Xuất phát từ điều này mà chưa thực sự có một hệ thống tiêu chí rõ ràng và đầy đủ để thực hiện việc đánh giá chất lượng thiết kế của 1 dự án, bên cạnh đó vấn đề khác nhau trong quan điểm
Trang 1Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
TÔ CÔNG NGUYÊN LÃM
XEM XÉT CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ CỦA DỰ ÁN CẦU ĐƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG
Mã số ngành : 60.58.90
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 12 năm 2010
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH Cán bộ hướng dẫn khoa học : T.S TRỊNH THÙY ANH
Cán bộ chấm nhận xét 1 : T.S PHẠM HỒNG LUÂN
Cán bộ chấm nhận xét 2 : T.S ĐINH CÔNG TỊNH
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại Học Bách Khoa, ĐHQG Tp.HCM
ngày 15 tháng 01 năm 2011
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Bộ môn quản lý chuyên nghành
sau khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV Bộ môn quản lý chuyên nghành
Trang 3- -oOo -
Tp HCM, ngày tháng năm
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ và tên học viên: TÔ CÔNG NGUYÊN LÃM Phái: Nam Ngày, tháng, năm sinh: 04/02/1985 Nơi sinh: Ninh Thuận Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG MSHV: 09080240 1- TÊN ĐỀ TÀI: XEM XÉT CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ CỦA DỰ ÁN CẦU ĐƯỜNG TẠI VIỆT NAM 2- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:
Xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng thiết kế của một dự án cầu đường, xem xét sự nhất quán trong việc nhìn nhận về vấn đề chất lượng thiết kế giữa tư vấn thiết kế (bên tạo ra sản phẩm) và chủ đầu tư (khách hàng)
3- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ :
4- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ :
5- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: T.S TRỊNH THÙY ANH
(Họ tên và chữ ký)
Trang 4Trong một khoảng thời gian ngắn với khối lượng công việc tương đối lớn thật không dễ dàng để hoàn thành Do vậy để thực hiện xong luận văn này thật sự rất cảm ơn tất cả mọi người: Sự nhiệt huyết tận tâm của các Thầy cô trong bộ môn thi công Trường Đại Học Bách Khoa TPHCM, sự tận tình của giáo viên hướng dẫn
Cô Trịnh Thùy Anh, Sự cảm thông của cơ quan công tác (Phân Viện Khoa Học Công Nghệ GTVT Phía Nam) đã tạo điều kiện về thời gian cũng như những thuận lợi để thực hiện đề tài, sự nhiệt tình giúp đỡ của các bạn những người đã giúp đỡ rất nhiều trong quá trình khảo sát Và đặc biệt nếu không có sự động viên của những người bạn thân thiết, những người đồng nghiệp tuyệt vời, những người thân yêu nhất thì có lẽ việc hoàn thành luận văn này là không thể Xin chân thành cảm
ơn tất cả! chúc mọi người thành công, hạnh phúc, sức khỏe trong cuộc sống
Trang 5Khi nói đến vấn đề chất lượng trong xây dựng thì chất lượng trong thi công thường được quan tâm đến nhiều nhất, vấn đề chất lượng trong thiết kế chưa thực sự được quan tâm nhiều Xuất phát từ điều này mà chưa thực sự có một hệ thống tiêu chí rõ ràng và đầy đủ để thực hiện việc đánh giá chất lượng thiết kế của 1 dự án, bên cạnh đó vấn đề khác nhau trong quan điểm nhìn nhận về chất lượng thiết kế giữa bên tạo ra sản phẩm (tư vấn thiết kế) và khách hàng (chủ đầu tư) cũng ảnh hưởng nhiều tới việc tạo thành một sản phẩm thiết kế tốt đáp ứng các yêu cầu đưa ra Bằng cách tiến hành khảo sát hai nhóm đối tượng tư vấn thiết kế và chủ đầu tư làm việc trong lĩnh vực cầu đường kết hợp với các tài liệu, quy định, nghiên cứu trước nghiên cứu này đã đưa ra được một hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng thiết
kế của một đồ án cầu đường Kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng có một số khác nhau cơ bản trong việc nhìn nhận về chất lượng thiết kế của 1 dự án giữa tư vấn thiết kế và chủ đầu tư Mô hình cấu trúc AHP được áp dụng để xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng thiết kế, kỹ thuật so sánh cặp trong phương pháp AHP được sử dụng để so sánh sắp hạng giữa các tiêu chí với nhau Với một
hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng thiết kế đã đưa ra sẽ giúp cho việc kiểm soát chất lượng được thực hiện tốt hơn trong giai đoạn triển khai dự án và có thể được sử dụng để kiểm tra đánh giá sau khi dự án đã hoàn thành, bên cạnh đó việc nhìn nhận được sự khác nhau trong quan điểm về chất lượng sẽ giúp cho các bên
có sự điều chỉnh phù hợp đồng thời có những biện pháp quản lý chất lượng để tạo
ra những sản phẩm thiết kế ngày càng tốt hơn
Trang 6In quality of construction project, quality of construction phase is usually attended very much while quality of construction design phase is opposite Therefore, there isn’t a clear, complete system to evaluate construction design quality of the project Besides, The difference in terms of perceptions of construction design quality between producer (design consultant) and client (owner) affect design product production very much By surveying two groups: design consultant and owner combine with literature review, The research has given a system of criteria
to evaluate construction design quality of a transport project The result of research show that there are some basic differences in perceptions of construction design quality between design consultant and owner AHP architecture model is applied
to build a system of criteria evaluating construction design quality, pair-wised technology in AHP method is applied to compare the ranking of criterias The system of criterias evaluating construction design quality help to controll quality
in ongoing project period and audit in post-project period Besides if we know the difference in terms of perceptions of quality, we will have adjustments suitably and quality management method to make design product better
Trang 7MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 3
DANH MỤC HÌNH VẼ 5
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 7
1.1 Giới thiệu chung 7
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu 7
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 9
1.4 Phạm vi nghiên cứu 10
1.5 Kết quả mong đợi 10
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 12
2.1 Thiết kế xây dựng 12
2.1.1 Sơ lược về thiết kế xây dựng 12
2.1.2 Nội dung thiết kế xây dựng công trình 12
2.1.3 Các bước thiết kế xây dựng công trình 13
2.2 Khái quát về chất lượng 14
2.2.1 Khái niệm chất lượng 14
2.2.2 Quản lý chất lượng 17
2.3 Khái quát về chất lượng trong xây dựng 17
2.3.1 Chất lượng sản phẩm xây dựng 17
2.3.2 Chất lượng Thiết kế trong xây dựng 19
2.4 Các nghiên cứu liên quan đã được công bố 27
2.5 Phương pháp định lượng AHP 30
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Quy trình nghiên cứu 32
3.2 Thu thập dữ liệu 33
3.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 33
3.2.2 Quy mô mẫu nghiên cứu 34
3.3 Các phương pháp, công cụ nghiên cứu 35
3.3.1 Công cụ nghiên cứu 35
3.3.2 Chương trình ứng dụng 52
Trang 8CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 55
4.1 Xác định sơ bộ các tiêu chí đánh giá chất lượng thiết kế bằng phỏng vấn 56
4.1.1 Câu hỏi phỏng vấn 56
4.1.2 Kết quả khảo sát các chuyên gia 56
4.2 Tổng hợp các tiêu chí đánh giá chất lượng 57
4.3 Mức độ quan trọng của các tiêu chí đánh giá chất lượng thiết kế 59
4.4 Cấu trúc AHP của chất lượng thiết kế 83
4.5 Trọng số, sắp hạng các tiêu chí đánh giá chất lượng thiết kế 87
4.6 Phân tích đánh giá sự nhất quán trong việc nhìn nhận về chất lượng thiết kế
giữa Tư vấn thiết kế và chủ đâu tư 103
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
PHỤ LỤC 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Dự toán chi phí ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản
Bảng 2.1: Các tiêu chí đánh giá chất lượng của một dự án thiết kế
Bảng 3.1: Thang đo 9 mức
Bảng 3.2: Bảng liên hệ kích thước ma trận và chỉ số ngẫu nhiên
Bảng 4.1: Các tiêu chí đánh giá chất lượng thiết kế
Bảng 4.2: Kết quả thu thập bảng câu hỏi khảo sát
Bảng 4.3: Kết quả thống kê vị trí công tác hiện tại của người trả lời
Bảng 4.4: Kết quả thống kê kinh nghiệm công tác của người trả lời
Bảng 4.5: Kết quả thống kê chức vụ hiện tại của người trả lời
Bảng 4.6: Kết quả thống kê loại hình dự án đang tham gia của người trả lời
Bảng 4.7: Kết quả thống kê các tiêu chí chất lượng đầu vào thiết kế
Bảng 4.8: Kết quả thống kê các tiêu chí chất lượng quá trình thực hiện thiết kế Bảng 4.9: Kết quả thống kê các tiêu chí chất lượng đầu ra thiết kế
Bảng 4.10: Kết quả thống kê bảng câu hỏi khảo sát phản hồi
Bảng 4.11: Kinh nghiệm của chuyên gia
Bảng 4.12: Kiểm tra tính nhất quán nhóm tiêu chí “Chất lượng đầu vào thiết kế” Bảng 4.13: Kiểm tra tính nhất quán nhóm tiêu chí “Tư vấn thiết kế”
Bảng 4.14: Kiểm tra tính nhất quán nhóm tiêu chí “Số liệu, căn cứ thiết kế”
Bảng 4.15: Kiểm tra tính nhất quán nhóm tiêu chí “Chủ đầu tư”
Bảng 4.16: Kiểm tra tính nhất quán nhóm tiêu chí “Quá trình thực hiện tk”
Bảng 4.17: Kiểm tra tính nhất quán nhóm tiêu chí “Chất lượng đầu ra sản phẩm thiết
kế”
Bảng 4.18: Kiểm tra tính nhất quán nhóm tiêu chí “Yêu cầu chung”
Bảng 4.19: Kiểm tra tính nhất quán nhóm tiêu chí “Quá trình thi công”
Bảng 4.20: Kiểm tra tính nhất quán nhóm tiêu chí “Hình thức hồ sơ”
Bảng 4.21: Tổng sắp hạng nhóm tiêu chí “Tư vấn thiết kế”
Bảng 4.22: Kiểm tra tính nhất quán của nhóm tiêu chí “Tư vấn thiết kế”
Bảng 4.23: Trọng số trung bình của nhóm tiêu chí “Chất lượng đầu vào thiết kế (D)” Bảng 4.24: Trọng số trung bình của nhóm tiêu chí “Tư vấn thiết kế”
Bảng 4.25: Trọng số trung bình của nhóm tiêu chí “Số liệu, căn cứ thiết kế (D2)” Bảng 4.26: Trọng số trung bình của nhóm tiêu chí “Chủ đầu tư (D3)”
Bảng 4.27: Trọng số, sắp hạng các tiêu chí thuộc mục tiêu chất lượng “Chất lượng
đầu vào thiết kế (D)”
Bảng 4.28: Trọng số, sắp hạng các tiêu chí thuộc mục tiêu chất lượng “ Quá trình
Bảng P.2: Bảng tổng hợp hệ số nhất quán CR của các nhóm tiêu chí
Bảng P.3: Bảng tổng hợp kiểm tra tính nhất quán giữa các chuyên gia
Bảng P.4: Trọng số các tiêu chí thuộc nhóm “Quá trình thiết kế” của Tư vấn thiết
Trang 10Bảng P.9: Trọng số các tiêu chí thuộc nhóm “Chất lượng đầu vào thiết kế” của chủ
đầu tư
Bảng P.10: Trọng số, sắp hạng tiêu chí “Tư vấn thiết kế” của chủ đầu tư
Bảng P.11: Trọng số, sắp hạng tiêu chí “Số liệu, căn cứ thiết kế” của Chủ đầu tư Bảng P.12: Trọng số, sắp hạng tiêu chí “Chủ đầu tư” của Chủ đầu tư
Bảng P.13: Trọng số, sắp hạng tiêu chí “Quá trình thiết kế” của Chủ đầu tư
Bảng P.14: Trọng số các tiêu chí thuộc nhóm “Chất lượng đầu ra thiết kế” của Chủ
đầu tư
Bảng P.15: Trọng số, sắp hạng tiêu chí “Yêu cầu chung” của Chủ đầu tư
Bảng P.16: Trọng số, sắp hạng tiêu chí “Quá trình thi công” của Chủ đầu tư
Bảng P.17: Trọng số, sắp hạng tiêu chí “Hình thức hồ sơ” của Chủ đầu tư
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Đường cong tác động chi phí theo các giai đoạn trong xây dựng
Hình 2.1: Hệ thống của một dự án thiết kế kỹ thuật
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
Hình 3.2: Quy trình thiết kế bảng câu hỏi
Hình 3.3: Tiến trình thực hiện khi sử dụng phương pháp AHP
Hình 4.1: Quá trình tư duy thông kê
Hình 4.2: Vị trí công tác hiện tại của người trả lời
Hình 4.3: Kinh nghiệm công tác của người trả lời
Hình 4.4: Chức vụ của người trả lời
Hình 4.5: Loại hình dự án đang tham gia của người trả lời
Hình 4.6: Tiêu chí “Năng lực của đội ngũ nhân viên trực tiếp thiết kế”
Hình 4.7: Tiêu chí “Năng lực của giám đốc dự án thiết kế”
Hình 4.8: Tiêu chí “Tài liệu, chương trình, phần mềm và các trang thiết bị khác phục
vụ quá trình thiết kế”
Hình 4.9: Tiêu chí “Kinh nghiệm công ty tư vấn thiêt kế”
Hình 4.10: Tiêu chí “Năng lực của đội ngũ nhân viên khác không trực tiếp tham gia
thiết kế”
Hình 4.11: Tiêu chí “Tính chính xác của các số liệu khảo sát địa chất, thủy văn, địa
hình, lưu lượng giao thông…”
Hình 4.12: Tiêu chí “Tính đầy đủ, hoàn thiện của tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng” Hình 4.13: Tiêu chí “Tính phù hợp, chính xác của bước thiết kế trước”
Hình 4.14: Tiêu chí “Tính chính xác, rõ ràng của các yêu cầu mà chủ đầu tư đưa ra” Hình 4.15: Tiêu chí “Sự tuân thủ theo các quy định liên quan đến quản lý chất lượng
công trình của chủ đầu tư”
Hình 4.16: Tiêu chí “Kinh nghiệm của chủ đầu tư”
Hình 4.17: Tiêu chí “Sự hiệu quả của hệ thống kiểm soát chất lượng sản phẩm thiết
kế”
Hình 4.18: Tiêu chí “Khả năng làm việc nhóm, hợp tác giữa các thành viên thiết kế” Hình 4.19: Tiêu chí “Khả năng quản lý,điều hành của giám đốc dự án tư vấn thiết kế” Hình 4.20: Tiêu chí “Khả năng điều hành, quản lý dự án của chủ đầu tư”
Hình 4.21: Tiêu chí “Đảm bảo an toàn công trình khi khai thác”
Hình 4.22: Tiêu chí “Tính hợp lý của giải pháp kết cấu”
Hình 4.23: Tiêu chí “Phù hợp với các tiêu chuẩn, quy trình hiện hành”
Hình 4.24: Tiêu chí “Phù hợp với quy mô, với bước thiết kế trước”
Hình 4.25: Tiêu chí “Tính thẩm mỹ, công năng sử dụng được đảm bảo”
Hình 4.26: Tiêu chí “Đảm bảo không vượt kinh phí được duyệt”
Hình 4.27: Tiêu chí “Tính rõ ràng hợp lý của các quy định về thử nghiệm, thí nghiệm
trong quá trình thi công”
Hình 4.28: Tiêu chí “Biện pháp đảm bảo vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ” Hình 4.29: Tiêu chí “Biện pháp đảm bảo giao thông trong quá trình thi công”
Hình 4.30: Tiêu chí “Sử dụng những vật liệu và phương pháp thi công phù hợp” Hình 4.31: Tiêu chí “Tính đồng bộ giữa thuyết minh, bản tính, bản vẽ”
Hình 4.32: Tiêu chí “Đảm bảo quy cách hồ sơ theo yêu cầu”
Hình 4.33: Tiêu chí “Sự đầy đủ của dữ liệu, thông tin yêu cầu Trình bày rõ ràng,
khoa học”
Hình 4.34: Cấu trúc AHP của chất lượng thiết kế
Hình 4.35: Cấu trúc AHP của mục tiêu “Chất lượng đầu vào thiết kế”
Hình 4.36: Cấu trúc AHP của mục tiêu “Chất lượng quá trình thiết kế”
Trang 12Hình 4.37: Cấu trúc AHP của mục tiêu “Chất lượng đầu ra thiết kế”
Hình 4.38: Trọng số các tiêu chí “Chất lượng đầu vào thiết kế” theo cấu trúc AHP Hình 4.39: Trọng số các tiêu chí “Quá trình thực hiện thiết kế” theo cấu trúc AHP Hình 4.40: Trọng số các tiêu chí “Chất lượng đầu ra thiết kế” theo cấu trúc AHP
Trang 13CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Giới thiệu chung
Nước ta đang trên đà phát triển trở thành một nước công nghiệp Để nâng cao năng lực sản xuất, năng lực phục vụ của các nghành kinh tế thì nhu cầu về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật đòi hỏi là rất lớn Vì vậy kéo theo là sự phát triển mạnh mẽ của ngành xây dựng, một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân và quỹ tích lũy nói riêng với vốn đầu tư, tài trợ của nước ngoài được sử dụng trong xây dựng cơ bản Nguồn vốn đầu tư đang tăng lên nhanh chóng hằng năm, cụ thể dự toán chi ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản trong những năm gần đây như sau:
Năm 2006 2007 2008 2009 Đầu tư
(tỷ đồng) 77.510 95.230 96.110 107.540
Bảng 1-1: Dự toán chi phí ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản
(Nguồn: Bộ Tài Chính, http://www.mof.gov.vn ) Nhưng bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ đó, những vấn đề tồn tại vẫn còn rất nhiều và đòi hỏi chúng ta phải giải quyết Nguyen Duy Long và nhóm tác giả (2004) đã nêu lên năm nhóm vấn đề liên quan tới trễ tiến độ, vượt chi phí, chất lượng, an toàn lao động, năng suất lao động…của các dự án xây dựng lớn tại Việt Nam đó là: (1) Tư vấn thiết kế, nhà thầu thiếu khả năng, (2) việc ước lượng và quản lý thay đổi không tốt, (3) các vấn đề liên quan đến công nghệ
và xã hội, (4) Những vấn đề liên quan tới công trường, (5) kỹ thuật và công cụ không thích hợp (xét trên cả mặt kỹ thuật lẫn quản lý) Đặc biệt chất lượng đã trở thành một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu, thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều người; điều này đặt ra sự cần thiết phải có những biện pháp cải tiến để chất lượng dự án xây dựng ngày càng tốt hơn
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu
Khi nói đến vấn đề chất lượng trong xây dựng, người ta thường nghĩ đến chất lượng trong giai đoạn thi công mà không thấy rằng chất lượng của dự án trong giai đoạn thiết kế đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến chất
Trang 14lượng của toàn bộ dự án; đặc biệt nó ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí, tiến độ thực hiện dự án của nhà thầu thi công; điều này đã được Lam (2005) thể hiện trong nghiên cứu của mình như sau (hình 1):
Hình 1-1: Đường cong tác động chi phí theo các giai đoạn trong xây dựng
Và cũng theo Burati (1992) sai khác chất lượng thiết kế (design quality deviations) ảnh hưởng rất lớn tới chi phí của dự án, theo đó sai khác chất lượng thiết kế chiếm trung bình 78% của toàn bộ sai khác diễn ra trong toàn
bộ quá trình thực hiện dự án, 79% chi phí của toàn bộ sai khác về chất lượng gây ra và 9.5% chi phí của toàn bộ dự án; Qua đây thể hiện rằng chất lượng thiết kế ảnh hưởng rất lớn đến giai đoạn thi công nói riêng và chất lượng của toàn bộ dự án nói chung Bên cạnh đó trong việc đánh giá chất lượng thiết kế hiện nay ở Việt Nam, vấn đề chất lượng thiết kế chưa thật sự được nhìn nhận một cách rõ ràng và toàn diện, đặc biệt là một đồ án thiết kế chưa được thực sự xem xét như là một sản phẩm: “sản phẩm thiết kế” Chính vì vậy một đồ án thiết kế chưa được xem xét xuyên suốt như quá trình hình thành của một sản
Trang 15phẩm: đầu vào của sản phẩm, quá trình hình thành của sản phẩm, đầu ra của sản phẩm Một đồ án thiết kế hiện nay thông thường chỉ xem xét thông qua tiêu chí “Đầu ra sản phẩm thiết kế” (quy cách hồ sơ; nội dung tính toán, đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn…) mà chưa xem xét đến các tiêu chí khác góp phần vào việc hình thành chất lượng của một sản phẩm thiết kế như là: chất lượng “Đầu vào sản phẩm thiết kế” (Năng lực của tư vấn thiết kế, năng lực của chủ đầu tư…), chất lượng “Quá trình hình thành sản phẩm thiết kế” (việc quản
lý, kiểm soát chất lượng khi thực hiện thiết kế…) Bên cạnh đó liên quan đến vấn đề chất lượng của một đồ án thiết kế thường có sự khác nhau trong cách nhìn nhận giữa bên thiết kế (tạo ra sản phẩm) và bên chủ đầu tư (khách hàng), dẫn đến việc đánh giá chất lượng của một sản phẩm thiết kế chưa thật sự được thống nhất, không đồng quan điểm với nhau Hiện nay ta thấy rằng trong các mảng của ngành xây dựng ở Việt Nam thì xây dựng Cầu Đường thường hay gặp các vấn đề về thiết kế hơn cả, vấn đề thiết kế ở đây có thể được hiểu bao gồm các vấn đề về mặt kỹ thuật công trình (tính an toàn kết cấu, tuổi thọ công trình…) và đặc biệt là các vấn đề liên quan đến mặt xã hội (sự tác động đến đời sống dân cư có công trình đi qua…), đã có rất nhiều công trình cầu đường gặp sự cố liên quan tới chất lượng thiết kế trong thời gian vừa qua gây ra lãng phí cũng như ảnh hưởng tới khả năng khai thác của công trình Chính vì vậy
việc thực hiện đề tài “Xem xét các tiêu chí đánh giá chất lượng thiết kế của
dự án cầu đường tại Việt Nam” là thật sự cần thiết, nó giúp cho các công ty
thiết kế cầu đường có cái nhìn toàn diện hơn về các tiêu chí đánh giá chất lượng thiết kế của một dự án để có các biện pháp ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm của mình, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề sau:
+ Xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng thiết kế của một dự án cầu đường trên quan điểm chất lượng là chất lượng của hệ thống trải qua các giai đoạn: đầu vào sản phẩm thiết kế, quá trình thực hiện sản phẩm thiết
kế và đầu ra sản phẩm thiết kế
Trang 16+ Xem xét mức độ đóng góp của các tiêu chí đánh giá chất lượng (sử dụng trọng số tương đối - relative weight) trong việc đánh giá chất lượng thiết
kế của một dự án
+ Đánh giá sự nhất quán trong việc nhìn nhận về chất lượng thiết kế giữa những người tạo nên sản phẩm (Tư vấn thiết kế) và khách hàng (chủ đầu tư)
Địa điểm: Các công ty tư vấn thiết kế cầu đường, các đơn vị là chủ đầu tư của
các dự án cầu đường trong phạm vi TP.HCM
Đối tượng nghiên cứu: Do đặc điểm riêng biệt của các dự án cầu đường và
thời gian thực hiện đề tài giới hạn nên đối tượng được tập trung nghiên cứu chính ở đây chủ yếu là các dự án có vốn nhà nước, các dự án tuân thủ theo các quy định về quản lý chất lượng của nhà nước Dự án thiết kế được nghiên cứu
ở bước thiết kế bản vẽ thi công không phân biệt là thiết kế 1 bước, 2 bước hay
3 bước
Quan điểm phân tích: Đứng trên góc nhìn của người tạo ra sản phẩm thiết kế
(tư vấn thiết kế) và khách hàng (chủ đầu tư)
1.5 Kết quả mong đợi
Chất lượng từ lâu đã được xem là vấn đề trọng yếu trong sản xuất nói chung và ngành xây dựng nói riêng, chính vì vậy trong lĩnh vực xây dựng hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện liên quan đến vấn
đề chất lượng rải đều trên tất cả các phương diện: thi công, thiết kế, quản lý
Ở Việt Nam hiện nay các nghiên cứu liên quan đến chất lượng trong xây dựng cũng đã được thực hiện, tuy nhiên phần lớn là tập trung trong lĩnh vực thi công, vấn đề chất lượng liên quan tới thiết kế chưa được xem xét nghiên cứu nhiều Do đó, với việc thực hiện đề tài này hy vọng sẽ đóng góp một phần
Trang 17trong việc nhìn nhận vấn đề chất lượng trong thiết kế một cách rõ ràng hơn, cụ thể hơn để qua đó làm cơ sở cho các giải pháp quản lý, kiểm soát chất lượng
Từ đó ngày càng nâng cao chất lượng thiết kế, góp phần vào thành công chung của cả dự án
Về mặt lý luận: Đồ án thiết kế được xem xét như là một “sản phẩm”,
theo định nghĩa của tiêu chuẩn ISO 9000:2000 “sản phẩm là kết quả của một tập hợp các hoạt động có quan hệ lẫn nhau và tương tác để biến đầu vào thành đầu ra”, điều này dẫn tới việc thay đổi quan trọng trong cách nhìn nhận về vấn
đề chất lượng thiết kế của một dự án Chuyển quan điểm kiểm soát chất lượng thông qua việc kiểm soát chất lượng “Đầu ra sản phẩm” (quy cách hồ sơ, nội dung tính toán, đáp ứng các tiêu chuẩn quy trình…) sang khái niệm “Chất lượng hệ thống” trong đó việc kiểm soát chất lượng được thực hiện bằng cách quản lý một cách toàn diện tất cả các giai đoạn cấu thành chất lượng của một sản phẩm: chất lượng giai đoạn đầu vào của sản phẩm thiết kế (nguồn nhân lực thiết kế, khả năng của chủ đầu tư ), chất lượng quá trình hình thành sản phẩm thiết kế (hệ thống kiểm soát chất lượng, hệ thống quản lý điều hành của công ty tư vấn thiết kế …), chất lượng đầu ra sản phẩm thiết kế (quy cách hồ sơ; nội dung tính toán…) Nói cách khác nếu xét về mặt sản xuất một sản phẩm thì chất lượng sản phẩm thiết kế sẽ được hình thành xuyên suốt từ chất lượng nguồn nguyên liệu đầu vào cho tới khi sản phẩm được đóng gói xuất xưởng “chất lượng là chất lượng của toàn hệ thống”
Về mặt thực tiễn: Đề tài góp phần giúp cho các công ty Tư vấn thiết kế
cầu đường có cái nhìn toàn diện hơn về chất lượng thiết kế của một dự án, các chỉ tiêu đánh giá chất lượng là thực sự quan trọng để định hướng cho việc quản lý chất lượng được tốt hơn và làm cơ sở cho việc đánh giá chất lượng thiết kế của một dự án Bên cạnh đó, đề tài còn giúp cho các công ty Tư vấn thiết kế và khách hàng (chủ đầu tư) có cái nhìn nhất quán về chất lượng thiết
kế để tạo ra những sản phẩm ngày càng tốt hơn đáp ứng các yêu cầu của khách hàng
Trang 18CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN
2.1 Thiết kế xây dựng
2.1.1 Sơ lược về thiết kế xây dựng
Thiết kế xây dựng công trình bao gồm các bước: thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công và các bước thiết kế khác theo thông lệ quốc tế do người quyết định đầu tư quyết định khi phê duyệt dự án Cụ thể các bước thiết
kế như sau:
+ Thiết kế cơ sở là thiết kế được thực hiện trong giai đoạn lập Dự án đầu tư xây dựng công trình trên cơ sở phương án thiết kế được lựa chọn, bảo đảm thể hiện được các thông số kỹ thuật chủ yếu phù hợp với các quy chuẩn, tiêu chuẩn được áp dụng, là căn cứ để triển khai các bước thiết kế tiếp theo
+ Thiết kế kỹ thuật là thiết kế được thực hiện trên cơ sở thiết kế cơ sở trong
dự án đầu tư xây dựng công trình được phê duyệt, bảo đảm thể hiện được đầy đủ các thông số kỹ thuật và vật liệu sử dụng phù hợp với các quy chuẩn, tiêu chuẩn được áp dụng, là căn cứ để triển khai bước thiết kế bản
vẽ thi công
+ Thiết kế bản vẽ thi công là thiết kế bảo đảm thể hiện được đầy đủ các thông số kỹ thuật, vật liệu sử dụng và chi tiết cấu tạo phù hợp với các quy chuẩn, tiêu chuẩn được áp dụng, đảm bảo đủ điều kiện để triển khai thi công xây dựng công trình
(Nguồn: Nghị định số 12/2009/NĐ-CP(12/02/2009, Luật Xây Dựng số 16/2003/QH11)
2.1.2 Nội dung thiết kế xây dựng công trình
Thiết kế xây dựng công trình bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
Trang 19+ Phương án phòng chống cháy nổ
+ Phương án sử dụng năng lượng đạt hiệu quả cao
+ Giải pháp bảo vệ môi trường
+ Tổng dự toán, dự toán kinh phí xây dựng phù hợp với từng bước thiết kế xây dựng
(Nguồn: Luật xây dựng số 16/2003/QH11)
2.1.3 Các bước thiết kế xây dựng công trình
Dự án đầu tư xây dựng công trình có thể gồm một hoặc nhiều loại công trình với một hoặc nhiều cấp công trình khác nhau Tùy theo quy mô, tính chất của công trình cụ thể, việc thiết kế xây dựng công trình được thực hiện một bước, hai bước hoặc ba bước như sau:
+ Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công được áp dụng đối với công trình chỉ lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình Trường hợp này, bước thiết kế cơ sở, bước thiết kế kỹ thuật và bước thiết kế bản vẽ thi công được gộp thành một bước và gọi là thiết kế bản vẽ thi công Đối với trường hợp thiết kế một bước, có thể sử dụng thiết kế mẫu, thiết kế điển hình do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để triển khai thiết kế bản vẽ thi công
+ Thiết kế hai bước bao gồm bước thiết kế cơ sở và bước thiết kế bản vẽ thi công được áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án trừ các công trình được quy định thiết kế theo một bước và ba bước Trường hợp này, bước thiết kế kỹ thuật và bước thiết kế bản vẽ thi công được gộp thành một bước và gọi là bước thiết kế bản vẽ thi công
+ Thiết kế ba bước bao gồm bước thiết kế cơ sở, bước thiết kế kỹ thuật và bước thiết kế bản vẽ thi công được áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án Tuỳ theo mức độ phức tạp của công trình, việc thực hiện thiết kế ba bước do người quyết định đầu tư quyết định
Nếu công trình phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình thì thực hiện thiết kế 2 bước hoặc nếu cần phải thực hiện thiết kế 3 bước thì người quyết định đầu tư phải quyết định và ghi rõ trong dự án trước khi phê duyệt Trường hợp
Trang 20thực hiện thiết kế hai bước hoặc ba bước thì thiết kế bước tiếp theo phải phù hợp với thiết kế bước trước đã được phê duyệt
Tóm lại một dự án xây dựng có thể được thiết kế một bước, hai bước hay
ba bước tùy vào quy mô tính chất của công trình cụ thể (Lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật hay lập dự án đầu tư) Và theo từng giai đoạn thiết kế (cơ sở, kỹ thuật hay bản vẽ thi công) mà sẽ có những yêu cầu khác nhau về nội dung, hình thức của
hồ sơ thiết kế Điều này dẫn đến khi xem xét, đánh giá chất lượng của một đồ án thiết kế thì các tiêu chí cũng sẽ khác nhau theo các giai đoạn thiết kế
(Nguồn: NĐ12/2009/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng)
2.2 Khái quát về chất lượng
2.2.1 Khái niệm chất lượng
Khái niệm chất lượng sản phẩm đã xuất hiện từ lâu và luôn biến đổi, chất lượng là một phạm trù rất rộng và phức tạp nên có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng Sự bất đồng có thể chỉ đơn thuần bởi ngôn ngữ diễn giải, có thể là do mối quan tâm về chất lượng trên các khía cạnh khác nhau, cách tiếp cận quản lý chất lượng khác nhau Đứng trên những góc độ khác nhau mà quan niệm về chất lượng cũng khác nhau từ người sản xuất, người tiêu dùng, từ sản phẩm hay từ đòi hỏi của thị trường…Hiệp hội chất lượng Hoa Kỳ (ASQ) có khái niệm về chất lượng như sau “Toàn bộ các đặc trưng và đặc điểm của một sản phẩm hoặc dịch vụ liên quan tới khả năng của nó để thỏa mãn yêu cầu đặt ra” Crossby cho rằng chất lượng đó là “Sự phù hợp đối với những nhu cầu (conformance to requirements)”, Crossby đã chỉ ra rằng chi phí do chất lượng kém mang lại vượt trội hơn là chi phí dùng để ngăn ngừa sản phẩm có chất lượng kém Theo Deming thì chất lượng là “thỏa mãn nhu cầu khách hàng” Theo Juran thì chất lượng là “thích hợp để sử dụng” Còn nhiều định nghĩa về chất lượng tùy theo quan điểm tiếp cận khác nhau: làm đúng ngay từ đầu, cung cấp sản phẩm và dịch vụ với tiêu chuẩn cao nhất, chất lượng là những gì mà khách hàng muốn sao thì nó là như vậy… Để tạo sự thống nhất, dễ dàng trong điều hành quản lý tổ chức Quốc Tế về Tiêu Chuẩn Hóa (ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đã đưa ra định nghĩa như sau “chất lượng sản phẩm là mức độ tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu” Định nghĩa chất lượng trong
Trang 21ISO là thể hiện sự thống nhất giữa các thuộc tính nội tại khách quan của sản phẩm với đáp ứng nhu cầu khách quan của khách hàng
+ Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo không gian, thời gian, điều kiện sử dụng
+ Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xem xét đến mọi đặc điểm của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp thể, nhu cầu của cộng đồng
xã hội
+ Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng những quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc chỉ khi phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng
+ Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu hàng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình
Chất lượng sản phẩm được tạo nên từ nhiều yếu tố, nhiều điều kiện trong chu kỳ sống của sản phẩm PLC (Product Life Cycle) Nó được hình thành từ khi xây dựng phương án sản phẩm, thiết kế, lập kế hoạch, chuẩn bị sản xuất, sản xuất, phân phối và tiêu dùng Nói khác đi thì chất lượng sản phẩm được hình thành trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh, hoạt động của một doanh nghiệp, một tổ chức do nhiều yếu tố quyết định như:
+ Chất lượng máy móc thiết bị sử dụng trong quá trình sản xuất
Trang 22+ Nhóm nhân tố bên ngoài: Nhu cầu về chất lượng sản phẩm, trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ sản xuất, cơ chế quản lý kinh tế, vai trò quản
lý kinh tế vĩ mô
Để hiểu đầy đủ và có những biện pháp không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm chắc các loại chất lượng sản phẩm Theo ISO 9000 người ta phân ra các loại chất lượng sau:
+ Chất lượng thiết kế: là giá trị riêng của các thuộc tính được phác thảo ra trên cơ sở nghiên cứu trắc nghiệm của sản xuất và tiêu dùng Đồng thời có
so sánh với các hàng tương tự của nhiều nước Chất lượng thiết kế được hình thành ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành chất lượng sản phẩm + Chất lượng tiêu chuẩn: là giá trị riêng của những thuộc tính của sản phẩm được thừa nhận, phê chuẩn trong quản lý chất lượng sản phẩm Chất lượng tiêu chuẩn có ý nghĩa pháp lệnh buộc phải thực hiện nghiêm chỉnh trong quá trình quản lý chất lượng Chất lượng tiêu chuẩn có nhiều loại: tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN), tiêu chuẩn nghành (TCN), tiêu chuẩn doanh nghiệp (TCDN)
+ Chất lượng thực tế: chỉ mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm, bao gồm chất lượng thực tế trong sản xuất và chất lượng thực tế trong tiêu dùng
Trang 23+ Chất lượng cho phép: là dung sai cho phép giữa chất lượng thực tế và chất lượng tiêu chuẩn Chất lượng cho phép phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuật của từng nước, phụ thuộc vào trình độ lành nghề của công nhân Khi chất lượng thực tế của sản phẩm vượt quá dung sai cho phép thì hàng hóa sẽ trở thành hàng hóa phế phẩm
+ Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng thỏa mãn toàn diện nhu cầu của thị trường trong những điều kiện xác định với chi phí xã hội thấp nhất Thường người ta phải giải quyết mối quan hệ chi phí và chất lượng sao cho chi phí thấp nhất mà chất lượng vẫn đảm bảo, có như vậy doanh nghiệp mới có lợi thế cạnh tranh và tăng được sức cạnh tranh
tổ chức trên một đơn vị kinh tế chịu trách nhiệm triển khai các thông số chất lượng, duy trì chất lượng đã đạt được và nâng cao mức chất lượng thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu của người tiêu dùng
+ Tổ chức ISO đã đưa ra đã đưa ra một khái niệm khá toàn diện và được chấp nhận rộng rãi hiện nay: “Quản lý chất lượng là một tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích trách nhiệm và thực hiện chúng bằng những phương tiện như: lập kế hoạch điều khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng”
2.3 Khái quát về chất lượng trong xây dựng
2.3.1 Chất lượng sản phẩm xây dựng
Theo Đinh Sỹ Chương (1998) thì chất lượng một sản phẩm xây dựng có những đặc điểm nổi bật sau:
Trang 24+ Chất lượng sản phẩm có vai trò cực kỳ quan trọng: nghành xây dựng luôn
là một trong những ngành kinh tế trụ cột Nó tạo ra cơ sở vật chất cho toàn
xã hội Công trình xây dựng có những tác động lớn lao, có thể tích cực hoặc tiêu cực, đến an toàn, bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường, tiện nghi đời sống hàng ngày của cộng đồng cũng như tâm tư tình cảm của con người Mặt khác những sản phẩm này có giá thành rất cao, nhất là những
công trình thuộc hạ tầng cơ sở
+ Yêu cầu đối với chất lượng sản phẩm rất phức tạp: chất lượng của sản phẩm phải thỏa mãn các yêu cầu không chỉ của khách hàng mà còn là của
xã hội Vì vậy việc xác định yêu cầu của một sản phẩm-bước đầu tiên của việc sản xuất ra một sản phẩm-đối với công trình xây dựng là không đơn giản, dễ dàng Nó đòi hỏi sự thông hiểu về kỹ thuật, kinh tế cũng như xã hội, luật pháp Bản thân khách hàng không thể tự mình xác định nhu cầu của mình một cách đầy đủ, rõ ràng và khả thi mà phải có sự tham gia của các chuyên gia xây dựng Nhu cầu của khách hàng cần được xem xét về
nhiều phương diện:
• Có phù hợp với các quy định của luật pháp, quy chuẩn, quy hoạch xây dựng của khu vực?
• Có phù hợp với đặc điểm tự nhiên, xã hội tại địa điểm xây dựng?
• Có khả thi về kỹ thuật?
• Kinh phí (gồm cả giá thành xây dựng và chi phí sử dụng, bảo trì công trình) có phù hợp với khả năng huy động vốn và lợi ích kinh tế?
+ Sai hỏng gây hậu quả nghiêm trọng và khó khắc phục: Những sai hỏng về chất lượng của loại sản phẩm này có thể gây ra những hậu quả xấu về an toàn và khắc phục rất khó khăn, tốn kém Đặc biệt đối với công trình hạ tầng như cầu, đập thủy điện, nhà máy điện hạt nhân hoặc công trình công cộng như chung cư, nhà hát…hậu quả này có thể sẽ rất nghiêm trọng Những sai hỏng về chất lượng của một công trình xây dựng có thể không phát hiện được khi tiến hành nghiệm thu, bàn giao mà chỉ bộc lộ sau khi
Trang 25sử dụng được một thời gian Hơn nữa, khác với những sản phẩm thông thường, khi phát hiện ra sai hỏng khách hàng không thể trả lại để đổi lấy sản phẩm khác mà chỉ có thể trông chờ vào những biện pháp sửa chữa khắc phục tại chỗ, thậm chí có trường hợp phải phá đi làm lại vì vậy hơn đâu hết trong xây dựng việc tuân thủ nguyên tắc “làm đúng ngay từ đầu”
là rất quan trọng
2.3.2 Chất lượng Thiết kế trong xây dựng
Có nhiều hoạt động tư vấn thường gặp trong xây dựng như là: Nghiên cứu
dự án đầu tư, thiết kế, tư vấn về đấu thầu và hợp đồng kinh tế, đánh giá tác động môi trường, khảo sát xây dựng, khảo sát môi trường, giám sát thi công, kiểm định chất lượng công trình, thẩm định hồ sơ các dự án thiết kế, quan lý dự án, các dịch vụ kỹ thuật sau thi công…Như vậy sản phẩm thiết kế là một trong những sản phẩm của hoạt động tư vấn Sản phẩm của hoạt động tư vấn thực chất
là các thông tin kỹ thuật, thông tin kinh tế và thuộc loại hình sản phẩm vô thể
Cụ thể ở đây sản phẩm của hoạt động thiết kế là các hồ sơ thiết kế bao gồm: bản
vẽ, bản dự toán, bản quy định kỹ thuật…
Liên quan đến chất lượng sản phẩm thiết kế, điều 52 (Luật xây dựng số 16/2003/QH11) quy định thiết kế xây dựng công trình phải đảm bảo các yêu cầu chung sau đây:
+ Phù hợp với quy hoạch xây dựng, cảnh quan, điều kiện tự nhiên và các quy định về kiến trúc; dự án đầu tư xây dựng, công trình đã được duyệt + Phù hợp với thiết kế công nghệ trong trường hợp dự án đầu tư xây dựng công trình có thiết kế công nghệ
+ Nền móng công trình phải đảm bảo bền vững, không bị lún nứt, biến dạng quá giới hạn cho phép làm ảnh hưởng đến tuổi thọ công trình, các công trình lân cận
+ Nội dung thiết kế xây dựng công trình phải phù hợp với nội dung của từng bước thiết kế, thỏa mãn yêu cầu về chức năng sử dụng, bảo đảm mỹ quan, giá thành hợp lý
+ An toàn, tiết kiệm, phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng; các tiêu chuẩn về phòng chống cháy nổ, bảo vệ môi trường, và
Trang 26những tiêu chuẩn liên quan; đối với những công trình công cộng phải bảo đảm thiết kế theo tiêu chuẩn cho người tàn tật
+ Đồng bộ trong từng công trình, đáp ứng yêu cầu vận hành, sử dụng công trình, đồng bộ với các công trình liên quan
Nghị định 209/2004/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình cũng quy định về chất lượng của một đồ án thiết kế như sau:
+ Với thiết kế kỹ thuật:
• Căn cứ để lập thiết kế kỹ thuật:
Nhiệm vụ thiết kế, thiết kế cơ sở trong dự án đầu tư xây dựng công trình được phê duyệt
Báo cáo kết quả khảo sát xây dựng bước thiết kế cơ sở, các số liệu bổ sung về khảo sát xây dựng và các điều kiện khác tại địa điểm xây dựng phục vụ bước thiết kế
kỹ thuật
Các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng
Các yêu cầu khác của chủ đầu tư
• Hồ sơ thiết kế kỹ thuật phải phù hợp với thiết kế cơ sở và dự
án đầu tư xây dựng được duyệt, bao gồm:
Thuyết minh gồm các nội dung theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, nhưng phải tính toán lại và làm rõ phương
án lựa chọn kỹ thuật sản xuất, dây chuyền công nghệ, lựa chọn thiết bị, so sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, kiểm tra các số liệu làm căn cứ thiết kế; các chỉ dẫn kỹ thuật; giải thích những nội dung mà bản vẽ thiết kế chưa thể hiện được và các nội dung khác theo yêu cầu của chủ đầu tư
Bản vẽ phải thể hiện chi tiết về các kích thước, thông
số kỹ thuật chủ yếu, vật liệu chính đảm bảo đủ điều kiện để lập dự toán, tổng dự toán và lập thiết kế bản vẽ thi công công trình xây dựng
Trang 27Dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình
+ Với thiết kế bản vẽ thi công:
• Căn cứ để lập thiết kế bản vẽ thi công:
Nhiệm vụ thiết kế do chủ đầu tư phê duyệt đối với trường hợp thiết kế một bước; thiết kế cơ sở được phê duyệt đối với trường hợp thiết kế hai bước; thiết kế kỹ thuật được phê duyệt đối với trường hợp thiết kế ba bước
Các tiêu chuẩn xây dựng và chỉ dẫn kỹ thuật được áp dụng
Các yêu cầu khác của chủ đầu tư
• Hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công bao gồm:
Thuyết minh phải giải thích đầy đủ các nội dung mà bản vẽ không thể hiện được để người trực tiếp thi công xây dựng thực hiện theo đúng thiết kế
Bản vẽ phải thể hiện chi tiết tất cả các bộ phận của công trình, các cấu tạo với đầy đủ các kích thước, vật liệu và thông số kỹ thuật để thi công chính xác và đủ điều kiện để lập dự toán thi công xây dựng công trình
Dự toán thi công xây dựng công trình
+ Yêu cầu về quy cách hồ sơ thiết kế xây dựng công trình
• Bản vẽ thiết kế xây dựng công trình phải có kích cỡ, tỷ lệ, khung tên và được thể hiện theo các tiêu chuẩn xây dựng Trong khung tên từng bản vẽ phải có tên, chữ ký của người trực tiếp thiết kế, chủ trì thiết kế, chủ nhiệm thiết kế, người đại diện theo pháp luật của nhà thầu thiết kế và dấu của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình, trừ trường hợp nhà thầu thiết kế là cá nhân hành nghề độc lập
• Các bản thuyết minh, bản vẽ thiết kế, dự toán phải được đóng thành tập hồ sơ thiết kế theo khuôn khổ thống nhất có danh mục, đánh số, ký hiệu để tra cứu và bảo quản lâu dài
Trang 28Điều 18 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP(12/02/2009) cũng quy định về việc thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công như sau :
+ Thẩm định, phê duyệt thiết kế đối với trường hợp thiết kế 3 bước
• Đối với thiết kế kỹ thuật Chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật Kết quả thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật được thể hiện bằng văn bản, bao gồm các nội dung sau:
Sự phù hợp của thiết kế kỹ thuật với thiết kế cơ sở
Sự hợp lý của các giải pháp kết cấu công trình
Sự tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng
Đánh giá mức độ an toàn công trình
Sự hợp lý của việc lựa chọn dây chuyền và thiết bị công nghệ đối với công trình có yêu cầu công nghệ
Sự tuân thủ các quy định về môi trường, phòng cháy, chữa cháy
Chủ đầu tư có thể thuê tư vấn thẩm tra một phần hoặc toàn bộ các nội dung trên để làm cơ sở cho việc thẩm định Kết quả thẩm tra được thể hiện bằng văn bản
• Đối với thiết kế bản vẽ thi công Thiết kế bản vẽ thi công phải được chủ đầu tư hoặc đại diện được uỷ quyền của chủ đầu tư xác nhận bằng chữ ký và đóng dấu đã phê duyệt vào bản vẽ trước khi đưa ra thi công Chủ đầu tư có thể thuê tư vấn giám sát thi công xây dựng kiểm tra thiết kế bản vẽ thi công và ký xác nhận trong bản vẽ trước khi phê duyệt
+ Thẩm định, phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công đối với các trường hợp thiết
kế hai bước và thiết kế một bước
• Đối với trường hợp thiết kế hai bước, chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công Đối với trường hợp thiết kế một bước, chủ đầu tư tổ chức thẩm định thiết kế bản
Trang 29vẽ thi công để người quyết định đầu tư phê duyệt cùng với Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình
• Nội dung thẩm định thiết kế bản vẽ thi công được thực hiện như quy định giống như trường hợp thiết kế 3 bước
• Việc đóng dấu xác nhận bản vẽ trước khi đưa ra thi công thực hiện giống như quy định trường hợp thiết kế 3 bước
Theo Đinh Sỹ Chương (1998) thì nguồn lực quan trọng nhất của công ty vấn là nhân lực: với sản phẩm là thông tin, các nguồn lực của một công ty tư vấn bao gồm nhân lực, thông tin, kiến thức, kinh nghiệm, các thông tin phản hồi, một số trang thiết bị (như thiết bị tin học, văn phòng, thông tin liên lạc, thiết
bị thăm dò, khảo sát hiện trường, thiết bị giám định chất lượng, phương tiện vận chuyển) Trong đó, nguồn lực chính và quan trọng nhất là nguồn nhân lực Vấn
đề này cũng đã được nêu trong các văn bản pháp lý về quản lý chất lượng công trình, cụ thể Điều 36 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP(12/02/2009) quy định về điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân hoạt động xây dựng như sau:
+ Các tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với loại dự án; loại, cấp công trình và công việc theo quy định của Nghị định này
+ Tổ chức, cá nhân khi tham gia các lĩnh vực sau đây phải có đủ điều kiện
về năng lực:
• Lập dự án đầu tư xây dựng công trình
• Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình;
• Thiết kế quy hoạch xây dựng
• Thiết kế xây dựng công trình
• Khảo sát xây dựng công trình
• Thi công xây dựng công trình
• Giám sát thi công xây dựng công trình
• Thí nghiệm chuyên ngành xây dựng
• Kiểm định chất lượng công trình xây dựng
Trang 30• Chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn chịu lực công trình xây dựng và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng
Năng lực của các tổ chức, cá nhân khi tham gia lĩnh vực hoạt động xây dựng nêu trên được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ hành nghề hoặc các điều kiện về năng lực phù hợp với công việc đảm nhận
+ Cá nhân tham gia hoạt động xây dựng phải có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp với công việc đảm nhận do các cơ sở đào tạo hợp pháp cấp + Cá nhân đảm nhận chức danh chủ nhiệm đồ án thiết kế quy hoạch xây dựng, thiết kế xây dựng công trình; chủ trì thiết kế; chủ nhiệm khảo sát xây dựng; giám sát thi công xây dựng và cá nhân hành nghề độc lập thực hiện các công việc thiết kế quy hoạch xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định Cá nhân tham gia quản lý dự án phải có chứng nhận nghiệp vụ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
+ Để bảo đảm chất lượng công trình xây dựng, các tổ chức, cá nhân trong hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với từng gói thầu hoặc loại công việc cụ thể
+ Năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức được xác định theo cấp bậc trên
cơ sở năng lực hành nghề xây dựng của các cá nhân trong tổ chức, kinh nghiệm hoạt động xây dựng, khả năng tài chính, thiết bị và năng lực quản
Trang 31đã làm chủ trì thiết kế 1 lĩnh vực chuyên môn chính của 3 công trình cấp đặc biệt hoặc cấp I cùng loại
+ Phạm vi hoạt động
• Hạng 1: được làm chủ nhiệm thiết kế công trình cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III và cấp IV cùng loại và làm chủ nhiệm lập
dự án nhóm A, B, C cùng loại
• Hạng 2: được làm chủ nhiệm thiết kế công trình cấp II, cấp III
và cấp IV cùng loại và được làm chủ nhiệm lập dự án nhóm
Trang 32• Riêng đối với vùng sâu, vùng xa, những cá nhân có trình độ cao đẳng, trung cấp thuộc chuyên ngành phù hợp với loại công trình, có thời gian liên tục làm công tác thiết kế tối thiểu
5 năm thì được làm chủ trì thiết kế công trình cấp III, cấp IV, trừ các công trình bắt buộc thực hiện kiểm tra, chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn chịu lực theo quy định
Có đủ chủ trì thiết kế hạng 2 về các bộ môn thuộc công trình cùng loại
Đã thiết kế ít nhất 1 công trình cấp II hoặc 2 công trình cấp III cùng loại
+ Phạm vi hoạt động
Trang 33• Hạng 1: được thiết kế công trình cấp đặc biệt, cấp I , cấp II, cấp III và cấp IV cùng loại; lập dự án quan trọng quốc gia, dự
án nhóm A, B, C cùng loại
• Hạng 2: được thiết kế công trình cấp II, cấp III và cấp IV cùng loại; lập dự án nhóm B, C cùng loại;
• Đối với tổ chức chưa đủ điều kiện để xếp hạng thì được thiết
kế công trình cấp IV cùng loại, lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình của công trình cùng loại
+ Đối với tổ chức tư vấn thiết kế chưa đủ điều kiện để xếp hạng, nếu đã thiết
kế ít nhất 5 công trình cấp IV thì được thiết kế công trình cấp III cùng loại
2.4 Các nghiên cứu liên quan đã được công bố
Liên quan đến vấn đề xem xét các tiêu chí đánh giá chất lượng thiết kế của một dự án Burati (1992) trong nghiên cứu của mình bằng việc thu thập số liệu của các dự án sau khi đã thi công xong ông đã nêu lên vấn đề sai khác chất lượng thiết kế (design quality deviations) ảnh hưởng tới chi phí của dự
án, theo đó sai khác chất lượng thiết kế chiếm trung bình 78% của toàn bộ sai khác diễn ra trong toàn bộ quá trình thực hiện dự án, 79% chi phí của toàn bộ sai khác về chất lượng gây ra và 9.5% chi phí của toàn bộ dự án; nghiên cứu của ông chủ yếu tập trung vào xác định các nguyên nhân gây ra các sai khác chất lượng thiết kế ảnh hưởng tới chi phí của dự án chứ chưa tập trung vào việc xem xét một cách toàn diện các nguyên nhân tác động đến chất lượng của một dự án thiết kế
Và vấn đề này đã được thực hiện trong nghiên cứu của Tan (1995), trong nghiên cứu của mình đã xem xét chất lượng thiết kế của dự án trên quan điểm quản lý chất lượng toàn diện (Total quality management), ông đã chuyển khái niệm kiểm soát chất lượng thông qua việc kiểm soát chất lượng đầu ra (The output quality) sang việc kiểm soát chất lượng bằng cách quản lý toàn diện chất lượng đầu vào thiết kế (The input quality), chất lượng trong quá trình thiết kế (The design process quality), chất lượng đầu ra thiết kế và các vấn đề
Trang 34khi đưa đồ án thiết kế ra thi công sau này…; Ông đã “đối xử” với dự án thiết
kế như là một “hệ thống” (Hình 2-1) và chất lượng của dự án là “chất lượng của cả hệ thống” (system’s quality) Trong nghiên cứu của mình ông đã liệt kê
ra các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của các dự án thiết kế tại Đài Loan (Bảng 2-1), nghiên cứu cho tất cả các lĩnh vực mà có công việc xây dựng được thực hiện như là: cầu đường, dân dụng, hầm, đường ống, năng lượng, dự án nước, bệnh viện…; Ta thấy rằng trong những tiêu chí, yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dự án thiết kế tại Đài Loan có những tiêu chí, yếu tố hầu như không được xét đến hoặc không phù hợp với điều kiện tại Việt Nam do đó cần thiết phải xác định lại các tiêu chí, yếu tố này khi thực hiện nghiên cứu tại Việt Nam
Nguyen Duy Long và nhóm tác giả (2004) đã xác định 5 vấn đề chính của các dự án xây dựng tại Việt Nam, trong đó có vấn đề “Nhà thầu, tư vấn thiết kế thiếu khả năng” bao gồm các vấn đề như: thiết kế thiếu thực tế, không
có sự liên hệ với nhau giữa các bên trong suốt vòng đời của dự án, sự thiếu khả năng của tư vấn thiết kế…và theo nghiên cứu của tác giả thì trong các dự
án tại Việt Nam đây là những vấn đề thường xuyên xảy ra và có mức độ ảnh hưởng là rất lớn đến dự án, điều này cho ta thấy rằng vấn đề chất lượng thiết
kế là vấn đề cần được quan tâm tại Việt Nam
Liên quan vấn đề chất lượng của đồ án thiết kế tác động đến quá trình thi công, Lam (2006) nói rằng ảnh hưởng của thiết kế đến thi công là điều rõ ràng, dễ nhận thấy; tuy nhiên vẫn còn rất nhiều đồ án thiết kế không đạt yêu cầu, bên cạnh đó tồn tại những giải pháp thiết kế không thật sự kinh tế; ông đã đưa ra 5 yếu tố chính mà khi thiết kế cần phải chú ý để đảm bảo công việc thi công được thực hiện thuận lợi, an toàn hơn: điều kiện công trường; phối hợp giữa các tài liệu, các công đoạn thi công với nhau; việc tiêu chuẩn hóa các công việc lặp đi lặp lại nhiều lần; an toàn lao động; dễ dàng cho việc thi công, lắp đặt
Trang 35Hình 2-1: Hệ thống của một dự án thiết kế kỹ thuật
Nguồn nhân lực
đủ khả năng để thực hiện nhiệm
vụ, đòi hỏi và mục tiêu của dự
án
Khả năng của giám đốc dự án Khả năng của đội ngũ nhân viên thiết
kế Khả năng của đội ngũ nhân viên khác không trực tiếp tham gia thiết kế Đáp ứng các quy
chuẩn, các tiêu chuẩn thiết kế
Sự tuân thủ theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn của chủ đầu tư
Sử dụng những sách báo, tài liệu chỉ dẫn đúng
Đáp ứng các yêu cầu của chủ đầu
tư (khách hàng)
Năng lực, kinh nghiệm của chủ đầu tư
Sự đầy đủ của thông tin thiết kế được cung cấp bởi chủ đầu tư
Chất lượng giai đoạn
"Trong quá trình thiết kế"
Đáp ứng các quy định, quy trình kiểm tra; thủ tục tính toán
Sự hoàn thiện của các chỉ dẫn, hướng dẫn thiết kế, sổ tay kỹ thuật hướng dẫn tính toán
Nỗ lực kiểm soát sự thay đổi kỹ thuật
Sự hiệu quả của chương trình kiểm soát
và đảm bảo chất lượng khi thiết kế Đáp ứng yêu cầu Số lượng thay đổi thiết kế kỹ thuật
Trang 36về tiến độ Tính hợp lý của tiến độ đặt ra
Việc đánh giá và kiểm soát tiến độ thực hiện
Sự ổn định của đội ngũ nhân viên
Đáp ứng yêu cầu
về chi phí
Số lượng thay đổi thiết kế kỹ thuật Tính rõ ràng của quy mô công việc Tính hợp lý của việc ước lượng chi phí Phương pháp xác định chi phí văn phòng
Chất lượng giai đoạn "Đầu ra thiết kế"
Sự đầy đủ và thỏa mãn các yêu cầu đầu ra về hình thức, trình bày
Đảm bảo quy cách hồ sơ theo quy định
Sự đầy đủ trọn vẹn của dữ liệu, thông tin
Sự rõ ràng của các minh họa, danh mục, phân loại
Tính nhất quán, đồng bộ của nội dung
Dễ dàng cho người khác đọc hiểu
Chất lượng giai đoạn "Đồ án thiết kế được thi công"
Biện pháp đảm bảo an toàn lao động trong thi công
Sử dụng những vật liệu và phương pháp thi công đã được tiêu chuẩn hóa, được
sử dụng phổ biến Tính dễ dàng để thi công, không quá phức tạp gây khó khăn cho thi công Bảng 2-1: Các tiêu chí đánh giá chất lượng của một dự án thiết kế
2.5 Phương pháp định lượng AHP
AHP là một kỹ thuật cấu trúc để xử lý những vấn đề liên quan tới quyết định phức tạp, AHP giúp cho người ra quyết định tìm thấy cái thích hợp nhất cho những yêu cầu của họ và cho việc hiểu vấn đề của họ
Dựa trên toán học và tâm lý học, nó được phát triển bởi Thomas L Saaty vào những năm 1970 và đã được nghiên cứu một cách rộng rãi và cải tiến kể từ đó AHP cung cấp một cơ cấu bao hàm toàn diện và hữu ích cho việc cấu trúc hóa một vấn đề quyết định, cho việc thể hiện và lượng hóa các
Trang 37yếu tố thành phần và mối liên hệ giữa các yếu tố này đến mục đích chung muốn đạt được
AHP có thể được sử dụng để: lựa chọn, sắp hạng, thể hiện mức độ ưu tiên, quản lý chất lượng…
Liên quan đến đề tài này theo Wong (2008) để phân biệt tiêu chí nào quan trọng hơn tiêu chí nào thì phương pháp AHP đề nghị nên được sử dụng, phương pháp AHP sẽ giúp chỉ ra trọng số (numerical weight), giá trị trọng số này thể hiện cho độ quan trọng tương đối (relative importance) của một tiêu chí so với các tiêu chí còn lại trong cùng một hệ thống riêng và độ quan trọng của tiêu chí đó đối với mục đích cuối cùng của toàn hệ thống (Goal)
Tác giả Chua (2000) cũng đã sử dụng phương pháp này để sắp hạng mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia dự thầu của nhà thầu Từ bảng sắp hạng này kết hợp với “Mô hình các lí do tham gia
dự thầu” giúp nhà thầu đưa ra quyết định theo bốn mục tiêu của bốn mô hình AHP đó là: cạnh tranh, rủi ro, khả năng của công ty, sự cần thiết của công việc
Trang 38CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ được thực hiện từng bước theo quy trình sau:
Hình 3-1: Quy trình nghiên cứu
Trang 393.2 Thu thập dữ liệu
3.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Trong việc chọn mẫu nghiên cứu thường ta có hai phương pháp: chọn mẫu xác suất và chọn mẫu phi xác suất Khi thực hiện phương pháp chọn mẫu phi xác suất thì chọn các đối tượng theo một ý đồ hay mục đích nào đó đã quy định trước, không chọn theo phương pháp ngẫu nhiên nghĩa là không lập một danh sách liệt kê tất cả các đối tượng liên hệ và dùng bảng số ngẫu nhiên để chọn
Với một kinh phí nhất định, thông thường ta sẽ có thể chọn một mẫu phi xác suất có quy mô lớn hơn quy mô mẫu xác suất Theo quy tắc khi điều tra một
số lượng đối tượng càng nhiều, sai số do chọn mẫu càng nhỏ, và khi tổng điều tra mọi đối tượng, sẽ không còn sai số do chọn mẫu Điều này có nghĩa là với cùng một mức kinh phí, khi chọn mẫu phi xác suất ta sẽ có sai số do chọn mẫu nhỏ hơn khi chọn mẫu xác suất vì ta điều tra được một số lượng đối tượng nhiều hơn (Mặc dù trong thực tế ta chỉ tính được sai số do chọn mẫu của mẫu xác suất, chứ không tính được cụ thể sai số do chọn mẫu của mẫu phi xác suất) Bù lại, khi chọn mẫu phi xác suất ta lại có thêm loại sai số mới là sai số do chọn lựa đối tượng không theo phương pháp ngẫu nhiên
Trong phạm vi luận văn nay do giới hạn về kinh phí và thời gian nên ta sẽ chọn phương pháp lấy mẫu phi xác suất, phương pháp lẫy mẫu này có các ưu điểm sau đây:
+ Thủ tục đáp ứng hài hòa với các mục tiêu lấy mẫu
+ Chi phí thấp hơn
+ Trong trường hợp thời gian bị giới hạn
+ Toàn bộ danh mục tập hợp là không có sẵn
Bên cạnh đó thì phương pháp chọn mẫu phi xác suất có các mặt hạn chế như sau:
+ Ta không thể đo lường được mức độ chính xác của các kết quả thu thập vì không thể đo lường được sai số do chọn mẫu, không thể tính được khoảng tin cậy, cũng như không thể áp dựng được các phương pháp kiểm định hay trắc nghiệm các kết quả thu thập được
Trang 40+ Việc chọn mẫu phải dựa vào kỹ năng của nhà nghiên cứu hay của nhân viên chọn mẫu, trong khi ở phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, kết quả không bị lệ thuộc vào nhà nghiên cứu hoặc nhân viên chọn mẫu
Trong phương pháp chọn mẫu phi xác suất bao gồm 3 phương pháp cơ bản: Lấy mẫu thuận tiện, lấy mẫu có mục đích, lấy mẫu theo dây chuyền Trong luận văn này ta sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện để thu thập dữ liệu Đây là phương pháp không có thiết kế mẫu định sẵn
3.2.2 Quy mô mẫu nghiên cứu
Vấn đề đặt ra thường hay gặp trong nghiên cứu là: các giá trị trong tổng thể nghiên cứu có thể biến đổi cao thấp khác nhau bao nhiêu so với những con
số ước lượng do mẫu nghiên cứu đem lại? để giải quyết vấn đề này ta cần cân nhắc xem xét quy mô mẫu lớn đến bao nhiêu là vừa, đảm bảo độ tin cậy mong muốn
Để xác định quy mô của một mẫu nghiên cứu cần tuân theo quy trình gồm các bước sau đây:
+ Bước 1: xác định sai số cho phép E mà ta muốn chấp nhận giữa số ước lượng thu được từ mẫu nghiên cứu và tham số của tổng thể nghiên cứu
+ Bước 2: Xác định mưc độ tin cậy (1-α) Thường chọn mức độ tin cậy là 95% hay mức độ ý nghĩa α = 5%
+ Bước 3: Xác định giá trị Z ứng với mức độ tin cậy mà ta đã chọn + Bước 4: Ước lượng độ lệch chuẩn s của mẫu nghiên cứu
+ Bước 5: Sử dụng các công thức thích hợp để tính quy mô mẫu, có thể sử dụng công thức sau:
n =s
ଶZଶ
EଶTrong đó:
n: kích thước mẫu s: độ lệch chuẩn của mẫu Z: giá trị của phân phối chuẩn tương ứng với độ tin cậy