.000 mẫu tin phục vụ nhu cầu: giao thông, địa chỉ giao dịch, du
lịch giải trí, cơ quan hành chính Tương tự các tính năng đó, VIETMAP-GPSr12
dành cho người sử dụng thiết bị cầm tay cá nhân (PDA hay PocketPC) gồm phần
mềm điều khiển, thiết bị thu tín hiệu GPS và giá đỡ PDA/Phone Rẻ hơn thiết bị gắn
trên ô tô 300 USD (4,8 triệu đồng), VIETMAP-GPSr12 có giá 220 USD (khoảng
3,52 triệu đồng)
Ngoài ra, thị trường hiện nay còn có những thiết bị được gọi là GPS Bluetooth
Receiver (giá dao động từ 1,2 đến 1,4 triệu đồng) Đây là loại thiết bị dùng để kết
Trang 20Luận văn cao học QTKD-K2008 8 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
nối GPS cho những máy điện thoại, PPC dùng hệ điều hành Windows Mobile hoặc
Symbian không tích hợp sẵn chip GPS
GPS Bluetooth Receiver là thiết bị trung gian, bắt tín hiệu từ vệ tinh rồi truyền qua
điện thoại bằng sóng Bluetooth Như vậy, những chiếc điện thoại Symbian phổ biến
hiện nay cũng có thể sử dụng được GPS bằng cách mua thêm thiết bị này và cài đặt
phần mềm SmartComGPS
1.2 Đặt vấn đề
Theo một cuộc khảo sát sơ bộ thị trường tại Thành Phố Hồ Chí Minh tháng 6/2009
của Green Control thì có khoảng 70% người trả lời cho biết đã từng sử dụng hoặc
đã nghe nói đến các chương trình tìm và dẫn đường, điện thoại có thể sử dụng được
phần mềm là 65%, cơ sở hạ tầng của các nhà công ty viễn thông tương đối tốt với
sự ra đời của 3G của Viettel, MobiFone và VinaPhone vào cuối năm 2009 Phần
mềm dẫn và tìm đường lại rất thành công ở Mỹ và Châu Âu theo ReportLinker cuối
năm 2009 thì có 150 triệu người sử dụng phần mềm tìm và dẫn đường trên điện
thoại di động, có khoảng 500 triệu thuê bao điện thoại ở Châu Âu, 300 triệu ở Mỹ
(Dataxis, 2009) Như vậy tỉ lệ sử dụng phần mềm tìm và dẫn đường là 18.75% Số
lượng thuê bao thật của Việt Nam khoảng 50 triệu theo VnExpress, nhưng số lượng
người sử dụng phần mềm dẫn đường và tìm đường thì rất ít tại Việt Nam, tỉ lệ sử
dụng chưa đến 1% (Green Control, 2009)
Như vậy yếu tố nào tác động vào nhận thức của cá nhân trong việc sử dụng phần
mềm dẫn đường trên điện thoại di động là một vấn đề cần quan tâm của các doanh
nghiệp làm về sản phẩm này Đó chính là lý do hình thành đề tài “Khảo sát các yếu
tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động.”
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là:
- Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng phần mềm dẫn đường trên điện
thoại di động
- Đo lường ý định sử dụng phần mềm thông qua các biến độc lập
Trang 21Luận văn cao học QTKD-K2008 9 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
- Xem xét yếu tố nào là quan trọng nhất (trọng số) ảnh hưởng đến ý định sử dụng
phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu trả lời 2 câu hỏi dưới đây:
- Yếu tố nào sẽ ảnh hưởng tới ý định sử dụng phần mềm?
- Yếu tố nào là quan trọng nhất?
1.4 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với những ràng buộc dưới đây:
- Ứng dụng các mô hình nghiên cứu trước đó, thay đổi cho phù hợp với thị trường
Việt Nam
- Đối tượng khảo sát là những người chưa sử dụng và đã sử dụng phần mềm dẫn
đường trên điện thoại di động nhưng có hiểu biết về phần mềm Theo lý thuyết hành
vi, thì người sử dụng phải có nhận biết về phần mềm dẫn đường, đó là bước đầu
tiên trong quá trình ra quyết định sử dụng hay mua sản phẩm/dịch vụ Trong các
nghiên cứu khác về mô hình TAM thì đối tượng nghiên cứu phải có nhận biết về
sản phẩm Do đó bảng câu hỏi sẽ phân loại đối tượng và mô tả sản phẩm trong đoạn
văn đầu tiên để cho người được phỏng vấn hiểu biết hơn về sản phẩm
- Các công ty viết về phần mềm dẫn đường đa số ở Thành phố Hồ Chí Minh và chú
trọng vào khách hàng địa phương trước nên đối tượng nghiên cứu trong phương
pháp định tính cũng chỉ ở Tp HCM
- Phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động được nghiên cứu là dạng off-board
(có nghĩa là dữ liệu về bản đồ không nằm trên điện thoại), on-board (dữ liệu về bản
đồ nằm trên điện thoại)
1.5 Bố cục luận văn
Nội dung của luận văn bao gồm 5 chương:
Chương 1 giới thiệu lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi và phạm
vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Chương 2 tổng quan một số lý thuyết về ý định sử dụng các sản phẩm công nghệ,
Trang 22Luận văn cao học QTKD-K2008 10 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
tiện, Sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế, Chi phí chuyển đổi, Ảnh hưởng của xã hội,
Nhận thức sự hữu ích, Nhận thức dễ sử dụng, trình bày các giả thuyết và mô hình
nghiên cứu
Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu chi tiết, kết quả nghiên cứu định tính,
hiệu chỉnh thang đo, thông tin mẫu
Chương 4 phân tích dữ liệu và trình bày kết quả phân tích dữ liệu
Chương 5 tóm tắt và thảo luận kết quả nghiên cứu, đóng góp của đề tài, ý nghĩa
thực tiễn của đề tài và đề xuất một số giải pháp áp dụng kết quả nghiên cứu vào
thực tiễn, hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
1.6 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp các thông tin dưới đây:
- Cung cấp một cái nhìn tổng quan về hành vi người tiêu dùng đối với phần mềm
dẫn và tìm đường trên điện thoại di động
- Kết quả của nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho các công ty phần mềm thay đổi sản phẩm
cho phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, nhằm tăng số lượng người sử dụng
- Cung cấp thêm thông tin cho quyết định đầu tư hay rút lui khỏi thị trường phần
mềm tìm và dẫn đường trên điện thoại di động
- Xác định nguyên nhân vì sao số người sử dụng phần mềm tìm và dẫn đường là rất
ít hiện nay
Trang 23Luận văn cao học QTKD-K2008 11 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương này các mô hình nghiên cứu trước đó về các sản phẩm công nghệ như
TRA, TAM… và mô hình của các sản phẩm công nghệ tương tự, từ đó tìm ra mô
hình nghiên cứu cho đề tài
2.1 Thuyết hành động hợp lý
Thuyết hành động hợp lý TRA được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1967 và
được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian Mô hình TRA (Ajzen và Fishbein, 1975)
cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng Để
quan tâm hơn về các yếu tố góp phần đến xu hướng mua thì xem xét hai yếu tố là
thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng Mô hình TRA được trình bày ở Hình 2.1
Hình 2.1: Thuyết hành động hợp lý (TRA)
(Nguồn: Schiffman và Kanuk, Consumer behavior, Prentice – Hall International Editions, 3rd ed, 1987) Trong mô hình TRA, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của
sản phẩm Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần
thiết và có mức độ quan trọng khác nhau Nếu biết trọng số của các thuộc tính đó thì
có thể dự đoán phần nào kết quả lựa chọn của người tiêu dùng
Niềm tin đối với những
Xu hướng hành vi
Hành vi thật sự
Trang 24Luận văn cao học QTKD-K2008 12 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan
đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…); những người này thích
hay không thích họ mua Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng
mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua
của người tiêu dùng và (2) động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của
những người có ảnh hưởng
2.2 Thuyết hành vi dự định
Thuyết hành động hợp lý TRA bị giới hạn khi dự đoán việc thực hiện các hành vi
của người tiêu dùng mà họ không thể kiểm soát được; yếu tố về thái độ đối với hành
vi và chuẩn chủ quan không đủ để giải thích cho hành động của người tiêu dùng
Thuyết hành vi dự định TPB được Ajen (1985) xây dựng bằng cách bổ sung thêm
yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi vào mô hình TRA Thành phần nhận thức kiểm
soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này
phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi
Thuyết hành vi dự định được trình bày ở Hình 2.2
Hình 2.2: Thuyết hành vi dự định
(Nguồn: http://www.people.umass.edu/aizen/tpb.diag.html)
2.3 Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ
Trong nửa cuối thế kỷ 20, nhiều lý thuyết đã được hình thành và được kiểm nghiệm
nhằm nghiên cứu sự chấp thuận công nghệ của người sử dụng Fishbein và Ajzen
(1975) đã đề xuất Thuyết Hành Động Hợp Lý (TRA), Ajzen (1985) đề xuất Thuyết
Thái độ
Chuẩn chủ quan Xu hướng
hành vi
Hành vi thật sự
Nhận thức kiểm
soát hành vi
Trang 25Luận văn cao học QTKD-K2008 13 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Hành vi Dự Định (TPB), và Davis (1986) đã đề xuất Mô Hình Chấp Nhận Công
Nghệ (TAM) Các lý thuyết này đã được công nhận là các công cụ hữu ích trong
việc dự đoán thái độ của người sử dụng Đặc biệt, mô hình TAM đã được công
nhận rộng rãi là mô hình tin cậy và mạnh trong việc mô hình hóa việc chấp nhận
công nghệ thông tin của người sử dụng “Mục tiêu của TAM là cung cấp một sự
giải thích các yếu tố xác định tổng quát về sự chấp nhận máy tính, những yếu tố này
có khả năng giải thích hành vi người sử dụng xuyên suốt các loại công nghệ người
dùng cuối sử dụng máy tính và cộng đồng sử dụng” (Davis et al 1989, trang 985)
Do đó mục đích của TAM là cung cấp một cơ sở cho việc khảo sát tác động của các
yếu tố bên ngoài vào các yếu tố bên trong là tin tưởng (beliefs), thái độ (attitudes),
và ý định (intentions) TAM được hệ thống để đạt mục đích trên bằng cách nhận
dạng một số ít các biến nền tảng (fundamental variables) đã được các nghiên cứu
trước đó đề xuất, các biến này có liên quan đến thành phần cảm tình (affective) và
nhận thức (cognitive) của việc chấp nhận máy tính Mô hình TAM được trình bày ở
Hình 2.3
Phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động (MN - Mobile Navigator) là một sản
phẩm công nghệ thông tin, do đó, mô hình khảo sát các yếu tố tác động vào việc
chấp nhận sản phẩm công nghệ thông tin cũng được áp dụng thích hợp cho việc
nghiên cứu vấn đề tương tự trên MN
Hình 2.3: Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ
Trang 26Luận văn cao học QTKD-K2008 14 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
2.4 Mô hình kết hợp về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ
Kỳ vọng kết quả thực hiện (Performance Expectancy) được định nghĩa là cấp độ mà
một cá nhân tin rằng sử dụng hệ thống đặc thù nào đó sẽ giúp họ đạt được lợi ích
trong thực hiện công việc Mô hình này được tổng hợp từ 5 mô hình khác có liên
quan trong các mô hình nổi bật đã được thực nghiệm trước đó, các mô hình khác có
liên quan đã được tích hợp trong mô hình này là: Nhận thức sự hữu ích (từ mô hình
TAM), Động Cơ Bên Ngoài (từ mô hình NM), thích hợp công việc (từ mô hình
MPCU), lợi thế có liên quan (từ mô hình IDT), và Kỳ Vọng Kết Quả (từ mô hình
SCT) Các kiến trúc này được đánh giá tương tự nhau và các tác giả đã chọn lọc các
thang đo từ đó cho kiến trúc Kỳ Vọng Kết Quả Thực Hiện này
Ngoài nhân tố Kỳ vọng kết quả thực hiện, mô hình UTAUT còn 3 nhân tố khác
được trình bày dưới đây:
Kỳ vọng nỗ lực (Effort Expectancy) được định nghĩa là mức độ dễ kết hợp với việc
sử dụng hệ thống (thông tin)
Ảnh hưởng xã hội (Social Influence) được định nghĩa là mức độ một cá nhân nhận
thức rằng những người quan trọng khác tin rằng anh/cô ta nên sử dụng hệ thống
mới
Các điều kiện thuận tiện (Facilitating Conditions) được định nghĩa là mức độ mà
một cá nhân tin rằng cơ sở hạ tầng tổ chức và kỹ thuật tồn tại để hỗ trợ sử dụng hệ
thống
Viswanath Venkatesh, Michael G Moris, Gordon B Davis, và Fred D Davis đã
thiết lập mô hình UTAUT, 2003 Mô hình này là mục tiêu thiết lập một quan điểm
chung nhất phục vụ cho việc nghiên cứu sự chấp thuận của người sử dụng về hệ
thống thông tin mới Tám mô hình/lý thuyết thành phần đã được xem xét là:
- TRA (Theory of Reasoned Action)
- TAM (Technology Acceptance Model)
- MM (Motivation Model)
Trang 27Luận văn cao học QTKD-K2008 15 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
- TPB (Theory of Planned Behavior)
- C-TAM-TPB (a model combining TAM and TPB)
- MPCU (Model of PC utilization)
- IDT (Innovation Diffusion Theory)
- SCT (Social Cognitive Theory)
Mô hình UTAUT là một mô hình kết hợp từ các lý thuyết đã được biết đến và cung
cấp nền tảng hướng dẫn cho các nghiên cứu trong tương lai ở lĩnh vực công nghệ
thông tin Bằng cách chứa đựng các khám phá được kết hợp của từng mô hình riêng
biệt và các ảnh hưởng chủ yếu, UTAUT đưa ra các lý thuyết tích lũy trong khi vẫn
duy trì cấu trúc chi tiết Sơ đồ cấu trúc mô hình UTAUT được trình ở Hình 2.4
Hình 2.4: Mô hình kết hợp về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ
(Nguồn: http://www.istheory.yorku.ca/UTAUT.htm)
2.5 Mô hình nghiên cứu
Sau khi xem xét, đánh giá các mô hình nghiên cứu trước đó, phần dưới đây sẽ trình
bày, giải thích các yếu tố mà nghiên cứu đề xuất
Trang 28Luận văn cao học QTKD-K2008 16 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Các điều kiện thuận tiện (Facilitating Conditions) được định nghĩa là mức độ mà
một cá nhân tin rằng tổ chức cơ sở hạ tầng và kỹ thuật tồn tại để hỗ trợ sử dụng hệ
thống Venkatesh et al (2003) Trong ngữ cảnh của phần mềm dẫn đường trên điện
thoại di động có thể chia làm hai loại: tài nguyên bên ngoài (external resource) và
tài nguyên bên trong (internal resource) Tài nguyên bên ngoài là cơ sở hạ tầng
mạng (network) phục vụ kết nối internet trên điện thoại di động (hay được nhắc đến
là GPRS hay 3G), hiện nay cơ sở hạ tầng mạng của các công ty viễn thông (Viettel,
Mobi Phone, Vina Phone) tương đối tốt ở các thành phố, cơ sở hạ tầng tốt sẽ giúp
cho người sử dụng có thể truy cập internet mọi lúc, mọi nơi để sử dụng phần mềm
(phần mềm chỉ sử dụng được khi kết nối với internet vì tất cả các dữ liệu về đường,
địa điểm đều nằm trên server) Nếu cơ sở hạ tầng tốt thì sẽ làm tăng sự thuận tiện
cho việc sử dụng phần mềm Tốc độ truy cập internet trên điện thoại cũng rất quan
trọng vì nếu tốc độ truy cập chậm thì làm cho người sử dụng rất bất tiện (khó chịu)
Tài nguyên bên trong là thiết bị điện thoại hỗ trợ cài đặt phần mềm và kết nối
internet
Tài nguyên bên trong có mối quan hệ mật thiết với chi phí chuyển đổi (switching
cost), đặc biệt là chi phí thay đổi (move-in) bởi vì nếu thiết bị điện thoại không hỗ
trợ cài đặt phần mềm và kết nối internet thì người sử dụng khó có thể tiếp cận phần
mềm dẫn đường trên điện thoại di động Vì vậy, trong nghiên cứu này chỉ quan tâm
đến tài nguyên bên ngoài, còn tài nguyên bên trong đã được thể hiện thông qua chi
phí thay đổi (chuyển đổi, move-in) Nếu người sử dụng có thể truy cập internet tốt
thì sẽ làm tăng ý định sử dụng
Như vậy giả thuyết được đặt ra:
H 1 : Các điều kiện thuận tiện tương quan đồng biến với ý định sử dụng phần
mềm dẫn đường
Rào cản chuyển đổi hay chi phí chuyển đổi là thuật ngữ được dùng rất nhiều trong
kinh tế vi mô, quản lý chiến lược, tiếp thị dùng để mô tả tất cả những cản trở khi
khách hàng (consumer) thay đổi nhà cung cấp Khi một khách hàng thay đổi nhà
Trang 29Luận văn cao học QTKD-K2008 17 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
cung cấp thì tốn các chi phí, những chi phí này được gọi là chi phí chuyển đổi và
trong các ngữ cảnh thì nó được xem xét khác nhau
Thompson và Cats-Baril (2002) định nghĩa chi phí chuyển đổi là “các chi phí kết
hợp khi chuyển đổi nhà cung cấp”, Frarrel và Kemperer (2002) thì định nghĩa rằng
“khách hàng phải đối mặt với chi phí chuyển đổi giữa các nhà cung cấp khi mà một
khoản đầu tư chuyên biệt cho nhà cung cấp hiện tại sẽ phải tốn một chi phí tương tự
khi chuyển đổi nhà cung cấp khác” Rào cản chuyển đổi hay chi phí chuyển đổi
được giải thích với nhiều nghĩa khác nhau Jones et al [3] đã giải thích rằng chi phí
chuyển đổi là chi phí kinh tế, xã hội, tâm lý làm cho khách hàng khó thay đổi nhà
cung cấp và được chia ra làm ba loại: Sức hấp dẫn của sản phẩm thay thế
(attractiveness of alternatives), mối quan hệ giữa cá nhân (Interpersonal
relationship) và nhận thức chi phí chuyển đổi (perceived switching cost)
Sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế (attractiveness of alternatives) được đề cập là
danh tiếng, thượng hiệu và chất lượng dịch vụ của các sản phẩm thay thế hiện có
trên thị trường [3, 4] Sự hấp dẫn của các sản phẩm thay thế tăng lên khi mà nhà
cung cấp dịch vụ không đưa ra được các dịch vụ mà đối thủ khó có thể bắt chước
Trái lại, khi có một vài sự thay thế sẵn có hoặc nhận thức lợi ích khi thay đổi nhà
cung cấp là thấp thì sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế sẽ được thu giảm và khách
hàng không muốn chuyển đổi nhà cung cấp hay dịch vụ [5] Đối với sản phẩm dẫn
đường trên điện thoại thì sản phẩm thay thế rất nhiều, khi chúng ta muốn tìm một
địa điểm, con đường nào đó thì có thể sử dụng bản đồ giấy, website về bản đồ
(diadiem.com, vietbando.com,…), hỏi người quen, bạn bè, người đang đứng gần,
dịch vụ 1080 Đó là những hình thức phổ biến hiện nay ở Việt Nam khi chúng ta
muốn tìm một địa điểm (nhà hàng, khách sạn, quán ăn, công ty, địa chỉ nhà…), con
đường Điều đó cho thấy sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế sẽ tương quan nghịch
biến lên thái độ hướng tới sử dụng phầm mềm và ý định sử dụng phần mềm
Như vậy giả thuyết được đặt ra:
H 2 : Sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế tương quan nghịch biến lên ý định sử
dụng phần mềm trên điện thoại di động
Trang 30Luận văn cao học QTKD-K2008 18 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Mối quan hệ cá nhân (Interpersonal relationship) được đề cập là sức mạnh của mối
quan hệ cá nhân được phát triển giữa khách hàng với nhà cung cấp dịch vụ [3, 6]
Mối quan hệ này được phát triển thông qua quá trình chăm sóc, tin tưởng, quen
thuộc, giao tiếp giữa khách hàng và nhà cung cấp [7] Khách hàng sẽ duy trì dịch vụ
khi mối quan hệ này được xem là mạnh [3, 6] Đối với phần mềm dẫn đường trên
điện thoại sản phẩm thay thế là bản đồ giấy, website về bản đồ (diadiem.com,
vietbando.com), hỏi người quen, bạn bè, người đang đứng gần, dịch vụ 1080 Các
dịch vụ này hiện tại ở Việt Nam không có mối quan hệ này giữa nhà cung cấp và
khách hàng
Đối với bản đồ giấy chúng ta chỉ mua một lần và nhà cung cấp không có mối quan
hệ nào với khách hàng sau khi mua, website về bản đồ là một ứng dụng web miễn
phí và cũng không có sự tương tác giữa nhà cung cấp với khách hàng, quá trình
cũng tương tự đối với dịch vụ 1080 Vì vậy, chúng ta không xét đến yếu tố mối
quan hệ cá nhân vì sản phẩm thay thế (bản đồ giấy) không có mối quan hệ nào giữa
người bán và mua sau khi giao dịch được thực hiện, nếu người dùng cần mua một
bản đồ giấy Tp HCM thì họ có thể ra nhà sách mua và sau đó khi không còn có mối
quan hệ nào giữa nhà sách và người mua
Nhận thức chi phí chuyển đổi là cấp độ mà một cá nhân tin tưởng rằng khi chuyển
đổi nhà cung cấp thì sẽ tồn tại một chi phí cho họ Chi phí này có thể thời gian, tiền
bạc, nỗ lực và bất kỳ chi phí tâm lý kết hợp với quá trình thay đổi nhà cung cấp [3,
8, 9, 10] Thường được chia làm 3 loại: chi phí tiếp tục (continuity cost), chi phí
chìm (sunk cost) và chi phí chuyển đổi (move-in hoặc learning cost) [9, 11]
Chi phí tiếp tục (continuity cost) được đề cập đến chi phí mất đi sự đối xử đặc biệt
và các chi phí của các rủi ro nhận thức hoặc không chắc chắn rằng một nhà cung
cấp mới có thể không thực hiện các dịch vụ cơ bản ở mức bằng, hoặc tốt hơn so với
các nhà cung cấp hiện tại [12], nó còn được đề cập là sự mất năng suất Chúng ta có
thể thấy rằng khi một khách hàng tin tưởng họ sẽ nhận được sự chăm sóc đặc biệt
hoặc lợi ích từ sản phẩm thay thế thì họ sẽ không muốn dùng sản phẩm dẫn đường
trên điện thoại di động Điều này cho thấy nếu khách hàng nhận thức chi phí này
Trang 31Luận văn cao học QTKD-K2008 19 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
càng cao thì họ càng không muốn sử dụng phần mềm Chi phí tiếp tục sẽ tương
quan nghịch biến với ý định sử dụng phần mềm trên điện thoại di động Trong ngữ
cảnh này, người sử dụng nhận thấy lợi ích của sản phẩm thay thế hoặc các chức
năng phần mềm không bằng sản phẩm thay thế thì sẽ không có ý định sử dụng phần
mềm Sản phẩm thay thế trong ngữ cảnh này là bản đồ giấy, khi người sử dụng mua
bản đồ giấy thì sẽ không có mối quan hệ nào giữa người bán và mua Vì vậy, chúng
ta sẽ không xem xét yếu tố này trong mô hình nghiên cứu
Chi phí chìm (sunk cost) được đề cập là sự nhận thức về chi phí đầu tư về thời gian
và nỗ lực (tiền,…) đã được thiết lập và duy trì một mối quan hệ với nhà cung cấp
hiện tại [11, 12] Đặc biệt, nếu một khách hàng tin tưởng rằng một lượng lớn thời
gian và chi phí đã phát sinh để có được sự chăm sóc đặc biệt và sự tin tưởng thời
gian và chi phí này sẽ bị mất nếu ngừng sử dụng dịch vụ Đối với các sản phẩm thay
thế hiện tại thì người sử dụng không có các chi phí đầu tư về thời gian, tiền bạc hay
sự nỗ lực nào cả Vì vậy, chúng ta sẽ không xem xét yếu tố này trong mô hình
nghiên cứu, khi người dùng cần một bản đồ giấy thì họ có thể mua ở nhà sách họ
không có một chi phí đầu tư thời gian hay duy trì mối quan hệ với nhà sách
Chi phí chuyển đổi (move-in) thường được gọi là chi phí thiết lập (set-up) hoặc học
hỏi (learning cost) được đề cập là thời gian, nỗ lực, tiền bạc không chỉ yêu cầu cho
quá trình tìm kiếm, đánh giá, chấp nhận nhà cung cấp dịch vụ, sản phẩm thay thế
mà còn là chi phí học hỏi dịch vụ, sản phẩm mới khi thay đổi [11] Đối với sản
phẩm phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động, để sử dụng được sản phẩm thì
người sử dụng phải biết cài đặt phần mềm, thiết lập kết nối mạng internet trên điện
thoại di động, học hỏi sử dụng phần mềm Chúng ta có thể thấy rằng nếu người sử
dụng cảm thấy chi phí chuyển đổi càng lớn thì khả năng họ sử dụng phần mềm càng
thấp, điều đó cho thấy chi phí chuyển đổi sẽ tương quan nghịch biến lên ý định sử
dụng phần mềm dẫn đường trên điện thọai di động
Như vậy giả thuyết được đặt ra:
H 3 : Chi phí chuyển đổi sẽ tương quan nghịch biến lên ý định sử dụng phần
mềm dẫn đường trên điện thoại di động
Trang 32Luận văn cao học QTKD-K2008 20 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Ảnh hưởng xã hội (Social Influence) được định nghĩa là mức độ một cá nhân nhận
thức rằng những người quan trọng khác tin rằng anh/cô ta nên sử dụng hệ thống mới
(Vankatesh et al 2003) Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua
những người có liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp,…); những người này thích hay không thích họ mua Mức độ tác động của
yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức
độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và (2) động cơ của người
tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng Các mô hình
nghiên cứu trước về điện thoại di động như Internet trên điện thoại di động (Kjeb và
Kurnia, 2006), thanh toán qua điện thoại (Hwang, 2005), các dịch vụ thương mại
trên điện thoại (Per E Pedersen, 2005 và Tariq Bhatti, 2008) cũng chỉ ra rằng yếu tố
Ảnh hưởng xã hội có tác động đáng kể đến ý định sử dụng
Như vậy giả thuyết được đặt ra:
H 4 : Ảnh hưởng của xã hội tương quan đồng biến lên ý định sử dụng phần
mềm dẫn đường trên điện thoại di động
Trong mô hình TAM của Davis [1] Mô hình thiết lập một chuỗi dây chuyền các
phản ứng về hành vi người sử dụng công nghệ “niềm tin Æ thái độ Æ ý định Æ sử
dụng thật sự”, được phát triển trên cơ sở lý thuyết hành động hợp lý, Fishbein và
Ajzen [2]
Trong nghiên cứu của Davis, hai khái niệm cơ bản là nhận thức sự hữu dụng và
nhận thức dễ sử dụng Nhận thức sự hữu ích “là cấp độ mà một người tin rằng sử
dụng một hệ thống đặc thù sẽ nâng cao kết quả thực hiện của họ” (Davis 1989,
trang 320) Nhận thức dễ sử dụng “là cấp độ mà một người tin rằng sử dụng một hệ
thống đặc thù sẽ không cần nỗ lực” (Davis 1989, trang 320) Sự nhận thức có thể dự
đoán được thái độ hướng tới sử dụng hệ thống Trong nhiều nghiên cứu gần đây liên
quan đến hệ thống thông tin (Information System) đã có sự mở rộng về mô hình,
nhưng TAM vẫn được chấp nhận trong việc dự đoán hành vi người sử dụng công
nghệ thông tin Phần mềm dẫn đường cũng là một sản phẩm công nghệ do đó các
yếu tố trong mô hình TAM cũng sẽ được xem xét trong mô hình nghiên cứu
Trang 33Luận văn cao học QTKD-K2008 21 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Trong mô hình UTAUT các yếu tố nhận thức sự hữu ích và nhận thức tính dễ sử
dụng được thể hiện thông các yếu tố Kỳ vọng kết quả thực hiện (Performance
Expectancy) và Kỳ vọng nỗ lực (Effort Expectancy)
Nhận thức sự hữu ích (Perceived usefulness) “là cấp độ mà một người tin rằng sử
dụng một hệ thống đặc thù sẽ nâng cao kết quả thực hiện của họ” (Davis 1989,
trang 320) Người sử dụng khi nhận thấy lợi ích của phần mềm dẫn đường thì sẽ có
ý định sử dụng phần mềm Các mô hình nghiên cứu trước về điện thoại di động như
Internet trên điện thoại di động (Kjeb và Kurnia, 2006), thanh toán qua điện thoại
(Hwang, 2005), các dịch vụ thương mại trên điện thoại (Per E Pedersen, 2005 và
Tariq Bhatti, 2008), ý định sử dụng 3G (Ezgi Baran, 2009) cũng chỉ ra rằng yếu tố
Nhận thức sự hữu ích có tác động đáng kể đến ý định sử dụng
Như vậy giả thuyết được đặt ra:
H 5 : Nhận thức sự hữu ích tương quan đồng biến lên ý định sử dụng phần
mềm dẫn đường trên điện thoại di động
Nhận thức dễ sử dụng (Perceived ease-of-use) “là cấp độ mà một người tin rằng sử
dụng một hệ thống đặc thù sẽ không cần nỗ lực” (Davis 1989, trang 320) Người sử
dụng có xu hướng sử dụng phần mềm khi nó dễ sử dụng Các mô hình nghiên cứu
trước về điện thoại di động như Internet trên điện thoại di động (Kjeb và Kurnia,
2006), thanh toán qua điện thoại (Hwang, 2005), các dịch vụ thương mại trên điện
thoại (Per E Pedersen, 2005 và Tariq Bhatti, 2008), ý định sử dụng 3G (Ezgi Baran,
2009) cũng chỉ ra rằng yếu tố Nhận thức sự tính dễ sử dụng có tác động đáng kể
đến ý định
Như vậy giả thuyết được đặt ra:
H 6 : Nhận thức dễ sử dụng tương quan đồng biến lên ý định sử dụng phần
mềm dẫn đường trên điện thoại di động
Ý định sử dụng đề cập đến dự định của người tiêu dùng sẽ mua (hoặc sử dụng) hàng
hóa (dịch vụ) có mối quan hệ chặt chẽ đến hành vi mua thật sự (Davis, 1989) Theo
Schiffman và Kanuk (1987) ý định mua (conatitive) được hể hiện qua xu hướng tiêu
Trang 34Luận văn cao học QTKD-K2008 22 Chương 2: Cơ sở lý thuyết
dùng hay không tiêu dùng dịch vụ Ý định mua là một yếu tố quyết định hành vi
tiêu dùng của dịch vụ Mô hình nghiên cứu đề xuất được trình bày ở Hình 2.5
Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu Tóm tắt chương 2
Các yếu tố trong mô hình nghiên cứu là các điều kiện thuận tiện, sự hấp dẫn của sản
phẩm thay thế, chi phí chuyển đổi, ảnh hưởng của xã hội, nhận thức sự hữu ích và
nhận thức tính dễ sử dụng
Mô hình nghiên cứu có một biến phụ thuộc là ý định sử dụng phần mềm dẫn đường
trên điện thọai di động và sáu biến độc lập như đã nêu trên
Các yếu tố các điều kiện thuận tiện, ảnh hưởng của xã hội, nhận thức sự hữu ích và
nhận thức tính dễ sử dụng là các yêu tố được kế thừa từ những mô hình nghiên cứu
trước đó, hai yếu tố sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế và chi phí chuyển đổi là các
yếu tố được nhận biết bằng phương pháp định tính
Trang 35Luận văn Cao học QTKD-K2008 23 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày phương pháp lấy dữ liệu, cách phân tích, thiết kế thang đo
cho đề tài
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo Hình 3.1
Hình 3.1: Qui trình thực hiện nghiên cứu
(Nguồn: Nghiên cứu thị trường, Thọ và Trang, 2007)
Bước 1: Hình thành thang đo
Việc hình thành thang đo bắt đầu từ cơ sở lý thuyết Các thang đo này được dịch
sang tiếng Việt từ những thang đo đã được sử dụng trong các nghiên cứu được công
Trang 36Luận văn Cao học QTKD-K2008 24 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
được sử dụng (bằng phương pháp phỏng vấn sâu) nhằm khẳng định các đối tượng
được phỏng vấn hiểu rõ được nội dung các khái niệm và ý nghĩa các từ ngữ Sau khi
được hiệu chỉnh, nó sẽ trở thành thang đo chính thức cho nghiên cứu định lượng
chính thức
Bước 2: Đánh giá thang đo
Trong nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng, thang đo được đánh
giá qua hai công cụ chính: (1) hệ số tin cậy Crochbach Alpha và (2) phương pháp
phân tích nhân tố khám phá EFA (exploratory factor analysis) Hệ số Crochbach
Alpha được sử dụng trước để loại các biến không phù hợp, các biến có hệ số tương
quan biến tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và tiêu chuẩn chọn
thang đo khi nó có độ tin cậy Alpha từ 0.6 trở lên (Nunnally & Bernstein, 1994,
trích từ Nguyễn Thị Mai Trang & Nguyễn Đình Thọ, 2004) Tiếp theo, phương
pháp EFA được sử dụng, phương pháp này chỉ được sử dụng khi hệ số KMO
(Kaiser-Meyer-Olkin) có giá trị từ 0.5 trở lên, các biến có trọng số (factor loading)
nhỏ hơn 0.5 trong EFA sẽ tiếp tục bị loại bỏ, thang đo được chấp nhận khi tổng
phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50% (Nunnally & Bernstein, 1994, trích từ
Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2004)
Bước 3: Phân tích kết quả
Các thang đo được đánh giá đạt yêu cầu được đưa vào phân tích phân tích tương
quan, và phân tích hồi qui để kiểm định các giả thuyết
3.2 Nghiên cứu định tính
Bước đầu tiên nghiên cứu định tính là điều chỉnh thang đo Các biến được điều
chỉnh và bổ sung cho phù hợp bằng hình thức thảo luận tay đôi theo một nội dung
được chuẩn bị trước dựa theo các thang đo có sẵn Nội dung thảo luận sẽ được ghi
nhận, tổng hợp làm cơ sở cho việc điều chỉnh và bổ sung các biến
3.2.1 Các thông tin cần thu thập
Có 2 đối tượng cần thu thập thông tin một là các chuyên gia trong lĩnh vực phần
mềm dẫn đường; hai là những người sử dụng thông thường Mục đích của việc thu
Trang 37Luận văn Cao học QTKD-K2008 25 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
- Xác định xem các chuyên gia trong lĩnh vực phần mềm dẫn đường trên điện thoại
di động, theo họ các yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến ý định sử dụng phần mềm của
người tiêu dùng
- Xác định xem yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định sử dụng phần mềm của người sử
dụng khi họ có hiểu biết hoặc đã sử dụng qua phần mềm
3.2.2 Đối tượng phỏng vấn
Đối tượng được phỏng vấn bao gồm 2 thành phần được trình bày dưới đây:
- Thành phần chuyên gia: phỏng vấn 3 chuyên gia thuộc công ty Green Control, họ
là những người làm về phần mềm dẫn đường trên điện thoại di động, sản phẩm
cũng được đưa ra thị trường nên họ sẽ hiểu rõ về sản phẩm và khách hàng Thứ nhất
là Ông Mai Ngọc Thắng; chuyên viên lập trình về phần mềm dẫn đường, thứ 2 là
Bà Hồ Thị Thu Thủy; chuyên viên lập trình về phần mềm dẫn đường, cuối cùng là
Ông Quách Thiện Tài giám đốc công ty Green Control
- Thành phần người sử dụng thông thường: phỏng vấn 9 người đã sử dụng qua hoặc
có biết về phần mềm dẫn đường, 7 người tại công ty LHV (Lữ Hoàng Việt) và 2
người tại trung tâm Gan Mật Sài Gòn Đặc điểm chung của đối tượng này đang làm
việc tại các công ty, cơ quan, đang sử dụng điện thọai di động và thuộc thành phần
trẻ, có thu nhập từ công ăn việc làm và thích khám phá các công nghệ mới
Kết quả nghiên cứu sơ bộ sẽ là cơ sở dùng để thiết kế bảng câu hỏi cho nghiên cứu
chính thức Bảng câu hỏi trước khi phát hành sẽ thu thập thử tại công ty LHV và
trung tâm Gan Mật Sài Gòn để kiểm tra cách thể hiện và ngôn ngữ trình bày
3.3 Nghiên cứu chính thức
3.3.1 Nghiên cứu sơ bộ và hiệu chỉnh thang đo
Trước khi phát bảng câu hỏi chính thức đã thử 9 mẫu để kiểm tra cách thể hiện và
ngôn ngữ trình bày Các góp ý sẽ được điều chỉnh trước khi phát bảng câu hỏi chính
thức
Trang 38Luận văn Cao học QTKD-K2008 26 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
3.3.2 Thiết kế thang đo cho bảng câu hỏi
Tất cả các biến quan sát trong các thành phần đều sử dụng thang đo Likert 5 điểm
Với lựa chọn số 1 nghĩa là “hoàn toàn không đồng ý” với câu phát biểu cho đến lựa
chọn số 5 nghĩa là “hoàn toàn đồng ý” với câu phát biểu Phần mềm dẫn đường là
sản phẩm của công nghệ thông tin và truyền thông, vì vậy thang đo của đề tài sẽ dựa
trên thang đo của các sản phẩm về công nghệ thông tin và truyền thông đã có trước,
sau đó sẽ lọai bỏ các yếu tố không phù hợp và bổ sung các yếu tố còn thiếu để tạo
nên thang đo cho đề tài
Các thang đo mà nghiên cứu tham khảo được liệt kê ở Bảng 3.1 dưới đây (thang đo
chưa được chỉnh sửa):
Bảng 3.1: Thang đo nháp của nghiên cứu
Thang đo sơ bộ của nghiên cứu Thang đo gốc
Nhận thức sự hữu ích
PMDĐ giúp tôi tìm một địa chỉ có số
nhà dễ dàng hơn
PMDĐ giúp tôi tìm một địa điểm (quán
ăn, khách sạn, công ty…) dễ dàng hơn
PMDĐ giúp cho việc đi lại của tôi dễ
dàng hơn M-payment service makes the purchase of goods/services easier (Mobile Payment,
Hwang, 2005) PMDĐ giúp cho việc đi lại của tôi
nhanh chóng hơn M-payment service makes the purchase of goods/services faster (Mobile Payment,
Hwang, 2005) PMDĐ giúp tôi tránh được kẹt xe
Sử dụng PMDĐ giúp tôi tiết kiệm được
thời gian đi lại Using mobile commerce services makes me save time (Internet services, Per E
Pedersen, 2005) Using M-commerce makes me save time (Mobile Commerce, Tariq Bhatti, 2008) PMDĐ thật hữu ích đối với tôi
Nhận thức tính dễ sử dụng
(Mobile Internet, Kjeb&Kurnia, 2006) M-payment service is easy to use(Mobile Payment, Hwang, 2005)
Tôi dễ dàng học được cách sử dụng
PMDĐ It is/might be easy to become skillful at using mobile Internet (Mobile Internet,
Kjeb&Kurnia, 2006)
Trang 39Luận văn Cao học QTKD-K2008 27 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Using M-payment service can be easily skillful (Mobile Payment, Hwang, 2005) Learning to use M-commerce is easy to
me (Mobile Commerce, Tariq Bhatti, 2008)
(Mobile payment, Hwang, 2005)
Sử dụng PMDĐ thì phức tạp đối với tôi Using 3G mobile services seems
complicated for me (3G, Ezgi Baran, 2009)
Tôi dễ dàng điều khiển PMDĐ theo ý
muốn của mình It is easy to make the mobile commerce services do what I want them to (Internet
services, Per E Pedersen, 2005)
Các điều kiện thuận tiện
Tôi tin rằng tôi có thể thực hiện truy
cập internet mọi nơi để sử dụng PMDĐ I think that M-payment system can be used in many places (Mobile Payment,
Hwang, 2005) Tôi tin rằng tôi có thể thực hiện truy
cập internet mọi lúc để sử dụng PMDĐ
Tốc độ truy cập internet trên điện thoại
hiện nay đối với tôi là chấp nhận được
Sự hấp dẫn của sản phẩm thay thế
Sử dụng bản đồ giấy thì rất thuận tiện I think that credit card is very convenient
to use (Mobile Payment, Hwang, 2005) Bản đồ giấy thì hữu ích hơn PMDĐ Credit card is more useful than mobile
payment (Mobile Payment, Hwang, 2005) Tôi đã quen với việc sử dụng bản đồ
giấy
Bản đồ giấy có thể sử dụng mọi nơi I think that credit card can be used in
many places (Mobile Payment, Hwang, 2005)
Bản đồ giấy có thể sử dụng mọi lúc
Chi phí chuyển đổi
Tôi sẵn sàng mua điện thoại có tính
năng hỗ trợ sử dụng PMDĐ I need to purchase mobile device to use M-payment service (Mobile Payment,
Hwang, 2005) Việc sử dụng PMDĐ sẽ tốn rất nhiều
thời gian và nổ lực It takes a lot of time and effort to use M-payment system (Mobile Payment,
Hwang, 2005) Tôi không muốn tốn tiền để mua
PMDĐ
Tôi không muốn tốn tiền truy cập
internet khi sử dụng PMDĐ
Trang 40Luận văn Cao học QTKD-K2008 28 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Ảnh hưởng của xã hội
Bạn bè khuyên tôi nên sử dụng PMDĐ My friends/colleagues think that we
should all use mobile commerce services (Internet services, Per E Pedersen, 2005) Some of my friends/colleagues
recommended I should try out mobile commerce services (Internet services, Per
E Pedersen, 2005) Người thân khuyên tôi nên sử dụng
PMDĐ (Ajzen, 1991)
Đồng nghiệp khuyên tôi nên sử dụng
PMDĐ My friends/colleagues think that we should all use mobile commerce services
(Internet services, Per E Pedersen, 2005) Some of my friends/colleagues
recommended I should try out mobile commerce services (Internet services, Per
E Pedersen, 2005)
Ý định sử dụng
(Mobile Payment, Hwang, 2005) Tôi có ý định sử dụng PMDĐ càng
nhiều càng tốt
I intend to use M-payment system as much as possible (Mobile Payment, Hwang, 2005)
Tôi có ý định sử dụng PMDĐ nhiều
hơn bản đồ giấy
I intend to use M-payment system more than any other payment system (Mobile Payment, Hwang, 2005)
trở nên phổ biến
I intend to use mobile Internet when the service becomes widely available (Mobile Internet, Kjeb&Kurnia, 2006)
Dưới đây là các thang đo mà nghiên cứu đã tham khảo:
- Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thanh toán (trả tiền) qua điện thọai di
động tại Hàn Quốc (Mobile Payment, Hwang, 2005)
- Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ internet trên điện thọai di động
tại Úc (Mobile Internet, Kjeb và Kurnia, 2006)
- Các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng sử dụng dịch vụ thương mại trên điện thọai di
động (Mobile Commerce, Per E Pedersen, 2005)