Đặc biệt, trong điều kiện như ở Việt Nam hiện tại, khi đội ngũ các giảng viên có trình độ cao ở trong nước chưa nhiều, khi chúng ta muốn sử dụng những giảng viên đại học và chuyên gia ng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
MAI DOÃN NHƯ THUẬN
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC MBA QUỐC
TẾ QUA MẠNG CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM
Chuyên ngành : Quản Trị Kinh Doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 08 năm 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Đình Thọ
Cán bộ chấm nhận xét 1: TS Phạm Ngọc Thúy
Cán bộ chấm nhận xét 2: TS Vũ Thế Dũng
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày 10 tháng 08 năm 2010 Thành phần Hội đồng chấm đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS TS Nguyễn Đình Thọ
2 TS Phạm Ngọc Thúy
3 TS Vũ Thế Dũng
4 TS Hồ Thị Bích Vân
Xác nhận của chủ tịch Hội đồng đánh giá luận văn và Bộ môn quản lý chuyên
ngành sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Trang 3Khoá (Năm trúng tuyển) : 2008
I – TÊN ĐỀ TÀI: Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của sinh
viên Việt Nam
II – NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG: Xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của các
yếu tố đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của sinh viên Việt Nam
III – NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 1-02-2010
PGS TS NGUYỄN ĐÌNH THỌ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được nhiều sự giúp
đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình Tôi xin được bày tỏ sự trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc đối với những sự giúp đỡ này
Trước tiên, tôi xin cảm ơn tất cả các thầy cô giáo trong ban giảng huấn của Khoa Quản lý Công nghiệp, trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM – những người đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ cho tôi trong suốt khóa học này Đặc biệt, tôi xin trân trọng gởi lời cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Đình Thọ và TS Nguyễn Thị Mai Trang
đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này
Tiếp theo, tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến các bạn của tôi – những người đã chia sẽ, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập dữ liệu cho luận văn
Cuối cùng, tôi xin được trân trọng cảm ơn gia đình tôi – những người luôn động viên, giúp đỡ về mặt tinh thần cũng như vật chất cho tôi trong những năm tháng học tập này
Mai Doãn Như Thuận
Trang 5TÓM TẮT
Giáo dục là một trong những vấn đề trọng tâm tại Việt Nam Sự phát triển mạnh mẽ của internet trong những năm gần đây đã khiến các tổ chức giáo dục ngày càng quan tâm đến hình thức đào tạo mới – e learning Nghiên cứu này nhằm mục đích xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của sinh viên
và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố
Nghiên cứu được thực hiện qua hai bước định tính và định lượng Nghiên cứu định tính theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp với 7 sinh viên nhằm đánh giá mức độ
rõ ràng của từ ngữ và khả năng trả lời các câu hỏi Nghiên cứu định lượng thông qua phỏng vấn bằng bảng câu hỏi với một mẫu 259 sinh viên tại Tp.HCM Dữ liệu được sử dụng để đánh giá thang đo và kiểm định các giả thuyết Phân tích hệ số Cronbach alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), và phân tích hồi qui được
sử dụng trong phần này Kết quả kiểm định cho thấy có bốn trong sáu giả thuyết được chấp nhận Cụ thể là, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, yếu tố chuẩn chủ quan tác động mạnh nhất Kế đến, ấn tượng bằng cấp, mức độ tự tin cũng có tác động cùng chiều với ý định, sau cùng là mức rủi ro cảm nhận có tác động ngược chiều với ý định học MBA quốc tế qua mạng của sinh viên
Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung vào lý thuyết về e-learning thông qua việc hiểu các yếu tố ảnh hưởng Ngoài ra, nó giúp tổ chức giáo dục đào tạo định hướng trong quá trình áp dụng e-learning nói chung và chương trình đào tạo MBA quốc tế qua mạng nói riêng tại Việt Nam, cải thiện hệ thống e-learning đang hiện hành và lập chiến lược tiếp thị hiệu quả hơn
Bên cạnh đó, nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế Nghiên cứu sử dụng mẫu thuận tiện nên hạn chế khả năng tổng quát hóa Nghiên cứu chỉ xem xét tác động của một vài yếu tố liên quan đến ý định học MBA quốc tế qua mạng Nghiên cứu không so sánh được sự khác biệt trong ý định học của hai nhóm đối tượng từng học qua mạng
và chưa từng học qua mạng
Trang 6ABSTRACT
Education is the main focus in Vietnam The rapid growth of internet in recent years has led institutions increasingly interested in future methodology for mass education – e learning This paper aims to consider what are the factors will influence the students’ intention to adopt of Electronic - International Master Business of Administration and the extent of influence of these factors
The study was conducted by two stages of preliminary survey and main survey The purpose of the preliminary survey is to examine whether the questions are clear for respondents to answer or not It is carried out via face – to – face interview with a sample size of 7 The main survey is carried out via a self-completed questionnaire with a sample size of 259 students in HCM city Data is used to access the scales’ reliability and validity, and test the hypotheses Cronbach’s alpha analysis, exploring factor analysis and regression analysis are applied for this stage Theresult indicates that four per six hypotheses are accepted Specifically, in terms of other factors constant, the subjective norm is the most significant Next, image of degree and self – efficacy have positive effect, while perceived risk has negative influence on students’ intention to use E- International MBA program
The result will contribute to the e-learning literature by understanding the better the factors affecting users' intention to adopt with e-learning Moreover, this is important to higher learning institutions either public or private to orientate during the application of elearning, particularly with e-international MBA in Vietnam; improve current e-learning systems and develop effective marketing strategies
However, this study also has certain limits The study uses non-probability samples
So, it is not possible to generalise from the results The study examines a limit number of related factors The study can not compare differences in intention to use between two groups: students had taken online course and students had never
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
ABSTRACT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH HÌNH VẼ vii
DANH SÁCH BẢNG BIỂU vii
CHƯƠNG 1 1
TỔNG QUAN 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
1.5 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 2 6
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
2.1 Giới thiệu 6
2.2 Tìm hiểu về E-learning 6
2.2.1 Tìm hiểu hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng 6
2.2.2 Các thuyết của hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng 7
2.2.3 Giáo dục đào tạo qua mạng bổ sung cho các lớp học truyền thống 8
2.2.4 Các lợi ích của đào tạo e-learning đối với giáo dục 10
2.3 Lý thuyết về mô hình chấp nhận công nghệ TAM 12
2.4 Kết quả một số nghiên cứu trên thế giới và mô hình nghiên cứu 13
2.5 Tóm tắt 19
Trang 8CHƯƠNG 3 20
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Giới thiệu 20
3.2 Thiết kế nghiên cứu 20
3.3 Xây dựng thang đo 23
3.3.1 Thang đo kinh nghiệm sử dụng internet 24
3.3.2 Thang đo mức độ tương tác hệ thống 24
3.3.3 Thang đo chuẩn chủ quan 25
3.3.4 Thang đo ấn tượng về bằng cấp MBA quốc tế qua mạng 25
3.3.5 Thang đo ý định học MBA quốc tế qua mạng 26
3.3.6 Thang đo mức độ tự tin 26
3.3.7 Thang đo mức rủi ro cảm nhận 27
3.4 Chọn mẫu 28
3.5 Tóm tắt 29
CHƯƠNG 4 30
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Giới thiệu 30
4.2 Thống kê mô tả 30
4.2.1 Mô tả mẫu 30
4.2.2 Phân tích mô tả các biến nghiên cứu 31
4.3 Đánh giá công cụ đo lường 32
4.3.1 Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach alpha 32
4.3.2 Đánh giá thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá EFA 33
4.4 Phân tích tương quan 36
4.5 Phân tích hồi qui và kiểm định giả thuyết 37
Trang 94.5.1 Kết quả hồi qui 37
4.5.2 Kiểm định các giả thuyết hồi qui 39
4.5.3 Kiểm định giả thuyết 40
4.6 Thảo luận về kết quả 42
4.7 Tóm tắt 45
CHƯƠNG 5 46
KẾT LUẬN 46
5.1 Giới thiệu 46
5.2 Kết quả chính và đóng góp về mặt lý thuyết 46
5.3 Kiến nghị 47
5.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC THAM KHẢO 53
Phụ lục 1: Dàn bài phỏng vấn sâu 53
Phụ lục 2: Bảng câu hỏi nghiên cứu định lượng 58
Phụ lục 3: Bảng thống kê mô tả mẫu 61
Phụ lục 4a: Phân tích nhân tố EFA 62
Phụ lục 4b: Phân tích nhân tố EFA sau khi loại biến ,,, 64
Phụ lục 5: Phân tích tương quan giữa các biến nghiên cứu 66
Phụ lục 6a: Bảng thống kê mô tả phần dư 66
Phụ lúc 6b: Biểu đồ Q_Q Plot của phần dư 67
Phụ lục 6c: Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa 67
Phụ lục 6d: Biểu đồ scatter phần dư chuẩn hóa và giá trị dự đoán chuẩn hóa… 68
Phụ lục 7: Kiểm tra phương sai của sai số không đổi 69
Trang 10DANH SÁCH HÌNH VẼ
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu 16
Hình 3.1: Qui trình nghiên cứu 21
DANH SÁCH BẢNG BIỂU Tên bảng: Trang Bảng 3.1: Tiến độ thực hiện nghiên cứu 20
Bảng 3.2: Thang đo kinh nghiệm sử dụng internet 24
Bảng 3.3: Thang đo mức độ tương tác hệ thống 24
Bảng 3.4: Thang đo chuẩn chủ quan 25
Bảng 3.5: Thang đo ấn tượng về bằng cấp 26
Bảng 3.6: Thang đo ý định học MBA quốc tế qua mạng 26
Bảng 3.7: Thang đo mức độ tự tin 27
Bảng 3.8: Thang đo mức rủi ro cảm nhận 27
Bảng 4.1: Thống kê mô tả biến 31
Bảng 4.2: Cronbach Alpha của các khái niệm nghiên cứu 34
Bảng 4.3: Kết quả EFA 35
Bảng 4.4: Kết quả EFA sau khi loại bỏ biến 36
Bảng 4.5: Kết quả phân tích tương quan 37
Bảng 4.6: Bảng tổng kết các thông số của mô hình 38
Bảng 4.7: Bảng ANOVA 38
Bảng 4.8: Kết quả các hệ số hồi qui 39
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định giả thuyết 42
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu:
Hiện trạng và xu thế giáo dục mới ở Việt Nam:
Thực tế tại Việt Nam, việc dạy và học, đặc biệt là tại bậc đại học đã nhận được không ít sự phê phán là đào tạo một chiều hay truyền đạt thiếu sinh động hiệu quả, đào tạo theo xu hướng tập trung tại chỗ Giáo trình bài giảng và cách thức giảng dạy theo hướng truyền thống và thiếu đổi mới.… Trong khi trên thế giới, phương pháp giảng dạy trực tuyến đã rất phát triển kể cả về nội dung giảng dạy cũng như cách thức trao đổi thông tin hiệu quả và nhanh chóng Elearning đã ra đời với những ưu điểm như: khắc phục những khó khăn về địa lý; khắc phục những khó khăn về hoàn cảnh công tác, gia đình, sức khỏe, tiết kiệm chi phí đào tạo; khắc phục những giới hạn về mặt giao tiếp trong phương pháp đào tạo từ xa truyền thống, xây dựng các chương trình học tiên tiến ngang tầm thế giới…
Theo Vũ Quốc Phóng “đào tạo từ xa đã có từ hàng trăm năm nay qua các phương tiện khác nhau như gửi thư, truyền hình,…, nhưng từ khi có internet thì phương tiện chủ yếu được áp dụng trong đào tạo từ xa là internet, qua text, âm thanh, hình ảnh, video, mô phỏng và các phần mềm hỗ trợ trên nền Web (web based learning) Cách học này thường hay được gọi là e-learning Từ khi xuất hiện vào cuối những năm 90’s, e-learning đã mở ra những kỳ vọng lớn về những thay đổi có tính chất cách mạng trong giáo dục Nhiều công ty, trường đại học và nhà đầu tư mạo hiểm đã đầu tư hàng chục tỷ đô la Mỹ vào e-learning
Khi áp dụng công cụ e-learning để dạy và học, đặc biệt là để học từ xa, người thầy và học sinh cần phải đồng thời thay đổi một số thói quen thường thấy trong các phương pháp dạy và học truyền thống lấy người thầy làm trung tâm, bằng phương pháp học mới lấy học sinh làm trung tâm Nói cách khác, từ chỗ tiếp thu kiến thức một cách thụ động, học sinh nay sẽ phải chủ động tìm tòi, khai thác các nguồn thông tin từ sách báo, internet,…, và biến nó thành kiến thức của mình, dưới sự hướng dẫn của các giảng viên
Trang 12Trên thực tế để thực hiện được như trên một cách thường xuyên là một việc khó Vì thế vẫn còn có nhiều người hoài nghi, một cách có cơ sở, về chất lượng của học từ xa Bản thân tôi cũng cho rằng học từ xa không phải là cách học tốt nhất Ví
dụ, nếu muốn trở thành một nhà kinh tế học, chắc chắn rằng được học ở một trường nổi tiếng ở Mỹ như đại học Harvard hay Yale, theo tôi, sẽ tốt hơn là theo học bất kỳ một chương trình đào tạo từ xa thuần túy nào Việc được tiếp xúc trực tiếp với các nhà khoa học lớn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của một
cá nhân
Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, trong thời đại ngày nay, cho dù một học sinh có học ở trường lớn đến đâu chăng nữa, kể cả đó là đại học Harvard hay Yale, thì cũng phải biết áp dụng cách học từ xa, áp dụng e-learning Vì, như Giáo sư Tạ Quang Bửu nói: "Trình độ đại học là trình độ biết tự học” Trong thời đại internet,
tự học phần lớn là tự học qua mạng: qua google, wikipedia, chats, forums, blogs, v.v…
Nếu biết khai thác những mặt mạnh và triệt để khắc phục những mặt kém, thì đào tạo từ xa bằng e-learning có thể là một phương pháp đào tạo có hiệu quả Đặc biệt, trong điều kiện như ở Việt Nam hiện tại, khi đội ngũ các giảng viên có trình độ cao ở trong nước chưa nhiều, khi chúng ta muốn sử dụng những giảng viên đại học
và chuyên gia người Việt ở nước ngoài để đào tạo cấp đại học và trên đại học, thì đào tạo từ xa và e-learning có thể xem là phương pháp tương đối khả thi.”
Triển khai E-learning trong đào tạo là một hướng đi mới, thu hút được sự quan tâm ngày càng nhiều của các tổ chức giáo dục đào tạo, các đơn vị nghiên cứu triển khai công nghệ thông tin, đặc biệt là sự quan tâm của các trường đại học và các viện nghiên cứu
Theo Đinh Dũng, Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin - một đơn vị thuộc ĐHQGHN đang nghiên cứu, triển khai và góp phần đưa E-learning vào thực tế cuộc sống ở Việt Nam: “Trong những năm gần đây, e-learning thu hút được sự quan tâm ngày càng nhiều của các tổ chức giáo dục đào tạo, các đơn vị nghiên cứu triển khai công nghệ thông tin, đặc biệt là sự quan tâm của các trường đại học và các viện
Trang 13nghiên cứu Có thể xem e-learning như một phương thức dạy học mới, bổ sung và
hỗ trợ cho các phương thức đào tạo truyền thống, tạo ra thêm cơ hội được học cho đông đảo tầng lớp xã hội và đặc biệt góp phần hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giảng dạy Vì thế việc triển khai e-learning ở Việt Nam nói chung và ở Đại Học Quốc Gia nói riêng là rất cần thiết.”
Nhu cầu học MBA ngày càng gia tăng:
Học về kinh doanh ngày càng trở nên phổ biến đối với sinh viên của tất cả
các nước và Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (Master Business of Administration) là
văn bằng về kinh doanh phổ biến nhất Thêm vào đó, điểm thuận lợi khi theo học khóa MBA là không phân biệt ngành tốt nghiệp đại học, học tại Việt Nam vẫn có bằng thạc sỹ chính quy của những trường nổi tiếng thế giới Điều đó đã thu hút một
bộ phận lớn những cử nhân, công chức, cán bộ, doanh nhân theo học MBA
Học vị Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh có nguồn gốc từ Mỹ, nổi lên khi đất nước đã được công nghiệp hóa và các công ty đang tìm kiếm những cách tiếp cận khoa học cho việc quản lý Hầu hết các chương trình MBA được thiết kế nhằm phát triển các kỹ năng quản lý, kiến thức, khả năng phân tích những vấn đề phức tạp và khả năng đưa ra những quyết định mang tính chiến lược Vì vậy nó là một trong những bằng cấp phù hợp nhất trong thời đại kinh tế toàn cầu hiện nay
Khái niệm ‘MBA quốc tế’ được sử dụng trong đề tài là khái niệm dùng để chỉ việc học MBA tại các tổ chức giáo dục có uy tín, trong đó bằng cấp của các tổ chức đào tạo này cấp, được các cơ quan kiểm định giáo dục của Hoa Kỳ (như hội đồng kiểm định giáo dục đại học CHEA – Council for Higher Education Accreditation, tổ chức kiểm định bộ giáo dục liên bang USDE – United States Department of Education, hiệp hội phát triển giảng dạy doanh thương bậc đại học AACSB – Association to Advance Collegiate School of Business, ) công nhận
Hình thức đào tạo qua mạng và một xu hướng đào tạo mới trong tương lai không chỉ đang diễn ra rầm rộ ở các nước phát triển mà đã xuất hiện ở Việt Nam Hiện nay, các chương trình đào tạo MBA quốc tế qua mạng đã được mở tại Việt Nam ngày càng đông đảo, thu hút nhiều quan tâm của báo giới, bộ, ngành, các tổ
Trang 14chức đào tạo và những học viên có nhu cầu Với mong muốn hiểu rõ hơn về ý định
hành vi ‘học MBA quốc tế qua mạng’ của sinh viên Việt Nam, đề tài ‘các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của sinh viên Việt Nam’ đã được
chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Luận văn hướng đến các mục tiêu nghiên cứu sau:
Xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của sinh viên Việt Nam
Trong đó, việc ‘học MBA quốc tế qua mạng’ được hiểu là kết quả của quá trình sinh viên tham gia chương trình MBA đào tạo từ xa qua mạng e-learning của các tổ chức đào tạo uy tín nước ngoài hay các tổ chức đào tạo nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam và được các tổ chức này cấp văn bằng chứng nhận, có giá trị ở nhiều nước
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu những yếu tố chính, ảnh hưởng đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của sinh viên Hệ đào tạo MBA qua mạng được hiểu là chương trình đào tạo MBA từ xa bằng e-learning (cả chương trình quốc tế ở Việt Nam và ngoài nước) trong đó các môn học hoàn toàn qua mạng Một số các yếu tố
sẽ không được đề cập đến như môi trường văn hóa, định hướng tương lai (ngắn dài hạn)
hạn-Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu này chỉ tập trung ở đối tượng là sinh viên Việt Nam đang theo học ở các chương trình đào tạo đại học chính qui trong nước và các sinh viên đã tốt nghiệp Các sinh viên được khảo sát là những người có hiểu biết về e-learning và có ý định học MBA Nghiên cứu này được thực hiện ở TP HCM, bằng phương pháp định lượng thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn đối tượng được nghiên cứu ở các trường đại học Bách Khoa TP HCM, đại học Kinh Tế TP HCM, các sinh viên theo học các lớp chuyển đổi tại đại học Bách Khoa TP HCM và đại học Kinh
Tế TP HCM
1.4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Trang 15Thứ nhất, kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các trường đại học, các trung tâm đào tạo nói riêng và hệ thống giáo dục nói chung hiểu biết được những yếu tố chủ yếu nào
sẽ ảnh hưởng đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của sinh viên Việt Nam Thứ hai, là tài liệu tham khảo để cải thiện tốt hơn các hệ thống e-learning đang hiện hành Thông qua sự hiểu biết cùng với mức độ quan trọng khác nhau của các yếu tố
mà kết quả nghiên cứu đem lại, các trường, các trung tâm, các tổ chức giáo dục có thể đề ra những chiến lược xây dựng chương trình đào tạo dựa trên nền tảng e-learning thích hợp hơn và chất lượng hơn thông qua việc tác động tích cực có chọn lọc vào các yếu tố nhằm đạt được hiệu quả dạy và học qua mạng tốt hơn
Thứ ba, là tài liệu tham khảo cho các tổ chức sắp sửa triển khai e-learning trong hệ thống đào tạo MBA
1.5 Cấu trúc của luận văn:
Luận văn được chia thành năm chương:
Chương 1: Tổng quan – Trình bày một số vấn đề liên quan đến đào tạo qua mạng,
lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa của
đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu – trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, từ đó hình thành mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cho mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – nêu lên trình tự nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu bao gồm xây dựng thang đo, thiết kế bảng câu hỏi, phương pháp lấy mẫu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận – trình bày kết quả kiểm định thang đo, phân tích nhân tố, hồi qui tuyến tính, kiểm định các giả thuyết và thảo luận về kết quả
Chương 5: Kết luận – Tóm tắt những kết quả chính của nghiên cứu, những đóng góp của nghiên cứu và những hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 16CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu:
Chương này sẽ đề cập đến những lý thuyết về đào tạo qua mạng e-learning, các yếu
tố ảnh hưởng đến ý định học qua mạng, các mô hình đã được nghiên cứu trước đây
và mô hình nghiên cứu đề xuất
2.2 Tìm hiểu về e-learning:
E-Learning có thể được xem là hệ thống phân phối nội dung của các khóa học thông qua phương tiện truyền thông điện tử như Internet, Intranets, Extranets, băng ghi âm/phim ảnh, truyền hình tương tác và CD-ROM (Urdan và Waggen, 2000) E-learning đã được xem là đồng nghĩa với việc học tập dựa trên ứng dụng của web (Web-based-learning), đào tạo dựa trên mạng internet (Internet-based-training), học tập dựa trên hệ thống phân phối tiên tiến (Advance-distributed-learning), dựa trên những chỉ dẫn từ Web (Web-based-instruction), học trực tuyến (Online-learning), học tập linh hoạt (Open/flexible-learning) (Khan, 2001) E-Learning là khái niệm dùng để chỉ việc học diễn ra trong hoàn cảnh người học sử dụng internet và những ứng dụng liên kết đựa trên web như là môi trường trung gian để học tập ( E-learning Advisory Group, 2002) E-learning là một cơ hội mới
mở ra để cải thiện quá trình học thông qua phương pháp dạy và học hiện đại, hiệu quả dựa trên công nghệ thông tin (Selim, 2006)
2.2.1 Tìm hiểu hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng:
Hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng đã được phát triển qua ba thế hệ Ở thế hệ thứ nhất, hệ thống giáo dục được truyền đạt thông qua con đường thư tín, báo chí Đến thế hệ thứ hai, giáo dục từ xa được truyền thanh, truyền hình thông qua radio, tivi nhờ vào sự phổ biến của các phương tiện thông tin đại chúng Thế hệ thứ ba sử dụng các kỹ thuật thông tin, viễn thông như internet để tổ chức hệ thống giáo dục Trong thời gian gần đây, khái niệm giáo dục đào tạo qua mạng đồng nghĩa với một phương án mới của hệ thống giáo dục thế hệ thứ ba Phương án này sử dụng mạng truyền thông tốc độ cao để cung cấp một hệ thống đào tạo mới khác biệt hẳn so với
Trang 17các hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng trước đó Như vậy có thể thấy phương pháp của hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng có thể dẫn đến một hệ thống giáo dục đổi mới và dài hạn bằng cách ứng dụng nhiều loại phương tiện thông tin giáo dục và mạng truyền thông tốc độ cao, tận dụng ưu điểm của các phương pháp sử dụng thiết
bị đa phương tiện
Đặc điểm kỹ thuật của hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng:
Nhiều kỹ thuật được sử dụng trong hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng, bao gồm: internet, thư điện tử, CD-ROM, mạng video tương tác (video conferencing, VOD),
TV, mạng truyền thông gần đây nhất, kỹ thuật vệ tinh nhân tạo đã được phát triển
và sử dụng trong hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng Đặc biệt là công nghệ Groupware, công nghệ này tích hợp hoạt động của các kỹ thuật nêu trên, rất quan trọng trong lĩnh vực đào tạo từ xa Hơn nữa Groupware dựa trên internet đã trở nên phổ biến trong lĩnh vực này
2.2.2 Các thuyết của hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng:
Mặc dù phần lớn tài liệu liên quan đến hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng đều nhấn mạnh giá trị thực tiễn của hệ thống này, tuy nhiên đầu tiên chúng ta cần chú trọng xem xét nền tảng lý thuyết của hệ thống
Tác động của hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng có thể xem xét theo ba thuyết
“Trước hết là thuyết Tự Quản và Độc Lập (Autonomy and Independence) Trong thuyết này, giáo dục đào tạo qua mạng hỗ trợ người học độc lập lập kế hoạch và tự quyết định mục đích, nội dung, phương pháp và cách đánh giá Do ít có sự trao đổi với giáo viên và bạn học, người học từ xa cần phải có tính nhẫn nại cao, tính tự quyết và tự chủ Về mặt này, việc giảng dạy từ xa phải sử dụng hình thức siêu thông tin internet (hypermedia) để tổ chức việc học tập có hiệu quả
Thuyết thứ hai là thuyết Tương Tác (Interaction) Thuyết này tập trung vào sự trao đổi giữa giảng viên và người học hoặc nhóm người học Sự trao đổi trong hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng có thể tăng cường bằng cách sử dụng nhiều loại phương tiện khác nhau trong hệ thống Do đó tài liệu giảng dạy cần thiết kế các chức năng trao đổi thông tin để giảng viên có thể giải thích và hướng dẫn trực tiếp Các tài liệu,
Trang 18thư điện tử và bản tin điện tử là các công cụ tương tác hiệu quả nhất Hình thức đào tạo từ xa qua mạng internet được cải tiến đáng kể nhờ vào sự trao đổi giữa giảng viên và học viên
Thuyết cuối cùng là thuyết Công Nghiệp Hóa (Industrialization) Theo thuyết này, giáo dục đào tạo qua mạng dựa trên phương pháp công nghiệp và kinh doanh hiệu quả và có năng suất cao hơn so với cách giáo dục truyền thống Peter (1973) chia các phương pháp giảng dạy thành hai loại: phương pháp mặt đối mặt (face-to-face) dựa trên sự trao đổi riêng lẻ và phương pháp giảng dạy công nghiệp thông qua hệ thống truyền thông Thuyết Công Nghiệp Hóa yêu cầu học viên phải có phương pháp suy nghĩ có hệ thống, quan điểm, xử lý Thuyết này nhấn mạnh sự hợp tác của nhiều chuyên gia khác nhau trong việc phát triển hệ thống và các chương trình của
hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng, tạo điều kiện học tập bình đẳng cho học viên Nói về thuyết này, Mc Carteny (1996) mô tả ưu điểm của giáo dục đào tạo qua mạng về hiệu quả kinh tế, sự tiện lợi về thời gian và khoảng cách, sự hợp tác dễ dàng giữa công nghiệp và học thuật, tính chất đa quốc gia và đa văn hóa Noam (1996) cũng chỉ ra rằng việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong lĩnh vực giáo dục sẽ hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu đại học như việc giảng dạy tại phòng học Vì vậy trong tương lai, các trường đại học cần chú trọng vào việc hướng dẫn hơn là giảng dạy các khóa học.” (Trần Văn Lăng, Đào Văn Tuyết và Choi Seong, 2004)
2.2.3 Giáo dục đào tạo qua mạng bổ sung cho các lớp học truyền thống:
Hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng có ý nghĩa ở tiềm năng tạo cơ hội giáo dục cho những người có hoàn cảnh tách biệt hoặc hạn chế về mặt địa lý, lịch sử, xã hội nhưng có chí học tập, chứ không đơn thuần chỉ là một cách làm giảm chi phí học tập (Willis, 1998) Ở đây, hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng được đánh giá là một
hệ thống đào tạo ít tốn kém, dựa trên mạng internet, tiết kiệm được các chi phí hoạt động như tổ chức lớp học, thuê mặt bằng Vì hệ thống giáo dục thông thường không thể triệu tập những người có hoàn cảnh nêu trên nên hệ thống giáo dục đào tạo qua mạng sẽ là một giải pháp thích hợp cho họ Bởi thế, hệ thống giáo dục đào
Trang 19tạo qua mạng nên được phát triển cho một bộ phận sinh viên có yêu cầu đặc biệt về mặt giáo dục Ngoài lý do về nhu cầu, sự đầu tư này cũng phải đảm bảo là một sự đầu tư có kết quả tốt hơn
Sự khác biệt giữa đào tạo từ xa qua mạng và đào tạo trực tuyến:
Khi thảo luận về e-learning, thông thường chúng ta chỉ tập trung vào hai dạng chính
đó là đào tạo trực tuyến và đào tạo từ xa qua mạng Mặc dù đào tạo trực tuyến và đào tạo từ xa có nhiều điểm tương đồng, nhưng chúng vẫn có nhiều điểm khác biệt quan trọng:
Đào tạo trực tuyến (online learning) là khi học viên sử dụng máy tính cá nhân truy cập vào khoá học của họ Điều này có thể là (nhưng không hẳn là luôn luôn) sinh viên không cần có mặt trực tiếp tại trường Các sinh viên có thể học tập
cá nhân một cách thoải mái hoặc họ có thể tham gia cộng tác vào các bài tập của lớp bằng cách sử dụng các công cụ như Chat và thảo luận nhóm
Đào tạo từ xa (distance learning) được phát triển dành cho những người không có khả năng tham dự các khoá học trên lớp theo chương trình (de Wolf, 1996; Garrison, 1989; Verduin & Clark, 1991) Đào tạo từ xa có thể khắc phục được các cản trở về địa lý, vị trí (bệnh viện, nhà tù); các trách nhiệm xã hội (công
ăn việc làm, việc chăm sóc trẻ); và sự tàn tật Nó giúp cho người học chọn thời điểm học thích hợp với họ, có thể điều chỉnh để phù hợp với công việc và còn nhiều tiện lợi khác (Garrison, 1989; Verduin & Clark, 1991)
Đào tạo trực tuyến khác với đào tạo từ xa ở mức độ tương tác của nó (Cambell, 1999) Sự tương tác trực tuyến có thể đồng bộ hoá được ( liên quan đến tính tương tác thời gian thực) thông qua chat-room và truyền hình tương tác (video-conferencing), hoặc có thể không đồng bộ hoá (sự tương tác diễn ra ở những thời điểm khác nhau, ở những sinh viên khác nhau khi họ truy cập tài liệu bằng mail, voicemail, websites)
Một số trường đại học & cao đẳng đang triển khai chương trình e-learning ở Việt Nam:
Trung tâm Đào tạo Từ xa, Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN
Trang 20Viện công nghệ thông tin – ĐHQGHN
Đại học Bách Khoa Hà Nội – ĐHQGHN
Học viện bưu chính viễn thông
Cử nhân công nghệ thông tin, Trường Đại học Tự nhiên – ĐHQGTPHCM Trường Đại học Công nghệ Thông tin - ĐH Quốc gia TP.HCM
Trường đại học Kinh Doanh & Công Nghệ Hà Nội
Trường đại học Thái Nguyên
Trường cao đẳng kỹ thuật Lý Tự Trọng
2.2.4 Các lợi ích của đào tạo e-learning đối với giáo dục:
Đối với nền kinh tế:
Khắc phục tình trạng giáo dục: ‘cung không đủ cầu’
Giảm chi phí đào tạo trên qui mô lớn
Đối với các tổ chức đào tạo:
E-learning hỗ trợ, bổ sung phương pháp dạy truyền thống
E-Learning mở ra các thị trường mới Việc đào tạo không bị giới hạn trong khu vực địa lý Họ có thể cung cấp đào tạo 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong một tuần Như vậy nếu làm tốt doanh thu sẽ lớn hơn nhiều
Đối với các phòng đào tạo:
Các phòng đào tạo cũng được hưởng các lợi ích riêng khi chuyển sang Learning E-Learning giúp họ hoạt động hiệu quả hơn, đào tạo hiệu quả hơn,
e-và nâng cao vị trí của họ trong tổ chức mà họ phục vụ
Giảm chi phí đào tạo: Khả năng giảm chi phí đào tạo của e-learning được chỉ
ra rất rõ Giảm chi phí đào tạo đến 50% hoặc 90% không phải là khó thấy, đặc biệt là khi đào tạo một lượng lớn người mà họ phải mất một thời gian dài
để đi đến nơi đào tạo và những ai đã có máy tính và đã kết nối mạng Learning bỏ hẳn chi phí đi lại và các chi phí phụ khác
E-Giúp đào tạo các học viên có trường hợp đặc biệt: Không phải mọi người đều được đến lớp Không phải tất cả mọi người đều học hiệu quả trong lớp học
Trang 21E-Learning có thể coi là giải pháp thay thế cho những người sau:
• Các học viên ở nơi xa không đủ thời gian và kinh phí để tham gia các khóa đào tạo theo kiểu truyền thống
• Các học viên bận không thể tham các lớp học truyền thống theo đúng lịch
• Các học viên đang trên đường đi đến nơi đào tạo nhưng không đến đúng thời gian diễn ra của đào tạo
• Các học viên ngại xuất hiện trước đám đông
• Học viên có khó khăn về ngôn ngữ không hiểu một giáo viên nói quá nhanh
• Học viên tàn tật
Với những học viên này, e-learning có thể cung cấp một giải pháp thay thế phù hợp với khả năng, lịch, và ngân quỹ
Làm cho đào tạo trên lớp học sống động hơn: e-learning không làm mất
phương pháp học tập truyền thống mà bổ sung, nâng cao nó
Nếu cung cấp thêm các phương tiện để truy cập web ngay trong lớp học thì các kho tài nguyên trên mạng, tính tương các của các ví dụ, các thông tin mới cập nhật sẽ làm cho lớp học thay đổi hẳn phong cách học tập Các
phương tiện trao đổi thông tin khác như email, chat, và thảo luận trên mạng
sẽ giúp học viên và giảng viên gần gũi nhau hơn
Đối với học viên:
Đối với các học viên, e-learning cung cấp một phương pháp hiệu quả và
thuận tiện để học kĩ năng và kiến thức Có thể liệt kê một số lợi ích như sau:
• Thời gian đào tạo ngắn hơn: e-learning được thiết kế hợp lý có kèm theo multimedia tăng hiệu quả học tập rất nhiều
• Tiết kiệm thời gian hơn: Với e-learning, học viên chỉ đăng nhập vào và học
• Học viên kiểm soát quá trình học: Học viên có thể tự điều chỉnh quá trình học tập tuỳ thuộc niềm đam mê, sức khoẻ, có thể học lại một vấn đề khó nhiều lần
• Đào tạo bám sát các yêu cầu và sở thích cá nhân: Học viên có thể lựa chọn các chủ đề mình mong muốn và lướt qua các chủ đề mình không quan tâm
Trang 22• Đào tạo phù hợp với các kế hoạch bận rộn, bất thường: E-Learnig có thể diễn ra mọi nơi mà máy tính có thể kết nối vào internet
Trong nghiên cứu này, khái niệm đào tạo qua mạng được hiểu như là khái niệm e-learning, nghĩa là hình thức đào tạo thông qua hai hình thức chủ yếu được xét tới: đào tạo trực tuyến qua mạng và đào tạo từ xa qua mạng
2.3 Lý thuyết về mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model)
Có rất nhiều mô hình đã được phát triển để điều tra nghiên cứu và hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận công nghệ trong các tổ chức Trong số đó
có Lý thuyết hành động hợp lý – Theory of Reason Action (Ajzen và Fishbein, 1975), Lý thuyết kế hoạch hành vi – Theory of Planned Behaviour (Ajzen, 1991),
Mô hình chấp nhận công nghệ - Technology Acceptance Model (Davis, 1989), Lý thuyết thống nhất của việc chấp nhận và sử dụng công nghệ - Unified Theory of Acceptance and Use of Technology (Venkatesh, Morris và Davis, 2003) Tuy nhiên thực tế cho thấy mô hình TAM (Davis, 1989) được các nhà nghiên cứu sử dụng nhiều nhất khi nghiên cứu khả năng ứng dụng của các hệ thống kỹ thuật mới, mặt khác e-learning cũng là một hệ thống đào tạo mới xuất hiện trong vòng một thập kỷ gần đây và là một trong những sự phát triển có ý nghĩa nhất của ngành công nghiệp
hệ thống thông tin (Wang, 2003)
Mô hình TAM là mô hình chỉnh sửa từ thuyết hành động hợp lý (Ajzen và Fishbein, 1980), sử dụng để giải thích và dự đoán về sự chấp nhận và sử dụng một công nghệ Lý thuyết về hành động hợp lý được phát triển bởi Ajzen và Fishbein (1980) với hàm ý rằng ý định thực hiện một hành vi sẽ xác định hành vi đó, trong
đó ý định bị tác động bởi thái độ và chuẩn chủ quan Yếu tố quyết định đến hành vi cuối cùng không phải là thái độ mà là ý định hành vi Thái độ đối với một hành động là chúng ta cảm thấy thế nào khi làm một việc gì đó Vì vậy TAM là mô hình dựa trên ý định Hai yếu tố cơ bản của mô hình là mức độ hữu ích cảm nhận và mức
độ dễ sử dụng cảm nhận có tác động trực tiếp đến thái độ Thái độ về việc sử dụng một hệ thống sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi sử dụng hệ thống qua đó sẽ
Trang 23xác định hệ thống nào được người sử dùng sử dụng Ngoài ra, mức độ dễ sử dụng cảm nhận cũng có tác động lên mức độ hữu ích cảm nhận, trong khi mức độ hữu ích cảm nhận lại có tác động trực tiếp lên ý định sử dụng
Mức độ hữu ích cảm nhận là ‘mức độ để một người tin rằng sử dụng hệ thống đặc thù sẽ nâng cao sự thực hiện công việc của chính họ’ Mức độ dễ sử dụng cảm nhận là ‘mức độ mà một người tin rằng sử dụng hệ thống đặc thù mà không cần sự nỗ lực’ (Davis , 1989)
TAM đã phát triển theo thời gian Mô hình TAM 2 đã mở rộng mô hình ban đầu để giải thích mức độ hữu ích cảm nhận và ý định sử dụng bởi ảnh hưởng của các yếu tố xã hội (chuẩn chủ quan, tính tự nguyện, ấn tượng), nhận thức qui trình (chất lượng đầu ra, kết quả) và kinh nghiệm
2.4 Kết quả của một số nghiên cứu trên thế giới và mô hình nghiên cứu:
Selim (2006) đã phát biểu cần có nghiên cứu TAM với việc học tập dựa trên Web Ông đưa ra mô hình chấp nhận khóa học trên mạng (CWAM – course website acceptance model) và kiểm tra các mối quan hệ giữa ‘mức độ hữu ích cảm nhận’,
‘mức độ dễ sử dụng cảm nhận’ và ‘ý định sử dụng’ của sinh viên đại học bằng cách
sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (Structrure Equal Model) và chương trình LISREL Ông kết luận rằng mô hình phù hợp với các dữ liệu thu thập và tính hữu ích, tính dễ sử dụng là những yếu tố quyết định có ý nghĩa đối với việc chấp nhận
sử dụng khóa học trên mạng như là một kỹ thuật học tập có hiệu quả ‘Mức độ hữu ích cảm nhận’ có thể được định nghĩa là mức độ mà một sinh viên đại học tin rằng bằng cách sử dụng e-learning sẽ làm thúc đẩy kết quả học tập của mình Trong khi
‘mức độ dễ sử dụng cảm nhận’ được định nghĩa là mức độ mà một sinh viên tin rằng có thể sử dụng e-learning mà không cần bất cứ nỗ lực nhận biết nào Trong nghiên cứu này, e-learning được đề cập như là cách học thuần túy không đồng bộ dựa trên một trang web hoạt động của trường Nó cũng được hỗ trợ bởi hệ thống quản lý học vụ (LMS) của trường
Lee, Cheung và Chen (2005) đã thực hiện nghiên cứu tương tự để điều tra mức độ chấp nhận đối với việc học dựa trên internet (ILM - Internet-based learning
Trang 24medium) bằng TAM, nhưng họ tích hợp TAM với lý thuyết động cơ học tập Họ thêm vào mô hình TAM yếu tố ‘mức độ thích thú cảm nhận’ như là động lực nội tại tác động đến ‘mức độ hữu ích cảm nhận’ và ‘mức độ dễ sử dụng cảm nhận’ Theo kết quả của họ, ‘mức độ hữu ích cảm nhận’ và ‘mức độ thích thú cảm nhận’ có tác động đến cả thái độ của sinh viên và ‘ý định sử dụng’ ILM Tuy nhiên ‘mức độ dễ
sử dụng cảm nhận’ được cho là không có liên quan đến ý định của sinh viên Trong khi đó, Liu, Liao, và Peng (2005) đã tích hợp TAM với lý thuyết dòng chảy (flow theory) trong đó tập trung vào mô hình cấu trúc Họ lập luận rằng những người sử dụng hệ thống học tập e-learning ở các trường đại học nên được xem như vừa là người sử dụng vừa là học viên Ngoài ra, Liu, Liao, Peng còn thêm vào mô hình TAM yếu tố ‘cách trình bày e-learning’ như là một biến bên ngoài, họ kết luận rằng giữa ‘cách trình bày e-learning’ và ‘ý định sử dụng e-learning’ có liên quan với nhau, trong đó ‘mức độ tập trung’ và ‘mức độ hữu ích cảm nhận’ là những biến trung gian Lee (2006) đã thêm vào ‘các đặc tính của hệ thống’ và ‘đặc tính của người học’ như là các biến bên ngoài được cho là có tác động đến ‘mức độ hữu ích cảm nhận’, nhận thức dễ sử dụng, và ý định sử dụng e-learning Kết quả nghiên cứu cho thấy ‘các đặc tính hệ thống’ có tác động quan trọng đối với ‘mức độ hữu ích cảm nhận’, ‘mức độ dễ sử dụng cảm nhận’ và ‘ý định sử dụng hệ thống e-learning’,
và cho thấy mô hình lý thuyết dựa trên TAM được cho là phù hợp Saadé, Nebebe,
và Tan (2007) cũng khẳng định rằng ‘tính tương tác’ giữa các sinh viên và giữa sinh viên với trường đại học là một trong những yếu tố quan trọng đối với sự thành công của hệ thống e-learning và qua đó sẽ dẫn đến hành vi chấp nhận sử dụng của sinh viên
Vankatesh và Davis (2000) đã tập trung nghiên cứu những tiền đề của ý định
sử dụng hệ thống đào tạo qua mạng Họ kết luận rằng khả năng thành thạo máy tính
sẽ quyết định ý định sử dụng và khả năng sử dụng hệ thống mới (nhằm xác định mức độ dễ sử dụng cảm nhận) chỉ có có thể được tạo ra sau khi trực tiếp trải nghiệm
sử dụng một hệ thống trước đó Trong khi đó, Grandon, Alshare, và Kwan (2005) khẳng định rằng sự tự tin có tác động gián tiếp đến ý định sử dụng của sinh viên
Trang 25Trong nghiên cứu này, mức độ tự tin nói chung được xem như sự tự tin cá nhân trong việc tìm kiếm thông tin và liên lạc với các người dùng khác trong hệ thống e-learning và các kỹ năng cần thiết để sử dụng hệ thống
Như vậy, từ những lập luận trên, dựa vào các nghiên cứu đã được thực hiện, những yếu tố có ảnh hưởng đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của sinh viên đã được xem xét là có ý nghĩa đó là:
về vấn đề học MBA quốc tế qua mạng, từ đó có thể giúp khám phá các chiều kích khác nhau về vấn đề nghiên cứu và giúp nhận diện tốt hơn các nhân tố ảnh hưởng
Kết quả cho thấy, bên cạnh các yếu tố trên, hai yếu tố là ấn tượng về bằng cấp và mức rủi ro cảm nhận đã được đưa vào mô hình cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu Các yếu tố ngày được nhóm, rút ra, và tổng hợp lại thành hai khái niệm
“ấn tượng về bằng cấp MBA quốc tế qua mạng” và “mức rủi ro cảm nhận” thông qua kết quả của nghiên cứu định tính, xuất phát từ các phát biểu của các đối tượng phỏng vấn
Từ những nghiên cứu trước đây và nghiên cứu định tính, mô hình nghiên cứu ở Việt Nam được đưa ra như sau:
Trang 26Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu
Kinh nghiệm sử dụng internet: (Internet Experiency)
Kinh nghiệm sử dụng internet được xem là mức độ trải nghiệm của một cá nhân trong việc sử dụng internet Các nghiên cứu trước đây đều cho rằng kinh nghiệm cá nhân về một công nghệ sẽ ảnh hưởng đến ý định sử dụng công nghệ đó Ngoài ra, Kerka (1999) lập luận rằng những học viên đào tạo từ xa thành công là dựa vào những kỹ năng sử dụng máy tính và internet cũng như khả năng ứng phó với những tình huống thực tiễn Nếu người dùng đã có cơ hội sử dụng các ứng dụng công nghệ mới, thái độ của họ về việc sử dụng hệ thống đào tạo qua mạng sẽ theo hướng tích cực (Venkatesh & Brown, 2001) Dựa vào cơ sở biện luận trên, chúng ta có giả thuyết:
H1: Kinh nghiệm sử dụng internet sẽ có ảnh hưởng tích cực đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của một sinh viên Việt Nam
Mức độ tương tác trong hệ thống: (System Interactivity)
Ý định học MBA quốc tế qua mạng (Intention to use)
Trang 27Mức độ tương tác hệ thống được xem là khả năng liên hệ, trao đổi giữa giảng viên
và sinh viên, giữa các sinh viên với nhau thông qua hệ thống mà kết quả là sự hợp tác lẫn nhau trong việc dạy và học Việc tương tác này có thể là đồng bộ hay không đồng bộ Vì vậy, mức độ tương tác hệ thống được xem là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận đào tạo qua mạng của sinh viên (Davis, Bagozzi và Warshaw, 1989) Ngoài ra, theo các lý thuyết về e-learning (trích bởi Trần Văn Lăng, Đào Văn Tuyết và Choi Seong, 2004) đã nêu trên, ‘Thuyết Tương Tác’ là một trong ba thuyết cơ bản nhất của hệ thống đào tạo qua mạng, nhấn mạnh rằng mức độ tương tác giữa các người dùng trong hệ thống là yếu tố quan trọng góp phần quyết định sự thành công của loại hình đào tạo này Dựa vào cơ sở biện luận trên, chúng ta có giả thuyết:
H2: Mức độ tương tác trong hệ thống sẽ có ảnh hưởng tích cực đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của một sinh viên Việt Nam
Chuẩn chủ quan: (Subjective Norm)
Chuẩn chủ quan dùng để chỉ cảm nhận mức độ quan trọng của một cá nhân về những gì mà người khác nghĩ rằng anh ta/cô ta nên hay không nên thực hiện một hành vi được nêu (Fishbein và Ajzen, 1975) Taylor và Todd (1995) dùng khái niệm
‘chuẩn chủ quan’ để chỉ cảm nhận của một người về áp lực xã hội đặt lên anh ta/cô
ta để thực hiện hành vi được nêu Nhiều nghiên cứu cho thấy ‘chuẩn chủ quan’ có ảnh hưởng trực tiếp (Ajzen, 1991; Taylor và Todd, 1995) và gián tiếp (Venkatesh
và Davis, 2000) đến ý định cá nhân về việc chấp nhận sử dụng hệ thống Theo nghiên cứu gần đây của Gradon, Alshare, Kwan (2005), và Park (2009), chuẩn chủ quan là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định học qua mạng của sinh viên Cũng tương tự, kết quả nghiên cứu của Lee (2006), cho rằng chuẩn chủ quan có ảnh hưởng gián tiếp đến ý định học qua mạng của các sinh viên Vì vậy nghiên cứu này xem xét chuẩn chủ quan là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến ý định học MBA quốc tế qua mạng và giả thuyết sau đây đã được phát triển cho phù hợp:
Trang 28H3: Chuẩn chủ quan sẽ có tác động tích cực đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của một sinh viên Việt Nam
Ấn tượng về bằng cấp MBA quốc tế qua mạng (Image of e - MBA degree):
Ở Việt Nam, ấn tượng cảm nhận về bằng cấp đóng vai trò quan trọng trong nhiều quyết định học tập, chọn lựa nơi đào tạo, hình thức đào tạo của sinh viên Đó là lợi ích cảm nhận từ phía sinh viên về bằng cấp nhận được khi theo học chương trình đào tạo MBA nước ngoài bằng e-learning Thật hợp lý nếu cho rằng việc theo học chương trình MBA quốc tế qua mạng sẽ nâng cao giá trị xã hội của một cá nhân, và điều đó sẽ ảnh hưởng tích cực đến ý định theo học của họ (Karahanna, Straub & Chervany, 1999).Thực tế cho thấy các văn bằng quốc tế vẫn luôn được đánh giá cao
và có sức hấp dẫn đối với rất nhiều sinh viên Ấn tượng này đại diện cho những lợi ích được các học viên mong đợi có được khi theo học một chương trình danh tiếng (Ledden, 2006) Qua phỏng vấn định tính, các đối tượng phỏng vấn đều cho thấy ấn tượng về bằng cấp MBA quốc tế qua mạng có tính hấp dẫn, là động lực trực tiếp, có liên quan đến ý định theo học của họ Dựa vào cơ sở biện luận trên, chúng ta có giả thuyết:
H4: Ấn tượng cảm nhận về bằng cấp khi theo học chương trình đào tạo MBA quốc
tế bằng e-learning có ảnh hưởng tích cực đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của một sinh viên Việt Nam
Mức độ tự tin (Self – efficacy):
Mức độ tự tin là một khái niệm quan trọng trong xã hội học (Bandura, 1977) Sự tự tin là niềm tin của một cá nhân vào khả năng của mình để thực hiện một hành động nào đó hay mức độ tin tưởng thành công của một cá nhân khi thực hiện một hành động nào đó Trình độ công nghệ Việt Nam lạc hậu so với các nước phát triển gần nửa thế kỷ cũng giải thích phần nào sự thiếu tự tin sử dụng công nghệ của một bộ phận lớn người dân Việt Nam Vì vậy, sự tự tin càng thể hiện vai trò quan trọng trong việc đo lường mức độ chấp nhận sử dụng dịch vụ đào tạo qua mạng ở Việt
Trang 29Nam Những người có mức độ tự tin cao khi sử dụng máy tính, sẽ có khả năng chấp nhận sử dụng hệ thống e-learning nhiều hơn Dựa vào cơ sở biện luận trên, chúng ta
có giả thuyết:
H5: Mức độ tự tin sẽ có ảnh hưởng tích cực đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của một sinh viên Việt Nam
Rủi ro cảm nhận (Perceived risk):
Có quan hệ với ý định học qua mạng, được xem là bất trắc mà sinh viên phải đối mặt phải khi họ không lường trước những hậu quả của quyết định theo học qua mạng Người dùng sẽ bị ảnh hưởng bởi những rủi ro mà họ nhận thức, cho dù rủi ro
đó có tồn tại hay không (Chan và Lu, 2004) Hewer và Howcroft (1999) thì cho rằng, dù các sinh viên rất tin tưởng vào tổ chức đào tạo nhưng vẫn không tin tưởng vào công nghệ
Kết quả phỏng vấn định tính cho thấy những rủi ro mà các sinh viên cảm nhận được là: khả năng theo kịp chương trình học, khối lượng kiến thức tiếp nhận, cơ sở hạ tầng mạng, sự thụ động khi tiếp xúc gián tiếp, học phí của chương trình đào tạo… Dựa vào cơ sở biện luận trên, chúng ta có giả thuyết:
H6: Rủi ro cảm nhận việc sử dụng hệ thống đào tạo qua mạng sẽ có tác động tiêu cực đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của một sinh viên Việt Nam
2.5 Tóm tắt:
Chương này trình bày tổng quan các nghiên cứu trước liên quan đến vấn đề học qua mạng Trên cơ sở tham khảo các mô hình đã nêu trên, mô hình ‘các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học MBA quốc tế qua mạng’ đã được xây dựng như ở hình 2.2
Mô hình này gồm sáu yếu tố ảnh hưởng đến ý định học MBA quốc tế qua mạng đó là: kinh nghiệm sử dụng internet, mức độ tương tác hệ thống, chuẩn chủ quan, mức
độ tự tin, ấn tượng bằng cấp và rủi ro cảm nhận
Trang 30CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Giới thiệu:
Chương hai đã trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây của các tác giả
có liên quan thuộc lĩnh vực đào tạo qua mạng đồng thời phát triển mô hình nghiên cứu và các giả thuyết Chương ba sẽ trình bày các vấn đề liên quan đến phương pháp nghiên cứu, thang đo để kiểm định các giả thuyết đề ra Chương này bao gồm các phần như sau: (1) Thiết kế nghiên cứu, (2) các thang đo lường các khái niệm nghiên cứu và (3) mẫu nghiên cứu định lượng chính thức
3.2 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu sẽ được tiến hành qua hai bước:
Bảng 3.1 Tiến độ thực hiện nghiên cứu
02 – 2010 đến 05 -
2010
Nghiên cứu sơ bộ:
Thang đo Likert 7 điểm (với hai cực: 1 là hoàn toàn không đồng ý, 7 là hoàn toàn đồng ý; 4 là đại diện cho sự không chắc chắn hay trung lập) dùng để đo tất cả các biến đã được kiểm chứng bởi các nghiên cứu trước đây sẽ được sử dụng trong bảng câu hỏi phỏng vấn đối tượng nghiên cứu
Bởi vì các nghiên cứu được tham khảo là những nghiên cứu từ nước ngoài và các biến được sử dụng trong mô hình là kết quả của các nghiên cứu đó, việc chuyển các
Trang 31khái niệm trong các nghiên cứu trước đây sang ngôn ngữ Việt Nam cũng cần sự cẩn trọng và cân nhắc để đảm bảo độ tin cậy và giá trị của nó, cho nên để đánh giá khả năng áp dụng mô hình vào Việt Nam bước nghiên cứu đầu tiên tác giả sẽ thực hiện nghiên cứu định tính, dùng kỹ thuật phỏng vấn sâu trên một dàn bài lập sẵn về tất cả các khái niệm liên quan
Mục đích của nghiên cứu định tính này nhằm kiểm tra mức độ rõ ràng của từ ngữ và khả năng hiểu các phát biểu cũng như tính trùng lắp các phát biểu trong thang đo để sau đó hiệu chỉnh thang đo
· Tổ chức phỏng vấn sâu với từng đối tượng được chọn (cỡ mẫu 7 người, là sinh viên đã tốt nghiệp và chưa tốt nghiệp, chưa từng tham gia khóa học qua mạng) Nội dung của các cuộc thảo luận sẽ được ghi nhận, tổng hợp và là cơ sở cho việc điều chỉnh bổ sung các biến, các yếu tố
· Nhận dạng các thuộc tính do đối tượng phỏng vấn cung cấp
· Phân loại và phân nhóm và đặt tên các thuộc tính theo các khái niệm đã biết
Có thể xuất hiện thêm những thuộc tính mới, không có trong mô hình nghiên cứu, khi đó phân loại và đặt tên cho những thuộc tính đó Tìm kiếm khái niệm của các thuộc tính mới đó
· Kết nối, xem xét mối quan hệ nhân quả, tương quan giữa các thuộc tính với nhau
Kết quả của nghiên cứu sơ bộ sẽ là một bảng câu hỏi sẵn sàng cho nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu chính thức:
Dữ liệu thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 16 Sau khi được hiệu chỉnh (editing) và mã hóa (coding) dữ liệu, các phân tích sau sẽ được tiến hành:
· Đánh giá độ tin cậy và độ giá trị của thang đo
· Kiểm định sự phù hợp của mô hình lý thuyết bằng phương pháp hồi qui đa biến
Qui trình như sau:
Trang 32Hình 3.1 Qui trình nghiên cứu
Bước 1: Hình thành thang đo
Việc hình thành thang đo bắt đầu từ cơ sở lý thuyết Các thang đo này được dịch sang tiếng Việt từ những thang đo đã được sử dụng trong các nghiên cứu được công
Nghiên cứu sơ
bộ
- Phong vấn sâu
- N=7
Thang đo chính thức
Cơ sở lý thuyết
Điều chỉnh
Thang đo nháp
- Kiểm tra hệ số Cronbach Alpha
- Loại các biến có trọng số EFA nhỏ
- Kiểm yếu tố trích được
- Kiểm tra phương sai trích được
- Hồi qui đa biến
Trang 33bố trên tạp chí quốc tế Do đó để đảm bảo giá trị của thang đo, một nghiên cứu định tính sẽ được sử dụng (bằng phương pháp phỏng vấn sâu) nhằm khẳng định các đối tượng được phỏng vấn (sinh viên) hiểu rõ được nội dung các khái niệm và ý nghĩa các từ ngữ Sau khi được hiệu chỉnh, nó sẽ trở thành thang đo chính thức cho nghiên cứu định lượng chính thức
Bước 2: Đánh giá thang đo
Trong nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng, thang đo được đánh giá qua hai công cụ chính: (1) hệ số tin cậy Cronchbach Alpha và (2) phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (exploratory factor analysis) Hệ số Cronchbach Alpha được sử dụng trước để loại các biến không phù hợp, các biến có hệ số tương quan biến tổng (item-total correlation) nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và tiêu chuẩn chọn thang đo khi nó có độ tin cậy Alpha từ 0.6 trở lên (Nunnally & Bernstein, 1994, trích từ Nguyễn Thị Mai Trang & Nguyễn Đình Thọ, 2004) Tiếp theo, phương pháp EFA được sử dụng, phương pháp này chỉ được sử dụng khi hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) có giá trị từ 0.5 trở lên, các biến có trọng số (factor loading) nhỏ hơn 0.5 trong EFA sẽ tiếp tục bị loại bỏ, thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích bằng hoặc lớn hơn 50% (Nunnally & Bernstein, 1994, trích từ Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2004)
Bước 3: Phân tích kết quả
Các thang đo được đánh giá đạt yêu cầu được đưa vào phân tích phân tích tương quan, và phân tích hồi qui để kiểm định các giả thuyết
3.3 Xây dựng thang đo:
Như đã trình bày ở chương 2, có 7 khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu này đó
là các khái niệm: “ý định sử dụng” kí hiệu là “YDinh”, “kinh nghiệm sử dụng internet” kí hiệu là “KinhNghiem”, “chuẩn chủ quan” kí hiệu là “ChuanChuQuan”,
“mức độ tương tác hệ thống” kí hiệu là “TuongTac”, “mức độ tự tin” kí hiệu là
“TuTin”, “ấn tượng về bằng cấp” kí hiệu là “AnTuong”, và “mức rủi ro cảm nhận”
kí hiệu là “RuiRo” Tất cả các khái niệm trong mô hình sẽ được đo bằng thang đo
Trang 34đa biến Thang đo này được chỉnh sửa thông qua nghiên cứu định tính để phù hợp với điều kiện ở Việt Nam.
3.3.1 Thang đo kinh nghiệm sử dụng internet:
Kinh nghiệm sử dụng internet được kí hiệu là “KinhNghiem” và được đo lường bằng 3 biến quan sát kí hiệu KinhNghiem_01 đến KinhNghiem_03 Các biến quan sát này dựa trên thang đo của Tan và Teo (2000) Tan và Teo (2000) đã sử dụng thang đo này trong nghiên cứu về ảnh hưởng của kinh nghiệm sử dụng internet của người tiêu dùng đến ý định sử dụng internet banking và đã được Abbad (2009) sử dụng lại trong nghiên cứu về ý định học qua mạng của sinh viên tại Jordan với hệ số Cronbach Alpha là 0.864 Các biến quan sát này dùng để đo lường kinh nghiệm của các đối tượng nghiên cứu về việc sử dụng internet và được đo lường bằng thang đo
khoảng, bảy điểm
Bảng 3.2: Thang đo kinh nghiệm sử dụng internet (Tan & Teo, 2000)
3.3.2 Thang đo mức độ tương tác hệ thống:
Mức độ tương tác hệ thống kí hiệu là “TuongTac”, được đo lường bằng ba biến quan sát kí hiệu TuongTac_04 đến TuongTac_06 Các biến quan sát này dựa trên thang đo của Davis (1989) Thang đo này đã được Davis áp dụng trong nghiên cứu
ý định sử dụng hệ thống đào tạo qua mạng, và được Abbad (2009) sử dụng lại trong nghiên cứu của mình với hệ số Cronbach Alpha là 0.846 Các biến dùng để đo lường thành phần này thể hiện mức độ giao tiếp (đồng bộ hoặc không đồng bộ) giữa các người dùng (cả học viên và giảng viên) thông qua hệ thống đào tạo qua mạng
Do đó việc áp dụng thang đo này vào nghiên cứu là phù hợp về mặt giá trị nội dung Các biến quan sát của thang đo này được đo lường bằng thang đo khoảng, bảy điểm
KinhNghiem_01 - Tôi thường xuyên sử dụng Internet
KinhNghiem_02 - Tôi dành nhiều thời gian để sử dụng Internet
KinhNghiem_03 - Tôi sử dụng Internet trong việc học tập và giải trí
Trang 35Bảng 3.3: Thang đo mức độ tương tác hệ thống (Davis, 1989)
3.3.3 Thang đo chuẩn chủ quan:
Chuẩn chủ quan được kí hiệu là “ChuanChuQuan”, được đo lường bằng 4 biến quan sát kí hiệu từ ChuanChuQuan_07 đến ChuanChuQuan_10 Các biến quan sát này dựa trên thang đo của Ajzen (1991) Đây là một thang đo nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu ý định hành vi Thang đo này đã được Abbad (2009) sử dụng trong nghiên cứu ý định học qua mạng của sinh viên tại Jordan với hệ số Cronbach Alpha 0.844 Như vậy, việc áp dụng thang đo này trong nghiên cứu là đảm bảo độ giá trị nội dung Các biến của thang đo này đo lường thái độ của những người xung quanh
về ý định học MBA quốc tế qua mạng của đối tượng được nghiên cứu, được đo lường bằng thang đo khoảng, bảy điểm
Bảng 3.4: Thang đo chuẩn chủ quan (Ajzen, 1991)
3.3.4 Thang đo ấn tượng về bằng cấp MBA quốc tế qua mạng:
Ấn tượng về bằng cấp MBA quốc tế qua mạng được kí hiệu là “AnTuong”, được đo lường bằng bốn biến quan sát kí hiệu từ AnTuong_11 đến AnTuong_14 Các biến quan sát này dựa trên thang đo của Ledden (2006) Ông đã dùng thang đo này trong nghiên cứu tác động của ấn tượng về danh tiếng bằng cấp nhận được đến sự thỏa
TuongTac_04 - Hệ thống đào tạo MBA quốc tế qua mạng cho phép
truyền thông tương tác giữa giảng viên và học viên TuongTac_05 - Hệ thống đào tạo MBA quốc tế qua mạng cho phép
truyền thông tương tác giữa các học viên TuongTac_06 - Các công cụ như: chat, email, diễn đàn (forum) trong
hệ thống đào tạo qua mạng được nhiều học viên sử dụng
ChuanChuQuan_07 - Những người thân của tôi nghĩ rằng tôi nên học
MBA quốc tế qua mạng ChuanChuQuan_08 - Bạn bè của tôi nghĩ rằng tôi nên học MBA quốc tế
qua mạng ChuanChuQuan_09 - Giáo viên của tôi nghĩ rằng tôi nên học MBA quốc
tế qua mạng ChuanChuQuan_10 - Nhìn chung, có nhiều người nghĩ rằng tôi nên học
MBA quốc tế qua mạng
Trang 36mãn của học viên khi theo học một khóa học Qua phỏng vấn định tính, các phỏng vấn viên đều cho rằng các biến quan sát của thang đo này đều dễ hiểu và dễ trả lời Các biến quan sát được dùng trong thang đo này dùng để đo lường những lợi ích mong đợi của các học viên từ bằng cấp MBA quốc tế nhận được từ chương trình đào tạo qua mạng, được đo lường bằng thang đo khoảng, bảy điểm
Bảng 3.5: Thang đo ấn tượng về bằng cấp
3.3.5 Thang đo ý định học MBA quốc tế qua mạng:
Ý định học MBA quốc tế qua mạng được kí hiệu là “YDinh”, được đo lường bằng
ba biến quan sát kí hiệu từ Ydinh_015 đến Ydinh_017 Các biến quan sát của thang
đo này cũng dựa trên thang đo của Davis (1986) trong nghiên cứu ý định sử dụng hệ thống đào tạo qua mạng của các sinh viên và được Abbad (2009) sử dụng lại trong nghiên cứu ý định học qua mạng của sinh viên tại Jordan với hệ số Cronbach Alpha
là 0.877 Như vậy việc áp dụng thang đo này là phù hợp về mặt giá trị nội dung Các biến trong thang đo được đo lường bằng thang đo khoảng, bảy điểm
Bảng 3.6: Thang đo ý định học MBA quốc tế qua mạng (Davis, 1986)
AnTuong_11
trình đào tạo MBA quốc tế qua mạng là đủ điều kiện để làm việc tại các công ty ở Việt Nam
AnTuong_12 - Tôi nghĩ rằng tôi sẽ dễ dàng thăng tiến hơn khi có
bằng MBA quốc tế qua mạng,
AnTuong_13
MBA quốc tế nhận được từ chương trình đào tạo qua mạng
AnTuong_14 - Tôi có nghe nhiều điều tích cực về kết quả nhận được
khi học MBA quốc tế qua mạng
YDinh_15 - Tôi có ý định học MBA quốc tế thông qua hệ thống
đào tạo qua mạng YDinh_16 - Tôi muốn giới thiệu cho bạn bè tôi cùng học MBA
quốc tế qua mạng YDinh_17 - Tôi muốn tìm kiếm thông tin để học MBA quốc tế
qua mạng
Trang 373.3.6 Thang đo mức độ tự tin:
Mức độ tự tin được kí hiệu là “TuTin”, được đo lường bằng bốn biến quan sát kí hiệu từ TuTin_18 đến TuTin_21 Cũng như các biến quan sát trong thang đo “kinh nghiệm sử dụng internet”, các biến quan sát của thang đo “mức độ tự tin” cũng dựa trên thang đo của Tan và Teo (2000) và được Abbad (2009) sử dụng lại trong nghiên cứu của ông với hệ số Cronbach Alpha là 0.836 Vì vậy, việc áp dụng thang
đo này là đảm bảo về mặt độ giá trị nội dung Các biến quan sát của thang đo này được đo lường bằng thang đo khoảng, bảy điểm
Bảng 3.7: Thang đo mức độ tự tin
3.3.7 Thang đo mức rủi ro cảm nhận:
Rủi ro cảm nhận được kí hiệu là “RuiRo” và được đo lường bằng bốn biến quan sát
kí hiệu từ RuiRo_22 đếm RuiRo_25 Các biến quan sát này dựa trên thang đo của Chan và Lu (2004) Các ông đã dùng thang đo này trong nghiên cứu về ý định sử dụng hệ thống ngân hàng điện tử của người dùng Qua phỏng vấn định tính, kết quả cho thấy các biến quan sát trong thang đo của “rủi ro cảm nhận” của Chan và Lu (2004) có thể áp dụng được trong nghiên cứu này vì giữa hệ thống đào tạo qua mạng và hệ thống ngân hàng điện tử có sự tương đồng về mặt công nghệ với những rủi ro có thể đối mặt khi người dùng sử dụng Do đó việc áp dụng thang đo này vẫn đảm bảo về mặt giá trị nội dung Các biến quan sát được đo lường bằng thang đo khoảng, bảy điểm
Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy các sinh viên cảm thấy giảm mức rủi ro cảm nhận đối với việc học MBA quốc tế qua mạng với nếu học phí hợp lý, và các kiến
TuTin_18 - Tôi tin tưởng sẽ sử dụng được hệ thống đào tạo qua
mạng mà không cần ai chỉ dẫn cách sử dụng
TuTin_19
ngay cả khi tôi chưa từng sử dụng một hệ thống tương tự trước đây
TuTin_20 - Tôi tin sẽ sử dụng được hệ thống đào tạo qua mạng
miễn là có ai đó chỉ cho tôi cách sử dụng thế nào TuTin_21 - Tôi nghĩ mình sẽ sử dụng được hệ thống đào tạo qua
mạng dù chỉ có những chỉ dẫn sử dụng trực tuyến
Trang 38thức nhận được thông qua chương trình đào tạo là sát thực tế, phù hợp với điều kiện Việt Nam Tuy nhiên, họ cũng cho rằng chính việc học qua mạng có thể khiến họ thụ động hơn so với cách học truyền thống, do đó làm tăng mức rủi ro cảm nhận Tương tự như vậy đối với khả năng theo kịp chương trình học Các sinh viên được phỏng vấn cho biết nếu họ cảm thấy không có khả năng theo kịp chương trình học thì mức rủi ro cảm nhận về việc học MBA quốc tế qua mạng cũng sẽ tăng
Bảng 3.8: Thang đo mức rủi ro cảm nhận
3.4 Chọn mẫu:
Nghiên cứu này được thực hiện ở TP HCM Nghiên cứu này sử dụng đối tượng là sinh viên chính qui đang học năm cuối tại trường đại học Bách Khoa TP HCM, đại học Kinh Tế TP HCM, các sinh viên đã tốt nghiệp, các sinh viên đang học lớp chuyển đổi MBA và các đối tượng này đều có hiểu biết về việc học qua mạng elearning, có ý định học MBA Đây là những người phù hợp cho nghiên cứu, nhược điểm chính của nghiên cứu trong việc lựa chọn mẫu là khả năng tổng quát hóa tổng thể (sinh viên cả nước)
Tuy nhiên việc chọn mẫu này cũng có ưu điểm Thứ nhất, do đối tượng là sinh viên nên dễ tiếp cận góp phần làm giảm chi phí nghiên cứu Thứ hai, tính tương đồng cao điều đó làm cho kết quả nghiên cứu đáng tin cậy hơn
Phương pháp thu thập dữ liệu: nghiên cứu này tiến hành thu thập dữ liệu bằng phương pháp chọn mẫu thuân tiện trên những đối tượng nghiên cứu bằng 1 trong 2 cách: liên hệ trực tiếp hoặc qua email
- Gửi phiếu khảo sát online (dựa trên ứng dụng của Google) qua email,
RuiRo_22 - Tôi nghĩ rằng học qua mạng sẽ làm kiến thức tôi
tích lũy được ít hơn so với cách học truyền thống RuiRo_23 - Tôi nghĩ rằng số tiền phải bỏ ra để học MBA quốc
tế qua mạng là không xứng đáng RuiRo_24 - Tôi nghĩ rằng tôi sẽ trở nên thụ động hơn khi học
qua mạng RuiRo_25 - Tôi nghĩ rằng tôi sẽ không theo kịp chương trình
khi học qua mạng
Trang 39- Phát phiếu khảo sát trực tiếp
Cỡ mẫu: được lấy dựa trên cơ sở số lượng biến quan sát của các nhân tố cần ước lượng Green (1991) (được trích bởi Carmen & Besty, 2007)đã tổng hợp các nghiên cứu và cho rằng cỡ mẫu phù hợp cho phân tích hồi qui đa biến tối thiểu là N=50+8m, trong đó m là số biến độc lập Trong nghiên cứu này, số biến độc lập nhiều nhất là 6, vậy theo công thức kinh nghiệm trên thì số mẫu tối thiểu là 98 Thêm vào đó, theo Comrey & Lee (1992) (được trích bởi Carmen & Besty, 2007),
số lượng mẫu cho phân tích nhân tố được gợi ý như sau: dưới 50 mẫu là rất ít, từ 50 mẫu đến 100 là ít, từ 100 đến 200 là khá, từ 200 đến 300 là tốt, 300 đến 500 là rất tốt, 500 đến 1000 là hoàn hảo Nghiên cứu này dự tính kích thước mẫu n trong khoảng 260, để đạt được kích thước mẫu đề ra, 168 bảng câu hỏi được phát trực tiếp
và 500 email được gởi đi, thu về tổng cộng được 364 mẫu Sau khi kiểm tra, loại bỏ các mẫu không phù hợp, cuối cùng 259 mẫu được sử dụng Vì vậy, kích thước mẫu cuối cùng là n = 259
3.5 Tóm tắt:
Chương này đã trình bày phương pháp nghiên cứu được thực hiện để đánh giá điều chỉnh các thang đo về mô hình lý thuyết và các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học MBA quốc tế qua mạng của sinh viên Việt Nam Phương pháp nghiên cứu được thực hiện qua hai bước: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định tính sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu nhằm điều chỉnh từ ngữ, bổ sung và đảm bảo đối tượng phỏng vấn hiểu rõ các câu hỏi Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua việc phỏng vấn bằng bảng câu hỏi 259 đối tượng nghiên cứu tại Thành Phố Hồ Chí Minh nhằm đánh giá thang đo và kiểm định giả thuyết Chương tiếp theo sẽ trình bày thông tin về mẫu, kết quả kiểm định thang đo, các kết quả hồi qui của mô hình nghiên cứu và thảo luận kết quả
Trang 404.2 Thống kê mô tả:
4.2.1 Mô tả mẫu:
Tổng số bảng câu hỏi được phát đi là 668 bảng:
- 168 bảng câu hỏi giấy được gởi trực tiếp cho đối tượng phỏng vấn tại các lớp học chuyển đổi của đại học Bách Khoa TP HCM và đại học Kinh Tế TP HCM Bảng câu hỏi được các đối tượng phỏng vấn tự trả lời và được thu lại ngay sau đó
- 500 bảng câu hỏi được gởi qua email
Tổng số mẫu nhận được là 364 mẫu Trong đó:
- 150 mẫu giấy nhận được
- 214 mẫu nhận được từ email
Tổng số mẫu dùng để phân tích là 259 mẫu (sau khi loại bỏ những mẫu có đối tượng không phù hợp, những mẫu trả lời không đầy đủ )
- 92 mẫu giấy, chiếm 35.5% tổng số mẫu phân tích
- 167 mẫu nhận được từ email, chiếm 64.5% tổng số mẫu phân tích
Mẫu gồm 259 sinh viên tại các trường đại học thuộc các chuyên ngành (1 Kỹ thuật,
2 Khoa học tự nhiên, 3 Khoa học xã hội, 4 Y Dược, 5 Khác ( Kinh Tế, Ngoại Thương, Ngân Hàng )) Về giới tính, mẫu có tổng cộng 136 nữ chiếm 52.5%, và
123 nam chiếm 47.5% Về độ tuổi, có 24 người từ độ tuổi 22-23 chiếm 9.3%, 175 người từ độ tuổi 24-30 chiếm 67.5%, và 60 người từ độ tuổi 30 trở lên chiếm 23.2%
Về chuyên ngành học có 41 người thuộc ngành kỹ thuật chiếm 15.8%, 30 người thuộc chuyên ngành khoa học tự nhiên chiếm 11.6%, 43 người thuộc chuyên ngành