1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự hình thành vỏ phong hóa của đá macma, đá biến chất và tính chất cơ lý của chúng ở khu vực tây nguyên

132 27 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 4,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HCM NGUYỄN THANH QUANG NGHIÊN CỨU SỰ HÌNH THÀNH VỎ PHONG HÓA CỦA ĐÁ MACMA, ĐÁ BIẾN CHẤT VÀ TÍNH CHẤT CƠ LÝ CỦA CHÚNG Ở KHU VỰC TÂY NGUYÊN Chuyên ngành: ĐỊA KỸ THUẬT Mã số ngành: 60.4

Trang 1

ĐỊ A CHẤ T & DẦ U KHÍ

TP HCM

NGUYỄN THANH QUANG

NGHIÊN CỨU SỰ HÌNH THÀNH VỎ PHONG HÓA CỦA ĐÁ MACMA, ĐÁ BIẾN CHẤT VÀ TÍNH CHẤT

CƠ LÝ CỦA CHÚNG Ở KHU VỰC TÂY NGUYÊN

Chuyên ngành: ĐỊA KỸ THUẬT Mã số ngành: 60.44.68

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP HỒ CHÍ MINH, tháng 10 năm 2006

Trang 2

Tp HCM, ngày 01 tháng 11 năm 2006

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên: NGUYỄN THANH QUANG .Phái: Nam Ngày, tháng, năm sinh : 21/02/1981 .Nơi sinh: Tiền Giang Chuyên ngành: KỸ THUẬT ĐỊA CHẤT .MSHV: 01604582

I- TÊN ĐỀ TÀI:

« NGHIÊN CỨU SỰ HÌNH THÀNH VỎ PHONG HÓA CỦA ĐÁ MACMA, ĐÁ BIẾN CHẤT VÀ TÍNH CHẤT CƠ LÝ CỦA CHÚNG Ở KHU VỰC TÂY NGUYÊN »

II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG :

1 Nghiên cứu sự hình thành vỏ phong hóa của đá macma và đá biến chất ở khu vực Tây Nguyên dưới tác động của các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu

2 Phân tích, thống kê đưa ra các tính chất cơ lý đặc trưng của vỏ phong hóa của các loại đá ở khu vực Tây Nguyên

3 Nguyên nhân phát triển, tính toán và dự báo các tai biến địa chất liên quan đến vỏ phong hóa ở khu vực Tây Nguyên

III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: V- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: PGS TS NGUYỄN VIỆT KỲ

VI CÁN BỘ NHẬN XÉT 1 : TS NGUYỄN MẠNH THỦY

VII CÁN BỘ NHẬN XÉT 2 : TS ĐẬU VĂN NGỌ

QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ được Hội Đồng chuyên ngành thông qua

Ngày tháng năm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô thuộc Khoa Kỹ Thuật Địa Chất

& Dầu Khí đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành khóa học này

Tôi xin cảm ơn Liên Đoàn Bản Đồ Địa Chất Miền Nam, Liên Đoàn Địa Chất Thủy Văn – Địa Chất Công Trình Miền Trung, Công Ty Tư Vấn Xây Dựng Điện 2, Công Ty Tư Vấn Xây Dựng Điện 3 đã giúp đỡ về nguồn tài liệu nghiên cứu, học tập để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS TS Nguyễn Việt Kỳ, đã tận tình đóng góp, hướng dẫn, và giảng dạy tôi hoàn thành tốt luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các Anh Chị và các bạn cùng khóa đã góp ý và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn Cha Mẹ cùng gia đình đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

Trang 4

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tây Nguyên là vùng đất hầu hết được bao phủ bởi lớp vỏ phong hóa dày đồng thời là một trong những vùng trọng điểm và phát triển mạnh trong công cuộc Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa của cả nước Nhiều công trình đang mọc lên trên nền vỏ phong hóa này Vỏ phong hóa là một trong những nguyên nhân chính để hình thành và phát triển các dạng tai biến địa chất Vì thế, cùng với sự phát triển mạnh của khu vực Tây Nguyên và nhằm hạn chế những thiệt hại nghiêm trọng do các tai biến địa chất gây ra chúng ta cần phải nắm thật vững về các đặc tính cũng như qui luật hình thành của lớp vỏ phong hóa ở khu vực này

Trong luận văn này, tác giả cố gắng trình bày những cơ sở lý luận hình thành vỏ phong hóa, từ đó giải thích và đưa ra cấu trúc vỏ phong hóa đặc trưng của một vài khu vực ở Tây Nguyên Qua đó, tác giả thống kê đưa ra những nét đặc trưng cơ lý cơ bản nhất của vỏ phong hóa trên một số loại đá phổ biến ở đây đồng thời kết hợp với các phần mềm địa kỹ thuật lập mô hình mô phỏng dự báo khả năng xảy ra các hoạt động động lực công trình liên quan tới các cấu trúc của vỏ phong hóa này

ABSTRACT

Tay Nguyen highland is covered by a thick weathering crust and is a developing area in the process of industrialization and modernization of the country Many of the constructions here have been built on this area As well – known, the weathering crust is one of the major reasons which cause goelogic catastrophes Thus, to decrease the serious damages in this area, we not only have to know thoroughly the characteristics but also the formations of this weathering crust

In this thesis, the author attempts to present the basic of formation and the

Trang 5

analysics and brings out the statistics about physico – mechanical characteristics

of the weathering crust on some common rocks And finally, the author uses geotechnical softwares (Geoslope) to evaluate and forecast ability of appearance

of geodynamical processes concerned the weathering crust in these areas in Tay Nguyen

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 5

1.1 Vị trí địa lý 6

1.2 Đặc điểm địa hình – địa mạo .7

1.3 Đặc điểm khí hậu .10

1.4 Mạng lưới thủy văn .13

1.5 Thổ nhưỡnng và sinh vật .14

1.6 Lịch sử nghiên cứu vỏ phong hóa ở Tây Nguyên .15

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT – ĐỊA CHẤT THỦY VĂN KHU

VỰC TÂY NGUYÊN .20

2.1 Địa tầng .21

2.2 Các thành tạo xâm nhập 27

2.3 Đặc điểm kiến tạo .29

2.4 Đặc điểm địa chất thủy văn 33

CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN SỰ HÌNH THÀNH VỎ PHONG HÓA 37

3.1 Quá trình phong hóa .38

3.1.1 Định nghĩa 38

3.1.2 Phân loại .38

3.1.3 Phong hóa hóa học của một số khoáng vật và đá phổ biến 46

3.1.4 Phân đới vỏ phong hóa .51

3.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ phong hóa .53

3.2 Vỏ phong hóa 60

Trang 7

3.2.1 Định nghĩa 60

3.2.2 Các giai đoạn phong hóa .60

3.2.3 Các loại vỏ phong hóa .61

CHƯƠNG 4: CẤU TRÚC VỎ PHONG HÓA TRÊN CÁC ĐÁ Ở KHU VỰC TÂY NGUYÊN .63

4.1 Sự hình thành vỏ phong hóa của các loại đá ở khu vực Tây Nguyên 64

4.1.1 Giai đoạn 1 64

4.1.2 Giai đoạn 2 65

4.1.3 Giai đoạn 3 68

4.2 Cấu trúc và tính chất vỏ phong hóa ở khu vực Tây Nguyên 70

4.2.1 Vỏ phong hóa trên đá macma phun trào bazơ (bazan) 70

4.2.1.1 Vỏ phong hóa trên đá bazan ở Gia Nghĩa tỉnh Đắc Nông 70 4.2.1.2 Vỏ phong hóa trên đá bazan ở tỉnh Lâm Đồng 75

4.2.1.3 Kết luận 77

4.2.2 Vỏ phong hóa trên đá xâm nhập axit (granit) .80

4.2.2.1 Vỏ phong hóa trên đá granit ở Gia Nghĩa tỉnh Đắc Nông 80 4.2.2.2 Vỏ phong hóa trên đá granit ở tỉnh Lâm Đồng 85

4.2.2.3 Kết luận 87

4.2.3 Vỏ phong hóa trên đá sừng ở tỉnh Đắc Lắc 88

CHƯƠNG 5: VAI TRÒ CỦA VỎ PHONG HÓA ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG ĐỘNG LỰC CÔNG TRÌNH 92

5.1 Hiện tượng xói ngầm 93

5.1.1 Định nghĩa và nguyên nhân gây xói ngầm 93

5.1.2 Vai trò của phong hóa đối với hiện tượng xói ngầm 94

Trang 8

5.1.3 Đánh giá khả năng xói ngầm trên các đới của vỏ phong hóa ở Tây

Nguyên 94

5.1.4 Kết luận .97

5.2 Hiện tượng trượt lở đất .98

5.2.1 Định nghĩa và nguyên nhân gây trượt lở đất .98

5.2.2 Vai trò của phong hóa đối với trượt lở đất……… 99

5.2.3 Tính toán ổn định trượt cho các kiểu vỏ phong hóa Tây Nguyên 99 5.2.3.1 Mô hình mặt trượt trên vỏ phong hóa đá bazan 100

5.2.3.2 Mô hình mặt trượt trên vỏ phong hóa đá granit 107

5.2.3.3 Mô hình mặt trượt trên vỏ phong hóa đá sừng 114

KẾT LUẬN .119

TÀI LIỆU THAM KHẢO .121

Trang 9

MỞ ĐẦU

Trang 10

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tây Nguyên là vùng đất hầu hết được bao phủ bởi lớp vỏ phong hóa dày Trong những năm gần đây, Tây Nguyên là một trong những vùng trọng điểm và phát triển mạnh trong công cuộc Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa của cả nước Nhiều công trình đang mọc lên trên nền vỏ phong hóa này Trong tương lai, trên vùng đất trù phú này sẽ mọc lên nhiều thành phố trẻ hiện đại bên cạnh những khu công nghiệp rộng lớn, đồng thời mạng lưới giao thông sẽ vươn tới những buôn làng xa xôi, cùng với các nhà máy điện ở Tây Nguyên sẽ được xây dựng nhằm hòa vào nguồn năng lượng chung của cả nước, … Với sự phát triển mạnh mẽ như thế, những vấn đề về đất nền trên vỏ phong hóa ở đây đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà địa chất công trình

Như chúng ta đã biết, khi giải quyết các nhiệm vụ địa chất công trình, việc đánh giá mức độ phong hóa của đá có một ý nghĩa to lớn, bởi vì mức độ phong hóa càng cao thì mức độ bị phá hủy của đá càng cao Nên chú ý là, trong trường hợp này sự phá hủy của đá được hiểu theo nghĩa thay đổi trạng thái vật lý của chúng, còn trên thực tế thì phong hóa là một quá trình phức tạp, chẳng những phá hủy đá và thay đổi thành phần khoáng vật và hóa học của chúng mà còn hình thành nên những khoáng vật mới thứ sinh, ổn định trong đới phong hóa

Theo báo cáo Điều tra tai biến địa chất vùng Tây Nguyên của Liên đoàn Địa chất thủy văn – Địa chất công trình Miền Trung, hầu hết các tai biến địa chất xảy ra ở khu vực Tây Nguyên như: nứt đất, sạt – trượt lở đất, … gây thiệt hại không ít về của cải vật chất và con người đều có nguyên nhân chủ yếu là liên quan đến lớp vỏ phong hóa; trong đó thì hiện tượng sạt lở gây mất ổn định công trình đường Hồ Chí Minh đã và đang diễn ra cùng với những thiệt hại đang đe dọa tính kinh tế và hiệu quả của con đường

Trang 11

Vì thế, cùng với sự phát triển mạnh của khu vực Tây Nguyên và nhằm hạn chế những thiệt hại nghiêm trọng do các tai biến địa chất gây ra chúng ta cần phải nắm thật vững về các đặc tính cũng như qui luật hình thành của lớp vỏ phong hóa ở khu vực này

Do đó, luận văn với đề tài “Nghiên cứu sự hình thành vỏ phong hóa của

đá macma, đá biến chất và tính chất cơ lý của chúng ở khu vực Tây Nguyên”

được nghiên cứu nhằm giải quyết một phần vấn đề này

2 Mục đích của đề tài

¾ Xác định đặc điểm phân bố, qui luật hình thành và biến đổi của vỏ phong hóa

¾ Đánh giá sự thay đổi tính chất cơ lý của các loại đá phong hóa và mối quan hệ của vỏ phong hóa đến các tai biến địa chất ở vùng Tây Nguyên

¾ Tính toán, dự báo các tai biến địa chất liên quan đến vỏ phong hóa

3 Nội dung nghiên cứu

¾ Nghiên cứu sự hình thành vỏ phong hóa của đá macma và đá biến chất ở khu vực Tây Nguyên dưới tác động của các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu

¾ Phân tích, thống kê đưa ra các tính chất cơ lý đặc trưng của vỏ phong hóa của các loại đá ở khu vực Tây Nguyên

¾ Nguyên nhân phát triển, tính toán và dự báo các tai biến địa chất liên quan đến vỏ phong hóa ở khu vực Tây Nguyên

4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

¾ Phạm vi nghiên cứu : Giới hạn ở vỏ phong hóa của các loại đá ở khu vực Tây Nguyên

Trang 12

¾ Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu sự hình thành và các tính chất cơ lý

của vỏ phong hóa của đá macma và đá biến chất

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp truyền thống

- Thu thập các tài liệu về địa chất, địa mạo, kiến tạo và các số liệu thô đã có của các cơ quan nghiên cứu về vùng Tây Nguyên

- Từ các số liệu thô đó sẽ phân tích và thống kê đưa ra các tính chất cơ lý của vỏ phong hóa trên các loại đá macma và đá biến chất

Khảo sát thực địa

Khảo sát thực địa tại những vùng điển hình ở khu vực Tây Nguyên

Phương pháp tương tự địa chất

Thu thập tài liệu kết hợp với khảo sát thực địa tại một vài khu vực trong vùng nghiên cứu, từ đó đưa ra cấu trúc vỏ phong hóa và các tính chất cơ lý của chúng ở khu vực đó Dùng phương pháp tương tự địa chất để suy đoán cấu trúc vỏ phong hóa và các tính chất cơ lý của chúng ở những vùng có điều kiện địa chất tương tự

Ưùng dụng các phần mềm

- Ứng dụng các phần mềm thống kê, xác suất để phân tích và tổng hợp các đặc tính cơ lý của vỏ phong hóa

- Ứng dụng phần mềm địa kỹ thuật Geoslope, lập mô hình mô phỏng tính toán dự báo khả năng trượt cho các cung trượt trên các mặt cắt vỏ phong hóa ở Tây Nguyên

Trang 13

CHUƠNG 1

TỔNG QUAN KHU VỰC

NGHIÊN CỨU

Trang 14

1.1 Vị trí địa lý

Hình 1.1[10]: Vị trí địa lý khu vực Tây Nguyên

Tây Nguyên là tên gọi chung của khu vực bao trùm toàn bộ hệ thống cao nguyên rộng lớn nằm ở phía tây của miền Nam Trung Bộ, ranh giới tự nhiên gần trùng với địa giới hành chính của 4 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng Về phía bắc, Tây Nguyên giáp với vùng rừng núi của tỉnh Quảng Nam; phía nam và tây nam giáp các tỉnh Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Phước; phía đông giáp các tỉnh đồng bằng Nam Trung Bộ: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận; phía tây giáp CHDCND Lào và Campuchia

Diện tích tự nhiên toàn khu vực rộng khoảng 57 373 km2

Trang 15

1.2 Đặc điểm địa hình_địa mạo

Khu vực Tây Nguyên gồm có các kiểu địa hình sau [10]:

1.2.1 Địa hình núi cao

Địa hình núi cao (hình 1.2) bao bọc cả 3 mặt bắc, đông và nam của khu vực Phía cực bắc được khống chế bởi dãy núi Ngọc Linh_là dãy núi đồ sộ nhất

ở Bắc Tây Nguyên, chạy dài theo hướng tây bắc – đông nam gần 200 km với những đỉnh cao trên 1500 m, tiêu biểu là các ngọn Ngọc Linh: 2598 m, Ngọc Pan: 2261 m, Ngọc Cơ Rinh: 2025 m và những ngọn thấp hơn

Phía đông cũng được khống chế bởi những dãy núi nối tiếp nhau chạy dài chủ yếu theo hướng bắc – nam, có hình cánh cung với phần lồi nhô về hướng đông, tạo thành bức tường ngăn cách Tây Nguyên với dãy đồng bằng ven biển, trong đó có những dãy núi chính như: An Khê với đỉnh cao nhất 1331 m (Chư Trian), dãy Chư Đju (1230 m), dãy Vọng Phu (2010 m), dãy Tây Khánh Hòa (1978 m), dãy Chư Yang Sin (2405 m), dãy Bi Đúp (2287m)

Phía Nam được viền bởi những dãy cuối cùng của Trường Sơn Nam với những ngọn Brai An (1864 m), Bơ Nam So Rlung (1545 m)

1.2.2 Các cao nguyên và bình sơn nguyên

Các cao nguyên và bình sơn nguyên phân bố ở những độ cao khác nhau: từ 300 – 400 m đến trên 1500 – 1700 m, tính từ bắc vào nam có cao nguyên Kon Plong nằm giữa dãy An Khê và dãy Ngọc Linh với độ cao trung bình 1100 –

1300 m; cao nguyên Kon Hà Nừng có bề mặt phân cắt mạnh, cao 700 – 1000 m, thấp dần về phía nam còn 500 – 600 m; cao nguyên Pleiku có dạng vòm, địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao ở phía bắc và đông bắc từ 750 – 800 m, nghiêng dần về phía nam còn 400 – 500 m; cao nguyên Buôn Ma Thuộc có bề mặt địa hình khá bằng phẳng, độ cao ở phía bắc 800 m, giảm mạnh về phía nam

Trang 16

còn 400 m và về phía tây còn 300 m; cao nguyên M’Đrắk có bề mặt lượn sóng cao trung bình 500 m, thỉnh thoảng còn sót lại những đỉnh cao 1000 m; cao nguyên Di Linh có dạng một thung lũng kéo dài theo phương đông – tây, cao từ

800 – 1000 m; cao nguyên Đắk Nông là khối nâng dạng vòm, cao từ 800 – 1000 m; cao nguyên Đà Lạt là bề mặt san bằng cổ, ở phía bắc cao 1600 m, giảm dần về phía nam còn 1400 m, có các đỉnh núi sót cao trên 2000 m

1.2.3 Các miền trũng và đồng bằng

Các miền trũng và đồng bằng từ bắc vào nam gồm: trũng giữa núi Kon Tum chạy dọc theo sông Pô Kô khoảng 45 km bề mặt khá bằng phẳng; trũng An Khê là kiểu thung lũng giữa núi bị san bằng và mở rộng (15 km) cao 400 – 500 m; bình nguyên Ea Sup là một đồng bằng bóc mòn có những chỏm núi sót, khá bằng phẳng, độ cao 140 – 400 m, thoải dần về phía tây; vùng trũng Cheo Reo – Phú Túc nằm trùng với địa hào Sông Ba, bề mặt khá bằng phẳng, chỉ có một ít đồi sót; trũng Krông Pắc – Lắk vốn là một thung lũng bóc mòn với nhiều núi sót đã biến thành một cánh đồng tích tụ với đầm lầy và hồ Lắk

Qua các địa hình trên cho thấy mặc dù địa hình Tây Nguyên có sự chia cắt và phân bậc mạnh nhưng nhìn chung phần cao nhất chiếm ưu thế ở phía bắc và phía đông, nghiêng dần về phía tây nam và phía tây, từ đó nước mưa, một mặt chảy xuống đồng bằng và đổ ra biển, một mặt thoát vào hệ thống sông Mêkông, chỉ giữ lại ở phía trên một phần nhỏ Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện thủy văn và địa chất thủy văn khu vực và từ đó giải thích được tại sao một miền lãnh thổ mưa nhiều nhưng tài nguyên nước, kể cả nước mặt lẫn nước dưới đất lại rất hạn chế nhất là về mùa khô

Trang 17

Hình 1.2 [10]: Sơ đồ cao độ các ngọn núi ở Tây Nguyên và Trường Sơn Nam

(theo Lê Bá Thảo)

Ghi chú: Các ngọn núi và độ cao (m): 1-Ngọc Linh – 2598; 2-Ngọc Pan – 2261; 3-Ngọc Cơ Rinh – 2025; 4-R’Pan – 1717; 5-Chư Nhơn – 1400; 6-Núi Bà – 1250; 7-Núi Oâng – 580; 8-Chư Giu – 1230; 9-Chư Đun – 1330; 10-Chư Điêya – 1517; 11-Vọng Phu – 2022; 12-Chư Yang Sin – 2405; 13-Lang Biang – 2163; 14-Bi Đúp – 2287; 15-Quan Đa – 1675; 16-Tích La – 1070; 17-Păng Ta – 1830; 18-Ta Đưng – 2150

Trang 18

1.3 Đặc điểm khí hậu

Trên nền chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo của miền khí hậu phía nam, khí hậu Tây Nguyên nổi lên một số yếu tố riêng biệt, được quyết định bởi độ cao địa hình và tác dụng chắn gió của dãy Trường Sơn, hình thành một kiểu khí hậu đặc trưng được gọi là khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên với những nét tiêu biểu như sau:

1.3.1 Chế độ nhiệt

Chế độ nhiệt của Tây Nguyên có đặc điểm nổi bật là xu thế hạ thấp một cách có quy luật nhiệt độ không khí theo độ cao địa hình: nếu ở những vùng thấp dưới 500 m (thung lũng Sông Ba, Srêpôk, Krông Pắc, Sa Thầy, …) nhiệt độ trung bình trên 240C thì ở những vùng cao 500 – 800 m nhiệt độ đạt khoảng 21 - 230C, còn ở những vùng cao 800 – 1100 m (Pleiku) nhiệt độ đã hạ xuống 19 - 210C và

ở nững vùng cao trên 1550 m (Đà Lạt, …) thì nhiệt độ chỉ còn dưới 190C

Sự chênh lệch nhiệt độ giữa mùa nóng và mùa lạnh không lớn, với biên độ dao động trung bình khoảng 40C ở phía nam và 50C ở phía bắc khu vực Nhiệt độ thấp nhất trung bình vào tháng I xuống dưới 150C, cao nhất trung bình vào tháng VI là 28 - 300C nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối dưới 100C, đặc biệt có năm

1932 nhiệt độ tại Đà Lạt chỉ còn 0,10C Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối trên 300C, ở Cheo Reo năm 1971 lên tới 39,70C

Biên độ dao động nhiệt độ trong ngày của Tây Nguyên lớn nhất cả nước, trung bình từ 9 - 110C Các tháng II, III có biên độ dao động nhiệt độ ngày lớn nhất, các tháng VII, VIII là nhỏ nhất

1.3.2 Chế độ mưa

Chế độ mưa ở Tây Nguyên rất không đều theo không gian cũng như thời gian và phân thành 2 mùa rõ rệt

Trang 19

- Mùa mưa kéo dài từ tháng V đến tháng X Trong thời kỳ này, lượng mưa thường chiếm trên 75% tổng lượng mưa cả năm và phân bố không đều giữa các vùng

Ở Bắc Tây Nguyên lượng mưa năm vượt quá 2400 mm/năm trên khối núi Kon Tum và khoảng 2000 – 2400 mm/năm trên các cao nguyên Gia Lai–Kon Tum Ơû những địa hình tương đối thấp, lượng mưa giảm tới mức 1600 – 1800 mm/năm Lượng mưa cực đại (400 – 600 mm/tháng) ở vùng này tập trung vào tháng VII hoặc VIII

Ơû Trung Tây Nguyên nói chung lượng mưa năm giảm, đạt khoảng 1800 –

2000 mm/năm trên cao nguyên Đắk Lắk, 1400 – 1800 mm/năm trong các vùng trũng, đặc biệt ở vùng Cheo Reo – Phú Túc chỉ đạt 1200 mm/năm

Ơû Nam Tây Nguyên lượng mưa tăng rõ rệt: tại Di Linh lượng mưa trung bình năm đạt 2000 – 2400 mm/năm, tại Bảo Lộc là 2876 mm/năm

- Mùa khô ở Tây Nguyên kéo dài từ tháng XI (ở phía Bắc Tây Nguyên) hoặc tháng XII (ở Nam Tây Nguyên) đến tháng III hoặc tháng IV, đáng chú ý là tình trạng khô hạn ở Bắc và Trung Tây Nguyên trầm trọng hơn Nam Tây Nguyên Ba tháng đặc biệt ít mưa ở Bắc và Trung Tây Nguyên là các tháng XII,

I, II, trong đó cực tiểu là tháng I, lượng mưa chỉ vào khoảng 1 – 2 mm/tháng Ơû Nam Tây Nguyên thường ít mưa nhất là tháng I hay tháng II, lượng mưa đạt từ

10 – 20 đến 40 – 50 mm/tháng Lượng mưa ít ỏi như vậy làm cho mùa khô ở Tây Nguyên cực kỳ khắc nghiệt, thường xảy ra nạn hạn hán nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn cho kinh tế và gây khó khăn cho đời sống nhân dân

Trang 20

Hình 1.3 [10]: Sơ đồ phân bố lượng mưa trung bình năm khu vực Tây Nguyên

1.3.3 Độ ẩm

Độ ẩm tương đối trung bình năm ở phần lớn các vùng Tây Nguyên có giá trị từ 80% đến 85%, có xu thế tăng theo độ cao địa hình Ơû vùng núi Ngọc Linh, cao nguyên Lâm Đồng độ ẩm đạt 85 – 90%, còn ở thung lũng Sông Ba và bình nguyên Ea Sup chỉ đạt 75 – 80% Độ ẩm tương đối thay đổi rõ rệt trong năm

Trang 21

Biến trình độ ẩm năm tương đối phù hợp với biến trình mưa và ngược với biến trình của nhiệt độ Độ ẩm tương đối đạt giá trị lớn nhất (88 – 92%) vào tháng VIII – IX và thấp nhất (70 – 72%) vào tháng II – III Độ ẩm tương đối thấp nhất trong năm có thể xuống dưới 20% ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk và dưới 10% ở Lâm Đồng

1.3.4 Lượng bốc hơi trung bình năm

Lượng bốc hơi trung bình năm ở Tây Nguyên khác nhau giữa các vùng và dao động trong khoảng 600 – 1500 mm, lớn nhất là Buôn Ma Thuộc (1600 mm), gấp 3 lần lượng bốc hơi ở Đà Lạt Lượng bốc hơi đạt giá trị cao nhất vào thời kỳ khô nóng (tháng III) như: ở Buôn Ma Thuộc: 230 mm, ở Pleiku, Liên Khương:

170 – 180 mm, Kon Tum, Cheo Reo: 100 – 150 mm Lượng bốc hơi nhỏ nhất (30 – 40 mm) thường xảy ra từ thángVIII đến X Trong ngày lượng bốc hơi lớn nhất

ở Buôn Ma Thuộc là 14,1 mm; ở các nơi khác từ 8 – 10 mm (tháng III – IV) Nhìn chung biến trình năm của lượng bốc hơi ngược với biến trình mưa

1.4 Mạng lưới thủy văn

Tây Nguyên là nơi phát triển của những hệ thống sông chính chảy xuống các đồng bằng ven biển miền Trung Nam Bộ, Đông Nam Bộ và sang nước láng giềng Campuchia Do vậy phần lớn sông suối ở đây là phần thượng lưu của những con sông lớn ở các miền hạ lưu và lưu vực của chúng là một bộ phận của lưu vực chung Các sông suối ở Tây Nguyên tập trung trong 3 hệ thống chính: hệ thống Sông Ba, hệ thống sông Mêkông (gồm 2 hệ thống nhánh: Sê San và Srêpok) và hệ thống sông Đồng Nai

Ba hệ thống sông này chiếm 96% diện tích toàn Tây Nguyên Phần còn lại thuộc lưu vực thượng nguồn các sông suối nhỏ chảy xuống đồng bằng phía đông, tạo nên các sông Thu Bồn, Trà Khúc, Cai (Nha Trang), Cai (Phan Rang),

Trang 22

Lũy, Cai (Phan Thiết) Hàng năm các hệ thống sông ở Tây Nguyên mang ra khỏi khu vực bình quân khoảng 41 tỷ m3 nước

Trong mạng lưới thủy văn ở Tây Nguyên còn có hàng loạt hồ tự nhiên và nhân tạo có khả năng tích trữ hàng tỷ m3 nước Cùng với các hệ thống sông suối, chúng có tác dụng điều tiết dòng chảy (về mùa mưa chúng là nguồn cung cấp cho nước dưới đất, ngược lại về mùa khô chúng được nước dưới đất cung cấp), phục vụ đắc lực các yêu cầu phát triển thủy lợi, thủy điện, cung cấp nước, cải thiện môi trường Nhiều hồ nằm ở những cảnh quan đẹp, đã và có thể khai thác phục vụ du lịch Có thể kể ra một số hồ quan trọng như: Biển Hồ (Gia Lai) – dung tích 425 triệu m3; Ya Ly (Gia Lai)– 1300 triệu m3; Ia Ayun (Gia Lai) – 253 triệu m3; Krông Buk Hạ (Đắk Lắk) – 67,2 triệu m3; Đa Nhim (Lâm Đồng) – 165 triệu m3, …

1.5 Thổ nhưỡng và sinh vật

Thổ nhưỡng của Tây Nguyên khá đa dạng, theo sự phân loại của Cao Liêm và Nguyễn Bá Nhuận gồm 16 loại, được phân thành 8 nhóm như sau: 1) Đất phù sa sông suối; 2) Đất xám bạc màu; 3) Đất đen; 4) Đất đỏ vàng; 5) Đất mùn vàng đỏ trên núi; 6) Đất mùn trên núi (đất mùn alit); 7) Đất xói mòn trơ sỏi đá; 8) Đất pođzol

Trong các nhóm kể trên phổ biến nhất là đất đỏ vàng và đất mùn vàng đỏ trên núi Đất đỏ vàng (đất feralit hay “đất đỏ”) là loại đất tiêu biểu của Tây Nguyên có diện phân bố rộng (khoảng 66% tổng diện tích đất tự nhiên toàn khu vực) và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nông nghiệp Đây là sản phẩm phong hóa chủ yếu của bazan và một số đá mẹ khác Chúng thường phân bố ở độ cao dưới 1000 m, tập trung ở các cao nguyên Pleiku, Buôn Ma Thuộc, Di Linh, Đắk Nông Ngoài ra còn gặp lẻ tẻ ở vùng Kon Hà Nừng, Kon Plong

Trang 23

Về mặt thủy tính đất đỏ vàng có độ thấm cao, là điều kiện thuận lợi để nước mưa, nước mặt ngấm xuống, cung cấp cho các tầng chứa nước trong đá gốc bên dưới, tạo nên nguồn dự trữ phong phú của nước dưới đất trong các thành tạo bazan

Nhờ có độ phì nhiêu lớn, đất đỏ vàng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nông nghiệp ở Tây Nguyên

Đất vàng đỏ phát triển trên các đá macma axit chiếm diện tích rất rộng (trên 38% diện tích tự nhiên của Tây Nguyên) nhưng do phân bố trên các vùng núi cao, địa hình dốc, bị xói mòn mạnh, độ phì nhiêu thấp nên loại đất này chỉ đóng vai trò thứ yếu trong nông nghiệp

Các loại đất khác chỉ phân bố trên từng vùng hẹp nên ít có ý nghĩa đối với nông nghiệp

Thảm thực vật của Tây Nguyên khá phong phú, thuộc kiểu rừng mưa nhiệt đới Tuy nhiên hiện nay do sự tàn phá của con người, rừng Tây Nguyên ngày càng suy yếu, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường

1.6 Lịch sử nghiên cứu vỏ phong hóa ở Tây Nguyên

1.6.1 Các đề tài đã nghiên cứu

Các đề tài liên quan đến vỏ phong hóa ở khu vực Tây Nguyên đã được nghiên cứu trong thời gian qua trong đó có một vài đề tài tiêu biểu như sau:

- Về vỏ phong hóa kaolin ở vùng Đà Lạt, của tác giả Đậu Hiển, Kiều Quý Nam

- Một vài dẫn liệu về vỏ phong hóa của bazan ở Tây Nguyên, của tác giả Nguyễn Thành Vạn, Vũ đình Thắc, Bùi Văn Thay, Trương Văn Lưu

Trang 24

- Điều kiện lý hóa thành tạo các kiểu phân đới khoáng vật trong vỏ phong hóa đá bazan Tây Nguyên, của tác giả Mai Trọng Nhuận

- Đặc điểm của dolomit Đăk Uy, tỉnh Kon Tum, của tác giả Đỗ Đình Toát, Phan Viết Nhân, Phạm Ngọc Minh

- Những vấn đề địa chất công trình tập 1

- Báo cáo vỏ phong hóa Nam Việt Nam năm 1981, của tác giả Nguyễn Thành Vạn

- Địa mạo vỏ phong hóa vùng Đạo Nghĩa – Bắc Gia Nghĩa

- Địa chất Đệ Tứ và vỏ phong hóa Việt Nam 1/100 000, của Nguyễn Thành Vạn

- Vỏ phong hóa mỏ Bôxit 1/5

1.6.2 Các kết quả nghiên cứu

Theo các đề tài đã nghiên cứu vỏ phong hóa [2] đã đưa ra được các kết quả sau:

™ Khái quát đặc điểm vỏ phong hóa trên các loại đá ở khu vực Tây Nguyên

Trên đá bazan, vỏ phong hóa phân đới đơn giản và chủ yếu là đới vụn bột đất loại sét với bề dày lớn nhất (5 – 30 m) Cũng có vài nơi gặp bazan hầu như không bị phong hóa xuất lộ ngay trên mặt đất hoặc được phủ bằng vỏ phong hóa chưa hoàn thiện với bề dày không đáng kể

Ngược lại, đá biến chất, đá trầm tích lục nguyên tuy bị phong hóa yếu hơn, chiều sâu vỏ phong hóa nói chung không vượt quá 5 – 10 m nhưng lại có mặt cắt phong hóa nói chung không vượt quá 5 – 10 m, và cấu tạo rất phức tạp

Ơû đây thường gặp vỏ phong hóa có cấu tạo bốn đới (từ dưới đất lên): đới nguyên khối, đới đá tảng, đới dăm vụn và đới vụn bột đất loại sét

Trang 25

™ Tóm tắt được các quá trình hóa học xảy ra trong các đới của vỏ phong hóa trên đá bazan Tây Nguyên

Các quá trình đó được trình bày trong bảng sau:

Bảng 1.1: Các quá trình hóa học xảy ra trong các đới của vỏ phong hóa [2]

Ký hiệu các quá

trình hóa học

Thứ

T

Tích tụ sắt nhôm

Tích tụ nhôm trội (quặng bôxit); pH = 6 – 7

tích tụ tương đối một phần sắt, nhôm; pH = 5 – 6

TO

pH = 6 – 7

Ghi chú: R – rửa trôi

T Fe , T Al – tích tụ sắt, tích tụ nhôm

TO – thủy phân và oxy hóa

™ Đưa ra được mô hình mặt cắt của vỏ phong hóa trên đá bazan

Mô hình mặt cắt đầy đủ, phát triển theo giai đoạn, của vỏ phong hóa trên đá bazan (bazan cổ và bazan trẻ) Tây Nguyên như bảng sau [2]:

Trang 26

Bảng 1.2: Mô hình mặt cắt đầy đủ, phát triển theo giai đoạn của vỏ phong hóa

trên đá bazan cổ [2]

STT Tên đới Chiều dày

(m)

khoáng vật chủ yếu

1 Đất đỏ 0,1 – 3

Sét nâu xám, lẫn màu rễ cây (phần trên), màu nâu gạch, nâu sẫm (phần dưới) (tích tụ tương đối sắt – nhôm)

Kaolinit – gơtit – gipxit, đôi khi lẫn cục nhỏ laterit sắt – nhôm; giàu Al2O3,

– nhôm)

Gơtit – gipxit – kaolinit

Khoáng vật chủ yếu gipxit (60 – 80%); gơtit; hêmatit; ít kaolinit

4

Sét loang lỗ

Kaolinit (haluazit); gơtit; hêmatit; ít gipxit

Trang 27

5

Sét xám

Kaolinit (haluazit); gơtit; idingxit; ít clorit; monmorilonit; khoáng vật tàn dư của đá bazan

6

Đá bazan

tươi

Đá bazan tươi

Bảng 1.3: Mô hình mặt cắt đầy đủ, phát triển theo giai đoạn của vỏ phong hóa

trên đá bazan trẻ [2]

(m)

vật chủ yếu

Sét loang lỗ nâu vàng, nâu đỏ, xám trắng, phía dưới còn giữ được cấu trúc đá gốc

Trang 28

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT - ĐỊA CHẤT THỦY VĂN CỦA KHU VỰC TÂY

NGUYÊN

Trang 29

Trong khu vực nghiên cứu có mặt khá đầy đủ các thành tạo trầm tích, phun trào, xâm nhập, biến chất có tuổi từ Arkei đến Đệ Tứ ( hình 2.1)

2.1 Địa tầng

ARKEI – Phức hệ Kan Năck

Lộ ra chủ yếu dọc sông Ba, một ít gặp ở Kon Tum, gồm 3 hệ tầng:

™ Hệ tầng Kon Cót (AR kc): chủ yếu là plagiogneis hai pyroxen, granulit mafic hai pyroxen xen các lớp mỏng đá phiến kết tinh cùng các thể enđerbit, charnockit có ranh giới không rõ ràng Dày 700 – 1100 m

™ Hệ tầng Xa Lam Cô (AR xlc): gồm đá phiến plagioclas – biotit – hypersthen, đá phiến thạch anh biotit – silimanit – granat – corđierit, gneis biotit Dày 500 – 900 m

™ Hệ tầng Đắk Lô (AR đl): gồm đá phiến thạch anh – biotit – silimanit, quartzit chứa graphit, lớp mỏng đá hoa olivin, calciphyr, gneis biotit Dày

700 m

PALEO-PROTEROZOI – Phức hệ Ngọc Linh

Phức hệ này lộ chủ yếu ở Kon Tum trên diện tích khoảng 1600 – 1700

km2, thuộc phía đông sông Pô Kô, bắc Kon Plong; ở Gia Lai thuộc nam Chư Sê, Ayun Pa, Trạm Cầu Mây; ở Đắk Lắk thuộc đông bắc Ea Sup, M’Đrăk (khoảng

1500 – 1600 km2), được chia ra làm 3 hệ tầng:

™ Hệ tầng Ia Ban (PR1 ib): gồm amphibolit phân lớp dày, chứa thấu kính

gabroamphibolit xen plagiogneis amphibol, gneis biotit, (amphibolit chiếm

60 – 70%) Dày 1200 – 1300 m

™ Hệ tầng Sông Re (PR1 sr): gồm gneis biotit – horblend, plagiogneis biotit

– horblend, amphibolit, đá phiến thạch anh – fenspat – mica – corđierit Dày hơn 2000 m

Trang 30

™ Hệ tầng Tắc Pó (PR1 tp): gồm gneis biotit, đá phiến kết tinh, đá phiến

thạch anh – biotit – silimanit, gneis biotit xen ít amphibolit, quartzit, lớp mỏng đá hoa, đá phiến tremolit Dày 100 – 2500 m

MESO-PROTEROZOI – NEOPROTEROZOI

™ Hệ tầng Khâm Đức (PR 2-3 kđ): phân bố khoảng 750 -850 km2 ở Kon Tum (tây sông Pô Kô), ở Gia Lai (Ia Kren, Ia Le, Chưpah), bao gồm: amphibolit phân dải, xen đá phiến amphibol – plagioclas, plagiogneis amphibol, đá phiến đisthen, chuyển lên plagiogneis hai mica, gneis hai mica – silimanit – granat, đá phiến thạch anh – hai mica – silimanit, đá hoa, calciphyr, quartzit, lớp mỏng amphibolit Dày 2000 – 2900 m

NEO-PROTEROZOI

™ Hệ tầng Chư Sê (PR3 cs): lộ ở Chư Sê gồm đá phiến thạch anh – sericit –

shungit xen quartzit sericit chuyển lên đá hoa đolomit Dày 900 – 1000 m

PALEOZOI

™ Hệ tầng Đắk Ui (€ đu): lộ ở tây sông Pô Kô, gồm đá phiến thạch anh –

sericit, đá phiến thạch anh – fenspat, tập mỏng quartzit sericit chuyển lên đá phiến thạch anh – mica có granat, đá phiến actinolit Dày 300 m

™ Hệ tầng Đắk Long (€ - S đlg): lộ ra ở Đắk Long, tây Ngọc Hồi, Mo Ray,

Chư Nam Bang (Kon Tum) và Đắk Pne (Gia Lai); gồm chủ yếu là quartzit xen đá phiến thạch anh – sericit, đá phiến sét, đá hoa olivin Dày từ 400

m (Gia Lai) đến 1000 m (Kon Tum)

™ Hệ tầng Đắk Lin (C3 – P1 đl): lộ ra ở Đắk Lin (Đắk Lắk), chủ yếu là

anđesitoporphyrit và tuf hạt mịn xen ít đá sét silic, sét bột kết, cát kết, cuội kết, aglomerat, sét vôi: chuyển lên andesitobazan, đacit, ryođacit, đá vôi, sét vôi, ngọc bích đỏ Dày hơn 600 m

Trang 31

PALEOZOI THƯỢNG – MESOZOI HẠ

™ Hệ tầng Chư Prông (P2 – T1 cp): phân bố ở Chư Prông, Ia Kren, Thăng

Đức, Tiều Teo (Gia Lai), một ít ở Sa Thầy (Kon Tum) và đông bắc Ea Súp (Đắk Lắk) gồm chủ yếu là cuội sạn kết tuf, aglomerat, andesit chuyển lên đacit, ryođacit, ryolit, felsit và tuf của chúng Dày 500 – 600m

MESOZOI

™ Hệ tầng Mang Yang (T2 my): lộ ra ở đèo Mang Yang, An Khê, tây Sa

Thầy, đông nam Măng Đen và hai cánh của nếp lồi Đắk Lin Thành phần gồm các sản phẩm núi lửa, chiếm hơn 50%; ở dưới là cuội sạn kết, cát kết

đa khoáng xen kẽ felsit, đacit, ryolit, tuf; ở trên là đá phiến sét, sét vôi, bột kết, albitophyr, porphyrit, cát kết Dày 700 – 800 m

™ Loạt Bản Đôn: phân bố chủ yếu ở phía tây và nam Đắk Lắk, ở phía tây

bắc và đông nam Lâm Đồng, gồm 4 hệ tầng:

- Hệ tầng Đắk Bùng (J1 đb): phân bố quanh nếp lồi Đắk Lin, rìa trũng Ea Sup gồm các trầm tích hạt thô là cuội kết, sạn kết, cát kết Dày 250 – 300 m

- Hệ tầng Đắk Krông (J1 đk): lộ ở Bản Đôn – Ea Sup gồm bột kết vôi, cát kết vôi, sét vôi, bột kết, sét kết Dày 500 – 600 m

- Hệ tầng La Ngà (J2 ln): phân bố ở nam Bản Đôn, hồ Lắk, Krông Pắc kéo xuống Lâm Đồng, gồm cát kết, bột kết, đá phiến sét dạng dải Dày 700 – 800 m

- Hệ tầng Ea Sup (J2 es): gặp ở trũng Ea Sup và vùng Bản Đôn gồm cát kết, bột kết xen sét kết màu nâu đỏ Dày 500 – 1000m

Trang 32

™ Hệ tầng Đèo Bảo Lộc (J 3 đbl): lộ ở đèo Bảo Lộc, Di Linh, Gia Bạc, Tà

Đùng, Krông Nô, gồm chủ yếu là andesit, andesit porphyrit, đacit, ryođacit và tuf của chúng Dày 500 – 600 m

ryođacit, ryolit xen tuf dung nham của chúng Dày 500 – 600 m

Tùng Nghĩa, Lâm Hà), gặp ít ở Kon Tum (Ngọc Pơ Kiêng), gồm cuội kết

cơ sở, cát kết, cát bột kết, bột kết màu đỏ Dày 100 – 200 m

™ Hệ tầng Đơn Dương (K2 đd): phân bố ở Đơn Dương, Đa Nhim, Trà Năng,

núi Tà Đùng, gồm đacit, ryodacit, felcit, anđesit và tuf của chúng, xen ít trầm tích nguồn núi lửa Dày 1200 – 1350 m

KAINOZOI

™ Hệ tầng Sông Ba (N1 3 sb): phân bố ở thung lũng địa hào Sông Ba (Gia

Lai) từ Chư Sê kéo xuống Ayun Pa, Tuy Hòa Thành phần gồm: cuội kết, cát kết, bột kết, sét kết chứa than, than nâu gắn kết yếu Dày 50 – 500 m

™ Hệ tầng Di Linh (N1 3 – N2 1 dl): phân bố ở Lâm Đồng thuộc các bồn Đại

Hào, Di Linh Thành phần gồm cát – cuội – sỏi kết chuyển lên bột kết, sét kết, sét bentonit, xen các lớp than nâu (3 – 4 lớp) và điatomit (4 – 6 lớp), lớp kẹp bazan tholeit với chiều dày 50 – 120 m (2 – 3 lớp) Dày 30 –

200 m

™ Hệ tầng Đại Nga (βN đn): phân bố rộng rãi ở Lâm Đồng (Tân Rai, Di

Linh, Bảo Lộc), Gia Lai (Kon Hà Nừng), Kon Tum (Kon Plong) và rãi rác

ở Đắk Lắk (M’Đrăk, Đắk Nông) Hệ tầng thường được đặc trưng bởi hai kiểu mặt cắt chính: kiểu thứ nhất phân bố rất rộng rãi, thường chỉ gồm các tập bazan dày xen những lớp bazan phong hóa, đánh dấu sự ngừng nghỉ

Trang 33

của các đợt phun; kiểu thứ hai phân bố hẹp gồm các tập bazan xen kẽ với trầm tích đầm hồ mỏng, với cát hạt nhỏ, sét cát, sét bantonit và điatomit Đá phun trào chủ yếu là bazan hai pyroxen, bazan hypersthen, bazan augit – plagioclas, bazan olivin – augit – plagioclas Các đá này thường có dạng vi hạt, hoặc ẩn tinh, có cấu tạo khối đặc sít, đôi khi cấu tạo lỗ hỗng, hoặc hạnh nhân Bề dày của hệ tầng có sự dao động lớn từ 20 – 30 m đến

400 – 500 m

™ Hệ tầng Kon Tum (N2 kt): phân bố ở trũng Kon Tum và trũng Krông Pắc

(Đắk Lắk), gồm cát kết, bột kết, sét kết xen kẹp các tập điatomit gắn kết yếu Ơû trũng Plei Mrông (Gia Lai) trầm tích này còn xen kẹp một đến hai tập bazan tholeit Chiều dày 40 – 200 m

™ Hệ tầng Túc Trưng (βN2 – Q1 tt): tạo thành lớp phủ bazan rộng lớn ở

Pleiku, Đắk Nông, Buôn Ma Thuộc, Tân Rai, Lán Tranh Mặt cắt của hệ tầng này cũng gồm hai kiểu: kiểu thứ nhất gồm các tập bazan dày xen kẽ các lớp bazan phong hóa thành đất đỏ đánh dấu các đợt ngừng nghỉ phun trào, phát triển trên phần lớn diện phân bố của hệ tầng; kiểu thứ hai gồm cát, sét, sét cát, sét bentonit, điatomit xen với cac tập đá bazan, phát triển hạn chế ở một số nơi Đá bazan thuộc loại bazan olivin, bazan olivin – augit – plagioclas, plagiobazan, bazan sáng màu Đá thường có dạng vi hạt hoặc ẩn tinh, cấu tạo khối đặc sít, xen các tập có cấu tạo lỗ hỗng hoặc hạnh nhân Bề dày chung dao động từ 20 – 30 m đến 300 – 400 m

ĐỆ TỨ

™ Trầm tích sông Pleistocen hạ (aQ1): là các thềm bậc IV dạng sót ở thung

lũng Sông Ba (Gia Lai) và Đắk Bla (Kon Tum), gồm cuội, sạn, sỏi thạch anh, ít cuội granitoit, chuyển lên cát bột, dày 2 – 10 m

Trang 34

™ Hệ tầng Xuân Lộc (βQII xl): phân bố ở các định vòm bazan, có nơi còn

bảo tồn khá tốt các cấu trúc miệng núi lửa Thành phần là bazan olivin, bazan bọt, tuf, tro, dăm kết núi lửa Chúng được tạo thành ở Chư H’Đrông (Gia Lai), bắc Buôn Ma Thuộc, Đắk Mil (Đắk Lắk) và Đức Trọng, nam Đơn Dương (Lâm Đồng) Chiều dày 20 – 150 m

™ Trầm tích sông Pleistocen trung – thượng (aQII-III): tạo thành thềm bậc III

của Sông Ba, sông Pô Kô, và Đắk Bla Thành phần gồm: cuội, sỏi lẫn cát bột chuyển lên sạn, cát, sét, bột Dày 2 – 5 m

™ Trầm tích sông Pleistocen thượng (aQ III ): phân bố rộng dưới dạng thềm

bậc II, bậc III của Sông Ba, sông Pô Kô (Gia Lai, Kon Tum) và Trà Năng,

Đa Dâng (Lâm Đồng) Thành phần là cuội, sỏi, sạn, cát chuyển lên cát, bột sét Khu vực Trà Năng và Đa Dâng trầm tích này có chứa vàng sa khoáng Chiều dày 5 – 15 m

™ Trầm tích sông Holocen hạ – trung (aQIV 1-2 ): phân bố hầu hết ở các thung

lũng sông suối, tạo thành thềm bậc I của thung lũng Sông Ba, Đắk Bla, Đắk Krông, Ia Hleo Thành phần: cuội, sỏi, cát đa khoáng, cát sét bột chuyển lên sét bột Chiều dày 6 – 9 m

™ Trầm tích sông – đầm lầy Holocen trung – thượng (abQIV 2-3 ): phát triển ở

Pleiku, Krông Ana, Krông Pắc Thành phần gồm: cát, bột, sét, mùn thực vật, sét than, than bùn Dày 0,5 – 5 m

™ Trầm tích Holocen thượng (aQIV 3 ): tạo thành dải cuội sỏi ven lòng hoặc

dải cát bãi bồi cao Dày 0,5 – 3 m

™ Trầm tích sông – sườn tích Holocen (adQIV): phát triển ở Lâm Đồng gồm

trầm tích suối của thềm bậc I, bãi bồi cao và tướng lòng Thành phần là tảng, cuội, sỏi, cát, sét chứa sa khoáng vàng, thiếc, đá quý Dày 3 – 5 m

Trang 35

™ Trầm tích Đệ Tứ không phân chia (aQ): phát triển ở Đắk Lắk thuộc vùng

hồ Lắk, Krông Pắc, Krông Ana gồm cuội, sạn, cát lẫn ít bột sét Dày 2 –

10 m

2.2 Các thành tạo xâm nhập

™ Phức hệ Kon Kbang (ν AR kb): thành phần: gabro, gabro điabas bị

granulit hóa

™ Phức hệ Sông Ba (γδ AR sb): gồm enđêbit, charnockit ở An Khê

™ Phức hệ Plei Man Ko (γ AR pmk): gặp ở mặt cắt Sông Ba, gồm granit dạng gneis, granit migmatit, pegmatit

™ Phức hệ Cheo Reo (σPR 1 cr): gồm các thể nhỏ horblenđit trong trường

amphibolit của các hệ tầng Ia Ban, Tắc Pó

™ Phức hệ Sa Riêng (ν PR 1 srg): gồm gabro amphibolit phân bố dọc đứt

gãy Ba Tơ – Gia Vực – Kon Tum

™ Phức hệ Nậm Nin (γδ PR 1 nn): lộ ở Bắc Kon Tum, bắc Gia Lai, gồm

plagiogranit, granođiorit dạng gneis

™ Phức hệ Tu Mơ Rông (γmPR 1 tmr): gặp ở bắc Kon Tum, gồm

plagiogranitognies, granit migmatit

™ Phức hệ Tà Vi (ν PR 3 - € 1 tv): ở bắc Kon Tum gồm gabroamphibolit

™ Phức hệ Trà Bồng (γδ PR 3 - € 1 tb): phổ biến ở đông bắc Kon Tum gồm

đioritogneis, granođioritogneis, plagiogranitognies

™ Phức hệ Chu Lai (γmPR 3 - € 1 cl): gồm granitogneis, granit migmatit,

granit hai mica gặp ở Sa Thầy, Ia Le

Trang 36

™ Tổ hợp Ophiolit Plei Weik (Oph PR 3 - € 1 pw): lộ ra ở Plei Weik, gồm đá

phiến actinolit – clorit, amphibolit, đá phiến tremolit, đá phiến tale, đá phiến sét, đá phiến silic

™ Phức hệ Hiệp Đức (δ PR 3 - € 1 hđ): phổ biến dọc đứt gãy Pô Kô, đông

bắc Gia Lai gồm đunit, periđotit, pyroxenit

™ Phức hệ Ngọc Hồi (ν € nh): lộ ra ở Ngọc Hồi gồm gabro, gabropyroxenit,

gabrodiabas

™ Phức hệ Diên Bình (δγ S db): gặp ở bắc Kon Tum gồm điorit, granođiorit,

granitbiotit

™ Phức hệ Bến Giằng – Quế Sơn (δγξ PZ 3 bg-qs): phân bố rộng ở bắc Kon

Tum, Gia Lai, đông bắc Đắk Lắk gồm điorit, granođiorit biotit horblend

™ Phức hệ Vân Canh (γξ T 2 vc): phân bố rất rộng ở Gia Lai, Kon Tum,

Đắk Lắk gồm granomonzonit, monzonit thạch anh, granit biotit, granosyenit

™ Phức hệ Hải Vân (γξ T 2 hv): gặp ở Mang Buk gồm granit biotit, granit

hai mica, granit alaskit

™ Phức hệ Định Quán (δγ J 3 đq): ở đông nam Đắk Lắk và phổ biến ở Lâm

Đồng, gồm điorit horblend, granođiorit horblend biotit, ít granit biotit horblend

™ Phức hệ Đèo Cả (γδξ K đc): phân bố rất hạn chế gồm granođiorit, granit,

granosyenit

™ Phức hệ Bà Nà (γ K 2 bn): gặp ở bắc Kon Tum gồm granit biotit, granit

hai mica

Trang 37

™ Phức hệ Cà Ná (γ K 2 cn): ở hồ lắk, Đà Lạt, bắc đèo Bảo Lộc, gồm granit

biotit hạt vừa đến lớn, granit hạt nhỏ

™ Các thành tạo xâm nhập Kainozoi: gồm phức hệ Măng Xim (γξ P mx)

và các đai mạch thuộc phức hệ Phan Rang (γ ₣ pr), phức hệ Cù Mông π(νπN cm) và Phước Thiện (νμ N pt) chủ yếu là granit, granosyenit

porphyr, syenit và ít gabronorit, gabrodolerit

2.3 Đặc điểm kiến tạo

2.3.1 Vị trí kiến tạo

Khu vực nghiên cứu thuộc 3 đới kiến tạo của miền Nam Việt Nam mà ranh giới là hệ các đứt gãy liền kề nhau gần liên tục nằm trong tỉnh Đắk Lắk

™ Đới Kon Tum: nằm ở phía nam kéo từ M’Đrăk, Ia Hleo vòng lên Ea Sup,

chiếm toàn bộ diện tích tỉnh Gia Lai và Kon Tum; ở phía bắc tiếp xúc với đới Quảng Nam – Đà Nẵng qua đứt gãy sâu Hưng Nhượng – Tà Vi (ngoài diện tích nghiên cứu) Đới này là một khối vỏ lục địa Tiền Cambri, nâng vững bền trong suốt Paleozoi muộn – Mesozoi sớm và Mesozoi muộn – đầu Kainozoi

™ Đới Srêpôk: chiếm diện tích nhỏ ở tây Đắk Lắk, thuộc nếp vòng Đắk Lin

là một khối vỏ lục địa Paleozoi muộn – Mesozoi sớm nằm trong nhánh phía đông của đai Đông Miến Điện – Malaysia

™ Đới Đà Lạt: tiếp xúc với đới Kon Tum ở phía bắc, đới Srêpôk phía tây

bắc, kéo hết phần nam tỉnh Đắk Lắk và toàn bộ diện tích tỉnh Lâm Đồng Đới này là một khối vỏ lục địa Tiền Cambri bị sụt võng trong Jura sớm – giữa và trải qua hoạt hóa mácma kiến tạo mạnh trong Mesozoi muộn – đầu Kainozoi

2.3.2 Các tổ hợp thạch kiến tạo

Trang 38

a Tiền Cambri: gồm thoạt tiên là các đá granulit gneis tuổi Arkei, thành tạo

trong bối cảnh rìa lục địa nguyên thủy, chuyển lên các đá phun trào trung tính bị biến chất sâu đi cùng với granit tuổi Paleo-Proterozoi, các tập hợp xáo trộn vật liệu vỏ đại dương và cung đảo và các vật liệu trầm tích ở bồn nền đi cùng granitogneis, các thể siêu mafic có tuổi Meso-Neo-Proterozoi và cuối cùng là tập hợp các đá lục nguyên – carbonat thành tạo trong điều kiện rìa lục địa thu đông tuổi Neo-Proterozoi

b Paleozoi – Mesozoi hạ: gồm tập hợp các trầm tích vụn cùng phun trào

tương phản đi cùng với xâm nhập gabro có tuổi chung là Cambri – Silur, thành tạo trong bối cảnh mở rift trên vỏ lục địa tiền Cambri Tập hợp trên chuyển lên tập hợp các đá nguồn núi lửa trung tính – felsic tuổi P2 – T1 đi kèm xâm nhập granitoid kiểu I đặc trưng cho bối cảnh rìa lục địa tích cực kiểu Andes; chúng chuyển lên tập hợp các đá lục địa, á lục địa thô tạp và phun trào felsic tuổi Trias giữa đi kèm granit kiểu I và I – S, đặc trưng cho bối cảnh tạo núi sau va chạm

c Mesozoi thượng: gồm các trầm tích lục nguyên Jura hạ – trung, thành tạo

ở ven một bồn vũng vịnh trong bối cảnh rìa lục địa thụ động; chúng bị phủ bởi các thành tạo phun trào vôi – kiềm Jura thượng, đi cùng với xâm nhập granitoid kiểu I, đặc trưng cho bối cảnh một cung macma của rìa lục địa tích cực

d Kainozoi: các trầm tích lục nguyên Neogen được thành tạo trong các bồn

liên quan đến các đứt gãy trượt – bằng; các hệ tầng bazan Pliocen – Pleistocen được thành tạo trong trường căng giãn, làm mỏng vỏ, có liên quan đến sự nóng chảy vỏ dưới Các trầm tích Đệ Tứ ở đồng bằng ven biển đặc trưng cho bối cảnh rìa lục địa thụ động

Trang 39

2.3.3 Các khối địa chất

a Đới Kon Tum: gồm các khối: Ngọc Linh, Đắk Lây – Sa Thầy, Ngọc

Tuôm, kon Tum, Đắk Đơ Rây, Kon Hà Nừng – Kim Sơn, Đắk Bla, An Khê, Cheo Reo, Chư Sê, Pleiku, Ea Sup, Ma Đ’rắk – Sơn Hòa

b Đới Srêpôk: có mặt khối Đắk Lin – Cơ Mơ Rông

c Đới Đà Lạt: gồm các khối: Bản Đôn, Buôn Ma Thuộc – Krông Ana, Bù Prang, Blao, Cát Tiên, Krông Pha – Trà Năng, Đơn Dương và Ankroet –

Di Linh

2.3.4 Hệ thống đứt gãy

Tập trung thành 3 nhóm chính: kinh tuyến, tây bắc – đông nam vào đông bắc – tây nam

a Nhóm đứt gãy theo phương kinh tuyến gồm các đứt gãy lớn: Pô Kô, Ia

Mơ, Đắkse Lô – Mang Yang, M’Đrắk – An Khê, Bản Đôn – Giốc Giao –

Nơ Dơ Rông, Liên Đầm – Phú Sơn, Bình Châu – Đắk Mơri Các đứt gãy này đều có mặt trượt thẳng đứng với sự dịch ngang phải

b Nhóm đứt gãy theo phương tây bắc – đông nam: lớn nhất là đứt gãy trượt

bằng Pô Kô – Sông Ba, ngoài ra có các đứt gãy Đắk Long, Đắk Nông – Đắk Mil, Di Linh – Phan Rí, Liên Khương – Tuy Phong Dứt gãy Pô Kô – Sông Ba là đứt gãy thuận, tạo nên địa hào hẹp, được lắp đầy bởi trầm tích Neogen

c Nhóm đứt gãy theo phương đông bắc – tây nam: gồm các đứt gãy lớn

Rạch Giá – Buôn Ma Thuộc, Vĩnh Long – Tuy Hòa và một số đứt gãy khác quy mô từ trung bình đến nhỏ Chúnng đều có mặt trượt hầu như thẳng đứng với sự dịch chuyển bằng trái

Trang 40

PHƯỚC LONG

ĐỒNG PHÚ

VĨNH AN

ĐỨC PHONG CÁT TIÊN

TÂN PHÚ ĐỨC LINH

XUYÊN MỘC XUÂN LỘC

TUY PHONG

DAK GLEN

PHƯỚC SƠN GIẰNG

HIÊN

QUẾ SƠN HIỆP ĐỨC ĐẠI LỘC

TRA MY THIÊN PHƯỚC

ĐỨC XUYÊN

BUÔN MA THUỘT ĐỨC LẬP

CAM RANH

NINH SƠN

DIÊN KHÁNH KHÁNH VINH

ĐỒNG XUÂN SÔNG CẦU

TUY PHƯỚC VÂN CANH

PHÙ MỸ

PHÙ CÁT

VẠN NINH TUY AN

NINH HOA

TUY HÒA SƠN HÒA

BÌNH PHƯỚC

ĐĂK NÔNG

KHÁNH HÒA ĐĂK LĂK

BÌNH THUẬN

NINH THUẬN

PHÚ YÊN GIA LAI

Κ ⎯

Κ ⎯ ϑ∞−Κ≤ ∅

Κ ⎯ ϑ∞−Κ≤ ∅

Κ ⎯ ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ …

Κ ⎯αμ ΘαπδΘ ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ …

Κ ⎯

ϑ∞−Κ≤ ∅ αΘ

⇔ƒ∠⏐

√Ν⁄ −Θ≤

⇔ƒ∠⏐

Τ⁄ ∩ℑ Τ⁄ ∩ℑ

αΘ ←

ϖμ Θ ↑

⇔♣ ⏐ αΘ

¬ ƒ−⇔ƒ…⊄ϒ −Ο≤≈∠®〈Τ⁄ ∩ℑ

ϖμ Θ ↑ Τ⁄ ∩ℑ

⇔ ⁄ ⏐…

Τ⁄ ∩ℑ ⇔⁄ ⏐…

Τ⁄ ∩ℑ Τ⁄ ∩ℑ αΘ ΠΡ⁄ −ϒ≤⊇⊕

√Ν⁄ −Θ≤

√Ν⁄ −Θ≤

√Ν⁄ −Θ≤

Τ⁄ ∩ℑ απδΘ

√Θ ←

μ Θ ↑ ϒ−Ο≤≈∠

αΝ⁄ −Θ≤

ϒ −Ο≤≈∠

ϒ −Ο≤≈∠

απδΘ αΘ ΠΡ⁄ ⊕ απδΘ

αΘ ← α(μ ?)Θ ←

ϖμ Θ ↑

⇔♣ ⏐ ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ … ϑ≤←⁄ …

¬ ƒ−⇔ƒ…⊄

αμ Θ αΘ

μ Θ Ν⎯∅

Χ∞−Π≤ ∅

ϖμ Θ ↑ απδΘ

αμ Θ Χ∞−Π≤ ∅

⇔♣⏐

ϑ≤← ⁄ …

√Θ ← ΠΡ⁄ −ϒ≤⊇⊕

ϑ≤←⁄…

μ ?Θ

⇔♣⏐

μ ?Θ αμ Θ αΘ

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈

⇔ ⎝

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈

ϑ≤←⁄ … Τ⁄ ∩ℑ ϑ≤← ⁄ …ϑ≤←⁄ … ϑ≤← ⁄ … ϑ≤←⁄ …

αΘ Τ⁄ ∩ℑ

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈ ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ …

ΠΡ≤ ∩

¬ ƒ−⇔ƒ…⊄

ΠΡ≤ ∩ ϑ≤←⁄ … ϑ≤←⁄…

√Ν⁄ −Θ≤

ϑ≤← ⁄ …

⇔♣ ⏐

√Θ ← ΠΡ≤ ∩ Χ∞−Π≤ ∅

√Ν⁄ −Θ Τ⁄ ∩ℑ Τ⁄ ∩ℑ Χ∞−Π≤ ∅

ϑ≤←⁄ … ϑ≤ ⁄ … ϑ≤←⁄ …ϑ≤← ⁄ …ϑ≤←⁄…

√Θ ← ϑ≤ ⁄ …⎯

⇔♣ ⏐ ϑ≤ ⁄ …⎯

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈

ϑ≤←⁄ … απδΘ

⇔♣⏐

⇔ ¬ ♣−⇔♣

⇔ ¬ ♣−⇔♣

ϑ≤ ⁄ … Κ

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈

⇔♣ ⏐ ϑ≤←⁄ … ϑ≤ ⁄ …⎯

ϑ≤←⁄ … ϑ≤←⁄ …

Κ ⎯ ϑ∞−Κ≤ ∅

Κ ⎯

Κ ⎯ ϑ≤←⁄ … ϑ≤←ϑ≤←⁄ …⁄ …

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈

ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ … ϑ≤←⁄ … αΘ

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈ ⇔ ¬ ♣−⇔♣≈

αΘ ϑ≤←⁄ …

⇔¬ ♣−⇔♣≈

αΘ ϑ≤←⁄ …

ϑ≤← ⁄ … ϑ∞−Κ≤ ∅

√Ν⁄ −Θ≤

ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ … ϑ≤ ⁄ …

√Θ

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈

ϑ≤ ⁄ … ϑ≤ ⁄ … ϑ≤ ⁄ … ϑ≤← ⁄ …

√Ν⁄ −Θ≤

√Θ ← ϑ≤← ⁄ … ϑ≤←⁄ …αΘ

ϑ≤ ⁄ … αΘ

αμ Θ ϑ∞−Κ≤ ∅ Κ

μ (δ?)Θ →

⇔♣⎯⏐

απδΘ αΘ Κ

αΘ →

μ Θ

⇔♣ ⏐

ϖμ Θ ↑ αΘ Κ

⇔♣ ⏐ ϑ≤ ⁄ … απδΘ αΘ

⇔♣⏐

√Θ ϑ∞−Κ≤ ∅ Κ ϑ∞−Κ≤ ∅

ϖμ Θ ↑

μ Θ ϑ≤← ⁄ … Κ

ϑ∞−Κ≤ ∅

αΘ αΘ

αμ Θ ϑ≤← ⁄ … απδΘαπδΘ αΘ αΘ

⇔♣ ⏐ αΘ ← ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ …

⇔ ¬ ♣−⇔♣

ϑ∞−Κ≤ ∅ ϑ∞−Κ≤ ∅

⇔ ¬ ♣−⇔♣

απδΘ Κ ϑ≤← ⁄ …

Κ ⎯ ϑ≤ ⁄ …⎯

⇔ƒ∠⏐

Τ⁄ ∩ℑ Χ∞−Π≤ ∅ Τ⁄ ∩ℑ

Ν⊆…

ϑ≤← ⁄ …

⇔ƒ∠⏐

⇔♣ ⏐ Τ⁄ ∩ℑ Χ∞−Π≤ ∅

Τ⁄ ∩ℑ Τ⁄ ∩ℑ Χ∞−Π≤ ∅ ϑ≤ ⁄ …

¬ ƒ−⇔ƒ…⊄

Τ⁄ ∩ℑ ϑ≤ ⁄ …

⇔♣ ⏐ απδΘ

αμ Θ αΘ απδΘ απδΘ

ϑ≤ ⁄ … ϑ∞−Κ≤ ∅

αμ Θ ϑ≤ ⁄ …⎯

⇔ ¬ ♣−⇔♣ ϑ≤ ⁄ …Κ ϑ≤ ⁄ … ϑ≤← ⁄ …

⇔ ¬ ♣−⇔♣ ϑ∞−Κ≤ ∅ ϑ≤ ⁄ … ϑ∞−Κ≤ ∅

√Θ αΘΚ

Κ Κϑ∞−Κ≤ ∅

⇔ ¬ ♣−⇔♣

√Θ ϑ≤ ⁄ …αΘ ϑ≤ ⁄ …

√Θ αΘ

√Θ

⇔♣ ⏐ Κ

√Ν⁄ −Θ

Κ

√Θ ϑ≤ ⁄ …⎯

ϑ≤ ⁄ …⎯

√Ν⁄ −Θ √Ν⁄ −Θ αΘ

ϑ∞−Κ≤ ∅

√Ν⁄ −Θ≤

√Ν⁄ −Θ≤ ϑ≤← ⁄ …

√Ν⁄ −Θ ϑ≤ ⁄ …

ΠΡ≤ ∩ ΠΡ⁄ −ϒ≤⊇⊕ ϑ≤←

αΘ

√Ν⁄ −Θ αΘ αΘ ΠΡ⁄ −ϒ ≤⊇⊕

αΘ

¬ ΠΡ≤ ∩ΠΡ≤ ∩ Τ⁄ ∩ℑ αΘ

¬ ƒ−⇔ƒ…⊄

αΘ αΝ⁄ −Θ≤

απδΘ απδΘ αΘ Τ∞∪⊆ αΘ ← ϑ≤←⁄∈∅

Ν⎯∅ ϑ≤ ⁄ …⎯

Κ Κ

αΘ ϑ∞−Κ≤ ∅

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈

Ν⎯∅

ϑ∞−Κ≤ ∅ ϑ≤← ⁄ …

Ν⎯∅ √Ν⁄ −Θ≤

ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ …

√Θ ←

ϑ≤← ⁄ … ϑ≤←⁄…

√Ν⁄ −Θ≤

ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ …

ϑ≤← ⁄ … απδΘ ϑ≤← ⁄ …

αΝ⁄ −Θ≤

√Ν⁄ −Θ απδΘ

√Ν⁄ −Θ≤ ϑ≤←⁄ … ϑ≤←⁄ …

√Ν⁄ −Θ≤

αΘ

Τ≤⊆ℑ

Τ≤⊆ℑ αδΘ √Θ ←

⇔♣ ⏐

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈

απδΘ

ϑ≤←⁄ … ϑ≤← ⁄ … ϑ≤←⁄ …

√Θ ← ϑ≤←⁄ … ϑ≤← ⁄ … ϑ≤← ⁄ …

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈

⇔♣ ⏐ ϑ≤← ⁄ …

√Θ ←

Κ ⎯ ϑ≤←⁄ … ϑ≤←⁄…

√Θ ←

√Θ ←

αΘ√Ν⁄ −Θ≤

Κ ⎯ αΘ

⇔ ¬ ♣−⇔♣≈

απδΘ ϑ≤←⁄ … ϑ≤←⁄ …

⇔♣ ⏐ αΘ

ϑ∞−Κ≤ ∅

μ Θ ↑ αΝ⁄ −Θ≤ αΝ⁄ −Θ≤

αΘ ←

Τ⁄ ∩ℑ απδΘ ϑ≤←⁄…

ϑ≤← ⁄ …

√Θ ← Τ⁄ ∩ℑ ϑ∞−Κ≤ ∅

: Phức hệ Hải Vân: granit-biotit, granit 2 mica, granit-alaskit : Phức hệ Vân Canh: granomonzonit, granit-biotit, granosyenit : Phức hệ Bến Giằng-Quế Sơn: diorit, granodiorit : Phức hệ Hiệp Đức: dunit, peridotit, pyroxenit

: Phức hệ Plei Man Ko: granit dạng gneis, granit-migmatit, pegmatit : Phức hệ Sông Ba: enderbit, charnokit

: Phức hệ Cà Ná: granit biotit, granit hạt nhỏ : Phức hệ Phước Thiện: gabronorit, gabrodolerit

II Các thành tạo xâm nhập

: Hệ tầng Khâm Đức: đá phiến mica, phiến amphibolit,

: Phức hệ Ngọc Linh: gneis, amphibolit, phiến thạch anh-mica : Hệ tầng Po Ko: phiến thạch anh-sericit, thạch anh felspat

: Phức hệ Chu Lai-Ba Tơ: granitogneis, granit-migmatit, granit 2 mica

: Phức hệ Định Quán: diorit-horblend, granodiorit-horblend : Phức hệ Đèo Cả: granodiorit, granit, granosyenit

: Hệ tầng Đèo Bảo Lộc: andersit,andersic porphyrit, dacit, ryodacit và túp

: Phức hệ Ka nắck: plagiogneis-pyroxen, phiến thạch anh,

15 30'o

o

14 00'

Ngày đăng: 03/04/2021, 23:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đào Đình Bắc, Địa mạo đại cương, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa mạo đại cương
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
[3]. PTS. Đỗ Minh Toàn, Bài giảng Sự hình thành đặc tính địa chất công trình của đất, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Sự hình thành đặc tính địa chất công trình của đất
[4]. TS. Huỳnh Thị Minh Hằng, Địa Chất Cơ Sở, trường Đại Học Kỹ Thuật TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa Chất Cơ Sở
[5]. TS. Phan Thị San Hà, Bài giảng Địa Kỹ Thuật 1, trường Đại Học Kỹ Thuật TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Địa Kỹ Thuật 1
[6]. V.Đ. Lômtađze, Địa chất động lực công trình, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất động lực công trình
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội
[7]. V.Đ. Lômtađze, Thạch luận công trình, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch luận công trình
Nhà XB: NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội
[8]. Nguyễn Hữu Sơn, Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học
[9]. Vũ Nhật Tiến, Luận Văn Tốt Nghiệp Thạc Sĩ , 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận Văn Tốt Nghiệp Thạc Sĩ
[11]. Công ty tư vấn xây dựng Điện 2, Báo Cáo thiết kế chi tiết công trình thủy điện Đại Ninh, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Cáo thiết kế chi tiết công trình thủy điện Đại Ninh
[12]. Công ty tư vấn xây dựng Điện 2, Báo Cáo thiết kế kỹ thuật công trình thủy ủieọn Buoõnkuoõp tổnh ẹaộc Laộc, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo Cáo thiết kế kỹ thuật công trình thủy ủieọn Buoõnkuoõp tổnh ẹaộc Laộc
[14]. Liên đoàn Địa chất thủy văn – Địa chất công trình Miền Trung, Báo cáo ẹieàu tra Tai Bieỏn ẹũa Chaỏt vuứng Taõy Nguyeõn, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo ẹieàu tra Tai Bieỏn ẹũa Chaỏt vuứng Taõy Nguyeõn
[16]. Liên đoàn ĐCTV Miền Nam, Báo cáo Lập bản đồ ĐCTV – ĐCCT tỷ lệ 1:200.000 khu vực Pleiku – Buôn Mê Thuộc, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Lập bản đồ ĐCTV – ĐCCT tỷ lệ 1:200.000 khu vực Pleiku – Buôn Mê Thuộc
[10]. Các tài liệu về quá trình phong hóa trên mạng Internet. Tài Liệu các công trình Khác
[13]. Công ty tư vấn xây dựng Điện 3, Báo Cáo nghiên cứu tiền khả thi công trình thủy điện Đamri tỉnh Lâm Đồng Khác
[15]. Liên đoàn ĐCTV Miền Nam, Báo cáo Lập bản đồ ĐCTV – ĐCCT tỷ lệ 1:200.000 vuứng Gia Nghúa – Di Linh Khác
[17]. Tạ Văn Tụy, Báo cáo kết quả khảo sát địa chất công trình vùng khu qui hoạch vị trí đất co quan hành chính Thị xã Gia Nghĩa, Trung tâm khảo sát thiết kế xây dựng Tây Nguyên, 2004 Khác
[18]. Thủy điện Eawy tỉnh Đắc Lắc, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, 2004 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w