TÓM TẮT LUẬN VĂN Luận văn là một nghiên cứu đánh giá hệ thống sản xuất hiện hành và đề xuất việc áp dụng hệ thống ERP vào hoạt động quản lý nguồn lực đối với dòng sản phẩm ghế của công t
Trang 1Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
NGUYỄN VĂN QUỲNH
XÂY DỰNG MÔ HÌNH HOẠCH ĐỊNH NGUỒN LỰC CHO
DÒNG SẢN PHẨM GHẾ CÔNG TY THEODORE ALEXANDER
Chuyên ngành : KỸ THUẬT HỆ THỐNG CÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 06 năm 2007
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học : ThS Nguyễn Văn Chung
Trang 3PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC
Tp HCM, ngày tháng năm 200
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ tên học viên: Nguyễn Văn Quỳnh Phái: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 30-08-1981 Nơi sinh: Bắc Giang
Chuyên ngành: Kỹ Thuật Hệ Thống Công Nghiệp MSHV: 02704600
I- TÊN ĐỀ TÀI:
Xây dựng mô hình hoạch định nguồn lực cho dòng sản phẩm ghế công ty Theodore Alexander
II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ (Ngày bắt đầu thực hiện LV ghi trong Quyết định giao đề tài): 06/2006
IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 18/06/2007
V- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN :
ThS Nguyễn Văn Chung
QL CHUYÊN NGÀNH
Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội đồng chuyên ngành thông qua
Ngày tháng năm
TRƯỞNG PHÒNG ĐT – SĐH TRƯỞNG KHOA QL NGÀNH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn tốt nghiệp là một trong những thành công lớn Em muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các thầy cô trường Đại học Bách Khoa nói chung và các thầy cô thuộc bộ môn Kỹ Thuật Hệ Thống Công Nghiệp nói riêng Suốt thời gian theo học tại đây, em đã được học những kiến thức mới, trang bị thêm những kinh nghiệm quí cho quá trình làm việc Vừa học vừa làm, em được trải nghiệm những gì đã học, được tìm hiểu sâu hơn qua từng môn học với những vấn đề thực tế Các thầy cô đã nhiệt tình hướng dẫn và truyền đạt sự hiểu biết của mình cho chúng em
Em xin được gửi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Văn Chung, người đã hướng dẫn và gợi ý rất nhiều trong thời gian em thực hiện luận văn Ngoài ra, em xin cảm ơn thầy Hồ Thanh Phong và thầy Nguyễn Tuấn Anh Các thầy đã có những định hướng ban đầu cho luận văn này
Góp phần vào việc hoàn thành luận văn còn có sự hướng dẫn của ông Romualdo, trưởng
bộ phận Kỹ thuật Công Nghiệp tại công ty Theodore Alexander và ông Bharat, chuyên viên tư vấn cao cấp tập đoàn BLUECHIP Tất các các ý kiến đóng góp và kinh nghiệp thực tế của hai ông đã giúp luận văn được tốt hơn
Cuối cùng, tôi muốn cảm ơn gia đình và bạn bè, những người đã động viên tôi rất nhiều trong quá trình học tập
Chân thành cảm ơn tất cả !
Nguyển Văn Quỳnh.
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Luận văn là một nghiên cứu đánh giá hệ thống sản xuất hiện hành và đề xuất việc áp dụng hệ thống ERP vào hoạt động quản lý nguồn lực đối với dòng sản phẩm ghế của công ty Theodore Alexander Từ đầu đến cuối, luận văn trình bày các vấn đề trong việc sản xuất sản phẩm ghế, những hạn chế hiện thời tại công ty Theodore Alexander và những thế mạnh khi triển khai hệ thống hoạch định nguồn lực ERP
Trọng tâm luận văn nhằm vào việc xây dựng nền tảng cho hệ thống hoạch định nguồn lực ERP, đó chính là thiết lập BOM và cấu trúc sản phẩm với sự phân tính tại từng trạm gia công Bổ trợ cho trọng tâm đó, các vần đề liên quan như chuẩn hoá qui trình sàn xuất, thiết lập trạm gia công, nghiên cứu thời gian và vật liệu được thực hiện Những kết quả thu được được kiểm định và áp dụng vào tính toán mô tả hệ thống ERP đang được triển khai Các kết quả cho phép áp dụng vào việc quản lý nguồn lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Trang 71 CHƯƠNG I:
GIỚI THIỆU
Trang 81.1 Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hiện nay, sản xuất hàng hóa đang có xu hướng chuyển từ những nước phát triển sang các nước đang phát triển Cạnh tranh đang là vấn đề các công ty phải đối mặt Trước đây, khi có một số ít nhà sản xuất nắm phần lớn thị phần hay thậm chí giữ thế độc quyền trên thị
trường thì nhà sản xuất dùng mô hình “Giá bán = Chi phí + lợi nhuận” (Selling Price = Cost + Profit) để quyết định giá bán của sản phẩm Nhưng ngày càng có nhiều nhà sản xuất tham gia
vào thị trường, cũng có nghĩa việc cạnh tranh ngày càng gay gắt Mô hình cũ được nhìn nhận
dưới một cách nhìn khác và hình thành mô hình “Lợi nhuận = Giá bán – Chi phí” (Profit = Selling Price – Cost), điều này đồng nghĩa với việc chi phí của sản phẩm sẽ ảnh hưởng rất lớn
đến lợi nhuận khi mà giá bán được ấn định bởi nhiều nhà sản xuất Trước thực trạng này, những nhà sản xuất tiên phong áp dụng những kĩ thuật mới tiên tiến đã thành công trong việc phân chia lại thị phần
Những phương pháp quản lý mới, kĩ thuật mới như JIT, TQM, MRP, MRPII, và ERP… đã được ứng dụng thành công mang lại hiệu quả cao trong sản xuất và dịch vụ Trong điều kiện chuyển đổi cơ chế sản xuất, mở rộng họat động sản xuất kinh doanh, bên cạnh mặt hàng truyền thống là bàn, tủ, giường,… công ty Theodore đang thực hiện việc mở rộng sản xuất cho dòng sản phẩm mới là các lọai ghế với kĩ thuật giả cổ tinh vi nhắm vào các thị trường cao cấp Âu Mĩ Bộ phận sản xuất sản phẩm ghế vừa được thành lập và đang trên đà mở rộng đã gặp phải nhiều vấn
đề khó khăn trong việc họach định nguồn lực và vật tư dẫn đến tình trạng hiệu quả sử dụng vật liệu rất thấp Từ tình trạng đó làm giá thành sản phẩm cao ảnh hưởng đến lợi nhuận của mặt hàng này
Đứng trước những thách thức mới trong điều kiện toàn cầu hoá, công ty Theodore Alexander mong muốn nâng cao khả năng cạnh tranh không chỉ bằng cách tăng chất lượng sản phẩm, tạo sự
đa dạng trong mẫu mã mà còn phải giảm giá thành Chính vì vậy việc đầu tư vào một hệ thống ERP hoàn thiện là một quyết định mang tính chiến lược của công ty Dòng sản phẩm mới (ghế) vừa được thành lập với nhiều vấn đề đã nêu thật sự là một thách thức trong việc áp dụng hệ thống ERP do các dữ liệu đầu vào phần lớn chưa có sẵn Việc nghiên cứu thiết lập và chuẩn bị các dữ liệu đầu vào cho ERP và áp dụng hệ thống ERP sẵn có đề đưa ra các kế hoạch hoạch định nguồn lực là nội dung chính trong đề tài này
1.2 Mục tiêu luận văn
- Thiết lập các tiêu chuẩn sản xuất (thời gian và vật liệu) cho dòng sản phẩm ghế, áp dụng các
chuẩn sản xuất, xây dựng BOM cho sản phẩm ghế
Trang 9- Đề xuất phương án triển khai thành công EPR và các phương án giảm chi phí trong việc triển khai
- Áp dụng hệ thống ERP hỗ trợ hoạch định nguồn lực
1.3 Phương pháp luận
- Ứng dụng lý thuyết kĩ thuật hoạch định vật tư & hoạch định nguồn lực
- Thu thập thông tin hỗ trợ cần thiết từ hệ thống sản xuất thực, phân tích đánh giá để xác định
khả năng áp dụng của kĩ thuật hoạch định vật tư & nguồn lực vào hệ thống
- Xây dựng và triển khai chiến lược, phương án áp dụng hoạch định nguồn lực vào hệ thống, kiểm tra, phản hồi kết quả
- Kết luận và kiến nghị
Trang 10Bắt đầu
Hình thành đề tài & Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cưú lý thuyết về BOM, MRP II, ERP
Thiết lập chuẩn sản xuất
Nghiên cứu thời gian và thao tác
tại các trạm gia công
Phân tích đánh giá hiện trạng sản
xuất Tiếp cận hệ thống ERP thực tế
Xác định đầu vào hệ thống ERP
Xây dựng BOM theo yêu cầu
hệ thống ERP
Áp dụng các mô hình tính toán của ERP để tính các thông số đầu ra
Thu thập các đầu vào tương ứng khác
Áp dụng các báo cáo đầu ra
đề xuất phương án hoạch định nguồn lực
Kết luận & Kiến nghị
Hình 1.1: Sơ đồ khối qui trình thực hiện LV
Trang 111.4 Nội dung cần thực hiện
- Chương 1: Giới thiệu
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết
- Chương 3: Phân tính và đánh giá hệ thống sản xuất hiện hành
- Chương 4: Nghiên cứu thời gian.và thiết lập các tiêu chuẩn sản xuất
- Chương 5: Xây dựng BOM chuẩn cho dòng sản phẩm ghế
- Chương 6: Áp dụng hệ thống ERP để hỗ trợ hoạch định nguồn lực cho dòng sản phẩm ghế
- Chương 7: Kết luận và kiến nghị
1.5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu không thực hiện trên qui mô toàn bộ các loại sản phẩm mà giới hạn ở dòng sản phẩm ghế và sự hoạch định nguồn lực cho sản phẩm ghế
Trang 121.6 Các nghiên cứu liên quan
- Ros Alverex [10] nghiên cứu quá trình triển khai một hệ thống ERP và chỉ ra rằng quá trình
triển khai ERP không chỉ thể hiện qua các thuật ngữ và văn bản Doanh nghiệp không chỉ đơn giản chọn một hệ thống ERP dựa trên các thông tin đã yêu cầu để có được một hệ thống ERP phù hợp với mình Thay vào đó, R Alvarex đề nghị quá trình chọn lựa vào triển khai một hệ thống ERP mới là một quá trình trung gian cho việc tái cấu trúc giá trị doanh nghiệp Những nhà lý luận đã mô tả quá trình như vậy giống như sự tạo ra một điều thần thoại
- Một phân tích tình huống (case study) về quá trình chọn lựa và triển khai ERP của một tổ chức phi lợi nhuận được trình bày nhằm thể hiện sự chuyển biến thần kỳ trong việc triển khai
hệ thống ERP và sự thay đổi trong giá trị của tổ chức cũng như những tác dụng tích cực mà
hệ thống ERP đem lại đối với việc hỗ trợ quản lý của tổ chức phi lợi nhuận được nêu
- Z Rondan, R Zamora, và D Amores [11] trình bày một cái nhìn tổng quan về việc triển
khai ERP ở Philippines bằng cách khảo sát 4 doanh nghiệp Philippines trong nghiên cứu cuả
họ Tất cả 4 công ty trên đều là những công ty đa quốc gia và các công ty mẹ nằm ở nước ngoài Nghiên cứu xem xét môi trường doanh nghiệp ở Philippines và những điều kiện mà ERP được áp dụng Ngoài ra, nghiên cứu còn nêu ra các vấn đề mà các doanh nghiệp trên gặp phải trong việc triển khai ERP Nghiên cứu này trả lời câu hỏi: yếu tố nào của doanh nghiệp đóng vai trò quyết định trong việc triển khai và vận hành hệ thống ERP ở Philippines
- Jonas Hedman và Andreas Borell [12] cho thấy hệ thống ERP có một tác động về mặt tổ
chức và việc triển khai thực hiện ERP trong đa số trường hợp là để cải thiện hiệu quả của doanh nghiệp Những thiếu sót trong các nghiên cứu hiện thời làm cho việc kết luận sự ảnh hưởng của hệ thống ERP đối với doanh nghiệp khó khăn Bài báo này trình bày một sự đánh giá những lợi ích nhận được từ một hệ thống ERP Nghiên cứu chỉ ra rằng, ERP hỗ trợ những tiêu chuẩn hiệu quả (như là năng suất, độ kiểm soát,…) liên quan tới những quá trình bên trong và những mô hình mục tiêu Đánh giá của tác giả cũng chỉ ra những điểm yếu của ERP trong các lĩnh vực liên qua đến quan hệ con người và những mô hình hệ thống mở Kết quả của bản đánh giá được dùng để thảo luận về tác động chính của ERP và được trình bày dưới dạng một chuỗi các luận điểm
Trang 131.7 Công ty Theodore Alexander
1.7.1 Sự hình thành và phát triển
Hình 1.2: Hình đại diện sản phẩm công ty trên trang web chính thức
Công ty Theodore Alexander HCM LTD được thành lập tại Việt Nam vào năm 1991 với 100% vốn của một doanh nhân người Anh, ông Paul Mailand Smith Nhà máy được đặt Khu chế xuất Linh Trung 1, Thủ Đức, TPHCM Ngoài công ty mẹ là Theodore Alexander, nhằm
mở rộng chủng loại sản phẩm và gia tăng sản luợng, nhà máy thứ 2 được mở ra tại Khu chế xuất Linh Trung 2 dưới danh nghĩa một công ty con là SaiGon Fine Furniture Một công ty con khác cũng được thành lập tại Bình Dương nhằm cung cấp các chi tiết và mặt hàng bằng đồng cho các sản phẩm đồ gỗ chủ lực của công ty, đó là công ty TA2
Về mặt nhân lực, với một số lượng nhân viên khiêm tốn khi mới thành lập Đến nay tổng số nhân viên của công ty lên đến khoảng 7000 nhân viên Môi trường làm việc đa văn hoá với ngôn ngữ hành chính được sử dụng nội bộ là tiếng Anh, với sự tham gia sáng tạo, quản lý và điều hành của hơn 50 chuyên gia nước ngoài
Trang 141.7.2 Lĩnh vực hoạt động
- Công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh đồ gỗ Ngoài các sản phẩm chính như bàn, ghế, tủ, giường,…các sản phẩm khác như vật dụng trang trí, sản phẩm bằng đồng cũng đang dần được nghiên cứu và phát triển
- Thị trường chủ yếu là thị trường châu Âu và Mỹ Các thị trường mới như Úc, Mỹ La Tinh, Hàn Quốc, Nhật đang có số lượng đơn hàng tăng
1.7.3 Các chi nhánh trên thế giới:
1.7.3.1 Châu âu
1.7.3.2 Mỹ
1.7.3.3 Úc
Trang 151.7.3.4 Nga
Trang 162 CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Trang 172.1 Nghiên cứu thời gian (Time study)
- Một trong những yêu cầu để tạo nên một trạm gia công hiệu quả mà một qui trình sản xuất chuẩn là xây dựng được các chuẩn sản xuất thông qua nghiên cứu thời gian
- Có 3 nhân tố để tạo nên một chuẩn sản xuất:
o Ước lượng
o Dùng số liệu quá khứ
o Nghiên cứu thời gian
Trong thời gian bắt đầu xuất hiện các nhu cầu về chuẩn sản xuất, nhiều công ty đã áp dụng phương thức đầu tiên là ước lượng thời gian và vật liệu để lập chuẩn Sau đó, nhiều công ty thực hiện bằng việc lập chuẩn dựa vào những dữ liệu quá khứ Phương pháp thứ hai có ưu điểm hơn phương pháp đầu về mặt chính xác và tận dụng được những dữ liệu thực tế Tuy nhiên, hai phương pháp trên vẫn chưa cung cấp được số liệu thật chính xác cho sản xuất Cuối cùng, việc thiết lập các tiêu chuẩn sản xuất được thực hiện trực tiếp dựa vào việc tiến hành các nghiên cứu trên hệ thống sản xuất hiện thời
- Nghiên cứu thời gian thường được định nghĩa như là một phương pháp xác định “Ngày làm việc công bằng” Một ngày làm việc công bằng được định nghĩa như là một khối lượng công việc được hoàn thành bởi một nhân viên có kinh nghiệm trung bình, làm việc ở một tốc độ trung bình và sử dụng hiệu quả thời gian trong sụốt ngày làm việc với giả sử công việc đó không bị giới hạn hoặc trì hoãn bởi những yếu tố khác
o Nhân viên có kinh nghiệm trung bình là một nhân viên đã am hiểu về qui trình làm việc, sản xuất Những người này là những nhân viên đã qua thời gian thử việc và đã được huấn luyện những kĩ năng cần thiết cho công việc Họ cũng đã có thời gian làm quen với thực tế sản xuất Tuy nhiên, họ không phải là những người giỏi nhất Thông thường, họ có từ 1-2 năm kinh nghiệm trong công việc đó
o Tốc độ làm việc trung bình là tốc độ làm việc của người công nhân trung bình trong điều kiện không có những áp lực về quản lý hoặc tâm lý Đó là tốc độ làm việc trong điều kiện làm việc bình thường như thực tế sản xuất
2.1.1 Những yêu cầu về trách nhiệm của Nghiên cứu thời gian
- Trách nhiệm của kĩ sư công nghiệp (IE – Industrial engineer), những người tiến hành việc nghiên cứu thời gian:
o IE cần bảo đảm sự hiểu biết đầy đủ của các quản đốc, công đoàn, và người lao động trong việc nghiên cứu và mục đích của việc nghiên cứu
Trang 18o IE cần bảo đảm phương pháp đúng đắn và thích hợp được sử dụng, dữ liệu thời gian được ghi chép chính xác Ngoài ra phải đảm bảo sự đánh giá thao tác của người lao động trung thực
o Vì IE – thông qua việc nghiên cứu thời gian và thiết lập chuẩn sản xuất - là người liên quan trực tiếp hay người đứng giữa ranh giới thu nhập của người lao động và lợi nhuận của công ty nên cần phải làm việc hoàn toàn vô tư và chính xác Sự thiếu chính xác của các tiêu chuẩn không chỉ ảnh hưởng đến tài chính của công ty mà còn gây sự mất lòng tin nơi người lao động và công đoàn Từ đó có thể dẫn đến việc thất bại của chuẩn sản xuất
- Trách nhiệm của quản đốc:
o Cần thông báo và giải thích trước cho công nhân về nội dung của nghiên cứu thời gian
và việc nghiên cứu sắp được tiến hành Sự thông báo này sẽ tạo điều kiện cho cả người công nhân và kĩ sư công nghiệp
o Cần đảm bảo người công nhân thực hiện công việc theo đúng phương pháp chuẩn đã được hướng dẫn cho toàn bộ phận
o Cần chọn những người công nhân có kinh nghiệm trung bình cho việc nghiên cứu Chính người quản đốc là người hiểu rõ bộ phận và những người công nhân dưới quyền
o Cần bảo đảm môi trường làm việc là như thực tế sản xuất Mặc dù kĩ sư công nghiệp
là người có các kĩ năng và phương pháp cần thiết trong việc nghiên cứu thời gian, nhưng người quản đốc hiểu rõ chuyên môn và bản chất của hoạt động sản xuất Do đó hai bên cần có sự phối hợp chặt chẽ để đảm bảo mọi thứ được thực hiện đúng
o Kí nhận những thông tin và thời gian được nghiên cứu tại bộ phận mình sau khi đã kiểm tra Việc này là tăng tính chính thức và qui rõ trách nhiệm của mỗi phía Người quản đốc xác nhận dữ liệu thu được là chính xác, người phân tích (IE) chịu trách nhiệm cung cấp chuẩn chính xác Nếu khó khiếu kiện về chuẩn, các hồ sơ liên qua sẽ được truy cứu
- Trách nhiệm của công đoàn:
o Hầu hết các công đoàn đều phản đối việc đo lường công việc và mong muốn các chuẩn sản xuất được thiết lập dựa trên sự thoả hiệp Tuy nhiên công đoàn công nhận các chuẩn sản xuất có lợi cho sự điều hành sản xuất Công đoàn cũng hiểu các chuẩn sản xuất không chính xác gây vấn dề cho cả người lao động và công ty
- Trách nhiệm của người vận hành (hay người được nghiên cứu):
Trang 19o Cần phối hợp với các kĩ sư công nghiệp trong việc thực hiện các nghiên cứu thời gian
o Thực hiện đúng hướng dẫn về các qui trình sản xuất để đảm bảo mọi thủ tục được thi hành đúng
o Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện công việc theo đúng tốc độ thường ngày Không làm nhanh hơn vì sức ép và không cố tính làm chậm hơn
2.1.2 Dụng cụ dùng cho nghiên cứu thời gian
- Đồng hồ (Stopwatch): là công cụ cơ bản nhất để tiến hành nghiên cứu thời gian Loại thường được dùng là đồng hồ thể thao có độ chính xác đến mili giây Ngoài ra, yêu cầu đối với đồng
hồ bấm giờ là có thể bấm ngừng và chạy tiếp giờ khi cần thiết
Hình 2.1: Đồng hồ điện tử dùng trong nghiên cứu thời gian
- Máy ảnh: cần thiết trong trường hợp nghiên cứu những qui trình sản xuất phức tạp được phân thành nhiều công đoạn con Ngoài ra còn có tác dụng lưu trữ những qui trình mới, qui trình chuẩn
- Máy quay phim: là một trong những công cụ cần thiết trong việc thiết lập thời gian và qui trình chuẩn Ngoài đồng hồ, máy quay phim có thể lưu trữ toàn bộ qui trình sản xuất nhằm đối chiếu khi thực hiện cải tiến Các nghiên cứu thông qua máy quay phim có thể được dùng phân tính, đánh giá, và so sách bởi toàn bộ IE, cả những người không tham gia vào quá trình nghiên cứu
Trang 20- Bảng mẫu nghiên cứu: được thiết kế bởi kĩ sư công nghiệp Bảng mẫu cần đáp ứng cho việc nghiên cứu mọi qui trình sản xuất Ngoài ra, bảng mẫu cần tiện dụng cho việc ghi chép thời gian và các ghi chú
2.1.3 Các nhân tố trong nghiên cứu thời gian
- Chọn người vận hành hay người công nhân thích hợp Đó là một nhân viên kinh nghiệm trung bình, như đã đề cập Ngoài ra, cần chắc chắn việc hợp tác tốt giữa hai phía Trong trường hợp không thể chọn người thao tác vì đó là công đoạn được thực hiện bởi một nhân viên duy nhất, cần đánh giá chính xác về khả năng, kinh nghiệm và sự thể hiện của nhân viên
đó
- Ghi nhận những thông tin liên quan Ngoài thao tác trực tiếp được nghiên cứu, các điều kiện môi trường, công cụ, trang thiết bị hỗ trợ cũng cần được ghi chú cẩn thận Đối với các máy vận hành, cần ghi chú cả tên máy, mã máy, đặc tính kĩ thuật
- Chọn vị trí đứng quan sát tốt Không nên đứng quá gần làm ảnh hưởng và phân tâm người lao động, không nên đứng quá xa không thể bao quát hết các thao tác của người công nhân Nên đứng bên cạnh cách người công nhân 2-3m
- Phân chia các công đoạn sản xuất thành các thao tác chi tiết Việc phân chia luôn tách những công đoạn có những đặc tính khác nhau ra thành các phần riêng Từ đó các tiêu chuẩn chính xác dựa vào các đặc điểm đó được thiết lập Kết hợp toàn bộ các chuẩn đó sẽ hợp thành toàn qui trình sản xuất
VD: Để thiết lập chuẩn sản xuất cho một sản phẩm, cần chia qui trình sản xuất thành nhiều trạm gia công Tại từng trạm gia công cần tách các công đoạn thành các thao tác Từng thao tác có thể được tách tiếp thành các thao tác nhỏ hơn nếu cần thiết
2.1.4 Nghiên cứu thời gian & đánh giá
2.1.4.1 Phương pháp bấm giờ :
- Phương pháp ghi nhận giờ liên tục: đồng hồ chạy liên tục Mỗi khi có sự gián đoạn hoặc hết công đoạn sản xuất, đồng hồ được bấm ngừng lại để ghi giờ Giờ được ghi theo dạng liên tục Các số ghi là thời gian thực từ lúc bắt đầu
VD: 6:12, 8:24, 12:10,…
- Phương pháp ghi giờ gián đoạn: mỗi khi đồng hồ bấm ngừng đo đổi công đoạn, thời gian được ghi lại và sau đó đồng hồ được bấm về 0 Thời gian ghi lại là khoảng thời gian hoàn thành công đoạn sản xuất đó
Trang 212.1.4.2 Số mẫu nghiên cứu:
Số mẫu cần lấy tuỳ theo đặc điểm thao tác và theo thời gian thao tác diễn ra Thông thường, trước khi lấy mẫu, người lấy mẫu cần hiểu và ước lượng được thời gian cho một thao tác nằm trong khoảng nào Từ đó có thể quyết định số lượng mẫu Nếu đó là một thao tác mới, có thể bấm giờ thử để quyết định số lượng mẫu quan sát
STT Thời gian chu trình (phút) Số quan sát đề nghị
Bảng 2.1: Số mẫu quan sát tối thiểu đề nghị theo thời gian gia công
(Nguồn: Method, Standards, and work design, Trang 340)
2.1.4.3 Đánh giá thao tác (Performance Rating):
- Thời gian để hoàn thành một công đoạn phụ thuộc vào kĩ năng và sự nỗ lực của người lao động Do đó, cần đề ra mức thời gian thông thường cho mỗi công đoạn Thời gian thông thường có đuợc từ việc kết hợp thời gian thực tế để hoàn thành công đoạn đó và đánh giá người lao động trực tiếp thực hiện công đoạn đó
Trang 22Trong đó:
OT : Thời gian quan sát (observed time)
NT : Thời gian thông thường (normal time)
Fo : Hệ số đánh giá tổng hợp kĩ năng và sự nỗ lực
2.1.4.4 Thời gian phụ thêm vào thời gian gia công (allowance):
- Là thời gian cần thêm vào thời gian thông thường để bảo đảm người lao động có thể làm việc suốt 8h mỗi ngày Đó là thời gian cho các hoạt động không liên quan đến công việc như nhu cầu vệ sinh cá nhân, nhu cầu nghỉ mệt,…
- Cần phân biệt những hoạt động không liên quan đến công việc chính hay những trì trệ gồm hai loại:
o Trì trệ do những nhu cầu không thể trách khỏi: nhu cầu vệ sinh, nhu cầu nghỉ mệt,…
o Trì trệ do những yếu tố có thể tránh được: thiếu nguyên vật liệu sản xuất, điều độ kém, làm sai qui trình chuẩn,…
- Thời gian phụ chỉ thêm cho những trì trệ không thể tránh khỏi Lượng thời gian thêm vào này cần bảo đảm để người lao động có thể phục hồi sức lao động
- Theo “Method, Standards, and work design” trang 405, có hai loại thời gian phụ bắt buộc phải thêm vào thời gian gia công chuẩn:
o Thời gian phụ cho nhu cầu cá nhân : 5%
o Thời gian phụ cho phục hồi do mỏi mệt : 4%
Do đó, tổng thời gian phụ thêm vào là 9% thời gian gia công
2.1.5 Tiến hành nghiên cứu thời gian
- Nghiên cứu thời gian được tiến hành tại từng trạm gia công nhằm xác định thời gian tiêu chuẩn của từng công đoạn trong hoạt động sản xuất Việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên những phương pháp chuẩn như:
o Phân tích qui trình sản xuất và phân loại thao tác
o Số lượng lấy mẫu
Trang 23o Trạm chà nhám: thời gian gia công phụ thuộc vào diện tích bề mặt của sản phẩm
o Trạm làm màu giả cổ: thời gian gia công phụ thuộc vào diện tích bề mặt của sản phẩm
o Trạm hoàn tất màu: thời gian gia công phụ thuộc vào diện tích bề mặt của sản phẩm
o Trạm bọc nệm: thời gian gia công phụ thuộc vào cấu tạo thiết kế nệm
o Trạm đóng gói: thời gian gia công phụ thuộc vào kích thước ghế (dài x rộng x cao)
- Số lượng quan sát cần thiết là 15 quan sát cho tất ca các công đoạn (dựa trên Bảng đề nghị số lượng mẫu – Bảng 8-2, trang 340, Chương 8: Time Study, [9]
- Kết hợp đánh giá các yếu tố về kĩ năng nhân công & sự tập trung (dựa trên Westinghouse Rating system, bảng 9-1 & 9-2 trang 361,362, Chương 9: Performance Rating, [9]
2.2 Thiết lập chuẩn sản xuất
2.2.1 Phương pháp truyền thống (theo chương 8, [9] )
- Thời gian quan sát hay các mẫu quan sát (OT – Observed time) là thời gian được ghi chép từ thực tế sản xuất thông qua việc nghiên cứu sản xuất
- Thời gian chuẩn (ST – standard time): là thời gian chuẩn cho một công đoạn:
Trong đó:
ST : Thời gian chuẩn (standard time)
NT : Thời gian thông thường (normal time)
AF : Hệ số thời gian thêm (allowance factor)
- Thời gian chuẩn trung bình (TGTB) là thời gian trung bình của thời gian chuẩn cho tất cả các mẫu
Trong đó:
STi : thời gian chuẩn của quan sát thứ i
- Thời gian trung bình mới: là thời gian trung bình sau khi đã loại các mẫu ngoài giới hạn kiểm soát, cách tính tương tự thời gian trung bình
2.2.2 Phương pháp thực tế áp dụng (theo Theodore Alexander Industrial Engineering
Documents – Time study Guide)
Phương pháp này dưạ trên phương pháp truyền thống, kết hợp với đặc điểm sản xuất tại công ty Theodore Alexander, tính toán thời gian gia công chuẩn đối với các nghiên cứu thực hiện dựa trên diện tích bề mặt:
Trang 24A Fai Ti
1
)1
*(
i F
i F Ttbi
2
2
*)(
i F
i F Ttbi
Trong đó:
TGTB: Thời gian gia công trung bình (TG chuẩn trung bình)
TGTBn: Thời gian gia công trung bình mới
Ti: Thời gian gia công tại quan sát thứ i
Tstdi Thời gian gia công chuẩn trên đơn vị diện tích tại quan sát thứ i
Fai: Hệ số đánh giá lao động (Fai = Fsi + Fei) tại quan sát thứ i
Fsi: Hệ số đánh giá kĩ năng nhân công tại quan sát thứ i
Fei: Hệ số đánh giá mức độ nỗ lực của nhân công tại quan sát thứ i
A: Hệ số thời gian thêm (allowance) (A = Abf + Am = 0.09)
Abf: Thời gian thêm tính cho sự gián đoạn do sự mỏi mệt (basic fatigue); Abf = 0.04
Am: Thời gian thêm tối thiểu cho các nhu cầu cơ bản của người lao động (vệ sinh,
uống nước,…); Am = 0.05
Si: Diện tính được khảo sát tại quan sát thứ i
F1i: Hệ số đánh giá lần 1 tại quan sát thứ i; F1i = 1
F2i: Hệ số đánh giá lần 2 tại quan sát thứ i (sau khi loại các quan sát không đạt);
F2i = 1 nếu quan sát i đạt, F2i = 0 nếu quan sát thứ i không đạt
2.3 ERP (Enterprise Resource Planning)
2.3.1 Lịch sử hình thành ERP
- Bắt đầu từ những năm 1950, các công ty lớn trên thế giới xây dựng nên hệ thống hoạch định nhu cầu vật tư MRP (Material Requirements Planning) nhằm giám sát tất cả các sản phẩm và vật liệu sản xuất trong một hay nhiều nhà máy Hai thập kỉ sau, MRP được mở rộng trên phương diện ứng dụng phần mềm và hình thành MRP II (Manufacturing Resource Planning) MRP II không nhữgn quản lý những vật liệu trong qui trình mà còn hoạch định cả qui trình sản xuất
Trang 25- MRP II cân nhắc thêm những vấn đề về việc điều độ sản xuất, các nguồn lực có sẵn và những yêu cầu hoạch định khác Do đó, MRP II là một bước phát triển mới của MRP
- Cả MRP & MRP II được tạo ra và hướng tới những công ty sản xuất, trong khi đó, ERP vượt
ra ngoài khái niệm là một ứng dụng trong việc quản lý vật liệu và điều độ đơn thuần Hệ thống ERP được thiết kế để tổng hợp thông tin được dùng trong mọi hoạt động liên quan của doanh nghiệp vào một cơ sở dữ liệu thống nhất nhằm tinh giản và hiện đại qui trình xử lý thông tin và quản lý của doanh nghiệp
- Sự hứa hẹn của một cơ sở dữ liệu tổng hợp và những lợi ích mà một hệ thống ERP có thể tạo
ra đã làm lan rộng làn sóng triển khai ERP trong các doanh nghiệp trong những năm 1990 Nhưng rất nhiều công ty khi triển khai ERP đã phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng
2.3.2 Những khó khăn trong việc ứng dụng ERP
- Rất nhiều doanh nghiệp đã gặp hàng loạt vấn đề khi triển khai những hệ thống lớn như ERP Phần mềm ERP chiếm một khoản chi phí lớn Ngoài ra, chi phí cho việc triển khai ERP thuờng vượt quá nguồn ngân sách dự tính do những chi phí ẩn phát sinh trong quá trình triển khai
- Những yếu tố rủi ro khác bao gồm:
o Thất bại trong việc tái cấu trúc doanh nghiệp và qui trình sản xuất để đáp ứng những yêu cầu tiêu chuẩn của ERP
o Thiếu sự hỗ trợ của ban giám đốc
o Thiếu sự huấn luyện và đào tạo những kĩ năng, kiến thức cần thiết cho việc triển khai
và vận hành hệ thống ERP
o Không thể tuyển dụng và giữ lại những chuyên gia phát triển hệ thống ERP trong doanh nghiệp
o Sự không đạt yêu cầu trong việc chuẩn hoá dữ liệu
o Thiếu sự hợp nhất dữ liệu dùng trong tất cả các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Rất nhiều nghiên cứu liên qua đã tập trung vào việc tìm hiểu các vấn đề có thể xảy ra và xác định phương thức giải quyết vấn đề
2.3.3 Tương lai của ERP
- ERP mở ra hoàng loạt các cơ hội mới cho doanh nghiệp Các công ty phát triển phần mềm ERP tập trung vào việc tạo ra những phương thức tốt hơn để kết hợp ERP với CRM (Customer Relationship Management) và SCM (Supply Chain Management) Rất nhiều công
ty đã đầu tư những khoản tiền khổng lồ và hệ thống EPR Tuy nhiên, họ vẫn tìm kiếm nâng
Trang 26cấp và tích hợp các ứng dụng khác vào ERP để tăng cường sức mạnh của hệ thống ERP Sự tiến hoá của EPR đang chuyển theo xu hướng phát triển những côngg nghệ cải thiện những lĩnh vực như CRM & SCM
- Sự mở rộng của phần mềm ERP không chỉ dừng ở đó Trong thời đại Internet bùng nổ, ERP đang được hướng đến sự phát triển tích hợp Internet và là nền tảng của thương mại điện tử Việc phát triển ERP trên nền tảng mạng mở rộng lại đặt vấn đề bảo mật dữ liệu lên một bước quan trọng
- ERP phát triển dựa trên trào lưu phát triển công nghệ của thế giới Thuận lợi của hệ thống ERP mở ra những cơ hội mới nhưng cũng đặt ra những vấn đề mới cần phải cân nhắc
2.3.4 Đầu vào & đầu ra
2.3.4.1 Đầu vào:
Đầu vào cho hệ thống ERP theo bản thân định nghĩa của hệ thống chính là toàn bộ các nguồn thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đầu vào của hệ thống ERP thông thường bao gồm các cấu trúc dữ liệu chính sau:
2.3.4.1.1 Cấu trúc dữ liệu quản lý nhân sự
- Các chế độ ca sản xuất: Ca sản xuất được thiết lập dựa trên chính sách của công ty tuân theo pháp luật của quốc gia Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào sự thương lượng của công ty và người lao động Một công ty có thể thiết lập nhiều loại ca lao động áp dụng cho nhiều thành phần khác nhau (nhân viên sản xuất, văn phòng, nhân viên bảo vệ, an toàn, các cấp lãnh đạo, ) Phổ biến hiện nay là ca lao động ngày làm 8 giờ (Ví dụ: Sáng: 7:30 – 12:30; Nghỉ trưa: 12:30 – 13:30; Chiều: 13:30 – 16:30)
- Danh mục quản lý nhân viên: Đây là phần chính của cấu trúc quản lý nhân sự Danh mục quản lý nhân viên gồm các mục như:
o Thông tin cá nhân:
Tên họ Ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh
Địa chỉ cư trú & liên hệ Số điện thoại riêng
Thông tin liên quan về gia đình
o Thông tin về lịch sử công tác, kinh nghiệm và chuyên môn
Ngày gia nhập công ty Bằng cấp hiện có Các vị trí đã công tác Mức lương và sự thăng tiến trong quá khứ
Trang 27o Thông tin công việc hiện tại:
Bộ phận trực thuộc & Sếp trực tiếp
Mô tả công việc Trách nhiệm liên quan & công việc đang phụ trách Chức vụ
Kết quả đánh giá nhân viên định kì
- Danh mục ngày nghỉ:
o Các ngày lễ, Tết được nghỉ theo pháp luật
o Các chính sách làm việc ngoài giờ, hệ số lương cho công việc ngoài giờ
o Các chính sách làm việc riêng của công ty: chính sách nghỉ ngày thứ 7 luân phiên,…
2.3.4.1.2 Cấu trúc dữ liệu quản lý nguyên vật liệu
- Danh mục quản lý thông tin tổng thể (Item master)
- Danh mục xây dựng BOM
o Thông tin qui trình sản xuất
o Thông tin giờ công tại các trạm gia công
o Thông tin vật liệu sử dụng tại các trạm gia công
2.3.4.1.3 Cấu trúc dữ liệu quản lý sản xuất
- Danh mục quản lý tồn kho
o Lượng hàng đang lưu kho
o Dung lượng các kho
o Chính sách tái đặt hàng
- Danh mục kế hoạch sản xuất
o Chính sách gia công ngoài những sản phẩm được chọn
o Kế hoạch sản xuất các đơn hàng có sẵn
o Các đơn hàng bất thường
- Danh mục quản lý các trạm gia công
o Nhân lực và năng lực trạm gia công
Trang 28o Các loại qui trình chuẩn tại các trạm
o Máy móc thiết bị tại các trạm
2.3.4.1.4 Cấu trúc dữ liệu quản lý tài chính
- Hoá đơn chứng từ mua bán & xuất nhập khẩu
- Các đánh giá kiểm toán doanh nghiệp
- Kết quả kiểm kho định kì
- Các báo cáo thu chi trong hoạt động sản xuất kinh doanh
2.3.4.1.5 Cấu trúc dữ liệu quản lý khách hàng
- Danh mục các chương trình quảng cáo
- Danh mục các kênh vận chuyển, phân phối
- Chính sách giá
2.3.4.2 Đầu ra:
Với đầu vào là các nguồn thông tin, đầu ra của hệ thống ERP là các báo cáo, kế hoạch, chính sách phục vụ cho việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
2.3.4.2.1 Cấu trúc dữ liệu quản lý nhân sự
- Báo cáo nhân viên : tất cả các thông tin liên quan về nhân viên được lưu trữ và tổng hợp, đánh giá theo những tiêu chuẩn nhất định phục vụ cho việc quản lý hiệu quả nhân lực của công ty
- Báo cáo chung về các chỉ số quản lý nhân sự: mức độ hài lòng, mức độ bỏ việc, độ trung thành, …
- Báo cáo về cấu trúc tổ chức
- Chính sách đào tạo, huấn luyện
2.3.4.2.2 Cấu trúc dữ liệu quản lý nguyên vật liệu
- Cấu trúc hình cây của sản phẩm: mô tả sản phẩm với qui trình sản xuất, trạm gia công, vật liệu yêu cầu
Trang 30- Báo các chi tiết chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
2.3.4.2.3 Cấu trúc dữ liệu quản lý sản xuất
- Báo cáo lượng hàng đang sản xuất, lượng bán phẩm tại từng trạm gia công,…
- Báo cáo tồn kho
- Báo các hiệu suất trạm gia công, hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu trong từng trạm gia công
- Báo cáo mức độ sử dụng của các trạm gia công
- Báo cáo kế hoạch sản xuất
- Báo cáo lượng hàng đúng hạn, tốc độ và tiến trình sản xuất
2.3.4.2.4 Cấu trúc dữ liệu quản lý tài chính
- Các báo cáo tài chính, thuế, chuyển khoản, thanh toán
- Các báo cáo kiểm toán, phân tích hoạt động tài chính của doanh nghiệp
2.3.4.2.5 Cấu trúc dữ liệu quản lý khách hàng
- Báo cáo đơn hàng và tình hình đặt hàng, chuyển hàng
- Báo các so sánh các kênh phân phối, nhà phân phối
- Báo cáo chính sách giá của các công ty cạnh tranh
- Báo cáo tình hình kinh doanh, lượng đặt hàng
- Báo cáo phản hồi từ khách hàng
Trang 313 CHƯƠNG 3:
GIỚI THIỆU VÀ PHÂN TÍCH
QUI TRÌNH SẢN XUẤT
HIỆN HÀNH
Trang 323.1 Giới thiệu:
3.1.1 Các trạm gia công - Qui trình sản xuất sản phẩm ghế:
Hình 3.1: Sơ đồ qui trình sản xuất theo các trạm gia công và theo các công đoạn
Kiểm tra
khung
Chà Nhám
Chỉnh màu lần 1
Phun keo bảo vệ
Phun màu nền
Phun keo bảo vệ
Chà Nhám Sealer lần 1
Phun keo bảo vệ
Trạm gia công Hoàn tất màu
Trạm gia công Bọc nệm
Trạm gia công Đóng gói
Trang 333.1.1.1 Khung (Carcass)
- Mặt hàng ghế có đặc điểm khác với các sản phẩm thông thường là khung ghế được gia công ngoài Khung ghế được mua từ các nhà cung cấp sau khi đã chuyển giao thiết kế và mẫu mã cho nhà cung cấp
- Khung ghế được gia công và lắp ráp theo thiết kế, sau đó được đóng gói thô và vận chuyển về Theodore Alexander (TA) Với hình thức chuyển giao gia công này, khung được mua theo giá trọn gói
- Dòng sản phẩm ghế tập trung vào các công đoạn làm màu, giả cổ, và bọc nệm để tạo nên tính riêng biệt cho sản phẩm Do đó các công đoạn mộc máy, lắp ráp (những công đoạn đầu của các mặt hàng đồ gỗ) đơn giản không yêu cầu bí mật công nghệ được áp dụng hình thức đặt hàng ngoài
- Đây không thật sự là một work center mà chỉ là một trạm phụ kiểm tra chất lượng của khung được nhận về từ nhà cung cấp
3.1.1.2 Chà nhám (Sanding)
- Chà nhám là một công đoạn cần thiết ngay sau khi sản phẩm được lắp ráp hoàn chỉnh Tất cả các mặt hàng đồ gỗ nội thất đều qua công đoạn chà nhám trước khi qua các công đoạn màu phía sau
- Mục đích của việc chà nhám là để tạo độ mịn cho sản phẩm Những góc cạnh thô hay những chi tiết chạm chưa được tạo hình hoàn chỉnh có thể được “vuốt” hoặc “bo” tại trạm gia công này
- Đôi khi trạm gia công này còn thực hiện nhiệm vụ giả cổ ban đầu Đó là việc tạo nên các lỗ mọt, các vết hằn, các vết tì giống như sản phẩm đã qua sử dụng trong đời sống hàng ngày một thời gian dài, trong quá trình sử dụng do va chạm đã để lại những vết tích này
3.1.1.3 Làm màu & giả cổ (Main Finishing)
- Làm màu giả cổ là công đoạn yêu cầu công nghệ rất cao và cũng là một trong những thế mạnh của Theodore Alexander Đa số những màu mới đều được gia công tại công ty (chiếm hơn 95% loại màu) Ngoài ra, những loại màu đã phổ biến trên thị trường hoặc những loại màu đã bị các công ty khác sao chép có khuynh hướng chuyển sang gia công ngoài
- Do yêu cầu bảo mật công nghệ cao, tất cả hoá chất làm màu giả cổ đều được pha trộn theo những hoá chất được mã hoá bí mật Thành phần tỉ lệ pha trộn cũng được giữ kín trong nội
bộ Chỉ những thành viên điều hành công ty và trưởng bộ phận màu nắm được những công thức thành phần pha màu này
Trang 34- Đối với trường hợp các màu gia công ngoài, hoá chất được pha trộn tại công ty và gửi đến nhà thầu cung cấp Tại các nhà máy của nhà cung cấp, có các chuyên gia của Theodore hướng dẫn cách làm màu và giả cổ và cách trộn thành một số màu khác từ những hoá chất nhận được từ TA Đối với các sản phẩm làm màu tại công ty, trưởng bộ phận trực tiếp chỉ dẫn việc pha màu
- Tất cả các hoá chất đều thuộc loại tốt nhất và được đặt hàng tại một công ty uy tín Qui trình kiểm tra hoá chất được thực hiện thường xuyên để bảo đảm thành phần và chất lượng của hoá chất
- Từ khi thành lập đến nay, TA đã nghiên cứu tạo ra hơn 200 loại màu mang phong cách riêng biệt Một số loại màu nổi tiếng từ lâu như màu Walnut, màu Ramsey mahogany,… Những màu này đã được một số nhà sản xuất khác sao chép và áp dụng vào sản xuất đại trà Đối với những màu khác, việc sao chép thật sự khó ngay cả khi có sản phẩm mẫu Vì bản chất của công đoạn làm màu giả cổ phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ màu đã được chú trọng nghiên cứu và bảo quản kĩ lưỡng
3.1.1.4 Hoàn tất màu (Final Finishing)
- Hoàn tất màu là công đoạn sản phẩm được làm màu bổ sung Sản phẩm sau khi được làm màu cơ bản ở trạm làm màu giả cổ đã đạt được màu sắc yêu cầu Tuy nhiên, khi sản phẩm đến trạm cẩn đồng và các hoạ tiết khác, có thể xảy ra xây xát
- Hoàn tất màu bao gồm các công đoạn con như chà nhám chất keo bảo vệ bề mặt (Sealer), làm màu bổ sung, phun lớp hoá chất bảo vệ (topcoat), và đánh bóng
- Công đoạn hoàn tất màu tuy không làm thành màu sắc đặc trưng yêu cầu của sản phẩm, nhưng nó có ý nghĩa quyết định đến độ bền và độ đẹp của sản phẩm Ngoài ra, đây cũng là khâu hoàn tất việc giả cổ thông qua việc dùng một số hoá chất tô điểm lên một số vùng của sản phẩm (các cạnh, các phần có cẩn đồng,…)
Trang 35Hình 3.2: Hình mẫu sản phẩm sau công đoạn làm màu giả cổ và hoàn tất màu
3.1.1.5 Bọc nệm (Upholstery)
- Đối với dòng sản phẩm ghế, bọc nệm là một công đoạn quan trọng mang tính quyết định Kĩ thuật bọc nệm ra đời để phục vụ riêng cho dòng sản phẩm ghế Trong quá trình phát triển, kĩ thuật bọc nệm đang mở rộng phạm vi ứng dụng sang cả những chủng loại sản phẩm khác Xu hướng bọc nệm hầu như mới được phát triển trong vài năm trở lại đây nên ở thị trường nội địa chưa thấy xuất hiện nhiều sản phẩm của các công ty trong nước
- Sản phẩm của Theodore Alexander là những sản phẩm giả cổ Do đó, mục đích sử dụng không chỉ đơn thuần là sử dụng như một vật dụng, nó còn có mục đích khác là trang trí Sản phẩm ghế cũng được sản xuất dựa trên những mục đích sử dụng này Hai phong cách bọc
Trang 36nệm đã phát triển để đáp ứng những yêu cầu của khách hàng Qui trình sản xuất cũng vì vậy
mà có một số công đoạn khác nhau
Hình 3.3: hình mẫu sản phẩm sau công đoạn bọc nệm
Trang 373.1.1.6 Đóng gói (Packing)
Đóng gói là công đoạn cuối cùng trong tất cả các qui trình sản xuất đồ gỗ, các dòng sàn phẩm Mục đích đóng gói gồm có:
o Bảo vệ sản phẩm giữ nguyên được trạng thái xuất xưởng khi đến tay người tiêu dùng
o Nâng cao giá trị thương hiệu qua những logo đính kèm
- Mặc dù chỉ tập trung vào công đoạn bọc nệm nhưng các nhà sản xuất này có thể cung cấp thiết kế khung và yêu cầu công nghệ màu phù hợp
- Sản phẩm loại này thường được sản xuất dựa vào đơn đặt hàng, tức chủ yếu là sản xuất kéo (pull production)
3.1.2.2 Sản phẩm được gia công làm màu bên ngoài, bọc nệm tại nhà máy
- Đây là sản phẩm thường thấy của Theodore Alexander
- Nắm bắt được các nhà cung cấp trong nước có đủ phương tiện và kĩ thuật để tạo thành các khung ghế, công ty đã đẩy mạnh việc đặt hàng ngoài đối với dòng sản phẩm này Chi phí đặt hàng ngoài rẻ hơn do chi phí nhân công của các nhà cung cấp trong nước thấp hơn
- Phương thức sản xuất này tận dụng được điểm mạnh của công ty là kĩ thuật bọc nệm được áp dụng độc lập và giá sản phẩm thấp Đây cũng là phương thức sản xuất chính đang áp dụng cho dòng sàn phẩm ghế tại công ty
3.1.2.3 Sản phẩm được gia công làm màu tại nhà máy từ chà nhám đến đóng gói
- Đây là một phương thức sàn xuất đặc biệt áp dụng cho những sản phẩm yêu cầu tinh xảo về màu sắc và đối với những qui trình màu mới Áp dụng phương thức này để bảo vệ công nghệ màu, không phải chuyển giao qui trình màu cho các nhà cung cấp
- Sau công đoạn làm màu, qui trình bọc nệm vẫn được áp dụng theo như hình thức sản xuất ở trên
Trang 383.2 Phân tích qui trình sản xuất sản phẩm ghế:
- Qui trình sản xuất sản phẩm ghế cũng mang đặc điểm của một qui trình sản xuất đồ gỗ thông thường Sản phẩm được qua các trạm gia công chính như:
o Mộc máy (Machinery)
o Lắp ráp (Carpentry)
o Chà nhám (Sanding)
o Làm màu giả cổ (Color Finishing & Final Finishing)
- Ngoài ra, do đặc điểm sản xuất riêng của công ty Theodore Alexander & của sản phẩm ghế,
có những đặc trưng riêng sau:
o Công đoạn gia công mộc máy và lắp ráp phần lớn được chuyển ra gia công ngoài
o Công đoạn sản xuất gia công chi tiết đồng và bọc nệm mang tính riêng biệt của sản phẩm ghế
3.3 Đánh giá vấn đề quản lý sản xuất tại các trạm gia công của sản phẩm ghế:
3.3.1 Trạm kiểm tra khung (Gián tiếp – Indirect labor)
- Công việc của trạm gia công này không yêu cầu kĩ thuật, do một nhóm công nhân chuyên kiểm tra chất lượng của sản phẩm thực hiện Khung ghế được nhận về và so sánh với hàng mẫu thiết kế trước khi qua các trạm gia công tiếp theo
- Nguồn lực của trạm gia công này là lao động và các thiết bị, dụng cụ hỗ trợ Không có vật liệu tiêu hao tại đây
- Việc quản lý không quá phức tạp nên về cơ bản trạm gia công này hoạt động khá hiệu quả, theo đúng qui trình và tiến độ Do bản chất công việc không yêu cầu kĩ thuật cao nên cũng không có nhiều phương án để cải thiện năng suất
3.3.2 Trạm chà nhám
- Trạm gia công chà nhám có yêu cầu một phần kinh nghiệm của người công nhân Do yêu cầu
kĩ thuật của sản phẩm sau chà nhàm rất khắt khe (đạt được độ mịn cần thiết, chỉnh sửa vóc dáng chi tiết chưa hoàn thiện ở công đoạn mộc máy, tạo nét giả cổ cơ bản ở hình dáng,…) nên qui trình luôn được giám sát sau từng công đoạn nhỏ
- Nguồn lực của trạm gia công này là lao động và các trang thiết bị hỗ trợ Các loại máy móc thiết bị, giấy nhám tại trạm gia công này được tính vào phần chi phí gián tiếp của hoạt động sản xuất kinh doanh
- Hai công đoạn chính ở trạm gia công này là: chà nhàm và giả cổ Năng suất của trạm gia công này ở mức trunh bìng Hiệu suất lao động trung bình trong 6 tháng từ tháng 3 đến tháng
Trang 399/2006 là 58% Nguyên nhân do điều kiện làm việc khắc nghiệt và sự thiếu chuẩn hoá qui trình sản xuất
- Năng xuất lao động trung bình trong 6 tháng từ tháng 3 đến tháng 9/2006 là 65%, hiệu quả sử dụng vật liệu là 81% Việc quản lý và điều độ ở trạm gia công này tương đối tốt Tuy nhiên
do tình hình sản xuất biến động và thay đổi liên tục trong thời gian gần đây làm ảnh hưởng đến hiệu suất lao động và hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu
- Nguồn lực của trạm gia công này gồm có lao động và các vật liệu trực tiếp Ngoài ra còn có trang thiết bị hỗ trợ sản xuất, máy phun, xịt hoá chất, máy may,…
- Năng suất lao động trung bình từ tháng 3 đến tháng 9/2006 là 40%, hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu là 55% Hai thông số này đánh giá tổng quát sự quản lý chưa hợp lý tại trạm gia công này
3.3.6 Trạm đóng gói
- Đây là trạm gia công chính góp phần bảo vể sản phẩm giữ nguyên chất lượng trong quá trình vận chuyển đến khách hàng ở châu Âu, châu Mỹ,… Đây cũng là trạm gia công được hình
Trang 40thành từ lâu ngay khi hình thành nhà máy Về nguyên tắc, đóng gói sản phẩm ghế cũng giống như đóng gói các sản phẩm bàn, tủ giường,…
- Nguồn lực tại trạm gia công này là lao động và nguyên vật liệu đóng gói, trang thiết bị hỗ trợ
- Năng suất lao động tại trạm đóng gói tương đối ổn định, trung bình từ tháng 3 đến tháng 9/2006 là 76% Hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu trung bình là 82%
3.3.7 Đánh giá chung:
- Các trạm gia công cho dòng sản phẩm ghế đều có năng suất lao động trung bình Điều này phản ánh tình trạng chung của cá nhà máy Ngoài ra, tại trạm gia công riêng cho dòng sản phẩm ghế Bọc nệm, năng suất và hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu rất thấp, phản ánh mô hình quản lý nguồn lực chưa hoàn chỉnh của trạm gia công này Việc này dẫn đến giá thành sản phẩm tăng cao làm giảm ưu thế cạnh tranh của dòng sản phẩm ghế
- Dòng sản phẩm ghế dựa vào đặc điểm riêng là được thiết kế theo bộ tiêu chuẩn nhất định về kích thước, chủng loại bên cạch những đặc thù nghệ thuật đa dạng Chính điều này làm cho
sự khác biệt vế cấu trúc của các loại ghế là không quá lớn Đặc điểm này của sản phẩm ghế tạo điều kiện cho việc nghiên cứu thời gian, thiết lập chuẩn sản xuất và xây dựng BOM không quá phức tạp như với các dòng sản phẩm đồ gỗ khác