Hiện trạng ô nhiễm môi trường từ hoạt động khám chữa bệnh trên địa bàn TP Long Xuyên, tỉnh An Giang được đánh giá qua: - Hiện trạng và đánh giá hiện trạng phát sinh, lưu trữ, thu gom, vậ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA MÔI TRƯỜNG
BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG - oOo -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI TP LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
CBHD: PGS TS NGUYỄN PHƯỚC DÂN
TS LÊ THỊ HỒNG TRÂN HVTH: CAO SONG ANH
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 07 năm 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
<<<
Em xin chân thành cám ơn toàn thể quý Giảng viên trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và khoa Môi trường nói riêng, đã hết lòng dạy dỗ, dìu dắt và truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích cho các lớp sinh viên chúng em trong suốt thời gian học tập tại giảng đường Đại học
Đặc biệt, em xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến cô Lê Thị Hồng Trân và thầy Nguyễn Phước Dân đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành tốt Luận văn tốt nghiệp này
Xin cảm ơn các anh chị thuộc Chi cục BVMT tỉnh An Giang đã giúp đỡ nhiệt tình trong suốt quá trình điều tra, khảo sát để tìm số liệu
Xin cảm ơn bác Hoàng Thọ Phồn – PGĐ Sở Y tế tỉnh An Giang đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận điều tra hiện trạng tại các cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Long Xuyên
Con cũng xin cám ơn Ba Mẹ cùng tất cả các thành viên thân yêu trong gia đình đã luôn là điểm tựa vững chắc của con trong suốt quá trình học tập để con có được ngày hôm nay
Và cuối cùng, xin gửi lời cám ơn đến những người bạn yêu quý nhất của tôi
đã luôn ở bên tôi và cùng tôi vượt qua những khó khăn trong học tập
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 07 năm 2010
CAO SONG ANH
Trang 3TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đi đôi với mức sống ngày càng cải thiện của người dân thì dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng ngày càng được chú ý nhiều Các bệnh viện không chỉ phát triển về số lượng mà còn đi sâu vào chất lượng Cùng với sự phát triển đó, chất thải y tế tăng nhanh về số lượng và phức tạp về thành phần Tuy nhiên, việc quan tâm của các cấp, ngành về quản lý cũng như xử lý chất thải y tế chưa theo kịp đúng mức
Chất thải y tế là một trong những loại chất thải phức tạp, nguy hiểm Ngoài những đặc tính chung giống như rác thải sinh hoạt, nó còn có đặc tính riêng biệt, trong
đó có chứa rất nhiều mầm bệnh, có khả năng lây nhiễm cao, gây nên những vấn đề nghiêm trọng về vệ sinh, môi trường và sức khỏe cộng đồng
Luận văn này được thực hiện với mục đích đánh giá được hiện trạng phát sinh, tình hình quản lý và xử lý chất thải y tế trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang Từ đó ước tính khối lượng chất thải đến năm 2020 và tìm ra các biện pháp quản
lý, xử lý chất thải nhằm cải thiện môi trường cũng như sức khỏe cộng đồng trong
tương lai Đề tài này nằm trong dự án “Quy hoạch Bảo vệ môi trường tỉnh An Giang
đến năm 2020” do UBND tỉnh An Giang thực hiện
Hiện trạng ô nhiễm môi trường từ hoạt động khám chữa bệnh trên địa bàn TP Long Xuyên, tỉnh An Giang được đánh giá qua:
- Hiện trạng và đánh giá hiện trạng phát sinh, lưu trữ, thu gom, vận chuyển và xử
lý chất thải y tế;
- Tính toán, dự báo lượng chất thải rắn y tế phát sinh đến năm 2020
Đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp chất thải từ các bệnh viện, phòng khám
đa khoa và các trạm y tế bao gồm:
- Các giải pháp về pháp lý: gồm các quy định do Bộ Y tế ban hành như phân loại chất thải tại nguồn, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải ;
- Hơn nữa, công cụ thông tin và công cụ giáo dục cộng đồng được đề xuất giúp phổ biến rộng rãi kiến thức bảo vệ môi trường trong ngành y tế đến mọi người
- Luận văn còn đề xuất các giải pháp về kỹ thuật như xử lý nước thải bệnh viện, xử
lý chất thải rắn y tế nguy hại (đốt chất thải tập trung theo cụm bệnh viện), xử lý chất thải phóng xạ
- Thiết lập cơ sở dữ liệu và ứng dụng công cụ GIS để vẽ vạch tuyến thu gom, vận chuyển và xử lý CTRYT tại Long Xuyên
Trang 4ABSTRACT
Along with the standard of living gradually improved, health service is more and more developed Hospitals not only develope in quantity but also in quality Going with these developments, medical waste increases rapidly and its components are complex However, the management and treatment of such waste failed to meet the increasing volume of waste
Medical waste is one of the complex and dangerous wastes Besides common characteristics as domestic waste, it also contains a number of bacteria and virus which are highly contagious Medical waste is increasing nevertheless most of hospitals do not have waste treatment system, the waste is deposited directly into lakes, rivers and
on land The quantity and toxic of these wastes will increase rapidly thus creating serious threat to the environment and the health of the people
The purpose of this essay is to assess incresing state, management and treatment medical waste in Long Xuyen city, An Giang province Then we can estimate volume of medical waste to 2020 and find method of medical waste management and treatment, in order to improving environment and health in future This subject is in project: “Plan of protecting environment in An Giang province until 2020’ carried on by Board of An Giang province
The state of environmental pollution from health activities in Long Xuyên city is evaluated by:
- The generation, storage, classification, collection, transportation and treatment medical wastes;
- The calculation, forcaste solid hospital wastes generated until 2020
Propose the management solutions of collecting wastes from hospitals, polyclinical departments and medical aid stations:
- Legal solutions: regulations issued by Ministry of Health about storing, classifying, collecting, transporting and treating medical wastes
- In addition, information solutions and public education solutions are proposed to disseminate environmental protection knowledge widely to everyone
- This essay also proposes treatment solutions: such as hospital waste water treatment, dangerous solid medical wastes treatment and radioactive wastes treament
- To establish database and apply GIS tool to draw layout of medical waste collecting, transportation and treatment in Long Xuyên city
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT LUẬN VĂN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH x
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xii
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 THÔNG TIN ĐỀ TÀI 1
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
1.4.1 Nội dung nghiên cứu 2
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu 2
1.4.2.1 Phương pháp tổng hợp, thu thập số liệu, tài liệu liên quan 2
1.4.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế 3
1.4.2.3 Phương pháp toán học 3
1.4.2.4 Phương pháp chuyên gia 3
1.4.2.5 Phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh 3
1.4.2.6 Ứng dụng GIS 3
1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.6 TÍNH MỚI VÀ TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỂ TÀI 4
1.6.1 Tính mới 4
1.6.2 Tính cần thiết 4
1.6.2.1 Ý nghĩa khoa học 4
1.6.2.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
1.6.2.3 Ý nghĩa kinh tế xã hội 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ – TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 5
2.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ 5
2.1.1 Định nghĩa chất thải y tế 5
2.1.2 Phân loại chất thải y tế 5
2.1.3 Các nguồn phát sinh chất thải y tế 7
2.1.3.1 Khuynh hướng phát thải chất thải rắn y tế 11
2.1.3.2 Khối lượng CTRYT phát sinh 11
2.1.3.3 Thành phần chất thải rắn y tế 13
Trang 62.1.4 Nguồn phát sinh chất thải phóng xạ 13
2.1.5 Nguồn phát sinh nước thải bệnh viện 14
2.1.5.1 Đặc tính nước thải bệnh viện và các tác nhân gây bệnh 17
2.1.5.2 Chất lượng nước thải bệnh viện 18
2.1.5.3 Quy định chung và tiêu chuẩn nước thải bệnh viện 21
2.1.6 Các biện pháp quản lý chất thải y tế 22
2.1.7 Các phương pháp xử lý chất thải y tế 22
2.1.7.1 Khử khuẩn hóa học 22
2.1.7.2 Xử lý nhiệt khô và ướt 22
2.1.7.3 Mô hình xử lí rác thải bằng công nghệ vi sóng 23
2.1.7.4 Công nghệ chôn lấp an toàn 23
2.1.7.5 Nhốt chất thải 23
2.1.7.6 Phương pháp đốt 23
2.1.8 Công nghệ xử lý nước thải 25
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 31
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 31
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 37
2.2.2.1 Ấn Độ 37
2.2.2.2 Mỹ 38
2.2.2.3 Hàn Quốc 38
2.2.2.4 Srilanka 39
2.2.2.5 Anh 40
2.2.2.6 Hồng Kông 43
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ – XÃ HỘI TP LONG XUYÊN VÀ CÁC CƠ SỞ Y TẾ 46
3.1 TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ – XÃ HỘI TP LONG XUYÊN 46
3.1.1 Vị trí địa lý 46
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 47
3.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 47
3.2 CÁC CƠ SỞ Y TẾ TP LONG XUYÊN 49
3.2.1 Các cơ sở y tế tại TP Long Xuyên, tỉnh An Giang 49
3.2.2 Các vấn đề ô nhiễm môi trường từ các cơ sở Y tế 50
3.2.2.1 Ô nhiễm không khí 50
3.2.2.2 Ô nhiễm nước thải 50
3.2.2.3 Ô nhiễm do chất thải rắn 51
3.2.3 Tác hại của chất thải rắn y tế lên sức khỏe 52
3.2.3.1 Các rủi ro từ chất thải y tế 52
3.2.3.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng 56
Trang 73.2.3.3 Sự tồn lưu tác nhân gây bệnh trong môi trường 59
3.2.3.4 Ảnh hưởng của nước thải BV đến hệ sinh thái dưới nước 59
CHƯƠNG 4: HIỆN TRẠNG PHÁT SINH, TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI VÀ ƯỚC TÍNH KHỐI LƯỢNG CHẤT THẢI PHÁT SINH 61
4.1 CÁC CƠ SỞ Y TẾ ĐƯỢC KHẢO SÁT 61
4.2 HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NƯỚC CẤP VÀ PHÁT SINH, XỬ LÝ NƯỚC THẢI 63
4.2.1 Hiện trạng sử dụng nước cấp 63
4.2.2 Hiện trạng phát sinh nước thải và xử lý nước thải tại các bệnh viện 65
4.2.2.1 Hiện trạng phát sinh nước thải 65
4.2.2.2 Hiện trạng xử lý nước thải bệnh viện 69
4.3 HIỆN TRẠNG PHÁT SINH, PHÂN LOẠI, THU GOM, VẬN CHUYỂN VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ 74
4.3.1 Khối lượng chất thải y tế phát sinh 74
4.3.2 Hiện trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn tại các bệnh viện, phòng khám đa khoa và trạm y tế tại TP Long Xuyên, An Giang .82
4.3.3 Hiện trạng xử lý chất thải rắn y tế 86
4.3.4 Đánh giá chung về công tác công tác thu gom và xử lý nước thải của các bệnh viện, phòng khám đa khoa và trạm y tế trên địa bàn TP Long Xuyên, An Giang 91
4.3.5 Đánh giá chung về công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế của các bệnh viện, phòng khám đa khoa và trạm y tế trên địa bàn TP Long Xuyên, An Giang 91
4.3.6 Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế 93
4.4 TÌNH HÌNH PHÁT SINH CTR Y TẾ TRONG TƯƠNG LAI 95
4.4.1 Tổng hợp Quy hoạch phát triển mạng lưới khám, chữa bệnh tỉnh An Giang đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 95
4.4.2 Cơ sở tính toán lượng chất thải rắn phát thải 97
4.4.3 Khối lượng chất thải phát sinh 97
CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ 100
5.1 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ CƠ SỞ Y TẾ 100
5.1.1 Quy trình phân loại tại nguồn CTRYT 100
5.1.2 Quy trình lưu trữ CTRYT nguy hại 104
5.1.3 Quy trình thu gom và vận chuyển 105
5.1.4 Mô hình quản lý CTRYT 108
Trang 85.2 ỨNG DỤNG CÔNG CỤ GIS ĐỂ THIẾT LẬP CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ ĐỀ XUẤT VẠCH TUYẾN THU GOM, VẬN CHUYỂN VÀ XỬ LÝ CTRYT
TRÊN ĐỊA BÀN TP LONG XUYÊN 117
5.2.1 Thiết lập cơ sở dữ liệu 117
5.2.2 Đề xuất vạch tuyến thu gom 119
5.2.2.1 Quy hoạch vị trí đặt lò đốt CTRYT nguy hại theo cụm bệnh viện .119
5.2.2.2 Các yêu cầu đối với vạch tuyến thu gom, vận chuyển CTRYT nguy hại 119
5.2.2.3 Đề xuất tuyến thu gom, vận chuyển CTRYT nguy hại trên địa bàn TP Long Xuyên 119
5.3 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỂ XỬ LÝ CTRYT TẠI LONG XUYÊN – AN GIANG 122
5.3.1 Phương pháp tiêu hủy CTRYT nguy hại 122
5.3.2 Xử lý chất thải phóng xạ 128
5.3.3 Thu gom và xử lý nước thải 131
5.3.3.1 Thu gom nước thải bệnh viện 131
5.3.3.2 Đề xuất hệ thống xử lý nước thải bệnh viện 133
5.3.3.3 Xử lý nước thải chứa vòng beta-lactam 134
5.3.3.4 Quản lý bùn thải từ HTXLNT của bệnh viện 136
5.3.3.5 Áp dụng sản xuất sạch hơn cho HTXLNT tại các bệnh viện 136
5.4 CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ 138
5.4.1 Quản lý CTYTNH theo phương cách “quản lý bằng thông tin” 139
5.4.2 Nâng cao nhận thức 139
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 141
KẾT LUẬN 141
KIẾN NGHỊ 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
PHỤ LỤC DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Lượng chất thải y tế trung bình trên GB/ngày 8
Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả nghiên cứu lượng CTRYT phát sinh 8
Bảng 2.3 Lượng CTRYT phát sinh từ các khoa phụ thuộc vào cấp của BV 9
Trang 9Bảng 2.4 Tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại trên tổng lượng chất thải y tế chung 10
Bảng 2.5 Sự gia tăng CTRYT ở Việt Nam theo thời gian 11
Bảng 2.6 Lượng CTRYT phát sinh theo tuyến bệnh viện tại một số nước 13
Bảng 2.7 Thành phần và các đặc trưng vật lý của CTRYT 15
Bảng 2.8 Khối lượng chất ô nhiễm mỗi người thải ra môi trường hàng ngày 18
Bảng 2.9 Thành phần nước thải từ phòng X-Quang 16
Bảng 2.10 Các chỉ số ô nhiễm trong nước thải tại các bệnh viện 17
Bảng 2.11 Kết quả đánh giá thông số ô nhiễm cho từng tuyến 18
Bảng 2.12 Đánh giá nước thải bệnh viện theo chuyên khoa 18
Bảng 2.13 Các chỉ tiêu ô nhiễm theo phân loại của quốc tế 18
Bảng 2.14 Chỉ tiêu ô nhiễm trong nước thải bệnh viện các bệnh viện nước ta 19
Bảng 2.15 Các chỉ tiêu ô nhiễm trong nước thải các BV ở TP Hồ Chí Minh 19
Bảng 2.16 Tỷ lệ vi khuẩn phát hiện được trong nước thải 20
Bảng 2.17 Chỉ tiêu vệ sinh tại bể tập trung nước thải bệnh viện trước xử lý 20
Bảng 2.18 Danh sách các tỉnh đã được đầu tư lò đốt chất thải rắn y tế 23
Bảng 2.19 Số cơ sở khám, chữa bệnh trên cả nước 31
Bảng 2.20 Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện 31
Bảng 2.21 Số liệu nhân lực y tế năm 2000 – 2008 34
Bảng 2.22 Ví dụ tại BV Kles’s 37
Bảng 2.23 Tóm tắt của vWorld Bank về các công nghệ xử lý chất thải y tế 38
Bảng 2.24 Một số phương pháp xử lý chất thải y tế tại Hàn Quốc năm 2002 39
Bảng 2.25 Giới hạn kiểm soát thông số kiểm soát ô nhiễm 41
Bảng 3.1 Số liệu thống kê diện tích tỉnh An Giang 46
Bảng 3.2 Dự báo dân số đô thị tỉnh An Giang qua các thời kỳ 48
Bảng 3.3 Số Cơ Sở Y tế, giường bệnh và cán bộ y tế tỉnh An Giang (2008) 49
Bảng 3.4 Chất lượng môi trường không khí trước khi đốt và trong khi đốt 50
Bảng 3.5 Một số thuốc, dược chất có khả năng gây độc tế bào 55
Bảng 4.1 Tỷ lệ cơ sở y tế được khảo sát 61
Bảng 4.2 Số cơ sở y tế được điều tra, khảo sát 61
Bảng 4.3 Hiện trạng sử dụng nước cấp và và phát sinh nước thải tại các cơ sở y tế .63
Bảng 4.4 Hiện trạng quản lý nước thải tại các cơ sở y tế 68
Bảng 4.5 Kết quả phân tích nước thải bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang trước khi xử lý 71
Bảng 4.6 Kết quả phân tích nước thải BVĐK Trung tâm An Giang sau xử lý 72
Bảng 4.7 Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại các cơ sở Y tế 74
Bảng 4.8 Khối lượng CTRYT nguy hại ngoại viện được BV An Giang xử lý năm 2008 80
Bảng 4.9 Khối lượng CTRYT nguy hại ngoại viện được BV An Giang xử lý năm 9 tháng đầu năm 2009 81
Trang 10Bảng 4.10 Nguồn phát sinh CTR y tế tại các bệnh viện 82
Bảng 4.11 Các thông số kỹ thuật lò đốt Hoval MZ2 86
Bảng 4.12 Kết quả phân tích mẫu khí thải lò đốt CTR Y tế BV ĐK An Giang 88
Bảng 4.13 Kết quả phân tích mẫu không khí xung quanh trước khi đốt lò (BVĐK An Giang) 89
Bảng 4.14 Kết quả phân tích mẫu không khí xung quanh trong khi đốt lò 89
Bảng 4.15 Kết quả phân tích tro đốt lò (BV ĐK An Giang) 89
Bảng 4.16 Hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn tại các cơ sở y tế .90
Bảng 4.17 Quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh đến năm 2020 96
Bảng 4.18 Khối lượng CTR phát sinh giai đoạn 2010 – 2015 97
Bảng 4.19 Khối lượng CTR phát sinh giai đoạn 2015 – 2020 97
Bảng 4.20 Khối lượng CTR phát sinh giai đoạn 2010 – 2015 98
Bảng 4.21 Khối lượng CTR phát sinh giai đoạn 2010 – 2020 99
Bảng 5.1 Quy hoạch các trạm xử lý CTRYT nguy hại theo cụm bệnh viện 131
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Nguồn phát sinh chất thải y tế trong các cơ sở y tế 7
Hình 2.2 NTBV và những tác động đến HTXLNT và môi trường tự nhiên 15
Hình 2.3 Sơ đồ công nghệ HTXLNT Khu điều trị kỹ thuật cao BV Bình Dân TP Hồ Chí Minh 29
Hình 2.4 HTXLNT BV Chợ Rẫy 30
Hình 2.5 Trạm XLNT tại BV Ung bướu TP HCM 35
Hình 2.6 Đa phần những lò đốt rác y tế tuyến huyện không đạt chuẩn 35
Hình 2.7 Chi phí xử lý, lưu trữ và quản lý chất thải y tế tại Mỹ (2005-2012) 38
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh An Giang 46
Hình 4.1 Tỷ lệ nhân viên/giường bệnh 62
Hình 4.2 Hiện trạng sử dụng nước cấp tại các bệnh viện, lít/GB/ngày 64
Hình 4.3 Hiện trạng sử dụng nước cấp tại các PKĐK, lít/GB/ngày 64
Hình 4.4 Hiện trạng sử dụng nước cấp tại các trạm y tế, lít/GB/ngày 65
Hình 4.5 Lượng nước thải phát sinh tại các bệnh viện năm 2009 66
Hình 4.6 Lượng nước thải phát sinh tại các PKĐK năm 2009 66
Hình 4.7 Lượng nước thải phát sinh tại các trạm y tế năm 2009 66
Hình 4.8 Tỷ lệ nước thải so với lượng nước cấp sử dụng, % 67
Trang 11Hình 4.9 Tỷ lệ cơ sở có HTXLNT trong tổng cơ sở được khảo sát, % 69
Hình 4.10 Sơ đồ công nghệ HTXLNT BVĐK An Giang 70
Hình 4.11 Hệ thống xử lý nước thải BVĐK trung tâm An Giang 71
Hình 4.12 HTXL nước thải là nơi phơi quần áo 72
Hình 4.13 HTXL đã lâu không hoạt động 72
Hình 4.14 Sơ đồ HTXLNT Trạm Y tế phường Mỹ Bình CS 10 m3/ngày 73
Hình 4.15 Mặt bằng xây dựng hệ thống xử lý nước thải phường Mỹ Bình 74
Hình 4.16 Tổng lượng CTR phát sinh tại các bệnh viện, kg/ngày 76
Hình 4.17 Tổng lượng CTR phát sinh tại các PKĐK, kg/ngày 76
Hình 4.18 Lượng CTR phát sinh tại các trạm Y tế, kg/ngày 77
Hình 4.19 Lượng CTRYT nguy hại/GB/ngày tại BV, kg/GB/ngày 77
Hình 4.20 Lượng CTRYT nguy hại/GB/ngày tại PKĐK, kg/GB/ngày 78
Hình 4.21 Lượng CTRYT nguy hại/GB/ngày tại TYT, kg/GB/ngày 78
Hình 4.22 Tỷ lệ CTRYT nguy hại so với tổng lượng CTR phát sinh tại BV 79
Hình 4.23 Tỷ lệ CTRYT nguy hại so với tổng lượng CTR phát sinh tại PKĐK 79
Hình 4.24 Tỷ lệ CTRYT nguy hại so với tổng lượng CTR phát sinh tại TYT 79
Hình 4.25 Phân loại CTRYT tại nguồn 83
Hình 4.26 Thùng chứa CTRYT nguy hại tại lò đốt CTRYT nguy hại BVAG 84
Hình 4.27 Vận chuyển CTRYT 84
Hình 4.28 Nơi lưu giữ CTRYT tái chế tại BV thành phố Long Xuyên 84
Hình 4.29 Lò đốt Hoval MZ2 tại BVĐK trung tâm An Giang 87
Hình 4.30 Mô hình quản lý chung CTRYT 93
Hình 5.1 Các thành phần cơ bản và sự tương quan của các thành phần trong một hệ thống quản lý chất thải y tế nguy hại 100
Hình 5.2 Mô hình quản lý chất thải rắn y tế 102
Hình 5.3 Quy trình chung quản lý CTR y tế 109
Hình 5.4 Quy trình quản lý chất thải buồng tiêm 110
Hình 5.5 Quy trình quản lý chất thải buồng băng, buồng bột, buồng thủ thuật xâm lấn 111
Hình 5.6 Quy trình quản lý chất thải buồng mổ, hồi sức cấp cứu 112
Hình 5.7 Quy trình quản lý chất thải buồng khám bệnh, điều trị răng, da liễu 113
Hình 5.8 Quy trình quản lý chất thải buồng xét nghiệm sinh hóa, huyết học, vi sinh, chẩn đoán hình ảnh, biopsy 114
Hình 5.9 Quy trình quản lý chất thải khoa truyền nhiễm 115
Hình 5.10 Quy trình quản lý chất thải khoa chống nhiễm khuẩn 116
Hình 5.11 Cửa sổ khởi động Mapinfo 117
Hình 5.12 Bản đồ cơ sở dữ liệu các cơ sở y tế được khảo sát 117
Hình 5.13 Thông tin các cơ sở y tế được khảo sát 118
Hình 5.14 Bản Info Tool được phóng to 118
Hình 5.15 Các tuyến thu gom và vận chuyển đến trạm xử lý số 1 120
Trang 12Hình 5.16 Các tuyến thu gom và vận chuyển đến trạm xử lý số 2 121
Hình 5.17 Các tuyến thu gom và vận chuyển đến trạm xử lý số 3 121
Hình 5.18 Sơ đồ khối mô hình xử lý chất thải rắn y tế nguy hại cho cụm BV 124
Hình 5.19 Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện được đề xuất 134
Hình 5.20 Sơ đồ khối xử lý nước thải chứa vòng beta-lactam 135
Hình 5.21 Sơ đồ 6 bước và 18 nhiệm vụ trong sản xuất sạch hơn 138
Hình 5.22 Sơ đồ quản lý CTYTNH - Phương thức quản lý bằng thông tin 139
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOD : Nhu cầu oxy sinh học
BVĐK : Bệnh viện đa khoa
COD : Nhu cầu oxy hóa học
CTCC : Công trình công cộng
CTRSH : Chất thải rắn sinh hoạt
CTRYT : Chất thải rắn y tế
CTRYTNH : Chất thải rắn y tế nguy hại
HTXLNT : Hệ thống xử lý nước thải
NLYT : Nhân lực y tế
PKĐK : Phòng khám đa khoa
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
Trang 15CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
An Giang là một trong những tỉnh có tiềm lực kinh tế lớn ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Tỉnh An Giang nằm giữa 3 trung tâm kinh tế lớn: TP Hồ Chí Minh – TP Cần Thơ và thủ đô Phnom Penh (Campuchia), có cửa khẩu quốc tế đường sông và đường bộ (cửa khẩu quốc gia) tạo thuận lợi trong quá trình hội nhập phát triển kinh tế - xã hội với các nước trong khu vực và nhất là mở rộng trao đổi hàng hóa trực tiếp với nước bạn Campuchia cũng như các tỉnh ở ĐBSCL Tỉnh An Giang bao gồm
11 huyện thị Trong đó, thành phố Long Xuyên – đơn vị hành chính trung tâm và là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của tỉnh An Giang, đồng thời cũng trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật của vùng đồng bằng sông Cửu Long
Bên cạnh sự phát triển kinh tế - xã hội là sức ép về mặt môi trường Ô nhiễm môi trường đã gây ra những tác động xấu đối với sức khỏe cộng đồng, nền kinh tế, môi trường tự nhiên và hệ sinh thái Trong các vấn đề môi trường nóng bỏng thì công tác tổ chức thu gom, lưu trữ, vận chuyển, xử lý và quản lý chất thải y tế cũng không kém phần quan trọng so với các vấn đề khác Nói đến vấn đề quản lý và xử lý chất thải
y tế, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cũng như nhiều tỉnh thành trong cả nước đều đối mặt với không ít khó khăn, trở ngại mà có những lúc tưởng chừng như không thể vượt qua được Việc đầu tư kinh phí, trang thiết bị, giải pháp về công nghệ cho các hoạt động bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu; Mạng lưới cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường ngành y tế chưa được kiện toàn, năng lực cán bộ (đặc biệt tại địa phương) chưa đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ được giao Bên cạnh đó ý thức bảo
vệ môi trường của nhân viên y tế và cộng đồng còn hạn chế Cơ chế chính sách về bảo
vệ môi trường chưa hoàn chỉnh, đặc biệt chưa có một kế hoạch tổng thể về triển khai công tác bảo vệ môi trường trong ngành y tế Vẫn còn một số cơ sở y tế chưa thực hiện đầy đủ các quy định của nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động xử lý chất thải y tế Việc phân loại, đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại chưa đạt yêu cầu, tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại chưa được thu gom, xử lý còn cao; nước thải y tế chưa qua
xử lý, xả thẳng ra ngoài môi trường vẫn còn diễn ra tại một số bệnh viện,
Do vậy, nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại TP Long Xuyên, tỉnh An Giang là hết sức cần thiết
1.2 THÔNG TIN ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải y tế tại TP Long Xuyên, tỉnh An Giang ”
Trang 161.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm quản lý và xử lý chất thải y tế tại các bệnh viện cũng như các cơ sở y tế tại TP Long Xuyên, tỉnh An Giang, hạn chế mức thấp nhất các tác động gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng
và chất lượng môi trường
1.4 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung nghiên cứu
Để đạt mục tiêu trên, luận văn sẽ thực hiện các nội dung cơ bản sau:
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải y tế tại TP Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Tính toán và dự báo lượng chất thải y tế phát sinh đến năm 2015-2020
- Đề xuất các giải pháp tổng hợp để quản lý chất thải y tế tại TP Long Xuyên:
Giải pháp quản lý
Giải pháp kỹ thuật
Áp dụng Hệ thống thông tin địa lý (GIS) vào việc quản lý các cơ sở y tế, các tuyến thu gom và các trung tâm xử lý chất thải y tế tại TP Long Xuyên, tỉnh An Giang
Sự cần thiết phải phối hợp giữa các địa phương và các cơ quan chức năng
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp, thu thập số liệu, tài liệu liên quan
- Thu thập số liệu từ các viện, sở, ngành, … liên quan đến chất thải y tế TP Long Xuyên, tỉnh An Giang, kể cả đặc điểm tự nhiên và quy luật phát triển kinh tế -
xã hội đồng thời thu thập và kế thừa các đề tài dự án, số liệu nghiên cứu về hiện trạng chất thải y tế TP Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Niên giám thống kê qua các năm
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang đến năm 2020
- Các tài liệu khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Các tài liệu nghiên cứu – khoa học nước ngoài có liên quan đến việc thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử lý chất thải y tế
Trang 17Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
Áp dụng để tiến hành xác định các nguồn phát sinh chất thải, hiện trạng môi trường tại các cơ sở y tế TP Long Xuyên, tỉnh An Giang
Khảo sát thực tế bằng cách phát 24 phiếu điều tra cho các cơ sở y tế tại TP Long Xuyên để thu thập thông tin về nguồn nước cấp sử dụng; lượng chất thải rắn phát sinh và biện pháp thu gom, xử lý; lượng nước thải phát sinh, công nghệ xử lý nước thải, vấn đề xử lý bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải và nguồn tiếp nhận; vấn đề khí thải
Phương pháp toán học
Thống kê và tính toán các số liệu thu thập được (sử dụng phần mềm Microsoft Excel) để theo dõi mức độ phát sinh chất thải, lượng chất thải thu gom và xử lý, lượng
xả thải ra môi trường
Phương pháp chuyên gia
Tham khảo, trao đổi với các chuyên viên phụ trách về môi trường tại tỉnh An Giang, các chuyên gia trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ngành y tế và các chuyên gia quản lý Nhà nước về môi trường Khảo sát 10 phiếu tham khảo ý kiến của chuyên gia
về hệ số phát thải của chất thải y tế (chủ yếu là các chuyên gia tại An Giang)
Phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh
Dựa trên kết quả thu được từ hiện trạng quản lý và xử lý chất thải y tế tại TP Long Xuyên, tỉnh An Giang, từ đó phân tích, đánh giá và so sánh với các tỉnh, thành phố lớn trong nước và ngoài nước Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý và xử lý
Phương pháp ứng dụng phần mềm GIS
Sử dụng phần mềm Mapinfo để tạo dữ liệu không gian, thuộc tính, tạo cơ sở dữ liệu cho bản đồ từ đó quản lý các cơ sở y tế, các tuyến thu gom và các trạm xử lý chất thải răn y tế tại TP Long Xuyên, tỉnh An Giang
1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
1.5.1
- Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh tại TP Long Xuyên
- Các chất thải cần quan tâm: nước thải, chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
- Không khảo sát phòng khám y học cổ truyền và bệnh viện y học cổ truyền
- Không nghiên cứu đối tượng chất thải nguy hại: bao bì đựng hóa chất, bình acquy, bóng đèn huỳnh quang thải ra trong phạm vi cơ sở y tế
Trang 18Phạm vi nghiên cứu
1.5.2
1.6.1
1.6.2
Không gian: TP Long Xuyên, tỉnh An Giang
Thời gian: Thời gian thực hiện đề tài trong khoảng 6 tháng kể từ khi đề cương được
hội đồng xét duyệt thông qua
1.6 TÍNH MỚI VÀ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tính mới
Tình hình quản lý và xử lý chất thải y tế nước ta nói chung vẫn còn nhiều bất cập, đang từng bước hoàn thiện và TP Long Xuyên, tỉnh An Giang cũng không ngoại trừ Hiện trạng ô nhiễm môi trường từ chất thải y tế diễn biến phức tạp từng ngày, từng giờ Do đó, chúng ta phải luôn luôn nghiên cứu, tìm ra giải pháp, lối đi phù hợp trong từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vấn đề quản lý chất thải y tế tại TP Long Xuyên nói riêng cần phải hoàn thiện, cải tiến Ngoài ra, luận văn còn ứng dụng GIS để tạo cơ sở dữ liệu của các cơ sở y tế và đề xuất vạch tuyến thu gom, vận chuyển CTRYT nguy hại đến các trạm xử lý
Tính cần thiết
Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học cho các cơ sở y tế căn cứ vào đó để dự báo các khía cạnh tác động có thể có đối với hoạt động khám chữa bệnh, thực hiện các giải pháp để giảm thiểu ô nhiễm và định hướng xây dựng hệ thống quản lý môi trường cho mình, có cái nhìn tổng quát hơn để giảm thiểu ô nhiễm tại các cơ sở y tế và môi trường xung quanh
Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài mang tính thực tiễn vì sẽ nghiên cứu đề xuất giải pháp định hướng quản
lý môi trường cho hệ thống bệnh viện và cơ sở y tế tại TP Long Xuyên, tỉnh An Giang nhằm góp phần bảo vệ môi trường, góp phần đưa ngành y tế tham gia bảo vệ môi trường với các ngành nghề khác phù hợp với các nghị quyết của Đảng và Nhà nước cũng như các quy định khuyến cáo của các tổ chức bảo vệ môi trường trên thế giới Do
đó, việc sớm thực thi một hệ thống quản lý môi trường để quản lý kiểm soát các vấn
đề ô nhiễm môi trường trong các lĩnh vực hoạt động khám chữa bệnh của TP Long Xuyên nói riêng và tỉnh An Giang nói chung là cần thiết
Ý nghĩa kinh tế xã hội
Dân số ngày càng tăng, lượng chất thải y tế sinh ra qua mỗi năm tăng lên đáng
kể dẫn đến tác động môi trường theo đó cũng sẽ tăng lên, công tác quản lý chất thải y
tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế và các ngành có liên quan, nhằm bảo vệ môi trường sống, bảo vệ sức khỏe bản thân các thầy thuốc, nhân viên y
tế, người bệnh và cộng đồng
Trang 19CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ - TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ
NGOÀI NƯỚC
Trang 20CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ - TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
Chất thải rắn thông thường (hay còn gọi là chất thải rắn sinh hoạt), bao gồm: giấy, bìa, bao hộp đóng gói, khăn giấy lau tay, đồ vãi - hoặc tã lót rách, dây truyền huyết thanh, các túi dựng dịch dẫn lưu dạ dày hoặc bàng quang, lá bánh, thức ăn bỏ đi
2.1.2 Phân loại chất thải y tế
Theo quy chế quản lý chất thải y tế do Bộ y tế ban hành thì chất thải y tế được phân thành các loại sau:
1 Chất thải lây nhiễm:
a) Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế
b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
d) Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
2.Chất thải hóa học nguy hại:
a) Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
b) Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế (phụ lục 2)
c) Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu (Phụ lục 3)
d) Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân
bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ
Trang 21bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
4 Bình chứa áp suất:
Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt
5 Chất thải thông thường:
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
a) Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly) b) Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại
c) Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
d) Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
Nguồn: [6]
Trang 222.1.3 Các nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
Hình 2.1 Nguồn phát sinh chất thải y tế trong các cơ sở y tế
Việc dự báo, ước lượng chất thải y tế nói chung và số lượng hay tỷ lệ chất thải
y tế nguy hại nói riêng phải dựa vào các yếu tố sau:
¾ Số lượng, đặc điểm, phạm vi cứu chữa, quy mô khám bệnh, điều trị của
tất cả các cơ sở y tế của thành phố
¾ Số lượng giường bệnh tại bệnh viện và các cơ sở y tế có giường bệnh từ
tuyến xã, phường và tuyến tỉnh bao gồm cả các bệnh viện do ngành y tế quản lý và do các ngành khác quản lý
¾ Lượng chất thải y tế phát thải mỗi ngày xác định theo giường bệnh
(giường bệnh của cấp bệnh viện) mỗi ngày
¾ Tỷ lệ chất thải y tế nguy hại trên tổng chất thải y tế chung của giường
bệnh (bệnh viện cấp bệnh viện) mỗi ngày
Dưới đây là một số tài liệu đã công bố khối lượng phát thải chất thải rắn y tế mỗi GB/ngày, tỷ lệ chất thải rắn nguy hại, khối lượng CTRYT nguy hại/GB/ngày, tải lượng chung toàn quốc
Trang 23Bảng 2.1 Lượng chất thải y tế trung bình trên GB/ngày
TT Nguồn Năm kg/GB/ngày
1 Phạm Thị Ngọc Bích, Phạm Ngọc Châu Kinh nghiệm
bước đầu xử lý chất thải tại một số bệnh viện cấp tỉnh ở
Việt Nam, Hội thảo Việt Nam - Thụy Điển
1996 2,27
2 Urenco Hà Nội, Báo cáo NC khả thi xây dựng xưởng
3 Phạm Song Hội thảo Quản lý chất thải bệnh viện 1998 2,45
4 Phạm Thị Ngọc Bích Hội thảo xử lý chất thải BV 1998 2,27
5 Nguyễn Xuân Nguyên Hội thảo Quản lý chất thải BV 1998 2,45
6 Nguyễn Kim Thái Hội thảo Quản lý chất thải BV 1998 2,27
7 Nguyễn Văn Lộ Hội thảo xử lý chất thải bệnh viện 1998 1,17
Nguồn: TS Phạm Ngọc Châu, 2004
Như vậy, lượng chất thải rắn y tế trung bình phát thải theo mỗi giường bệnh tại
tuyến bệnh viện mỗi ngày là 2,16 kg/GB/ngày Tuy nhiên hệ số phát thải này chỉ nên
áp dụng ước lượng tính toán cho bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và tương đương Các
bệnh viện tuyến huyện Các bệnh viện tuyến huyện sẽ có hệ số phát thải thấp hơn do
phạm vi cứu chữa, khả năng áp dụng các kỹ thuật ở mức thấp hơn
Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả nghiên cứu lượng CTRYT phát sinh
Các cơ sở y tế đã khảo sát Năm Tác giả Tuyến bệnh viện CTRYTNH
kg/GB/ngày
7 bệnh viện lớn ở Hà Nội 1998 N.K.Thái TW & thành phố 0,21
80 bệnh viện trên toàn quốc 1998 Vụ điều trị
Bệnh viện phụ sản Hà Nội 2000 N.H.Bạo Chuyên khoa TP 0,67
BV Từ Dũ – HCM 2000 BV Từ Dũ Chuyên khoa TP 1,03
BV Việt Nam – Thụy Điển 2001 BV Đa khoa TW 0,30
Trang 24BV Thái Nguyên 2001 VCC - Đa khoa TW
BURGEAP (Pháp)
BYT
Trung bình các BV 0,44
Nguồn: Công ty BURGEAP – Pháp (8/2003), Quy hoạch tổng thể xử lý chất thải rắn y
tế tại Việt Nam, Bộ Y tế
Bảng 2.3 Lượng CTRYT phát sinh từ các khoa phụ thuộc vào cấp của BV
Tổng lượng chất thải rắn phát sinh
BV huyện
Trung bình
BV
TW
BV tỉnh
BV huyện
Trung bình Tính chung toàn
Nguồn: Công ty BURGEAP – Pháp (8/2003), Quy hoạch tổng thể xử lý chất thải rắn y
tế tại Việt Nam, Bộ Y tế
Về đặc điểm chất thải và tỷ lệ chất thải y tế nguy hại cũng có khá nhiều nghiên
cứu công bố các số liệu khá tương đồng với nhau và được thể hiện ở bảng dưới:
Trang 25Bảng 2.4 Tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại trên tổng lượng chất thải y tế chung
TT Nguồn Năm Tỷ lệ nguy
hại, %
Tỷ trọng
Nguồn: TS Phạm Ngọc Châu, 2004
Như vậy:
Hệ số phát thải chất thải rắn y tế chung: 2,16 kg/GB/ngày
Tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại: 20% (tương đương)
Từ cơ sở dữ liệu lượng chất thải y tế trung bình giường bệnh ngày, tỷ lệ chất
thải y tế nguy hại trong tổng số chung và số lượng GB tại các cơ sở y tế từ tuyến
huyện trở lên và tương đương có thể xác định được tổng lượng chất thải y tế chung,
tổng lượng chất thải y tế nguy hại phải xử lý theo địa bàn, theo khu vực và cho mỗi
Trang 26 Chất thải y tế nguy hại: 50 tấn/ngày
Trong đó 2 thành phố có tải lượng lớn nhất là:
TP Hồ Chí Minh: 31,3 tấn CTRYT chung, trong đó có 6,2 tấn CTRYT
nguy hại
Hà Nội: 26,5 tấn CTRYT chung, trong đó có 5,3 tấn CTRYT nguy hại
2.1.3.1 Khuynh hướng phát thải chất thải rắn y tế
Đối với chất thải y tế chung:
Tổng lượng CTRYT chung ít biến đổi do tổng số GB tương đối ổn định Mặc
dù có sự gia tăng số GB của các bệnh viện từ tuyến huyện trở lên trong giai đoạn 1995 đến nay nhưng số GB tại các cơ sở y tế khác như trạm y tế cơ quan, điều dưỡng lại giảm
Chất thải y tế nguy hại:
Tuy tổng thải chung chất thải y tế ít tăng hoặc chỉ tăng nhẹ, nhưng lượng CTRYT nguy hại phải xử lý đặc biệt lại tăng lên theo thời gian do 2 xu thế sau:
Tăng tỷ lệ sử dụng các dụng cụ dùng một lần như kim bơm tiêm, đè
lưỡi, găng tay phẫu thuật, ống thông, túi thu dịch dẫn lưu, bông băng, vải trải phẫu thuật, quần áo phẫu thuật …
Tăng số lượng các GB ở cơ sở điều trị từ tuyến huyện và tương đương
trở lên
Ngày càng ứng dụng nhiều hơn các kỹ thuật cao trong tất cả các khâu từ
khám bệnh, xét nghiệm, chẩn đoán và điều trị
Bảng 2.5 Sự gia tăng CTRYT ở Việt Nam theo thời gian
Chỉ số 1995 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Giường bệnh (1000 giường) 115,5 118 118 120,3 120,1 121,9 122,5 CTR y tế chung (tấn/ngày) 248,3 253,7 253,7 258,6 258,2 262,1 263,9 CTR y tế nguy hại (tấn/ngày) 55,4 56,6 56,6 57,7 57,6 58,5 58,9
Nguồn: Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam – 2004, Chất thải rắn
2.1.3.2 Khối lượng CTRYT phát sinh
Khối lượng CTRYT thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa và còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác như:
Cơ cấu bệnh tật bình thường, dịch bệnh, thảm họa đột xuất
Loại và quy mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa
Số lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú và
ngoại trú
Điều kiện kinh tế, xã hội của khu vực
Phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị
và chăm sóc
Trang 27 Số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân
Tham khảo tài liệu nước ngoài cho thấy khối lượng CTRYT cũng được ước
lượng trên cơ sở số GB và hệ số phát thải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thay đổi
theo mức thu nhập, thay đổi theo loại bệnh viện và trong một bệnh viện mức phát thải
khác nhau theo các khoa phòng chuyên môn cụ thể như sau:
Nước có thu nhập cao:
Nước có thu nhập trung bình:
Nước có thu nhập thấp:
Lượng CTRYT thay đổi theo từng loại bệnh viện:
Lượng CTRYT thay đổi theo các bộ phận khác nhau trong cùng bệnh viện:
Ở một số nước trên thế giới có hệ thống y tế giống Việt Nam là có bệnh viện
tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện thì hệ số phát thải CTRYT cũng dao
động khá lớn về tổng lượng thải cũng như tỷ lệ CTRYT nguy hại
Trang 28Bảng 2.6 Lượng CTRYT phát sinh theo tuyến bệnh viện tại một số nước
Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTRYT,
Bảng 2.7 Thành phần và các đặc trưng vật lý của CTRYT
N 0 Thành phần và các đặc trưng vật lý của CTRYT Tỷ lệ (%)
I Thành phần chất thải rắn y tế
F Bơm kim tiêm nhựa 0,9
G Bệnh phẩm, mô, bộ phận cắt bỏ 0,6
H Chất thải hữu cơ 52,7
I Chất thải xây dựng 21
II Các đặc trưng vật lý của CTR bệnh viện
Nguồn: Trung tâm môi trường đô thị và khu công nghiệp (CEETIA), 1998
2.1.4 Nguồn phát sinh chất thải phóng xạ
Chẩn đoán và phòng thí nghiệm nghiên cứu
Tác nhân đặc biệt nhắm mục tiêu vào một cơ quan hay hệ thống cơ quan được
dán nhãn với các hạt nhân phóng xạ (thuốc có phóng xạ dùng để chẩn đoán bệnh) và
quản lý số lượng nguyên tử đánh dấu cho bệnh nhân (2 ÷ 200 MBq), chẳng hạn như
F, Co, Ga, Xe và Au Trong một số thí nghiệm, như radioimmunoassay
Trang 29(RIA), số lượng chất phóng xạ nhỏ (0,2 ÷ 20 MBq), 125I hoặc 14C hoặc 3H (đếm các tia ánh lên của chất lỏng, hàng trăm Bq), được thêm vào chất lỏng hoặc các mẫu vật lấy từ bệnh nhân Những hoạt động này tạo chất thải phóng xạ hỗn hợp với các thể mẹ sinh học hoặc sự bài tiết của bệnh nhân (thông thường là nước tiểu); sau khi phân rã hoàn
toàn, chúng có thể được coi là chất truyền nhiễm, đôi khi, là chất thải nguy hại có chứa
dung môi Nhiều tổ chức y tế có một hoặc nhiều phòng thí nghiệm nghiên cứu lâm sàng sử dụng nguyên tử đánh dấu phóng xạ, và sinh ra chất thải với một lượng bằng thể mẹ dùng trong chẩn đoán
Chất rắn hòa tan
Nguồn không kín của hạt nhân phóng xạ sử dụng cho điều trị có thể được tìm thấy trong các bộ phận của y học hạt nhân, nội tiết hoặc xạ trị Các hoạt động tương đối lớn (≥ 50 MBq) của các hạt nhân phóng xạ (như 131I và 32P) được sử dụng để điều trị các điều kiện bệnh lý khác nhau Trong các điều kiện đó, bệnh nhân có thể là một nguồn bức xạ và các chất lỏng sinh học của họ phải được xem như là chất thải phóng
xạ nguy hại
2.1.5 Nguồn phát sinh nước thải bệnh viện
Các bệnh viện sử dụng rất đa dạng các loại hóa chất như dược phẩm, nuclit, phóng xạ, dung môi, chất tẩy uế sử dụng cho mục đích y học như chuẩn đoán tẩy uế và nghiên cứu Sau khi được sử dụng những chất này và các loại thuốc không chuyển hóa được từ các bệnh nhân sẽ đổ vào dòng nước thải bệnh viện, sau đó hòa vào hệ thống cống nước thải đô thị mà không qua xử lý sơ bộ Các dược phẩm không được sử dụng thỉnh thoảng cũng được cho vào hệ thống cống của bệnh viện Các chất ô nhiễm từ bệnh viện được đưa vào hệ thống xử lý nước thải (WWTP) và trong nước mặt Nguồn phát sinh nước thải bệnh viện có thể tóm tắt theo sơ đồ sau:
Những dòng nước thải từ các hoạt động điều trị, chuẩn đoán
và nghiên cứu
Nước thải sinh hoạt, công
nghiệp và bệnh viện Hệ thống thoát nước bệnh viện
Hệ thống thoát nước đô thị Nước thải đô thị
Nước ngầm
Trang 30Hình 2.2 NTBV và những tác động đến HTXLNT và môi trường tự nhiên
Trong quá trình hoạt động của bệnh viện, nước thải sinh ra trong toàn bộ khuôn
viên bệnh viện bao gồm các loại khác nhau với nguồn thải tương ứng như sau:
¾ Nước mưa chảy tràn
Nước thải này sinh ra do lượng mưa rơi trên bờ mặt khuôn viên bệnh viện Chất
lượng nước mưa khi chảy đến hệ thống thoát nước phụ thuộc vào độ trong sạch của
khí quyển tại khu vựa và bề mắt rửa trôi So với nước thải sinh hoạt, nước mưa khá
sạch Vì vậy, nước mưa thường được tách ra khỏi nước thải và đươc đưa thẳng vào hệ
thống thoát nước chung của thành phố
Tuy nhiên, nước mưa vẫn có khả năng nhiễm bẩn khi chảy qua một số vị trí và
khu vực đặc biệt như: các thùng rác đặt ngoài đường, kho chứa rác bệnh viện, khu
vực đặt bồn chứa nhiên liệu dầu Diezel cho máy phát điện dự phòng và khu vực bãi
xe Nước mưa chảy tràn trên bờ mặt cuốn theo các chất gây bẩn và váng dầu mỡ
¾ Nước thải sinh hoạt
Là loại nước thải ra sau khi sử dụng cho các nhu cầu sinh hoạt trong bệnh viện:
ăn uống, tắm rửa, vệ sinh… từ các khu khám chửa bệnh, các khu nhà vệ sinh, nhà ăn,
căn tin… Thành phần và tính chất giống như nước thải từ các khu dân cư khác: có
chứa chất cặn bã, chất hữu cơ hòa tan (thông số chỉ tiêu COD, BOD), chất lơ lửng
(SS), các chất dinh dưỡng (nitơ, photpho) và vi trùng
Theo tính toán thống kê, đối với những quốc gia đang phát triển, khối lượng chất
ô nhiễm được thải ra môi trường hàng ngày vào môi trường nếu không được xử lý:
Bảng 2.8 Khối lượng chất ô nhiễm mỗi người thải ra môi trường hàng ngày
Chất ô nhiễm Khối lượng (g/người/ngày)
¾ Nước thải do hoạt động khám và chữa bệnh
Nước thải này có mức độ ô nhiễm hữu cơ cao và chứa nhiều vi trùng gây bệnh
nhất trong số các dòng nước thải bệnh viện Nước thải này phát sinh từ nhiều khâu và
quá trình khác nhau trong bệnh viện như: giặt quần áo bệnh nhân, khăn lau, chăn
mền, dra giường bệnh, súc rửa các dụng cụ y khoa, xét nghiệm giải phẩu, vệ sinh lau
Trang 31chùi phòng bệnh và các phòng làm việc… Tùy theo từng khâu mà mức độ ô nhiễm khác nhau
Nước thải bệnh viện đặc trưng là chứa nhiều mầm bệnh đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm Bên cạnh đó các chất sử dụng cho việc khám chữa bệnh, chất tẩy uế, nước thải từ các khu xét nghiệm, khu mổ chứa máu và bệnh phẩm đổ vào nước thải
¾ Nước thải từ phòng chụp X-Quang
Nước thải có khả năng nhiễm xạ từ các khu X-quang, rửa phim Việc xử lý nước thải bị nhiễm phóng xạ rất kho khăn và tốn kém (do chu kỳ phân hủy các chất phóng xạ khá lâu) Trong điều kiện hiện nay không đề cập đến việc xử lý loại nước thải này mà chỉ xử lý sơ bộ trong dây chuyền xử lý nước thải của bệnh viện
Bảng 2.9 Thành phần nước thải từ phòng X-Quang
STT Thông số Đơn vị tính Giá trị
¾ Nước thải giải nhiệt máy phát điện dự phòng
Nước thải có thành phần và tính chất tương tự như nước nguồn đưa vào sử dụng, chỉ khác nhiệt độ nước thải ra tăng cao so với ban đầu nhưng vẫn có thể khống chế nằm dưới mức cho phép thải (<450C) bằng cách điều chỉnh lượng lượng nước giải nhiệt cho phù hợp Tuy nhiên, do tính chất hoạt động không thường xuyên và thời gian không lâu, nên không cần thiết lắp đặt hệ thống giảm nhiệt tuần hoàn
¾ Nước thải từ các thiết bị xử lý khói thải lò đốt rác
Lò đốt rác chuyên dùng để đốt cháy các loại bệnh phẩm của bệnh viện (bông băng, thịt dư thừa trong quá trình giải phẩu…) Nhiên liệu sử dụng thường là dầu DO,
Trang 32khi đốt sẽ sinh ra khói thải chứa các chất ô nhiễm dạng khí (SOx, NOx, CHx aldehyde…) và dạng hạt (tro, muội khói lò) Tải lượng ô nhiễm do sản phẩm cháy của dầu DO trong trường hợp này tương đối lớn và nồng độ của hơi độc, bụi trước khi thải ra môi trường sẽ qua xử lý bằng nước vôi
Nước thải từ các khu khám chữa bệnh, nghiên cứu, phẩu thuật, sinh hoạt và căn tin được tập trung tại bể tâp trung tạo thành nước thải tổng hợp Theo kết quả phân tích của các cơ quan chức năng thì nước thải bệnh viện có thể phân ra làm 2 loại chính:
- Nước thải bình thường (nước thải sinh hoạt)
- Nước thải nguy hại: nước thải có chứa chất thải nhiễm khuẩn từ các bệnh nhân, sản phẩm của máu, các mẫu chuẩn đoán bị hủy bỏ, hóa chất phát sinh trong các quá trình phẩu thuật, lọc máu, hút máu, chất bảo quản, chất tẩy uế…
2.1.5.1 Đặc tính nước thải bệnh viện và các tác nhân gây bệnh
Nước thải bệnh viện chứa các thành phần hóa học nguy hại:
- Formaldehyd: sử dụng trong khoa giải phẩu bệnh, diệt khuẩn, bảo quản mẫu xét nghiệm và ướp xác
- Các chất quang hóa học: có trong dung dịch dung cố định và tráng phim quang
X Các chất hóa học hỗn hợp: gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh
- Các loại thuốc sử dụng cho bệnh nhân và các chất thải khác
Bảng 2.10 Các chỉ số ô nhiễm trong nước thải tại các bệnh viện
STT Chất ô nhiễm đặc trưng Hàm lượng Tiêu chuẩn 7382 : 2004
Trang 33Bảng 2.11 Kết quả đánh giá thông số ô nhiễm cho từng tuyến
Bệnh viện pH BOD 5
(mg/l)
COD (mg/l)
Tổng P (mg/l)
Tổng N (mg/l)
SS (mg/l)
Nguồn: Viện Y học lao động và MT – Bộ y tế và trung tâm CTC, năm 2009
Nguyên nhân nước thải bệnh viện tuyến tỉnh có hàm lượng chất ô nhiễm cao
hơn tuyến trung ương và tuyến nghành là do lượng nước sử dụng tính cho 1 giường
bệnh thấp nên nồng độ chất ô nhiễm cao
Bảng 2.12 Đánh giá nước thải bệnh viện theo chuyên khoa
Chuyên khoa pH BOD 5
(mg/l)
COD (mg/l)
Tổng P (mg/l)
Tổng N (mg/l)
SS (mg/l)
Nguồn: Viện Y học lao động và MT – Bộ y tế và trung tâm CTC, năm 2009
Nhìn chung hàm lượng chất ô nhiễm không có sự khác biệt lớn khi phân chia
các bệnh viện theo chuyên khoa Các thông số ô nhiễm không có nồng độ đáng kể để
đánh giá
2.1.5.2 Chất lượng nước thải bệnh viện
Lượng chất bẩn tính theo đơn vị 1 giường bệnh thải vào hệ thống thoát nước
Theo phân loại quốc tế:
Bảng 2.13 Các chỉ tiêu ô nhiễm theo phân loại của quốc tế
Trang 34Tổng lượng cacbon hữu cơ mg/l 80 160 290
Nguồn: Wastewater Engineerring, Theatment, Disposal, Reuse Mc GRAW – HILL
International Edition, Third Edision, 1991
Bảng 2.14 Chỉ tiêu ô nhiễm trong nước thải bệnh viện các bệnh viện nước ta
Nguồn: TTCGCN mới – TTNĐ Việt – Nga – Bộ Quốc Phòng
Nhìn chung nước thải bệnh viện có thành phần và tính chất giống nước thải sinh
hoạt Tuy nhiên thông qua nhiều phân tích và đánh giá người ta rút ra những kết luận
về đặc điểm của nước thải bệnh viện so với nước thải sinh hoạt
- Lượng chất gây bẩn gây ô nhiễm tính trên một giường bệnh lớn hơn 2-3 lần
chất lượng nước gây ô nhiễm tính trên đầu người Ở cùng một tiêu chuẩn sử
dụng nước thì nước thải có nồng độ cao hơn nhiều
- Sư hình thành nước thải bệnh viện trong vòng một ngày và những ngày riêng
biệt của tuần là không đều (hệ số không đều K=3) Thành phần của nước thải
bệnh viện dao động trong ngày do chế độ làm việc của bệnh viện không đều
- Trong nước thải bệnh viện, ngoài những chất bẩn thông thường như nước
thải sinh hoạt, còn chứa những chất hữu cơ và khoáng đặc biệt (dược phẩm,
Trang 35chất tẩy rửa, đồng vị phóng xạ… ) Ngoài ra còn có một lượng lớn vi khuẩn
gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm
Bảng 2.16 Tỷ lệ vi khuẩn phát hiện được trong nước thải
Vi khuẩn gây bệnh Tỉ lệ phát hiện được (%)
E.coli 51,61 Enterobacter 19,36
- Trung ương
- Tỉnh
3,3 x 106 2,6 x 106Faecal coliform (MPN/100ml)
- Trung ương
- Tỉnh
1,1 x 1061,9 x 106Enterococci (KL/100ml)
- Trung ương
- Tỉnh
2,6 x 106 3,8 x 106Trứng Giun (Tr/1l)
- Trung ương
- Tỉnh
37
43
Tuy nước thải bệnh viện có thành phần và tính chất giống nước thải sinh hoạt,
nhưng qua nhưng kết luận trên cần phải xếp nước thải bệnh viện vào một dạng nước
thải riêng và yêu cầu xử lý cũng phải cao hơn
Trang 362.1.5.3 Quy định chung và tiêu chuẩn nước thải bệnh viện
Theo qui chế Quản lý chất thải y tế được ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của bộ trưởng Bộ y tế ra ngày 30 tháng 11 năm 2007, chương IX, quy định một số vấn đề về xử lý nước thải bệnh viện như sau:
Điều 27: Quy định chung về xử lý nước thải
1 Mỗi bệnh viện phải có hệ thống thu gom và xử lý nước thải đồng bộ
2 Các bệnh viện không có hệ thống xử lý nước thải phải bổ sung hệ thống xử
lý nước thải hoàn chỉnh
3 Các bệnh viện đã có hệ thống xử lý nước thải từ trước nhưng bị hỏng không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả, phải tu bổ nâng cấp để vận hành đạt tiêu chuẩn môi trường
4 Các bệnh viện xây dựng mới, bắt buộc phải có hệ thống xử lý nước thải trong hạn mục xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
5 Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện phải đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, phải phù hợp với các điều kiện địa hình, kinh phí đầu tư, chi phí vận hành và bảo trì
6 Định kỳ kiểm tra chất lượng xử lý nước thải và lưu trữ hồ sơ xử lý nước thải
Điều 28: Thu gom nước thải
1 Bệnh viện phải có hệ thống thu gom riêng nước bề mặt và nước thải từ các khoa, phòng Hệ thống cống thu gom nước thải là hệ thống ngầm hoặc có nắp đậy
2 Hệ thống xử lý nước thải phải có bể thu gom bùn
Điều 29: Các yêu cầu của hệ thống nước thải bệnh viện
1 Có quy trình công nghệ phù hợp, xử lý nước thải đạt hiệu quả tiêu chuẩn môi trường
2 Công suất phù hợp với lượng nước thải phát sinh của bệnh viện
3 Cửa xả nước thải phải thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát
4 Bùn thải từ hệ thống xử lý nước thải phải được quản lý như chất thải rắn y
- TCVN 7382-2004: Chất lượng nước – Nước thải bệnh viện _ Tiêu chuẩn thải (Phụ luc)
Trang 37- Tuy nhiên hiện nay theo quy định mới TCVN 6772:2000 được thay thế bởi quy chuẩn QCVN 14:2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia vầ nước
thải sinh hoạt, do Ban soạn thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
nước biên soạn, Tổng cục môi trường và vụ pháp chế trình duyệt được ban
hành theo quyết định số 16/2008/QĐ – BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường
- QCVN 24: 2009/BTNMT do Ban soạn thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
chất lượng nước biên soạn, Tổng cục Môi trường và Vụ Pháp chế trình duyệt
và được ban hành theo Thông tư số 25/2009/TT-BTNMT ngày 16 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Phụ lục)
2.1.6 Các biện pháp quản lý chất thải y tế
- Phân loại rác thải tại nguồn và nâng cao nhận thức phân loại rác tại nguồn cho các cơ sở khám chữa bệnh
- Quy trình lưu trữ, thu gom và vận chuyển
- Các công cụ quản lý của Nhà nước
Hóa chất thường hay sử dụng là: forrmaldehyde (HCHO); ethylene oxide (CH2OCH2); glutaraldehyde (CHO-(CH2)3-CHO); sodium hypoclorite (NaOCl); clorine dioxide (ClO2)
Phương pháp này đem lại hiệu quả khử khuẩn cao trong điều kiện vận hành tốt, thường có chi phí đầu tư ban đầu thấp song đòi hỏi chi phí vận hành đắt, yêu cần công nhân vận hành phải được đào tạo cơ bản; sử dụng các hóa chất khử khuẩn phải có yêu cầu kèm theo; không tiêu huỷ được toàn bộ hóa chất; giảm không đáng kể thể tích chất thải Ngoài ra, còn tùy thuộc vào loại hóa chất được sử dụng mà có thể có nguy cơ gây
ô nhiễm thứ cấp do lượng tồn dư các hóa chất đã được sử dụng
Chi phí xử lý rác y tế theo phương pháp này ở các nước công nghiệp vào khoảng 100 – 120 USD/tấn
2.1.7.2 Xử lý nhiệt khô và ướt
Công nghệ xử lý nhiệt khô và ướt (wet and dry thermal treatment) là phương pháp sử dụng nhiệt ẩm (autoclave) hoặc hấp khô (ovens) để diệt khuẩn ở nhiệt độ 121 – 160 oC Hầu hết các mầm bệnh bị tiêu diệt ở nhiệt độ này
Một trong những ưu điểm của phương pháp này là không gây ô nhiễm môi trường, chi phí đầu tư và vận hành thấp, có thể áp dụng được với các trường hợp số
Trang 38lượng chất thải rất nhỏ, nhưng nhược điểm của phương pháp này là hiệu quả kém trong việc làm giảm thiểu khối lượng rác thải, đòi hỏi người vận hành có yêu cầu kỹ thuật cao, không phù hợp với chất thải mô bệnh viện Việc giảm thiểu khối lượng có ý nghĩa rất quan trọng đối với bảo vệ môi trường
2.1.7.3 Mô hình xử lí rác thải bằng công nghệ vi sóng
Công nghệ vi sóng (Microwave irradiation là phương pháp diệt khuẩn trong chất thải rắn y tế nguy hại bằng cách sử dụng nhiệt vi sóng Đây là một công nghệ mới
và rất hiệu quả Các thiết bị hiện đại có thể có công suất xử lý lên tới 250 kg/h (tương đương 3000 tấn/năm) Lò vi sóng loại này thường sử dụng nguồn phát bức xạ sóng điện từ siêu cao tần có tần số 2450 MHz, bước sóng khoảng 12,24 cm
Chi phí đầu tư ban đầu của hệ thống thiết bị vi sóng tương đối đắt, không xử lý được kim loại nhưng một ưu điểm rất lớn là xử lý bằng phươg pháp này nhiều vật liệu chất lượng cao có thể tái sử dụng làm nguyên liệu để đưa vào chu trình kinh tế, bên cạnh đó phương pháp này không thải ra chất thải lỏng, không thải ra khí độc
2.1.7.4 Công nghệ chôn lấp an toàn
Công nghệ chôn lấp là tập trung chất thải và chôn trong đất để chất thải tự tiêu hủy theo thời gian Phương pháp này có chi phí đầu tư ban đầu thấp, chi phí vận hành
rẻ nhưng chỉ nên thực hiện khi được các cơ quan chức năng quản lý về môi trường cho phép Giải pháp này còn đòi hỏi phải có điều kiện tự nhiên phù hợp như diện tích đất rộng, đặc điểm thổ nhưỡng phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân hủy hữu
cơ, đặc điểm nguồn nước ngầm, khu vực chôn lấp phải xa khu dân cư
2.1.7.5 Nhốt chất thải
Nhốt chất thải (inertization) là quá trình nhốt các chất thải cùng với chất cố định
xi măng, vôi Thông thường, người ta trộn hỗn hợp rác y tế nguy hại 65%, vôi 15%, xi măng 15%, nước 5% Hỗn hợp này được nén thành khối, trong một số trường hợp nó được dùng làm vật liệu xây dựng
Trong thực hành tại bệnh viện, đối với một số chất thải y tế có dạng sắc nhọn như kim tiêm, lưỡi dao mổ, kim khâu thì người ta cũng thường áp dụng phương pháp gom và nhốt lại chờ xử lý
2.1.7.6 Phương pháp đốt
Phương pháp thiêu đốt có hiệu quả khử khuẩn rất cao, làm giảm đáng kể khối lượng và thể tích chất thải, diện tích xây dựng nhỏ, vận hành đơn giản và có thể xử lý các loại rác có chu kỳ phân hủy lâu dài Tuy nhiên phương pháp thiêu đốt có một số hạn chế là: thải ra khí độc, đòi hỏi năng lượng lớn và chi phí đầu tư cao
Bảng 2.18 Danh sách các tỉnh đã được đầu tư lò đốt chất thải rắn y tế
TT Tỉnh Số lượng, loại lò Công suất, kg/h
1 Hà Nội 5, Del monego 200, Hoval MZ2, CA 200, CA 400, TBD45 450
Trang 395 Hải Dương 1, Hoval MZ4 90
Trang 402.1.8 Công nghệ xử lý nước thải
Nguyên tắc và yêu cầu xử lý nước thải bệnh viện
Nước thải bệnh viện phải được xử lý trước khi thải ra môi trường Tiêu chuẩn
áp dụng là TCVN 7382-2004
Nguyên tắc xử lý nước thải là phải đảm bảo thỏa mãn tiêu chuẩn môi trường và
xử lý tất cả các loại nước thải phát sinh từ bệnh viện
Các phương pháp xử lý nước thải có thể phân loại theo bản chất của phương pháp Theo bản chất của phương pháp ta có 2 nhóm sau:
• Các phương pháp hóa lý
• Các phương pháp sinh học
Nếu phân loại theo chức năng thì phức tạp hơn nhiều ví dụ như các phương pháp tiền xử lý bao gồm phân loại rác, cặn thô các phương pháp xử lý chất hữu cơ bao gồm phương pháp vi sinh kỵ khí và hiếu khí, hấp phụ, oxy hóa, các phương pháp diệt khuẩn bao gồm clo hóa, ozon, nhiệt, siêu âm
Nhóm phương pháp hóa lý
Song chắn rác: dùng các thanh bằng sắt hoặc bêtông, thường thì làm bằng sắt
hoặc gang đúc có khoảng cách khe từ 2 – 5 mm đủ để chắn rác thô Hệ thống chắn rác hiện đại còn được bố trí hệ cơ để thu gom và nghiền rác thô theo kiểu cơ khí hay tự động
Phương pháp loại cặn cơ học: kênh bể lắng cát thường được bố trí trong hệ
thống tiền xử lý để loại các cặn cơ học thô có thể gây tắc trong hệ thống xử lý hoặc làm hại các cơ cấu chuyển động phía sau Thường các thông số thiết kế phải tính sao cho có thể loại được cát có kích thước tới 0,15 mm ứng với tốc độ thủy lực 13,2 mm/s
Cyclon thủy lực: được dùng trong trường hợp cần tách các loại cặn cơ học có
kích thước từ 5 – 500 µm
Lưới lọc: dùng để tách cặn có học, rong rêu trong trường hợp xử lý nước thải
bệnh viện thường được chế tạo bằng thép không gỉ, hợp kim đồng niken hoặc poliester
có kích thước lỗ 5 – 500 µm
Bể điều hòa: nước thải nói chung có lưu lượng và mức ô nhiễm không đều và
không đồng nhất theo thời gian, để ổn định chế độ làm việc cho hệ thống xử lý cần ổn định nước thải đầu vào cả về lưu lượng lẫn tải lượng ô nhiễm bằng các bể chứa có dung tích được thiết kế tính toán cho cả trường hợp tối đa và tối thiểu
Phương pháp làm thoáng: làm thoáng tự nhiên có ứng dụng trong hạn chế
trong xử lý nước ngầm nhiễm sắt hoặc magan, nhưng ở mức độ nhất định có khả năng làm giảm một số chất tan có khả năng bay hơi cao như CO2+, H2S, các khí cacbua hydro mạch ngắn Làm thoáng cưỡng bức dùng trong trường hợp cần đuổi các chất hữu cơ bay hơi được như NH3 Trường hợp này thường nước được phun thành giàn mưa xuống các tấm kim loại hoặc gỗ hoặc nhựa tiếp xúc ngược với chiều khí thổi tự nhiên hay cưỡng bức nhờ hệ thống quạt đẩy hay hút để tạo dòng khí ngược