Vì vậy, các vấn đề cần nghiên cứu của luận văn là xác định các yếu tố định tính ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư dự án vốn ngân sách để từ đó xây dựng nên mô hình hỗ trợ ra quyết
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG
XÂY DỰNG MƠ HÌNH RA QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ MỘT DỰ ÁN XÂY DỰNG VỐN NGÂN SÁCH DỰA TRÊN ỨNG DỤNG ĐỊNH LƯỢNG AHP
CHUYÊN NGÀNH: CƠNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG
MÃ SỐ NGÀNH: 60.58.90
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 12 NĂM 2010
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS ĐINH CÔNG TỊNH………
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ luận văn thạc sĩ)
1 TS LƯƠNG ĐỨC LONG (Chủ tịch Hội Đồng)
2 TS LÊ HOÀI LONG (Thư ký Hội Đồng)
3 TS NGÔ QUANG TƯỜNG
4 TS PHẠM HỒNG LUÂN
5 TS ĐINH CÔNG TỊNH
6 PGS.TS NGUYỄN THỐNG
7 TS NGUYỄN DUY LONG
8 TS LƯU TRƯỜNG VĂN
9 Th.S ĐỖ THỊ XUÂN LAN
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV và Bộ môn quản lý chuyên ngành sau
khi luận văn đã được sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV Bộ môn quản lý chuyên ngành
TS LƯƠNG ĐỨC LONG TS LƯƠNG ĐỨC LONG
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC
Tp.HCM, ngày ……tháng … năm 20…
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên : NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG Phái : Nữ
Ngày, tháng, năm sinh : 03/ 08/ 1977 Nơi sinh : Tp.HCM
Chuyên ngành : CÔNG NGHỆ VẦ QUẢN LÝ XÂY DỰNG MSHV : 09080251
I TÊN ĐỀ TÀI :
XÂY DỰNG MÔ HÌNH RA QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ MỘT DỰ ÁN XÂY DỰNG VỐN NGÂN SÁCH DỰA TRÊN CÁC ỨNG DỤNG ĐỊNH LƯỢNG AHP
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG :
- Phân tích và xác định các yếu tố ảnh hưởng và các nhân tố đại diện cho các
yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư dự án xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách tại Việt Nam
- Xây dựng mô hình hỗ trợ ra quyết định đầu tư dự án xây dựng vốn ngân sách
từ các nhân tố trên bằng cách kết hợp ứng dụng phương pháp định lượng AHP (Analytic Hierarchy Process) và phần mềm hỗ trợ ra quyết định EC (Expert Choice)
- Kiểm nghiệm mô hình mẫu qua hai dự án được đầu tư xây dựng tại Việt Nam III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 05/07/2010
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 06/12/2010
V HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS ĐINH CÔNG TỊNH
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN QL CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
TS ĐINH CÔNG TỊNH TS LƯƠNG ĐỨC LONG TS LƯƠNG ĐỨC LONG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến những người đã giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học cũng như đề tài nghiên cứu này
Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn của tôi là thầy Đinh Công Tịnh, đã tận tình chỉ dẫn
và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Cảm ơn các Thầy Cô giảng dạy thuộc chuyên ngành Công Nghệ và Quản Lý Xây Dựng của trường Đại học Bách Khoa TP Hồ Chí Minh, đã hết lòng truyền đạt, chia sẻ những kiến thức lẫn kinh nghiệm cho những học viên của mình
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ông Đỗ Chí Hùng, Giám đốc Sở Xây Dựng tỉnh Tây Ninh và thầy Nguyễn Văn Hiệp, Phó Giám đốc Sở Xây Dựng TP.HCM đã nhiệt tình giúp đỡ và đóng góp ý kiến cũng như kinh nghiệm thực tiễn quý báu trong nghiên cứu này
Cảm ơn các bạn lớp Công nghệ và Quản lý xây dựng đã cùng học tập, trao đổi và giúp nhau trong suốt thời gian qua
Cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp và những người thân đã hỗ trợ tôi trong công tác khảo sát thu thập dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu này
Cuối cùng, xin được cảm ơn gia đình thân yêu đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ để tôi có cơ hội học tiếp và hoàn thành luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng 12 năm 2010
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Phượng
Trang 5
TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN
Hiện nay cùng với nhiều biến đổi phức tạp về kinh tế thế giới, sự phát triển nhanh và mạnh của ngành xây dựng nhằm cải thiện, phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần nâng cao chất lượng đời sống văn hóa tinh thần cho người dân, những nghiên cứu ứng dụng về công nghệ và quản lý xây dựng sao cho đạt hiệu quả cao nhất là vấn đề cấp thiết Bên cạnh những nguồn vốn lớn đầu
tư vào xây dựng dự án như nguồn vốn FDI, ODA, … giúp đẩy nhanh quá trình phát triển thì nguồn vốn ngân sách nhà nước tuy có hạn nhưng mang tính quyết định và quan trọng, đảm bảo sự phát triển bền vững đất nước
Nghiên cứu đề cập đến việc nâng cao hiệu quả nguồn vốn có hạn này bằng cách đánh giá đồng thời các chỉ tiêu ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư và giảm thiểu rủi ro do chủ quan của việc quyết định dựa trên cảm tính, trực giác Bằng cách ứng dụng phương pháp định lượng AHP (Analytic Hierarchy Process) với sự hỗ trợ của phần mềm Expert Choice để xây dựng mô hình mẫu RQĐ-ĐT (VNS) hỗ trợ ra quyết định đầu tư dự án xây dựng vốn ngân sách Đây là
cơ sở mang tính khoa học giúp người có thẩm quyền ra quyết định có thể lượng hóa việc ra quyết định chính xác và hiệu quả trong thời gian ngắn
Nghiên cứu cũng đã chỉ ra mối quan hệ tuyến tính giữa 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng và việc ra quyết định đầu tư dự án xây dựng dân dụng thuộc vốn ngân sách Cụ thể là: nhóm yếu tố về kinh tế xã hội, môi trường, an ninh quốc phòng… ; nhóm yếu tố về rủi ro nội sinh; nhóm yếu
tố về đặc điểm chung của dự án; nhóm yếu tố rủi ro ngoại sinh; nhóm yếu tố tài chính và hiệu quả tài chính
Trang 6
ABSTRACT
Nowadays, the more complex changes in the economic of the world, the rapid and strong development of the construction field to improve, develop the infrastructure, contribute to improving the quality of cultural and spiritual life for people, the reseach for technology application and construction management for high efficiency are imperative Beside kinds of the large investment capital in construction projects such as FDI, ODA, … promote the development process quickly, the state budget capital limited but decided and crucial, ensuring country’s sustainable development
Thesis refers to improving the effectiveness of using this budget by assessment same time criteria affect investment decision making and reduces risk of subjective decisions based on decision maker ’s emotion, intuition By application of quantitative methods AHP (Analytic Hierarchy Process) with supporting of the Expert Choice software to build a standard model RQĐ-ĐT (VNS) helps the investment decision making of state budget capital projects It is a scientific basis to assist competent people making investment decision can quantify decision making accuracy and efficiency in a short time
This study also showed the linear correlation between five groups of influence factors and the investment decision making of the state budget building projects Those are: factor of socioeconomic, environmental, national security …; factor of endogenous risks; factor of general characteristics of the project, factor of exogenous risks; factor of financial and financial effectiveness
Trang 7
DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Cơ cấu vốn đầu tư ở Việt Nam phân theo thành phần kinh tế 11
Bảng 1.2 Cơ cấu các ngành kinh tế Việt Nam từ năm 1990 – 2009 12
Hình1.3 Chỉ số ICOR qua các thời kỳ 14 Hình 1.4 Sông Thị Vải trở thành dòng sông chết 17
Hình 1.5 Đoạn đê bị vỡ của một hồ chứa bùn đỏ thuộc nhà máy Ajkai Timfoldgyar, Kolontar,
Hình 2.1 Sơ đồ: Các giai đoạn của môt dự án xây dựng 21
Hình 2.2 Sơ đồ: Trình tự ra quyết định đầu tư xây dựng dự án vốn ngân sách 22
Bảng 2.3 Tóm tắt một số chỉ tiêu đánh giá tính khả thi của các dự án đầu tư được sử dụng
Hình 3.1: Sơ đồ thực hiện nghiên cứu 28
Bảng 3.2: Thang đánh giá 9 mức so sánh của phương pháp AHP 33
Hình 3.4 Sơ đồ: Trình tự các bước thực hiện theo phương pháp AHP 36
Bảng 3.5: Khác biệt giữa thẩm định dự án công và dự án tư 38
Hình 3.6: Sơ đồ: Mối quan hệ giữa rủi ro giữa thông tin và tính không chắc chắn 46
Hình 3.7: Sơ đồ thể hiện phương pháp phân tích nhân tố theo Josehp F Hair, Jr (1992) 50
Bảng 4.2: Bảng liệt kê các yếu tố và nhóm yếu tố ảnh hưởng 62
Hình 4.3 Giới thiệu mô hình nghiên cứu được đề xuất với 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến việc
Bảng 5.1: Kết quả thống kê số lượng bảng câu hỏi khảo sát 73
Hình 5.2: Kết quả về thâm niên công tác của đối tượng được khảo sát 73
Hình 5.3: Kết quả về thâm niên công tác của đối tượng được khảo sát 74
Hình 5.4: Kết quả về chức vụ hiện tại của đối tượng được khảo sát 74
Hình 5.5: Kết quả về loại dự án công trình đã tham gia hoặc lập kế hoạch của đối tượng được
Hình 5.6: Kết quả tổng mức đầu tư dự án đã tham gia hoặc lập kế hoạch của đối tượng được
Hình 5.7: Kết quả vai trò của đối tượng được khảo sát trong việc đầu tư dự án 76
Bảng 5.8: Cronbach’s Alpha đối với nhóm yếu tố đặc điểm chung của dự án (dd) 78
Bảng 5.9: Cronbach’s Alpha đối với nhóm yếu tố hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường, an ninh
Trang 8Bảng 5.10: Cronbach’s Alpha đối với nhóm yếu tố tài chính và hiệu quả tài chính (tc) 79
Bảng 5.11: Cronbach’s Alpha đối với nhóm yếu tố về rủi ro nội sinh (rrt) 79
Bảng 5.12: Cronbach’s Alpha đối với nhóm yếu tố về rủi ro ngoại sinh (rrn) 80
Bảng 5.16 Kết quả phân tích hồi quy bội 84
Bảng 5.18 Các thông số thống kê của từng biến trong phương trình hồi quy 85
Bảng 5.19 Trình bày kết quả kiểm định các giả thuyết thống kê đã nêu của mô hình 86
Hình 6.1 Trình tự thiết lập mô hình mẫu ra quyết định đầu tư xây dựng dự án vốn ngân sách.89
Hình 6.3 Cấu trúc thứ bậc dạng hình cây của bài toán RQĐ-ĐT (VNS) 91
Bảng 6.4 Chú thích các ký hiệu trình bày trong mô hình RQĐ-ĐT (VNS) 91
Hình 6.5 Thao tác lựa chọn mô hình phân phối hay lý tưởng 93
Hình 6.6: Thao tác lựa chọn đồ thị phân tích độ nhạy 94
Hình 6.7 Kết quả độ ưu tiên tổng thể của bài toán ra quyết định theo mô hình phân phối
Hình 6.11 Đồ thị phân tích độ nhạy tổng quan của 5 nhóm tiêu chuẩn chính 99
Hình 6.12 Đồ thị phân tích độ nhạy động của 5 nhóm tiêu chuẩn chính 100
Hình 6.13 Đồ thị phân tích độ nhạy hai chiều giữa 2 tiêu chuẩn chính “KTXH” và “TC” 100
Hình 6.14 Đồ thị phân tích độ nhạy sự khác biệt giữa 2 phương án RQĐ-ĐT và RQĐ-KĐT với
Hình 6.15 Đồ thị phân tích độ nhạy đường dốc của tiêu chuẩn chính “DDC” 101
Hình 6.16 Hiển thị cùng lúc 4 đồ thị: tổng quan, độ nhạy động, đường dốc và sự khác biệt 101
Trang 9BẢNG NHẬN XÉT 1
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ 2
LỜI CẢM ƠN 3
TÓM TẮT LUẬN VĂN 4
ABSTRACT 5
DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU 6
MỤC LỤC 8
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 11
1.1 Giới thiệu chung 11
1.2 Xác định các vấn đề cần nghiên cứu 15
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 18
1.4 Phạm vi nghiên cứu 19
1.5 Đóng góp (hoặc kết quả) dự kiến của nghiên cứu 19
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 20
2.1 Tổng quan về tình hình đầu tư ở Việt Nam 20
2.1.1 Các văn bản pháp luật áp dụng hiện hành 20
2.1.2 Trình tự các bước thực hiện công tác đầu tư 20
2.1.3 Trình tự ra quyết định đầu tư dự án vốn ngân sách 22
2.1.4 Các nghiên cứu trước đây về các yếu tố tác động đến dự án xây dựng trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 23
2.1.5 Các nghiên cứu trước đây về việc đầu tư một dự án xây dựng 25
2.2 Các nghiên cứu trước đây về ứng dụng Analytic Hierarchy Process (AHP): 26
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Quy trình nghiên cứu 28
3.2 Thu thập dữ liệu 28
3.3 Các phương pháp, công cụ nghiên cứu 30
3.3.1 Các cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu 30
Trang 10A/ LÝ THUYẾT RA QUYẾT ĐỊNH TRONG QUẢN LÍ 30
B/ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG AHP 31
C/ LÝ THUYẾT THẨM ĐỊNH DỰ ÁN 37
D/ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH 41
E/ PHÂN TÍCH KINH TẾ- XÃ HỘI 43
F/ PHÂN TÍCH RỦI RO 45
G/ LẠM PHÁT 49
H/ LÝ THUYẾT THỐNG KÊ 50
3.3.2 Công cụ nghiên cứu 55
A/ PHẦN MỀM THỐNG KÊ SPSS 56
B/ PHẦN MỀM HỖ TRỢ EXPERT CHOICE (EC) 56
CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 57
4.1 Khái niệm các thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu 57
4.2 Xác định các yếu tố, nhóm yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư dự án xây dựng vốn ngân sách 62
4.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất với 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư hay không đầu tư dự án xây dựng vốn ngân sách 72
CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KIỂM ĐỊNH CÁC GIẢ THUYẾT 73
5.1 Kết quả thống kê và phân tích số liệu thống kê mô tả mẫu của nghiên cứu 73
5.2 Kết quả quá trình phân tích bằng định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư dự án xây dựng vốn ngân sách 77
5.3 Kết luận 86
CHƯƠNG 6: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG AHP ĐỂ XÂY DỰNG MÔ HÌNH RA QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ DỰ ÁN VỐN NGÂN SÁCH 88
6.1 Sơ lược về mô hình ra quyết định đầu tư vốn ngân sách (mô hình RQĐ-ĐT (VNS)):88 6.2 Thiết lập và sử dụng mô hình RQĐ-ĐT (VNS) 89
6.3 Ứng dụng mô hình RQĐ-ĐT (VNS) vào các dự án vốn ngân sách trong thực tế 95
6.4 Kết luận về mô hình RQĐ-ĐT (VNS): 102
Trang 11CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
7.1 Kết luận 103
7.2 Những hạn chế và hướng nghiên cứu tíếp theo 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ LỤC 1, 2, 3, 4, 5
Trang 12CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu chung:
Từ việc nhận thức, lĩnh hội được khái niệm về “một nền kinh tế độc lập tự chủ” trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa, Việt Nam đã đổi mới tư duy kinh tế bằng cách mở cửa hội nhập và từng bước thực hiện các chính sách đổi mới trong suốt 20 năm qua Cụ thể là việc
đổi mới toàn diện hệ thống pháp luật như thay đổi Hiến pháp 1992, sửa đổi và ban hành
mới hàng loạt các Luật và Pháp lệnh để phù hợp với các điều kiện đổi mới và hội nhập kinh tế thế giới; cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và các chính sách kinh tế theo hướng phát
huy mọi năng lực sản xuất lẫn tiềm năng của đất nước [27] Và thực tiễn đã chứng minh Việt Nam từ một nền kinh tế khép kín đã ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế quốc
tế (nổi bật là sự kiện Việt Nam gia nhập, trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ
chức thương mại quốc tế năm 2006 và được Mỹ thông qua Quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn), đồng thời tiếp nhận nhiều nguồn vốn đầu tư (FDI, ODA, …) lẫn
công nghệ mới từ các tập đoàn lớn ở các nước trên thế giới thuộc các lĩnh vực công nghệ, dịch vụ Điều này giúp Việt Nam tiếp cận nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ-kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, xây dựng thêm nhiều cơ sở hạ tầng, đồng thời gia tăng năng suất lao động, cải tiến chất lượng sản phẩm, trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ công nhân Việt Nam…
Bảng 1.1: Cơ cấu vốn đầu tư ở Việt Nam phân theo thành phần kinh tế
Trang 13Nhìn vào bảng tỷ trọng của các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, ta thấy có sự thay đổi về tỷ trọng trong nguồn vốn từ kinh tế nhà nước giai đoạn năm 1995-2000 và năm 2001 – 2008, chứng tỏ có sự đổi mới về tư duy quản lý của nhà nước khi chuyển dần nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong các năm 2001-2008, nhà nước đã rút dần vai trò đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh, tập trung đầu tư vào những lĩnh vực, những vùng mà các nhà đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài không muốn đầu tư như đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào chương trình xóa đói giảm nghèo, nhất là các vùng sâu, vùng xa, … Riêng năm 2009, xu hướng gia tăng tỷ trọng nguồn vốn kinh tế nhà nước nhằm: bù đắp phần sụt giảm của nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài do tình hình khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đồng thời nhà nước cũng bù đắp lãi suất ngân hàng trong nước để giúp các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, giải cứu tình trạng suy giảm kinh tế trong nước, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm gia tăng do giảm biên chế ở các công ty … Qua đó cũng đã thể hiện vai trò quyết định của nguồn nội lực _ nguồn vốn đầu tư trong nước_ đối với sự nghiệp phát triển kinh tế Việt Nam, nâng cao đời sống nhân dân [28]
Ngoài ra, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong dài hạn của Việt Nam từ năm 1992 đến nay cũng đã thể hiện sự tăng trưởng của nền kinh tế nước nhà theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảng 1.2: Cơ cấu các ngành kinh tế Việt Nam từ năm 1990 - 2009
Trang 14về vấn đề này, ông Lý Xương Bình, Chủ nhiệm nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu xây dựng nông thôn trường Đại học Hà Bắc Trung Quốc, đã nhận xét: “Tôi gọi nền kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế đèn cầy Chúng tôi đốt sáng chính bản thân để mang ánh sáng cho người khác, hủy hoại chính bản thân Tôi cho rằng 30 năm phát triển vừa qua của Trung Quốc là thời gian phát triển khó khăn và có nhiều mâu thuẫn nhất 30 năm qua chúng tôi đã hy sinh quá nhiều thứ để phát triển, vậy trong những năm sắp tới chúng tôi sẽ phát triển dựa trên cái gì đây và phải trả giá như thế nào cho sự phát triển”…Khác với Trung Quốc, Singapore trong vòng 40 năm kể từ ngày giành độc lập đã thành công không chỉ về tăng tưởng kinh tế mà còn phát triển xã hội Đó là nhờ “việc sử dụng ngân sách một cách chặt chẽ, cùng với những chính sách phân bổ nguồn lực hiệu quả bằng việc trợ giá và
cơ chế thị trường, sự can thiệp của nhà nước vào xã hội thông qua việc đem lại những cơ hội kinh tế, một chính quyền có đủ năng lực và trung thực, một tầm nhìn dài hạn và thái độ hợp tác”… [27] Qua các trải nghiệm thực tiễn ở các nước láng giềng, chứng tỏ phải phát triển đất nước bền vững dựa trên sự kết hợp hài hòa về phát triển kinh tế, xã hội và môi trường Định hướng phát triển bền vững chính là cơ sở để xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển của tất cả các ngành, địa phương để Việt Nam có thể hội nhập sâu hơn vào thị trường thế giới, nâng cao năng lực cạnh tranh với các quốc gia khác…
“Phát triển nhanh phải gắn liền với bền vững” chính là một trong những mục tiêu quan trọng trong quan điểm phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước trong giai đoạn
Trang 152011-2015 vừa được Đại hội Ban chấp hành Trung ương Đảng đề ra, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại [29]
Sự phát triển bền vững cũng được đặt ra trong việc xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của các dự án đầu tư xây dựng có vốn ngân sách nhà nước Đó là sự đầu tư không dựa trên yếu tố lợi nhuận là chính mà xuất phát từ lợi ích quốc gia, đảm bảo mục đích kinh tế xã hội, môi trường, an ninh quốc gia …
Trong tình hình hiện nay, với sự sụt giảm nguồn vốn ngân sách do kích cầu kinh tế trong năm 2009, thực hiện cắt giảm một số loại thuế theo cam kết song phương đã được ký kết khi gia nhập WTO (giảm 22% thuế nhập khẩu trong vòng 5 năm và 36% trong 10.600 dòng thuế đưa ra đàm phán với lộ trình kéo dài bình quân từ 5-7 năm) và tình hình giá dầu thô, vàng tăng mạnh trên thế giới làm cho giá cả trong nước cũng tăng theo, nguy cơ lạm phát cao …thì việc sử dụng hiệu quả đồng vốn ngân sách là một yêu cầu quan trọng hàng đầu
Theo đánh giá của Tổng hội Xây dựng Việt Nam, có thể nhận thấy dễ dàng hiệu quả đầu tư
qua chỉ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio)_ là tỷ lệ phần trăm vốn đầu tư bỏ ra
để tạo một đơn vị phần trăm gia tăng tổng sản phẩm trong nước Chỉ số ICOR càng cao chứng tỏ hiệu quả đầu tư thấp, tình trạng lãng phí, thất thoát còn xảy ra …
Hình1.3 Chỉ số ICOR qua các thời kỳ
Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam, [38]
Chính vì sự có hạn của nguồn vốn ngân sách cũng như tài nguyên thiên nhiên nên việc quyết định đầu tư xây dựng không hợp lý sẽ làm lãng phí tài sản của nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân nơi dự án xây dựng và có thể đánh mất cơ hội đầu tư khác của đất nước, làm phai dần niềm tin của dân chúng … Tùy theo quy mô và nguồn vốn đầu tư mà mức độ ảnh hưởng của một dự án xây dựng sẽ tác động đến nền kinh tế, xã
Trang 16hội, chính trị của vùng, khu vực nơi dự án tồn tại khác nhau Bên cạnh đó, do đặc thù của ngành xây dựng mà nhiều yếu tố rủi ro từ bên ngoài tác động vào dự án cũng ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của dự án như yếu tố lạm phát, sự biến động của giá cả, tỷ giá hối đoái …
Dự án được đầu tư sẽ trở nên an toàn và có hiệu quả cao hơn nếu tất cả các yếu tố ảnh hưởng được xem xét một cách toàn diện, đồng thời Hơn nữa, việc nhận định, đánh giá tính hiệu quả dự án cần phải khách quan, trung thực và mang tính khoa học
1.2 Xác định các vấn đề cần nghiên cứu:
Bản chất chủ yếu của việc đầu tư là mang lại lợi nhuận cho người đầu tư hay lợi ích cho xã hội, cộng đồng, quốc gia Một dự án đầu tư không hiệu quả tức là đã sử dụng nguồn vốn không hiệu quả, đồng nghĩa với lãng phí: về tiền, sức lao động, thời gian lao động, cơ hội, tiềm năng, ảnh hưởng đến nền kinh tế - xã hội, đôi khi còn gây tác hại xấu đến môi trường,
… ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững đất nước Vì vậy, Luật Đầu tư đã quy định, việc
sử dụng vốn nhà nước đầu tư_ vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng
do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư khác của Nhà nước_ phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư thẩm định và
chấp thuận đồng thời thực hiện đầu tư đúng pháp luật, đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng, chống dàn trải, lãng phí, thất thoát, khép kín
Lãng phí là việc quản lý, sử dụng tiền, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên không hiệu quả, … là vượt định mức, tiêu chuẩn quy định hay không đạt mục tiêu (trường hợp lĩnh vực đó có quy định) [5] Thực tế, việc lãng phí xảy ra trong hầu hết các giai đoạn của dự án đầu tư do nhiều nguyên nhân Bộ Xây dựng đã liệt kê các nguyên nhân gây lãng phí từ 43 công trình sai phạm có tổng mức đầu tư trên 5.362 tỉ đồng, trong
đó vốn từ ngân sách chiếm 79,6%:
Quyết định đầu tư sai
Thiếu quy hoạch, không tuân thủ quy hoạch
Thiếu nguồn vốn nhưng vẫn quyết định đầu tư và bố trí vốn đầu tư dàn trải
Năng lực của các tổ chức tư vấn khảo sát, thiết kế yếu kém
Chất lượng thi công xây dựng yếu kém
Sự phối hợp quản lý đầu tư xây dựng các chương trình trọng điểm quốc gia giữa các
Bộ, Ngành, địa phương chưa chặt chẽ
Trong thời gian qua, việc quy hoạch “nửa vời” (quy hoạch treo) và quy hoạch “thiếu đồng bộ” giữa các ngành, các địa phương không chỉ gây lãng phí, chưa phát huy hiệu quả tổng thể mà còn mang lại hậu quả rất lớn [30, 31] Không chỉ lãng phí về đất đai mà còn ảnh hưởng đến công ăn việc làm, thói quen, sinh hoạt hàng ngày của người dân do phải chờ giải tỏa, hiện tượng đầu cơ gây bất ổn trong thị trường nhà đất, thậm chí còn gây ô nhiễm
Trang 17môi trường, làm ảnh hưởng đến bộ mặt của đô thị, của địa phương [30] Vấn đề thiếu tầm nhìn dài hạn trong hoạch định quy hoạch cũng dẫn đến một số dự án mới hoàn thành đã lạc hậu Ước tính lãng phí ở khâu quy hoạch chiếm tới (60-70) % tổng số thất thoát, lãng phí vốn NSNN [33]
Kết quả báo cáo của Chính phủ và báo cáo giám sát của đoàn giám sát Ủy Ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) cho thấy tình trạng sử dụng vốn kém hiệu quả do bố trí vốn dàn trải, thiếu đồng bộ, “khép kín” sự phát triển trong từng tỉnh, “chạy theo thành tích tăng trưởng” của các địa phương trong thực hiện chính sách về đầu tư XDCB sử dụng vốn nhà nước ở các Bộ, Ngành, địa phương giai đoạn 2005-2007 Chẳng hạn, năm 2005 có 2.280 dự án chậm tiến độ, chiếm 9,2% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong năm, trong đó 48 dự án nhóm A chậm tiến độ, chiếm 11,54% tổng số các dự án nhóm A thực hiện đầu tư trong năm; năm 2006 có 3.595 dự án chậm tiến độ, chiếm 13,1%, trong đó có 25 dự án nhóm A (8,28%); năm 2007 có 3.979 dự án chậm tiến độ, chiếm 13,9%, trong đó có 19 dự án nhóm
A (7,88%) [34] Qua đó, cho thấy hậu quả rất lớn của việc ban hành quyết định đầu tư sai, thiếu thực tế cũng như vai trò quyết định của các cơ quan đứng đầu đồng thời cho thấy cần tăng cường công tác thẩm tra, thẩm định trong khâu quyết định đầu tư
Bên cạnh đó, yếu tố làm cho việc sử dụng nguồn vốn đầu tư kém hiệu quả phổ biến trong quá trình thực hiện dự án là việc chậm tiến độ dẫn đến kéo dài thời gian hoàn thành dự án, chi phí tăng …hậu quả dự án chậm đưa vào sử dụng và khai thác Theo Bộ trưởng Bộ GTVT Hồ Nghĩa Dũng thì nguyên nhân chủ yếu gây chậm tiến độ của các dự án vốn ngân sách nhà nước là do vốn cấp chậm, khó khăn trong việc giải phóng mặt bằng, sự biến động của giá nguyên vật liệu chính, năng lực thực hiện của nhà Thầu thi công còn yếu kém (tài chính, thiết bị thi công, trình độ công nghệ, trình độ cán bộ kỹ thuật), sự quản lý còn lỏng lẻo của các cơ quan chức năng ở ngành, địa phương [32]
Ngoài ra, sự phát triển tích cực về cơ sở vật chất trong ngành xây dựng: mở rộng cơ sở hạ tầng giao thông, xây dựng nhiều đô thị mới, khu du lịch, nghỉ mát, khu công nghiệp, dịch
vụ … cùng với tốc độ gia tăng dân số nhanh dẫn đến diện tích đất nông nghiệp, đất rừng, lẫn sông ngòi, kênh rạch ngày càng bị thu hẹp; tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt ngày càng gia tăng do các loại chất thải, nước thải chưa qua xử lý từ hoạt động sản xuất công nghiệp, xây dựng và sinh hoạt gây nên, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm do các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy; tình trạng ô nhiễm không khí do khói, bụi; tiếng ồn cũng ngày càng tăng, dẫn đến nguy cơ mất cân đối trong hệ sinh thái, ….ảnh hưởng đến phát triển bền vững môi trường Vì vậy, Chính phủ yêu cầu cần mọi người nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường (nước, biển …), khai thác tài nguyên (khoáng sản, ) hợp lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên (đất đai, nước …) tiết kiệm và có hiệu quả đồng thời Chính phủ kêu gọi sự hỗ
Trang 18trợ của cộng đồng thế giới trong việc thực hiện cải tạo các sông ngòi, kênh rạch ở Việt Nam đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, chẳng hạn như dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè, cải tạo kênh nước Đen, cải tạo ô nhiễm kênh Tham Lương – Bến Cát – rạch Nước Lên … Mặc dù vậy, thực tế vẫn tồn tại nhiều trường hợp, xuất phát từ lợi nhuận kinh tế và lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo, thiếu kiểm soát thường xuyên của các cơ quan chức năng về môi trường mà các chủ kinh doanh cố tình xả nước thải chưa qua xử lý xuống sông Điển hình gần đây và nghiêm trọng nhất là việc công ty Vedan Việt Nam cố tình xả thải gây ô nhiễm dòng sông Thị Vải…
Hình 1.4 Sông Thị Vải trở thành dòng sông chết Ảnh SGTT
Để ngăn ngừa, hạn chế những tác động tiêu cực của dự án đến môi trường, Luật bảo vệ môi trường quy định, khi đầu tư dự án thì Chủ đầu tư phải lập báo cáo đánh giá tác động của dự án đối với môi trường trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Danh mục các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường được ghi rõ trong Nghị định số 21/2008/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 28/02/2008 Tuy vậy, vẫn tồn tại các rủi ro tiềm ẩn do hạn chế trình độ chuyên môn, không có kinh nghiệm của các cơ quan thực hiện
và thẩm tra các báo cáo đánh giá tác động môi trường [35] Ví dụ như hai dự án thử nghiệm về khai thác bauxite ở Tân Rai Lâm Đồng đã bắt đầu thực hiện từ tháng 7/2008 và Nhân Cơ ở Đăk Nông vừa mới thực hiện đầu năm 2010 Cả 2 dự án đều sử dụng công nghệ Bayer và thiết bị kỹ thuật để thực hiện công nghệ này là hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài Hơn nữa, trong quá trình chế biến bauxite tạo ra chất thải bùn đỏ_ gồm các thành phần không thể hòa tan, trơ, không biến chất và tồn tại mãi mãi như Hematit (Fe2O3), Natri silico aluminate, Monohydrate nhôm (Al2O3.H2O) … hậu quả là phá hủy môi trường chẳng những tại chỗ mà còn ảnh hưởng đến vùng đồng bằng Nam Bộ, và thiệt hại rất lớn nếu các hồ chứa bùn đỏ này chẳng may bị vỡ… [35] Và thực tế, thảm họa bùn đỏ ở Hungary ngày 04/10/2010 luôn là một bài học kinh nghiệm quý giá đối với nước ta khi
Trang 19quyết định những vấn đề liên quan đến khai thác bauxite nói riêng, tài nguyên khoáng sản nói chung
Hình 1.5 Đoạn đê bị vỡ của một hồ chứa bùn đỏ thuộc nhà máy Ajkai
Timfoldgyar, Kolontar, cách thủ đô Budapest của Hungary 160km
Ảnh chụp ngày 08/10/ 2010, do phóng viên Nam Nguyên, RFA
Các phân tích trên cho thấy việc “làm đúng, làm tốt ngay từ đầu” là điều vô cùng cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thị trường có nhiều biến động như hiện nay Đồng thời cho thấy vai trò và trách nhiệm to lớn của các cấp thẩm quyền quyết định đầu tư dự án, nhất là
dự án có nguồn vốn ngân sách cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định đầu tư
Mục đích chính của việc thẩm định là xem xét, đánh giá tính hiệu quả và tính khả thi của
dự án đầu tư Kết quả thẩm định là cơ sở để giúp cơ quan thẩm quyền phân tích và tổng hợp từ đó ra quyết định nên đầu tư hay không đầu tư Đối với dự án đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách thì việc đánh giá này phức tạp hơn nhiều vì phải xem xét kỹ thêm về khía cạnh kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng ngoài khía cạnh tài chính và môi trường mà thông thường các chỉ tiêu này mâu thuẫn nhau Mặt khác, việc đánh giá mức độ quan trọng giữa các dữ liệu định tính với nhau là điều khó khăn, dễ sai lệch do ước đoán mang tính chủ quan và thiếu cơ sở khoa học Và sẽ càng khó khăn hơn nếu kể thêm các rủi ro liên quan đến việc quyết định đầu tư dự án
Vì vậy, các vấn đề cần nghiên cứu của luận văn là xác định các yếu tố định tính ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư dự án vốn ngân sách để từ đó xây dựng nên mô hình hỗ trợ ra quyết định dựa trên phương pháp định lượng AHP (Analytic Hierarchy Process) Điều này
sẽ giúp người ra quyết định cũng như đơn vị thẩm định có cơ sở chắc chắn hơn và hiệu quả hơn khi phê duyệt dự án đầu tư, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN
1.3 Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đáp ứng các mục tiêu sau đây:
www.rfa.org
Trang 20Phân tích, đánh giá và xác định các yếu tố ảnh hưởng và các nhân tố đại diện cho các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư dự án xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách tại Việt Nam
Từ đó, xây dựng mô hình hỗ trợ ra quyết định có nên đầu tư hay không đối với dự án xây dựng vốn ngân sách từ các nhân tố trên bằng cách kết hợp ứng dụng phương pháp định lượng AHP (Analytic Hierarchy Process) và phần mềm hỗ trợ ra quyết định EC (Expert Choice)
Kiểm nghiệm mô hình qua một vài dự án được đầu tư xây dựng tại Việt Nam
1.4 Phạm vi nghiên cứu:
Vì thời gian và kinh phí có hạn nên đề tài chỉ nghiên cứu trong những giới hạn sau đây:
Góc độ phân tích: nghiên cứu là của các cấp thẩm quyền quyết định đầu tư dự án (do
vốn ngân sách), do đó việc thiết lập mô hình hỗ trợ ra quyết định đầu tư đảm bảo chủ yếu lợi ích chung của cộng đồng, xã hội, và an ninh quốc phòng
Phạm vi nghiên cứu: do tùy theo loại dự án đầu tư và quy mô đầu tư mà việc xác định
các nhân tố ảnh hưởng sẽ khác nhau Do đó, nghiên cứu giới hạn trong phạm vi xây dựng dân dụng và không thuộc cấp công trình đặc biệt trên địa bàn khu vực TP HCM
và các tỉnh lân cận Thời gian thực hiện nghiên cứu là 6 tháng, bắt đầu từ tháng 6 năm
2010 đến tháng 12 năm 2010
Đối tượng khảo sát: Việc thu thập dữ liệu khảo sát chủ yếu là từ những người đã có
kinh nghiệm trong quản lý đầu tư xây dựng, lập dự án xây dựng, các chủ nhiệm dự án, trưởng ban quản lý dự án, trưởng phòng đầu tư, các kiến trúc sư hay kỹ sư quản lý dự
án, các cán bộ chuyên làm nhiệm vụ thẩm định dự án … nhằm đảm bảo dữ liệu thu được là chính xác, tin cậy và hiệu quả cao trong thời gian ngắn nhất
1.5 Đóng góp (hoặc kết quả) dự kiến của nghiên cứu:
Ý nghĩa thực tiễn: nghiên cứu sẽ cung cấp một mô hình chung với cái nhìn tổng hợp
đề cập đến các chỉ tiêu ảnh hưởng đến tính khả thi của một dự án đầu tư Mô hình hỗ trợ này được ứng dụng cho các dự án đầu tư xây dựng có vốn ngân sách ở Việt Nam
Nó phù hợp với chính sách phát triển bền vững của đất nước và mang tính khoa học giúp cho người quyết định phê duyệt đầu tư có cơ sở vững chắc, ra quyết định nhanh về vấn đề đầu tư hay không đầu tư dự án
Ý nghĩa khoa học: giúp học viên ứng dụng những kiến thức lý thuyết về đầu tư, đánh
giá, lập và thẩm định dự án đầu tư vào điều kiện tình hình thực tế và kế thừa thành quả nghiên cứu khoa học ứng dụng vào đề tài nghiên cứu của mình Ngoài ra, đề tài còn là một tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho những người nghiên cứu tiếp theo sau này
Trang 21CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về tình hình đầu tư ở Việt Nam:
2.1.1 Văn bản pháp luật áp dụng hiện hành:
Hệ thống pháp luật Việt Nam có liên quan đến hoạt động đầu tư:
- Luật Đầu tư (2005)
- Luật Đất Đai (2003)
- Luật Bảo vệ Môi trường (2005)
- Luật Thực hành Tiết Kiệm, Chống Lãng Phí (2005)
- Luật Ngân sách Nhà nước (2002)
- Luật Xây Dựng (2003)
- Luật thuế
- Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/08/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự
21 của Việt Nam)
- Nghị định số 108/2006/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
- Nghị định số 12/2009/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
- Nghị định số 08/2005/NĐ-CP về Quy hoạch Xây dựng
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về Quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP về thi hành Luật Đất đai
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Quyết định số 35/2010/QĐ-UBND ban hành Quy định về Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn TP.HCM
2.1.2 Trình tự các bước thực hiện dự án đầu tư:
Trình tự thực hiện một dự án đầu tư xây dựng được chia làm 3 giai đoạn chính:
Trang 22Hình 2.1 Sơ đồ: Các giai đoạn của môt dự án xây dựng [58]
1 Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu tư
Nghiên cứu thị trường, khả năng đầu tư và lựa chọn địa điểm xây dựng công trình
Lập báo cáo đầu tư xây dựng công trình (báo cáo nghiên cứu tiền khả thi) để trình cấp có thẩm quyền cho chủ trương đầu tư Đối với các dự án quan trọng quốc gia, CĐT phải lập báo cáo đầu tư trình chính phủ xem xét và Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư và cho phép đầu tư Đối với các dự án khác, CĐT phải lập dự án đầu
tư xây dựng công trình [6]
Lập dự án đầu tư xây dựng công trình (báo cáo nghiên cứu khả thi) nếu báo cáo đầu
tư được phê duyệt
Đối với các dự án không phải lập báo cáo đầu tư thì CĐT lập luôn dự án đầu tư (báo cáo nghiên cứu khả thi) để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc lập báo cáo kinh
tế - kỹ thuật với những công trình không cần lập dự án đầu tư [1, 6]
Giai đoạn này kết thúc khi nhận được văn bản Quyết định đầu tư (dự án đầu tư thuộc vốn Nhà nước) hoặc văn bản Giấy phép đầu tư (đầu tư của các thành phần kinh tế khác)
do cấp có thẩm quyền ban hành
2 Giai đoạn 2: Thực hiện đầu tư
Xin giao đất hoặc thuê đất để xây dựng công trình
Đền bù, giải phóng mặt bằng
Thiết kế công trình và lập dự án
Thẩm định thiết kế
Xin giấy phép xây dựng, giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có)
Đấu thầu xây lắp và mua sắm thiết bị
Thực hiện thi công xây dựng công trình
3 Giai đoạn 3: Kết thúc đầu tư
Tổng nghiệm thu và bàn giao công trình
Đưa công trình vào sử dụng
Kết thúc dự án xây dựng
Trang 23 Bảo hành công trình
Quyết toán vốn đầu tư
2.1.3 Trình tự ra quyết định đầu tư dự án vốn ngân sách (trừ dự án tôn giáo và dự án có tổng
mức đầu tư < 15 tỷ đồng) [6]:
Hình 2.2 Sơ đồ: Trình tự ra quyết định đầu tư xây dựng dự án vốn ngân sách
Theo điều 3 của Nghị định 12/2009/NĐ-CP: Trước khi lập dự án đầu tư xây dựng công trình đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì Người quyết định đầu tư sẽ quyết định Chủ Đầu tư xây dựng công trình_ người được giao quản lý và sử dụng vốn
để đầu tư xây dựng công trình
Theo điều 2 khoản 3 của Nghị định 12/2009/NĐ-CP thì: Nhà nước sẽ quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước Cụ thể:
từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng
Theo điều 3 của Nghị định 12/2009/NĐ-CP: Người quyết định đầu tư hoặc người ủy quyền quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc giám sát, đánh giá đầu
tư Riêng đối với dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư thì Bộ quản lý
NQĐĐT
Chỉ định
Chủ đầu
tư
Lập báo cáo đầu
tư
Lập dự
án đầu
tư xây dựng công trình
* Các dự án nhóm A: do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định để trình Thủ tướng xem xét Tùy theo tính chất và sự cần thiết của từng dự án Thủ tướng yêu cầu Hội đồng thẩm định Nhà nước về dự án đầu tư nghiên cứu và tư vấn trước khi quyết định đầu
tư (Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư là Chủ tịch HĐTĐNN về các dự án đầu tư)
* Các dự án nhóm B và C: thì người có thẩm quyền quyết định đầu tư có thể sử dụng các cơ quan chuyên môn trực thuộc hoặc có thể lựa chọn tổ chức tư vấn để thẩm định
Thẩm định nhằm loại bỏ dự án chưa thực sự cần thiết hoặc hiệu quả đầu tư còn nghi ngờ
Dự án quan trọng quốc gia
Dự án khác
Ra quyết định
NQĐĐT duyệt đồng ý
Trang 24ngành tổ chức thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan đầu mối để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ
Thẩm quyền quyết định đầu tư đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước (khoản 1 điều 12 của NĐ12/2009/NĐ-CP):
a Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư: các dự án quan trọng quốc gia theo Nghị quyết của Quốc hội và các dự án quan trọng khác
b Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, quyết định đầu tư các dự án nhóm A, B, C Đối với các dự án nhóm B, C thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ được ủy quyền hoặc phân cấp quyết định đầu tư cho cơ quan cấp dưới trực tiếp
c Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư các dự án nhóm A, B, C trong phạm vi và khả năng cân đối ngân sách của địa phương sau khi thông qua Hội đồng nhân dân cùng cấp Đối với các dự án nhóm B, C thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được ủy quyền hoặc phân cấp quyết định đầu tư cho cơ quan cấp dưới trực tiếp
d Tùy theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã được quyết định đầu
tư các dự án có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách cấp trên
Nội dung quyết định đầu tư xây dựng đầu tư công trình theo mẫu (khoản 4 điều 12 và
dự án trong giai đoạn này
Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả N D Long và Đ.T.X Lan (2003): các yếu tố góp phần thành công dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư là: (1) Xác định mục tiêu và quy mô dự án rõ
Trang 25ràng (2) Sự quyết tâm của các bên tham gia thực hiện, quyết tâm đối với dự án và sự động viên, ủng hộ, khuyến khích kịp thời của cấp lãnh đạo là điều kiện tiên quyết nhằm đảm bảo môi trường làm việc thuận lợi cả bên trong và bên ngoài dự án
Theo Nguyễn Văn Hiệp (2001) những nguyên nhân chính làm cho dự án thất bại trong giai đoạn này: (1) năng lực của Ban quản lý dự án trong việc lập dự án, lập báo cáo nghiên cứu khả thi không phù hợp cũng là nguyên nhân làm dự án thất bại (2) việc lựa chọn các đơn vị tư vấn thực hiện các công tác về dự báo và nhu cầu thiếu chính xác dẫn đến không sử dụng được hoặc
sử dụng không phù hợp, gây lãng phí, (3) xây dựng và xác định dự án không hợp lý làm phát sinh những vấn đề khác trong quá trình thực hiện kéo theo chậm tiến độ và vượt kinh phí so với dự tính [59]
Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Duy Long và Lưu Trường Văn (2003) về “Các vấn đề vướng mắc của các dự án ở Thành phố Hồ Chí Minh” cũng đã cho thấy 2 yếu tố trong nhóm
“vấn đề về địa điểm dự án” là: “giải tỏa mặt bằng chậm” và “đền bù không thỏa đáng” luôn là những vấn đề khó khăn phổ biến trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng để thực hiện dự
Đỗ Hoàng Hải (2005) đã xác định các yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến đến sự thành công dự
án, trong đó có một số yếu tố thuộc giai đoạn chuẩn bị đầu tư và một yếu tố rủi ro về chi phí như: (1) yếu tố về năng lực Ban QLDA, (2) yếu tố đền bù giải tỏa, (4) yếu tố về tài chính, (5) yếu tố mục tiêu và quy mô dự án”, (6) yếu tố về giám đốc Ban QLDA, (7) yếu tố chính xác trong việc báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và báo cáo khả thi, (8) yếu tố về văn bản pháp lý, (9) yếu tố về công nghệ, (10) yếu tố về sự gia tăng chi phí giá cả [56]
Thiều Quang Tân (2005) đưa ra những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của dự án xây dựng trong giai đoạn này và hai yếu tố rủi ro có thể xảy ra gồm: (1) Chủ đầu tư (Ban QLDA) không xây dựng được yêu cầu kỹ thuật, tính năng hoạt động và mục tiêu của dự án rõ ràng, (2) Những biến động về giá cả thị trường, (3) Những trở ngại trong công tác đền bù giải phóng mặt bằng, (4) Những khó khăn về tài chính của Chủ đầu tư, (5) Công tác chuẩn bị đầu tư, nghiên cứu khả thi lập dự án, lập thiết kế dự toán quá nhiều thủ tục, thời gian trước khi khởi công, (6) Chính sách của Nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng thay đổi, (7) Những điều kiện bất thường của dự án như thời tiết không thuận lợi, thi công xây lắp gặp đá ngầm … [59]
Trang 262.1.5 Các nghiên cứu trước đây về việc đầu tư một dự án xây dựng:
Sự phát triển gắn liền với việc đầu tư xây dựng và đổi mới do đó đã có nhiều đề tài nghiên cứu trong nước trước đây liên quan đến việc đánh giá tính hiệu quả, khả thi của dự án cụ thể Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu đều đề cập chủ yếu về chỉ tiêu về tài chính (lợi nhuận)
mà chủ đầu tư sẽ có được khi đầu tư vào một dự án cụ thể nào đó ngay cả khi có xem xét đến các rủi ro có thể gây tác hại xấu, cụ thể:
Bảng 2.3: Tóm tắt một số chỉ tiêu đánh giá tính khả thi của các dự án đầu tư được sử dụng
trong các đề tài nghiên cứu trước đây
Các chỉ tiêu phân tích STT Tác giả Loại dự án Tài
chính
Kinh tế-xã hội
Rủi
ro
Lạm phát
Môi trường
Chính trị
1 Lê Thụy Phương Vy
Cao ốc văn phòng – thương mại
4
Nguyễn T
Phương Dung
8 Đinh Viết Huy
Công viên Gia Định-câu lạc bộ
Thanh Minh
Dự án nhà máy Thủy điện Đakmi 4-tỉnh Quảng Nam
x x x
13 …
Nhận xét:
- Các dự án đều đề cập đến phân tích tài chính (tức lợi nhuận) là nhiều (có lẽ do chủ đầu tư
là doanh nghiệp tư nhân, hoặc doanh nghiệp nước ngoài trực tiếp bỏ vốn để kinh doanh, ngay cả khi có xét rủi ro, lạm phát
Trang 27- Trình bày dưới dạng báo cáo bằng thuyết minh, gồm các dữ liệu định tính và định lượng đan xen nhau do đó gây khó khăn cho người ra quyết định trong việc tổng hợp, đánh giá đồng thời các chỉ tiêu này
Việc thiết lập mô hình hỗ trợ giúp người ra quyết định đầu tư dễ dàng quyết định trên các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư và kinh nghiệm tích lũy kết hợp báo cáo đánh giá của các cơ quan thẩm định đầu tư, các bộ ngành liên quan …
2.2 Các nghiên cứu trước đây về ứng dụng Analytic Hierarchy Process (AHP):
Phương pháp định lượng AHP đã được nghiên cứu và ứng dụng rất lâu ở các nước trên thế giới và trong các lĩnh vực khác nhau Riêng ở Việt Nam đã và đang có nhiều đề tài nghiên cứu ứng dụng phương pháp định lượng này trong việc hỗ trợ ra quyết định, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng và quản lý xây dựng như:
Luận văn của Thái Bình An, 2007: “Định lượng các tiêu chuẩn đánh giá HSDT bằng phương pháp AHP và đề xuất các giải pháp cải tiến công tác đấu thầu”
Luận văn của Nguyễn Tấn Thiện, 2007: “Xây dựng hệ thống hỗ trợ quy trình ra quyết định đánh giá lựa chọn nhà đầu tư dự án xây dựng bằng phương pháp AHP”
Luận văn của Nguyễn Thanh Phong, 2007: “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp định lượng Analytic Hierarchy Process (AHP) để xây dựng mô hình lựa chọn chủ nhiệm dự án”
Luận văn của Nguyễn Hồng Quan, 2008: “Ứng dụng mô hình AHP (Analytic Hierarchy Process) để lựa chọn thiết bị thi công nhà cao tầng”
Luận văn của Nguyễn Trung Hưng, 2008: “Ứng dụng mô hình AHP (Analytic Hierarchy Process) để lựa chọn nhà thầu phụ trong điều kiện Việt Nam Trường hợp áp dụng: Lựa chọn nhà thầu thi công cọc khoan nhồi”
Luận văn của Nguyễn Đăng Thanh, 2008: “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định dự thầu hay không dự thầu và ứng dụng định lượng Analytic Hierarchy Process (AHP) để xây dựng mô hình ra quyết định”
Luận văn của Lê Thanh Điệp, 2009: “Đánh giá rủi ro ảnh hưởng đến sự thành công của các liên doanh (VN và nước ngoài) trong quá trình đầu tư và xây dựng dự án bằng phương pháp AHP mờ
…
Do tính tiện ích, dễ sử dụng và cho hiệu quả cao của phương pháp AHP mà nhiều tác giả đã ứng dụng để xây dựng mô hình ra quyết định Qua đó, một số nhân tố giữ vai trò đặc trưng nhất trong nhiều yếu tố tác động cần đưa vào để so sánh, sẽ được chọn ra để người thẩm quyền quyết định lựa chọn
Trang 28Vì đề tài đề cập đến nội dung lựa chọn các nhân tố quan trọng nhất để ra quyết định đầu tư xây dựng dự án vốn ngân sách ở Việt Nam nên nghiên cứu này cũng chọn phương pháp định lượng AHP làm cơ sở để xây dựng mô hình
Trang 29CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
3.1 Quy trình nghiên cứu:
Trình tự nghiên cứu sẽ thực hiện theo sơ đồ sau:
Dựa trên các quy chuẩn, tiêu chuẩn, qui định hiện hành và tình hình thực tế về vấn đề đầu tư
dự án xây dựng vốn ngân sách ở Việt Nam và các tài liệu tham khảo liên quan đến đầu tư, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm yếu tố và 40 yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư của
+ Xây dựng mô hình nghiên cứu
(xây dựng cấu trúc thứ bậc)
+ Thang đo + Bảng câu hỏi
Không thỏa (lần 1)
Thỏa
Xây dựng mô hình trên Expert Choice
Kiểm định mô hình RQĐ đầu tư
Áp dụng hai dự án cụ thể
Kết luận
Về nhóm các nhân tố ảnh hưởng và cấu trúc
+ Phân tích quan hệ tuyến tính:
kiểm định mô hình và các giả thuyết đưa ra
Ra quyết định
Trang 30cấp có thẩm quyền Sau đó, phác thảo bảng câu hỏi và nhờ một số chuyên gia có kinh nghiệm lâu năm về các dự án vốn ngân sách cho ý kiến Cuối cùng, bảng câu hỏi sau khi được chỉnh sửa xong sẽ gửi tới các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực xây dựng nhằm thu thập dữ liệu về mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng tới việc ra quyết định đầu tư
Do thời gian thực hiện luận văn có giới hạn và để đảm bảo độ tin cậy các số liệu thu được phù hợp đến vấn đề nghiên cứu, đối tượng chọn khảo sát chủ yếu là những người làm việc lâu năm trong ngành xây dựng thuộc cơ quan, đơn vị nhà nước và phụ trách mảng quản lý và đầu tư dự
án, thẩm định, thẩm tra dự án Chẳng hạn như, cụ thể là các trưởng/ phó Ban QLDA, trưởng/ phó phòng đầu tư, chủ nhiệm dự án, các kiến trúc sư/ kỹ sư/ cán bộ nhà nước có kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư/ quản lý dự án xây dựng…
Bảng câu hỏi được thiết kế dưới dạng hình thức trắc nghiệm và người được khảo sát trả lời
bằng cách đánh dấu chọn X vào ô trống, sử dụng thang đo Likert (giá trị 1 5) để đo lường
mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến việc ra quyết định
Phương pháp gửi bảng câu hỏi: gửi trực tiếp (ưu tiên) và gửi qua email tùy theo đối tượng chọn phỏng vấn
Mẫu và kích thước mẫu: Kết quả nghiên cứu phụ thuộc rất lớn vào cách lựa chọn mẫu nghiên cứu Mẫu là một tập hợp các yếu tố được lấy ra từ tổng thể (gồm tất cả các yếu tố đã biết và chưa biết) Mẫu tốt là mẫu có thể đại diện cho tổng thể, tức có độ sai số do lấy mẫu thấp Sai
số lấy mẫu phụ thuộc vào kích thước và tính đồng nhất của mẫu Kích thước mẫu càng lớn thì kết quả khảo sát càng chính xác do càng tiến gần về kết quả tổng thể Tuy nhiên, trong thực tế việc thu thập nhiều mẫu nghiên cứu là rất khó, hiếm khi thực hiện do hạn chế về thời gian và tốn kém Do vậy, thường là chấp nhận dùng các đặc tính của mẫu để suy ra tổng thể với một mức độ sai số (rủi ro) chấp nhận
Có 3 phương pháp thường dùng để xác định kích thước mẫu như sau:
+ Hoelter (1983): kích thước mẫu tối thiểu phải là 200
+ Theo Bollen (1989): dựa trên nguyên tắc, tối thiểu một biến nghiên cứu là 5 mẫu
+ Theo Luck D.J, Rubin R.S và Phan Văn Thăng (2002) thì kích thước mẫu được xác định theo công thức:
2
2
).(
e
S Z
n Trong đó: S: độ lệch chuẩn của mẫu
e: sai số cho phép Z: giá trị trong phân phối chuẩn được xác định theo hệ số tin cậy
Trang 31Do thời gian nghiên cứu có giới hạn, kích cỡ mẫu dùng cho nghiên cứu này được xác định theo Bollen, cụ thể: với 31 biến x 5 = 155 mẫu Vậy nghiên cứu cần tối thiểu 155 mẫu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư dự án xây dựng vốn ngân sách
Phương pháp lấy mẫu được sử dụng trong nghiên cứu là phương pháp lấy mẫu thuận tiện (phương pháp lấy mẫu phi xác suất) Đây là phương pháp được dùng phổ biến do dễ dàng tập hợp các đơn vị mẫu và cho kết quả đáng tin cậy [46]
Sau khi thu thập được dữ liệu thì tiến hành kiểm tra, đánh giá các dữ liệu bằng cách ứng dụng các lý thuyết thống kê đã học và phần mềm thống kê SPSS
3.3 Các phương pháp, công cụ nghiên cứu:
3.3.1 Các cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu:
Lý thuyết ra quyết định trong quản lý
Phương pháp định lượng AHP
Lý thuyết lập và thẩm định dự án
Lý thuyết phân tích tài chính
Lý thuyết phân tích kinh tế- xã hội
Lý thuyết phân tích rủi ro trong đầu tư dự án
Lạm phát
Lý thuyết Thống Kê
A/ LÝ THUYẾT RA QUYẾT ĐỊNH TRONG QUẢN LÍ :
“Lý thuyết ra quyết định là một phương pháp phân tích có tính hệ thống dùng để nghiên cứu việc tạo ra các quyết định” Để có được một quyết định tốt cần phải dựa trên: lý luận, tất cả số liệu có sẵn, tất cả mọi giải pháp có thể có và các phương pháp định lượng hỗ trợ
[39]
Từ thập niên 80, người ra quyết định (decision maker) phải giải quyết nhiều mục tiêu đồng thời như tài chính, chính trị, xã hội, môi trường… Do đó, việc đề xuất giải thuật cho các bài toán đa mục tiêu, đa tiêu chuẩn là yêu cầu cấp thiết ở thời điểm này
Ngày nay, quá trình ra quyết định hiện đại không còn chỉ dựa vào những nhận xét cảm tính, những ước lượng chủ quan của người ra quyết định nữa mà ngày càng đòi hỏi vai trò cao hơn của những nhà phân tích định lượng Những người này sẽ đảm nhận việc xây dựng bài toán, đề xuất phương pháp giải quyết và tìm kiếm những phương án vượt trội cho những người ra quyết định lựa chọn Để tiến hành xây dựng lời giải, nhà phân tích thường sử dụng các phương pháp toán học như:
Trang 32 Qui hoạch tuyến tính (Linear programming)
Qui hoạch phi tuyến (Non-Linear programming)
Lý thuyết trò chơi (Game theory)
Phân tích biên sai (Marginal analysis)
Cây quyết định (Decision tree)
Lý thuyết độ hữu ích (Utility theory)
Các phương pháp ra quyết định đa tiêu chuẩn (Multi factor/ criteria decision making method)
Qui hoạch tối ưu đa mục tiêu …
Lý thuyết ra quyết định thường được tiến hành theo 6 bước:
Bước1: Xác định rõ vấn đề cần giải quyết (mục tiêu, tiêu chuẩn, ràng buộc, độ ưa thích)
Bước 2: Liệt kê tất cả các phương án có thể
Bước 3: Nhận ra tất cả các tình huống/ trạng thái có thể xảy ra
Bước 4: Ước lượng lợi ích và chi phí của từng phương án ứng với từng trạng thái
Bước 5: Lựa chọn một mô hình toán học trong phương pháp định lượng để tìm lời giải
tối ưu
Bước 6: Áp dụng mô hình để tìm ra lời giải và từ đó ra quyết định
Việc chọn mô hình toán học tuỳ thuộc vào sự hiểu biết, khả năng phán đoán, độ ưa thích riêng của người ra quyết định và thông tin ít hay nhiều về khả năng xuất hiện các trạng thái của hệ thống Và thông thường, bài toán ra quyết định được phân thành 3 loại:
Ra quyết định trong điều kiện chắc chắn, xác định (certainty): khi đó ta biết được chắc chắn khả năng sẽ xảy ra do đó dễ dàng và nhanh chóng ra quyết định
Ra quyết định trong điều kiện rủi ro (risk): là trường hợp ra quyết định khi chỉ biết được xác suất xảy ra của mỗi trạng thái
Ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn, bất định (uncertainty): là ra quyết định trong điều kiện không biết được xác suất xảy ra của mỗi trạng thái hoặc không biết các dữ kiện liên quan đến vấn đề cần giải quyết
B/ PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG AHP:
B.1 Giới thiệu phương pháp định lượng AHP:
Dựa trên cơ sở toán học và tâm lý học, nhà toán học người Mỹ Thomas L Saaty đã phát minh ra một phương pháp ra quyết định (RQĐ) đa tiêu chuẩn gọi là quá trình phân tích
thứ bậc (Analytic Hierarchy Process - AHP) vào những năm đầu thập niên 1970 Từ đó
đến nay, phương pháp này được áp dụng rộng rãi trên khắp thế giới vào mọi lĩnh vực
Trang 33như: chính trị, kinh doanh, công nghệ, y tế và giáo dục, nhờ vậy nó ngày càng trở nên phong phú, đa dạng hơn
Phương pháp AHP cung cấp cho người ra quyết định một cách tiếp cận trực giác, theo
sự phán đoán thông thường để đánh giá sự quan trọng của mỗi thành phần của quyết định thông qua quá trình so sánh từng cặp Đồng thời cho phép người ra quyết định tập hợp các kiến thức của chuyên gia về vấn đề của họ, kết hợp được các dữ liệu khách quan và chủ quan trong một quan hệ thứ bậc hợp lý
Có 4 nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng mô hình theo phương pháp AHP là:
Phân tích và thiết lập sơ đồ thứ bậc của vấn đề cần ra quyết định (decomposition)
Tính toán các độ ưu tiên (prioritization)
Tổng hợp (synthesis)
Đo lường sự không nhất quán (inconsistency measurement)
B.1.1 Phân tích và thiết lập cấu trúc thứ bậc:
Phân tích là khả năng của con người trong nhận thức thực tế dùng để phân biệt và trao đổi thông tin Để nhận thức được các vấn đề thực tiễn phức tạp, con người phân chia các vấn đề thực tế ra làm nhiều phần, các thành phần này lại được phân chia thành các thành phần nhỏ hơn và như vậy tạo thành thứ bậc
Nói cách khác, phương pháp AHP yêu cầu phải xác định được một sơ đồ thứ bậc của mục tiêu Một sơ đồ thứ bậc là một cấu trúc thể hiện một vấn đề ra quyết định phức tạp dựa trên một số cấp (Saaty 1994) Số lượng các thành phần thông thường từ 5 đến 9, bằng cách như vậy ta có thể tích hợp số lượng thông tin lớn vào trong cấu trúc của vấn
đề và có một bức tranh toàn cảnh hơn
B.1.2 Thiết lập độ ưu tiên:
Bước quan trọng tiếp theo sau khi xây dựng sơ đồ thứ bậc của bài toán là phải tính toán
và thiết lập độ ưu tiên (priorities) của mỗi tiêu chuẩn trên các cấp đã được xác định trong sơ đồ thứ bậc Khi này người RQĐ cần đưa ra những ý kiến đánh giá của mình về mức độ quan trọng của mỗi tiêu chuẩn đối với tiêu chuẩn ở cấp cao hơn trong sơ đồ thứ bậc bằng phương pháp so sánh từng cặp
Theo Muralidhar (1990), ưu điểm của phương pháp so sánh từng cặp là nó cho phép người RQĐ chỉ tập trung vào sự so sánh hai đối tượng và sự quan sát như vậy ít bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài Còn Saaty (1995) giải thích rằng, sở dĩ phương pháp so sánh từng cặp được sử dụng là vì chỉ có hai yếu liên quan đến sự so sánh tại cùng một thời điểm so sánh mà thôi
o Các bước trong so sánh từng cặp:
Trang 34+ So sánh các thành phần theo cặp đối với các tiêu chuẩn đã được xác định
+ Bắt đầu từ đỉnh của sơ đồ thứ bậc, chọn một tiêu chuẩn, tiến hành việc so sánh từng cặp của các thành phần của bậc kế tiếp theo tiêu chuẩn đã chọn
+ Thiết lập ma trận so sánh cặp
Cốt lõi của quá trình phân tích thứ bậc là việc so sánh từng cặp Người ta dùng thang đánh giá có 9 mức so sánh như bảng 3.2 sau đây để lượng hóa cường độ sự ưa thích tạo nên quyết định giữa hai phương án đối với một tiêu chuẩn cho trước Sở dĩ phương pháp AHP sử dụng thang đo 9 mức là vì theo lý thuyết về tâm lý học đã giới hạn 7 ± 2 mức trong khi so sánh cùng một lúc là có ý nghĩa trong thực tế và đạt được độ chính xác cao nhất
Trong quá trình so sánh từng cặp, một ma trận so sánh cặp là hình thức thể hiện sự ưa thích Theo Saaty (1994), ma trận này là một công cụ được thiết lập đơn giản nhưng hiệu quả để kiểm tra sự nhất quán, cung cấp hình thức cần thiết cho việc so sánh dữ liệu
và phân tích độ nhạy của tiêu chuẩn tổng thể khi có một ý kiến đánh giá thay đổi Một cách tổng quát, nếu có n yếu tố được so sánh trong một ma trận cho trước, sẽ đòi hỏi 2
)1(n
n
sự đánh giá cần thiết để điền vào ma trận Saaty (1995) đã diễn tả sự so sánh từng cặp trên ma trận so sánh cặp là yếu tố bên tay trái của ma trận sẽ được so sánh với yếu tố ở hàng trên cùng của ma trận Một nửa giá trị của ma trận so sánh là số nghịch đảo của nửa kia
Bảng 3.2: Thang đánh giá 9 mức so sánh của phương pháp AHP
(Equally to moderately preferred)
Cần sự thỏa hiệp giữa hai mức độ nhận định 1 và 3
3 Tương đối quan trọng hơn
(Moderately preferred)
Kinh nghiệm và nhận định hơi nghiêng về một thành phần hơn thành phần kia
(Moderately to strongly preferred)
Cần sự thỏa hiệp giữa hai mức độ nhận định 3 và 5
5 Quan trọng hơn nhiều
(Strongly preferred)
Kinh nghiệm và nhận định nghiêng mạnh về một thành phần hơn thành phần kia
(Strongly to very strongly preferred)
Cần sự thỏa hiệp giữa hai mức độ nhận định 5 và 7
7 Rất quan trọng hơn Một thành phần được ưu tiên rất
Trang 35(Very strongly preferred) nhiều hơn thành phần kia và được
biểu lộ trong thực hành
(Very to extremely strongly preferred)
Cần sự thỏa hiệp giữa hai mức độ nhận định 7 và 9
9 Tuyệt đối quan trọng hơn
Các bước sau đây thể hiện quá trình tổng hợp các ma trận so sánh cặp:
1 Để được ma trận chuẩn hóa (Normalized matrix):
Việc tổng hợp ma trận so sánh cặp được thực hiện bằng cách chia mỗi phần tử trong từng cột của ma trận với giá trị tổng tương ứng Điều này sẽ cung cấp sự so sánh có
ý nghĩa giữa các yếu tố trong sơ đồ thứ bậc
2 Để tính được vector độ ưu tiên (Priority vector):
Ta lấy trung bình theo dòng, tức giá trị của mỗi hàng trong ma trận chuẩn hóa mới được tính ở bước trên sẽ được lấy tổng và chia cho số cột (số hàng) thể hiện các yếu
tố so sánh
3 Để tính được vector tổng hợp có trọng số (Composited sum vector):
Ta tính toán toàn bộ trọng số của các cấp khác nhau có liên quan của sơ đồ thứ bậc
để phục vụ cho việc xếp hạng các phương án ra quyết định nhằm đạt được mục tiêu của bài toán Quá trình lặp lại thủ tục tính toán này sẽ đưa ra trọng số của các yếu tố
có quan tại cấp thấp nhất của sơ đồ thứ bậc đến cấp cao nhất là cấp mục tiêu
B.1.4 Đo lường sự không nhất quán:
Một trong những ưu điểm của phương pháp AHP là nó cung cấp một công cụ kiểm
tra tính nhất quán của các ý kiến đánh giá gọi là chỉ số nhất quán CI (Consistency
Index) Saaty (1995) đã định nghĩa sự nhất quán như sau: ‘Những cường độ giữa những ý tưởng hay đối tượng có liên quan nhau dựa trên một tiêu chuẩn cụ thể để hiệu chỉnh lẫn nhau trong cùng một phương pháp so sánh hợp lý”
Do trong thực tế, không phải lúc nào cũng có thể thành lập được quan hệ bắt cầu trong khi so sánh từng cặp Ví dụ phương án A có thể tốt hơn B, B có thể tốt hơn C
Trang 36nhưng không phải lúc nào A cũng tốt hơn C Hiện tượng này thể hiện tính thực tiễn của các bài toán, ta gọi là sự không nhất quán (incosistency) Sự không nhất quán là
thực tế, thể hiện sự không hoàn hảo hay sự diễn tả ưa thích cá nhân nhưng độ không nhất quán không nên quá nhiều vì khi đó nó thể hiện sự đánh giá không chính xác,Dyer (1990)
Để kiểm tra sự không nhất quán trong khi đánh giá cho từng cấp, ta dùng tỷ số nhất quán (CR) Kinh nghiệm thực tế đề nghị rằng giá trị của tỷ số này nên 0.1, nghĩa
là sự đánh giá của người ra quyết định tương đối nhất quán, ngược lại, sự nhận định
là hơi ngẫu nhiên hay sự đánh giá thiếu tính nhất quán ta phải tiến hành đánh giá lại
ở cấp tương ứng (Saaty và Vargas, 2001)
Theo Saaty (1994), chỉ số nhất quán CI được xác định theo công thức sau:
Chỉ số nhất quán CI vừa tính ở bước trên có thể thay đổi bằng thuật ngữ tỷ số nhất
quán CR (Consistency Ratio) hay tỷ số không nhất quán IR (Inconsistency Ratio) Saaty đã đưa ra công thức sau:
RI
CI
IR
Trong đó n là kích thước của ma trận và RI là chỉ số ngẫu nhiên (Random Index-
nhất quán trung bình) được xác định từ bảng cho sẵn sau:
Bảng 3.3: Chỉ số ngẫu nhiên RI
RI 0 0 0.58 0.9 1.12 1.24 1.32 1.41 1.45 1.49 1.51 1.54 1.56 1.57 1.58
Trong thực tế, người RQĐ chỉ ước lượng duy nhất giá trị đúng của các phần tử trong
ma trận so sánh cặp bằng cách gán cho nó một giá trị từ thang đo 9 mức so sánh
(theo bảng 3.2) Bởi vậy, xấp xỉ giá trị các phần tử của ma trận so sánh cặp, có thể
diễn tả theo mối quan hệ sau:
ij j
i đối với nhân tố j
Trang 37B.2 Tóm tắt các bước thực hiện trong phương pháp AHP:
Hình 3.6 trình bày sơ đồ tóm tắt các bước tiến hành theo phương pháp AHP bao gồm:
Hình3.4: Trình tự các bước thực hiện theo phương pháp AHP
B.3 Ưu điểm của phương pháp AHP:
Phương pháp định lượng AHP có một số ưu điểm như sau:
Tính đồng nhất
Tính đa dạng
Tính độc lập
Định nghĩa vấn đề và xác định lời giải yêu cầu
Tạo cấu trúc thứ bậc từ quan điểm quản lý chung
Thiết lập ma trận so sánh cặp của các yếu tố/ tiêu chuẩn
Tính toán độ ưu tiên của từng yếu tố
Độ nhất quán cho toàn bộ sơ đồ
Kết luận chọn phương án
>10%
Trang 38C.1 Khái niệm về thẩm định dự án (project appraisal):
“Thẩm định dự án là quá trình xác định và đánh giá những đề xuất để chọn ra một đề xuất phù hợp nhất với các mục tiêu đã hoạch định” [35]
* Lược sử về thẩm định dự án:
Thẩm định dự án xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XIX nhưng mãi đến năm 1930 mới phổ biến khi một công ty của Mỹ sử dụng công cụ phân tích chi phí – lợi ích làm phương pháp luận đánh giá dự án thủy điện cho Quốc hội Mặc dù phương pháp lúc đó còn đơn giản nhưng đặt nền tảng cho những phương pháp đánh giá hiện đại như phương pháp phân tích dòng tiền [35]
Theo quy định, tất cả các dự án đầu tư xây dựng ở Việt Nam thuộc mọi nguồn vốn, thuộc các thành phần kinh tế đều phải được thẩm định trước khi đầu tư Mục đích của việc thẩm định là đánh giá một cách khách quan, toàn diện về tính hợp lý, tính hiệu quả và tính khả thi của dự án đầu tư, tránh rủi ro cho quốc gia, xã hội do tính chủ quan của người lập dự án Kết quả thẩm định là cơ sở giúp cơ quan có thẩm quyền Nhà nước biết được khả năng đóng góp của dự án trong việc thực hiện mục tiêu phát triển đất nước cũng như những rủi ro do tác động của dự án để ra quyết định đầu tư hay cho phép đầu tư; là cơ sở giúp các nhà tài chính ra quyết định cho vay hoặc tài trợ dự án; giúp chủ đầu tư lựa chọn phương án đầu tư tốt nhất
Có những khác biệt cơ bản giữa thẩm định dự án công và dự án tư như sau (khái niệm dự
án công là dự án mà Nhà nước thực hiện hoặc đề xuất và kêu gọi tài trợ quốc tế hay có thể
là do một đơn vị kinh doanh thực hiện nếu nó hướng tới việc nâng cao phúc lợi công cộng
[35]):
Trang 39Bảng 3.5: Khác biệt giữa thẩm định dự án công và dự án tư, [35]
Những vấn đề
khác
Sức ép chính trị, công luận … Sức ép cạnh tranh, tồn vong
C.2 Những nội dung cơ bản của của dự án đầu tư cần phải thẩm định là:
a/ Tính pháp lý của dự án:
+ Sự đầy đủ và tính hợp lệ của các hồ sơ, tài liệu trình duyệt
+ Sự phù hợp của các nội dung dự án với các quy định hiện hành (văn bản pháp luật, chế độ, chính sách)
+ Sự phù hợp về quy hoạch (ngành, lãnh thổ) thỏa thuận quy hoạch, thỏa thuận với
Ủy ban địa phương, ý kiến các Bộ, Ngành liên quan, Bộ văn hóa thông tin, Bộ Quốc phòng, Bộ tài nguyên môi trường…
+ Các quy định về khai thác và bảo vệ tài nguyên (nếu có)
+ Tư cách pháp nhân và năng lực kinh doanh (lĩnh vực đầu tư có phù hợp với năng lực CĐT hay không), tài chính của CĐT (khả năng đảm bảo nguồn vốn các văn bản liên quan đến các phần vốn của các bên liên quan đến đất đai, nhà xưởng, thiết bị văn phòng, … lưu ý là phải có sự thỏa thuận giữa các bên tham gia đầu tư và xác nhận của
cơ quan có trách nhiệm), uy tín của CĐT trên thương trường
b/ Tính hiệu quả của dự án [6]:
+ Sự cần thiết phải đầu tư
+ Các yếu tố đầu vào của dự án
Trang 40c/ Tính khả thi của dự án [6]:
+ Sự phù hợp với quy hoạch
+ Nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên (nếu có);
+ Khả năng giải phóng mặt bằng
+ Khả năng huy động vốn đáp ứng tiến độ của dự án
+ Kinh nghiệm quản lý của Chủ đầu tư
+ Khả năng hoàn trả vốn vay
+ Giải pháp phòng cháy chữa cháy
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến dự án như quốc phòng, an ninh, môi trường
+ Các quy định khác của pháp luật có liên quan
C.3 Thời gian thẩm định dự án đầu tư, tính từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ [6]:
- Dự án quan trọng quốc gia: không quá 90 ngày làm việc
- Nhóm A: không quá 40 ngày
- Nhóm B: không quá 30 ngày
- Nhóm C: không quá 20 ngày
C.4 Các phương pháp thẩm định dự án: có 4 phương pháp [35]
a/ Phương pháp tài chính (financial analysis)
b/ Phương pháp kinh tế hay phân tích chi phí – lợi ích (economic analysis hay economic and social benefit-cost analysis)
c/ Phương pháp phân phối thu nhập hay phân tích lợi ích các bên liên quan (stakeholder analysis)
d/ Phương pháp nhu cầu cơ bản (basic-needs analysis)
C.5 Những quan điểm cơ bản của của dự án đầu tư cần phải thẩm định là: có 4 quan
điểm trong thẩm định dự án đầu tư nói chung [35, 41]
a/ Quan điểm Tổng đầu tư (hay quan điểm Ngân hàng):
Theo quan điểm này, dòng ngân lưu là của toàn bộ dự án (còn gọi là dòng ngân lưu tổng đầu tư hay dòng ngân lưu tự do), chưa phân biệt nguồn gốc của vốn đầu tư dự án.Cụ thể: gọi A = dòng tiền ròng theo quan điểm Tổng đầu tư thì:
A = Lợi ích tài chính trực tiếp – Chi phí tài chính trực tiếp – Chi phí cơ hội của các tài sản hiện có
Các ngân hàng, người cho vay chỉ quan tâm đến dòng ngân lưu này do được ưu tiên thu trước từ lợi nhuận do dự án Vì thế quan điểm Tổng đầu tư còn gọi là quan điểm Ngân