Xuất phát từ thực tế trên, đề tài nghiên cứu được đề xuất nhằm góp phần tìm ra cơ sở cho các ứng dụng các loại nhiên liệu mới, nhiên liệu sinh học trên động cơ đốt trong nhằm góp phần gi
Trang 2Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS HUỲNH THANH CÔNG
(chữ ký)
Cán bộ chấm nhận xét 1 :
(chữ ký) Cán bộ chấm nhận xét 2 :
(chữ ký) Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Bách khoa, ĐHQG Tp.HCM
Ngày …… tháng …… năm……
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm: (Ghi rõ họ tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ ) 1 ………
2 ………
3 ………
4 ………
5 ………
khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV Bộ môn quản lý chuyên ngành
Trang 3Tp HCM, ngày 02 tháng 0 7 năm 2010
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: TRƯƠNG VĂN NGỌC Phái: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 30/08/1983 Nơi sinh: Quảng Ngãi
1- TÊN ĐỀ TÀI: “Nghiên cứu mô phỏng động cơ Diesel 3 xy-lanh theo hướng sử
dụng nhiên liệu sinh học”
2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:
2.1 Nghiên cứu tổng quan khả năng ứng dụng nhiên liệu sinh học Biodiesel trên động
cơ Diesel 3 xy-lanh phục vụ trong nông lâm ngư nghiệp
2.2 Nghiên cứu mô hình hóa động cơ Diesel 3 xy-lanh dựa trên các mô hình lý thuyết
và các phần mềm mô phỏng chuyên sâu
2.3 Nghiên cứu đánh giá đặc tính động cơ và nồng độ khí thải của động cơ Diesel 3 lanh
xy-2.4 Dựa trên kết quả mô phỏng, đánh giá và so sánh với một số kết quả thực nghiệm nhằm tìm ra hướng đề xuất tỷ lệ pha trộn hỗn hợp Biodiesel hợp lý cho động cơ Diesel
3 xy-lanh phục vụ trong nông nghiệp và vận tải nông thôn
2.5 Đề xuất các hướng cải tiến phù hợp về kết cấu của động cơ nghiên cứu nhằm nâng cao công suất động cơ, giảm ô nhiễm môi trường
2.6 Tổng kết đánh giá kết quả thực hiện
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 02/7/2010
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 06/12/2010
5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS HUỲNH THANH CÔNG
Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN KHOA QL CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký)
Trang 4Đề tài "Nghiên cứu mô phỏng động cơ Diesel 3 xylanh theo hướng sử dụng
nhiên liệu sinh học" đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ quí thầy cô, các anh chị
trong lớp và các bạn đồng nghiệp
Để luận văn hoàn thành và đạt kết quả tốt, ngoài sự cố gắng của bản thân, em
xin chân thành cám ơn tất cả các thầy cô trong Khoa Kỹ Thuật Giao Thông, Trường
Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của
thầy ThS Nguyễn Đình Hùng, các bạn sinh viên trong Bộ môn, Phòng thí nghiệm
động cơ đốt trong đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ em thực hiện luận văn này
Đặc biệt cảm ơn Thầy hướng dẫn, TS Huỳnh Thanh Công, đã chỉ đạo về ý tưởng,
phương hướng, nội dung và có những lời khuyên đúng lúc
Cảm ơn các anh chị trong lớp và các bạn đồng nghiệp đã đóng góp công sức và
những ý kiến quí giá
Xin cảm ơn ba mẹ đã động viên giúp đỡ vật chất và tinh thần để vượt qua bao
khó khăn hoàn thành luận văn
Mặc dù rất nổ lực, nhưng do kiến thức còn hạn chế, thời gian có hạn và thiết
bị còn giới hạn nên khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong Quý Thầy Cô và
các bạn góp ý thêm để đề tài nghiên cứu này có thể sớm được áp dụng vào thực tế
TP.Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2010
Học viên thực hiện
HV Trương Văn Ngọc
Trang 5Luận văn này tập trung nghiên cứu khả năng ứng dụng Biodiesel từ mỡ cá Basa làm nhiên liệu cho động cơ Diesel 3 xy-lanh bằng phần mềm mô phỏng Phần mềm Ricardo – Wave đã được sử dụng để mô phỏng đặc tính động cơ và đặc tính khí thải của động cơ nghiên cứu, sử dụng ba tỷ lệ pha trộn nhiên liệu Biodiesel theo thể tích (B5, B10, B30) từ mỡ cá Basa so sánh với nhiên liệu Diesel truyền thống
Kết quả mô phỏng cho thấy khi động cơ sử dụng nhiên liệu pha trộn hỗn hợp Biodiesel-Diesel (B5, B10, B30) so với nhiên liệu Diesel truyền thống thì công suất, mô-men thấp hơn, suất tiêu hao nhiên liệu tăng lên, nồng độ khí thải giảm Nhìn chung các kết quả mô phỏng đặc tính động cơ phù hợp với đặc tính động cơ mà nhà sản xuất cung cấp Cụ thể giá trị trung bình công suất các mẫu B5, B10, B30 đều thấp hơn so với mẫu Diesel tương ứng là 4,45%; 9,46%; 16,55% Còn giá trị mô-men động cơ các mẫu B5, B10, B30 giảm so với mẫu Diesel lần lượt: 2,19%; 3,92%; 6,61% Tuy nhiên, suất tiêu hao nhiên liệu của các mẫu B5, B10 và B30 so với mẫu Diesel lại tăng lên tương ứng là: 3,92%; 8,08%; 15,51% Nồng độ khí thải giảm, đặc biệt lượng NOx tăng theo từng mẫu nhiên liệu B5, B10, B30 so với mẫu Diesel cụ thể 1,59%, 3,39%, 8,47%
Trên cơ sở của kết quả mô phỏng, phân tích và so sánh với một số kết quả thực nghiệm, thì tỷ lệ pha trộn biodiesel – Diesel dưới 10% sử dụng cho động cơ Diesel 3 xy-lanh là hợp lý nhất đối với động cơ nghiên cứu Đồng thời luận văn là cơ sở ban đầu cho việc nghiên cứu phục vụ cho quá trình thiết kế chế tạo động cơ Diesel 3 xy-lanh tại Việt Nam
Trang 6MỤC LỤC
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang CHƯƠNG I: DẪN NHẬP 1
1.1 Lý do chọn và tính cấp thiết của đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Nội dung nghiên cứu và phương pháp tiếp cận 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 6
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 7
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
2.1 Giới thiệu chung 9
2.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước 10
2.3 Tác hại của các chất ô nhiễm trong khí xả động cơ đốt trong 13
2.4 Nhiên liệu Diesel và Biodiesel 15
2.5 Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của Biodiesel lên động cơ 33
CHƯƠNG III: NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH HÓA VÀ MÔ PHỎNG ĐỘNG CƠ DIESEL 3 XY-LANH 46
3.1 Giới thiệu phần mềm mô phỏng nghiên cứu 47
3.2 Lý thuyết cơ bản 50
3.3 Phương pháp xây dựng mô hình và chu trình mô phỏng theo phần mềm 58
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ MÔ PHỎNG, BÀN LUẬN VÀ SO SÁNH THỰC NGHIỆM 66
4.1 Sơ lược quá trình mô phỏng 67
4.2 Trình tự mô phỏng 67
4.3 Kết quả mô phỏng và phân tích đánh giá kết quả mô phỏng 68
4.4 Phân tích và so sánh với một số kết quả thực nghiệm tại Bộ môn ô tô Khoa kỹ thuật giao thông-trường Đại Học Bách Khoa TP.HCM 81
Trang 7CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI 87
5.1 Kết luận 88
5.2 Những công việc kế tiếp cần triển khai 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG
Trang 8CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
• BSFC [g/kWh] = ge Suất tiêu hao nhiên liệu động cơ Diesel
• Smoke emission [Bosch smoke number] Độ mờ khói của khí thải
n
N M
047 , 1
G
LHV G
Nnl
e e
.
=
Trang 9CHƯƠNG I
DẪN NHẬP
Trang 101.1 Lý do chọn và tính cấp thiết của đề tài
1.1.1 Lý do chọn đề tài
Góp phần giải quyết bài toán 3-E Hiện nay, sự phát triển của ngành công
nghiệp thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đã tạo ra các bài toán hết sức khẩn cấp cần phải giải quyết về năng lượng (Energy), ô nhiễm môi trường sinh thái (Ecology), và sự gia tăng về giá nhiên liệu (Economy) Các tổ chức và các nhà khoa học đã và đang giải quyết bài toán 3-E này ở các mức độ khác nhau Tuy nhiên, mối quan hệ 3-E này chưa được giải quyết một cách toàn diện Nguồn năng lượng, nhiên liệu truyền thống có nguồn gốc dầu mỏ hóa thạch đang dần cạn kiệt và giá dầu trên thế giới ngày càng gia tăng Trong khi đó, lĩnh vực công nghiệp và giao thông vận tải có sử dụng nhiên liệu dầu khí này đã và đang tạo ra sự ô nhiễm cho bầu khí quyển và môi trường sống
Giảm ô nhiễm môi trường trong sản xuất thủy sản tại Việt Nam, đặc biệt từ
chất thải cá Basa Mỗi năm ĐBSCL thải ra khoảng hơn 30.000 tấn mỡ cá tra, cá
ba sa Mỡ cá này thường được tận dụng bán cho cơ sở sản xuất mỡ bôi trơn, thức
ăn chăn nuôi nhưng đầu ra, giá cả còn khá bấp bênh nên lượng mỡ dư thừa không
được tận dụng hết, gây ô nhiễm Trong khi đó, theo các nhà khoa học, mỡ cá basa,
cá tra có thể sản xuất thành dầu biodiesel - một dạng dầu diesel sạch, thân thiện
với môi trường Do đó, việc nghiên cứu dự báo cho tương lai nguồn năng lượng
vô tận đồng thời góp phần bảo vệ môi trường sống là vô cùng quan trọng trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nước ta
Nhu cầu sản xuất động cơ Diesel 3 xy-lanh phục vụ nông lâm ngư nghiệp trong tương lai của nước ta Động cơ một xy-lanh công suất nhỏ, nếu lắp lên máy
nông nghiệp thì không phù hợp, khi đó động cơ ba xy-lanh sẽ đáp ứng được công suất cần thiết, 20 30 mã lực Với động cơ 3 xy-lanh thì dây chuyền công nghệ chế tạo không thay đổi nhiều, phù hợp với thời điểm hiện nay và chiến lược kinh doanh Điều này làm tăng tính khả thi của đề tài khi áp dụng thực tế
÷
Ứng dụng sự hỗ trợ của máy tính và phần mềm rút ngắn thời gian nghiên cứu
và phát triển động cơ Đồng thời với sự phát triển không ngừng của các phần mềm
Trang 11máy tính, các phương pháp tính trợ giúp, đặc biệt là phương pháp mô hình hóa và
mô phỏng Việc ứng dụng các phương tiện và công nghệ thông tin trong nghiên cứu
sẽ rút ngắn thời gian thiết kế và kiểm tra nhằm giảm chi phí trong quá trình phát triển sản phẩm mới vì không phải chế tạo nhiều vật mẫu thử nghiệm và dự báo trước các sai sót có thể khi triển khai theo phương pháp truyền thống
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài nghiên cứu được đề xuất nhằm góp phần tìm ra
cơ sở cho các ứng dụng các loại nhiên liệu mới, nhiên liệu sinh học trên động cơ đốt trong nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường và giảm chi phí việc sử dụng nhiên liệu cho các phương tiện giao thông trong tương lai Điều đó rất có ý nghĩa trong sự phát triển kinh tế - xã hội và công nghệ của đất nước
1.1.2 Phân tích tích cấp thiết của đề tài
Ứng dụng nhiên liệu mới bảo vệ môi trường Tính cấp bách trong tìm kiếm
nguồn nhiên liệu mới như biogas, biodiesel, CNG, nhằm thay thế nhiên liệu truyền thống có nguồn gốc hóa thạch góp phần cắt giảm ô nhiễm không khí từ động cơ đốt trong và ô tô Việc nghiên cứu ứng dụng nhiên liệu sinh học (biodiesel) trên động
cơ Diesel góp phần tận dụng các nguồn nhiên liệu tái tạo và giảm đáng kể mức độ ô nhiễm môi trường so với các loại nhiên liệu truyền thống Đây là xu hướng ứng dụng nhiên liệu xanh và sạch nhằm góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, dịch
vụ nông thôn, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và chủ động về nguồn nhiên liệu
Nghiên cứu cơ bản cho việc phát triển loại động cơ nhiều xy-lanh tại Việt Nam
Đề tài này là tiền đề để các nhà máy sản xuất động cơ có thể ứng dụng để chế tạo động cơ nhiều xy-lanh, trong đó có động cơ 3 xy-lanh sử dụng nhiên liệu sinh học lần đầu tiên ở Việt Nam Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá bước đầu chuẩn bị các điều kiện cần thiết để có thể sản xuất các loại động cơ nhiều xy-lanh của Việt Nam phục vụ nông nghiệp, nông thôn, và giao thông vận tải
Rút ngắn quá trình nghiên cứu và phát triển động cơ nhiều xy-lanh tại Việt Nam Hiện nay, các công ty sản xuất động cơ tại Việt Nam (như Công ty SVEAM,
Công ty chế tạo động cơ Diesel Sông Công – DISOCO ) chỉ có thể sản xuất loại
Trang 12động cơ 1 xy-lanh công suất nhỏ và phạm vi ứng dụng hẹp (như việc ứng dụng kéo máy bơm nước, máy phát điện cỡ nhỏ, tàu thuyền công suất nhỏ, ) Các nghiên cứu ứng dụng nhiên liệu sinh học cho động cơ nhiều xy-lanh vẫn chưa được triển khai Bên cạnh đó nhu cầu về loại động cơ công suất lớn nhiều xy-lanh đang trở nên vấn
đề cần thiết trong quá trình phục vụ nông nghiệp và vận tải nông thôn
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Thiết lập mô phỏng một số đặc tính động cơ Diesel 3 xy-lanh nhằm tìm ra ảnh hưởng của các thông số kỹ thuật lên đặc tính động cơ nghiên cứu góp phần hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu và phát triển động cơ nhiều xy-lanh tại Việt Nam
Ngoài ra, đề tài đề xuất việc thực hiện ứng dụng nhiên liệu sinh học (Biodiesel) góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm chi phí sử dụng nhiên liệu và chứng minh tính khả thi trong việc thay thế một phần nhiên liệu Diesel trên động cơ Diesel nông nghiệp trong tương lai tại Việt Nam
(3) Nghiên cứu, đánh giá đặc tính và so sánh với kết quả thực nghiệm của động
cơ Diesel 3 xy-lanh nhằm tìm ra hướng đề xuất thông số động cơ Diesel 3 xy-lanh có công suất phù hợp có thể sử dụng loại nhiên liệu sinh học Biodiesel
(4) Đề xuất các hướng cải tiến phù hợp và tỷ lệ pha trộn biodiesel hợp lý cho động cơ nghiên cứu nhằm nâng cao công suất động cơ, giảm ô nhiễm môi trường và làm cơ sở để ứng dụng nguồn nhiên liệu mới sạch và sạch hơn cho
Trang 131.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Động cơ Diesel 3 xy-lanh Kubota từ 20 đến 30 Mã lực
Sử dụng nhiên liệu Diesel và nhiên liệu Biodiesel từ mỡ cá Basa pha vào theo các tỷ lệ khác nhau để mô phỏng các quá trình chính động cơ Diesel
3 xy-lanh Kubota
Nghiên cứu sử dụng phần mềm mô phỏng chuyên sâu Ricardo WAVE,
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của luận văn tốt nghiệp này, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu:
Nghiên cứu mô phỏng đặc tính làm việc và đặc tính phát thải của động cơ Diesel 3 xy-lanh dựa trên phần mềm chuyên ngành theo hướng sử dụng nhiên liệu sinh học
Đánh giá, đề xuất các hướng cải tiến phù hợp từng loại hỗn hợp nhiên liệu cho loại động cơ Diesel trên
Đề tài chỉ tập trung đánh giá động cơ qua các chỉ tiêu về công suất,
mô-men, suất tiêu hao nhiên liệu, khói thải của động cơ Diesel sử dụng nhiên liệu Diesel và các mẫu nhiên liệu Biodiesel pha trộn
1.4 Nội dung nghiên cứu và phương pháp tiếp cận
1.4.1 Nội dung nghiên cứu
Luận văn được thực hiện với các nội dung chính như sau:
1) Nghiên cứu cơ sở lý thuyết mô hình hóa- mô phỏng của động cơ đốt trong
2) Nghiên cứu mô phỏng đặc tính động cơ Diesel 3 xy-lanh Kubota
3) Mô phỏng đặc tính của động cơ Diesel 3 xy-lanh theo hướng sử dụng nhiên liệu sinh học bằng phần mềm mô phỏng chuyên dùng sử dụng Ricardo Wave
4) Phân tích và đánh giá kết quả nghiên cứu Đề xuất tỷ lệ pha trộn biodiesel – Diesel hợp lý cho động cơ 3 xy-lanh
Trang 145) So sánh đánh giá với một số kết quả thực nghiệm về đặc tính làm việc của động cơ Diesel 3 xy-lanh
1.4.2 Phương pháp tiếp cận
(1) Phương pháp tiếp cận bằng lý thuyết: Dựa trên lý thuyết vận hành động cơ
đốt trong truyền thống và đặc tính của từng loại nhiên liệu sinh học, tham khảo thêm các tài liệu về thiết kế và mô phỏng động cơ Diesel của các hãng nước ngoài cũng như về nhiên liệu Biodiesel trên Internet, sách báo, luận văn trước đây
(2) Phương pháp tiếp cận bằng mô phỏng: Nghiên cứu phần mềm mô phỏng
chuyên sâu xác định các thông số đặc tính và động lực học của động cơ mẫu
sử dụng các loại nhiên liệu sinh học So sánh, đánh giá, đề xuất các hướng thiết kế và chế tạo loại động cơ nghiên cứu phù hợp
(3) Dựa trên các phần mềm mô phỏng chuyên dùng như: Ricardo Wave, AVL Boost,
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp bao gồm:
– Nghiên cứu lý thuyết: sử dụng các lý thuyết động cơ hiện đại vào nghiên cứu,
sử dụng các phương trình truyền nhiệt, nhiệt động học và cơ lưu chất trong quá trình hòa trộn và cháy
– Nghiên cứu mô phỏng: phân tích, đánh giá, so sánh dùng sự hỗ trợ của phần
mềm mô phỏng máy tính
– Nghiên cứu các thông số đặc tính trên động cơ mẫu có sử dụng các loại nhiên liệu sinh học
Trang 151.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
– Việc nghiên cứu có thể ứng dụng nhiên liệu sinh học trên động cơ Diesel nông nghiệp nhiều xy-lanh có khả năng ứng dụng tại Việt Nam
– Kết hợp giữa nhiên liệu sinh học Biodiesel và nhiên liệu Diesel trên động
cơ nghiên cứu nhiều xy-lanh dựa trên nguồn nguyên liệu thô sẵn có nhằm chủ động nguồn nhiên liệu, năng lượng trong tương lai và phục vụ các mục đích nông nghiệp tại nông thôn Việt Nam
– Định hướng nghiên cứu ứng dụng động cơ Diesel sử dụng nhiên liệu sinh học trên các xe ôtô du lịch và ôtô tải góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng từ nước ngoài và đảm bảo an ninh năng lượng
Trang 16CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trang 172.1 Giới thiệu chung
Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, số lượng xe tham gia lưu thông trên đường ngày một tăng lên Vấn đề ô nhiễm nảy sinh nghiêm trọng ở các thành phố lớn Theo dự báo của thế giới, nguồn nhiên liệu truyền thống sẽ cạn kiệt vào những năm 2050- 2060 [12] Khi xã hội ngày càng phát triển, thì động cơ đốt trong
có vai trò hết sức quan trọng trong mọi lĩnh vực như: công nghiệp, nông nghiệp Làm sao có thể kiểm soát được ô nhiễm, bảo vệ sức khỏe của cộng đồng? Một chiến lược tổng thể được đặt ra là: sử dụng xe sạch, sử dụng nhiên liệu sạch và qui hoạch chiến lược giao thông, sử dụng đất hợp lý
Những chiếc xe hiện nay đã sạch hơn rất nhiều Các công nghệ được ứng dụng trên xe đã giảm đi một lượng khí xả độc hại Quá trình cháy trong động cơ được cải thiện, sử dụng công nghệ điều khiển phun xăng, đánh lửa bằng máy tính, bộ xúc tác được gắn trên ống xả Hiện nay, ở các thành phố lớn đã có những qui hoạch tổng thể về giao thông nhằm giảm lượng xe tập trung vào thành phố Nhiều tiêu chuẩn về nhiên liệu sạch được đặt ra buộc các nhà sản xuất và nhập khẩu phải tuân theo Tuy nhiên, các giải pháp đó chỉ đáp ứng một phần trong việc kiểm soát khí thải và cần nhiều nỗ lực hơn nữa từ phía các nhà nghiên cứu, sản xuất và quản lý
Gần đây, những nghiên cứu xung quanh vấn đề sử dụng khí dầu mỏ hóa lỏng, Khí thiên nhiên, ứng dụng năng lượng mặt trời, sản xuất ô tô chạy bằng năng lượng điện, fuelcell và nhiên liệu sinh học (Biodiesel)… cho các phương tiện giao thông
đã có những kết quả khả quan Sử dụng nhiên liệu sinh học Biodiesel trên xe chạy Diesel, có thể giảm ô nhiễm khói thải mà vẫn duy trì được công suất của động cơ Việc ứng dụng nhiên liệu biodiesel trên xe chạy dầu Diesel cũng gặp những khó khăn riêng do kết cấu động cơ và bản chất quá trình cháy Nghiên cứu, mô phỏng và lắp đặt thành công hệ thống cung cấp nhiên liệu Biodiesel cho động cơ Diesel 3xy-
lanh có ý nghĩa lớn trong việc tiết kiệm nhiên liệu, giảm ô nhiễm khói thải từ xe Diesel và chi phí thấp
Nguyên liệu để điều chế nhiên liệu sinh học có từ nhiều nguồn gốc khác nhau như: dầu thực vật (dầu dừa, dầu cọ, ) hay mỡ động vật Ngoài yếu tố thân thiện với
Trang 18môi trường, biodiesel còn là nguồn tài nguyên có thể tái tạo được và còn góp phần
thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp và kinh tế phát triển
2.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Ngày nay, trong xã hội hầu hết các nguồn năng lượng được cung cấp từ nhiên
liệu hóa thạch Xã hội càng phát triển nguồn nhiên liệu tiêu thụ càng nhiều kéo theo
các khí thải cacbon dioxide (CO2)càng tăng Trong xã hội phát triển ô tô đóng vai
trò chính trong sự phát triển công nghiệp và kinh tế cũng như thõa mãn các nhu cầu
của cuộc sống Vì vậy ô tô là nguồn gây ô nhiễm lớn đến môi trường
Ô tô sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch ngoài việc thải các chất độc hại như
NOx, CO, HC và PM còn có lượng khí thải khá lớn là CO2 không thể khống chế
được (vì đây là sản phẩm tất yếu của quá trình oxi hóa chất hữu cơ) Mà CO2 là chất
gây ra hiệu ứng nhà kính là nguyên nhân làm tăng dần nhiệt độ trái đất
Theo tốc độ phát triển ô tô hiện nay cùng với sự khan hiếm về nguồn năng
lượng hoá thạch sử dụng, một vấn đề cấp bách không kém đang đặt ra là tình trạng
ô nhiễm môi trường do ô tô gây ra Để khắc phục điều này hàng loạt giải pháp đã
được thực hiện như: ứng dụng kỹ thuật đốt nghèo trong động cơ, tìm các nguồn
năng lượng mới, nguồn năng lượng sạch cho ô tô thay thế nguồn năng lượng hóa
thạch
Theo dự đoán, nếu với đà tiêu thụ này thì nguồn năng lượng chúng ta sẽ bị cạn
kiệt vào nửa sau thế kỷ 21 Vì vậy, chúng ta cần cải tiến hiệu suất của động cơ cũng
như tìm ra các nguồn năng lượng mới để thay thế chúng Việc kết hợp các loại
nhiên liệu thay thế và nhiên liệu truyền thống ứng dụng trên động cơ đốt trong đã và
đang được nhiều nhà khoa học nghiên cứu Hiện nay, có khoảng hơn 50 nước ở
khắp các châu lục khai thác và sử dụng nhiên liệu sinh học (Biofuel) ở các mức độ
khác nhau
J S Lee (Hàn Quốc) [21] đã thử nghiệm loại nhiên liệu Diesel sinh học
(biodiesel BD5 và BD20) trên các phương tiện xe thương mại sử dụng Diesel Các
Trang 19nhà nghiên cứu này đã đánh giá tính khả thi trong việc ứng dụng nhiên liệu sinh học
và mức độ ảnh hưởng của chúng đến tuổi thọ của các phương tiện giao thông công
cộng
K Maniatis (Biofuels & Industry, Cộng đồng Châu Âu) [20] báo cáo các hoạt
động thực nghiệm nhiên liệu sinh học trên các phương tiện giao thông Nghiên cứu
này đề cập đến các chính sách và mục tiêu, định hướng và kế hoạch, cũng như việc
nghiên cứu, phát triển và ứng dụng loại nhiên liệu sinh học trên các phương tiện
công cộng tại Châu Âu
T.C Huynh và đồng nghiệp tại ĐH Sungkyunkwan (Hàn Quốc) đã có những
nghiên cứu chuyên sâu theo hướng ứng dụng loại nhiên liệu thay thế (như
Hydrogen, LPG, CNG, biogas, ) trên động cơ ô tô nhằm giải quyết các vấn đề
nâng cao tính năng động cơ và giảm ô nhiễm môi trường
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Cho đến nay các nghiên cứu về nhiên liệu Biodiesel còn rất ít và hầu như còn
rất mới mẻ tại Việt Nam Tại trường Đại Học Bách Khoa TP.HCM cũng có một số
đề tài nghiên cứu khả năng ứng dụng Biodiesel sản xuất từ mỡ cá basa hoặc từ cây
dầu dừa, từ cây dầu Jatropha… Tại Việt Nam, số xe động cơ diesel đang chiếm hơn
20% - 30% thị trường ôtô mới tại Việt Nam, khoảng gần 40.000 chiếc Năm 2001,
con số này còn ở mức dưới 10% Thông thường, máy dầu được ưa chuộng trong
lĩnh vực chuyên chở Sau Ford Transit, lần lượt xuất hiện Mercedes-Benz Sprinter
và Toyota Hiace mới làm tăng thêm lựa chọn cho khách hàng đối với loại xe chở
khách 16 chỗ trang bị động cơ dầu Nhưng với các xe 7 chỗ chở xuống, sự hiện diện
của loại động cơ này còn ở mức rất khiêm tốn
Gần như độc chiếm thị trường xe pickup trong nước, với sự cạnh tranh không
đáng kể từ Isuzu D-Max Ở dòng xe đa dụng hiện cũng chỉ có chiếc Isuzu
Hi-Lander và một phiên bản Everest là trang bị động cơ diesel Có thể đây vẫn sẽ là
mảnh đất tiềm năng nhất đối với xe máy dầu ở Việt Nam Theo Ford, xe máy dầu
chiếm tới 75% số Everest hãng sản xuất
Trang 20Mặt khác đối với nước ta, việc nghiên cứu thiết kế và chế tạo động cơ nhiều
xy-lanh đã được thực hiện Ví dụ, Công ty SVEAM, Công ty chế tạo động cơ Diesel
Sông Công (DISOCO) đã nghiên cứu chế tạo động cơ Diesel lên đến 60 mã lực,
nhưng vì nhiều lý do đã không thành công Ngoài ra, việc nghiên cứu, sản xuất và
sử dụng nhiên liệu sinh học dùng trên động cơ đốt trong vẫn còn là vấn đề khá mới
mẽ Đã có một số cơ quan thuộc các ngành giao thông vận tải, công nghiệp, năng
lượng nghiên cứu về nhiên liệu sinh học như Công ty Mía đường Lam Sơn (Thanh
Hoá), Sài Gòn Petro, Công ty Rượu Bình Tây, Công ty Chí Hùng cũng đã có dự án
sản xuất ethanol làm nhiên liệu Gần đây, một số công ty tại An Giang, Cần Thơ,
Long An, công ty TNHH Minh Tú đã đầu tư xưởng sản xuất Diesel sinh học từ mỡ
cá basa với tổng công suất khoảng 60.000 tấn /năm, nhưng do chưa có tiêu chuẩn
chất lượng cho sản phẩm, nên chưa thương mại hóa được Một số nghiên cứu đã
được thực hiện việc ứng dụng nhiên liệu sinh học trên động cơ đốt trong gần đây
như sau:
Năm 2004-2005, Bộ môn Ô tô – Máy động lực (trường ĐH Bách khoa TP HCM) và công ty Vikyno đã phối hợp thực hiện đề tài chuyển giao công nghệ
nghiên cứu thiết kế động cơ 1 xy-lanh làm mát bằng gió cho nông nghiệp
Năm 2005-2008, công ty TNHH MTV Động cơ và Máy nông nghiệp Miền nam
đã liên tục thực hiện và đã nghiệm thu hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
“Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo động cơ Diesel có công suất 22.5 HP có các chỉ tiêu
kinh tế kỹ thuật tiên tiến và kiểu dáng mới phục vụ Nông, Lâm, Ngư nghiệp” và
“Nghiên cứu, thiết kế, và chế tạo động cơ Diesel có tính năng kỹ thuật tiên tiến và
kiểu dáng hiện đại phục vụ Nông, Lâm, Ngư nghiệp”
Th.s Nguyễn Vương Chí, Khoa Kỹ thuật Giao thông(Đại Học Bách Khoa, TP.HCM) [14], Với phần mềm chuyên dụng BOOST, bài báo trình bày mô phỏng
chu trình công tác của động cơ diesel công suất 10HP và số vòng quay n=3600vòng/phút của hãng Vikyno Kết quả mô phỏng khi sử dụng nhiên liệu
diesel và biodiesel-dầu dừa sẽ cho biết áp suất, nhiệt, công có ích của chu trình làm
Trang 21việc của từng lọai nhiên liệu Trên cơ sở đó, có thể so sánh đặc tính ngòai của động
cơ khi sử dụng hai lọai nhiên liệu này
T.S Nguyễn Hữu Hường [12], các nghiên cứu ứng dụng biodiesel từ mỡ cá basa
trên động cơ đốt trong được thực hiện tại Đại học Bách khoa Tp.HCM, bài báo cho
thấy kết quả nghiên cứu thử nghiệm biodiesel từ mỡ cá pha với dầu Diesel theo các
tỷ lệ khác nhau kết quả công suất, mô-men, suất tiêu hao nhiên liệu của động cơ khi
sử dụng mẫu B5 gần với kết quả động cơ khi sử dụng nhiên liệu Diesel nhất
Các nghiên cứu ứng dụng nhiên liệu sinh học cho động cơ nhiều xy-lanh đã
được triển khai nhưng đối với động cơ Diesel 3 xy-lanh phun gián tiếp ứng dụng
nhiên liệu sinh học thì chưa được nghiên cứu
2.3 Tác hại của các chất ô nhiễm trong khí xả động cơ đốt trong
Phương tiện giao thông là một vấn đề tồn tại song song của hai mặt (tích cực
và tiêu cực) Nó giúp cho sự phát triển nhanh chóng về kinh tế và các mặt khác của
xã hội Bên cạnh đó hoạt động của các phương tiện giao thông gây ảnh hưởng đến
sức khoẻ và môi trường một cách nghiêm trọng Sau đây là một số tác hại cơ bản
của khí thải phương tiện giao thông tới sức khoẻ và môi trường
2.3.1 Tác hại sức khỏe con người
Ô xit cácbon (CO): là chất khí không màu, không thấy được, được tạo ra khi
nhiên liệu chứa cácbon cháy không hết – đe doạ nghiêm trọng đến sức khoẻ con
người Đặc biệt nguy hại với thai nhi và người mắc bệnh tim Ở nồng độ thấp hơn,
CO cũng có thể gây nguy hiểm lâu dài đối với con người [2]
Ôxit nitơ (NO): là một dạng hợp chất, ôxit nitơ được người ta quan tâm đến
nhiều do tác hại của nó tới môi trường, sức khoẻ con người và cộng đồng Điôxit nitơ
(NO2) gắn liền với việc gia tăng ô nhiễm đường hô hấp [10]
không hoàn toàn khi hỗn hợp giàu, hoặc do hiện tượng cháy không bình thường
Chúng gây tác hại đến sức khỏe con người chủ yếu là do các hydrocarbure thơm
Trang 22SO2: Oxit lưu huỳnh là một chất háu nước, vì vậy nó rất dể hòa tan vào nước
mũi, bị oxy hóa thành H2SO4 và muối amonium rồi đi theo đường hô hấp vào sâu
trong phổi
Bồ hóng: Bồ hóng là chất ô nhiễm đặt biệt quan trọng trong khí xả động cơ
diesel Nó tồn tại dưới dạng những hạt rắn có đường kính trung bình khoảng 0,3m
nên rất dễ xâm nhập sâu vào phổi
2.3.2 Tác hại môi trường
a Ảnh hưởng nhiệt độ khí quyển
carbonic CO2 vì nó là thành phần chính trong sản phẩm cháy của nhiên liệu có chứa
thành phần carbon Việc tăng nhiệt độ bầu khí quyển do sự có mặt của các chất khí
gây hiệu ứng nhà kính
Những chất khí khác nhau có dải hấp thụ bức xạ khác nhau Do đó, thành
phần các chất khí có mặt trong khí quyển có ảnh hưởng đến sự trao đổi nhiệt giữa mặt
trời, quả đất và không gian CO2 là chất khí có dải hấp thụ bức xạ cực đại ứng với
bước sóng 15m, vì vậy được xem như trong suốt đối với bức xạ mặt trời nhưng là
chất hấp thụ quan trọng đối với tia bức xạ hồng ngoại từ mặt đất Một phần nhiệt
lượng do lớp khí CO2 giữ lại sẽ bức xạ ngược lại về trái đất, làm nóng thêm bầu khí
quyển theo hiệu ứng nhà kính
b Ảnh hưởng đến sinh thái
Việc tăng của NOx nguy cơ làm gia tăng sự huỷ hoại tầng ozone ở thượng
tầng khí quyển, lớp khí cần thiết để lọc tia cực tím phát xạ từ mặt trời Tia cực tím
gây ung thư da và gây đột biến sinh học
Mặt khác, các chất khí có tính axit như SO2, NO2, bị oxy hoá thành axit sulfuric, axit nitric hòa tan trong mưa, trong tuyết, trong sương mù làm hủy hoại
thảm thực vật trên mặt đất và gây ăn mòn các công trình kim loại
Trang 232.4 Nhiên liệu Diesel và Biodiesel
2.4.1 Nhiên liệu Diesel
2.4.1.1 Định nghĩa
Nhiên liệu Diesel là sản phẩm tinh chế từ dầu mỏ có thành phần chưng cất nằm
giữa dầu hoả (kesosene) và dầu bôi trơn (lubricating oil), có nhiệt độ bốc hơi từ
1750C đến 3700C (đối với nhiên liệu Diesel nặng: 3150C ÷ 425C còn gọi là Mazut –
Fuel oil), hydrocacbon từ C14 đến C20
2.4.1.2 Tính chất vật lý của nhiên liệu diesel
• Nhiên liệu phải có độ nhớt phù hợp (2-6 cSt), có tính chống đông đặc và lưu
động tốt
• Có thành phần chưng cất ổn định đặc trưng bởi khoảng nhiệt độ bốc hơi của
nhiên liệu Diesel là 1750C đến 3700C
• Có mức độ phát ô nhiễm thấp (đánh giá bằng độ khói đen và nồng độ khí độc
của sản vật cháy gồm HC và NOx) Nhiên liệu Diesel có tính bốc hơi tốt,
cháy hoàn toàn, khí độc và khói giảm
• Không ăn mòn gỉ, mài mòn và kết muội than trước và sau khi cháy Yêu cầu
này phụ thuộc vào hàm lượng lưu huỳnh (S), tro và các tạp chất hữu cơ, vô
cơ, nước,…trong nhiên liệu Diesel
• Tính tự cháy tốt được đánh giá bằng chỉ số Cetane
Động cơ diesel làm việc ổn định, nhiên liệu diesel đảm bảo các tính chất như :
- Tính tự cháy phù hợp
- Độ bay hơi thích hợp
- Tính lưu chuyển tốt trong mọi điều kiện thời tiết
- Không gây ăn mòn và bào mòn máy
- Đảm bảo an toàn chống cháy nổ
Trang 242.4.1.3 Chỉ tiêu chất lượng nhiên liệu Diesel
Đặc điểm tự bốc cháy của động cơ diesel ảnh hưởng lớn đến khả năng
làm việc của động cơ, do đó đòi hỏi nhiên liệu diesel có những tính chất thích
hợp [4]
– Tính cháy của nhiên liệu diesel biểu thị qua khả năng tự cháy bằng trị số
cêtan (TSXT) Nhà sản xuất phải đảm bảo các loại nhiên liệu có TSXT thích
hợp cho từng loại động cơ
– Tính bay hơi của nhiên liệu ảnh hưởng đến sự tạo thành hỗn hợp nhiên liệu
và không khí Để đánh giá độ bay hơi của nhiên liệu người ta xác định thành
phần điểm sôi, tỷ trọng và màu sắc nhiên liệu Thành phần điểm sôi phù hợp
đảm bảo nhiên liệu sẽ được cháy hoàn toàn trong động cơ, không xả khói đen
và bôi trơn hệ thống tiếp liệu
– Tính lưu chuyển của nhiên liệu thông qua độ nhớt động học và nhiệt độ đông
đặc Đối với nước ta khí hậu nhiệt đới chỉ dùng loại nhiên liệu dùng cho mùa
hè có nhiệt độ đông đặc không vượt quá +5oC hoặc +9oC
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn nhiên liệu Diesel ở Việt Nam (TCVN 5689-2005) [4]
Trang 25– Tính ăn mòn của nhiên liệu được đánh giá bằng các chỉ tiêu kiểm nghiệm ăn
mòn mảnh đồng, hàm lượng lưu huỳnh tổng số và độ axit của nhiên liệu
– Tính năng an toàn chống cháy nổ được đánh giá thông qua nhiệt độ mà tại đó
hơi nhiên liệu được đốt nóng tạo hỗn hợp với không khí, bén cháy khi có tia
lửa ở gần
– Số cetane thích hợp nằm trong khoảng 45 đến 60 vì:
Số cetane < 40 khó khởi động (ngay cả mùa hè), rốc máy do thời gian ủ
cháy dài, cùng lúc số lượng nhiên liệu tham gia cháy lớn nên áp suất Pz
cao, áp suất tăng vọt
Số cetane > 60 nhiên liệu rất dễ cháy, tuy nhiên chất lượng quá trình
cháy không cải thiện tốt hơn, mặt khác còn ảnh hưởng tới chất lượng
phun tơi nhiên liệu và độ bền của kim (béc) phun nhiên liệu
Trang 262.4.1.4 Các chỉ tiêu chất lượng nhiên liệu ảnh hưởng đến hoạt động của
động cơ Diesel
Độ nhớt: Độ nhớt của nhiên liệu ảnh hưởng đáng kể đến khả năng lưu chuyển,
phun tơi và bốc hơi của nhiên liệu, kết quả ảnh hưởng tới việc hình thành hỗn hợp
và cháy trong động cơ Diesel Có các loại độ nhớt:
- Độ nhớt động lực học
Nhiên liệu Diesel phải có độ nhớt thích hợp Đối với động cơ Diesel cao tốc với
số vòng quay ≥ 1000 v/phút, độ nhớt động học ở nhiệt độ 400C trong khoảng 2,0 ÷
6,0 cSt trong đó giới hạn cao dùng ở vùng có nhiệt độ môi trường cao (vùng nhiệt
đới) gọi là nhiên liệu Diesel mùa hè, và giới hạn thấp sử dụng vào mùa đông gọi là
nhiên liệu Diesel mùa đông Độ nhớt động học nhiên liệu Diesel(2,0 ÷ 8,0) cSt
• Điểm đông đặc ( pour point) : Nhiệt độ đông đặc là nhiệt độ mà tại đó nhiên
liệu mất tính linh động và trở nên đông đặc lại Nhiệt độ đông đặc của nhiên liệu
ảnh hưởng đến việc phun tơi nhiên liệu
• Nhiệt độ vẩn đục (Cloud Point):Là nhiệt độ mà tại đó nhiên liệu bắt đầu tạo
thành các tinh thể rắn, các tinh thể Parafin hoặc Benzen nhỏ li ti xuất hiện khiến
năng lượng từ trong trở thành mờ đục
• Nhiệt độ bắt lửa: nhiệt độ thấp nhất để hoà khí bén lửa, nhiệt độ chớp cháy
và bắt lửa của nhiên liệu lỏng quy định nhiệt độ thấp nhất cho phép bảo quản và sử
dụng nó mà không bị nguy hiểm do hỏa hoạn Đặc biệt đối với nhiên liệu Diesel
dùng trên tàu thuỷ quy định nhiệt độ bén lửa ≥ 65oC
• Nhiệt độ chớp cháy: nhiệt độ nhỏ nhất mà tại đó Diesel có khả năng cháy
khi tiếp xúc với ngọn lửa sau đó tắt đi Ngọn lửa vừa xuất hiện có tiếng nổ nhẹ,
nhưng sau đó lại tắt đi ngay, vì ở nhiệt độ đó tốc độ bay hơi của nhiên liệu Diesel
nhỏ hơn tốc độ tiêu tốn nhiên liệu vào phản ứng cháy với không khí Hiện nay tuỳ
theo từng loại nhiên liệu Diesel mà nhiệt độ chớp cháy quy định không thấp hơn 50
÷ 60oC
Trang 27Bảng 2.2: Tiêu chuẩn nhiên liệu Diesel theo mùa ở các nước trên thế giới [10]
Các loại nhiên liệu Diesel Các thông số tiêu chuẩn chất
lượng của nhiên liệu Diesel Bắc cực Mùa đông Mùa hè Đặc biệt
Độ axit (mg KOH/100ml nhiên
Hàm lượng axit và kiềm hoà tan,
2.4.2 Nhiên liệu Biodiesel
2.4.2.1 Nguồn gốc – khái niệm
Biodiesel là những mono ankyl ester, nó là sản phẩm của quá trình ester hóa
của các axít hữu cơ có nhiều trong dầu mỡ động thực vật Nó là nhiên liệu có thể
thay thế cho dầu diesel truyền thống, sử dụng trong động cơ đốt trong Dưới tác
Trang 28dụng của chất xúc tác, dầu thực vật + methanol hoặc ethanol cho sản phẩm ester +
glycerine + axit béo (ester hóa dầu thực vật bằng ethanol khó hơn bằng methanol)
Biodiesel còn được gọi Diesel sinh học là một loại nhiên liệu có tính chất
giống với dầu Diesel nhưng không phải được sản xuất từ dầu mỏ mà từ dầu thực vật
hay mỡ động vật Biodiesel hay nhiên liệu sinh học nói chung là một loại năng
lượng sạch
Ví dụ: 1.05 tấn dầu cải + 0.11 tấn methanol cho ra 1 tấn ester + 0.1 tấn
glycerine + 0.025 tấn axit béo
Thông thường biodiesel được sử dụng ở dạng nguyên chất hay dạng hỗn hợp
với dầu diesel Ví dụ như B20 là hỗn hợp gồm 20% biodiesel và 80% diesel có
nguồn gốc dầu mỏ
Biodiesel còn được gọi Diesel sinh học là một loại nhiên liệu có tính chất giống
với dầu Diesel nhưng không phải được sản xuất từ dầu mỏ mà từ dầu thực vật hay
mỡ động vật Biodiesel hay nhiên liệu sinh học nói chung là một loại năng lượng
sạch Mặt khác, chúng không độc và dễ phân giải trong tự nhiên
Tình hình sử dụng Biodiesel trên thế giới
Châu Âu có tốc độ phát triển biodiesel nhanh nhất với quy trình sản xuất từ hột
cải dầu Brassica napus Tận dụng ưu thế nhiệt đới, vùng Đông Nam Á nhận được
nhiều nguồn đầu tư vào nhiên liệu sinh học; trong đó 3 nước Thái Lan, Malaixia và
Inđônêxia sử dụng các loại dầu cọ, Philippin cũng như Trung Quốc và Ấn Độ chọn
loại dầu của cây đậu cọc rào (còn gọi cây dầu mè) Jatropha curcas Ngược lại, các
tập đoàn dầu khí không đầu tư sản xuất biodiesel từ cây trồng trên cạn mà nhắm vào
các loài rong tảo, đặc biệt vào nhóm tảo phù du - phytoplankton - vốn có cấu trúc tế
bào đơn giản, tốc độ sinh sản cực kỳ nhanh và hàm lượng chất béo lại rất lớn
Theo xu hướng thế giới, người ta sẽ trộn Biodiesel vào thành phần Diesel từ 5%
đến 30% Nhiều bang của Mỹ đã có luật quy định pha trộn tối thiểu ở mức 2%, tại
25 nước châu Âu là 5,75% trong năm 2010 và ở Ấn Độ dự kiến thay thế 50% nhiên
liệu dầu mỏ vào năm 2030 [29]
Trang 29- Tại Áo, một phần của chỉ thị của EU đã được thực hiện sớm hơn và từ ngày 1
tháng 11 năm 2005 chỉ còn có dầu Diesel với 5% có nguồn gốc sinh học (B5) là
được phép bán [29]
- Tại Australia, đã sử dụng B20 và B50 vào tháng 2 năm 2005 [29]
- Tại Mỹ năm 2005, đã sử dụng B20
- Tại Thái Lan trong năm 2006, sử dụng B5 tại Chiangmai và Bangkok [29]
- Tại Việt Nam, Petro Việt Nam đã có kế hoạch đưa 10% Bio-Diesel (B10) vào
thành phần Diesel để lưu thông trên thị trường [29]
Nguồn tài nguyên và xu hướng sản xuất Biodiesel trên thế giới
Trên thực tế, người ta đã và đang nghiên cứu gần như tất cả những nguồn dầu,
mỡ có thể sử dụng để sản xuất Biodiesel Việc lựa chọn loại dầu thực vật hoặc mỡ
động vật nào phụ thuộc vào nguồn tài nguyên sẵn có và điều kiện khí hậu cụ thể của
từng vùng
Do chi phí cho việc trồng cây nhiên liệu lấy dầu rất thấp, hơn nữa chúng lại rất
sẵn trong tự nhiên nên trong tương lai Diesel sinh học có thể được sản xuất ra với
chi phí thấp hơn nhiều so với Diesel lấy từ dầu mỏ Tuy nhiên, bài toán nguyên liệu
đặt ra là: “Diesel sinh học cũng có thể làm thay đổi nhu cầu đối với đất nông nghiệp”, Diesel sinh học có thể giải quyết được bài toán hiệu ứng nhà kính và sự
cạn kiệt của nhiên liệu hóa thạch, nhưng dẫu sao nó vẫn cần rất nhiều đất Vì lý do
này mà ở nhiều quốc gia đã sử dụng nguồn nguyên liệu là mỡ các loại động vật ít có
giá trị về mặt kinh tế để sản xuất Biodiesel
Tại An Giang, đề tài nghiên cứu khoa học của ông Hồ Xuân Thiên cùng một số
cán bộ kỹ thuật thuộc Công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu Thủy sản An Giang
(AGIFISH) nghiên cứu công nghệ sản xuất Bio-Diesel từ mỡ cá tra, cá ba sa hiện
đang được áp dụng ở các công ty trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long như:
công ty AGIFISH, công ty MINH TÚ, và các cở sở sản xuất nhỏ lẻ khác…Nước ta
đặt mục tiêu đến năm 2020, 2025 phải sản xuất được 4,5 đến 5 triệu tấn chiếm 20%
nhu cầu xăng dầu cả nước [10]
Trang 302.4.2.2 Đặc tính của nhiên liệu biodiesel
Bảng 2.3: Tính chất lý hóa cơ bản của một số biodiesel [3], [4]
Nguồn: TCVN 7717 – 07: Vietnam standard on biodiesel B5, B10, B100
ESTER
Khối lượng
riêng
g/cm3
Độ nhớt
ở 200c (cSt)
Điểm đục (0C)
Điểm chớp lửa (0C)
Nhiệt trị (MJ/kg) (kCal/kg)
Tính chất vật lý biodiesel tương tự như diesel nhưng tốt hơn diesel về mặt chất
thải Biodiesel khắc phục được những nhược điểm của dầu thực vật như độ nhớt quá
lớn (cao gấp 6-14 lần diesel), chỉ số Cetan thấp, dễ bị trùng hợp Các loại biodiesel
đều có tỉ lệ % trọng lượng oxy khá lớn, đây là điều mà dầu diesel không có
Biodiesel bắt đầu được sản xuất khoảng giữa năm 1800 [25], trong thời điểm đó
người ta chuyển hóa dầu thực vật để thu Glycerol ứng dụng làm xà phòng và thu
được các phụ phẩm là methyl hoặc ethyl Ester gọi chung là Biodiesel
Trong những năm của thập kỷ 90, Pháp đã triển khai sản xuất Biodiesel từ dầu
hạt cải, và được dùng ở dạng B5 (5% Biodiesel với 95% Diesel) và B30 (30%
Biodiesel trộn với 70% Diesel) [25]
Trang 31So sánh một số tính chất của nhiên liệu Diesel, Biodiesel (Bio) và hỗn hợp
Biodiesel với tỉ lệ khác nhau (B20, B30… được hiểu là hỗn hợp
Diesel-Biodiesel có 20%, 30% Diesel-Biodiesel theo thể tích)
Sau đây là bảng so sánh một số tính chất vật lý của hỗn hợp nhiên liệu ester dầu
cải hòa với diesel ở các tỉ lệ % khác nhau:[10]
Bảng 2.4: Tính chất vật lý của hỗn hợp nhiên liệu ester dầu cải hòa với diesel
2.4.2.3 Ưu, nhược điểm của nhiên liệu Biodisel so với diesel truyền thống
• Về mặt môi trường
- Biodiesel giảm lượng khí CO2 do đó giảm được nhiều hiệu ứng nhà kính
- Khi cháy, biodiesel thải ra một lượng rất ít CO, hydrocacbon chưa cháy hết nên sử
dụng biodesel sẽ làm giảm sự ô nhiễm không khí và không gây ảnh hưởng đến sức
khoẻ con người
- Biodiesel là chất không độc, dễ phân hủy
- Biodiesel không chứa hợp chất lưu huỳnh, giảm mưa acid
- Biodiesel không chứa hợp chất vòng thơm
• Về mặt kỹ thuật
Trang 32- Biodiesel có điểm chớp cháy cao hơn dầu truyền thống Vì vậy, biodiesel
an toàn hơn trong công tác phòng cháy nổ
- Khi sử dụng biodiesel làm nhiên liệu thì không cần cải tiến bất kỳ một bộ
phận nào về hệ thống nhiên liệu của động cơ Công suất, lực kéo, mã lực của xe
biodiesel và hỗn hợp ngang với dầu diesel truyền thống [10]
• Khả năng bôi trơn cao nên giảm mài mòn
Biodiesel có khả năng bôi trơn bên trong rất tốt Khả năng bôi trơn của nhiên
liệu được đặc trưng bởi giá trị HFRR ( high-frequency receiproating rig), nói chung
giá trị HFRR càng thấp thì khả năng bôi trơn của nhiên liệu càng tốt Dầu diesel đã
xử lý luu hùynh có giá trị HFRR ≥ 500 khi không có phụ gia , nhưng giới hạn đặc
trưng của diesel là 450 Vì vậy dầu diesel cần phải có phụ gia để tăng khả năng bôi
trơn Ngược lại giá trị HFRR của biodiesel khoảng 200 Vì vậy, biodiesel còn như là
một phụ gia rất tốt đối với nhiên liệu diesel thông thường Khi thêm vào với tỷ lệ
thích hợp biodiesel, sự mài mòn bơm, kim phun được giảm mạnh
Tuy nhiên, biodiesel cũng còn một số nhược điểm như có điểm đông đặc cao
hơn diesel gây khó khăn cho việc sử dụng ở các nước có nhiệt độ thấp vào mùa
đông
Khi sử dụng nhiên liệu chứa nhiều hơn 5% Biodiesel có thể gây nên những
vấn đề: ăn mòn các chi tiết của động cơ và tạo cặn trong bình nhiên liệu do tính dễ
bị oxi hóa của Biodiesel; làm hư hại nhanh các vòng đệm cao su do sự không tương
thích của Biodiesel với chất liệu làm vòng đệm
Biodiesel rất háo nước nên cần những biện pháp bảo quản đặc biệt để tránh
tiếp xúc với nước Biodiesel không bền rất dễ bị oxi hóa nên gây nhiều khó khăn
trong việc bảo quản
2.4.2.4 Sơ lược đặc điểm mỡ cá basa
Cá basa là loại cá ăn tạp và lớn rất nhanh, sau 60 ngày chiều dài cá có thể đạt
từ 8-10,5 cm Một vụ nuôi 10-12 tháng trọng lượng cá có thể đạt 1,3-1,5 kg/con Cá
basa (tên tiếng Anh: Yellowtail catfish) là loài được nuôi truyền thống trong bè trên
Trang 33sông Mekong ở Việt Nam, Lào, Thái Lan và Campuchia Cá tra (tên tiếng Anh:
Shutchi catfish) trước đây được nuôi nhiều trong ao, đồng bằng Nam bộ Việt Nam
Gần đây, PGS.TS Hoàng Đức Như đã công bố một số công trình nghiên cứu dùng các phương pháp tinh luyện phù hợp để khắc phục các nhược điểm vốn có của
mỡ cá như mùi tanh và chống hôi nhằm biến mỡ cá thành một chất béo có thể sử
dụng rộng rãi trong thực phẩm và đời sống
Hình 2.1: Phế phẩm từ cá basa để chế biến dầu Biodiesel
Trang 342.4.2.5 Công nghệ xử lý mỡ cá basa
Mỡ cá ( Mỡ phần hay mỡ bụng )
Rửa và làm sạch trong nước lạnh ( Cắt lát nhở từ 3 -5mm)
2.4.2.6 Thành phần hóa học của mỡ cá
Axit béo
Thành phần axit béo của mỡ động vật thủy sản khác với mỡ động vật trên cạn
Axit béo của động vật thủy sản thuộc loại mạch thẳng có một gốc carboxyl, chuỗi
cacbon trong chất béo kéo dài từ 12 đến 26 Chất béo động vật thủy sản chủ yếu là
axit béo không no, loại C14 – C16 rất ít, loại C18 – C20 không bão hòa rất nhiều, đặc
biệt là loại C18 không bão hòa [6]
Trang 35Thành phần mỡ của các loại cá khác nhau cũng khác nhau Trong cá nước
ngọt: C16 – C18 tương đối nhiều Điều này có lẽ do ảnh hưởng của động vật phù du ở
vùng nước ngọt gây nên
Trong chất béo động vật thủy sản, đối với mỗi chuỗi của mạch cacbon thường
có vài axit béo tồn tại, có khi một axit béo no và một axit béo không no kết hợp với
nhau Chuỗi cacbon càng dài thì mức độ không no càng cao và các chất hỗn hợp lại
càng phức tạp Thành phần của chúng thường biến đổi theo mùa vụ, thời tiết, giống
loài, đực cái, hoàn cảnh sống
Thành phần axit béo của động vật thủy sản được tóm tắt như sau:
- Axit béo bão hòa: CnH2nO2 hoặc CnH2n+1COOH
- Axit béo không bão hòa:
Thuộc dãy axit oleic: CnH2n-2O2 (có 1 nối đôi)
Thuộc dãy axit linoleic: CnH2n-4O2 (có 2 nối đôi)
Thuộc dãy axit linolenic: CnH2n-6O2 (có 3 nối đôi)
- Axit không bão hòa cao độ: C18- C24
Thuộc dãy: CnH2n-8O2
CnH2n-10O2
CnH2n-12O2
Mùi tanh của dầu cá là do các chất tanh của cá (trimetylamin – TMA) hoặc
phần lớn do các axit béo không no cao phân tử có mùi tanh hôi, ure, amoniac, sản
phẩm oxy hóa, sản phẩm phân hủy trong quá trình bảo quản nguyên liệu và chế biến
gây nên Những loại axit béo không no có trong dầu động vật thủy sản thường ở
dạng kết hợp với glycerin, khi thối rữa hoặc tự phân giải thì nó bị phân ly ra làm
cho chỉ số axit của chất béo tăng cao đồng thời dễ bị oxy hóa làm cho sản phẩm bị
Trang 36 Sterol
Trong thành phần không xà phòng hóa của dầu cá có sterol, vitamin A,
D, sáp… Ngoài ra còn có phosphatid (có trong dầu trứng cá)
Cacbua hydro
Bình thường trong dầu động vật hàm lượng cacbua hydro tương đối ít nhưng trong một số gan cá nhám có nhiểu có thể đến 80% của chất béo
Sắc tố
Trong dầu động vật thủy sản phần lớn là carotenoit tức là astaxin (C4H48O4),
carotene, xanthophulls, fucoxanthin và các chất màu melanoidin, quinonamin tạo
nên Bên cạnh đó màu sắc của dầu cá còn phụ thuộc vào nguồn gốc nguyên liệu,
phương pháp và điều kiện chế biến, phương pháp bảo quản
Mỡ cá Basa [6]:
Bảng 2.5: Kết quả phân tích một số chỉ tiêu hoá học của mỡ cá basa[6]
– Chỉ số iod cho biết về mức độ bão hoà của các axit trong dầu Chỉ số iod cao
tức là dầu có axit béo không no nhiều
– Chỉ số peroxyt biểu thị mức độ oxy hoá của dầu Chỉ số peroxyt của dầu cao
thì dầu càng dễ bị oxy hoá
Trang 37– Chỉ số axit là chỉ tiêu quan trọng về tính chất trạng thái của chất béo Khi bảo
quản mỡ cá không tốt thì chỉ số axit tăng lên nhanh chóng nghĩa là chất
lượng của mỡ cá bị giảm xuống rõ rệt
– Chỉ số xà phòng hoá cho biết số lượng axit béo tự do và kết hợp trong chất
béo nhiều hay ít Chỉ số xà phòng hoá càng cao dầu mỡ càng chứa càng
nhiều axit béo phân tử thấp và ngược lại
Thành phần chủ yếu của mỡ cá là triglycerid của axit béo no và không no với
glycerin Hàm lượng axit béo không bão hoà chứa nhiều nối đôi chiếm 84% vì vậy
mỡ cá có chỉ số iod cao hơn các loại dầu khác nên rất dễ bị oxy hoá và bị ôi
Quá trình oxy hoá sản sinh ra rất nhiều chất thuộc loại aldehyd, ceton, các axit béo
cấp thấp làm cho mỡ cá có mùi khó chịu
2.4.2.7 Thành phần mỡ cá basa ở Việt Nam
Kết quả nghiên của viện nghiên cứu và nuôi trồng thuỷ sản II cho biết [10], [26]:
Kết quả nghiên cứu của PGS.TS Hoàng Đức Như loại cá Basa từ 1-1,5 kg:
Tỷ lệ mỡ cá so với trọng lượng cá: 25%
Tỷ trọng 300C: 0,917 Chỉ số chiết quang ở 400C: 1,46 Chỉ số axit: 0,22 mg koh
Trang 38Chỉ số iod: 78,72 ir/100 Trạng thái: mỡ cá ba sa thô gồm 2 phần:
Phần đặc: 10% ( tạm gọi là mỡ cá basa) Phần lỏng: 90% (tạm gọi là phần dầu cá Basa)
Bảng 2.6: Thành phần mỡ cá basa[10]
Thành phần mỡ cá Basa có axit béo 1 nối đôi 31,5%, nhiều nối đôi 12,72%
và axit béo bão hoà 44,35% gần tương đương với dầu cọ nhập ngoại
Thành phần mỡ cá basa được đo tại Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát
triển Chế Biến Dầu Khí (RDCPP) [10]
Trang 398 Hàm lượng nước %TT ASTM D95 0,15
2.4.2.8 Hướng cải thiện các chỉ tiêu nhiên liệu cho phù hợp với động cơ
Diesel
Xét phương tiện nhiên liệu động cơ thì sự khác nhau cơ bản mỡ cá so với do là
độ nhớt Mỡ cá độ nhớt cao, ảnh hưởng xấu đến hệ thống cấp nhiệt, quá trình phun,
cháy Nên động cơ diesel hoạt động kém hiệu quả khi dùng mỡ cá làm nhiên liệu
Vì các lí do trên nên trong các giải pháp xử lý mỡ cá để tính chất của nó gần với
tính chất D0 là giải pháp làm giảm độ nhớt cần được quan tâm trước tiên, sau đây là
một trong các biện pháp làm giảm độ nhớt:
Trang 402.4.2.9 Quá trình điều chế biodiesel
Hình 2.2: Sơ đồ thu biodiesel từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau
Nhiên liệu biodiesel được làm từ dầu thực vật, mỡ động vật còn mới hay đã
qua sử dụng Nguyên tắc của quá trình: dầu mỡ tác dụng với cồn methanol hoặc
ethanol tạo ra ester Các ester này chính là biodiesel Sản phẩm phụ của quá trình
này là glycerin sử dụng trong ngành dược và mỹ phẩm
Hiện nay biodiesel được sản xuất từ quá trình chuyển hóa ester Dầu thực vật,
mỡ động vật sau khi lọc được thủy phân trong môi trường kiềm để tách axit béo tự
do Sau đó được trộn với cồn (thường là methanol) và chất xúc tác Natri hay Kali
Hidroxit để triglyceride phản ứng tạo ra ester và glycerin Cuối cùng là giai đoạn
tách và làm sạch