Lipid của huyết tương [16,17] Lipid của huyết tương không tồn tại ở dạng tự do, ngoài một lượng nhỏ acid béo tự do, diglycerid, triglycerid, cholesterol thì lipid của huyết tương kết hợ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
LÊ THANH HẢI
NGHIÊN CỨU THU HỒI PROTEIN MÁU CÁ TỪ QUÁ TRÌNH CHẾ BIẾN CÁ TRA
Chuyên ngành : Khoa học và công nghệ thực phẩm Mã số ngành : 2 -11- 00
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 08 NĂM 2006
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS TRẦN BÍCH LAM
Cán bộ chấm nhận xét 1 : PGS TS ĐỒNG THỊ THANH THU
Cán bộ chấm nhận xét 2 : TS LẠI MAI HƯƠNG
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại
HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Ngày 02 tháng 08 năm 2006
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Tp HCM, ngày 02 tháng 08 năm 2006
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên : LÊ THANH HẢI Phái: Nam
Ngày, tháng, năm sinh : 23/11/1979 Nơi sinh: Bình Định Chuyên ngành : Khoa học và công nghệ thực phẩm MSHV: 01104284
I TÊN ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU THU HỒI PROTEIN MÁU CÁ TỪ QUÁ TRÌNH
CHẾ BIẾN CÁ TRA
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Khảo sát hiện trạng thải bỏ máu cá
Nghiên cứu phương pháp thu hồi protein từ máu cá
Đề xuất giải pháp sử dụng phế liệu máu cá có hiệu quả
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 01/01/2006
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 10/07/2006
V HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS TRẦN BÍCH LAM
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM NGÀNH BỘ MÔN QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH Ngày 02 tháng 08 năm 2006
KHOA QUẢN LÝ NGÀNH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
∗ Cảm ơn MEï và GIA ĐÌNH đã cho con niềm tin và nghị lực
∗ Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô TS TRẦN BÍCH LAM đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ, động viên em trong thời gian thực hiện luận văn này
∗ Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô khoa Khoa học - Công nghệ thực phẩm đã truyền đạt và trang bị cho tôi những kiến thức quí báu trong hành trang vào đời
∗ Xin cảm ơn đến các Bạn K15 đã cùng giúp đỡ, động viên và sẽ chia với tôi những khó khăn, chuyên môn trong suốt khóa học
∗ Xin cảm ơn các Thầy, Cô bộ môn Công nghệ thực phẩm và các phòng thí nghiệm trực thuộc đã tạo điều kiện tốt cho tôi về cơ sở vật chất cùng với các điều kiện khác cho việc hoàn tất luận văn
∗ Xin cảm ơn cô Trần Thị Hồng Hạnh, chị Phan Thị Ngọc Tuyết, anh Nguyễn Văn Thơm, bạn Huỳnh Quang Phước, em Trịnh Hoài Đức, em Tuấn Anh… đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này
Chân thành cảm ơn
Trang 5TÓM TẮT
Cùng với sự gia tăng không ngừng sản lượng, các nhà máy chế biến cá cũng thải ra một lượng phế phụ liệu chiếm khoảng 50 – 60% khối lượng cá gồm đầu, xương, thịt vụn bám theo xương, da, mỡ, nội tạng và máu cá Xương, da và thịt vụn đến nay đã được tận dụng làm thức ăn chăn nuôi Riêng máu cá là một nguồn phế liệu giàu protein cũng có thể thu hồi làm thức ăn gia súc, làm phân hữu cơ, hoặc bổ sung dinh dưỡng cho môi trường nuôi cấy vi sinh vật nhưng cho đến nay tại các nhà máy chế biến, máu cá hoàn toàn thải bỏ theo đường nước thải nên gây ô nhiễm môi trường và không đảm bảo vệ sinh công nghiệp
Luận văn này sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu ban đầu về việc tách protein
từ máu cá tra thải bỏ từ ngành cơng nghiệp chế biến thủy sản Máu cá chiếm khoảng 1% thể trọng, protein chiếm 87% chất khơ Bước đầu nghiên cứu thu hồi protein từ dung dịch máu cá tra lỗng trong dịng thải cho thấy cĩ thể dùng phương pháp kết tủa protein bởi dung dịch đệm acetate 0,2M ; pH = 4 , tỉ lệ 1/27 so với dung dịch máu, kết hợp gia nhiệt ở 63 o C trong thời gian 56 phút, đạt hiệu suất thu hồi protein 91,47%
Trang 6ABSTRACT
Together with the ever-increasing of processing output, the fishery manufactories eliminated a large amount of fishery waste estimating 50 – 60% of the weight of fish consisting of bone, waste meat, skin, fat, internal organs and blood Bone, skin and fragmented meat are in use as cattle-poultry feed Fish blood is fishery waste abundant in protein available for producing cattle-poultry feed, organic fertilizer, or constituent in culture media for microorganism but up to now it has completely eliminated out along with waste water, which has polutted surrounding environment
This thesis reports initial results of the research on protein extraction from waste blood solution in the catfish (Pangasius hypothalmus) processing industry There is about 1% of blood on the weight of fish and 87% protein in the dry matter The first step investigation of protein precipitation on the waste blood solution shows that we can get the productivity approximately 91.47% by the optimal experimental research method of protein precipitation with the acetate buffer solution 0.2M (pH = 4) at the rate of buffer/blood of 1/27, combined with the heating
at 63 o C within 56 minutes
Trang 7MỤC LỤC
Mở đầu 1
Chương 1: Tổng quan tài liệu 1.1 Nguyên liệu cá tra 5
1.1.1 Phân loại 7
1.1.2 Đặc điểm sinh học 7
1.1.2.1 Điều kiện sinh thái 7
1.1.2.2 Hệ vi sinh vật trong cá tra 8
1.1.2.3 Mùa vụ sinh sản 8
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng 9
1.1.4 Sản lượng, giá trị kinh tế và hiện trạng sử dụng cá tra 11
1.1.4.1 Sản lượng 11
1.1.4.2 Giá trị kinh tế 12
1.2 Lý thuyết máu động vật 14
1.2.1 Chức năng chung của máu 14
1.2.2 Các tính chất của máu động vật 15
1.2.3 Thu gôm, phân đoạn máu 15
1.3 Thành phần hoá sinh của máu 16
1.3.1 Hệ thống protein của máu 16
1.3.2 Lipid của huyết tương 18
1.3.3 Gluxit của huyết tương 19
1.3.4 Các chất điện giải và vitamin 19
1.3.5 Hồng cầu 20
1.4 Một số vấn đề thường gặp ở máu cá 24
1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thành phần và chất lượng của máu cá 24
1.6 Hiện tượng đông máu 24
1.7 Khả năng thu nhận protein từ dung dịch 26
1.7.1 Tính chất hòa tan của protein 26
1.7.2 Các phương pháp thu nhận protein từ dung dịch 27
1.7.2.1 Phương pháp kết tủa protein 27
1.7.2.2 Phương pháp siêu lọc 34
1.7.2.3 Phương pháp hấp phụ bằng polymer 34
Chương 2: Nguyên liệu và phương pháp 2.1 Nguyên liệu và thiết bị 36
2.1.1 Máu cá tra 36
2.1.2 Thiết bị 36
2.2 Phương pháp nghiên cứu 37
Trang 82.2.1 Sơ đồ tiến trình nghiên cứu 37
2.2.2 Thuyết minh qui trình nghiên cứu 38
2.2.2.1 Khảo sát tính chất máu cá 38
2.2.2.2 Ngiên cứu quá trình kết tủa protein máu cá 38
2.2.2.3 Tối ưu hoá quá trình kết tủa protein máu cá 43
2.2.2.4 Thu nhận chế phẩm protein 45
2.2.3 Sơ đồ khảo sát quá trình kết tủa 45
2.3 Phương pháp phân tích 45
2.3.1 Phân tích hàm lượng nitơ tổng và protein tổng 45
2.3.2 Phân tích hàm lượng chất khô 46
2.3.3 Phân tích hàm lượng tro tổng 46
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 47
2.4.1 Xác định khối lượng chất khô ở quá trình kết tủa protein 47
2.4.2 Xác định hiệu suất thu hồi chất khô 47
2.4.3 Xác định hiệu suất thu hồi protein 48
2.5 Phương pháp tối ưu hoá bằng qui hoạch thực nghiệm 48
Chương 3: Kết quả và bàn luận 3.1 Hiện trạng xử lý và khả năng thu nhận chế phẩm từ máu cá tra 51
3.1.1 Xác định tỉ lệ thu hồi máu từ nguyên liệu 51
3.1.2 Qui trình chế biến cá fillet đông lạnh 52
3.1.3 Khả năng thu nhận chế phẩm 56
3.2 Khảo sát tính chất nguồn nguyên liệu 63
3.3 Nghiên cứu quá trình kết tủa protein 63
3.3.1 Khảo sát quá trình kết tủa protein bằng nhiệt độ 64
3.3.2 Khảo sát quá trình tủa protein bằng pH ở đệm Axetat và xitrat 65
3.3.3 Ảnh hưởng đồng thời của pH và nhiệt độ 69
3.3.4 Khảo sát ảnh hưởng của tỉ lệ thể tích dung dịch đệm axetat 73
3.3.5 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian 76
3.4 Tối ưu hóa quá trình tủa protein từ dịch máu thải 78
3.5 Đề xuất hướng ứng dụng chế phẩm 82
3.5 Sơ bộ tính toán chi phí kết tủa dịch máu thải 83
Chương 4: Kết luận và kiến nghị 4.1 Kết luận 86
4.2 Kiến nghị 87
Tài liệu tham khảo 88
Phụ lục 90
Trang 9DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
PTHQ : Phương trình hồi qui
STTTN : Số thứ tự thí nghiệm
TYT : Thực nghiệm yếu tố toàn phần
W/W : Khối lượng theo khối lượng
V/V : Thể tích theo thể tích
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các loài thuộc giống cá tra ở Việt Nam .6
Bảng 1.2: Thành phần thức ăn trong dạ dày cá tra đánh bắt ngoài tự nhiên 7
Bảng 1.3: Phần trăm khối lượng các phần khác nhau của cá tra .10
Bảng 1.4: Thành phần hóa học của fillet cá tra 10
Bảng 1.5: Thành phần acid amin không thay thế của cá tra và một số nguồn protein khác 10
Bảng 1.6: Hiện trạng nuôi cá tra, ba sa 11
Bảng 2.1: Thành phần hai hệ đệm Axetat và Xitrat 39
Bảng 2.2 Công thức pha chế hai hệ đệm Axetat và Xitrat 40
Bảng 2.3 Bố trí thí nghiệm ảnh hưởng thể tích dung dịch đệm 42
Bảng 2.4 Thí nghiệm leo dốc theo điều kiện tối ưu 44
Bảng 3.1: Hàm lượng máu cá tra 51
Bảng 3.2: Hiện trạng thải bỏ máu cá ở một số nhà máy chế biến thủy sản 56
Bảng 3.3: Một số nhà máy chế biến máu gia súc, gia cầm ở châu Âu 57
Bảng 3.4 Các đặc trưng hóa lý của nguyên liệu 63
Bảng 3.5 Kết quả tủa protein bằng nhiệt độ 64
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của pH đến quá trình kết tủa protein từ dung dịch máu cá tra (khảo sát trên hệ đệm xitrat) 65
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của pH đến quá trình kết tủa protein từ dung dịch máu cá tra (khảo sát trên hệ đệm axetat) 66
Bảng 3.8 Hiệu suất kết tủa chất khô theo pH và hệ đệm xitrat và axetat 68
Bảng 3.9 Hiệu suất kết tủa protein theo pH và hệ đệm xitrat và axetat 68
Bảng 3.10: Hiệu suất kết tủa protein ở 500C 69
Bảng 3.11: Hiệu suất kết tủa protein ở 550C 70
Trang 11Bảng 3.12: Hiệu suất kết tủa protein ở 580C 70
Bảng 3.13: Hiệu suất kết tủa protein ở 620C 71
Bảng 3.14: Hiệu suất kết tủa protein ở 650C 72
Bảng 3.15: Kết quả khảo sát tỉ lệ thể tích dung dịch đệm đến hiệu suất thu hồi protein 73
Bảng 3.16: Giá trị pH của hỗn hợp dung dịch ở trước và sau khi kết tủa 75
Bảng 3.17: Hiệu suất thu hồi thay đổi theo thời gian kết tủa 76
Bảng 3.18: Kết quả thí nghiệm theo thực nghiệm TYT 23 79
Bảng 3.19: Ma trận quy hoạch với biến ảo thực nghiệm TYT 23 79
Bảng 3.20: Kết quả thực nghiệm tối ưu hóa theo đường lên dốc 81
Bảng 3.21: Bảng ước tính sơ bộ chi phí kết tủa thu hồi chất khô và protein thô từ 1.000 lít dịch thải máu cá 83
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Hình thái ngoài của cá tra 5
Hình 1.2: Tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa trong năm 2000 – 2004 13
Hình 1.3: Doanh nghiệp xuất khẩu và nước nhập khẩu cá tra 13
Hình 1.4: Sơ đồ phân đoạn máu 16
Hình 1.5: Hồng cầu máu cá 20
Hình 1.6: Cấu trúc không gian tổng thể bốn mạch của hemoglobin 22
Hình 1.7: Nhóm hem 23
Hình 3.1: Sơ đồ qui trình chế biến cá fillet và công đoạn thải máu cá 53
Hình 3.2: Hình ảnh trong công đoạn chọc huyết cá 54
Hình 3.3: Hình ảnh bồn rửa máu cá 54
Hình 3.4: Hình ảnh tháo nước thải qua cống rãnh 54
Hình 3.5: Qui trình thu hồi máu gia súc, gia cầm ở nhà máy 59
Hình 3.6: Qui trình thu hồi và tận dụng máu cá 62
Hình 3.7: Ảnh hưởng của nhiệt độ theo thời gian đến hiệu suất tủa máu cá 64
Hình 3.8: Biểu đồ so sánh hiệu suất của quá trình kết tủa ở 500C 69
Hình 3.9: Biểu đồ so sánh hiệu suất của quá trình kết tủa ở 550C 70
Hình 3.10: Biểu đồ so sánh hiệu suất của quá trình kết tủa ở 580C 71
Hình 3.11: Biểu đồ so sánh hiệu suất của quá trình kết tủa ở 620C 71
Hình 3.12: Biểu đồ hiệu suất của quá trình kết tủa ở 650C 72
Hình 3.13: Biểu đồ biến thiên hiệu suất tủa protein theo thể tích đệm 74
Hình 3.14: Biểu đồ hiệu suất tủa protein thay đổi theo thời gian 77
Hình 3.15: Đồ thị tối ưu hóa hiệu suất tủa protein máu cá 82
Trang 13Mở đầu
Nghề nuôi cá da trơn ở nước ta bắt đầu khởi sắc từ năm 1993 với sản lượng
lên tới hàng chục nghìn tấn/năm với hai loài chính là cá basa còn gọi là cá bụng,
tên khoa học là Pangasius pangasius (Hamilton); Pangasius bocourti (Sauvage) và
cá tra Pangasius micronemus hoặc Pangasius hypophthalmus Cá tra là một loài cá
đặc sản của vùng sông Mekong Sản lượng nuôi đã đạt 300.000 tấn vào năm 2005
và ước tính có thể đạt 400.000 tấn trong năm 2006 Sản phẩm chủ yếu là fillet đông
lạnh, sản lượng xuất khẩu chiếm 80%, tiêu thụ nội địa chỉ 20%
Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng không ngừng sản lượng chế biến, các nhà
máy cũng thải ra một lượng phế phụ liệu chiếm khoảng 50 – 60% khối lượng cá
gồm đầu, xương, thịt vụn bám theo xương, da, mỡ, nội tạng và máu cá Xương, da
và thịt vụn đến nay đã được tận dụng làm thức ăn chăn nuôi Riêng máu cá là một
nguồn phế liệu giàu protein cũng có thể thu hồi làm thức ăn gia súc, làm phân hữu
cơ, hoặc bổ sung dinh dưỡng cho môi trường nuôi cấy vi sinh vật nhưng cho đến nay
tại các nhà máy chế biến, máu cá hoàn toàn thải bỏ theo đường nước thải nên gây
ô nhiễm môi trường và không đảm bảo vệ sinh công nghiệp
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu thu hồi
và tận dụng phế liệu máu cá tra ”
Mục tiêu của đề tài là: Thu hồi và tận dụng protein máu cá chống ô nhiễm môi
trường
Nội dung nghiên cứu gồm:
- Khảo sát hiện trạng thải bỏ máu cá tại nhà máy chế biến
- Nghiên cứu phương pháp thu hồi protein từ máu cá
- Đề xuất giải pháp sử dụng hiệu quả protein từ máu cá
Trang 14Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 151.1 NGUYÊN LIỆU CÁ TRA
1.1.1 Phân loại [4]
Hình 1.1 Pangasius hypophthalmus (Sauvage, 1878)
Họ cá tra (Pangasiidae) bao gồm một số loài cá có kích thước lớn, phân bố
khá rộng từ Tây Nam Á đến Đông Nam Á Họ cá tra hiện nay có 2 giống:
Pangasius (gồm 15 loài) và Helicophagus (có 2 loài được phát hiện)
Cá tra có tên tiếng Anh là Shutchi catfish và tên khoa học là Pangasius
hypophthalmus (Sauvage, 1878) trước đây còn gọi là Pangasius shutchi, hay
Pangasius micronemus, được tìm thấy đầu tiên ở các nước: Thái lan, Cam-pu-chia,
Việt Nam, Philipinnes, Singapore Cá tra được xếp vào nhóm cá da trơn và được
phân loại theo hệ thống (theo tác giả Trần Thanh Tòng) :
Ngành Có dây sống hoàn chỉnh Chordata
Trang 16Ngành phụ Có xương sống Vertebrata
Lớp phụ Cá vây tia Actinopterygii
Tổng bộ Cá toàn xương Teleostei
Theo Tyson Roborts và Cha valit Vidthayamon (1991) có khoảng 20 loài trong
giống cá tra được tìm thấy ở Châu Á Riêng ở Việt Nam có 9 loài thuộc giống cá
này (Mai Đinh Yên, 1992):
Bảng1.1: Các loài thuộc giống cá tra ở Việt Nam
Tên khoa học Tên địa phương
Trang 171.1.2 Đặc điểm sinh học
1.1.2.1 Điều kiện sinh thái [6]
Trong tự nhiên, cá tra sống tập trung nhiều nhất ở lưu vực sông Mê Kông
(Thái Lan, Cam-pu-chia, Lào và Việt Nam) Ở nước ta, nghề nuôi cá tra đã khởi
đầu từ những năm 60 và cho đến nay, cá tra đã trở thành loài cá nuôi truyền thống
trong ao hồ của người dân ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó đầu mối
là 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp với sản lượng cá tra nuôi rất lớn, từ đây cá sẽ
được vận chuyển và phân phối đến các tỉnh khác
Cá tra có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng hay nước luân
chuyển trong bè nuôi, hàm lượng oxy hòa tan từ 3.5 - 6.5mg/l, pH môi trường
khoảng 6.5 - 7.5 ở nhiệt độ 22 - 26oC Cá tra được biết đến là loài cá ăn tạp Trong
tự nhiên, cá tra ăn được mùn bã hữu cơ, rễ cây thủy sinh, rau quả, các loài cá tạp
nhỏ, tôm tép, cua, và các loại côn trùng có sẵn trong môi trường sống
Bảng1.2: Thành phần thức ăn tìm thấy trong dạ dày cá tra đánh bắt ngoài tự
trường nghèo dinh dưỡng và sinh trưởng bình thường Điều này đã mang lại nhiều
thuận lợi cho người dân khi nuôi, vì ngoài các loại thức ăn có sẵn trong ao, người
nuôi chỉ cần bổ sung thêm một lượng nhỏ các loại thức ăn được chế biến từ các
Trang 18nguồn phụ phẩm nông nghiệp như các loài cá tạp, tấm, cám, rau muống, các dạng
thức ăn viên nhưng có thể đạt năng suất cao trong khoảng thời gian ngắn
1.1.2.2 Hệ vi sinh vật trong cá tra [15]
Cũng giống như cá basa, cá tra khi còn sống ngoài da có một lớp nhớt và là
môi trường sinh sống tốt cho vi sinh vật Số lượng vi sinh vật trên da cá từ 102 – 105
cfu/cm2 da cá Ở đây tồn tại các loại trực khuẩn sinh và không sinh nha bào như:
Pseudomonas fluorescen, Prorues vulgaris, Micrococcus soseus, E coli và một số
nấm mốc, nấm men sống trong nước
Trong mang cá có rất nhiều vi sinh vật, đa số là nhóm vi sinh vật hiếu khí:
Pseudomonas fluorescen Trong ruột cá cũng có nhiều vi sinh vật của nước, của đất
và từ thức ăn mang vào, thường thấy Clostridium sporogenes, Clostridium welchu,
Vibrio setique và nhóm E coli, số lượng vi sinh vật trong ruột cá khoảng 103 – 108
cfu/gam chất chứa trong ruột Lượng vi sinh vật trong mô cơ của cá tương đối ít:
Proteus vulgaris, Chromobacterium, E coli, Bacterium subtilis Lượng và thành
phần hệ vi sinh vật phụ thuộc vào điều kiện sống, số lượng vi sinh vật nhiễm vào
cá trong bảo quản và chế biến có vai trò rất quan trọng trong quá trình thối rữa
1.1.2.3 Mùa vụ sinh sản [4]
Cá tra không đẻ tự nhiên trong ao nuôi, cá tra cũng không có bãi đẻ ở Việt
Nam Đến mùa sinh sản, cá tra thường tập trung về Biển Hồ (Cam-pu-chia) là nơi
có điều kiện thích hợp để đẻ trứng, sau đó cá bột (trứng cá) theo dòng nước trôi về
Việt Nam, khi đó người dân mới vớt cá bột mang về thả nuôi trong ao, điều này
khiến chon người dân gặp khó khăn do lượng cá giống ít mà giá thành lại rất cao
Tuy nhiên, tháng 5 năm 1995, Việt Nam đã thành công trong việc cho sinh sản
nhân tạo để lai tạo giống cá tra, từ đó đáp ứng được nhu cầu về giống cho nghề
nuôi thương phẩm cũng như góp phần giảm chí phí mua cá giống cho người dân
Trang 19Cá tra thường được nuôi theo các hình thức thâm canh, bán thâm canh với các
mô hình như ao hầm hay nuôi bè:
Nuôi ao hầm: thường với mật độ khoảng 50 con/m2 Tuy nhiên do nước trong
ao bị tù đọng, không luân chuyển, lượng oxy thấp nên thịt cá có màu vàng
Nuôi bè: khoảng 80% cá tra, cá basa được nuôi bè (bè nhỏ cho sản lượng 30
- 40tấn/vụ, bè lớn khoảng 50 - 60tấn/vụ), mật độ cá nuôi bè khoảng 90 - 150
con/m2 .Ưu điểm của hình thức này là lượng nước luôn được thay đổi, hàm
lượng oxy hoà tan cao nên thịt cá có màu trắng
Ngoài ra, trong mấy năm gần đây đã phát triển mô hình nuôi cồn và nuôi
đăng quần cũng cho hiệu quả cao
Thông thường khoảng thời gian sinh sản của cá tra kéo dài từ tháng 2 đến
tháng 10 Với tốc độ sinh trưởng nhanh trong khoảng thời gian ngắn, chỉ sau một
chu kỳ nuôi 6 tháng, cá tra đã đạt kích thước thương phẩm từ 30 - 40cm với khối
lượng 1 – 1,2kg/con, khoảng thời gian tiếp theo cá tăng trưởng rất nhanh, có khi thu
hoạch được cá có chiều dài 90cm, nặng gần 25kg, thậm chí dài đến gần 1,5m và
nặng tới 44kg/con.[5]
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng
Không chỉ có ưu điểm là dễ nuôi, sinh trưởng với tốc độ nhanh mà cá tra còn
là một loài thủy sản có thể mang lại cho chúng ta nguồn dinh dưỡng dồi dào Đánh
giá thành phần dinh dưỡng ta thấy ít có sự khác nhau giữa các hình thức nuôi
Bảng1.3 Tỉ lệ về khối lượng các phần của cá tra trong chế biến [4]
Hình thức Fillet không Da Thịt Mỡ Nội Đầu xương,
Trang 20nuôi da bụng lá tạng vây, đuôi
Cá tra nuôi ao 40,1 5,15 11,21 2,94 5,84 34,61
Cá tra nuôi
Lipid (%)
Tro (%) Cá tra nuôi ao 71,80 16,00 10,03 1,35
Cá tra nuôi bè 72,63 16,04 8,07 1,62
Bảng1.5: So sánh thành phần acid amin không thay thế trong protein cá tra
với một số nguồn protein khác
Nguồn protein Acid amin
(%) Cá Tra Cá biển Thịt bò Sữa Trứng
1
4,2
5 2,9 5,2 8,2 4,5 9,3 1,1
4,4 7,6 4,3 7,2 10,2 5,3 8,1 1,6
5,5 8,1 3.3 7,1 8,4 5,4 6,8 1,9
Trang 211.1.4 Sản lượng, giá trị kinh tế và hiện trạng sử dụng cá tra [4,5]
1.1.4.1 Sản lượng
Hiện nay, ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, cá tra là một trong những
loài thủy sản có giá trị xuất khẩu cao nhất Trữ lượng của cá da trơn mà chủ yếu là
cá tra trong những năm 1997 - 2002 tăng lên rất nhanh ở các tỉnh Đồng bằng sông
Cửu Long
Tổng sản lượng nghề nuôi cá bè da trơn của năm 2004 là 45.000 – 50.000
tấn Cá tra thu hoạch quanh năm chỉ đến những tháng trái vụ như tháng giêng,
tháng 11 và tháng 12 thì hơi ít đi Lúc này trên thị trường giá cá tăng vọt có khi tới
60.000 đ/Kg Cá tra có trọng lượng tương đối lớn ( 0,7 – 2,5 Kg/con), có phần thịt
nằm tập trung hai bên thân, phần đầu xương lớn, đặc biệt phần máu không giống
như những loài cá khác Cá dùng cho fillet có trọng lượng 0,85 – 1,4 kg/con
Nguyên liệu cá tra đem về nhà máy có ưu điểm nổi bật là rất tươi (cá sống
100%), được fillet để xuất khẩu Trong nước, cá tra, cá basa được phân phối tại 2
điểm: Từ An Giang cá được đưa về Cần Thơ và Mỹ Tho bằng ghe; từ Mỹ Tho cá
được đưa tới TP.HCM và các tỉnh Miền Đông Từ Cần Thơ cá được cung cấp cho
các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long Nhìn chung mức tiêu thụ trong nước còn thấp
(khoảng 2.500 tấn/ năm)
Bảng 1.6 Hiện trạng nuôi cá tra, ba sa:
Tốc độ tăng trung bình/năm (%/năm)
A Diện
tích nuôi
1.290 2.253 2.305,5 2.717 3.200
24,6
Trang 221.1.4.2 Giá trị kinh tế [4,5]
Với sản lượng rất lớn mà lượng tiêu thụ trong nước chỉ chiếm khoảng 20%
tổng sản lượng, tức là gần 80% tổng sản lượng cá tra được xuất khẩu ra thị trường
Trang 23nước ngoài, mang lại cho ngành thủy sản nói riêng và cả nước nói chung nguồn lợi
nhuận rất lớn, điều này có thể nhận thấy qua biểu đồ thống kê sau:
Diễn biến sản lượng và giá trị xuất khẩu cá tra và ba sa
2000 - 10/2004
28.66 24.54
59.06
31.67 15.43
(Triệu USD)
Hình 1.2.Tình hình xuất khẩu cá tra, cá basa trong năm 2000 – 2004
Số lượng doanh nghiệp xuất khẩu và thị trường nhập khẩu cá
tra và ba sa, 2001 - 2004
60
35 36
(Số Nước)
Hình 1.3 Doanh nghiệp xuất khẩu và nước nhập khẩu
Trang 241.2 LÝ THUYẾT MÁU ĐỘNG VẬT
1.2.1 Chức năng chung của máu [16]
Máu là một loại mô liên kết đặc biệt với thành phần cơ bản bao gồm dịch lỏng là huyết tương và phần tế bào là hồng cầu Trong cơ thể, máu đảm nhận những chức năng chính sau:
Chức năng hô hấp: hemoglobin của hồng cầu và các chất kiềm của
huyết tương chuyên chở O2 và CO2 trao đổi giữa phế nang và các tổ chức tế bào
Chức năng dinh dưỡng : máu vận chuyển các chất dinh dưỡng
glucose, các acid amin, các acid béo, các vitamin, đến cung cấp
cho các tổ chức tế bào
Chức năng đào thải: máu lưu thông khắp cơ thể lấy những chất cặn
bã của chuyển hóa tế bào đưa đến các cơ quan bài tiết như thận,
phổi, tuyến mồ hôi, để thải ra ngoài cơ thể
Chức năng bảo vệ cơ thể: các loại bạch cầu của máu có khả năng
thực bào, khử độc, tiêu diệt vi khuẩn Trong máu có các kháng thể,
kháng độc tố, tham gia vào cơ chế bảo vệ cơ thể
Chức năng thống nhất và điều hòa hoạt động cơ thể: máu mang các
hormon, các loại khí O2 và CO2, các chất điện giải khác nhau, để điều hòa hoạt động các nhóm tế bào, các cơ quan khác nhau trong
cơ thể nhằm đảm bảo sự hoạt động đồng bộ của các cơ quan trong
cơ thể
Ngoài ra, máu còn có tác dụng điều hòa thân nhiệt một cách nhanh chóng làm cho các phần khác nhau trong cơ thể luôn có cùng một nhiệt độ tương đương
nhau
Trang 251.2.2 Các tính chất của máu động vật [21]
Cho đến nay vẫn chưa có một công bố nào rõ ràng về thành phần hóa học của
máu cá nói chung cũng như cá tra nói riêng Với những loài động vật khác nhau,
thậm chí cùng một loài nhưng khác nhau ở giai đoạn sinh trưởng, khác nhau về
giống thì tỷ lệ thành phần cấu tạo của máu sẽ khác nhau Tuy nhiên, một cách
tương đối, ta có thể xem thành phần cấu tạo của máu cá nói chung cũng như máu
cá tra nói riêng là gần giống với các động vật khác về những thành phần chính
Trong cơ thể động vật máu nóng, lượng máu chiếm khoảng 3 - 5% trọng
lượng, trong đó khoảng 35 - 45% là hồng cầu, phần còn lại là huyết tương Lượng
máu có thể có được hàng năm là rất lớn Trong máu có khoảng 10 - 17% protein,
tùy loại động vật, nên có thể coi máu cá là “ thịt lỏng”
Tính chất vật lý cơ bản của máu:
Tỷ trọng: Tỷ trọng toàn phần của máu là 1,05 - 1,06 Trong đó, tỷ trọng của
huyết tương là 1,03; tỷ trọng của huyết cầu là 1,1 Tỷ trọng thay đổi tùy theo
nồng độ của protein và huyết cầu trong máu
pH: giá trị pH của máu khoảng 7,39 cho thấy máu có tính kiềm yếu
Độ nhớt: độ nhớt của máu so với nước là 3,8/1 – 4,5/1; giá trị này phụ thuộc
vào nồng độ protein và số lượng huyết cầu
Áp suất thẩm thấu: áp suất thẩm thấu của máu gần bằng 7,5 atm, trong đó
phần lớn là do muối NaCl gây ra và một phần nhỏ là do các protein hòa tan
Áp suất thẩm thấu của máu quyết định sự phân phối nước trong cơ thể
1.2.3.Thu nhận phân đoạn máu [1]
Có thể cho máu đông rồi thu riêng từng phần: huyết thanh và phần cục đông
Thường thì có thể thu máu ở dạng không đông bằng cách khuấy cơ học hoặc dùng
chất chống đông như 1% natri citrat, acid citric, EDTA, hay acid lactic rồi sau đó
Trang 26tách riêng hồng cầu ra bằng ly tâm Phần này thường chiếm 30% - 45% trọng lượng
máu Phần dịch là huyết tương (Hình1.4) Độ bền của hồng cầu đối với quá trình tự
phân thường thay đổi theo loài
Huyết thanh Cục đơng
Hình 1.4 Sơ đồ phân đoạn máu 16
1.3 Thành phần hóa sinh của máu [1,20]
1.3.1 Hệ thống protein của máu
Protein huyết tương
Huyết tương là dịch lỏng có màu vàng Thành phần của huyết tương phức tạp
bao gồm: các protein, acid amin, glucid, lipid, muối, hormon, các chất men, các
kháng thể, các khí hòa tan và cũng chính những thành phần này tham gia vào nhiều
chức năng quan trọng của máu
Serumalbumin (albumin của huyết tương)
Serumalbumin là protein giàu nhất vì nó chiếm gần 60% tổng lượng protein của
huyết tương Phân tử này cấu trúc bởi một chuỗi peptit với 282 axit amin, trong đó
có 17 cầu disulfua và một nhóm – SH tự do
Trang 27Vai trò sinh học chủ yếu của serumalbumin là cố định bằng liên kết phi đồng
hóa trị thuận nghịch và không đặc hiệu và chuyển tải các phân tử nhỏ hữu cơ có
nguồn gốc nội sinh hoặc ngoại sinh (hoocmon, axit béo, vitamin, các chất thuốc như
kháng sinh) hoặc các chất khoáng
Nhóm globulin
Các protein này có thể tách khỏi các albumin một cách dễ dàng bằng cách kết
tủa chọn lọc với natri sulfat Trong nhóm này có các protein sau:
a Các α - globulin Trong phân nhóm này gồm có:
+ α 1 – globulin gồm có:
- Oromuxoit là glucoprotein axit có chứa 40% gluxit
- α1- antitripxin, là glucoprotein có chứa 12% gluxit và có tác dụng kìm hãm các
proteaza
- α1- foetoprotein có chứa 4,3% gluxit, cần thiết cho sự phát thiển của phôi
+ α 2 – globulin, gồm có:
- Haptoglobin
- α1 –macroglobulin, có chứa 8% gluxit
- Xeruleoplasmin, là chất chuyển tải 95% nguyên tố đồng của huyết tương
b Các β - globulin, trong nhóm này có transferin là chất vận tải sắt trong cơ thể, là
protein có chứa 6% gluxit
c Các γ - globulin, là những phức hợp glucoprotein mà phần chính là
immunoglobin Chúng là những kháng thể có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ
miễn dịch cho cơ thể
Fibrinogen
Fibrinogen là tiền chất của fibrin, là chất làm cho máu đông Phân tử này
rất lớn và phức tạp do ba kiểu mạch peptit Aα, Bβ và Bγ tạo nên và thường tồn
Trang 28tại dưới dạng dimer có phân tử lượng 340.000 dalton Khi đông máu, fibrinogen
tạo thành mạng fibrin không tan, dưới tác dụng của thrombin (là một proteaza
có trong máu dưới dạng tiền trombin không hoạt động)
1.3.2 Lipid của huyết tương [16,17]
Lipid của huyết tương không tồn tại ở dạng tự do, ngoài một lượng nhỏ acid
béo tự do, diglycerid, triglycerid, cholesterol thì lipid của huyết tương kết hợp với
các protein tạo thành hợp chất hòa tan lipoprotein Mỗi hợp phần của lipid huyết
tương đều giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động điều hòa của cơ thể:
Acid béo tự do: là nguyên liệu để tổng hợp lipid
Thể ceton: là nguồn cung cấp năng lượng cho tất cả các loại tế bào (trừ tế
bào thần kinh)
Cholesterol trong huyết tương: là nguyên liệu để tổng hợp nhiều chất quan
trọng như hormon của các tuyến thượng thận và tuyến sinh dục, thành phần
của mật
Chylomicron: là phân suất nặng nhất trong các lipoprotein huyết tương, có
vai trò vận chuyển lipid của thức ăn vào cơ thể qua hệ bạch huyết
α - lipoprotein: là phân suất nhẹ nhất, thành phần chủ yếu là protein chứa
đựng hầu hết lượng phospholipid của huyết tương, có chức năng vận chuyển
lipid từ các tổ chức về gan
Tiền - β - lipoprotein: là phân suất nặng thứ nhì trong các lipoprotein của
huyết tương, thành phần chủ yếu là triglycerid, có vai trò vận chuyển acid
béo tới các mô
β - lipoprotein: đây là phân suất được quan tâm nhiều vì có mối liên quan
đến các bệnh tim mạch, là phương tiện để vận chuyển chủ yếu của
cholesterol huyết tương và có thể vận chuyển carotene
Trang 291.3.3 Glucid của huyết tương[18]
Hầu hết lượng glucid của huyết tương tồn tại ở dạng glucose tự do hoặc những
chất chuyển hóa của nó (lactate) và một số glucoprotein Vai trò chủ yếu của
glucid huyết tương là dinh dưỡng vì đây là nguồn cung cấp năng lượng và nguyên
liệu để tổng hợp nhiều chất quan trọng của các tế bào, đặc biệt là các tế bào não
và tim
1.3.4 Các chất điện giải và vitamin
Các chất điện giải:
trong huyết tương chiếm 0,75% về khối lượng thường tồn tại dưới dạng ion
như: Na+, K+, Ca2+, Mg2+, Cl-, HCO3-, H2PO4-, HPO42-, ; mỗi một chất điện giải
trong huyết tương đều giữ một vai trò quan trọng khác nhau:
Na+: có tác dụng tạo áp suất thẩm thấu, quyết định sự phân phối nước ở bên
trong và bên ngoài tế bào cơ thể
K+: có tác dụng lớn trong quá trình hưng phấn thần kinh, co bóp của cơ, đặc
biệt là cơ tim
Ca2+: rất cần thiết cho cấu tạo xương, răng và đặc biệt cần cho quá trình
đông máu cũng như cho quá trình hưng phấn thần kinh
P: có tác dụng quan trọng trong việc giữ cân bằng điện giải trong hồng cầu
và điều hòa cân bằng aicd - kiềm
Và một số ion khác như: Zn2+ cần cho insulin, Cl- cần cho amylase, Fe cần
thiết cho quá trình tạo hồng cầu, I- cần để tạo hormon tuyến giáp
Vitamin: trong máu vitamin chủ yếu thuộc nhóm tan trong nước như Vitamin B,
PP, C, B12…Chúng có chức năng về mặt năng lượng khi tham gia chủ yếu trong các
Trang 30phản ứng oxy hóa khử, phân giải hợp chất hữu cơ, điều hoà quá trình trao đổi
chất,
1.3.5 Hồng cầu
Hồng cầu động vật máu nóng không có nhân, hình đĩa, lõm hai mặt Tế bào
hồng cầu có lớp màng bán thấm bao quanh, gồm 3 lớp: lớp ngoài cùng là
glucoprotein, lớp giữa là lipid và lớp trong cùng là những sợi vi thể, ống vi thể
calmodulin, protein gắn với hemoglobin Lớp màng này có tác dụng ngăn không
cho protein, lipid thấm qua Đối với các ion muối khoáng, tính thấm của màng cũng
không đồng đều: các ion H+, OH-, HCO3- và một số anion hữu cơ thì thấm qua dễ
dàng, các ion Na+, K+ thấm qua rất ít và chậm, Ca2+, Mg2+ hầu như không thấm qua
Tuy nhiên, hồng cầu máu cá [20]có sự khác biệt, so với động vật máu nóng,
chúng là những tế bào có nhân, hình thon dài, chóp ở hai mặt, đường kính hồng cầu
khoảng 6 - 9 µm
Hình 1.5 Hồng cầu máu cá có nhân
Thành phần hóa học chung của hồng cầu bao gồm:
H2O : 63.5%
Hemoglobin : 32 - 34%
Trang 31Lipid : 1%
Protein khác : 2%
Một lượng nhỏ glucid, vitamin, acid folic
Hemoglobin
Hemoglobin là protein hiện diện trong các tế bào hồng huyết cầu Tùy theo
mức độ tiến hóa của loài mà phân tử gồm một hoặc nhiều chuỗi polypeptit liên kết
với một nhân heme Một số loài cá ở nam cực, sống trong điều kiện lạnh giá thì
hồng cầu không có hemoglobin, điều này giúp chúng đảm bảo tính thích nghi trong
môi trường nước giá lạnh.[22]
Thành thành axit amin của các globin sẽ khác nhau tùy thuộc vào loài, các
giai đoạn của đời sống và một số trạng thái bệnh lý
Phân tử globin gồm một chuỗi peptit chứa 153 axit amin, trong đó 121 gốc
đường sắp xếp trong 8 vùng xoắn ốc (từ A đến H), nặng khoảng 16.000 dalton Xen
kẽ giữa các vùng này là những đoạn có cấu trúc không trật tự Trong phần cấu trúc
xoắn sắp xếp rất chặt, có một khoang mà thành của nó được tạo nên bởi các xoắn
EFC và vùng không xoắn giữa C và D Còn đáy của khoang là do các xoắn B, G
tạo nên
Trang 32Hình 1.6 Cấu trúc không gian tổng thể bốn mạch của hemoglobin [19]
Chẳng hạn, khi khảo sát các hemoglobin của người, chúng ta thấy
hemoglobin gồm hai chuỗi α và hai chuỗi β Chuỗi α có 141 gốc axit amin, không
có xoắn D, xoắn H thì ngắn và đầu tận cùng C thì không chứa 6 gốc axit amin,
xoắn H còn ngắn hơn trong chuỗi α
Khi liên hợp với heme thì bốn chuỗi được sắp xếp thế nào để giao điểm của
ba trục đối xứng của phân tử hemoglobin nằm ở chính giữa Bốn nhân heme nằm ở
bốn đỉnh của một tứ diện Các chuỗi α và β được liên kết với nhau rất chắc bằng
các liên kết hyđro và liên kết ion, còn giữa hai chuỗi giống nhau thì không có một
điểm tiếp xúc nào Điểm đặc biệt là nhân heme được vùi trong một khoang ưa béo
của globin và được bao quanh bằng nhiều gốc có cực Như vậy liên kết giữa heme
– globin chủ yếu là ưa béo
Nguyên tử Fe của heme hình thành nên một liên kết hướng thẳng góc với
mặt phẳng chứa heme và một đầu nối với nhân imidazol của histidin F8 ( đầu gần)
còn đầu kia thì nối với gốc histidil E7 ở rất xa ( đầu xa)
Trang 33Hình 1.7 : Nhóm Heme
Ái lực giữa hemoglobin với oxy bé hơn ái lực giữa oxy và mioglobin do đó
có sự chuyển oxy từ hemoglobin của máu đến mioglobin của cơ
Enzyme, sắc tố [1]
Sắc tố đỏ của máu do heme chứa nguyên tố sắt, trong quá trình xử lý nhiệt
màu của hemoglobin bị biến đổi do hiện tượng oxy hóa, có thể dùng axit ascocbic
làm chậm lại quá trình oxy hóa hemoglobin Cacbon oxyt hoặc nitrit giúp giữ màu
hemoglobin bền hơn tuy có hơi khác với màu của hemoglobin nguyên thủy
Hemoglobin đã được làm bền màu bởi nitro có thể dùng để nhuộm màu các sản
phẩm tương tự thịt từ protein thực vật dùng chế biến thịt nhân tạo
Ngoài ra, có thể làm thay đổi màu của máu bằng cách khuấy trộn với sữa đã
tách kem ở 95oC, có mặt CaCl2 trong 5 phút
Có thể khử màu của hemoglobin bằng cách chiết sắc tố heme ra khỏi globin
bằng phương pháp hóa học (axeton, axit hoặc nước dưỡng H2O2 nóng) hoặc bằng
phương pháp enzim Trong phương pháp enzim, người ta thường dùng alcalaza
chiết xuất từ Bacillus licheniformis để thủy phân globin thành các peptid hay acid
Trang 34amin và giải phóng ion Fe Các peptit chứa heme được tách ra bằng kết tủa và
bằng siêu lọc
1.4 Một số vấn đề thường gặp ở máu cá [15]
Vì máu cá cũng như các loại máu khác chứa nhiều thành phần có giá trị dinh
dưỡng cao như vi khoáng, amino acid, vitamin B, C …, protein, glucid, lipid nên rất
thuận lợi cho vi sinh vật phát triển như vi khuẩn Samonella, Bacillus, Clostridium,
E.coli, Coliform…nấm mốc, nấm men…do đó máu sẽ là môi trường truyền mầm
bệnh cho người và động vật Đồng thời vi sinh vật tiết enzyme phân hủy các hợp
chất hữu cơ có trong máu làm giảm giá trị dinh dưỡng và gây ôi máu, tạo ra các
mùi lạ gây khó chịu, ô nhiễm môi trường Nấm men và trực khuẩn đường ruột có
thể làm cho máu sủi bọt, làm thay đổi trạng thái và màu sắc của máu…
1.5 Một số yếu tố khác có ảnh hưởng đến thành phần, chất lượng máu cá [16]
Ngoài vi sinh vật, các điều kiện sinh hóa lý khác cũng ảnh hưởng đến thành
phần hóa học và tính chất của máu Máu sau khi ra khỏi cơ thể cá sẽ nhanh chống
bị đông tụ bởi nên sự can thiệp vào quá trình này bởi các yếu tố như nhiệt độ, ánh
sáng, hóa chất acid citric, acid lactic, EDTA… có thể ảnh hướng đến quá trình đông
máu Ion sắt trong máu ở dạng dễ hấp thu, nhưng khi tác dụng với gốc axit có thể
tạo muối không tan sẽ chuyển thành dạng không hấp thu Các yếu tố môi trường
như nhiệt độ, ánh sáng, hoặc enzyme vi sinh vật hay có sẵn trong máu sẽ nhanh
chóng oxy hóa máu thành CO2, NH3 và nước, làm thất thoát đáng kể thành phần
dinh dưỡng của máu
1.6 Hiện tượng đông máu [1,22]
Đông máu là hiện tượng thay đổi tính chất hóa lý của máu từ trạng thái lỏng
sang trạng thái “gel”, biểu hiện bằng sự tạo thành cục máu Sự chuyển trạng thái
này xảy ra bởi một quá trình biến đổi các protein trong máu dưới sự xúc tác của
Trang 35nhiều yếu tố khác nhau gọi là các chất gây đông máu (procoagulant), trong đó, ion
Ca2+ là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình đông máu
Trái ngược với hiện tượng đông máu là hiện tượng máu không đông và chất
gây ra hiện tượng này được gọi là chất chống đông máu (anticoagulant) Máu có
thể đông được hay không là tùy thuộc vào hoạt động của nhóm chất này Ở trạng
thái bình thường, các chất chống đông hoạt động mạnh hơn các chất gây đông máu
cho nên máu có thể lưu thông dễ dàng trong cơ thể Khoảng từ 5 đến 10 phút, ngay
sau khi mạch máu bị phá vỡ thì hiện tượng đông máu bắt đầu xảy ra và thời gian
đông máu kéo dài từ 20 đến 30 phút, bao gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: (hình thành enzyme prothrombinase)
Giai đoạn này xảy ra theo hai cơ chế: nội sinh và ngoại sinh Theo cơ chế nội
sinh, mạch máu bị tổn thương để lộ ra lớp collagel (mặt trong của mạch máu), khi
đó sự tiếp xúc của lớp collagel này với yếu tố Hageman trong máu sẽ dẫn đến
hàng loạt biến đổi và cuối cùng tạo thành phức hợp men prothrombinase
Giai đoạn 2: (tạo thrombin)
Sự có mặt của ion Ca2+ cùng với phức hợp men prothrombinase mới được tạo
thành sẽ hoạt hóa prothrombin và chuyển thành thrombin Đồng thời khi đó, yếu tố
ổn định fibrin, Fibrin Stabilizing Factor (FSF), cũng được hoạt hóa
Thrombin Prothrombin hoạt hóa
Fibrin Stabilizing Factor (FSF) Prothrombinase, Ca2+
Giai đoạn 3: (tạo fibrin)
Ion Ca2+ xúc tác cho enzyme thrombin (là protease) để thủy phân fibrinogen
tạo thành các monomer của fibrin và các fibrinopeptid (A và B) Ngay lập tức, các
Trang 36monomer của fibrin sẽ tự trùng hợp thành những phân tử Fibrin S là dạng hòa tan
Cuối cùng, yếu tố FSF đã được hoạt hóa sẽ làm cho mạng lưới Fibrin S chuyển
thành Fibrin I ổn định ở dạng không hòa tan, dẫn đến hiện tượng đông máu
Fibrinogen Thrombin, Ca2+ Fibrin S (FSF) đã hoạt hóa Fibrin I
(hòa tan) (không hòa tan)
1.7 Khả năng thu nhận protein từ dung dịch
1.7.1 Tính chất hòa tan của protein [1,3,9]
Quá trình hòa tan của phân tử protein trong nước được bắt đầu từ sự tiếp xúc
giữa các phân tử nước với phân tử protein Khi đó, các phân tử nước có độ phân cực
cao bị hấp phụ bởi các nhóm phân cực trên bề mặt phân tử protein Kế đến, sự
phân tán các phân tử protein trong môi trường nước sẽ góp phần làm tăng bề mặt
tiếp xúc liên pha, dẫn đến hình thành lớp vỏ hydrat bao quanh bề mặt phân tử
protein, kết quả làm hòa tan protein vào môi trường nước (bằng phương pháp
nhiễu xạ tia X, người ta đã xác định được lớp vỏ hydrat này là lớp nước đơn phân tử,
có bề dày khoảng 3Ao, đúng bằng kích thước của phân tử nước) Khi đó, trạng thái
hòa tan của các phân tử protein trong nước sẽ được duy trì bởi 2 yếu tố: độ bền của
lớp vỏ hydrat bao quanh bề mặt phân tử và khả năng tích điện cùng dấu của các
phân tử protein (tạo ra lực đẩy tĩnh điện giữa các phân tử)
Do vậy, yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến tính chất hòa tan của protein đó là cấu
tạo của phân tử protein Trật tự sắp xếp và tỉ lệ giữa các nhóm phân cực (nhóm ưa
nước) và các nhóm không phân cực (nhóm kỵ nước) trong phân tử protein sẽ đặc
trưng cho khả năng hòa tan của protein Cụ thể là với các nhóm như OH, SH,
-COOH, -NH2 , có tính ưa nước sẽ làm tăng độ hòa tan của protein trong nước,
trong khi đó các nhóm có tính kỵ nước như -CH3, -C2H5, -C3H7, sẽ làm giảm tính
Trang 37tan của protein đối với nước Các phân tử protein có cấu trúc không gian dạng sợi
như keratin, fibroin, miozin, tan kém trong nước, còn các phân tử protein dạng
hình cầu như albumin, myoglobin, hemoglobin, lại tan tốt trong nước
Ngoài ra, dưới tác dụng cộng hợp của các yếu tố môi trường như: pH, nhiệt độ,
nồng độ muối trung tính trong dung dịch, dung môi hữu cơ, khả năng hòa tan của
protein cũng sẽ bị thay đổi rất nhiều
1.7.2 Các phương pháp thu nhận protein từ dung dịch
Để thực hiện mục đích thu nhận chế phẩm protein từ các nguồn nguyên liệu
khác nhau, điều quan trọng nhất là lựa chọn được phương pháp thích hợp Về mặt
công nghệ, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm cũng như những mặt hạn chế
nhất định mà chúng ta sẽ căn cứ vào đó để quyết định là thực hiện phương pháp
nào Tóm lại, dù thực hiện với các phương pháp thu nhận protein khác nhau nhưng
cần đáp ứng một số điều kiện sau: tình hình sản xuất thực tế tại mỗi nhà máy, chi
phí đầu tư thiết bị, lượng hóa chất cần tiêu tốn, chi phí năng lượng và nhân công,
thời gian sản suất, hiệu suất thu hồi, và sản phẩm sau cùng có đem lại lợi nhuận
cho nhà sản xuất hay không, và cuối cùng là quá trình sản xuất có ảnh hưởng đến
môi trường tự nhiên hay không
Các phương pháp thường được áp dụng để thu nhận protein từ dung dịch bao
gồm phương pháp hóa học (pI, diêm tích, alcaloit, dung môi hữu cơ, muối kim loại
nặng, polymer hữu cơ, ) và phương pháp vật lý (siêu lọc, siêu âm, tia cực tím,
nhiệt độ, )
1.7.2.1 Phương pháp kết tủa protein [12,13]
Đây là phương pháp được ứng dụng nhiều nhất trong công nghiệp để thu nhận
các chế phẩm protein từ dung dịch Nguyên tắc của phương pháp này là dưới tác
Trang 38động của các yếu tố bên ngoài, tương tác giữa protein với nước, giữa protein với
protein và giữa protein với các thành phần khác bị thay đổi, dẫn đến hệ quả là
giảm khả năng hòa tan của phân tử protein trong dung dịch, dẫn đến sự tập hợp các
phân tử protein tạo thành khối tủa và tách ra khỏi dung dịch Tùy theo tác nhân gây
biến tính mà sự biến tính của phân tử protein được phân thành 2 dạng:
Biến tính thuận nghịch: là dạng biến tính thường gây ra những thay đổi bên
ngoài phân tử như: sự phá vỡ lớp vỏ hydrat trên bề mặt phân tử protein hay
điện tích của các phân tử bị trung hòa Bên cạnh đó, biến tính thuận nghịch
cũng có thể là những biến đổi về cấu trúc không gian của phân tử protein
mà nguyên nhân là do có sự phá hủy các liên kết trong phân tử Chủ yếu là
các liên kết yếu như liên kết ion, liên kết hydro, liên kết kỵ nứơc (liên kết
Van der Wals) bị phá hủy tương ứng với các cấu trúc bậc 4, bậc 3 bị thay đổi,
chuyển thành cấu trúc bậc 2, thậm chí cấu trúc bậc 2 cũng có thể bị làm thay
đổi một phần Nói chung, ở đây hầu như không có sự phân hủy các liên kết
bền trong phân tử, (tiêu biểu là liên kết cầu disulfua) Chính vì thế mà khi
tác nhân gây biến tính được loại ra khỏi môi trường thì các cấu trúc ban đầu
của phân tử protein có thể được phục hồi trở lại (thuận nghịch)
Biến tính không thuận nghịch: là dạng biến tính gây ra những biến đổi sâu
sắc, dẫn đến mất khả năng phục hồi trở lại cấu trúc ban đầu của phân tử
protein Khi đó, hầu hết các liên kết hóa học yếu trong phân tử và cả một số
liên kết mạnh như cầu disulfua cũng bị phá hủy, đầu tiên phân tử protein
duỗi mạch chuyển về dạng cấu trúc đơn giản (bậc 2 hoặc bậc 1), sau đó có
thể hình thành các liên kết mới Và trong trường hợp này, do mất đi các liên
kết bền ban đầu mà phân tử protein không còn khả năng phục hồi lại cấu
trúc tự nhiên ngay cả khi tác nhân gây biến tính được loại bỏ, điều này cũng
Trang 39đồng nghĩa với việc phân tử protein mất đi các các tính chất ban đầu Trên
cơ sở đó, phương pháp kết tủa gây biến tính không thuận nghịch được ứng
dụng rất nhiều để thu nhận protein với mục đích là giữ lại các giá trị dinh
dưỡng của chế phẩm
Tùy vào điều kiện cụ thể mà các tác nhân gây biến tính có thể được sử dụng
độc lập hoặc phối hợp với nhau sao cho quá trình thu nhận đạt được hiệu quả mong
muốn
Kết tủa bằng pH
Do tính chất phân ly lưỡng cực nên khi hòa tan trong dung dịch, ở một pH nhất
định, các phân tử protein chủ yếu tồn tại ở dạng ion lưỡng cực với các nhóm amin
bị proton hóa (nhận proton), còn các nhóm carboxyl bị phân ly (mất proton) Khi đó,
do tích điện cùng dấu nên giữa các phân tử protein có lực đẩy tĩnh điện Ngoài ra,
bề mặt các phân tử protein cũng được bao quanh bởi lớp vỏ hydrat, cho nên trạng
thái của dung dịch keo protein được duy trì
Bằng các tác nhân acid, base, các dung dịch đệm, ta có thể đưa pH của dung
dịch về giá trị mà tại đó điện tích của các phân tử protein bị trung hòa, khiến cho
lực đẩy tĩnh điện giữa các phân tử mất đi, đồng thời tương tác giữa phân tử protein
với các phân tử nước cũng giảm, dẫn đến lớp vỏ hydrat bao quanh bề mặt bị phá vỡ,
làm tăng tương tác giữa các phân tử protein, tạo điều kiện cho các phân tử tập hợp
với nhau hình thành kết tủa Ở đây, do không có sự thay đổi cấu trúc phân tử nên
sau khi loại tác nhân gây kết tủa ra khỏi dung dịch, protein có thể hòa tan trở lại
trong môi trường có pH thích hợp
Mặt khác, trong trường hợp pH của dung dịch thay đổi đến một giá trị quá cao
hay quá thấp thì biến tính không thuận nghịch có thể xảy ra Khi đó, điện tích các
nhóm phân cực mạnh bên của acid amin thay đổi, tạo ra lực đẩy tĩnh điện giữa các
Trang 40nhóm bị ion hóa nên làm giãn mạch các phân tử protein, xuất hiện các nhóm kỵ
nước trên bề mặt, tương tác giữa các protein chiếm ưu thế, kết quả là các phân tử
protein tiến lại gần nhau, làm xuất hiện kết tủa
Vì cơ chế kết tủa bằng pH có thê” mang tính thuận nghịch nên áp dụng để
tách hợp chất protein có hoạt tính sinh học ra khỏi hỗn hợp mà vẫn đảm bảo hoạt
tính và cấu trúc phân tử Tuy nhiên, thời gian tủa thường rất lâu, hiệu suất lại thấp
và chi phí cho hoá chất là không nhỏ nên hiệu quả kinh tế không cao
Kết tủa bằng nhiệt độ
Dưới tác dụng của nhiệt độ cao, các liên kết trong cấu trúc phân tử protein sẽ
bị phá hủy, các cấu trúc bậc 2, bậc 3 và bậc 4 bị giãn mạch, xuất hiện các nhóm kỵ
nước trên bề mặt phân tử protein, làm giảm tương tác giữa protein với nước nên
gây kết tủa protein Tất cả các trường hợp biến tính do nhiệt độ cao đều là biến
tính không thuận nghịch do khi đó các cầu disulfua hầu như bị phá hủy hòan toàn
Mỗi loại protein khác nhau sẽ có nhiệt độ biến tính khác nhau, cường độ và thời
gian xử lý nhiệt sẽ quyết định mức độ của các biến đổi, trong đa số các trường hợp
các protein bắt đầu bị biến tính ở nhiệt độ khoảng 45 - 50oC, nhiệt độ càng tăng, sự
biến tính càng sâu sắc
Bên cạnh đó các yếu tố như hoạt độ nước, pH của môi trường, hàm lượng
muối, bản chất và nồng độ của các chất khác cũng có ảnh hưởng nhất định Protein
khi bị gia nhiệt ở điểm đẳng điện sẽ kết tủa nhanh hơn, do đó người ta thường dùng
cách này để phân lập và tinh chế các protein từ lactoserum, máu hoặc huyết tương
Tuy nhiên, người ta cũng nhận thấy một số protein sẽ bị kết tủa ở nhiệt độ thấp
(trường hợp trứng, sữa) Điều này được giải thích là do các phân tử protein này có tỉ
lệ acid amin kỵ nước/acid amin háo nước cao nên nhiệt độ thấp làm giảm liên kết