TÊN ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA HỐ MÓNG ĐÀO SÂU NHÀ CAO TẦNG ĐẾN ỔN ĐỊNH CÔNG TRÌNH LÂN CẬN TÓM TẮT Trong điều kiện quỹ đất hạn hẹp tại TP.. Đây thật sự là một hiện trạng đòi hỏi n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-[ \ -
NGUYỄN CÔNG HUÂN
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA HỐ MĨNG ĐÀO SÂU NHÀ CAO TẦNG ĐẾN ỔN ĐỊNH
CƠNG TRÌNH LÂN CẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 07 NĂM 2010
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS TRẦN XUÂN THỌ
Cán bộ chấm nhận xét 1: PGS.TS VÕ PHÁN
Cán bộ chấm nhận xét 2: TS TRẦN TUẤN ANH
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại
HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
-
Tp.HCM ngày 25 tháng 01 năm 2010
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
I TÊN ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA HỐ MÓNG ĐÀO SÂU NHÀ CAO TẦNG ĐẾN ỔN ĐỊNH CÔNG TRÌNH LÂN CẬN
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG
1 Nhiệm vụ:
Phân tích ảnh hưởng của hố móng đào sâu nhà cao tầng đến ổn định công trình lân cận
2 Nội dung:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về hố móng đào sâu trong công trình nhà cao tầng
Chương 2: Cơ sở lý thuyết tính toán ổn định hố móng đào sâu
Chương 3: Phân tích ảnh hưởng của hố móng đào sâu công trình “cao ốc văn phòng
Coteccons” đến công trình lân cận
Kết luận và kiến nghị
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Ngày 25 tháng 01 năm 2010
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: Ngày 02 tháng 07 năm 2010
V CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS TRẦN XUÂN THỌ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN BỘ MÔN QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
TS TRẦN XUÂN THỌ PGS.TS VÕ PHÁN
Nội dung và đề cương Luận văn Thạc sĩ đã được Hội đồng chuyên ngành thông qua
Ngày …… tháng …… năm 2010
PHÒNG ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC KHOA QUẢN LÝ NGÀNH
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Luận văn Thạc sĩ là kết quả tổng hợp những kiến thức mà tác giả đã tích luỹ được sau hai năm học tập tại Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh Để hoàn thành được luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân tác giả còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên của gia đình và bạn bè đồng nghiệp
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy TS Trần Xuân Thọ, người
đã hết sức tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể Quý thầy cô Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là Quý thầy cô trong Bộ môn Địa Cơ – Nền Móng đã hết lòng truyền đạt những kiến thức quý báu, cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành tốt luận văn
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình – thành viên luôn kề vai sát cánh, đôn đốc trong quá trình tác giả học tập và thực hiện luận văn
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến các anh chị đã và đang công tác tại công ty Nagecco, bạn bè đã tạo điều kiện, hỗ trợ tác giả trong thời gian qua
TP.Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 07 năm 2010
Nguyễn Công Huân
Trang 5
TÊN ĐỀ TÀI
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA HỐ MÓNG ĐÀO SÂU NHÀ CAO TẦNG ĐẾN ỔN ĐỊNH CÔNG TRÌNH LÂN CẬN
TÓM TẮT
Trong điều kiện quỹ đất hạn hẹp tại TP HCM, các công trình cao tầng thường san sát nhau, hoặc xen lẫn với các công trình cấp 3, cấp 4 đã xuống cấp Đây thật sự là một hiện trạng đòi hỏi người thiết kế và thi công phải dự tính được chuyển vị của kết cấu chắn giữ, phạm vi và mức độ ảnh hưởng do việc thi công hố móng đào sâu gây ra cho những công trình lân cận
Với tính cấp thiết của vấn đề trên, tác giả đã tiếp cận đề tài luận văn: “ Phân tích ảnh hưởng của hố móng đào sâu nhà cao tầng đến ổn định công trình lân cận”, tiến hành nghiên cứu các cơ sở lý thuyết chung và chọn phương pháp phần tử hữu hạn để giải quyết các vấn đề sau:
1) Phân tích ổn định và biến dạng của hố móng đào sâu được thi công bằng biện pháp đđào hở kết hợp hệ chống giữ
2) Thiết lập biểu đồ của chuyển vị ngang tường chắn theo từng giai đoạn thi công Kiểm tra khả năng chịu lực của hệ kết cấu chắn giữ hố móng
3) Phân tích ảnh hưởng của quá trình thi công hố móng đào sâu đến các công trình lân cận có kết cấu móng khác nhau (móng sâu và móng nông) Từ đó kiểm tra ổn định của các công trình lân cận
4) Thiết lập biểu đồ của chuyển vị ngang và độ lún các móng công trình lân cận theo từng giai đoạn thi công hố đào sâu
5) Nghiên cứu các giải pháp làm giảm sự ảnh hưởng của quá trình thi công hố móng đào sâu đến các công trình lân cận
Từ kết quả và biểu đồ phân tích trên, tác giả thiết lập các biểu thức quan hệ để dự tính độ lún và chuyển vị ngang của công trình lân cận, cũng như chọn được các giải pháp
Trang 6For the above reasons, based on general theories and the finite element method (FEM), the thesis: “Analysing the effect of deep excavation of the high-rise building on the stability of surrounding constructions” has been choosen to analyse below problems:
1) Analysing the stability and displacement of deep excavation constructed by bottom-up method
2) Establishing the diagram of horizontal displacement of diaphram wall in each stage of construction, inspecting the bearing capacity of shoring systems for deep excavation
3) Analysing effects of deep excavation on surrounding constructions with different foundation structures (shallow and deep foundations), inspecting the stability of surrounding constructions
4) Establishing the diagram of horizontal displacement and settlement of surrounding construction’s foundations in each stage of construction
5) Studying the methods to reduce the effect of deep excavation of high-rise building on the stability of surrounding constructions
From the above studies, the author will propose expressions to calculate horizontal displacement and settlement of surrounding construction’s foundations, providing the solutions to reduce the effects of deep excavation of the high-rise building on the
Trang 7MỞ ĐẦU
4 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỐ MĨNG ĐÀO SÂU TRONG CƠNG TRÌNH NHÀ
CAO TẦNG
1.3 Giới thiệu một số công trình hố móng đào sâu nhà cao tầng 9
1.4 Những nguyên nhân gây mất ổn định hố đào và công trình lân cận 12
1.5 Những sự cố về hố móng đào sâu đã xảy ra trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 13
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN VÀ KIỂM TRA ỔN ĐỊNH HỐ
MÓNG ĐÀO SÂU VÀ CÔNG TRÌNH LÂN CẬN
2.1 Giới thiệu 18 2.2 Lý thuyết tính toán áp lực đất lên kết cấu chắn giữ của hố móng đào sâu 18
Trang 82.2.4 Ảnh hưởng của chuyển vị thân tường đến áp lực đất 27
2.3 Phương pháp tính toán kết cấu chắn giữ của hố móng đào sâu 31
2.3.3 Phương pháp phần tử hữu hạn 38 2.4 Phương pháp kiểm tra ổn định hố móng đào sâu 38
2.4.1 Kiểm tra ổn định chống trồi của hố đào 38
2.4.1.1 Phương pháp Terzaghi – Peck 38 2.4.1.2 Phương pháp Caquot và kerisel 40
2.4.1.3 Phương pháp tính theo Goh (1994) 41
2.4.1.4 Tính toán theo quy trình hố móng Thượng Hải 43
2.4.2 Kiểm tra ổn định chống chảy thấm của hố đào 44
2.4.2.1 Kiểm tra ổn định chống phun trào 44
2.4.2.2 Kiểm tra ổn định chống cột nước có áp 44
2.5 Phương pháp kiểm tra ổn định của đất và công trình lân cận hố móng 45
2.5.1 Các phương pháp thực nghiệm 45 2.5.1.1 Phương pháp của Peck (1969) 45 2.5.1.2 Phương pháp của Clough và Mana (1981) 46
2.5.2.1 Phương pháp Caspe (1966) và Bowles (1988) 47
2.5.2.3 Phương pháp của Moscomarchitextura (1999) 49
2.6 Sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn thông qua việc ứng dụng phần mềm
mô phỏng vào tính toán, kiểm tra ổn định hố móng và công trình lân cận 52
Trang 92.6.3 Các mô hình đất nền trong phần mềm Plaxis 54
2.7 Nhận xét và lựa chọn phương pháp phân tích 56
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA HỐ MÓNG ĐÀO SÂU CÔNG
TRÌNH “CAO ỐC VĂN PHÒNG COTECCONS” ĐẾN CÔNG TRÌNH LÂN CẬN
3.2.2.3 Biện pháp hạ mực nước ngầm trong hố móng 65
3.2.2.4 Biện pháp tường chắn hố móng đào sâu 66
3.2.3.2 Các thiết bị sử dụng và thời gian quan trắc 69
3.3.2 Điều kiện thuỷ văn 71 3.4 Tính toán các thông số đầu vào cho mô hình Plaxis 73
3.4.1 Xác định các thông số cho mô hình đất nền Hardening-Soil 73
3.4.2 Các thông số của tường chắn 75
3.4.3 Các thông số của thép hình 75
3.4.4 Các thông số cọc khoan nhồi 75
3.4.5 Các thông số và tải trọng của các công trình lân cận 75
3.4.5.1 Với công trình có kết cấu móng sâu (chung cư 10 tầng) 75
3.4.5.2 Tải trọng bởi công trình có kết cấu móng nông (nhà cấp 4 – 2 tầng) 78
Trang 10“cao ốc văn phòng Coteccons” 80
3.5.1 Phân tích ổn định và ứng suất biến dạng của hố móng đào sâu theo
3.5.2 Thiết lập các biểu đồ chuyển vị ngang tường chắn So sánh với kết
3.5.2.1 Thiết lập các biểu đồ chuyển vị ngang của tường tại vị trí đỉnh
tường, các vị trí ứng với từng giai đoạn đào, vị trí chân tường chắn 97
3.5.2.2 So sánh với kết quả quan trắc thực tế 103
3.5.3 Kiểm tra khả năng chịu lực của hệ kết cấu chắn giữ hố móng 105
3.6 Phân tích ảnh hưởng của quá trình thi công hố móng đào sâu “cao ốc văn
phòng Coteccons” đến công trình lân cận có kết cấu móng sâu 107
3.6.1 Phân tích ảnh hưởng của quá trình thi công hố móng đào sâu đến
ổn định tổng thể của chung cư 10 tầng lân cận 108
3.6.2 Phân tích ảnh hưởng của quá trình thi công hố móng đào sâu đến
ổn định cục bộ của từng vị trí móng công trình chung cư 10 tầng lân cận 115
3.6.3 Thiết lập các biểu thức quan hệ và ứng dụng khi đánh giá ổn định
3.6.3.1 Thiết lập biểu thức quan hệ giữa (S/H) và (X/H) 123
3.6.3.2 Thiết lập biểu thức quan hệ giữa (Δux/X) và (z/H) 125
3.6.4 So sánh độ lún các móng công trình lân cận tính toán từ Plaxis với
3.7 Phân tích ảnh hưởng của quá trình thi công hố móng đào sâu “cao ốc văn
phòng Coteccons” đến công trình lân cận có kết cấu móng nông 130
3.7.1 Phân tích ảnh hưởng của quá trình thi công hố móng đào sâu đến
ổn định của công trình nhà cấp 4 lân cận có kết cấu móng nông 131
3.7.2 Thiết lập các biểu thức quan hệ và ứng dụng khi đánh giá ổn định
Trang 113.7.2.2 Thiết lập biểu thức quan hệ giữa (ux/H) và (X/H) 144 3.8 Nghiên cứu các giải pháp làm giảm sự ảnh hưởng của quá trình thi công
hố móng đào sâu “cao ốc văn phòng Coteccons” đến các công trình lân cận 148
3.8.1 Giải pháp 1 – Thay đổi chiều sâu tường chắn 148
3.8.2 Giải pháp 2 – Tăng thêm hệ chống cho kết cấu chắn giữ hố đào 152
3.8.3 Giải pháp 3 – Thay đổi các chỉ tiêu cường độ vật liệu 154
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, mức độ đô thị hóa ngày càng nhanh, mức sống của
người dân ngày một nâng cao kéo theo đó là nhu cầu về sinh hoạt ăn ở, nghỉ ngơi, giải trí
cũng tăng lên không ngừng, đòi hỏi một không gian sống tốt hơn , tiện nghi hơn Mặt
khác, với xu hướng hội nhập, công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và xu thế phát triển
của thời đại nên sự đầu tư xây dựng các công trình nhà ở cao tầng thay thế các công trình
thấp tầng, các khu dân cư đã xuống cấp là rất cần thiết Tuy nhiên, việc giải quyết các
nhu cầu về sinh hoạt (nơi để xe, bố trí các bể nước ngầm, bể tự hoại, trạm bơm…) luôn là
vấn đề cần cân nhắc của các chủ đầu tư xây dựng công trình, dẫn đến việc gia tăng chiều
cao của các cao ốc thông thường kéo theo sự tăng về độ sâu của công trình
Trong điều kiện quỹ đất hạn hẹp tại TP HCM, các công trình cao tầng thường san
sát nhau, hoặc xen lẫn với các công trình cấp 3, cấp 4 đã xuống cấp Đây thật sự là một
hiện trạng đòi hỏi người thiết kế và thi công cần có những biện pháp chắn giữ để bảo vệ
thành vách hố móng, đảm bảo công trình an toàn trong quá trình thi công cũng như khi sử
dụng và không gây ảnh hưởng xấu đến các khu vực lân cận đã xây dựng trước đó Ngoài
ra, trên phương diện thiết kế cũng cần hết sức lưu ý đến việc hạn chế làm thay đổi tình
hình địa chất và thuỷ văn tại khu vực xây dựng (mực nước ngầm, đất nền bị xáo trộn…) vì
những thay đổi này sẽ có sự ảnh hưởng rất lâu dài đến các công trình lân cận
Việc thi công kết cấu chắn giữ cho hố móng nhà cao tầng rất đa dạng, phụ thuộc
vào từng điều kiện cụ thể, các thiết bị, máy móc xây dựng ngày càng hiện đại, tối tân
hơn Chúng ta cần thấy được không có loại công trình xây dựng nào mà các khâu từ khảo
sát, thiết kế, thi công và quan trắc lại có yêu cầu gắn bó chặt chẽ như đối với công trình
chắn giữ hố móng
Trang 13Chính vì thế việc nghiên cứu các kết cấu chắn giữ hố móng nhà cao tầng cũng như
phân tích sự ảnh hưởng của quá trình thi công và sử dụng đến công trình lân cận thật sự
rất cần thiết hiện nay Đây cũng chính là tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
2 Nội dung nghiên cứu của Luận văn
Trong phạm vi luận văn, tác giả sử dụng tường tầng hầm BTCT (diaphragm wall,
một trong những biện pháp hữu hiệu để chắn giữ thành vách hố móng sâu) để phân tích,
tính toán và so sánh
Trong suốt quá trình thi công, biện pháp bố trí hệ chống, khoảng thời gian tiến
hành các giai đoạn đào, giải pháp thoát nước hố móng … tất cả đều có ảnh hưởng đến ứng
suất, chuyển vị của tường hố đào, sự chuyển dịch của đất ở quanh hố móng, ổn định của
các công trình lân cận Vì vậy, đề tài “Phân tích ảnh hưởng của hố móng đào sâu nhà
cao tầng đến ổn định công trình lân cận” của tác giả nhằm giải quyết các vấn đề sau
đây:
1) Phân tích ổn định và biến dạng của hố móng đào sâu được thi công bằng biện
pháp đđào hở kết hợp hệ chống giữ bằng phần mềm mô phỏng, so sánh với kết
quả quan trắc thực tế
2) Thiết lập biểu đồ của chuyển vị ngang tường chắn theo từng giai đoạn thi công
Kiểm tra khả năng chịu lực của hệ kết cấu chắn giữ hố móng
3) Phân tích ảnh hưởng của quá trình thi công hố móng đào sâu đến các công
trình lân cận có kết cấu móng khác nhau (móng sâu và móng nông)
4) Kiểm tra ổn định của những công trình lân cận dưới ảnh hưởng của quá trình thi
công hố móng đào sâu gây ra
Nghiên cứu các giải pháp làm giảm sự ảnh hưởng của quá trình thi công hố
móng đào sâu đến các công trình lân cận
5)
Trang 14
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các vấn đề nêu trên, phương pháp nghiên cứu được lựa chọn:
Phương pháp giải tích:
o Nghiên cứu các cơ sở lý thuyết phân tích, kiểm tra ổn định và biến dạng của
tường chắn liên tục trong đất
o Nghiên cứu lý thuyết kiểm tra ổn định của hố móng đào sâu nhà cao tầng
o Nghiên cứu lý thuyết tính toán vùng ảnh hưởng và chuyển vị của đất nền xung
quanh hố móng Từ đó kiểm tra ổn định cho các công trình lân cận
Phương pháp phần tử hữu hạn: s dụng phần mềm Plaxis: ử
o Phân tích ổn định và biến dạng của hố móng đào sâu trong quá trình thi công,
so sánh với số liệu quan trắc thực tế Kiểm tra khả năng chịu lực của hệ kết cấu
chắn giữ
o Xác định phạm vi và mức độ ảnh hưởng do hố móng gây ra cho công trình lân
cận, so sánh với số liệu quan trắc thực tế Từ đó kiểm tra ổn định cho các công
trình lân cận
4 Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Từ các phân tích và nghiên cứu, tác giả thu được các kết quả sau:
1) Đánh giá ổn định và biến dạng của hố móng đào sâu được thi công bằng biện
pháp đào hở kết hợp với hệ chống giữ
2) Thiết lập biểu đồ của chuyển vị ngang tường chắn theo từng giai đoạn thi công
Trên cơ sở đó lựa chọn vị trí, tiết diện các kết cấu chắn giữ và biện pháp thi
công hợp lý cho hố móng đào sâu
3) Thiết lập biểu đồ của chuyển vị ngang và độ lún các móng công trình lân cận
theo từng giai đoạn thi công hố đào sâu Từ đó xác định được mức độ ảnh
hưởng của hố đào sâu đến ổn định của các công trình lân cận
4) Thiết lập các biểu thức quan hệ giữa độ lún và chuyển vị ngang gia tăng của
các móng công trình lân cận (sinh ra do ảnh hưởng bởi quá trình thi công
Trang 15hố đào) với khoảng cách từng móng đến hố đào; giữa chuyển vị ngang tổng thể
gia tăng của hệ móng công trình lân cận theo các giai đoạn và chiều sâu đào
đất của quá trình thi công hố đào Từ đó có thể dự đoán được mức độ ảnh
hưởng cũng như kiểm tra ổn định của công trình lân cận bất kỳ xung quanh hố
móng đào sâu
5) Đưa ra các giải pháp hạn chế ảnh hưởng do việc thi công hố móng đào sâu gây
ra đến ổn định công trình lân cận và một số biện pháp xử lý sự cố mất ổn định
hố móng đào sâu và công trình lân cận
5 Hạn chế của đề tài
Trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ nghiên cứu đối với tường BTCT (diaphragm
wall), bên cạnh đó còn có nhiều biện pháp chắn giữ thành hố móng khác: cọc xi măng
đất, tường cừ laser…
Trong phần cuối tác giả chỉ đưa ra từng giải pháp riêng biệt nhằm làm giảm ảnh
hưởng quá trình thi công hố đào đến công trình lân cận, chưa tiến hành kết hợp các giải
pháp và xem xét hiệu quả của từng phương án hỗn hợp
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỐ MĨNG ĐÀO SÂU TRONG CƠNG TRÌNH NHÀ CAO TẦNG
1.1 Tổng quan về hố móng đào sâu
Căn cứ vào chiều sâu đào, hố đào có thể được chia thành hai loại:
Hố đào nông: khi chiều sâu đào không quá 5(m)
Hố sâu sâu: khi chiều sâu đào lớn hơn 5(m)
Tuy nhiên, trong một số trường hợp chiều sâu đào của hố móng nhỏ hơn 5 (m)
nhưng phải thi công trong điều kiện địa chất công trình và địa chất thuỷ văn tương
đối phức tạp thì vẫn phải ứng xử như hố đào sâu
Căn cứ vào điều kiện hiện trường phương pháp thi công, hố đào có thể được chia
thành hai loại:
Loại đào không có kết cấu chắn giữ (hay còn gọi là đào trần) giống như đào
hố móng nông cho nhà phố, nhà ở liên kế, móng cột …
Loại đào có kết cấu chắn giữ, chẳng hạn như chắn giữ hố móng bằng tường
cọc bản thép, tường barette, tường cọc xi măng đất…
Theo chức năng, kết cấu chắn giữ hố móng đào sâu có thể được chia làm hai bộ
phận chủ yếu:
Bộ phận chắn đất: gồm kết cấu chắn đất ngăn nước (tường liên tục trong đất,
tường trộn ximăng đất dưới tầng sâu, cọc trộn ximăng dưới tầng sâu, giữa cọc
đặt dày thêm cọc phun ximăng cao áp, tường vòm cuốn khép kín.…) và kết
cấu chắn đất không ngăn nước (Cọc thép chữ H hay chữ I có bản cài, cọc nhồi
đặt thưa trát mặt ximăng lưới thép, cọc hai hàng chắn đất, …)
Hệ chống và neo giữ: thép ống hay thép hình chống đỡ (chống ngang và chống
chéo), thanh neo vào trong đất, chống đỡ bằng bản sàn các tầng hầm (đối với
những công trình thi công bằng phương pháp top – down), hệ dầm vòng chống
đỡ
Trang 171.2 Giải pháp xử lý ổn định thành hố đào
Hiện nay có các giải pháp thông dụng sau:
Hệ cọc bản thép: Dùng thép máng sấp ngửa móc vào nhau hoặc cọc bản thép
khóa miệng bằng thép hình với mặt cắt chữ U hoặc chữ Z Dùng phương pháp
đóng hoặc rung để hạ chúng vào trong đất, sau khi hoàn thành nhiệm vụ chắn giữ,
có thể thu hồi sử dụng lại, dùng cho hố móng có độ sâu từ 3m÷10m
Hình 1.1 Hệ cọc bản thép kết hợp với hệ chống thép ống Tường liên tục trong đất (Diaphragm Wall): Sau khi đào thành hào móng thì đổ
bêtông, làm thành tường chắn đất bằng bêtông cốt thép có cường độ tương đối cao,
dùng cho hố móng có độ sâu từ 10m trở lên hoặc trong điều kiện thi công tương
đối khó khăn
Trang 18Hình 1.2 Hệ tường BTCT liên tục kết hợp với hệ chống thép hình I
Hình 1.3 Hệ tường BTCT sử dụng biện pháp neo trong đất
Trang 19Hình 1.4 Hệ tường BTCT sử dụng biện pháp thi công top-down
* Đây là hai giải pháp được sử dụng phổ biến nhất
Cọc bản bêtông cốt thép: Chiều dài cọc từ 6m÷12m, sau khi đóng cọc xuống đất,
trên đỉnh cọc đổ một dầm vòng bằng bêtông cốt thép đặt một dãy chắn giữ hoặc
thanh neo, dùng cho loại hố móng có độ sâu từ 3m÷6m
Tường chắn bằng cọc khoan nhồi: Đường kính từ φ600mm÷φ1000mm, cọc dài từ
15m÷30m, làm thành tường chắn theo kiểu hàng cọc, trên đỉnh cọc đổ một dầm
vòng bằng bêtông cốt thép, dùng cho hố móng có độ sâu từ 6m÷13m
Tường chắn bằng ximăng đất trộn ở tầng sâu: Trộn cưỡng chế đất với ximăng
thành cọc ximăng-đất, sau khi đông cứng lại sẽ thành tường chắn có dạng bản liền
khối đạt cường độ nhất định, dùng cho những loại hố móng có độ sâu từ 3m÷6m
Trang 201.3 Giới thiệu một số công trình hố móng đào sâu nhà cao tầng
1.3.1 Trên thế giới
Tháp Latino America 43 tầng cao nhất ở Mexico City có tầng hầm đào sâu 12,6m
Để ngăn chặn hiện tượng đẩy trồi quá mức do đào hố móng, áp suất thuỷ tĩnh tầng
đất sét nằm bên dưới được giảm bằng cách hút nước từ giếng để thoát nước cho các
lớp cát mỏng ở trong lớp sét Bên cạnh đó, sử dụng tường BTCT sâu 33m để ngăn
ngừ lún các vùng xung quanh
Tháp đôi trung tâm thương mại thế giới ở New York bằng thép gồm 110 tầng với
độ cao 405m được đặt trên đá phiến Manhatan ở độ sâu 21m, dùng tường vữa xi
măng và các neo vào đá để bảo vệ các nhà xung quanh khỏi bị biến dạng phá hoại
khi đào hố móng
Các toà nhà cao tầng ở Thượng Hải (Trung Quốc) hiện nay thường có từ 2 đến 5
tầng hầm, kích thước mặt bằng lớn nhất là 274x187m, hố móng có thể sâu đến
32m Phương pháp giữ ổn định hố móng thông dụng nhất là sử dụng tường BTCT
chạy suốt phạm vi hố móng
Hình 1.5 Một số công trình cao tầng tại TP Thượng Hải
Trang 21Hình 1.6 Tường BTCT và hệ chống giữ ổn định hố móng đào sâu
1.3.2 Trong nước
Cao ốc Harbour View ở thành phố Hồ Chí Minh có 19 tầng lầu và 2 tầng hầm, hố
móng sâu đến 10m đã dùng tường trong đất sâu 42m, dày 0,6m để vây quanh hố
móng 25x27m
Trụ sở Vietcom bank ở Hà Nội cao 22 tầng có 2 tầng hầm với hố móng sâu 11m, đã
dùng tường trong đất sâu 18m, dày 0,8m kết hợp với 101 bầu neo để giữ cho hố
móng ổn định
Cao ốc Fideco được xây dựng tại số 81-85 Hàm Nghi, quận 1, TpHCM Công trình
có hố đào được chắn giữ bằng tường liên tục (Diaphram wall), tường chắn có chiều
dày là 0.6m Tường chắn được chống đỡ bởi hệ thanh chống được bố trí thành hai
lớp:
Lớp 1: đặt ở cao trình -2.200m (cao trình mặt đất là -0.250m)
Lớp 2 : đặt ở cao trình -5.500m (cao trình mặt đất là -0.250m)
Trang 23
Hình 1.9 Công tác đào đất và tiến hành lắp đặt tầng chống thứ 2 cao ốc Fideco
1.4 Những nguyên nhân gây mất ổn định hố đào và công trình lân cận
Thi công hố đào sâu là một công đoạn thi công hết sức phức tạp, thường xảy ra
những sự cố mất ổn định Các sự cố xảy ra bởi một hay nhiều các nguyên nhân cùng lúc,
cả về khách quan lẫn chủ quan
1.4.1 Các nguyên nhân khách quan
o Theo đà phát triển cải tạo các thành phố cũ, các công trình cao tầng, siêu cao
tầng chủ yếu của các thành phố lại thường tập trung ở những khu đất nhỏ hẹp, mật
độ xây dựng lớn, dân cư đông đúc, giao thông chen lấn, điều kiện thi công công
trình hố móng đều rất kém Lân cận công trình thường có các công trình xây dựng
vĩnh cửu, các công trình lịch sử, nghệ thuật bắt buộc phải được an toàn, không thể
đào có mái dốc, yêu cầu đối với việc ổn định và khống chế chuyển dịch rấtø
nghiêm ngặt
o Tính chất của đất đá thường biến đổi trong khoảng khá rộng, điều kiện ẩn dấu
của địa chất và tính phức tạp, tính không đồng đều của điều kiện địa chất thủy văn
thường làm cho số liệu khảo sát có tính phân tán lớn, khó đại diện được cho tình
Trang 24hình tổng thể của các tầng đất, hơn nữa, tính chính xác cũng tương đối thấp, gây
khó khăn cho thiết kế và thi công công trình hố móng
o Tại các khu vực đất yếu, mực nước ngầm cao và các điều kiện hiện trường
phức tạp khác, việc thi công hố móng rất dễ sinh ra trượt lở khối đất, mất ổn định
hố móng, tường chắn bị chuyển dịch vị trí và bị rò nước nghiêm trọng hoặc bị chảy
đất … làm hư hại hố móng, ảnh hưởng nghiêm trọng các công trình xây dựng xung
quanh
o Công trình hố móng đào sâu thường có chu kỳ thi công dài, từ khi đào đất đến
khi hoàn thành toàn bộ các công trình ngầm dưới mặt đất phải trải qua nhiều lần
mưa to, nhiều lần chất tải, động đất, …dẫn đến tính khách quan của sự cố tương đối
lớn, xảy ra đột biến
1.4.2 Các nguyên nhân chủ quan
o Đơn vị thi công chưa cân nhắc kĩ càng trong việc lựa chọn phương án giữ ổn
định cho thành hố đào và khu vực lân cận Bên cạnh đó, quy mô công trình cũng
ngày càng tăng lên, kéo theo hố móng công trình phát triển theo xu hướng độ sâu
lớn, diện tích rộng, trình độ và kĩ thuật của các đơn vị chưa theo kịp
o Các biện pháp thi công hố móng thường chiếm giá thành xây dựng cao, khối
lượng công việc lớn, lại đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, là một khâu khó về mặt kỹ
thuật, hay có tính tranh chấp giữa các bên Khi vượt chi phí, công tác thi công hố
móng thường bị cắt giảm (về biện pháp), dẫn đến không đảm bảo chất lượng
o Công trình hố móng bao gồm nhiều khâu có quan hệ chặt chẽ với nhau như
chắn đất, chống giữ, ngăn nước, hạ mực nước, đào đất… trong đó, một khâu nào đó
thất bại sẽ dẫn đến cả công trình bị đổ vỡ
1.5 Những sự cố về hố móng đào sâu đã xảy ra trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Theo các nghiên cứu trước đây, có bốn kiểu phá hoại của hố móng được chắn giữ
hay xảy ra nhất: [16]
o Sự dịch chuyển quá lớn của kết cấu chắn giữ
Trang 25o Kết cấu chắn giữ bị võng hay sụt lở
o Đáy hố móng trong đất sét trương nở bị đẩy trồi
o Hiện tượng đất chảy, xói ngầm trong đất dạng hạt
Nếu hố móng nằm kề các công trình khác như nhà ở, đường ống, đường giao thông
sẽ kéo theo sự mất ổn định của các công trình lân cận này
Một số sự cố mất ổn định hố móng và công trình lân cận đã xảy ra:
Thi công tầng hầm Cao Ốc Residence (Q1): công trình có 1 tầng hầm, 1 tầng trệt
và 11 lầu Khi đào ở độ -8m dưới đáy hố móng, phát hiện nước ngầm phun lên rất
mạnh cuốn theo cát hạt nhỏ Hậu quả là ngày 31/10/2007 hè đường Nguyễn Siêu
có hố sụt rộng 4x4m và sâu khoảng 3-4m và chung cư Casaco (Đường Thi Sách ,
Q1) bị lún nghiêm trọng
Nguyên nhân có thể là dùng cừ laser làm tường vây không ngăn được nước, nên
khi hút nước để thi công tầng hầm, thì cột nước chênh áp ngoài thành hố đào tạo
nên áp lực lớn đẩy nước luồn qua chân tường vây đẩy trồi đáy móng lên Nước
dưới đất được thoát ra như bình thông nhau, cuốn theo đất cát làm sụt lún nền các
công trình xung quanh gần đó Trước tình trạng đó, người ta đã phải khẩn cấp lấp
ngay các hố đào sâu và hố sụt tạo cân bằng áp lực để tránh tình trạng sụt lún tiếp
Đồng thời lắp đặt các trạm quan trắc dịch chuyển, lún và động thái nước dưới đất
để tránh các rủi ro có thể xảy ra
Cao ốc văn phòng Bến Thành TSC – 186 Lê Thánh Tôn: Công trình này có diện
tích mặt bằng 10x40m và 2 tầng hầm Tháng 11/2007, trong khi đào hố móng sâu,
thì nước ngầm ở đáy hố phun lên rất mạnh, làm phồng trồi đáy hố làm xê dịch
tường cừ bằng cọc lasen khoảng 8cm Đất nền bị sụt lún làm nứt đường hẻm lân
cận và nghiêng tường ngăn Do đó buộc phải ngừng thi công và dùng biện pháp
khoan giếng bơm hạ nước ngầm Nguyên nhân là do dùng tường cừ Lasen không
hơp lí Chân tường cừ đang đặt ở lớp cát pha bảo hòa nước nên khi có chênh áp lực
bơm hút nước trong hố đào thì nước phun mạnh từ đáy hố lên kéo theo đất cát và
gây sụt lún
Trang 26Công trình cao ốc Pacific - số 43 – 45 – 47 Nguyễn Thị Minh Khai - quận 1: công
trình có 5 tầng hầm, 1 tầng trệt và 18 tầng lầu Tường tầng hầm bằng bêtông cốt
thép, dày 1m, thi công bằng công nghệ tường trong đất, khi đào đất để thi công
tầng hầm thứ 5 thì phát hiện một lỗ thủng lớn ở tường tầng hầm có kích thước 0,2m
x 0,7m, dòng nước rất mạnh kéo theo nhiều đất cát chảy từ ngoài vào qua lỗ thủng
của tường tầng hầm Công nhân đã dùng hết cách, nhưng không thể bịt được lỗ
thủng Nước kéo theo đất cát chảy ào ào vào tầng hầm, công nhân phải thoát khỏi
tầng hầm để tránh tai nạn có thể xảy ra Sự cố công trình này đã làm sụp đổ hoàn
toàn công trình Viện nghiên cứu Khoa học xã hội Nam Bộ ngay bên cạnh, tòa nhà
Sở Ngoại Vụ cũng bị lún nứt nghiêm trọng, Cao ốc YOCO 12 tầng và các tuyến
đường xung quanh công trình Pacific cũng có nguy cơ bị lún nứt
Nguyên nhân chủ yếu của sự cố này là chất lượng thi công tường tầng hầm không
tốt Lỗ thủng lớn ở tường tầng hầm có thể là do đổ bê tông không đúng quy trình
và dùng Bentonite không đúng yêu cầu gây sạt lỡ đất ở hố đào Đất bên ngoài
tầng hầm là cát pha bão hoà nước, là loại cát chảy, nên phải dùng loại Bentonite
đặc biệt có dung trọng 1.15g/cm3 chứ không được dùng loại thông thường cho đất
loại sét có dung trọng 1.04g/ cm3 Mặt khác, mực nước dưới đất bên ngoài tầng
hầm rất cao (ở cốt – 1.5m), lỗ thủng ở tường tầng hầm nằm ở độ sâu 20m, tức là có
cột nước với áp lực lớn chênh nhau đến 18,5 mét Với một cốt nước, có áp lực
18.5atm như vậy, chứa đầy trong tầng các bồi tích hạt nhỏ và các pha bão hòa
nước, thì khi có lỗ thủng ở tầng hầm cho nó thoát, dòng chảy sẽ rất mạnh kéo theo
đất cát chảy vào tầng hầm đồng thời làm rỗng xốp, làm xói lỡ và phá hoại đất nền
của móng các công trình lân cận, khiến cho các công trình đó bị biến dạng, bị sụt
lún, thậm chí bị phá hoại
Trước tình hình ngày càng nhiều sự cố xảy ra (trong cùng năm 2007), sở xây dựng
TP.HCM đã liên tiếp chủ trì nhiều cuộc hội thảo có sự tham gia của các chuyên gia đầu
ngành để tổng kết, đánh giá và đưa ra phương án khắc phục trước mắt các sự cố đã xảy ra
Trang 27như đã nêu trên Tuy nhiên, về lâu dài, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh sẽ chỉ
đạo các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phối hợp cùng các chuyên gia để lập
các tiêu chuẩn kỹ thuật về việc khoan thăm dò – khảo sát địa chất – địa hình, địa mạo,
khảo sát thủy văn, thiết kế và thi công hố móng sâu; đồng thời đi kèm theo đó là những
biện pháp xử lý nặng, phạt nặng đối với những chủ đầu tư, các đơn vị thiết kế, thi công,
giám sát … thiếu ý thức, năng lực hạn chế trong việc quản lý đầu tư, thiết kế, giám sát và
thi công không đúng và đảm bảo theo quy trình kỹ thuật đối với những nhà cao tầng, các
cao ốc có nhiều tầng hầm với hố móng sâu Có như thế, hy vọng sẽ giảm thiểu những sự
cố có liên quan đến hố móng sâu trong thời gian tới
1.6 Những vấn đề đã được nghiên cứu
Từ công trình cao ốc Harbour View – 35 Nguyễn Huệ, Quận 1, TP HCM cho kết
quả: chuyển vị ngang và nội lực trong tường được giải bằng phương pháp giải tích cho kết
quả lớn hơn so với phương pháp phần tử hữu hạn [11]
Từ công trình nhà cao ốc văn phòng Phú Mỹ Hưng – Quận 7 cho kết quả [12]:
Khi tính chuyển vị tường trong đất lấy module đàn hồi của các đất dính
Ec=375*cu (c u là lực dính đơn vị không thoát nước), module đàn hồi của lớp đất
cát Es=766*N (N là chỉ số SPT) thì kết quả tương đối sát với quan trắc thực tế
Đối với công trình tường trong đất bảo vệ hai tầng hầm (độ sâu khoảng 8m), ở
khu vực quận 7, thành phố Hồ Chí Minh, khi bề dày của tường trong đất lớn
hơn 0.8m thì thu được chuyển vị ngang giảm ít hơn so với khi tường nhỏ hơn
0.8m Do vậy, với công trình tường trong đất bảo vệ hai tầng hầm của nhà cao
tầng nên chọn chiều dày tường là 0.8m
Từ công trình cao ốc Fideco Tower – số 81-85 đường Hàm Nghi, Quận 1, TP
HCM cho các kết quả [13]:
Hàm tương quan giữa vùng ảnh hưởng của chuyển đứng D với độ sâu đào đất
H theo phương pháp Caspe-Bowles là: D=0.566H+19.451 Theo phương pháp
Caspe-Bowles, chuyển vị đứng của đất nền sau lưng tường đạt cực đại tại vị trí
Trang 28cạnh biên hố đào và giảm dần khi khoảng cách từ điểm đang xét đến cạnh
biên hố đào gia tăng Chuyển vị đứng và vùng ảnh hưởng có xu hướng gia tăng
khi độ sâu hố đào càng tăng
Tại từng vị trí nằm trong vùng ảnh hưởng, giá trị chuyển vị đứng Si tính toán
theo mô phỏng hầu hết đều lớn hơn khi tính toán theo phương pháp
Caspe-Bowles
Giá trị chuyển vị ngang của đất nền theo mô phỏng thường lớn hơn kết quả
quan trắc
Giá trị chuyển vị ngang của đất nền theo phương pháp thi công Top-Down nhỏ
hơn so với phương pháp thi công Bottom-Up
Theo tài liệu “thiết kế và xử lý hố móng” tác giả Nguyễn Uyên – NXB Xây dựng
2008, cho một số lý thuyết tính toán:
Clough và O’Rourker – Dựa vào các quan trắc thực tế đã đưa ra mối tương
quan giữa chuyển vị ngang lớn nhất với độ cứng của tường chắn
Peck – Từ những quan trắc thực tế đã thiết lập biểu đồ quan hệ giữa độ lún
thẳng đứng của các móng công trình lân cận (theo % của độ sâu hố đào đang
thi công) với khoảng cách đến hố đào (theo tỉ lệ của độ sâu hố đào)
1.7 Nhận xét
Trong điều kiện quỹ đất hạn hẹp hiện nay, việc thi công các hố móng đào sâu công
trình nhà cao tầng là một công tác hết sức phức tạp, đòi hỏi người thiết kế và thi công
phải nắm rõ được các lý thuyết về tính toán và kiểm tra ổn định để đảm bảo an toàn cho
hố đào và công trình lân cận
Trang 29CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN VÀ KIỂM TRA ỔN ĐỊNH
HỐ MÓNG ĐÀO SÂU VÀ CÔNG TRÌNH LÂN CẬN
2.1 Giới thiệu
Lý thuyết tính toán và kiểm tra ổn định hố móng đào sâu và công trình lân cận mà
tác giả đưa ra trong chương này chủ yếu xoay quanh loại kết cấu chắn giữ là tường BTCT
liên tục trong đất (Diaphragm Wall), gồm 5 phần chính:
o Lý thuyết tính toán áp lực đất lên kết cấu chắn giữ của hố móng đào sâu
o Phương pháp tính toán kết cấu chắn giữ của hố móng đào sâu
o Phương pháp kiểm tra ổn định hố móng đào sâu
o Phương pháp kiểm tra ổn định của đất và công trình lân cận hố móng
o Sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn thông qua việc ứng dụng phần mềm mô
phỏng vào tính toán, kiểm tra ổn định hố móng và công trình lân cận
2.2 Lý thuyết tính toán áp lực đất lên kết cấu chắn giữ của hố móng đào sâu
Độ lớn và quy luật phân bố của áp lực đất có liên quan với các nhân tố hướng và
độ lớn của chuyển vị ngang của kết cấu chắn giữ, tính chất của đất, độ cứng và độ cao
của vật kết cấu chắn giữ, tuy nhiên nhằm đơn giản hoá trong quá trình tính toán (và vẫn
đảm bảo tính sai số cho phép) hiện nay vẫn dùng một số lý thuyết cơ bản với những hiệu
chỉnh bằng các hệ số thực nghiệm, điển hình như: lý thuyết Coulomb; lý thuyết
Mohr-Rankine; lý thuyết cân bằng giới hạn điểm của Sokolovski [2],[5],[14]
Chúng ta sử dụng các lý thuyết trên để phân tích và tính toán áp lực đất tác dụng
lên kết cấu chắn giữ Cụ thể, dùng để tính toán các loại áp lực đất: áp lực đất tĩnh, áp lực
đất chủ động, áùp lực đất bị động
2.2.1 Lý thuyết Mohr-Rankine
Xét mặt phẳng AB thẳng đứng trong khối đất tự nhiên có trọng lượng riêng bão
hòa là γ
sat, mực nước nằm ngang mặt đất Aùp lực ngang lên mặt AB gồm áp lực nước lỗ
Trang 30rỗng u và áp lực khung hạt ở trạng thái tĩnh σ’
h, cũng là ứng suất hữu hiệu theo phương ngang
Hình 2.1 - Điều kiện phát sinh áp lực chủ động và bị động của đất
Tại điểm P ở độ sâu z, quan hệ giữa ứng suất hữu hiệu theo phương đứng σ’
v và theo phương ngang σ’h ở trạng thái tĩnh là:
σ'h = K
oσ’v= K
Với sự chảy dẻo hông, ứng suất hữu hiệu theo phương ngang σ’h sẽ tăng hay giảm,
với đường kính vòng tròn Mohr biến đổi tương ứng AB hay BC Khi nở hông, trạng thái
cân bằng dẻo (phá hoại) đạt được tại giá trị σ’h cực tiểu; khi nén hông, trạng thái giới hạn
đạt được tại giá trị σ’h cực đại Trong cả hai trường hợp này, sức chống cắt của đất sẽ
phải được huy động toàn bộ Rankine gọi tương ứng là trạng thái chủ động và bị động của
đất Độ lớn của σ’h chỉ phụ thuộc vào ứng suất hữu hiệu theo phương thẳng đứng σ’v và
độ bền kháng cắt của đất và là bài toán tĩnh định, nghĩa là không xét đến giá trị chuyển
vị
Đối với đất rời
Xét khối đất rời, đồng nhất, phạm vi bán vô hạn có góc ma sát trong là ϕ’ Tại một
điểm bất kỳ ở dưới mặt nằm ngang, ứng suất hữu hiệu lấy bằng:
Ứng suất thẳng đứng: σ’v=σ’1
Ứng suất nằm ngang: σ’h=σ’3
Trang 31Các vòng tròn Mohr biểu thị hai trạng thái cân bằng dẻo có thể có, đều tiếp xúc
với đường bao phá hoại bởi vì chúng đều quan hệ với một điều kiện giới hạn (Hình 2.2)
Các điểm A và C biểu thị trạng thái ứng suất hông tương ứng với trạng thái chủ
động và bị động:
OA=σ’ha - Aùp lực hông chủ động
OC=σ’hp - Aùp lực hông bị động
Khi nở hông sẽ dẫn đến σ’ha<σ’v
Khi nén hông sẽ dẫn đến σ’hp>σ’v
Từ vòng tròn Mohr, mặt phá hoại được định hướng tương ứng bởi các góc αa và αp:
2
' 45 ) ' 90 (
* 2
1 ) 2 (
* 2
2
' 45 )]
' 90 ( 180 [
* 2
1 ] 2 180 [
* 2
Quan hệ giữa áp lực hông giới hạn và ứng suất thẳng đứng được biểu thị bằng hệ
số áp lực đất:
σ’ha=Ka*σ’v (K a - hệ số áp lực đất chủ động) (2.4)
σ’hp=Kp*σ’v (K p - hệ số áp lực đất bị động) (2.5)
Theo quan hệ lượng giác, hệ số áp lực đất có thể biểu diễn thông qua góc ma sát
trong ϕ’ của đất:
)2
'45('sin1
'sin11
11
1'
ϕ
ϕσ
σ
−
=+
−
=+
−
=+
−
=+
OF FB OF AF FB
OF
AF OF OB
OA K
'45('sin1
'sin
Trang 32-τ
v ha
+τH
A O
o o
C G
B
2α 2α
o
σ' σ'
NÉN
hp hp
Lý thuyết ban đầu của Rankine chỉ giải quyết áp lực trong vật liệu hạt (có ma sát)
và không xét đến lực dính Dựa trên phương pháp Rankine, năm 1915-Bell công bố lời
giải có lực dính thể hiện bằng một đoạn trên trục độ bền cắt (hình 2.3) Điểm xuất phát là
tỷ số của các ứng suất hữu hiệu:
v
ha
g c
g c PB
PA
''cot'*
''cot'*
σϕ
σϕ
++
Trang 33σ' σ'
FD PF FD
PF BF PF AF BF
PF
AF PF PB
+
−
=+
−
=+
−
=+
−
=
'sin1
'sin11
11
g c
g c K
''cot'*
''cot'*
σϕ
σϕ
'sin1'*
*2'sin
'cos'*
*'
sin1
)'sin1('sin1'cot'*
*)1(
2
ϕ
ϕϕ
ϕϕ
ϕϕ
' sin 1 '*
* 2 ' cot '*
* ) 1
Từ đó ta có áp lực chủ động: σ'ha =K a*σ'v−2*c'* K a (2.11)
Tương tự ta có áp lực bị động: σ'hp =K p*σ'v+ 2 *c'* K p (2.12)
2.2.2 Lý Thuyết Coulomb
Mặc dù lý thuyết Rankine cho phép giải thích thuận tiện, việc tính toán đơn giản,
nhưng có một số hạn chế và sai số đáng kể Thuyết Rankine dựa trên giả thiết là lưng
tường nhẵn, thẳng đứng, không xét đến độ nghiêng của lưng tường và ma sát giữa lưng
tường và đất
Trang 34Với bài toán khi mặt đất nằm nghiêng, bất thường và tải trọng phụ tác dụng lên
mặt đất không theo quy luật, phức tạp thì việc sử dụng gặp khó khăn Lý thuyết Rankine
được xếp vào lý thuyết biên dưới và cho lời giải tương đối an toàn vì nó giả thiết là sự
chảy dẻo của toàn bộ công trình được ẩn trong sự chảy dẻo của một phần tử nhỏ
Coulomb (1776) đã đưa ra giả thuyết là cường độ áp lực đất tác dụng lên tường tạo
nên bởi nêm đất đẩy vào lưng tường
Xem xét lăng thể đất, khi tường hơi dịch chuyển dẫn đến đất ở trạng thái chủ động
và nêm có xu hướng di chuyển về phía tường Khi đó, nêm trượt xuống theo mặt tường
AB và dọc theo mặt phá hoại BC Các lực tác dụng lên nêm ở trạng thái cân bằng dẻo,
giới hạn này cùng với tam giác lực được cho như hình 2.4
2
Pa - cường độ áp lực đất chủ động tác dụng lên tường
R - phản lực của đất
α - góc của mặt phẳng phá hoại
β - góc nghiêng của mặt đất
δ - góc ma sát giữa tường và đất
θ - góc nghiêng của lưng tường
Trang 35ϕ’ - góc ma sát trong của đất
γ - dung trọng của đất
Góc ma sát giữa đất và tường δ liên quan tới góc ma sát của đất ϕ’ và độ nhám của
tường Với tường bê tông thẳng đứng, thường chọn giá trị nằm trong khoảng
δ=(0.5÷0.67)*ϕ’ Trị số δ có thể xác định trong phòng thí nghiệm bằng hộp cắt cho các
mẫu hỗn hợp đất -bêtông Ở cả trạng thái chủ động và bị động, ma sát ở gần chân tường
tạo nên mặt phá hoại cong Tuy nhiên, trong phân tích Coulomb lại giả thiết là mặt phá
Chuyển dịch
haù hoại Co
ulomb
δ Chuyển dịch
a) Trường hợp chủ động
Hình 2.5: Mặt phá hoại cong do ma sát của tường
Sai số hệ quả không đáng kể trong trường hợp áp lực chủ động nhưng cho trường
hợp áp lực bị động có
3
'ϕ
δ > , sai số là khá lớn
Áp lực chủ động lên tường nhám
Phương pháp trực tiếp
Trang 36)sin(
)'sin(
*)'sin(
)]
[sin(
sin
)'sin(
+++
−
=
βθ
βϕδ
ϕδ
θ
θ
ϕθ
a
Trong trường hợp tường nhẵn thẳng đứng và mặt đất nằm ngang δ=0, θ=900 và
β=0, phương trình trên được rút gọn lại thành:
)2
'45('sin1
'sin
• Áp lực bị động lên tường nhám
Lý thuyết Coulomb có thể dùng để thiết lập áp lực bị động lên tường nhám có lưng
tường nghiêng và ở nơi mặt đất là mặt phẳng nghiêng đều
Phương pháp trực tiếp
)'sin(
*)'sin(
)]
[sin(
sin
)'sin(
βϕδ
ϕδ
θ
θ
ϕθ
dẫn đến việc đánh giá cao sức kháng bị động Một số phương pháp đã được kiến nghị
trong đó phần cong được xem như cong tròn hoặc ellipse hoặc đường xoắn ốc lôgarit
Trang 37Hình 2.6: Lý thuyết Coulomb cho sức kháng bị động 2.2.3 Lý thuyết cân bằng giới hạn điểm của Sokolovski
Trong bài toán phẳng, xét một phân tố đất sau lưng tường chịu tác dụng của các
ứng suất σz, σx, τzx, điều kiện để phân tố đất ở trạng thái cân bằng tĩnh:
∂
∂
0
x z
x z
x zx
xz z
στ
γτσ
z
zx γ τ
Để tiện tính toán Sokolovski đưa ra thêm hai ẩn số mới là θ và σ với θ là góc giữa
σ1 và trục Oz và σ σ σ c cot* gϕ
Họ đường trượt thứ 2
Họ đường trượt thứ 1
x o
Trang 38Suy ra:σz =σ*(1+sinϕ*cos2θ)−c*cotgϕ (2.24)
ϕθ
ϕσ
σx = *(1−sin *cos2 )−c*cotg (2.25)
θϕ
σ
τzx = *sin *sin2 (2.26)
Thay vào hệ phương trình bên trên, ta được:
Xét cho trường hợp cụ thể: mặt đất nằm ngang, lưng tường thẳng đứng, góc ma sát
đất và tường không đáng kể, tải trọng q phân bố đều trên mặt đất: α=0; ϕa =0;β = 0
Áp lực chủ động
Đối với đất rời: c = 0
với q là tải trọng phân bố sau lưng tường
Đối với đất dính: c ≠ 0
2.2.4 Ảnh hưởng của chuyển vị thân tường đến áp lực đất
Khi tường chắn dịch chuyển về phía trước, áp lực đất dần dần giảm xuống cho đến
trị số nhỏ nhất – áp lực chủ động Ngược lại, khi tường ép về phía đất đấp thì áp lực đất
dần dần tăng lên cho đến trị số lớn nhất – áp lực bị động
Trang 39Từ thực nghiệm quan sát được rằng: khi chuyển vị ở phần đỉnh của tường bằng
0.1% - 0.5% độ cao của tường thì áp lực đất của đất có tính cát sẽ giảm thấp đến áp lực
chủ động; ngược lại, trong đất có tính cát, để đạt đến áp lực đất bị động thì chuyển vị ở
đỉnh tường phải ≥ 5% chiều cao của tường
Ảnh hưởng chuyển vị của tường chắn đến áp lực đất:
o Khi tường hoàn toàn không dịch chuyển, áp lực đất tác dụng lên tường là áp
lực đất tĩnh như hình 2.9
o Khi đỉnh tường cố định, đầu dưới tường dịch chuyển ra phía ngoài, áp lực đất
tác dụng lên tường có hình dạng như hình 2.10
o Khi đỉnh tường và chân tường cố định, phần giữa tường vồng ra phía ngoài thì
áp lực đất tác dụng lên tường có dạng như hình 2 11
o Khi tường nghiêng ra phía ngoài, quay theo trung tâm của đoạn dưới tường thì
áp lực đất tác dụng lên tường là áp lực chủ động bình thường như hình 2.12
Trang 40
Khi xem nền đất hoàn toàn không chuyển vị, áp lực đất hai bên tường là đất tĩnh
po Khi tường chịu tác động của ngoại lực và bị biến dạng, nếu chuyển vị ngang tại bất cứ
một điểm nào đó của tường là δ thì áp lực tác dụng lên tường tại điểm đó bên phía đất bị
nén lại sẽ tăng thêm 1 trị số là K
h – hệ số áp lực ngang của đất
Cùng với sự gia tăng của chuyển vị, áp lực đất cũng tăng theo, nhưng khi đạt đến
trạng thái giới hạn nào đó thì áp lực đất sẽ không tăng cho dù chuyển vị tăng Aùp lực ở
trạng thái giới hạn đó gọi là áp lực đất bị động
p
α = po + Khδ ≤ pp
Tương tự, áp lực đất chủ động cũng giảm nhỏ dần theo sự gia tăng của chuyển vị,
cho đến một giá trị giới hạn nào đó tuy chuyển vị tăng nhưng áp lực đất không giảm nữa
Giá trị giới hạn này gọi là áp lực đất chủ động
Chuyển vị cần thiết của tường để sinh ra áp lực đất chủ động và áp lực đất bị động:
Theo Brinch – Hansen:
- Đối với áp lực đất chủ động: δ
a = 0.001H
- Đối với áp lực đất bị động: δ
p = 0.01H Trong đó: H – chiều cao của tường