CHO CÁC TỈNH VEN BIỂN ĐÔNG NAM BỘ VIỆT NAM 2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN: 1/ Thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từ Tiền Giang đến Bạc Liêu; 2/ Khảo sát, điều tra,
Trang 1-
MAI THANH TRÚC
XÂY DỰNG KẾ HOẠCH ỨNG PHÓ SỰ CỐ TRÀN DẦU CHO CÁC TỈNH VEN BIỂN
ĐÔNG NAM BỘ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý Môi trường
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GVHD: TS Võ Lê Phú
TS Vũ Công Thắng
Trang 2Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Võ Lê Phú và TS Vũ Công Thắng
Cán bộ chấm nhận xét 1: Trương Thanh Cảnh
Cán bộ chấm nhận xét 2: Nguyễn Phước Dân
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày 27 tháng 09 năm 2010
Trang 3
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản lý Môi trường
MSHV: 02606624
CHO CÁC TỈNH VEN BIỂN ĐÔNG NAM BỘ VIỆT NAM
2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:
1/ Thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từ Tiền Giang đến Bạc Liêu;
2/ Khảo sát, điều tra, đánh giá bổ sung hiện trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từ Tiền Giang đến Bạc Liêu;
3/ Xây dựng bản đồ nhạy cảm môi trường cho khu vực nghiên cứu;
4/ Xác định nguồn gây tràn dầu và đánh giá rủi ro do tràn dầu;
5/ Chạy mô hình lan truyền dầu đối với các tình huống mô phỏng;
6/ Xây dựng Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu ở quy mô vùng cho các tỉnh ven biển từ Tiền Giang đến Bạc Liêu
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 15/01/2010
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 15/07/2010
5- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS VÕ LÊ PHÚ và TS VŨ CÔNG THẮNG Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1
1.6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Phương pháp luận
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu
1.6.2.1 Tổng quan tài liệu
1.6.2.2 Phương pháp khảo sát, điều tra thực địa
1.6.2.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
1.6.2.4 Phương pháp bản đồ số
1.6.2.5 Phương pháp mô hình
1.6.2.6 Phương pháp chuyên gia
445556667
1.8 Khái quát về các sự cố tràn dầu và tác động môi trường của
1.9 Thống kê các sự cố tràn dầu lớn trên thế giới và tại Việt
Nam và tình hình xây dựng Kế hoạch ứng phó sự cố tràn
dầu trong và ngoài nước
CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
CHƯƠNG 3:
ĐÁNH GIÁ CHỈ SỐ NHẠY CẢM MÔI TRƯỜNG VÙNG VEN
BIỂN TỪ TIỀN GIANG ĐẾN BẠC LIÊU
3.2.1 Đặc điểm đường bờ từ Tiền Giang đến Bạc Liêu
414141
Trang 53.3.2 Rừng ngập mặn
3.3.3 Khu dự trữ sinh quyển và khu bảo tồn quốc gia
3.3.4 Hoạt động nuôi trồng thủy sản
3.3.5 Đầm muối
3.3.6 Khu du lịch
3.3.7 Hệ thống giao thông đường bộ
3.3.8 Hệ thống giao thông đường thủy
3.3.9 Hệ thống cảng và sân bay trực thăng
3.3.10 Các căn cứ hậu cần trong khu vực
3.3.11 Hệ thống thông tin liên lạc
3.3.12 Năng lực ứng phó sự cố tràn dầu của các đơn vị ứng phó
sự cố tràn dầu trong khu vực
3.3.13 Năng lực của ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn
434444454545454646464647
CHƯƠNG 4:
CÁC NGUỒN GÂY TRÀN DẦU, KHẢ NĂNG GÂY TRÀN DẦU
TỪ CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ TRONG KHU VỰC VÀ CÁC
RỦI RO GÂY TRÀN DẦU DO HOẠT ĐỘNG DẦU KHÍ
49
4.2 Khả năng gây tràn dầu từ hoạt động thăm dò và khai thác
4.7 Dự báo các sự cố tràn dầu có thể xảy ra trong vùng biển
CHƯƠNG 5:
XÂY DỰNG KẾ HOẠCH ỨNG PHÓ SỰ CỐ TRÀN DẦU CHO
CÁC TỈNH VEN BIỂN TỪ TIỀN GIANG ĐẾN BẠC LIÊU
64
5.1 Mục đích, Phạm vi và Chiến lược ứng phó Sự cố Tràn dầu
5.1.1 Mục đích và phạm vi của Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu
5.1.2 Chiến lược ứng phó sự cố tràn dầu
5.1.2.1 Chiến lược chung
5.1.2.2 Chiến lược ứng cứu cho từng khu vực và các yêu cầu
5.1.3 Các cấp độ ứng phó sự cố tràn dầu
646464646567
Trang 65.3 Thủ tục thông báo hay báo động và Danh sách thông tin
liên lạc
5.3.1 Quy trình thông báo hay báo động sự cố tràn dầu ven bờ hay
trên bờ
5.3.2 Danh sách thông tin liên lạc khi xảy ra sự cố tràn dầu
5.3.3 Mẫu báo cáo về sự cố tràn dầu
7171
7375
5.4 Quy trình Ứng phó Sự cố Tràn dầu và các Kỹ thuật ứng phó
5.5 Nguồn cung ứng hậu cần
5.5.1 Các phương tiện cung ứng
5.5.1.1 Các thiết bị ứng cứu và nơi lưu trữ chúng
5.5.1.2 Sân bay, đường băng
5.5.1.3 Hải cảng, bến tàu và cầu tàu
5.5.2 Các nguồn lực ứng phó sự cố tràn dầu (trong và ngoài
nước) có thể huy động tại Việt Nam
939393949494
5.6 Kế hoạch quan trắc môi trường sau sự cố
5.6.1 Kế hoạch quan trắc môi trường sau sự cố
5.6.2 Xác định phạm vi và mức độ ô nhiễm sau sự cố
949495
5.7 Chương trình huấn luyện và diễn tập
5.7.1 Chương trình huấn luyện
5.7.2 Chương trình diễn tập
969698
5.8 Các hạn chế trong công tác ứng phó sự cố tràn dầu trong
vùng biển Đông Nam Bộ từ Tiền Giang đến Bạc Liêu
99
5.9 Các thuận lợi và khó khăn của Kế hoạch UPSCTD cấp
vùng so với các Kế hoạch UPSCTD đơn lẻ cho từng tỉnh
100
Trang 7Hình 2 Con chim bồ nông gần đảo East Grand Terre, bang Louisiana bị
Hình 4 Quy trình xây dựng Kế hoạch Ứng phó Sự cố tràn dầu 21Hình 5 Quy trình xây dựng bản đồ nhạy cảm môi trường 25
Hình 9 Bản đồ các thuyến giao thông hàng hải khu vực Đông Nam Việt
Hình 10 Các diễn biến và các điều kiện môi trường ảnh hưởng đến quá
Hình 11 Quy trình thông báo/ báo động đối với tràn dầu ven bờ và trên bờ 72
Trang 8Bảng 1 Thống kê các sự cố tràn dầu lớn nhất trong lịch sử thế giới 14Bảng 2 Các sự có tràn dầu đã xảy ra ở khu vực ven bờ và ngoài khơi Nam Việt
Bảng 3 Chỉ số nhạy cảm đường bờ 29Bảng 4 ESI đối với tài nguyên sinh học gần bờ 30Bảng 5 ESI đối với sinh vật gần bờ 31Bảng 6 Đánh giá tài nguyên trên bờ từ sự cố tràn dầu 32Bảng 7 ESI đối với nguồn tài nguyên sinh học trên bờ 33Bảng 8 ESI đối với các nhóm loài sinh vật đặc biệt 33Bảng 9 ESI đối với tài nguyên con người sử dụng 34Bảng 10 Chỉ số nhạy cảm môi trường của tài nguyên gần bờ 41
Bảng 12 Hệ sinh thái rừng ngập mặn dọc các tỉnh ven biển Đông Nam Việt
Bảng 13 Khu bảo tồn/Sân chim tại khu vực ven bờ từ Tiền Giang đến Bạc
Bảng 15 Tóm tắt chỉ số ESI đối với các tài nguyên nhân tạo cho khu vực từ
Bảng 16 Số tàu đánh bắt thủy sản của các tỉnh ven biển từ Tiền Giang đến Bạc
Liêu các năm gần đây
52
Bảng 17 Tổng công suất của các tàu đánh bắt thủy sản xa bờ của các tỉnh ven
biển từ Tiền Giang đến Bạc Liêu các năm gần đây
Trang 9Bảng 21 Báo cáo diễn biến dầu tràn 77Bảng 22 Mẫu báo cáo lên PVN trong trường hợp khẩn cấp 78Bảng 23 Phân loại cơ bản các chất thải trên bờ 90Bảng 24 Các chỉ tiêu đo trực tiếp tại hiện trường và các chỉ tiêu phân tích trong
Trang 10BCH UPSCTD Ban Chỉ huy Ứng phó sự cố tràn dầu
BOD Tổng nhu cầu oxy sinh học
COD Tổng nhu cầu oxy hóa học
ESI Chỉ số nhạy cảm môi trường
FPSO Thiết bị khai thác, xử lý, chứa và chuyển tải nổi
HST Hệ sinh thái
IUCN Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế
NOAA Tổ chức Quản lý Khí hậu và Đại dương Quốc gia Mỹ
PTSC Tổng công ty cổ phần kỹ thuật và dịch vụ dầu khí
PVN Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam
STD/STV Sư Tử Đen – Sư Tử Vàng
Trang 11TTATMTDK Trung tâm An toàn & Môi trường Dầu khí
VASI Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
Trang 12và tác động xấu đến các hoạt động kinh tế-xã hội Trong những năm gần đây, Việt Nam
đã xảy ra một số vụ tràn dầu, gây hủy hoại nghiêm trọng môi trường và hệ sinh thái tại khu vực xuất hiện sự cố, đặc biệt là hiện tượng dầu trôi dạt không rõ nguồn gốc Khu vực ven bờ từ Tiền Giang đến Bạc Liêu trong từ năm 2006 đến nay đã bị ảnh hưởng hiện tượng này, gây thiệt hại cho đời sống người dân và hoạt động nuôi trồng thủy sản Với mục tiêu xây dựng một kế hoạch ứng phó giúp cho chính quyền và người dân địa phương
có thể xử lý tốt tình huống nhằm giảm thiểu thiệt hại, số liệu thứ cấp đã được thu thập kết hợp với khảo sát thực địa làm đầu vào cho phần mềm MAPINFO, GIS để tích hợp và xây dựng bản đồ nhạy cảm môi trường cho khu vực ven bờ từ Tiền Giang đến Bạc Liêu (vùng biển cách bờ 20km và khu vực từ bờ vào trong 20km) Mô hình lan truyền dầu đối với các mỏ dầu khí gần bờ cũng được thực hiện là công cụ hỗ trợ công tác dự báo khả năng dầu có thể trôi dạt trên biển theo từng mùa gió Đông Bắc và Tây Nam Từ đó, việc xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu (gồm quy trình báo động và ứng phó sự cố tràn dầu, sơ đồ tổ chức ứng phó, các đầu mối liên lạc, kỹ thuật ứng phó, công tác tập huấn và diễn tập) bước đầu giúp cho chính quyền địa phương các tỉnh từ Tiền Giang đến Bạc Liêu nhận thấy sự nghiêm trọng của sự cố tràn dầu, các nguy cơ và tác hại đến môi trường cũng như công tác ứng cứu khi sự cố xảy ra
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Vùng biển Đông Nam Bộ là vùng biển có nguồn lợi thủy hải sản lớn nhất và có giá trị nhất của Việt Nam, là nơi tập trung nhiều ngư trường khai thác cá trọng điểm có sản lượng cao (Nguyễn Văn Kháng và Bùi Văn Tùng, 2009) Vùng biển này chịu sự tác động trực tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa, cùng với các dòng hải lưu phong phú, có nhiều vùng nước trồi và nước chìm Các đặc điểm này tạo cho vùng biển Đông Nam
Bộ phong phú và đa dạng về nguồn lợi sinh vật biển với sức sản xuất sinh học cao (Lê Xuân Hồng và Lê Thị Kim Thoa, 2007) Ngoài ra, khu vực ven biển Đông Nam Bộ Việt Nam là nơi diễn ra hoạt động nuôi trồng thủy sản rất sôi nổi
Đây cũng là nơi diễn ra hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí sôi động nhất Việt Nam Bên cạnh các tác động môi trường do hoạt động khai thác dầu khí (ảnh hưởng
từ các chất thải dầu khí hay xáo trộn vật lý) ở điều kiện bình thường thì sự cố tràn dầu là một trong những sự cố môi trường nghiêm trọng, gây ảnh hưởng nặng nề đến môi trường khu vực ngoài khơi, gần bờ và có thể trên bờ (nếu dầu trôi dạt vào bờ) Việc phục hồi môi trường rất tốn kém, mất nhiều thời gian, để lại hậu quả lâu dài thậm chí không thể cứu vãn nổi nếu dầu tràn trôi dạt vào các khu vực có độ nhạy cảm cao (như rừng phòng hộ, rừng ngập mặn, khu vực nuôi trồng thủy sản của người dân địa phương…)
Xây dựng một kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu cho khu vực này là một giải pháp giúp chính quyền địa phương tại các tỉnh Đông Nam Bộ Bộ ứng phó và xử lý kịp thời nếu xảy
ra sự cố dầu tràn trôi dạt vào vùng biển ven bờ của tỉnh
Xuất phát từ mong muốn thiết lập được sự chuẩn bị hợp lý, và các biện pháp ứng phó nhanh và hiệu quả nhằm khắc phục sự cố tràn dầu cho các tỉnh Đông Nam Bộ Việt Nam
và giảm bớt các tác động tiêu cực của dầu tràn đến môi trường, tài nguyên và đời sống của dân cư địa phương, đề tài ‘XÂY DỰNG KẾ HOẠCH ỨNG PHÓ SỰ CỐ TRÀN DẦU CHO CÁC TỈNH VEN BIỂN ĐÔNG NAM Bộ BỘ VIỆT NAM TỪ TIỀN
Trang 141.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu ở quy mô vùng cho các tỉnh ven biển Đông Nam Bộ Việt Nam, bao gồm : Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh và Bạc Liêu
Đề tài sẽ thực hiện các mục tiêu cụ thể như sau:
- Xây dựng bản đồ nhạy cảm môi trường cho các tỉnh ven biển từ Tiền Giang đến
Bạc Liêu;
- Chạy mô hình lan truyền dầu cho các mỏ dầu khí có vị trí gần bờ nhất theo hai
mùa gió (Đông Bắc và Tây Nam);
- Xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu quy mô vùng cho các tỉnh ven biển
từ Tiền Giang đến Bạc Liêu phục vụ cho công tác ứng cứu tràn dầu của chính quyền các tỉnh ven biển (chủ thể bị tác động từ các nguồn gây tràn dầu);
1.3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Hiện trạng môi trường các tỉnh ven biển:
+ Hiện trạng đường bờ,
+ Thảm thực vật,
+ Nguồn lợi thủy sản khu vực ven biển Đông Nam Bộ Việt Nam,
+ Hiện trạng nuôi trồng thủy sản ven biển Đông Nam Bộ Việt Nam,
+ Hiện trạng ngành du lịch và định hướng phát triển,
+ Nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng của các tỉnh phục vụ cho hoạt động ứng cứu
Trang 151.4 Tính mới của đề tài
Sự cố tràn dầu là một loại sự cố do thiên tai hoặc do con người gây ra trong các hoạt động khai thác, vận chuyển dầu, khí và các sản phẩm của dầu khí Khi sự cố xảy ra thì dầu tràn có thể gây ảnh hưởng trong một phạm vi rộng lớn, không phân biệt ranh giới hành chính giữa các tỉnh Tuy nhiên, các kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu (UPSCTD) trước đây thường xây dựng với quy mô từng tỉnh mà không có sự phối hợp ứng cứu giữa các tỉnh kế cận Ngoài ra, việc xây dựng kế hoạch UPSCTD chỉ tập trung xây dựng các quy trình ứng cứu chung cho mọi loại sự cố (tuy có phân theo cấp độ tràn dầu) nhưng không xét đến mùa gió thịnh hành vào thời gian xảy ra
sự cố tràn dầu Tùy thuộc vào thời gian tràn dầu mà hướng dòng chảy và hướng gió
sẽ rất khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến hướng dầu trôi dạt
Điểm mới của đề tài này là tiến hành xây dựng Kế hoạch UPSCTD theo quy mô
vùng, bao gồm các quy trình ứng phó cụ thể theo từng mùa gió
1.5 Nội dung nghiên cứu
• Thu thập các số liệu thứ cấp về điều kiện đường bờ, tài nguyên biển và vùng đới bờ
và nguồn lợi nhân tạo, điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tại khu vực các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh và Bạc Liêu;
• Khảo sát, điều tra và đánh giá bổ sung hiện trạng về điều kiện đường bờ, nguồn lợi môi trường và nguồn lợi nhân tạo, điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tại khu vực các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh và Bạc Liêu;
• Xây dựng bản đồ nhạy cảm môi trường cho các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh và Bạc Liêu
• Xác định các nguồn gây tràn dầu và đánh giá rủi ro các nguồn gây tràn dầu;
• Chạy mô hình lan truyền dầu cho các mỏ đang khai thác như Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng (của công ty điều hành chung Cửu Long), mỏ Tê Giác Trắng (của công ty điều hành chung Hoàng Long, Hoàn Vũ), mỏ Hải Sư Đen, Hải Sư Trắng (công
ty điều hành chung Thăng Long) theo 2 mùa gió với tải lượng tràn đổ là 50
Trang 16tấn/giờ Bên cạnh đó, đề tài sẽ thực hiện việc chạy mô hình lan truyền dầu cho 2 giếng khoan thăm dò tại Lô ĐBSCL-01 (do công ty Salamander điều hành) với tải lượng tràn đổ là 25 tấn/giờ (xem Hình 1)
• Xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu cho các tỉnh ven biển Đông Nam Bộ Việt Nam với quy mô vùng
Hình 1 Bản đồ các lô dầu khí tại vùng biển Đông Nam Bộ
1.6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Phương pháp luận:
Xây dựng ‘Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu ở quy mô vùng’ là nghiên cứu mối quan hệ giữa nguồn gây tác động, cường độ và phạm vi tác động và đối tượng có khả năng bị tác động thông qua các công cụ hỗ trợ tiên tiến (sử dụng mô hình lan truyền dầu và lập bản đồ nhạy cảm môi trường cho khu vực nghiên cứu) Qua đó, sẽ
đề ra quy trình ứng phó sự cố tràn dầu thích hợp và hiệu quả nhằm giảm nhẹ các tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường vùng đới bờ
Trang 171.6.2 Phương pháp nghiên cứu:
Tổng quan các tài liệu về:
- Đặc điểm đường bờ của các tỉnh từ Tiền Giang đến Trà Vinh;
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của các tỉnh từ Tiền Giang đến Trà Vinh;
- Nguồn lợi tự nhiên và nguồn lợi nhân tạo của các tỉnh từ Tiền Giang đến Trà Vinh;
- Bản đồ quy hoạch sử dụng đất của các tỉnh;
- Bản đồ địa hình và bản đồ rừng của tỉnh;
- Bản đồ quy hoạch nuôi trồng thủy sản;
- Bản đồ về rừng;
- Khảo sát sự biến đổi của đường bờ: đi dọc đường bờ tại các khu vực nhạy cảm (nơi thường bị xói lở/xâm thực, nơi các cửa sông, cửa biển) để ghi nhận hiện trạng của đường bờ;
- Khảo sát hiện trạng nuôi thủy sản ven biển;
- Thu thập các số liệu thứ cấp từ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Chi cục Bảo vệ Tài nguyen và Môi trường về:
+ Nguồn lợi thủy sản, khả năng đánh bắt của các ngư dân trong khu vực,
+ Hiện trạng hoạt động nuôi trồng thủy sản của địa phương, sản lượng nuôi và các khu vực tập trung nuôi thủy sản chính của tỉnh;
+ Định hướng phát triển ngành thủy sản trong tương lai;
+ Hiện trạng của rừng trên địa bàn của các tỉnh từ Tiền Giang đến Bạc Liêu (diện tích rừng, mật độ rừng, độ đa dạng của rừng);
- Thu thập số liệu về hoạt động du lịch, số lượng du khách, các điểm du lịch và định hướng phát triển ngành du lịch của các tỉnh từ Tiền Giang đến Bạc Liêu thông qua việc thu thập thông tin từ các Sở Du lịch
Trang 181.6.2.3 Phương pháp thống kê và xử lý số liệu:
Các thông tin và số liệu thứ cấp sẽ được tổng hợp thành dạng bảng biểu, biểu đồ hay được tích hợp lên các bản đồ nhằm nêu lên được hiện trạng môi trường và các nguồn lợi sinh vật của khu vực từ tỉnh Tiền Giang đến tỉnh Bạc Liêu
Bên cạnh đó, phương pháp này cũng được sử dụng để tổng hợp các kết quả chạy mô hình lan truyền dầu và bản đồ nhạy cảm môi trường vừa xây dựng được để xác định các khu vực ưu tiên cần bảo vệ trong trường hợp xảy ra sự cố môi trường Qua đó,
đề xuất các quy trình ứng phó thích hợp (theo 2 mùa gió) và các thiết bị và phương pháp ứng phó tương ứng Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu sẽ được xây dựng với các bố cục theo đúng như Hướng dẫn về Xây dựng “Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu quốc gia” được Tập đoàn Dầu khí Quốc gia xây dựng vào năm 2008
- Lớp bản đồ về nguồn lợi thủy sản;
- Lớp bản đồ về phát triển kinh tế - xã hội;
- Lớp bản đồ quy hoạch phát triển du lịch
Sử dụng Mô hình lan truyền dầu cho vùng biển Nam Trung Hoa được Na Uy
xây dựng và chuyển giao cho Việt Nam vào năm 1995-1996 Thông qua đó, tác giả
có thể xác định được:
• Hướng tràn dầu khi có sự cố xảy ra (theo 2 mùa gió Đông Bắc và Tây Nam);
• Thời gian dầu trôi dạt vào các khu vực nhạy cảm;
Trang 19• Phần trăm lượng dầu còn lại
• Các khu vực có thể bị ảnh hưởng bởi dầu tràn
Phương pháp này áp dụng để tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực an toàn dầu khí về Bản đồ nhạy cảm môi trường và Kế hoạch ứng phó môi trường đã xây dựng được
1.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả của đề tài nghiên cứu sẽ đóng vai trò như là một bảng Kế hoạch hành động
cụ thể cho chính quyền địa phương nhằm ứng phó nhanh chóng và hữu hiệu đối với các sự cố dầu tràn trôi dạt vào vùng biển hoặc đường bờ thuộc địa phận quản lý của các tỉnh Với việc hiểu rõ được các biện pháp và quy trình ứng cứu và thành thạo trong công tác ứng cứu thì một điều chắc chắn rằng ảnh hưởng và hậu quả của dầu tràn đến môi trường và người dân sẽ được giảm thiểu tối đa Điều này không những mang lại lợi ích về mặt môi trường mà còn mang lại lợi ích về mặt xã hội
1.8 Khái quát về các sự cố tràn dầu và tác động môi trường của các sự cố
tràn dầu
Khái niệm về dầu tràn :
Tràn dầu là sự phát thải một lượng hydrocacbon ở dạng lỏng vào môi trường do các hoạt động dầu khí của con người và hình thành nên sự ô nhiễm (Cục kiểm soát ô nhiễm quốc gia Nauy và Tổ chức hàng hải quốc tế, 2002) Thuật ngữ “tràn dầu” thường dùng để chỉ các vụ tràn dầu xảy ra trên biển hay vùng biển ven bờ Dầu tràn
có thể gồm nhiều loại khác nhau như dầu thô, các sản phẩm lọc hóa dầu (như dầu lửa hay dầu nhiên liệu) hay các sản phẩm phụ, dầu cặn trên tàu, các chất thải nhiễm dầu hay dầu lẫn vào rác thải Tràn dầu có thể phải mất hàng tháng hoặc hàng năm
để làm sạch
Trang 20Dầu có thể thoát ra môi trường thông qua quá trình thấm địa chất tự nhiên lên trên nền đáy Hầu hết ô nhiễm dầu do hoạt động của con người xuất phát từ các hoạt động trên
bờ, nhưng mối quan tâm của cộng đồng và các quy định lại có khuynh hướng tập trung vào các tàu dầu di chuyển trên biển (Cục kiểm soát ô nhiễm quốc gia Nauy và Tổ chức hàng hải quốc tế, 2002)
Tác động của dầu tràn
Mức độ ảnh hưởng của dầu đến môi trường khu vực xảy ra sự cố tràn dầu phụ thuộc rất nhiều vào nồng độ của dầu trong nước Khi dầu phân tán trong nước ở nồng độ thấp (< 1ppm) thì coi như hàm lượng dầu không đáng kể và sẽ nhanh chóng bị phá hủy Ở nồng độ dầu cao hơn, dầu có thể gây độc đối với hầu hết các loại sinh vật Khi trôi nổi trên mặt nước, nó sẽ làm ngạt thở mọi sinh vật mà chúng tiếp xúc (Cục kiểm soát ô nhiễm quốc gia Nauy và Tổ chức hàng hải quốc tế, 2002)
Khi bị tràn dầu, đa số các loại dầu nổi trên mặt biển, nhưng một số sẽ hòa tan vào nước và dưới tác động của sóng gió mà dầu phân tán vào trong cột nước dưới dạng những giọt nhỏ Khi dầu nổi trên mặt nước, bất cứ loại dầu nào đều có thể gây độc đối với các sinh vật biển sống ở tầng mặt, các loài chim biển và từ đó ảnh hưởng đến ngư dân Các khu vực nước nông thì tác động của dầu tràn đến sinh vật biển càng lớn do độc tính của dầu rất cao Tuy nhiên, các sinh vật sống ở đáy thường ít
bị ảnh hưởng bởi dầu tràn
Nếu dầu trôi dạt vào bờ thì sẽ nảy sinh nhiều vấn đề cần quan tâm hơn do dầu sẽ gây ngạt tất cả mọi thứ mà nó tiếp xúc và giết chết động vật và thực vật Các tác động tiềm ẩn rất nhiều và rất khác nhau Đối với một số bờ biển có độ nhạy cảm cao, tác động có thể kéo dài trong nhiều thập kỷ, trong khi các bờ biển khác ít nhạy cảm hơn thì có thể không thấy được ảnh hưởng do tràn dầu
Trang 21Tác động của dầu tràn trên mặt nước đến chim biển
Chim biển rất dễ bị tác động bởi dầu vì
có nhiều loài chim có một thời kỳ dài
sinh sống trên mặt nước Dầu sẽ thâm
nhập và mở cấu trúc của bộ lông chim,
làm giảm khả năng giữ ấm cơ thể, và
từ đó sẽ làm cho thân nhiệt chim dễ bị
thay đổi và ít có khả năng nổi trên mặt
nước Điều này cũng làm suy giảm khả
năng bay của chim, làm cho chúng rất
khó hay không thể chạy thoát khỏi kẻ
săn mồi Khi chúng cố gắng rỉa lông,
chim sẽ nuốt dầu bao phủ trên lớp lông
của chúng, gây hư cật, thay đổi chức
năng gan, và gây kích ứng đường tiêu
hóa Điều này và khả năng ăn bị hạn chế sẽ nhanh chóng gây nên sự khử nước trong
tế bào và cân bằng chuyển hóa Các chuyển đổi để cân bằng hormon có thể dẫn đến một số loài chim dễ bị tác động bởi dầu Hầu hết các loài chim bị nhiễm dầu tràn đều chết nếu không có sự can thiệp của con người Một số loài chim (như chim sẻ biển và chim lặn) là những loài chim nhạy cảm hơn cả và hàng năm, dầu tràn sẽ giết chết hàng ngàn chim biển Những tác động đến quần thể chim bản địa rất nghiêm trọng và gây ra sự suy giảm số lượng quần thể trong nhiều năm, mặc dù tác động thường xảy ra trong thời gian tương đối ngắn Tác động của dầu tràn đối với quần thể chim biển trên thế giới được cho là không lớn Do đó, đối với công tác bảo tồn thì các tác động có thể không nghiêm trọng lắm
Hình 2 Con chim bồ nông gần đảo East Grand Terre, bang Louisiana bị ảnh hưởng bởi dầu tràn
ngày 22/4/2010
(Nguồn: Minh Long, Động vật gặp họa vì tràn dầu)
Tác động của dầu tràn trên mặt nước đến nghề cá
Ngay cả trường hợp các đàn cá không bị ảnh hưởng bởi dầu tràn nhưng ngư dân vẫn
bị ảnh hưởng vì họ không thể ra ngoài đánh bắt khi nước bị nhiễm dầu Tổn thất về kinh tế có thể nghiêm trọng, đặc biệt nếu giấy phép đánh bắt của họ chỉ có hạn định
Trang 22trong thời gian ngắn thì nhu cầu bồi thường có thể rất lớn Ở một số vùng thì vấn đề này càng trầm trọng đối với những ngư dân đánh bắt thủ công hoặc những ngư dân sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá
Tác động của dầu tràn trong nước đến thực vật phù du
Thực vật phù du là cơ sở của chuỗi thực phẩm thủy sinh và nó bao gồm luôn cả trứng
cá, các ấu trùng của cá và các động vật thủy sinh khác Thông thường các loài thực vật phù du rất nhạy cảm với dầu và nhiều loài sẽ bị tiêu diệt khi hàm lượng dầu trong nước tăng lên Lớp dầu nổi trên mặt nước sẽ làm giảm khả năng ánh sáng xâm nhập vào cột nước, giảm khả năng quang hợp của các loài thực vật sống ở biển và thực vật phù du Điều này dẫn đến sự giảm quần thể động vật biển và ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái (Cục kiểm soát ô nhiễm quốc gia Nauy và Tổ chức hàng hải quốc tế, 2002) Tuy nhiên, tác động về lâu về dài đối với thực vật phù du là rất ít, ngay
cả đối với ấu trùng cá Trứng và ấu trùng của bất kỳ loài cá nào đều phân bố trên một khu vực rộng hơn nhiều so với khu vực bị ảnh hưởng bởi dầu và hầu hết các loài thực vật phù du thường sinh sản rất nhanh, do đó sự suy giảm chỉ bị tác động trong một thời gian ngắn Tuy nhiên, có thể xảy ra trường hợp xấu nhất là tác động của dầu tràn lên thực vật phù du xảy ra ở khu vực ven bờ thường dẫn đến các tác động dài hạn
Tác động của dầu tràn trong nước đến cá
Cá trưởng thành có cơ quan cảm giác rất nhạy, do đó chúng ‘nhận biết’ được mùi dầu
và nhanh chóng rời khỏi khu vực bị ảnh hưởng bởi dầu tràn, ngoại trừ một số bị giữ lại
vì một lý do nào đó Rất ít khi có một số lượng lớn cá chết do ảnh hưởng của các vụ tràn dầu trên biển Tuy nhiên, cá con dễ bị tổn thương hơn vì chúng thường sinh sống ở khu vực nước nông ven bờ, và thường được gọi là ‘khu vực ươm giống’, cho tới khi chúng trưởng thành Nếu dầu tràn tác động lên một vịnh nông và dầu phát tán sâu vào trong nước, nồng độ dầu gia tăng có thể ảnh hưởng trầm trọng đến cá con và gây tác động lâu dài đối với đàn cá trưởng thành Một tác động như vậy đã xảy ra từ vụ tràn
dầu Amoco Cadiz năm 1978, và ngành thủy sản đã bị ảnh hưởng trong nhiều năm Chất
phân tán không nên sử dụng để xử lý dầu tràn gần khu vực ươm giống (Cục kiểm soát
ô nhiễm quốc gia Nauy và Tổ chức hàng hải quốc tế, 2002)
Trang 23Tác động của dầu tràn trong nước đến nuôi trồng thủy sản
Cá trong các trại cá được nuôi trong lưới hay lồng bè không thể thoát khỏi vùng nước nhiễm dầu Một số loài cá có thể không chết nếu ngưỡng chịu đựng dầu của chúng cao nhưng thịt của chúng sẽ có mùi do quá trình hấp thụ hay ăn phải dầu trong nước Khi dầu phân tán vào nước quá nhiều, sự nhiễm mùi dầu vào thịt cá trở nên nghiêm trọng, thịt cá không thể ăn được và phải vứt bỏ Nếu cá nhiễm dầu được giữ trong vùng nước sạch một vài tuần thì mùi dầu trong thịt cá sẽ dần biến mất Điều này không thể thực hiện được nếu cá đang chuẩn bị đem ra chợ bán Khả năng ăn phải cá bị nhiễm dầu là rất ít vì mùi dầu trong thịt cá có thể ngửi thấy dễ dàng, và mùi dầu ngửi thấy rất rõ ở hàm lượng thấp hơn khả năng gây độc cho sức khỏe con người Các loài giáp xác và nhuyễn thể cũng bị nhiễm mùi dầu như cá nhưng cần thời gian dài hơn để chúng tự làm sạch Khi ô nhiễm dầu ở nồng độ cao gần các lồng cá hay các trại nuôi các loài giáp xác và nhuyễn thể thì chúng dễ bị ô nhiễm mùi dầu nặng hơn Nếu các lồng cá này bị nhiễm dầu, chúng rất khó được rửa sạch và tốn nhiều tiền để làm sạch
Tác động của dầu tràn trong nước đến động vật biển
Động vật biển có vú bị phơi nhiễm dầu tràn cũng bị các tác động tương tự như các loài chim biển Dầu bao phủ lên lớp lông của rái cá biển hay hải cẩu sẽ làm giảm khả năng cách nhiệt, dẫn đến thân nhiệt chúng dễ bị thay đổi và giảm thân nhiệt Việc ăn phải dầu sẽ gây nên sự mất nước và suy yếu hệ thống tiêu hóa của các loài động vật biển
Các loài thú biển ngoài khơi hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi dầu tràn, chưa ghi nhận được trường hợp nghiêm trọng nào đối với đời sống của cá voi và cá heo Hải cẩu trưởng thành khi ngửi thấy mùi dầu sẽ rời khỏi khu vực tràn dầu, nhưng hải cẩu con có thể bị kẹt lại các bãi biển nhiễm dầu và bị chết bởi dầu Rái cá không thích rời khỏi khu vực sống của chúng và có thể bị ngạt và chết bởi dầu Đôi khi
dầu tràn có thể giết chết cả một số lượng lớn các loài, như vụ tràn dầu Exxon
Valdez, có thể làm suy yếu các loài bản địa Nhưng sự suy giảm như vậy chỉ tác
động nhất thời đối với hầu hết các quần thể
Trang 24Tác động của dầu tràn đến khu vực nước nông dưới triều
Khu vực nước nông dưới triều thường có số lượng sinh vật biển rất phong phú và là nơi
lý tưởng cho hoạt động đánh bắt thủy sản Các vùng nước nông dưới triều quan trọng
là các rạn san hô và thảm cỏ biển Giống như trong khu vực ươm cá con, động vật sinh sống trong những khu vực nước nông dưới triều này rất nhạy cảm với hàm lượng dầu cao trong nước Vì vậy, dầu có độc tính cao và phân tán sâu vào trong nước có thể gây tổn hại rất lớn Tuy nhiên, nếu dầu không có độc tính cao và không được phân tán bởi các hoạt động của sóng hay các chất phân tán, nó có thể nổi lên trên lớp nước nông và tấp vào bờ Dầu tràn sẽ gây tác động không rõ ràng lên vùng dưới triều Vùng nhạy cảm dưới triều thường không được phép sử dụng chất phân tán (Cục kiểm soát ô nhiễm quốc gia Nauy và Tổ chức hàng hải quốc tế, 2002)
Tác động của dầu tràn trên bãi biển đến bãi biển nghỉ mát
Những tác động tiềm tàng của các bãi biển bị nhiễm dầu đến ngành du lịch là rất rõ ràng, nhưng chỉ ở mức đe dọa tổn thất doanh thu cho hoạt động du lịch Tuy nhiên, công nghiệp du lịch cũng tùy theo mùa vụ, vì thế trong suốt mùa đông, độ nhạy cảm của bãi biển du lịch rất thấp, và các bãi biển có thể sử dụng làm khu vực tập trung
để giúp thu hồi dầu
Tác động của dầu tràn trên bãi biển đến bến du thuyền
Nếu dầu tràn vào bến du thuyền hay khu vực neo đậu du thuyền chắc chắn sẽ gây hậu quả nghiêm trọng Các chủ du thuyền thích biểu hiện mình là người quyền lực
và họ sẽ lập tức phàn nàn Trên thực tế việc làm sạch các vết dầu đen khỏi các du thuyền màu trắng là rất khó khăn và tốn kém
Tác động của dầu tràn trên bãi biển đến nơi lấy nước
Cần phải ngưng hoạt động của các nhà máy điện và các trạm phát điện nếu dầu tràn
đi vào nơi lấy nước làm mát cho nhà máy Các nhà máy cấp nước có thể nhạy cảm hơn do nếu nguồn nước của nhà máy này bị nhiễm bẩn thì sẽ ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cung cấp cho người dân Việc ô nhiễm nguồn nước cung cấp cho hoạt
Trang 25động nuôi trồng thủy sản có thể gây các hậu quả nghiêm trọng do hoạt động này cần nguồn nước tinh khiết, đạt tiêu chuẩn cao để nuôi thủy sản Dầu phân tán vào nước
có thể giết chết các loài thủy sản nuôi và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người nuôi (Cục kiểm soát ô nhiễm quốc gia Nauy và Tổ chức hàng hải quốc tế, 2002)
Tác động của dầu tràn trên bãi biển đến đường bờ hở
Quần thể động thực vật trên bờ biển hở, có nhiều sóng thường không có giá trị bảo tồn cao, nên những tác động của dầu thường không được quan tâm (Cục kiểm soát ô nhiễm quốc gia Nauy và Tổ chức hàng hải quốc tế, 2002) Hơn nữa các loại đường bờ kiểu này có khả năng tự làm sạch rất cao và hầu như không lưu lại ở bờ lâu
Tác động của dầu tràn trên bãi biển đến đường bờ kín
Mọi việc hầu như ngược lại ở các vùng bờ biển kín như vùng đầm lầy ngập mặn, rừng ngập mặn và bãi đất lầy, dầu có thể gây thiệt hại đáng kể Loại bờ biển này thường rất nhạy cảm với ô nhiễm dầu, chúng là hệ sinh thái sản xuất, có nhiều dạng sống (mặc dù
có thể không nhìn thấy nhiều ở dưới bùn) Đây là bãi ăn của chim khi triều xuống và của cá khi triều lên Tuy nhiên, khả năng làm sạch của loại đường bờ này rất thấp Trong trường hợp xấu nhất, dầu có thể sẽ gây tác động đến khu vực này trong một thời gian dài Điều này thật sự rất đáng lo ngại vì hầu hết các kiểu bờ này là các vịnh nhỏ và các cửa sông, nơi mà hoạt động làm sạch rất khó để thực hiện (Cục kiểm soát ô nhiễm quốc gia Nauy và Tổ chức hàng hải quốc tế, 2002)
Tác động của dầu tràn trên bãi biển đến chim ven bờ
Chim ven bờ như các loài chim lội nước Chim trời thường không bị tác động nghiêm trọng của dầu như các loài chim lội nước (Cục kiểm soát ô nhiễm quốc gia Nauy và Tổ chức hàng hải quốc tế, 2002) Một số chim bị ảnh hưởng bởi dầu nếu bãi
ăn của chúng bị đe dọa, nhưng mối quan tâm chính ở đây là dầu sẽ gây thiệt hại đến các bãi ăn và làm giảm nguồn thức ăn của chúng
Trang 261.9 Thống kê các sự cố tràn dầu lớn trên thế giới và tại Việt Nam và tình
hình xây dựng Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu (UPSCTD) trong và
ngoài nước
1.9.1 Thống kê các sự cố tràn dầu:
a/ Các sự cố tràn dầu lớn trên thế giới:
Trên thế giới đã xảy ra rất nhiều vụ tràn dầu và hậu quả của nó là cực kỳ nghiêm
trọng Dưới đây là thống kê các vụ tràn dầu lớn nhất trong lịch sử thế giới và hậu
quả của chúng
Bảng 1 Thống kê các sự cố tràn dầu lớn nhất trong lịch sử thế giới
(Các sự cố có lượng dầu tràn trên 100.000 tấn dầu/vụ hay trên 30 triệu gallon dầu)
(triệu gallon dầu)
1.300 km)
28/5/1991
51-81
Thảm họa tầu dầu
Nguồn: (Amanda Briney, 2010)
b/ Các sự cố tràn dầu tại Việt Nam:
Từ năm 1987 đến nay, ở Việt Nam đã xuất hiện trên 100 vụ tràn dầu trên biển, trong
đó gần 50% là dầu tràn không rõ nguồn gốc Những vụ tràn dầu đó thường xảy ra
vào tháng 3 và tháng 4 hằng năm ở miền Trung và tháng 5 - 6 ở miền Bắc
Trang 27Từ tháng 3 đến tháng 06/2007, dầu tràn không rõ
nguồn gốc lan rộng trên 20 tỉnh ven biển, bắt đầu từ
Hà Tĩnh trở vào Tổng lượng dầu tràn đợt này ước tính
bằng tư liệu ảnh vệ tinh là gần 5.000 tấn và chỉ thu
gom thủ công cũng được khoảng 2.000 tấn (Nguyễn
Ở Việt Nam, từ những năm 1990, một số trung
tâm tư vấn và các tổ chức chuyên môn đã bắt đầu
xây dựng các kế hoạch ứng cứu sự cố tràn dầu cho
các tỉnh ven biển và cho từng dự án khai thác dầu khí với quy mô lớn Đến nay, công tác xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu là một trong những biện pháp
dự phòng tốt nhất để xử lý hậu quả nếu sự cố tràn dầu xảy ra
Hình 3 Thu gom dầu tràn trên biển
miền Trung
(Nguồn: Nguyễn Ấn và Minh Anh, 2009)
Theo thống kê của ngành dầu khí và các số liệu nghiên cứu khác từ trước đến nay cho thấy sự cố tràn dầu xảy ra do hoạt động khoan thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam là không đáng kể Trong những năm qua, rủi ro do tàu dịch vụ chỉ xảy ra một lần, đó là trường hợp của tàu Maresk Ritriever gặp sự cố trong khi đang làm dịch vụ cho giàn khoan Jack Bates thực hiện trong chiến dịch khoan thăm dò tại Lô
vào lúc 21h45’ ngày 10/01/1996
Trong những năm gần đây, các sự cố tràn dầu xảy ra tại Việt Nam phần lớn có liên quan tới các tàu vận tải hàng hóa hay xăng dầu chuyên dụng đã gây ra khá nhiều vụ tràn dầu với lượng dầu đáng kể Thống kê các sự cố tràn dầu xảy ra tại vùng biển Nam Việt Nam
từ năm 1992 đến nay được trình bày trong Bảng 2
Trang 28Bảng 2 Các sự có tràn dầu đã xảy ra ở khu vực ven bờ và ngoài khơi Nam
Việt Nam từ năm 1992 đến 2008
dầu tràn Loại dầu
sông (Cái Bè)
Khoảng
Jannifier bị chìm)
Không
Trung tâm tới tàu Ba Vì đã bị gãy
Không
Trang 29Bảng 2 Các sự có tràn dầu đã xảy ra ở khu vực ven bờ và ngoài khơi
Nam Việt Nam từ năm 1992 đến 2008 (tiếp theo)
dầu tràn Loại dầu
SG 4193 bị thủng)
Nguồn: (Petrovietnam, 2009)
1.9.2 Tình hình xây dựng Kế hoạch UPSCTD trong và ngoài nước:
a/ Tình hình xây dựng KHUPSCTD trên thế giới:
Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên xây dựng Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu với tên gọi ban đầu là ”Kế hoạch Quốc gia ứng phó sự cố ô nhiễm dầu và chất nguy hại”, gọi tắt là Kế hoạch ứng phó sự cố quốc gia Kế hoạch ứng phó sự cố quốc gia được chính phủ liên bang Hoa Kỳ lên kế hoạch chi tiết nhằm ứng phó cả sự cố tràn dầu lẫn sự cố tràn đổ hóa chất Kế hoạch ứng phó sự cố quốc gia là kết quả của sự nỗ lực của Hoa Kỳ trong việc xây dựng một năng lực ứng cứu quốc gia và đẩy mạnh
sự phối hợp giữa cấp bậc ứng cứu với kế hoạch ứng phó sự cố (U.S Environmental Protection Agency, 2009)
Kế hoạch ứng phó sự cố quốc gia được xây dựng và công bố lần đầu tiên vào năm
1968 để ứng phó một sự cố tràn dầu lớn từ tàu chở dầu Torrey Canyon băng qua vùng biển nước Anh một năm trước đó Đã có hơn 37 triệu thùng dầu thô đã tràn ra biển, và gây ra sự hủy hoại nghiêm trọng (U.S Environmental Protection Agency, 2009) Để tránh các vấn đề mà nhóm ứng cứu sự cố phải đương đầu, các nhân viên ứng cứu Hoa
Trang 30biển Hoa Kỳ Kế hoạch năm 1968 đã đưa ra được một hệ thống toàn diện gồm quy trình báo cáo sự cố, chính sách ngăn chặn và làm sạch dầu tràn, thiết lập trung tâm ứng phó sự cố, đội đối phó sự cố quốc gia và vùng (tiền thân của Đội ứng phó sự cố quốc gia và Đội ứng phó sự cố khu vực)
Quốc hội đã mở rộng phạm vi của Kế hoạch ứng phó sự cố quốc gia theo năm tháng Theo yêu cầu của Luật nước sạch năm 1972, Kế hoạch ứng phó sự cố quốc gia để được sửa lại vào năm kế tiếp và bổ sung thêm nội dung ứng phó sự cố tràn đổ các chất nguy hại cũng như tràn đổ dầu Tiếp đó là luật Superfund được thông qua năm 1980, Kế hoạch ứng phó sự cố quốc gia đã mở rộng thêm nội dung tràn đổ tại các vị trí có chất thải nguy hại thì cần áp dụng ngay các biện pháp loại bỏ khẩn cấp Qua nhiều năm, các bản sửa đổi vẫn tếp tục được thực hiện đối với Kế hoạch ứng phó sự cố quốc gia sao cho phù hợp với các đạo luật Bản sửa đổi cuối được hoàn thiện vào năm 1994 đã bao hàm các điều khoản về tràn dầu trong Luật ô nhiễm dầu khí năm 1990 của Hoa Kỳ (U.S Environmental Protection Agency, 2009)
Hiện nay, không chỉ Hoa Kỳ mà rất nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng các kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu cho mình như: các nước châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha…), châu Á ( Singapore, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Sri lanka, Việt Nam…), châu Phi (Camaroon, tiểu vương quốc Ả Rập, Nam Phi…), Úc, Canada…
b/ Tình hình xây dựng KHUPSCTD tại Việt Nam:
Nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của một sự cố tràn dầu và tầm quan trọng cần phải xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu (SCTD), vào năm 2008, Chính phủ
đã phê duyệt kế hoạch quốc gia ứng phó SCTD giai đoạn 2001-2010 Qua đó, Chính phủ đề ra: “Đến năm 2010 hoàn chỉnh hệ thống, cơ chế, chính sách, tổ chức
từ Trung ương đến cơ sở, xây dựng lực lượng chuyên nghiệp nòng cốt cho hoạt động ứng phó, xử lý hiệu quả SCTD, giảm thấp nhất thiệt hại ” (Nguyễn Ấn và Minh Anh, 2009)
Năm 2009, một lớp “Tập huấn kỹ thuật xây dựng kế hoạch ứng phó tràn dầu theo vùng địa lý - điểm ứng cứu là Vịnh Hạ Long” do Tổng cục Biển và Hải đảo Việt
Trang 31Nam (VASI) phối hợp với Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) và Cơ quan Khí quyển và Đại dương Hoa Kỳ (NOAA) tổ chức vừa qua tại Hạ Long (Quảng Ninh) được xem là điểm mốc quan trọng đánh dấu sự nhận thức của toàn xã hội đối với SCTD và các kế hoạch ứng phó SCTD
Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam về hoạt động dầu khí, các dự án khoan thăm dò, khoan thẩm lượng và đặc biệt là các dự án khai thác dầu khí (phát triển mỏ) đều phải xây dựng kế hoạch ứng phó SCTD cho từng dự án Hiện tại, công tác này đang được triển khai thực hiện rất nghiêm túc và được sự quản lý và kiểm tra chặt chẽ từ các cơ quan chức năng
Bên cạnh đó, việc xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu cho các tỉnh ven biển cũng rất quan trọng, tuy nhiên hiện tại không phải tỉnh nào cũng có điều kiện kinh
tế, trang thiết bị và kỹ thuật cần thiết để xây dựng Kế hoạch ứng phó SCTD cho riêng mình Hiện tại, một số tỉnh ven biển Đông Nam Bộ Việt Nam đã xây dựng được Kế hoạch ứng phó SCTD là Bình Thuận, Vũng Tàu, Tp Hồ Chí Minh và sắp tới là Cà Mau Các tỉnh còn lại gồm Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh và Bạc Liêu vẫn chưa xây dựng được Kế hoạch UPSCTD
Tuy nhiên, đối với những vụ tràn dầu lớn, không rõ nguồn gốc, có diện phát tán rộng liên tỉnh thì tùy thuộc vào đặc trưng động lực và sinh thái của biển, chất lượng nước biển và trầm tích đáy biển sẽ bị tác động ở các mức độ khác nhau và tác động lớn đến hệ sinh vật biển hay hệ sinh thái trên bờ nếu dầu trôi dạt vào bờ Về bản chất, vấn đề môi trường biển mang tính “xuyên biên giới,” không phụ thuộc vào ranh giới hành chính, mà đòi hỏi phải phối hợp liên tỉnh theo khu vực địa lý Vì vậy, việc Xây dựng kế hoạch ứng cứu sự cố tràn dầu nên thực hiện theo vùng địa lý chứ không nên theo địa giới từng tỉnh là cần thiết (Petrovietnam, 2005)
c/ Thuận lợi và khó khăn trong công tác UPSCTD tại Việt Nam:
Thuận lợi:
Trong những năm gần đây, chính phủ Việt Nam đã nhận thức được tác động rất lớn
từ các sự cố tràn dầu đến môi trường nên vấn đề bảo vệ môi trường trước hiểm họa
Trang 32tràn dầu là một trong những mục tiêu lớn đặt ra cho các cấp chính quyền của Việt Nam từ trung ương đến địa phương Do đó, chính phủ Việt Nam sẽ ủng hộ các đề
án ứng phó hiệu quả các sự cố tràn dầu hay thành lập các tổ chức ứng cứu chuyên nghiệp Đồng thời, chính phủ Việt Nam đã và sẽ kiểm soát chặt chẽ tất cả các hoạt động khai thác dầu khí trong lãnh thổ Việt Nam nhằm giảm thiểu tối đa các rủi ro gây tràn dầu tại Việt Nam
Bên cạnh đó, Việt Nam đã có một số tổ chức ứng cứu tràn dầu chuyên nghiệp với các trang thiết bị khá tiên tiến Đây cũng là một mặt mạnh giúp Việt Nam kiểm soát hiệu quả các sự cố tràn dầu một cách chủ động
Khó khăn:
Bên cạnh sự hỗ trợ nhiệt tình từ các cấp chính quyền trung ương và địa phương là
sự kém hiểu biết và nhận thức của một bộ phận rất lớn người dân (là tác nhân gây tràn dầu chủ yếu trên biển) Đa số người dân Việt Nam chưa nhận thức được hậu quả của dầu tràn trên biển, trên đất liền, cách thức để xử lý, thu gom và ngăn chặn nguồn tràn dầu Vì vậy, khi có sự cố tràn dầu xảy ra thì hầu hết người dân chỉ đứng xem và thu gom một cách bị động nếu dầu có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến họ hoặc họ vẫn vô tình thải nước thải nhiễm dầu trong quá trình hoạt động tàu thuyền Ngoài ra, hầu hết các tỉnh ven biển chưa có đội ngũ chuyên trách để ứng phó sự cố tràn dầu và cũng chưa trang bị các thiết bị tối thiểu để có thể ứng phó ngay khi có
sự cố xảy ra Vì vậy, khi xảy ra các tình huống tràn dầu trước đây, hầu hết các địa phương còn nhiều lúng túng trong công tác thực hiện và triển khai ứng cứu
Trang 33CHƯƠNG 2:
PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG KẾ
HOẠCH ỨNG PHÓ SỰ CỐ TRÀN DẦU
Kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu được xây dựng trên cơ sở:
1 Xác định các khu vực có thể bị ảnh hưởng bởi sự cố tràn dầu thông qua các mô hình lan truyền dầu;
2 Xác định các khu vực có độ nhạy cảm môi trường cao cần phải bảo vệ thông qua việc xây dựng các bản đồ nhạy cảm môi trường;
3 Dựa vào chính sách và kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu chung của quốc gia Quy trình xây dựng kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu sẽ được mô tả cụ thể trong Hình 4 bên dưới
Hình 4 Quy trình xây dựng Kế hoạch Ứng phó Sự cố tràn dầu (RC Consultants, 1998)
Trang 34MÔ HÌNH LAN TRUYỀN DẦU
Mô hình lan truyền dầu được áp dụng để dự báo các khu vực có khả năng bị ảnh
hưởng bởi một sự cố tràn dầu trong luận văn này là Mô hình lan truyền dầu cho vùng biển Nam Trung Hoa (Oil Drift Model for the South China Sea) do Cục
kiểm soát ô nhiễm quốc gia Na Uy xây dựng và chuyển giao cho Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam (cụ thể là Trung tâm Nghiên cứu và phát triển An toàn và Môi trường dầu khí) từ những năm 1995-1996 Mô hình này đã được sử dụng cho nhiều
kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu của Quốc gia như Bà Rịa – Vũng Tàu, Tp Hồ Chí Minh, Bình Thuận…
Thông qua việc sử dụng mô hình lan truyền, các thông tin có thể dự đoán từ kết quả chạy mô hình lan truyền dầu bao gồm:
• Hướng tràn dầu khi có sự cố xảy ra
• Phần trăm lượng dầu còn lại
• Các khu vực sẽ bị ảnh hưởng
• Thời gian dầu trôi dạt vào
Các thông số đầu vào:
• Các thông số về khí tượng thủy văn:
- Toạ độ xảy ra tràn dầu
- Thời điểm xảy ra tràn dầu
Trang 35• Dữ liệu đã sử dụng để chạy mô hình:
Số liệu sóng, gió, dòng chảy, nhiệt độ, là các số liệu thống kê 30 năm, của vùng biển Đông Việt Nam, do Nauy xây dựng, và tích hợp sẵn vào trong mô hình
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NHẠY CẢM MÔI TRƯỜNG
Theo cơ quan ứng cứu và phục hồi môi trường thuộc Tổ chức Quản lý Khí hậu và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA), các bản đồ nhạy cảm môi trường được sử dụng
để xác định các nguồn lợi dọc đường bờ có độ nhạy cảm cao đối với sự cố tràn dầu,
từ đó thiết lập được thứ tự ưu tiên cần bảo vệ và chiến lược làm sạch đường bờ Thông qua việc lập kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu ban đầu, các tác động môi trường có thể được giảm thiểu hay ngăn ngừa Các bản đồ nhạy cảm môi trường chủ yếu bao gồm các thông tin về: loại đường bờ, các nguồn lợi sinh học và tài nguyên
do con người tạo ra (NOAA, 2002)
Loại đường bờ
Loại đường bờ được phân cấp dựa vào mức độ dầu có thể được làm sạch, thời gian dầu có thể tồn tại và mức độ nhạy cảm của đường bờ Các vệt dầu trôi nổi sẽ đặt đường bờ vào các rủi ro cụ thể khi nó dạt vào bờ và bao phủ dầu toàn bộ nền đáy Các loại chất đáy khác nhau giữa các loại đường bờ sẽ đáp ứng khác nhau với dầu
và ảnh hưởng đến phương pháp lựa chọn để làm sạch đường bờ Vào năm 1995, tổ chức NOAA đã mở rộng bản đồ nhạy cảm đến các loại đường bờ ở hồ, sông và cửa sông Việc trình bày đặc điểm đường bờ cần tính đến năng lượng sóng, thủy triều, loại vật chất đường bờ và độ dốc của đường bờ để bổ sung vào năng suất và độ nhạy cảm sinh học Năng suất sinh học của môi trường dọc đường bờ cũng sẽ được tính đến khi xác định mức nhạy cảm môi trường Rừng ngập mặn và đầm lầy có xu hướng có nhạy cảm môi trường cao hơn do ‘ô nhiễm dầu’ và ‘hành động làm sạch’
có thể gây các tác động kéo dài và gây hư hại cho môi trường Các bề mặt không thấm nước và khu vực có sóng lớn sẽ được xếp hạng thấp hơn do sóng phản xạ sẽ ngăn dầu trôi dạt vào bờ và thúc đẩy quá trình làm sạch tự nhiên của môi trường
Trang 36Các tài nguyên sinh học
Môi trường sống của các loài động thực vật vùng đới bờ có thể bị đe dọa bởi dầu tràn sẽ được xem xét như là các yếu tố then chốt và sẽ được phân loại theo từng nhóm chức năng Tiếp đó, các yếu tố này sẽ được phân ra theo nhóm loài với nguồn gốc và đặc điểm tương tự nhau liên quan đến mức độ dễ bị thương tổn bởi dầu tràn Chúng sẽ được chia thành 8 nhóm cơ bản sau: chim, bò sát và lưỡng cư, cá, loài không xương sống, môi trường sống và thảm thực vật, đất ngập nước, động vật có
vú sống trên cạn và động vật có vú sống dưới biển Các nhóm này lại được phân thành các nhóm phụ, ví dụ như nhóm động vật biển có vú có thể phân thành nhóm
cá heo, nhóm lợn biển, nhóm động vật chân vây (hải cẩu, sư tử biển, hải mã), gấu vùng cực, rái cá biển và cá voi Các vấn đề cần xem xét là khi nào phân loại nguồn lợi tự nhiên (khi quan sát thấy một lượng lớn cá thể trong một phạm vi nhỏ); nơi nào sẽ diễn ra các giai đoạn sinh học đặc biệt của sinh vật như làm tổ hay rỉa lông
và nơi nào có xuất hiện các loài quý hiếm
Tài nguyên do con người tạo nên
Tài nguyên do con người tạo nên được phân thành 4 loại chính: có tầm quan trọng đối với khảo cổ, là di sản văn hoá; là khu vui chơi giải trí có giá trị hay các điểm tiếp bờ; các khu vực cần bảo vệ hay khu vực tài nguyên còn nguyên thủy Một vài
ví dụ như sân bay, khu vực lặn, các bãi biển nổi tiếng, bến du thuyền, khu dự trữ tự nhiên và các khu bảo tồn biển
Các bước xây dựng bản đồ nhạy cảm môi trường sẽ được thể hiện qua Hình 5 sau:
Trang 37Hình 5 Quy trình xây dựng bản đồ nhạy cảm môi trường ( RC Consultants, 1998)
Các chỉ số nhạy cảm môi trường (ESI) của khu vực được chia thành 6 cấp:
Cơ sở để xác định các chỉ số nhạy cảm môi trường (ESI) đường bờ:
Vật liệu và Độ phong phú của Đường bờ (thảm thực vật)
Nguy cơ bị dầu tràn & Các biện pháp làm sạch
Trang 38Cơ sở để xác định các chỉ số nhạy cảm môi trường (ESI) tài nguyên trên bờ:
Cơ sở để xác định các chỉ số nhạy cảm môi trường (Environmental Sensitive Index - ESI) tài nguyên ven bờ:
* PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH ESI
a/ Phương pháp xác định ESI đường bờ
Tham khảo hướng dẫn chỉ số nhạy cảm môi trường của cơ quan quản lý đại dương
và khí quyển quốc gia Hoa Kỳ (NOAA, 2002), chỉ số nhạy cảm đường bờ được phân loại dựa theo các yếu tố sau:
Trang 39Â Mức độ ảnh hưởng của đường bờ bởi năng lượng sóng và thủy triều:
− Đường bờ năng lượng cao chịu ảnh hưởng đều đặn của sóng lớn và dòng thủy
triều mạnh Dầu bám vào có thể nhanh chóng được làm sạch một cách tự nhiên sau vài ngày hoặc một tuần;
− Đường bờ năng lượng sóng trung bình thường chịu ảnh hưởng của bão
thường niên và sóng cao theo mùa Dầu bám vào sẽ được làm sạch khi xuất hiện năng lượng sóng cao, có thể sau vài ngày hoặc vài tháng sau khi có tràn dầu
− Đường bờ năng lượng sóng thấp bị chắn năng lượng sóng và thủy triều Dầu bám
vào có thể có thể làm sạch một cách tự nhiên nhưng chậm, thường là sau vài năm
Độ nghiêng của đường bờ được xác định dựa vào độ dốc của bãi biển giữa triều lên cao nhất và triều xuống thấp Độ nghiêng của đường bờ được xác định như sau:
Trang 40Ngoài ra chỉ số nhạy cảm đường bờ còn dựa trên hệ thống giao thông của khu vực Nhìn chung, đường bờ có khả năng giao thông thuận lợi có chỉ số ESI thấp hơn khu vực đường bờ có khả năng giao thông kém thuận lợi hơn
Mức độ đa dạng sinh học của môi trường sống khu vực đường bờ là một thành phần không thể thiếu khi xét đến chỉ số nhạy cảm Khu vực có môi trường sống đa dạng và phong phú (như đầm lầy, cửa sông ven biển) của các loài thực vật và động vật sẽ có chỉ số nhạy cảm cao hơn khu vực khác
1 Bờ sét/cát kín: thường nằm ở trong đầm phá, vịnh kín nối với đất liền hoặc được
bao quanh bởi nước Môi trường sống rất đa dạng và phong phú
2 Bờ sỏi/cát hở: thường nằm giữa các mũi đá nhô ra phía biển
3 Bờ đá: là các mũi đá nhô ra phía biển
4 Bãi cát: thường thẳng hoặc cong nhẹ giữa các mũi đá
5 Bãi bùn: thường ở vùng cửa sông ven biển, đầm phá và rất rộng Môi trường
sinh thái rất đa dạng và phong phú: là môi trường quan trọng cho nhiều loại thủy sinh, là bãi đẻ của nhiều loài tôm, cua, cá
6 Rừng ngập mặn: xuất hiện ở môi trường biển và nước lợ Môi trường sống rất đa
dạng, phong phú và rất quan trọng cho nhiều loài thủy sinh, là bãi đẻ của nhiều loài
tôm, cua, cá
Chỉ số nhạy cảm đường bờ chia thành 6 cấp độ và được tóm tắt trong Bảng 3