1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nguyên nhân lãng phí vật tư xây dựng tại hiện trường và kiến nghị thiết lập một hệ thống quản lý vật tư trong quá trình thi công xây lắp

182 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 4,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đại Học Quốc Gia Tp.Hồ Chí Minh TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA --- TRƯƠNG LÊ MINH NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN LÃNG PHÍ VẬT TƯ XÂY DỰNG TẠI HIỆN TRƯỜNG và KIẾN NGHỊ THIẾT LẬP MỘT HỆ THỐNG QUẢN LÝ V

Trang 1

Đại Học Quốc Gia Tp.Hồ Chí Minh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

-

TRƯƠNG LÊ MINH

NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN LÃNG PHÍ VẬT TƯ XÂY DỰNG TẠI HIỆN TRƯỜNG và KIẾN NGHỊ THIẾT LẬP MỘT HỆ THỐNG QUẢN LÝ VẬT TƯ TRONG QUÁ TRÌNH THI CÔNG XÂY LẮP

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG Mã số ngành: 60.58.90

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP.HỒ CHÍ MINH, tháng 12 năm 2007

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học: Th.s Đỗ Thị Xuân Lan

Cán bộ nhận xét 1: Cán bộ nhận xét 2:

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại

HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày ……… tháng……… Năm 2008

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

- -o0o -

Tp HCM, ngày ……… tháng ……… năm 2007 NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ Họ và tên học viên: TRƯƠNG LÊ MINH Giới tính: Nam Ngày, tháng, năm sinh: 15/ 12/ 1979 Nơi sinh: Huế Chuyên ngành: Công nghệ và Quản Lý Xây Dựng Khóa (Năm trúng tuyển): K15/ 2004 1 TÊN ĐỀ TÀI: Nguyên Nhân Lãng Phí Vật Tư Xây Dựng Tại Hiện Trường và Kiến Nghị Thiết Lập Một Hệ Thống Quản Lý Vật Tư Trong Quá Trình Thi Công Xây Lắp 2 NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:

3 NGÀY GIAO NHIỆM VỤ:

4 NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ:

5 HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: Th.s ĐỖ THỊ XUÂN LAN

Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua

QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô của ngành Công nghệ và Quản Lý Xây Dựng thuộc khoa Kỹ Thuật Xây Dựng của trường đại học Bách Khóa Tp Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo, hỗ trỡ và giúp đỡ em trong suốt khóa học cũng như trong quá trình thực hiện luận văn cao học này

Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.s Đỗ Thị Xuân Lan đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn này

Xin chân thành cám ơn ông Lê Viết Hưng, anh Nguyễn Vũ Minh Nhựt, anh Phạm Đức Khỏan của công ty xây dựng Hòa Bình, anh Trương Nhựt Minh, Nguyễn Đang Cao Đại đã hỗ trợ và giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu tại hiện trường, và có những góp ý quý báo trong quá trình thực hiện luận văn Xin chân thành cảm ơn gia đình, bàn bẹ đã ủng hộ, động viện trong quá trình thực hiện luận văn cao học này

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài nghiên cứu Nguyên nhân lãng phí vật tư xây dựng tại hiện trường và Kiến nghị thiết lập một hệ thống quản lý vật tư trong quá trình thi công xây lắp, được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế Đất nước đang phát triển, giá cả vật tư tăng vọt Việc cạnh tranh trong ngành xây ngày càng trở nên gây gắt Nghiên cứu này xem như một việc đóng góp nhỏ vào việc xác định được các nguyên nhân gây lãng phí, phần trăm lãng phí vật tư chính, và từ đó có thể thiết lập một hệ thống quản lý vật tư hiệu quả nhất nhằm hạn chế lãng phí tối thiểu

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là sự quan sát, đo lường và thu thập số liệu tại hiện trường, nhằm để xác định phần trăm lãng phí vật tư chính, kết hợp với việc khảo sát bằng bảng câu hỏi nhằm xác định các nguyên nhân gây ảnh hưởng đến lãng phí vật tư Đồng thời so sánh sự nhận thức của các cấp quản lý về vấn đề lãng phí vật tư

Trong giới hạn về nguồn lực nghiên cứu đã tập trung làm sáng tỏ các mục đã đề ra Nghiên cứu này giúp cho nhà quản lý sẽ nhìn nhận vấn đề lãng lý vật

tư một cách nghiêm túc trong bối cảnh giá vật tư xây dựng ngày càng tăng vọt, và từ đó sẽ giúp xây dựng cho mình một hệ thống quản lý vật tư một cách hiệu quả nhất nhằm đạt lợi nhuận trong các công trình xây dựng

Trang 6

ASTRACT

It is researched Factors wasting construction materials and suggesting to set up material administrative system in the executing process projects organised in context that our economy has achieved many great developments, material price go up Construction field is more and more developing ,which leads the harsh competition This study is considered as a small contribution with a view to identify waste causes, main construction material waste percentage and then establish material admistrative system in order to reduce minimum waste

The method study of this research is the observation and measurement collected datas at the construction sites to identify the percentage of main material waste combined with the survey of questionnaire in order to clarify factors causing material waste After that ,in comparison with the realisation

of admistrative departments about material waste problems

With material resources and time limitation,the study is concentrating on clearing targets suggested.This research helps administrators to have a general view toward material waste problem so that they can map out more suitable management ways in order to get high profits in construction sites

Trang 7

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÔNGCỤ NGHIÊN CỨU 2

1 Phương pháp nghiên cứu 2

2 Công cụ nghiên cứu 4

3 Mô hình nghiên cứu 5

IV GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5

V NỘI DUNG ĐỀ CƯƠNG 6

VI NHỮNG LỢI ÍCH MONG MUỐN 7

VII THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 7

CHƯƠNG II: LƯỢC KHẢO CÁC VẤN ĐỀ ĐÃ NGHIÊN CỨU 8

I ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHÀNH XÂY DỰNG 8

II QUẢN LÝ VẬT TƯ XÂY DỰNG 10

1 Xác định kế họach dự án và phát triển các giai đoạn 11

2 Kếâ họach yêu cầu vật tư 12

3 Kế họach mua bán 13

4 Kế họach cung ứng 13

5 Kế họach chất lượng 14

6 Kế họach vận chuyển 17

7 Kế họach quản lý vật tư công trường 18

III NGUYÊN NHÂN LÃNG PHÍ VẬT TƯ XÂY DỰNG TẠI HIỆN TRƯỜNG 18

1 Định nghĩa lãng phí vật tư 18

Trang 8

2 Giai đọan thiết kế là nguyên nhân gây ra lãng phí vật tư 23

3 Giai đọan cung ứng vật tư 23

4 Giai đọan kiểm sóat vật tư 23

5 Giai đọan thi công 25

6 Mẩu thừa 25

7 Những lãng phí do những nguyên nhân khác 26

CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH MỨC ĐỘ LÃNG PHÍ VẬT TƯ XÂY DỰNG 29

I GIỚI THIỆU 29

II ĐO LƯỜNG VÀ THU THẬP SỐ LIỆU 29

III THU THẬP VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 31

Sơ đồ nghiên cứu 31

Kết quả nghiên cứu 31

Nhận về mức độ lãng phí vật tư tại mỗi công trường 32

Phân tích những nguyên nhân gây lãng phí vật tư 37

CHƯƠNG IV: PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY LÃNG PHÍ VẬT TƯ XÂY DỰNG 42

I GIỚI THIỆU 42

II THU THẬP DỮ LIỆU 42

1 Khảo sát bằng bảng câu hỏi 42

2 Kích thước mẩu 42

3 Thiết kế bản câu hỏi 43

4 Phương pháp phân tích thống kê 44

5 Xử lý những dữ liệu that lạc ( missing) 44

III KẾT QUẢ ĐO LƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT KHẮC PHỤC NGUYÊN NHÂN 45

1 Tổng quát về kết quả dữ liệu thu thập được 45

Trang 9

2 Độ tin cậy của bản câu hỏi 46

3 Mức độ lãng phí của vật tư xây dựng chính 47

4 Xác định những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến lãng phí vật tư 47

5 Phân tích các nguyên nhân gây lãng phí vật tư 52

6 Đề xuất khắc phục các nguyên nhân 60

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

I KẾT LUẬN 64

II KIẾN NGHỊ CHO NHỮNG NGHIÊN CỨU SÂU HƠN 66

III KIẾN NGHỊ THIẾT LẬP MỘT HỆ THỐNG QUẢN LÝ VẬT TƯ TRONG QUÁ TRÌNH THI CÔNG 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC SỐ 1 – BẢNG ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ LÃNG PHÍ VẬT TƯ 74

PHỤ LỤC SỐ 2 – BẢNG CÂU HỎI 103

PHỤ LỤC SỐ 3 – MỘT SỐ BIỂU MẨU DÙNG TRONG TRONG QUẢN LÝ VẬT TƯ 124

LÝ LỊCH TRÍCH NGANG 135

Trang 10

DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu luận lăn

Hình 2.1: Qui trình chất lượng Juran, 1989 (trích Stukhart, 1995)

Hình 2.2: Hệ thống quản lý vật tư

Hình 3.1: Sơ đồ thu thập số liệu tại hiện trường

Hình 3.2: Biểu đồ phần trăm lãng phí vật tư tại công trường A

Hình 3.3: Biểu đồ phần trăm lãng phí vật tư tại công trường B

Hình 3.4: Biểu đồ phần trăm lãng phí vật tư tại công trường C

Hình 3.5: Biểu đồ phần trăm lãng phí vật tư tại công trường D

Hình 3.6: Biểu đồ phần trăm lãng phí vật tư tại công trường E

Hình 3.7: Biểu đồ phần trăm lãng phí vật tư tại công trường F

Hình 3.8: Biểu đồ phần trăm lãng phí Gạch xây tại các công trường

Hình 3.9: Biểu đồ phần trăm lãng phí Xi măng tại các công trường

Hình 3.10: Biểu đồ phần trăm lãng phí Cát tại các công trường

Hình 3.11: Biểu đồ phần trăm lãng phí Gạch ốp lát tại các công trường

Hình 3.12: Biểu đồ phần trăm lãng phí Bêtông tại các công trường

Hình 3.13: Biểu đồ phần trăm lãng phí Thép tại các công trường

Hình 4.1: Tỷ lệ phần trăm đối tượng phản hồi được phân theo cấp quản lý Hình 4.2: Tỷ lệ phần trăm tham gia trả lời theo kinh nghiệm

Hình 5.1: Biểu đồ phần trăm lãng phí các lọai vật tư tại các công trường Hình 5.2: Qui trình quản lý vật tư tại công trường

Trang 11

DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Bảng mô tả đặc điểm của các công trường đang khảo sát

Bảng 3.2: Bảng phần trăm lãng phí vật tư tại các công trường

Bảng 4.1: Phần trăm lãng phí trung bình của các lọai vật tư

Bảng 4.2: Mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân gây lãng phí

Bảng 4.3: Xếp hạng các nguyên nhân gây lãng phí vật tư

Bảng 4.4: Mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân chính đến việc lãng phí

vật tư Bảng 4.5: So sánh nhận thức mức độ ảnh hưởng của các cấp quản lý về

nguyên nhân thay đổi thiết kế

Bảng 4.6: So sánh nhận thức mức độ ảnh hưởng của các cấp quản lý về

nguyên nhân trình độ, năng lực của thủ kho còn hạn chế

Bảng 4.7: So sánh nhận thức mức độ ảnh hưởng của các cấp quản lý về

nguyên nhân năng lực giám sát, tay nghề thợ kém

Bảng 4.8: So sánh nhận thức mức độ ảnh hưởng của các cấp quản lý về

nguyên nhân những thông tin thay đổi được thông báo trễ cho nhà thầu phụ

Bảng 4.9: So sánh nhận thức mức độ ảnh hưởng của các cấp quản lý về

nguyên nhân sử dụng máy móc sai chức năng

Bảng 4.10: So sánh nhận thức mức độ ảnh hưởng của các cấp quản lý về

nguyên nhân khối lượng vật tư yêu cầu không chính xác

Bảng 4.11: So sánh nhận thức mức độ ảnh hưởng của các cấp quản lý về

nguyên nhân lãng phí từ quá trình thi công

Bảng 4.12: So sánh nhận thức mức độ ảnh hưởng của các cấp quản lý về

nguyên nhân không tính tóan tối ưu, không kế họach pha cắt sắt Bảng 4.13: So sánh nhận thức mức độ ảnh hưởng của các cấp quản lý về

nguyên nhân thiếu khoa học trong việc lập kế họach và quản lý

Trang 12

Bảng 5.1: Mức độ của các nguyên gây ra lãng phí vật tư

Trang 13

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG

I ĐẶT VẤN ĐỀ :

Cùng với sự ổn định về chính trị, nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, mức độ tăng trưởng ngày càng cao Ngành xây dựng đã đóng góp một phần đáng kể và có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, tình trạng đầu tư dàn trải, hiệu quả đầu tư thấp, thất thoát vốn, công trình xây dựng kém chất lượng, thời gian thi công kéo dài so với tiến độ đã định còn xảy ra nhiều, gây thiệt hại kinh tế cho các bên Vì mỗi năm, tổng đầu tư toàn xã hội cho ngành xây dựng chiếm 30%GDP

Để khẳng định và thực hiện mục tiêu quan trọng trong nền kinh tế thì đòi hỏi các đơn vị tham gia vào quá trình họat động xây dựng phải thiết lập cho mình một quy trình quản lý sao cho đạt được hiệu quả cao, tiết kiệm nhất Ngoài ra, hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp xây dựng thường được đo bằng chỉ tiêu lợi nhuận Xây dựng công trình phải đảm bảo nhanh, rẻ, tiện nghi khi sử dụng và có chất lượng tốt là một mặt của hiệu quả kinh tế dưới góc độ lợi ích chung xã hội Đối với doanh nghiệp xây dựng thì tiết kiệm là nhân tố sống còn, vì chỉ có tiết kiệm mới có thể đảm bảo thu lợi nhuận và tăng khả năng cạnh tranh Vì thị trường xây dựng ngày càng trở nên gay gắt, nên việc đạt lợi nhuận chỉ còn cách phải xây dựng cho mình một hệ thống quản lý theo một quy trình hợp lý và chặt chẽ, nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong quá trình triển khai dự án

Trước tình hình đó, việc lãng phí vật tư sẽ gây ảnh hưởng đáng kể đến việc tăng chi phí đầu tư công trình xây dựng thông qua những con số thống kê

sau: Năm 2002 thanh tra nhà nước tiến hành thanh tra 17 dự án lớn tổng giá trị được thanh tra kiểm tra là 6.406 tỷ 834 triệu đồng đã phát hiện sai 870 tỷ 720 triệu đồng, chiếm 13,59% so với giá trị kiểm tra Theo số liệu của kiểm toán nhà

Trang 14

nước trong các năm 2002, 2003 và 6 tháng đầu năm 2004 , trong số 648 dự án được kiểm toán , với giá trị khoảng 6000 tỷ đồng , phát hiện sai phạm lọai khỏi quyết toán 159 tỷ đồng chiếm 2,6% (Lê Văn Ba, 2005)

Trong chức năng quản lý thi công xây dựng thì quản lý vật tư có vai trò rất quan trọng bởi vì vật tư là thành phần chi phí chính của bất kỳ một dự án nào Nó

chiếm từ 50% - 60% tổng chi phí dự án (Stukhart,1995) Từ kết quả nghiên cứu

(Mansfield và các tác giả khác, 1994) trong các nước đang phát triển như Nigeria đã cho thấy vấn đề vật liệu xây dựng ảnh hưởng đến sự chậm trễ và vượt chi phí trong những dự án xây dựng một cách đáng kể, như theo kết quả khảo sát đối các nhà thầu xây dựng cho thấy chỉ số ảnh hưởng nghiêm trọng của nhân tố thiếu hụt vật tư đối với dự án là 74%; kết quả đối với tư vấn là 76%; còn đối với khách hàng là 77% Vì vậy mà nếu quản lý vật tư có hiệu quả và tiết kiệm thì sẽ mang lợi nhuận không nhỏ cho doanh nghiệp về mặt hiệu quả chi phí

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU :

- Với đề tài này , mục tiêu nghiên cứu là :

- Đo lường mức độ lãng phí của một số loại vật tư chính

- Tìm ra và phân tích các nguyên nhân gây ra lãng phí vật tư công trình

- Phân tích các chức năng quản lý vật xây dựng trên thực tế

- Đề xuất, xây dựng qui trình quản lý vật tư tại công trường nhằm hạn chế lãng phí tối thiểu

III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU :

1 Phương pháp nghiên cứu :

a.Về dữ liệu : Tiến hành thu thập các số liệu để phục vụ cho việc phân tích dự án :

Trang 15

- Thu thập, đo lường các số liệu vật tư chính (thép, bê tông tươi, cát gạch xây, xi măng, gạch lát) tại các công trường thực tế Cantavil, Sân bay Tân Sơn Nhất, Sao Mai, S18 – PMH, Trường Anh ngữ Quốc Tế

- Thu thập các số liệu thống kê của vật tư chính : thép, bê tông tươi, cát

gạch xây, xi măng, gạch lát (nhập, xuất, tồn, khối lượng thầu phụ thực hiện ) của

công trình từ phòng vật tư công ty Hoà Bình

- Định mức xây dưng do Bộ xây dựng phát hành, những nghị định , quyết định từ chính phủ ,… về quản lý chất lượng công trình

- Thu thập dữ liệu từ bản câu hỏi được phát từ các công trường

b Về phương pháp :

- Luận văn sẽ áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách khai thác các dữ liệu thống kê từ công ty, và các dữ liệu thực tế tại hiện trường theo một qui trình sau :

1 Mô tả chung về công trường: bao gồm tên của công ty, tòan bộ diện tích xây dựng, tiến độ thi công

2 Đo lường những công việc đã hoàn thành : tổng khối lượng công việc đã được xác định tại cả hai thời điểm A và B Trong đó A : là thời điểm bắt đầu thực hiện nghiên cứu; B: là thời điểm kết thúc nghiên cứu

3 Kiểm soát vật tư phân phối tới và lấy đi trước thời điểm A : bao gồm những thông số kỹ thuật, và khối lượng vật tư dựa trên tài liệu được cung cấp bởi công ty

4 Kiểm tra khối lượng tồn kho: xác định khối lượng vật tư tồn kho tại cả hai thời điểm A và B

5 Kiểm soát vật tư đưa tới và lấy đi giữa hai thời điểm A và B: bao gồm thời gian, yêu cầu chất lượng, khối lượng thực tế của vật tư đưa tới và lấy đi

6 Quan sát việc bốc dỡ vật tư, vận chuyển, điều kiện kho bãi

Trang 16

7 Quan sát qui trình kho: bao gồm việc chuẩn bị và sử dụng vật

tư, những nguyên nhân của việc loại bỏ vật tư, và cách sắp xếp lãng phí

8 Xác định mức độ lãng phí vật tư trong các hạng mục công việc

- Theo công thức thực tế (T Formoso và các tác giả khác,

2002) :

Waste(%) = [(Mpurchase – Inv) – M designed ]/ M designed

Mpurchase : Khối lượng vật tư thực tế nhập vào công trường mà công ty phải trả

Inv : Khối lượng vật tư thực tế còn tồn kho

Mdesigned : Khối lượng vật tư thực tế mà thầu phụ thực hiện

9 Khảo sát định lượng bằng bảng câu hỏi để tìm ra những nguyên nhân từ các công trường của các công ty khác

10 Xây dựng một hệ thống tự động hóa quản lý vật tư tại công trường nhằm kiểm soát các vấn đề sau:

- Việc vật tư đến công trình sai thời gian, hay sai khối lượng

- Thông số chất lượng vật tư không đúng với yêu cầu đặt hàng

- Việc quên đặt vật tư

- Thiếu sự hoàn thành và cập nhật thông tin có liên quan đến vật tư phân phối đến công trường, hay liên quan đến kho công trường

- Sự dư thừa, mất mát vật tư

- Lãng phí nhân công trong tìm vật tư, truy tìm chúng

2 Công cụ nghiên cứu :

- Sử dụng phương phương pháp khảo sát định lượng bằng bản câu hỏi

- Áp dụng lý thuyết xác suất thống kê và phần mềm SPSS để xử lý số liệu thu thập được từ bản câu hỏi

- Sử dụng sách định mức vật tư trong xây dựng để phân tích vật liệu xây dựng

Trang 17

- Sử dụng phầm mềm Visual basic, Microsoft Access nhằm xây dựng hệ

thống tự động hoá quản lý vật tư tại công trường

3 Mô hình nghiên cứu :

Thu thập dữ liệu tại

công trường thống kê tại công ty Thu thập dữ liệu

Xác suất thống kê ứng dụng (Phầm mềm SPSS)

Thu thập dữ liệu về nguyên nhân lãng phí

Waste(%) = [(M purchase – Inv) – M designed ]/ M esigned

nhân

Kết Luận

Đề xuất biện pháp khắc phục

Xây dưng Hệ Thống Quản lý

Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu của luận văn

IV GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU :

Để có một cái nhìn tương đối chính xác về mức độ lãng phí vật tư ở các

công trường xây dựng tại Việt Nam, đồng thời thuận tiện cho việc quan sát đo

lường và dễ dàng so sánh sự lãng phí vật tư xây dựng tại hiện trường nên luận

văn này chỉ áp dụng trong phạm vi nghiên cứu như sau:

Các công trình xây dựng dân dụng tại thành phố Hồ Chí Minh, một

số vùng lân cận như nhà cao tầng, nhà công nghiệp, nhà dân dụng cụ thể là công trình Cantavil, S18 – PMH, Sân bay Tân Sơn Nhất,

Trang 18

Sao Mai, Trường anh ngữ Quốc Tế, Trường đại học Rimit, nhà máy Huhtamaki

Vật tư xây dựng chủ yếu đo lường và quan sát trong nghiên cứu này là các vật tư chính như thép, bê tông tươi, cát, gạch xây, gạch lát, xi măng.Vì theo bài viết của Hội KHKT Xây Dựng (2006) đã cho thấy : xi măng – đá – cát vàng… không thể thiếu trong ngành xây dựng Ngoài ra, nhu cầu về cát vàng khoảng 60 triệu m3/năm và còn tiếp tục tăng nhanh trong các năm sắp đến Giá cát vàng ngày càng tăng cao (120.000 – 180.000đ/m3) Thêm vào đó, ta cũng thấy được mức độ ảnh hưởng của các vật liệu chính đến giá trị công trình từ kết luận bài luận văn thạc sỹ của (Lương Thanh Dũng, 2005): Trong tổng giá trị xây dựng thì nhóm thép chiếm tỉ trọng giá trị xây dựng cao nhất( 17,95% ), ximăng( 9,57% ), tiếp theo là gỗ thông coppha ( 3,88% ), gạch xây ( 2,98% ), đá 1x2 (1,8%), cát xây dựng ( 1,48% )

V NỘI DUNG ĐỀ CƯƠNG

Dự kiến bố cục đề cương như sau :

Chướng 1 : Giới thiệu chung

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.3 Phương pháp nghiên cứu

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Chương 2 : Lược khảo các vấn đề đã nghiên cứu

Chương 3 : Phân tích mức độ lãng phí vật tư xây dựng

3.1 Thu thập và phân tích các dữ liệu từ các công trường

3.2 Thu thập và phân tích dữ liệu thống kê tại công ty

Chương 4 : Phân tích những nguyên nhân gây lãng phí vật tư

4.1 Thu thập và phân tích dữ liệu từ bản câu hỏi

Trang 19

4.2 Đo lường và đề xuất khắc phục các nguyên nhân

Chương 5 : Kết Luận và Kiến Nghị

5.1 Kết luận

5.2 Kiến nghị cho những nghiên cứu sâu hơn

5.3 Kiến nghị về hệ thống quản lý vật tư tại công trường

VI NHỮNG LỢI ÍCH MONG MUỐN :

- Giúp cho các công ty, đơn vị thi công đánh giá, nhận thấy mức độ lãng phí vật tư , và từ đó xác lập định mức trong giai đoạn lập dự toán công trình

- Ngoài ra, còn giúp cho đơn vị thi công có các biện pháp, qui trình trong quản lý vật tư xây dựng nhằm giảm được sự lãng phí mà đạt được lợi nhuận và chất lượng, tiến độ công trình

VII THỜI GIAN NGHIÊN CỨU :

- Do thời gian nghiên cứu có hạn chế nên thời gian dự kiến cho trình tự nghiên cứu :

1/9 – 29/12/2006 : Xây dựng nội dung đề cường

1/1 – 29/2/2007 : Thu thập số liệu thứ cấp và đo lường thực tế về mức độ lãng phí

1/3 – 1/4/ 2007 : Thiết kế bản câu hỏi và thu thập số liệu từ bản câu hõi để tìm ra nguyên nhân lãng phí

1/4 – 1/5/2007 : Phân tích, chỉnh sữa, đề xuất các biện pháp qui trình quản lý vật tư

1/5 – 1/6/2007 : Hoàn chỉnh Luận văn tốt nghiệp

Trang 20

CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO CÁC VẤN ĐỀ ĐÃ NGHIÊN CỨU

Chương này lược khảo những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu để giúp cho việc khảo sát nghiên cứu vào thảo luận trong các chương sau Các vấn đề được xem xét trình bày gồm có các tính chất của ngành công nghiệp xây dựng, tầm quan trọng của việc quản lý vật tư xây dựng

I ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP XÂY DỰNG

Có những khác biệt nổi bật giữa ngành xây dựng và các ngành công nghiệp khác như Oglesby et al.(1989); Palaneeswaran and Kumaraswamy (2000) (trích N.D Long, 2003) đã cho thấy xây dựng là một ngành có đặc điểm phức tạp, để thay đổi và chống lại sự đổi mới Những sự khác biệt này nên được xem xét trước khi thực hiện nghiên cứu về sự lãng phí vật tư trong ngành xây dựng Những khác biệt bao gồm:

Ngành xây dựng hoạt động một cách khác biệt so với những ngành công nghiệp khác Hầu hết các dự án xây dựng là độc nhất, thay đổi nhanh, mặt bằng bố trí xây dựng chỉ mang tính chất tạm thời nên việc quản lý bảo quản vật tư rất khó(từ nghiên cứu Oglesby et al.(1989), trích N.D Long, 2003) Do đạc thù của mỗi công trường nên các công việc triển khai ở mỗi công trường khác nhau dẫn tới các công việc thường bị sai phải làm lại, nên khối lượng vật tư tăng lên

Hầu hết các công việc của ngành xây dựng đều thực hiện ngoài trời từ nghiên cứu Borcherding (1978) (trích Viloth, 2006), vì thế việc vận chuyển và bảo quản vật tư gặp nhiều khó khăn

Theo Cnudde (1991) đã cho thấy sự khác biệt của ngành xây dựng đối với các ngành công nghiệp khác như :

Các công việc thực hiện không giống nhau hay việc lặp đi lặp lại rất ít

Trang 21

Một số ngãnh có dính dáng đến ngành xây dựng

Có rất nhiều các bên tham gia

Theo Borcherding (1978) ( trích Viloth, 2006) đã cho thấy cơ cấu tổ chức ở công trình xây dựng thường xuyên thay đổi, các tổ chức lao động liên tục hình thành và giải tán nên việc quản lý sự thất thoát vật tư cho các đội thi công là rất khó

Từ nghiên cứu của Đỗ Thị Xuân Lan (2003) đã cho thấy đặc điểm của ngành xâu dựng Việt Nam là thường xuyên thay đổi chổ, không cố định nên việc bố trí kho bãi rất khó phải tuỳ thuộc hoàn cảnh và mặt bằng công trường

Oglesby et al.(1989) (trích N.D Long, 2003) cũng cho thấy điều kiện hợp đồng hiếm khi dẫn tới sự đồng ý giữa các bên tham gia với nhau

Quan điểm thường thấy của người xây dựng là đạt được công việc (Oglesby et al.,1989) (trích N.D Long, 2003), sẽ quên đi việc quản lý vật tư dư thừa

Ngoài ra, ngành xây dựng ở một số nước đang có một đặc điểm chung trong việc sử dụng nguồn lao động do nhu cầu phát triển của ngành, cụ thể ở ngành xây dựng Indonesia sử dụng chủ yếu nguồn lao động là những người nông dân, không chuyên nghiệp (trích Arditi và Mochtar, 1995) Thêm vào đó, Hinze (1978) có nhận xét ngành công nghiệp xây dựng là thường xuyên ở trạng thái thay đổi, không dự án nào mà công nhân được chuyển đến toàn bộ mà phải tuyển mới, nên công việc sẽ bị làm đi làm lại kéo theo khối lượng vật tư dự trù sẽ bị tăng cao Rosenfeld và Warszawski, 1993 (trích Jayawardane và GunaWardena, 1998) cho thấy ngành công nghiệp xây dựng ở hầu hết các nước trên thế giới có được những đặc điểm bởi mức độ không ổn định của các công việc, nên việc tổ chức quản lý vật tư xây dựng rất khó thực hiện một cách tuyện đối và hoàn hảo

Trang 22

Thêm vào đó, Lưu Trường Văn và Đỗ Thị Xuân Lan (2003) đã cho thấy đặc điểm của ngành công nghiệp xây dựng ở Việt Nam chủ yếu tiến hành ngoài trời, phụ thuộc thời tiết , quá trình thi công phức tạp nên việc bảo quản và sắp xếp vật

tư rất khó, do đó việc hư hại vật tư là điều hiển nhiên mà không thể tránh khỏi

II QUẢN LÝ VẬT TƯ XÂY DỰNG

Stukhart (1995) đã cho thấy những điểm nổi bật trong quản lý vật tư là: quản lý chất lượng, cung ứng kịp thời (just – in – time)ø, kế hoạch yêu cầu cung ứng vật

tư, công việc làm lại, trao đổi dữ liệu điện tử, mã vạch, mã hàng hoá, Ngoài ra, Ibn-Homaid, 2002) ( trích H Caldas và các tác giả khác, 2006) đã cho thấy quản lý vật tư trong bộ phận sản xuất đã được nghiên cứu và ứng dụng một cách rộng rãi trong thập niên qua Quản lý tồn kho, kế hoạch yêu cầu cung ứng vật tư, và cung ứng kịp thời (just – in – time) là những kỹ thuật chuẩn được sử dụng cho những nhu cầu ở nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, cần có một sự quan tâm đúng mức đối với ngành xây dựng, vì đặc tính ngành công nghiệp xây dựng là duy nhất nên việc quản lý vật tư phải mang những nét đặc thù riêng để đương đầu với các yêu cầu và sự cải tiến

Ngòai ra, Stukhart (1995) đã cho thấy vật tư có ảnh hưởng quan trọng đến các chi phí gián tiếp, những kế họach và những họat động của một dự án, và là một nhân tố quan trọng liên quan đến sự thành công của một dự án Quản lý vật tư trở thành qui trình quyết định sự thành công dự án trong xây dựng như cải thiện năng suất lao động; giảm lượng vật tư dư thừa, cải thiện quan hệ với nhà cung cấp trong việc cung ứng kịp thời, chất lượng, tiết kiệm chi phí; giảm tồn kho, tiết kiệm không gian kho, hạn chế rủi ro hư hại, và lỗi thời; cải thiện khả năng đáp ứng tiến độ dự án; cải thiện được dòng ngân lưu dự án ( Stukhart, 1995) Vì thế, để cho việc quản lý vật tư đạt được hiệu quả và quyết định cho sự thành công của dự án nên Texas A & Mniversity (1987) đã đưa ra một qui trình kiểm soát vật tư như sau:

Trang 23

1 Xác định kế họach dự án và phát triển các giai đoạn

Kế hoạch vật tư phải phù hợp với khối lượng công việc theo kế hoạch chung của dự án và có kể xét đến các hạn chế, những ràng buộc, và những chiến lược chung của dự án Những thông số và những đặc điểm chung của dự án như là loại dự án, kích thước, và địa điểm dự án sẽ xác định được kế hoạch chung của dự án

1.1 Xác định mặt bằng công trình

Mặt bằng công trường đưa ra những yêu cầu những cơ bản cho kế hoạch

ra vào công trường, được thảo luận chi tiết trong kế hoạch quản lý vật tư tại công trường Mặt bằng công trường sẽ ảnh hưởng đến phương thức vận chuyển, và mặt bằng giao thông tổng thể Mặt bằng công trường cũng có tác động vào cách cất chứa và loại bỏ vật tư ( Texas A & M University, 1987) Từ đó, có thể đề ra kế hoạch quản lý vật tư cho phù hợp vị trí xây dựng Như Jang và các tác giả khác (2005) đã cho thấy kết quả việc thiếu kế hoạch quản lý vật tư liên quan đến mặt bằng công trường: “ Những vật tư được đưa đến công trường, mà không được xác định vị trí cụ thể trên mặt bằng tổng thể công trường Do đó, vật tư được đặt xung quanh công trường sẽ ảnh đến việc bảo quản, chất lượng vật tư tại các công trường

1.2 Xác định các loại vật tư sử dụng trong dự án

Nổ lực chính của kế hoạch vật tư dự án là xác định cụ thể các loại vật tư sử dụng trên công trường Chủ đầu tư xác định cụ thể các lọai vật tư trong giai đoạn đầu của kế họach liên quan với đặc điểm dự án, mục tiêu, điều kiện hợp đồng (Texas A & M University, 1987) Vai trò của chủ đầu tư trong việc quết định các lọai vật tư liên quan và xác định rõ trong hợp đồng thi công Nhằn để giảm đi sự tranh cãi và các yêu sách, và cải thiện thông tin dự án, và để giảm thấp chi phí cho chủ đầu tư

Trang 24

Nhà thầu có thể xem xét khả năng tài chính mà quyết định đơn giá đạt hàng và phân phối vật tư Chi phí và tiến độ cũng được quan tâm trong việc quản lý vật tư, nó cũng làm ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của dự án

2 Kế hoạch yêu cầu vật tư

Kế hoạch yêu cầu vật tư trong dự án bao gồm việc liên kết giữa việc xác định chủng lọai và khối lượng vật tư cho dự án Công việc này liên quan với các bên là chủ đầu tư, đơn vị thiết kế và nhà thầu Qui trình bao gồm việc xác định và lựa chọn vật tư dựa trên tính khả thi và lợi ích kinh tế Kế họach yêu cầu vật tư bao gồm việc kiểm soát và việc quản lý để hạn chế tối đa lượng vật tư dư thừa theo yêu cầu về tiến độ dự án (Texas A & M University, 1987)

Ngoài ra, Stukhart (1995) phân lọai các lọai vật tư chủ yếu của ngành xây dựng :

a) Vật tư kỹ thuật: bao gồm những lọai vật tư, thiết bị quan trọng và thứ yếu, mà hầu hết là hữu hình, đắt tiền, phức tạp và có yêu cầu về chất lượng Những vật tư kỹ thuật chính là những qui trình chế tạo chuyên dụng được chỉ định bởi nhân viên kỹ thuật của chủ đầu tư, và là duy nhất được xác định trên bản vẽ và được thực hiện trong suốt quá trình thực hiện dự án Chúng sẽ thường xuyên điều khiển tiến độ dự án, và sử dụng lọai vật tư này sẽ ảnh hưởng toàn bộ tiến độ

b) Lượng vật tư được chế tạo theo tiêu chuẩn của ngành công nghiệp và được mua theo khối lượng Thiết lập kế họach sử dụng lọai vật tư này là khó khăn vì nó được sử dụng với khối lượng lớn và chưa biết được chính xác khối lượng sử dụng cho tới khi sử dụng vượt quá định mức Chúng bao gồm như ống, dây và cáp Sự thay đổi thiết kế là nguyên nhân tác động đến việc cập nhật khối lượng yêu cầu

Trang 25

c) Lọai vật tư quan trọng thứ ba là vật tư gia công, được chế tạo theo công nghệ của xưởng gia công Nó được thiết kế một cách cụ thể theo dự án, và đơn vị thi công xác định trên bản vẽ phải được xét duyệt và phê duyệt

3 Kế hoạch mua bán

Giai đoạn đầu tiên của việc chuẩn bị cho việc mua và cung ứng vật tư là xác định xem văn phòng hay công trường chịu trách nhiệm đặt hàng Quyết định khối lượng đơn hàng vật tư và sự thực hiện mua vật tư là trách nhiệm bởi nhà thầu thi công Ngoài ra, phải duy trình dòng thông tin liên tục giữa văn phòng công ty và bộ phận kế toán công trường để đảm bảo việc thực hiện dự án ổn định (Texas A & M University, 1987) Việc kiểm soát quá trình vật tư mua bán phải theo các bước sau nhầm tránh sai sót trong việc đặt hàng:

• Phải chuẩn bị bản yêu cầu khối lượng vật tư

• Những biểu mẩu yêu cầu khối lượng vật tư được phê duyệt

• Xác định và thông tin khối lượng vật tư yêu cầu cho nhà cung cấp

• Xác định các cấp phê duyệt

• Chuẩn bị và trình duyệt mua những vật tư yêu cầu

• Tiến hành đặt hàng

4 Kế hoạch cung ứng

Kết quả cơ bản nhất của việc cung ứng trong dự án là đảm bảo vật tư được phân phối tới công trường xây dựng khi cần Tiến độ xây dựng và nhu cầu vật tư phải được xem xét một cách thấu đáo để đánh giá nhu cầu cần thật sự của dự án để xúc tiến thực hiện việc cung ứng Mức độ giải quyết dựa trên điều kiện của thị trường và năng lực của xưởng sản xuất Sử dụng những điều khoản loại bỏ những vật tư hư hỏng trong đơn đặt hàng có ảnh hưởng tích cực hầu hết đến các nhà cung cấp (Texas A & M University, 1987)

Trang 26

Như Olomolaiye và các tác giả khác (1987) cho thấy “Vấn đề cơ bản của việc cung cấp vật tư không đều đặn và kế hoạch cung ứng không phù hợp là do việc không thanh tóan đủ cho vật tư đã cung cấp Để đảm bảo liên tục việc cung cấp vật tư thì nhà thầu cần phải có đủ khả năng tài chính để đảm bảo việc chi trả liên tục”

5 Kế hoạch chất lượng

Chất lượng (Quality) là một khái niệm được biết từ thời xa xưa, và là một chủ đề đầy ý nghĩa Cho đến ngày nay, khách hàng có những yêu cầu ngày càng nhiều cho việc đảm bảo về chất lượng, Cnudde (1991) trình bày khái niệm và sự quan trọng của chất lượng ( Quality) như :

• Trong EOQ84 – AFCIQ pháp có thể hiện rất rõ về chất lượng sản phẩm, chất lượng phục vụ, chất lượng môi trường, và chất lượng cuộc sống, …

• Theo tiêu chuẩn Iso 8402 cũng định nghĩa về chất lượng như sau: “ tòan bộ những đặc trưng “ của ngành xây dựng liên quan đến khả năng của ngành là sự thỏa mãn hay những nhu cầu cần thiết của khách hàng

• Theo giáo sư tiến sỹ Juran đã định nghĩa chất lượng là sự phù hợp trong việc thực hiên các công việc (Quality = Fitness for Use)

Cnudde (1991) cũng đã nhận định rằng ngành công nghiệp xây dựng là ngành ít áp dụng những khái niệm về chất lượng so với các ngàng khác Do đó, theo nghiên cứu của viện nghiên cứu xây dựng Bỉ cho thấy 80% của các nguyên nhân của việc thiếu chất lượng có thể được quy cho quản lý, cụ thể là thực hiện công việc một cách cẩu thả, thiếu sự chuẩn bị của các công việc, và sự sử dụng vật tư không phù hợp

Chất lượng xây dựng phản ánh những qui định chính xác, rõ ràng trong những yêu cầu kiểm soát chất lượng, theo những tiêu chuẩn kỹ thuật và kế hoạch chất lượng dự án Đây là điều cơ bản cho kế hoạch kiểm soát của nhà thầu và nhà

Trang 27

cung cấp (Texas A & M University, 1987) Stukhart (1995) cho thấy kiểm soát quản lý chất lượng là những phương pháp thực tế như kiểm tra, đo lường, nghiệm thu, là điều cần thiết để kiểm tra việc thực hiện có đúng theo yêu cầu mà đã qui định Quản lý chất lượng sẽ làm ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của dự án

Ngòai ra, Cnudde (1991) cũng nhận thấy khách hàng đóng một vai trò quyết định trong qui trình quản lý chất lượng và kinh tế trong ngành xây dựng Chủ đầu tư có thể làm cho qui trình chất lượng hiệu quả và thống nhất nếu:

• Chủ đầu tư xác định rõ ràng mục tiêu cuối cùng của công việc xây dựng

• Chủ đầu tư phải chọn lựa các bên phù hợp

• Chủ đầu tư phải định ra một hệ thống tổ chức thích hợp nhất

• Chủ đầu tư phải đảm bảo được năng lực và khả năng quản lý của tất cả các bên tham gia

Cnuddle (1991) đã trình bày mối quan hệ của chất lượng đối với nhà thầu xây dựng từ kết quả nghiên cứu của viện nghiên cứu xây dựng Bỉ cho thấy 22% các trừờng hợp thiếu quản lý chất lượng là do quá trình thi công, và dẫn đến dẫn đến các nguyên nhân của sự hư hại

Cnuddle (1991) cũng đã nhận định tòan bộ việc quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management) chưa được ứng dụng vào thực tế trong phần xây dựng, mặt dù có sự phát triển đáng kể trong những năm gần đây Do nhà thầu có khuynh hướng chờ chủ đầu tư phàn nàn về những khiếm khuyết còn tồn đọng, mà sau này phải được sửa chữa trong giai đọan bảo hành công trình Do đó, chi phí của việc thiếu chất lượng vào khỏang 10% đến 15% của tổng vốn đầu tư (từ kết quả của hội nghị Châu Aâu về quản lý chất lượng trong xây dựng ( 9/1985)) Cũng như hội nghị CIB (1989) ở Paris, hội nghị EQQ (10/1987) ở London, ở

Trang 28

Copenhagen (9/1989), và ở Dublin (1990) cũng xác định vào khỏang tỷ lệ 15 – 20%

Từ nghiên cứu của các tổ chức The Business Roundable, 1982 ( trích từ

H Caldas, 2006) đưa ra “Quản lý vật tư là một qui trình của việc lên kế hoạch và kiểm soát mọi thứ cần thiết, để đảm bảo đúng chất lượng và khối lượng của vật tư đã được xác định , đảm bảo chi phí hợp lý, khả thi khi cần

Ngoài ra, quản lý chất lượng vật tư cũng được các cấp xây dựng quan tâm và nhìn nhận như là một chìa khoá thành công của dự án ( H Caldas, 2006)

Một số điểm triển vọng trong tương lai mà quản lý chất lượng trong xây dựng mang lại do Cnuddle (1991) đã chỉ ra như:

• Đối với các công ty xây dựng, đó là làm tăng năng suất và lợi nhuận, và phát triển được thương hiệu của họ

• Aûnh hưởng của việc quản lý chất lượng có thể làm thay đổi nhận thức của con người Và sau này tạo nên cơ sở đưa ra một qui trình chất lượng mới trong quản lý có thể cải tiến chất lượng

• Dẫn tới một kết quả tối ưu, không những chỉ giới hạn đối với công

ty mà còn mở rộng đối với tất cả các bên tham gia trong họat động xây dựng như chủ đầu tư, nhà thầu, nhà tư vấn,……

• Hơn nữa, các qui định của chất lượng phải được tuân thủ một cách nghiêm túc đối với các bên Tuy nhiên, hầu hết các vấn đề chất lượng có thể được giải quyết dựa trên các phương pháp thực tế

Trang 29

Hình 2.1 : Qui trình chất lượng (Juran, 1989 (trích Stukhart, 1995))

6 Kế hoạch vận chuyển

Mục tiêu chính của kế họach vận chuyển là để vận chuyển vật tư đến công trường kịp lúc, mà việc này ảnh hưởng đáng kể đến chi phí Do đó, tiến độ thi công và những yêu cầu vật tư phải được xem xét một cách thấu đáo để đánh giá những yêu cầu vận chuyển của dự án (Texas A & M University, 1987)

Vấn đề vận chuyển đóng gói là một trong những nguyên nhân gây thiếu hụt và lãng phí vật tư, như Olomolaiye và các tác giả khác (1987) cho thấy “ nguyên nhân chính của việc thiếu hụt vật tư đã được xác định là sự vận chuyển trên công trường rất khó khăn.” Thêm vào đó, Bossink và tác giả khác, 1994 cho thấy “ Nhà cung cấp có lẽ đóng vai trò trong việc lãng phí vật tư xây dựng như vận chuyển không đóng gói, thời gian vận chuyển dài”

Trang 30

7 Kế hoạch quản lý vật tư công trường

Mục tiêu của quản lý vật tư công trường là để đảm bảo vật tư sử dụng được, khi được yêu cầu, để phù hợp với tiến độ xây dựng Điều này liên quan đến việc trao đổi thông tin và sự điều phối với chủ đầu tư, với nhân viên quản lý dự án bao gồm: việc nhận hàng, kho, kiểm soát tồn kho, việc phân phát vật tư, loại bỏ vật tư dư thừa, và việc cung cấp thủ tục mua bán và giải quyết cho đáp ứng nhu cầu vật tư và thiết bị cần sự hoàn thành dự án (Texas A & M University, 1987) Một hệ thống quản lý vật tư được M.Barriga và các tác giả khác (2005) thể hiện

Hệ Thống luân chuyển vật tư

Hệ Thống kiểm soát tồn kho

Nghiệm thu vật tư Kho chứa vật tư Báo cáo tồn kho

Ước tính vật tư yêu

cầu

Hệ Thống

quản lý vật tư

Hình 2.2: Hệ thống quản lý vật tư

III NGUYÊN NHÂN GÂY LÃNG PHÍ VẬT TƯ XÂY DỰNG TẠI HIỆN TRƯỜNG

1 Định nghĩa lãng phí vật tư

Lãng phí trong ngành công nghiệp xây dựng được quan niệm là những mảnh vỡ phải lọai bỏ tại công trường hay những vật tư rơi vãi Tuy nhiên, quan trọng của việc nhận thấy lãng phí vật tư dựa thực tế, vì nó rất dễ nhận thấy và đo lường ( T.Formoso, 2002)

Trang 31

Skoyles (1976) đã phân biệt lãng phí xây dựng bao gồm hai lọai lãng phí cơ bản: lãng phí trực tiếp, lãng phí gián tiếp Lãng phí trực tiếp đã được Skoyles định nghĩa như là sự thất thóat những vật tư xây dựng mà nó bị hư hỏng và không thể sửa chữa lại được và sau đó không được sử dụng, hay bị thất thóat trong suốt thời gian thi công công trình Lãng phí gián tiếp được phân biệt với lãng phí trực tiếp bởi vì nó thường chỉ thể hiện bằng sự tổn thất tiền bạc Ví dụ, như trường hợp lãng phí vật tư vì chiều dày sàn bêtông dày hơn chiều dày thiết kế ( trích T.Formoso,2002) Lãng phí gián tiếp được Skoyle phân ra thành ba lọai sau:

• Lãng phí do thay thế do vật tư sử dụng theo nhiều cách mà làm tổn thất so với giá trị ban đầu, do nhà thầu hay chủ đầu tư chỉ định Ví dụ như trường hợp sử dụng bêtông tươi cường độ cao thay thế cho bêtông cường độ thấp

• Lãng phí do sản xuất được định nghĩa một số khác biệt giữa khối lượng được cung cấp và khối lượng tính tóan là do khối lượng dư để áp ứng những sai xót trong quá trình thi công Ví dụ, khối lượng bêtông dư được yêu cầu trong thi công hố móng là do bề rộng thiết kế không phù hợp với kích thước bồn chứa sẵn có do nhà máy sản xuất

• Lãng phí do lơ đễnh, cẩu thả là do những sai phạm tại công trường Ví dụ, những công việc kém chất lượng được lọai bỏ hay vật tư được sử dụng không hợp lý trong quá trình thi công móng

Soilbelman và các tác giả khác (1994) cũng định nghĩa lãng phí vật tư xây dựng bao gồm lãng phí trực tiếp và lãng phí gián tiếp Lãng phí trực tiếp xảy ra khi vật tư bị hư hỏng và không thể phục hồi và không sử dụng được hay trở thành rác trong quá trình thi công Lãng phí trực tiếp có thể là kết quả của sư trộm cấp, hay những vấn đề quản lý trong vận chuyển , bốc dỡ, lưu trữ vật tư ở công trường, hay trong sản xuất Lãng phí gián tiếp bao gồm trong lãng phí về kinh tế nguyên

Trang 32

nhân là do sử dụng vật tư dư thừa hay sử dụng khác biệt so với kế họach đã định

ra Trong trường hợp này, lãng phí vật tư không thể nhìn thấy được, với lãng phí này cần phải phân biệt giữa chi phí vật tư được dự trù sử dụng và chi phí thực tế Lãng phí gián tiếp được phân thành ba lọai lãng phí như sau:

• Lãng phí bởi sự thay thế : đó là lãng phí do sử dụng vật tư giá đắt hơn vật tư đã được chỉ định Một ví dụ cho trường hợp này là sử dụng gạch chịu lực trong kết cấu tường không chịu lực

• Lãng phí do lơ đễnh: đó là lãng phí do việc sử dụng vật tư một cách

dư thừa mà không kể đến chi phí nhân công và tăng chi phí

• và làm tăng chi phí Ví dụ, tô hồ dày hơn so với thiết kế đưa ra

• Lãng phí do sản xuất đó là lãng phí do những tình huống xây ra mà không tiên đóan được và do vậy không có ngân sách dự trù cho lãng phí Ví dụ, phải sử dụng thêm bêtông trong móng vì không xét đến tính chất lớp đất ở dưới móng

Ngoài ra, Ohno (1988) ( trích T.Formoso, 2002) đã chia hoạt động của người công nhân ra hai nhóm công việc lãng phí và công việc có ý nghĩa Lãng phí là sự hoạt động tạo ra những giá trị vô ích và không cần thiết Nó thường được gọi là thời gian không hiệu quả Công việc có ý nghĩa bao gồm công việc hiệu quả và công việc phụ trợ Công việc phụ trợ cần thiết trong hệ thống sản xuất, do điều kiện công việc xảy ra, ví dụ: đi tới một vị trí khác để lấy những bộ phận, bốc dỡ, đóng gói vật tư và vân vân Womack và Jones (1996) ( trích T.Formoso, 2002) đã mô tả lãng phí là hoạt động con người có hấp thụ những nguồn tài nguyên nhưng không sản sinh những giá trị hữu ích, như là những phần việc được yêu cầu sửa chữa, việc thực hiện các bước trong bước qui trình mà không cần thiết, những hoạt động không cần thiết của người lao động, và việc mọi người đứng chờ kết quả của các họat động

Trang 33

Alarcón (1994) đã định nghĩa về lãng phí vật tư được chia thành hai phần là

những họat động hiệu quả và không hiệu quả Các họat động hiệu quả đó là họat

động có thể biến đổi các vật liệu và/hay các thông tin dữ liệu trong quá trình thực

hiện để đáp ứng yêu cầu của khách hàng Những họat không có hiệu quả( lãng

phí) đó là sự hao tốn về thời gian, nguồn tài nguyên, hay không gian nhưng không

mang hiệu quả cho sản phẩm

Qui trình A

Hình 2.3: Một qui trình sản phẩm:Một minh họa đơn giản Những họat động

được tô đậm thể hiện những họat động không hiệu quả, trái ngược lại là những

họat động hiệu quả (Koskela 1992)

Thêm vào đó, một số kiểu lãng phí khác cũng được quan tâm như tai nạn,

làm việc trong điều kiện căng thẳng (Koskela, 2000) (trích T.Formoso, 2002),

trộm cắp và phá hoại (Bossink và Brouwers, 1998) (trích T.Formoso, 2002) Vấn

đề định nghĩa và phân loại các lãng phí là việc đáng quan tâm của mọi người về

những vấn đề trên, bởi vì lãng phí thường không thể dễ dàng nhận thấy mà nó xuất hiện dưới vỏ bọc của những công việc

Vấn đề lãng phí vật tư trong ngành công nghiệp xây dựng được quan tâm rất

nhiều vì tính chất đặc thù riêng của ngành T.Formoso (2002) định nghĩa lãng phí

vật tư là sự mất mát nguồn tài nguyên như vật tư, thời gian, vốn đầu tư được tạo

ra bởi hoạt động mà phát sinh ra các chí phí trực tiếp và gián tiếp nhưng không

tạo ra giá trị hiệu quả cho sản phẩm cuối cùng từ cái nhìn của chủ đầu tư

Trang 34

Tchobanoglous et al (1977) (trích M Gavillan, 1995) đã cung cấp một trong những định nghĩa tổng quát của lãng phí xây dựng và lãng phí phá hủy: “ Lãng phí từ sự đập phá công trường và những kết cấu khác được gọi là lãng phí phá huỷ Lãng phí từ ngành xây dựng, việc sửa chữa những nhà ở, văn phòng thương mại, những kết cấu khác được gọi những lãng phí xây dựng Những lãng phí này thường được gọi là rác Khối lượng lãng phí thì khó ước tính và có thể thay đổi trong thành phần cấu tạo, nhưng có lẽ bao gồm những chất thải rắn, đá, bê tông, gạch, hồ, gỗ xẻ, ván lợp, và những phần điện nước và hệ thống nóng lạnh”

Brook (1994) đã đưa ra định nghĩa và phân loại những lãng phí vật tư xây dựng ở Đức được sử dụng như một phần đặc điểm chung cho việc mô tả những lãng phí là kết quả từ những hoạt động xây dựng Theo một hệ thống phân lọai, lãng phí được chia thành hai nhóm dựa trên loại hoạt động xây dựng: lãng phí ngành xây dựng cầu đường và lãng phí ngành xây dựng nhà dân dụng công nghiệp Những lãng phí ngành xây dựng dân dụng công nghiệp cũng được phân thành hai nhóm: những mảnh vụn phá huỷ và những mảnh vụn xây dựng Về cơ bản về những mảnh vụn phá huỷ được định nghĩa là những mảnh vật tư vô cơ, không bị nhiễm bẩn, như là bê tông và mảnh gạch vụn Những mảnh vụn xây dựng bao gồm hầu hết những vật liệu không phải vô cơ như gỗ, nhựa, sơn, va ni, kim loại, dây cáp

Ngoài ra, các nguyên nhân lãng phí vật tư xây dựng được chia thành 6 nguồn nguyên nhân chính : do quá trình thiết kế, do quá trình cung ứng, do việc kiểm soát vật tư, quá trình thi công, phần mẫu thừa, và do những nguyên nhân khác

2 Giai đoạn thiết kế là nguyên nhân gây lãng phí vật tư

Gavilan và các tác giả khác, 1995 đã nhận xét “ hai nguyên nhân dẫn đến lãng phí trong giai đoạn này: là sai sót nhỏ; và thay đổi Những khiếm khuyến là

Trang 35

kết quả từ sai phạm kỹ thuật công trường và sai sót thiết kế” Chẳng hạn là, nếu vật tư được mua dựa trên những thông số kỹ thuật thiết kế sai, lãng phí sẽ xảy ra nếu không thể bán lại, hay trả lại vật tư cho nhà cung cấp Hơn nữa, nếu đơn vị thi công đã lắp dựng xong và bị ép buộc tháo ra do thay đổi thiết kế, thì tất nhiên vật liệu này không thể tái sử dụng, lúc này lãng phí vật tư xuất hiện Thêm vào đó, những hợp đồng cung cấp và thi công xây lắp được ký kết và khởi công trước khi kế hoạch, tổng mặt bằng, và thiết kế hoàn tất

Ngoài ra, từ nghiên cứu của Olomolaiye và các tác giả khác (1987) đã cho rằng việc thay đổi thiết kế là nguyên nhân chính của việc làm lại sản phẩm đã hoàn thành

3 Giai đoạn cung ứng vật tư

Theo Gavilan và các tác giả khác, 1995 cho thấy “ những sai phạm trong việc đặt hàng và vận chuyển có thể là nguyên nhân lãng phí vật tư Những lỗi của việc mua bán vật tư có thể là: vận chuyển thiếu, vận chuyển dư thừa, hay là quên vận chuyển” Những việc trên có thể là do thiếu thông tin giữa người đặt hàng và người cung cấp Ngoài ra, Bossink và Brouwer, 1994 cho thấy “ những nhà cung cấp cũng đóng vai trò trong việc lãng phí vật tư xây dựng do không đóng gói bảo vệ vật tư trong quá trình vận chuyển đến công trường, thời gian vận chuyển quá lâu, và không thể đặt hàng khối lượng nhỏ”

4 Giai đọan kiểm soát vật tư

Theo Gavilan và các tác giả khác (1995), việc kiểm soát và lưu giữ không hợp lý các vật tư xây dựng cũng sẽ là nguyên nhân gây ra lãng phí vật tư Việc kiểm soát không hợp lý cũng sẽ làm cho vật tư bị hư hỏng trong lúc chế tạo, đóng gói, bốc dỡ, phân phối Như theo Forsythe and Marsden( 1999) (trích T.Formoso, 2002) nghiên cứu từ phản hồi của khách hàng đối với nhu cầu cải tiến môi trường của dự án xây dựng ở Úc Thống kê đặc điểm lãng phí vật liệu cho sáu công

Trang 36

trường là khỏang 2.5 – 22% khối lượng Khối lượng lãng phí dựa trên tổng khối lượng vật tư được phân phối tới công trường Ngoài ra, Bossink and Brouwer (1998) (trích T Formoso, 2002) tiến hành đo lường lãng phí từ bảy vật liệu được quan sát trong năm dự án nhà ở tại Hà Lan giữa 4/1993 đến 6/1994 Tổng khối lượng lãng phí trực tiếp vào khỏang 1 – 10% trong tổng số trọng lượng nhập vào Những nguyên nhân lãng phí chính được xác định là việc tính tóan khối lượng, việc cung cấp vật tư ,việc kiểm sóat không hiệu quả trong vận chuyển và bảo quản

Ngoài ra, kho bãi không thích hợp cũng làm hư hỏng vật tư xây dựng vì đa số các công trường xây dựng đều thi công ngoài trời Như Thomas và các tác giả khác (2005) nhận thấy rằng việc thiếu hụt vật tư liên quan đến việc cung ứng vật

tư không liên tục và không theo trật tư, bảo quản kém, thiếu các phương pháp hiệu quả Thêm vào đó, Thomas và các tác giả (2005) đã nhận định việc sử dụng của kho bãi vàõ phải tuân theo quy luật “tới trước, cất giữ trước”, vật tư trong kho phải được đánh dấu một cách rõ ràng, vật tư nên được đặt trên những miếng gỗ hay pallets để tránh hư hại do ẩm ướt, dính bùn đất Ngoài ra các vị trí không hợp lý cũng sẽ làm việc vân chuyển khó khăn và sẽ gây ra sự hư hỏng Vật tư phải được cất giữ ở gần công trình thi công Vật tư nên được cất giữ để được phép ra vào dễ dàng

Từ nghiên cứu của Đỗ T X Lan (2003) cho thấy lực lượng lao động xây dựng chủ yếu ở các tỉnh, là những nông dân , trình độ học vấn thấp đến ba phần

tư chưa tốt nghiệp trung học Mặt khác, hầu hết các công trường thường chọn những người thủ kho không có trình độ và nghiệp vụ , được chọn từ những người công nhân làm việc lâu năm nên việc quản lý vật tư không chặt chẽ dẫn tới thất thoát

5 Giai đoạn thi công

Trang 37

Những hoạt động tại cộng trường là cần thiết để hình thành cấu trúc ngôi nhà cũng liên quan tới sự phát sinh ra những lãng phí vật tư Lãng phí vật tư cũng được tạo ra từ tác động của thiên nhiên vì các công trường đa số làm việc ngoài trời, và tay nghề kém như tay nghề người lao động kém, thiếu các dụng cụ và thiết bị và điều kiện làm việc kém Ngoài ra, nghiên cứu của T.Formoso, 2002 cho thấy sự sai lệch chiều dày bê tông sàn là khoảng 5,4% lớn hơn thiết kế, sai lệch kích thước sàn là 2,7% Sự sai lệch chiều dày mạch hồ xây gạch được thống kế 52% cho mạch hồ ngang , 56% cho mạch hồ đứng Chiều dày lớp vữa tô lớn hơn so với thiết kế 17,8% đối với trần, 76% đối với tường trong, 93,3% đối với bên ngoài Sự sai lệch chiều dày cán nền so với thiết kế 47% Vấn đề lãng phí trong việc cắt gạch là 18% Sự lãng phí trong việc cắt gạch lát ceramic 35% của những miếng đã bị cắt đối với sàn thực, 27,4% của những miếng đã bị cắt đối với tường

Từ nghiên cứu của Đ T X Lan (2003) vấn đề thiếu hụt công nhân lành nghề bởi thường xuyên thay đổi chỗ làm và trình độ học vấn thấp, nên sản phẩm làm ra không đạt chất lượng, sẽ dẫn tới lãng phí vật tư

Olomolaiye và Ogualna (1988) đã cho thấy sự thiếu hụt vật tư, thiếu những dụng cụ và thiết bị cần thiết, và những công việc làm lại bởi vì những thay đổi trong chỉ thị công trường và sự thiếu năng lực của người giám sát

6 Mẫu thừa

Theo kỹ thuật thi công hiện tại, sự lãng phí xuất hiện do qui trình là không thể tránh được Lãng phí này bao gồm những mảnh nhỏ dư thừa từ việc cắt sản phẩm nguyên thành chiều dài ngắn hơn để phù hợp với thiết kế Theo nghiên cứu của T Formoso (2002) đã cho thấy sự lãng phí cốt thép là do ba nguyên nhân chính:

a) Những mẫu thừa không sử dụng được tạo ra khi cắt thép

Trang 38

b) Những thanh thép có đường kính lớn một cách dư thừa vì do những vấn đề sản xuất, sai sót trong thi công

c) Thiết kế kết cấu nghèo nàn

7 Những lãng phí do các nguyên nhân khác

Nguyên nhân lãng phí vật tư rất đa dạng Như T Formoso và các tác giả (1993) đã chỉ ra rằng một số vật tư bị hư hại trong quá trình bốc dỡ hay trong quá trình vận chuyển đến khu vực tập kết vật tư Trường hợp khác bị hư hại vì sự sắp xếp không hợp lý hay bị vỡ khi vận chuyển đến khu vực thi công Skoyles (1976) đã nhận xét lãng phí thường bắt đầu khi vật tư được đưa tới công trường và được bốc dỡ, do một số bị hư trong lúc vận chuyển và bốc dỡ và số khác bị rơi vãi trên công trường Một số khác bị hư hại khi bị chất thành đóng, và một số khác thì bị vỡ và mất mát trong quá trình di chuyển đến nơi thi công

Ngòai ra, việc thiếu kiểm soát vật tư và thiếu kế hoạch quản lý lãng phí vật

tư ( trích G.Bossink và H.Brouwer, 1996) cũng là nguyên nhân làm lãng phí vật

tư Vì tính chất đặc thù của ngành xây dựng là làm việc ngoài trời, được phân chia thành nhiều tổ đội nên qui trình kiểm soát vật tư Do tính chất ngành xây dựng là đặc thù riêng không một công trình nào giống một công trình nào nên việc lập tiến độ một cách rõ ràng, kế hoạch chiến lược, và năng lực của nhà quản lý dự án, phân bổ nguồn tài nguyên hợp lý ( Nguyễn Duy Long và các tác giả khác, 2004) sẽ giúp cho dự án thành công nhờ vào đó mà việc quản lý sẽ giảm đi mức độ lãng phí vật tư một cách đáng kể Theo (Stone,1995) ( trích H Caldas và các tác giả khác, 2006) cho thấy vấn đề quan trọng là nhà quản lý dự án phải nắm bắt và cập nhật công việc tại công trường một cách kịp thời Hơn thế nữa, (H Caldas và các giả khác, 2006) cho thấy những nhà quản lý xây dựng cần nên biết tình trạng công việc ngoài công trường đúng lúc, bao gồm thông tin về vật tư,

…… Sự thu thập chính xác và đúng lúc các thông tin là cần thiết để phát hiện sự

Trang 39

khác biệt giữa thực tế và kế hoạch, để giảm tối đa lãng phí trong thực tế Thêm vào đó việc kiểm soát của giám sát và khả năng của các đội thi công dẫn đến sai lệch về kích cấu kiện, và các hạng mục thường bị thay đổi, và việc làm đi làm lại

do làm sai bản vẽ là nguyên nhân làm khối lượng vật tư tăng cao T Formoso và các tác giả khác (1993) đã nhân định việc thiếu quản lý vật tư ở công trường là một điểm nổi trội như là nguyên nhân chính dẫn tới việc lãng phí vật tư Nói tóm lại việc kiểm sóat và sắp xếp vật không hợp lý dẫn đến lãng phí gấp ba lần so với các nguyên nhân khác Một nghiên cứu của trường cao đẳng Hồng Kông và tổ chức xây dựng Hồng Kông (1993) ( trích T.Formoso, 2002) từ tháng 6/1992 đến 2/1993, đã đưa ra một kết luận chính của nghiên cứu là thiếu sự kiểm sóat vật tư bởi các nhà thầu Một đề nghị khối lượng vật tư lãng phí bằng khỏang 5% của tổng thể tích Sự lãng phí bê tông tươi vào khỏang 2.4 đến 26.5%; trung bình là 11%

Skoyles (1976) cho thấy nguyên nhân lãng phí do các đơn vị khác thi công các công tác tiếp theo như điện nước, cửa,…… gây nên ( có mục đích hơn là công việc) T.Formso và các tác giả khác (1993) đã cho thấy sự phá họai, những sự cố cũng là nguyên nhân gây lãng phí

G.Bossink và H.Brouwer (1996) cho thấy việc trộm cắp tại công trường cũng là một nguyên nhân gây lãng phí T Formso và các tác giả khác (1993) cũng nhận thấy việc trộm cắp cũng là nguyên nhân lãng phí Skoyles (1976) đã nhìn nhận việc trộm cắp và sự phá họai có chủ tâm cũng gây ra lãng phí Oâng còn cho thấy một nguyên nhân gây lãng phí vật tư là việc sử dụng sai chủng lọai vật

tư Ví dụ, khi vật tư không đúng chủng lọai vật tư được chỉ định trong thiết kế, hợp đồng dẫn tới lãng phí tăng lên, khi chủ đầu tư phát hiện và yêu cầu thay đổi cho đúng chủng lọai

Ngày đăng: 03/04/2021, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w