1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu áp dụng các phương pháp sửa chữa công trình để cải tạo và nâng cấp các công trình văn hóa lịch sử kampuchia (trường hợp áp dụng tháp angkor wat)

89 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 3,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2-Tổng quan và công tác gia cường bêtông cốt thép bằng phương pháp dán FRC Kết cấu bêtông cốt thép được sử dụng trong các công trình xây dựng thường bị ăn mòn và xâm thực môi trường c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯƠNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS Phạm hồng luân

Trang 3

PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC

TP.HCM, ngày tháng năm 2007

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ và tên học viên: SUY SAKCHIVIN Phái : Nam

Ngày, tháng, năm sinh : 01-06-1970 Nơi sinh : Phnôm-Pênh Chuyên ngành : Xây dựng Dân dụng và Công nghiệp

I-TÊN ĐỀ TÀI :

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬA CHỮA CÔNG TRÌNH

ĐỂ CẢI TẠO VÀ NÂNG CẤP CÁC CÔNG TRÌNH VĂN HÓA LỊCH SỬ

KAMPUCHIA(TRƯỜNG HỢP ÁP DỤNG : THÁP ANGKOR )

II-NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

Chương I : GIỚI THIỆU TỔNG QUAN

Chương II : HIỆN TRẠNG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI KAMPUCHIA Chương III: CÁC BIỆN PHÁP SỬA CHỮA VÀ KHÔI PHỤC CÔNG TRÌNH

Chương IV: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DÁN FRC

Chương V : NGHIÊN CỨU CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT SỬA CHỮA NÂNG CẤP

CÔNG TRÌNH TẠI KAMPUCHIA

Chương VI : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

III-NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 05 / 02 / 2007

VI-NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 05 / 07 / 2007

V- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : TS Phạm hồng luân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi rất vui mừng đã hoàn thành luận văn và kết thúc khoá học thạc sĩ của mình tại trường Đại Học Bách Khóa Thành phố Hồ Chí Minh Cho tôi được bày

tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến thầy, Ph.D PHẠM HỒNG LUÂN, người

đã hướng dẫn cho tôi thực hiện luận văn này Với lòng nhiệt tình, vốn kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm của người thầy Thầy đã hình thành cho tôi những ý tưởng ban đầu của đề tài nghiên cứu Trong suốt quá trình nghiên cứu cho đến khi hoàn thành luận văn Thầy đã tân tình sửa chữa những khiếm khuyết mà tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè Việt Nam đã giúp đỡ về việc học tập cũng như làm luận văn trong quá trình hoàn thiện nhiệm vụ này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban quản lý Ký Túc Xá Bách Khoa và

Ký Túc Xá Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi

Trang 5

TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN

Luận văn này trình bày cách áp dụng các phương pháp sửa chữa và khôi phục công trình để cải tạo và nâng cấp các công trình văn hóa lịch sử KAMPUCHIA bằng phương pháp gia cường FRC (Tháp Angor Wat)

Trong luận văn này tôi sẽ trình bày nội dung chính là sửa chữa gia cường công trình cổ truyền tháp Angkor Wat tại tỉnh SEAM REAP (KAMPUCHIA), công trình ấy đã được sửa chữa và khôi phục do một cơ quan của Nhật Bản ( JSA ) hợp tác giúp đỡ Việc thực hiện này tôi sẽ trình bày rõ ở trong chương V của luận văn, việc sửa chữa gồm có sửa chữa cột, tường, vỉa hè Các phương pháp sửa chữa và khôi phục bằng cách chế tạo đá khối để tạo các thành phần cột, tường v.v …

Trong nội dung thực hiện luận văn này, tôi sẽ trình bày trong ba giai đoạn

là trước chiến tranh, trong chiến tranh và sau chiến tranh (trong thời gian chế độ POL POT) Công trình mà tôi nêu đây là “ sửa chữa và khôi phục thư viện miền bắc Angkor Wat ” ( Restoration of the Angkor Wat Northern Library ) Các công việc này sẽ được trình bày trong sáu chương I, II, III, IV, V và VI

Phần cuối cùng của luận văn là phần kết luận về kết quả nghiên cứu trong bài luận văn, nhược và ưu điểm, phần kiến nghị và tài liệu tham khảo của việc nghiên cứu thực hiện luận văn này, và phần cuối cùng của bài luận văn là tóm tắt lý lịch của người thực hiện luận văn

Trang 6

Chương I: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1

1.1-Giới thiệu chung 1

1.2-Tổng quan về công tác gia cường kết cấu bêtông cốt thép bằng

phương pháp dán FRC 1

1.3-Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3

1.4-Phạm vi nghiên cứu 4

Chương II: HIỆN TRẠNG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI KAMPUCHIA 5

2.1-Các thời kỳ: 5

2.1-1Thời kỳ trước chiến tranh 5

2.1-2.Thời kỳ trong chiến tranh 5

2.1-3.Thời kỳ sau chiến tranh 5

2.2-Các nguyên nhân hư hỏng 6

2.2-1.Tác dụng khí hậu 6

2.2-2.Tác dụng thời tiết 7

2.2-3.Trong quá trình sử dụng 7

2.3-Yêu cầu phải sửa chữa 8

2.3-1.Sửa chữa vết nứt của móng 11

2.3-2.Sửa chữa vết nứt của cột 14

2.3-3.Sửa chữa vết nứt của dầm 14

Chương III: CÁC BIỆN PHÁP SỬA CHỮA VÀ KHÔI PHỤC CÔNG TRÌNH 18

3.1-Sửa chữa và khôi phục bằng cách làm màng bảo vệ 18

3.2-Sửa chữa và khôi phục bằng cách phun vữa và tô trát vữa 19

3.3-Sửa chữa và khôi phục trần bêtông và độ sâu đục bêtông cũ 23

3.4-Sửa chữa và khôi phục với xử lý cốt thép và dính kết giữa bêtông cũ và mới 24

3.5-Sửa chữa và khôi phục theo tỷ lệ cát-ximăng và nước-ximăng trong vữa sửa chữa 25

Chương IV: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DÁN FRC 29

4.1-Vật liệu vải sợi tổng hợp 29

Trang 7

4.3-Kết quả thí nghiệm của các nghiên cứu thực hành về FRC 47

Chương V: NGHIÊN CỨU CÁC BIỆN PHÁP KỸ THUẬT SỬA CHỮA NÂNG CẤP CÔNG TRÌNH TẠI KAMPUCHIA (AngKor Wat) 49

5.1-Giới thiệu chung về một số tháp cổ tại Kampuchia 49

5.2-Mô tả hiện tượng và nguyên nhân hư hỏng 58

5.2-1.Hư hỏng của vỉa hè (Restoration of pavement) 58

5.2-2.Hư hỏng của tường (Restoration of wall) 61

5.2-3.Hư hỏng của cột (Restoration of columns) 64

5.3-Các phương pháp sửa chữa và khôi phục của các nguyên nhân 67

Chương VI: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

Tài liệu tham khảo 79

Trang 8

CÁC BIỂU BẢNG VÀ HÌNH ẢNH

1 -Hình A-1, Hình A-2 và Biểu đồ gia

cường kết cấu của bêtông cốt thép

Trang 9

Chương I: Giới thiệu Tổng Quan

1.1-Giới thiệu chung:

Các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp hiện nay tại Kampuchia đang quan tâm về sửa chữa có thể trải qua các giai đoạn :

(1)-Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn trước chế độ Pol Pot Đây là giai đoạn mà đất nước Kampuchia có nhiều công trình tại các thành phố SIEM REIP, thành phố Koh Kong… bao gồm các công trình hạ tầng, cao tầng Tại SIHANOUK villege có một số khách sạn (Hotel) tại gần bờ biển gọi là Hotel Prampicharn, khách sạn gồm bảy tầng

Ở tỉnh SIEM RIEP, có nhiều công trình đẹp như Angkor wat ( Angkor wat gồm Angkor THOM và TOUCH ), đã xây trong thế kỷ 9-11, hiện nay ở Kampuchia chính phủ và các nhà khoa học Nhật bản đang có ý kiến về sửa chữa và khôi phục công trình Angkor Wat

Ở một số tỉnh như TA KEO ( CHISOU mountain), tháp PREA VIHIA temple PREA VIHEA (tỉnh PREAHIHIA)

(2)-Giai đoan thứ hai là giai đoạn trong chế độ Pol Pot Trong giai đoạn này cả nhân dân Kampuchia hầu như không có sự quan tâm công việc xây dựng Do chiến tranh nên không xây dựng mới, chỉ còn lại công trình trong giai đoạn thứ nhất Rất may mắn, là các công trình cổ truyền như tháp Angkor Wat, tháp PREA VIHEA, không bị phá huỷ tuy vậy, không được quan tâm về bảo trì, nên phần lớn các công trình này bị hư hại do các nguyên nhân tự nhiên như về khí hậu, thời tiết, bị xâm thực, rong rêu,

(3)-Giai đoạn thứ ba là giai đoạn sau chế độ Pol Pot tính từ ngày 7-01-1970.Do thiếu hụt về cán bộ khoa học kỹ thuật ngành xây dựng nên một số các công trình kể trên không được duy tu, sửa chữa, bảo trì thường xuyên Việc xây dựng nâng cấp công trình, đặc biệt là các công trình đặc trưng nền văn hóa Kampuchia, là mối quan tâm của chính phủ và các ngành khoa học kỹ thuật hiện nay

Do vậy việc nghiên cứu các biện pháp duy tu nâng cấp công trình là yêu cầu cần thiết hiện nay của Kampuchia

1.2-Tổng quan và công tác gia cường bêtông cốt thép bằng phương pháp dán FRC

Kết cấu bêtông cốt thép được sử dụng trong các công trình xây dựng thường bị

ăn mòn và xâm thực môi trường chung quanh

Việc sửa chữa và nâng cấp công trình thường áp dụng các biện pháp sau :

-a) Làm màng bảo vệ

-b) Phun vữa và tô trát vữa

-c) Sửa chữa trần bêtông và độ sâu đục bêtông cũ

-d) Xử lý cốt thép và dính kết giữa bêtông cũ và mới

-e)Tỷ lệ cát-ximăng và nước-ximăng

-f) Các phương pháp dán

Trang 10

-Ý nghĩa của polipropilen ( Polypropylene) của sợi gia cường bêtông cốt thép là :

Ximăng Porland có khả nănh chịu kéo bám hơn nhiều so với khả năng chịu nén Khi có vấn đề căng biến dạng, nêu không gia cường bêtông cồt thép nó sẽ nứt và hư hỏng Trong giữa năm 1800 sự gia cường thanh thép đã được sử dụng để khắc phục vấn đề này Như hệ thống hỗn hợp, sự gia cường bằng thanh thép đã cho khả năng chịu được các tải trọng gây kéo trong bêtông

Khi có mặt Ion Clorua, bêtông cốt thép sẽ bị ăn mòn Ở vùng Đông-Bắc, lượng muối Natri clorua có nhiều do tiếp giáp với vùng bờ biển có thể xuyên qua lớp bêtông

để làm gỉ cốt thép Gỉ có thể tăng gấp 4 – 10 lần thể tích của cốt thép gây giãn nở sản sinh ứng suất kéo trong bêtông và dẫn đến gây giãn vỡ bêtông, làm giảm kích thước tiết diện kết cấu bêtông để khắc phục có thể bằng cách làm lớp phủ ngoài hoặc thay thế thép bằng các vật liệu gia cường chống sự ăn mòn môi trường

Hiện nay thường dùng vật liệu dạng sợi nhỏ, giống như vật liệu hỗn hợp đã sử dụng hiện nay, trộn lẫn bêtông để tăng cường tính dẻo dai, hoặc có thể chịu được vết nứt lớn hơn

FRC là bêtông cốt thép ximăng pooclăng với thành phần sợi nhất định Trong FRC, hang nghìn sợi nhỏ được trộn lẫn vào trong bêtông làm gia tăng khả năng chịu kéo, chịu uốn, giảm sự co ngót hay nứt nẻ vì nhiệt

Có thể sử dụng sợi tự nhiên hoặc nhân tạo để chế tạo FRC Trong quá khứ, vật liệu sợi tự nhiên đã được sử dụng nhiều, bắt đầu từ việc gia cường cốt thép trong bêtông năm 1940 và từ đó đến này vẫn không phát triển nhiều Gần đây nhiều loại vật liệu sợi khác nhau đã được nguyên cứu ứng dụng

Một số loại sợi như : sợi tổng hợp Polipropilen, sợi Cacbon, sợi thép, sợi thuỷ tinh, sợi tự nhiên xenhega, sợi Amiang Các loại sợi được cung cấp bởi các nhà sản xuất theo Cataloque

-Một số loại máy sử dụng để kiểm tra đặc trưng vật liệu như máy Instron

loại-1101 xem trong (hình A-1) lò sản xuất với “BLUE M ELECTRIC COMPANY (Mdel

No 0V-18A – Serial No.0V-9513” và máy phun muối khoan rỗng

Máy “Singleton Coporation”, kiểu No 20-16621, xem Hình A-2, tài liệu nghiên cứu

đáng kể đã viết trong sách giáo khoa thư viện đại học của Rhode Island và trong thư viện của Massachusetts tại Lowell W.G Grace, nổi tiếng sản phẩm kinh doanh của gia cường bêtông cốt thép, đã cung cấp sợi polipropilen (Popypropylene)

Trang 11

BIỂU ĐỒ GIA CƯỜNG KẾT CẤU CỦA BÊTÔNG CỐT THÉP (FRC)

-Giới thiệu các giải pháp nhằm nâng cao tuổi thọ của các công trình cổ đại ( trường hợp áp dụng: Tháp AngKor)

-Tìm hiểu nguyên nhân và nguyên lý hư hỏng của công trình ấy, các biện pháp

Trang 12

-Khảo sát các hiện tượng hư hỏng của công trình để tìm cách tăng cường khả năng chịu lực của các công trình đó

-Phương pháp sửa chữa và khôi phục công trình cổ đại bằng cách lắp đặt tại chỗ

-Tìm hiểu về bảo trì và ảnh huởng đến khả năng gây hư hỏng bới các hiện tượng khác như : khí hậu, mưa nắng, gió bão, …

-Tìm hiểu về đặc tính của vật liệu xây dựng để sửa chữa, khôi phục và bảo trì của công trình ấy

-Gia cường công trình cổ đại bằng cách thi công toàn khối hoặc chế tạo tuy theo tính chất đặc biệt của công trình đó Do công trình đã xây dựng lâu năm nên việc sửa chữa và khôi phục công trình dạng này rất khó

1.4-Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

-Kết quả trong thí nghiệm của Polipropilen đã giải thích việc nghiên cứu sức căng của sợi khi đặt nó vào trong điều kiện môi trường khác nhau, sự giải thích của tính chất căng gián tiếp sợi thực hiện trong các điều kiện trên Sự thay đổi đặc tính vật liệu của PP (Popypropylene) sợi đem đến sự làm việc của sợi với chất nền nhấn mạnh trong tài liệu chỉ hợp lý khi có sự liên kết tốt giữa sợi và ximăng

-Nghiên cứu các công trình còn có thể cải tạo sửa chữa được, trong phạm vi các công trình và kết cấu công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp, bao gồm các công trình dân dụng mới, các công trình xây dựng trong những năm gần đây do thiếu kinh nghiệm về kỹ thuật thi công hoặc thiết kế mà không đáp ứng được điều kiện sử dụng hiện thời

-Để mở rộng việc nguyên cứu có thể tìm kiếm sản phẩm FRC sử dụng trong các môi trường như nhau

Trang 13

Chương II: HIỆN TRẠNG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI

KAMPUCHIA

2.1-Các thời kỳ:

Trước hết ta phải kể lại về lịch sử của đất nước KAMPUCHIA Đất nước KAMPUCHIA có diện tích 181,035 km2, có dân số 13,000,000 người (số liệu trước chế độ POL POT) Có biên giới gắn với ba nước là VIET NAM, LAO và THAI LAN

Từ phía Đông gắn với VIET NAM bắt đầu từ tỉnh KAMPONG -CHAM, SVAY RIENG, TA KEO, KOM POT, ROTANAK KIRI Từ phía Bắc gắn với LAO từ tỉnh STUNG TRANG Từ phía Tây gắn với THAI LAN từ tỉnh PRASVEAC HEAR, SIEM RIEP KAMPUCHIA Kampuchia có chiến tranh ba lần, KAMPUCHIA từng bị xâm lược bởi các nước PHÁP, MỸ, NHẬT BẢN

2.1-1.Thời kỳ trước chiến tranh

Thời kỳ trước chiến tranh là thời kỳ KAMPUCHIA rất phát triến nhiều với các công trình tháp và lâu đài Ta tính từ trước thế kỷ 11, đó là tháp ANGKOR WAT và tháp PREAVI HEAR, KAMPUCHIA đã có nhiều người có tài năng và kỹ thuật cao để xây dựng các công trình đó

2.1-2.Thời kỳ trong chiến tranh

Thời kỳ trong chiến tranh là thời kỳ KAMPUCHIA dưới chế độ PHÁP, MỸ, NHẬT BẢN KAMPUCHIA không phát triển công trình nào mà chỉ còn lại công trình

cũ như tháp ANGKOR WAT tại SIEM RIEP và các công trình nhỏ bé, như rạp xiếc, casino và các khách sạn nhỏ bé tại thành phố Phnôm – Pênh Và một số thành phố khác có một vài công trình, như vậy trong thời kỳ này chỉ có các công trình cũ, cần phải bảo trì, sửa chữa và khôi phục lại

2.1-3 Thời kỳ sau chiến tranh

Thời kỳ này cũng không có gì khác so với thời kỳ trước bởi vì sau chiến tranh Kampuchia chỉ còn lại các công trình để lại từ hai chế độ trước Sau chế độ POL POT, Kampuchia đã được giải phóng năm 1979, nhân dân Kampuchia hầu như trắng tay, Pol Pot đã giết chết hầu hết người có kiến thức và chỉ còn lại một số rất ít đã chạy

ra nước ngoài trước chế độ ấy, như vậy ta thấy rằng việc bảo trì và sửa chữa công trình

Trang 14

hầu như không ai quan tâm Mà hiện nay Kampuchia đang kêu gọi sự giúp đỡ các

nước trên thế giới để sửa chữa và bảo trì lại các công trình còn lại

2.2-Các nguyên nhân hư hỏng

2.2-1.Tác dụng khí hậu -Xác định cơ chế và mức độ xuống cấp và các biện pháp sửa chữa hoặc gia

cường kết cấuhư hỏng do tác động của các điều kiện khí hậu nóng ẩm ( như nhiệt độ

và độ ẩm không khí, bức xạ mặt trời, mưa gió, bão vv…)

-Các kết cấu trong công trình xây dựng chịu tác động trực tiếp của các điều kiện khí hậu là các kết cấu lộ thiên, gồm có :

1-Mái bêtông cốt thép;

2-Khung bêtông cốt thép ( Dầm, Cột) ngoài trời,

3-Tường bêtông cốt thép ngoài trời (Tường ngoài, tường chắn mái, bể nước, thành silo )

-Dấu hiệu xuống cấp các kết cấu nêu ở trên gồm có :

-Dầm nhà bị nứt nẻ, nước thấm được vào làm gỉ thép bên trong Gỉ thép trương

nở thể tích, phá vỡ cấu trúc bêtông, tạo thành những vết nứt chạy dọc cốt thép chủ Ở những cột nhà, nơi nào có cốt thép lòi ra ngoài khí trời cũng thấy xuất hiện những vết nứt giống như vậy

-Lấy những mảng bêtông ở chỗ nứt ra thì thấy lớp gỉ dính trên mặt bêtông có chỗ dầy tới 2-3mm, thanh cốt thép đường kính 22mm bị gỉ ăn chỉ còn có 18 mm những chỗ nào bêtông gắn chặt vào cốt thép vẫn còn nguyên vẹn

-Hiện tượng ôxi hóa dễ tiếp tục từ những nơi đã có gỉ sẵn Ốxýt sắt có sẵn sẽ hấp thụ ngay ôxy và khí ẩm để phát triển sang các phần lân cận

Trang 15

2.2-2.Tác dụng thời tiết

-Khi nhiệt độ thay đổi thì bêtông và cốt thép co giãn theo chiều dài Hệ số giãn của bêtông vào khoảng 0,0000148 – 0,000010, hệ giãn của thép 0,00012 Như vậy nếu nhiệt độ thay đổi rất nhỏ, lực dính giữa bêtông và cốt thép có thể chống lại được

-Trong khi ấy bêtông là vật liệu dẫn nhiệt kém, bảo vệ được cốt thép khỏi bị tác dụng của sự thay đổi nhiệt độ lớn Điều này rất quan trọng khi xảy ra hỏa hoạn Nhưng bêtông không phải hoàn toàn không chịu tác dụng của lửa, nếu bêtông chưa ninh kết chắc hoặc độ ẩm lớn thì nó chịu lửa kém, vì rằng nước thừa sẽ bốc hơi, phá hoại bêtông

-Những công trình bêtông cốt thép sau khi bị cháy, người ta thấy trên mặt bêtông có những vết nứt nẻ hoặc lở, vỡ thành mảng, cường độ chịu nén của bêtông trước kia là 250kG/cm2 nay thử lại chỉ còn 150kG/cm2 Trong trường hợp này chỉ cần sửa chữa phân mặt ngoài của bêtông bị hư hỏng mà thôi

-Để tránh cho cốt thép trong bêtông khỏi chịu tác dụng của lửa cần phải đảm bảo chiều dày của lớp bêtông bảo vệ

2.2-3.Trong quá trình sử dụng

-Trong quá trình sử dụng công trình gặp rất nhiều tác đông làm vật liệu

bị suy thoái chất lượng Sau đây trình bày một số các hình thức suy thoái của công trình trong quá trình sử dụng và khai thác, công trình bị xuống cấp,nghĩa là không còn giữ được chất lượng ban đầu của nó

Có hai dạng suy thoái : suy thoái vật chất; suy thoái phi vật chất

*-Suy thoái vật chất là khi:

• Khả năng chịu lực kết cấu suy giảm

• Khả năng cách âm, cách ẩm, cách nhiệt đều giảm

• Hình thức bên ngoài nhà xập xệ, xấu xí, bụi bẩn, mốc rêu, hoen ố, lở vỡ…

• Sàn nhà bị vênh, võng , thấm, bào mòn, bong bể… ảnh hưởng đến tiện nghi sử dụng

Mức độ suy thoái của ngôi nhà biểu hiện rõ nhất ở mức độ xuống cấp của các kết cấu sàn, trần, tường, cầu thang, và các ô cửa, chúng phản ảnh được phần nào độ hao mòn của các bộ phận khác của nhà

Trang 16

• Bêtông là loại vật liệu dễ nứt; các vết nứt làm giảm độ cứng của tiết diện, làm môi trường vật liệu bị đứt đoạn, làm phân phối lại nội lực giữa bêtông và cốt thép

Bêtông có độ rỗng xốp lớn ( tới 40%); dù bêtông cực kỳ tốt thì độ rỗng vẫn chiếm tới 10% thể tích Hậu quả của độ rỗng là bêtông có có vô số những túi chứa nước do thẩm thấu không sao tránh được

• Cường độ bêtông có giảm đến 20-30% của cường độ ban đầu, do lực dính kết của ximăng suy giảm Lực dính kết này là thước đo cơ bản của quá trình lão hóa bêtông

• Lớp bêtông bảo vệ kết cấu một khi bị nứt nẻ xuất hiện hiện tượng mao dẫn thì mất ngay hiệu lực bảo vệ cốt thép và hậu quả là cốt thép bị gỉ sét, lượng cốt thép hao mòn dần

• Bêtông còn dễ bị xâm thực trong môi trường hóa chất

*-Suy thoái phi vật chất :

Là khi công trình đáp ứng các yêu cầu của lối sống hiện đại của con người, sự lỗi thời của nhà cửa Chẳng hạn như :

• Quy hoạch các căn hộ trong toàn nhà không còn hợp so với tiêu chuẩn mỗi gia đình một căn hộ

• Các phòng ở thiếu ánh sáng và thông gió, lại quá chật hẹp so với tiêu chuẩn thiết kế hiện đại

• Các căn hộ thiếu khu vệ sinh riêng, thiếu nơi đun nấu riêng, không nơi phơi quần áo, không chỗ để xe …

Nhà thiếu các tiện nghi công cộng và thiết bị hiện đại như :

Thang máy, đường ống dẫn khí đốt, quạt thông gió, ống đổ rác, mạng điện thoại

Khắc phục được mọi sự lỗi thời của nhà ở và công trình là không ngừng nâng cao đời sống văn hoá của người dân và tiện nghi sử dụng

-Đối với tháp Angkor Wat cũng không khác mấy đối với những thứ đã nêu ở trên chỉ khác là các cột, tường, vỉa hè v.vv… làm bằng các khối đá ( không dùng cốt thép, ximăng v.vv )

2.3-Yêu cầu phải sửa chữa

-Sửa chữa các loại vết nứt :

Ta cần nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân gây ra những vết nứt trong kết cấu bêtông cốt thép trước khi sửa chữa, vì có những trường hợp nguyên nhân có vẻ giống

Trang 17

nhau nhưng tạo ra những vết nứt có tính chất khác nhau và cũng có những trường hợp các vết nứt ở vị trí giống nhau lại do những nguyên nhân khác nhau

-Có những các loại vết nứt như sau :

.Vết nứt đơn : phát sinh do kết cấu bị quá tải, do tác dụng của tải trọng hoặc

do bêtông co ngót Nguyên nhân sinh ra vết nứt đơn thể hiện rõ ràng khi đem đối chiếu dạng vết nứt với vị trí kết cấu, vị trí cốt thép và ứng suất trong bêtông

-Vết nứt do quá tải rất dễ nhận ra vì dạng vết nứt này giống dạng vết nứt khi kiểm nghiệm kết cấu bằng chất quá tải

-Vết nứt xuất hiện ở những nơi không giống như khi quá tải thường là do các biến dạng bị ngăn cản Những ngăn cản biến dạng có thể xảy ra khi bêtông nằm tiếp xúc với đất nền, mặt ma sát khá lớn, nhưng có thể có những ngăn cản biến dạng nội tại (bên trong kết cấu), ví dụn hư khi có biến dạng nhiệt thì vết nứt xuất hiện ở tiết diện yếu nhất trong kết cấu bêtông

-Vết nứt hình thành trong tuần lễ đầu saukhi đúc thường là do co ngót khi bêtông ninh kết và khô rắn; cũng có thể là do biến dạng co ngót bị ngăn cản bởi sự tiếp giáp giữa kết cấu với nhau ( ví dụ hai kết cấu tại thành góc lõm )

-Trong công trình chạy dài, như tường chắn đất hoặc tuynen, các vết nứt xuất hiện trên các đoạn nhất định giống nhau, thì nguyên nhân là do mắc sai phạm trong thiết kế hơn là trong thi công Nếu vết nứt chạy xiên xẹo lung tung thì sai phạm có thể vừa là do thiết kế, vừa la do thi công kém chất lượng Trong những kết cấu bêtông cốt thép dài trên 9m, ít khi hình thành vết nứt đơn, mà thường có hai vết nứt ở vị trí tương tự; nguyên nhân hai vết nứt này giống nhau

Vết nứt nhóm : thường là những vết nứt chạy không định hướng, không có

cùng một phương hướng nhất định và hình thành hầu như đồng thời một lúc Loại vết nứt nhóm xuất hiện trong các kết cấu bêtông cốt thép khi chúng chịu nén và chịu xoắn quá mức; vì nếu như kết cấu đó chịu kéo thì chỉ một vết nứt xuất hiện là đủ loại trừ ứng suất rồi; còn nếu kết cấu đó chịu nén gây hư hỏng thì bêtông bị nứt nẻ rất nhiều

-Các vết nứt nhóm thường xuất hiện trong các vòm cầu, trong các vỏ tuynen, vì

ở đó mặt phẳng bên trong chịu ứng suất ba chiều

Trang 18

-Những vết nứt nhóm thường hay xuất hiện trong các tấm bêtông (tấm sàn, tấm lát, mặt đường) và các kết cấu bêtông nhiều lớp Trong các tấm lát bêtông các vết nứt hình thành dưới dạng chạy lung tung khi bêtông co ngót hay bị biến dạng nhiệt, hoặc dưới dạng đồng tâm và chạy vòng chung quanh một chỗ nào đó Hiện tượng nứt nẻ đồng tâm xuất hiện trong trường hợp có biến dạng nhiệt, lớp bêtông mặt bong khỏi lớp nền, tức khi độ dính kết giữa lớp mặt và lớp nền bị phá hoại Đồng thời tải trọng bên ngoài (của xe chở hàng, xe cần trục …) lại tác động đúng vào chỗ đó với áp lực lớn Nếu tác động đồng tâm có chiều dài ban đầu 7 – 15 cm, ít lâu sau sẽ xuất hiện các các vết nứt chạy vòng, giống như các vết nứt ở góc các tấm lát đường Càng ngày diện tích suy yếu càng phát triển, các vết nứt càng mở rộng, các vòng tròn nứt lớn dần từ 15cm đến 1.5m

-Kích thước các vết nứt nhóm còn tuỳ thuộc vào độ sâu của chúng Chẳng hạn như mặt bêtông gồm ba lớp với chiều dầy tổng cộng là 4 cm, thì vết nứt ăn xuyên cả

ba lớp nếu chúng bao trùm diện tích 110 cm2, ăn xuyên hai lớp nếu bao trùm 90 cm2,

ăn xuyên một lớp nếu bao trùm dưới 40 cm2 Kích thước nhóm vết nứt còn phụ thuộc vào thành phần vữa bêtông

Có thể phân biệt ba loại nhóm vết nứt trong bêtông nhiều lớp :

-Những vết nứt bao trùm diện tích độ 10 cm2 chỉ xuất hiện khi ta đổ nước cho ướt mặt bêtông, và ăn xuyên qua lớp bêtông ngoài cùng

-Những vết nứt lớn hơn chiếm một diện tích khoảng 70 cm2 và ăn xuyên qua lớp bêtông ngoài cùng và lớp giữa

-Những vết nứt lớn hơn nữa nằm trong bán kính 1.,5 – 1,7m ăn xuyên đến lớp nền

Trang 19

hai thành khe nứt lại nhau, làm cho phần kết cấu bị mất cường độ nay lại phục hồi được

Hiện tượng khe nứt tự khép kín vững chắc có thể xảy ra khi :

• Bêtông được ngâm thường xuyên trong.nước

• Không chịu tải trọng động

• Sự co ngót đã ngừng hẳn

• Không có nước thấm qua các lỗ rỗng hoặc qua khe nứt

Khe nứt không thể tự khép kín vững chắc được khi :

• Bêtông bị khô ngắn hạn nhưng thường xuyên

• Chịu ứng suất kéo tĩnh hoặc động, hoặc ứng suất co ngót, làm cho liên kết mới hình thành bị phá hoại ngay

• Vôi kết tủa thường xuyên bị trôi hoặc bị phá hoại bởi các axít hòa tan trong nước, thấm vào bêtông theo các đường mao dẫn

-Như vậy các vết nứt chỉ có thể tự khép kín vững chắc trong các công trình thuỷ lợi, không chịu tác dụng của nước xâm thực, của nắng mặt trời và các ứng suất nhiệt khác

-Sửa chữa những vết nứt đơn gặp một khó khăn là không đảm bảo được sự dính kết tốt giữa bêtông cũ và bêtông mới bịt lấp khe nứt trong mặt phẳng thẳng đứng Chính vì lý do này mà phương pháp chỉ dùng vữa để bịt gắn khe nứt thường không hiệu quả

-Những phương pháp sửa chữa vết nứt khá phổ biến là phương pháp liên kết bằng đinh giàng và phương pháp kéo áp lực bên ngoài

2.3-1.Sửa chữa vết nứt của móng

-Trong phần này ta nói về gia cường móng nông và những hư hỏng của nó

Móng nông áp dụng cho nhà ít tầng, khi nền đất khá tốt, móng nông làm bằng gạch, đá hộc hay bêtông

1)- Móng gạch được xây dưới những 2 – 3 tầng Hiện nay móng gạch ít được áp dụng do vì mác gạch phải thật cao; gạch non trong đất ẩm dễ bị hư mục

Trang 20

2)-Móng xây bằng đá hộc bền hơn móng gạch, tuổi thọ có thể trên 100 năm, thường dùng làm móng băng dưới tường hay làm móng trụ dưới cột hình dạng của móng đá hộc chủ yếu là hình chữ nhật, đôi khi là hình thang

3)-Móng bêtông và móng đá hộc (bêtông độn đá hộc) áp dụng cho những nhà cao tầng 5 – 6 tầng Những móng này đều đúc trong côppha, nên dễ tạo những hình dạng khác nhau như hình chữ nhật, hình chữ nhật nhiều bậc, hình thang … Nhờ vậy người ta có thể chọn được hình dạng kết cấu móng hợp lý sao cho tốn ít bêtông nhất

-Tuổi thọ của móng bêtông và móng đá hộc rất cao, nếu bêtông chắc đặc, không thấm nước Còn nếu bêtông xấu, dễ bị xâm thực bởi nước ngầm thì móng vẫn cần phải sửa chữa, gia cường Những móng bêtông cốt thép đúc sẵn tại nhà máy thường có chất lượng khá tốt, nên ít khi phải sửa chữa

-Hư hỏng của các móng xây thường do nước ngầm xâm thực hoặc do các tác động khác, làm cho mạch hồ xây bị thoái hóa, mất lực dính kết, các viên gạch xây long

lở, tạo ra những hang hốc trong khối xây

-Hư hỏng hóa học là do vật liệu bị ăn mòn, cường độ chịu lực của vật liệu giảm sút, dẫn đến hư hỏng toàn bộ móng Nguyên nhân của hiện tượng ăn mòn là do nước thải công nghiệp làm ô nhiễm nước ngầm tự nhiên và do nước ngầm chứa muối sul-phát … phá hoại cấu trúc đá ximăng

-Hư hỏng cơ học là khi móng bị nứt, gẫy, nghiêng do lún, khi này việc sửa chữa móng thường là gắn kín các khe nứt, hoặc gia cường móng bằng một vỏ áo bêtông để tải trọng truyền xuống móng điều hòa hơn

-Gia cường móng để sửa chữa sai sót :

-Đó là những sai sót đã phạm phải trong các khâu khảo sát, thiết kế, thi công và trong quá trình sử dụng

-Cường độ khối móng xây suy giảm thì phải phục hồi khả năng chịu lực của móng bằng cách phụt vữa ximăng gia cố, hoặc thay thế bằng móng mới

-Chiều rộng đế móng không đủ để phân bố tải thì phải mở rông thêm ra

-Gia cường để phòng ngừa :

Trang 21

-Các biện pháp gia cường phòng ngừa nhằm tạo trước khả năng chống các chuyển vị đứng và ngang của đất nền Chẳng hạn như trong các trường hợp :

• Xây dựng công trình mới quá gần công trình cũ, nên cần có biện pháp gia cường nền móng nhằm giới hạn sự chuyển vị của đất nền, bảo vệ công trình

• Xây dựng tầng hầm mới bên trong công trình cũ

• Xây dựng các công trình ngầm (đường ống, hầm ngầm … ) ở gần hay bên dưới móngcông trình có sẵn

• Lắp đặt các thiết bị sản xuất mới, gây rung động ảnh hưởng đến nền móng công trình cũ

-Gia cường để cải tạo:

-Cải tạo và nâng cấp công trình cũ nhằm tăng diện tích sử dụng, thay đổi chức năng sử dụng, thay đổi diện mạo đường phố trong quá trình phát triển đô thị

-Trường hợp gia cường nền móng cũ để chúng có khả năng chịu tải trọng mới, thì giải pháp nền đôi khi lại là yếu tố quyết định quy mô cải tạo, nâng cấp công –trình

-Xác định cơ chế và mức độ xuống cấp, và một số giải pháp khắc phục sự xuống cấp của công trình do nguyên nhân lún nền móng

-Kiểm tra dấu hiệu công trình bị xuống cấp do nguyên nhân nền móng, công tác kiểm tra chi tiết cần cung cấp thông tin liên quan đến biến dạng của công trình và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của biến dạng

-Vết nứt do lún nền móng : Đối với kết cấu bêtông cốt thép, các vết nứt do biến -dạng nền thường xuất hiện tập trung ở khu vực các độ cong tương đối lớn của đường cong lún Chiều của vết nứt vuông góc với chiều của ứng suất kéo chính do biến dạng nền sinh ra Đối với dầm và sàn, các vết nứt do lún thường các vết nứt thẳng góc với trục dầm và sàn Khi bị lún lệch hay lún ảnh hưởng của công trình lân cận thường xuất hiện các vết nứt xiên ở dầm,các vết nứt chéo góc 45o (trên mặt bằng sàn) ở các góc sàn

Trang 22

2.3-2.Sửa chữa vết nứt của cột

-Sửa chữa vết nứt của cột bêtông cốt thép bằng cách gia cường cột, gia cường bêtông cốt thép có thể gia cường bằng một vỏ áo cũng bằng bêtông cốt thép với cốt thép dọc và cốt đai đặt theo tính toán

-Chiều dầylớp vỏ áo phải lớn hơn 5 cm nếu đúc bêtông có cốp pha, và phải lớn hơn 3 cm nếu áp dụng biện pháp phun bêtông Trước khi gia cường phải đập vỡ các cạnh góc cột và gia cường mặt bêtông cũ

-Trong trường hợp làm vỏ áo chung quanh cột gặp khó khăn, ví dụ như cột ở gần mạch lún, mạch nhiệt, hoặc cột ở sát tường thì gia cường bằng cách tăng tiết diện cột về một phía hay hai phía

-Các thanh cốt thép dọc cũ và mới được hàn với nhau bằng các đoạn thép ngang ngắn hoặc bằng thép đai, tuỳ theo điều kiện cần tăng khả năng chịu chịu lực của cột lên ít hay nhiều

-Gia cường cột bằng cách mở rộng tiết diện không cần phải làm suốt chiều dài cột mà cò thể gia cường cục bộ ở những nơi có hư hỏng hay ứng suất quá lớn

-Gia cường những cột nhà nhiều tầng đúc bêtông toàn khối thì phải khoan những lỗ xuyên qua sàn tầng để cho cốt thép dọc đi qua

-Tuỳ theo tải trọng truyền xuống móng nhỏ hay lớn mà không cần tăng diện tích đế móng hoặc phải tăng diện tích đế móng, đôi khi phải hạ thêm cọc (cọc khoan hoặc đúc tại chỗ) và làm đài cọc bêtông cốt thép để truyền tải xuống các cọc mới

-Thông thường thì vỏ áo móng gia cường nối liền với vỏ áo cột gia cường, nếu như cột không cần thiết phải gia cường thì vỏ áo móng nên kéo dài lên cao quá chân cột độ 1-1.5 m mặt ngoài vỏ áo móng thường dốc, khi đúc bêtông cần làm cốp pha ngoài

2.3-3.Sửa chữa vết nứt của dầm

-Giới hạn bề rộng khe nứt : giới hạn bề rộng khe nứt trong kết cấu bêtông là một trong các chỉ số công năng quan trọng để đánh giá khả năng sử dụng bình thường của kết cấu Giới hạn bề rộng khe nứt được qui định trong tiêu chuẩn kết cấu bêtông

Trang 23

cốt thép hiện hành TCVN5574: 1991, tuỳ thuộc điều kiện làm việc của kết cấu và loại

cốt thép sử dụng

-Vị trí và đặc trưng phân bố vết nứt: Các vết nứt thường xuất hiện ở các vùng

dự đoán có ứng suất kéo lớnnhất trong kết cấu hoặc cấu kiện

-Đối với dầm đơn giản và dầm liên tục, các vết nứt vuông góc với trục dầm thường phát triển ở phần dưới của nhịp hoặc phần trên gối đỡ Các vết nứt xiên ở gần gối đỡ hoặc ở gần điểm đặt tải trọng tập trung Trong một số trường hợp, có thể có các vết nứt xuất hiện ở vùng chịu nén gần nơi có mô-men uốn lớn nhất của dầm Một số dạng vết nứt được thể hiện sau

-Đối với hình dạng vết nứt : Vết nứt do kéo gây ra thường vuông góc với ứng suất pháp, như chiều vết nứt chịu kéo của dầm chịu uốn luôn vuông góc với trục dầm, phía dưới rộng, phía trên nhỏ

-Kích thước của vết nứt : vết nứt xuất hiện trong giải đoạn sử dụng bình thường của kết cấu nói chung bề rộng khe nứt không lớn Bề rộng khe nứt giảm dần từ mặt ngoài kết cấu vào trong của bêtông ( Hình 2.3-3)

-Thời điểm xuất hiện vết nứt : Vết nứt thường xuất hiện khi tải trọng đột ngột tăng lên, ví dụ khi thảo dỡ cốp pha, lắp đặt thiết bị, khi cho kết cấu chịu tải và chịu vượt tải Trong kết cấu có thể xuất hiện các vết nứt khi bị lún không đều vượt qua giới- hạn cho phép Thới điểm xuất hiện vết nứt không nhất thiết là thời điểm sinh ra nứt

-Sự phát triển vết nứt : Vết nứt thường phát triển theo sự gia tăng của tải trọng

và thời gian tác động kéo dài của tải trọng cũng như sự gia tăng độ lún

-Hình thức gia cường dầm bằngcách tăng tiết diện về một phía thường phổ biến nhất Nhười ta hàn thêm cốt thép mới vào những cốt thép chủ cũ của dầm sau khi đã đục phá lớp bêtông bảo vệ bên ngoài

-Sửa chữa vết nứt dầm bằng các hình thức gia cường tăng tiết diện trình bày sau :

Trang 24

Hình 2.3-3 a) Dầm đơn gian b) Dầm liên tục c)Vết nứt do cắt d) Vết nứt do uốn cắt

-Nếu mức độ tăng cường khả năng chịu lực của dầm không nhiều lắm thì chỉ cần tăng số lượng cốt thép chủ bằng cách hàn thêm một số cốt thép phụ vào những cốt thép chủ cũ của dầm, rồi trát vữa ximăng hay phun bêtông Có thể hàn trực tiếp cốt thép mới vào cốt thép cũ, hoặc đặt một miếng nêm vào giữ chúng, miếng nêm này là đoạn thép tròn, đường kính 10 – 30 mm, dài độ 8 – 20 cm; các đoạn hàn cách nhau khoảng 100 cm Như vậy chiều cao của tiết diện được gia cường tăng lên 2 – 8 cm

-Nếu cần tăng cường khả năng chịu lực của dầm lên nhiều thì phải tăng chiều cao tiết diện dầm về phía dưới bằng cách đặt thêm cốt thép chủ mới, hàn vào cốt thép chủ cũ bằng cách các đoạn thép vai bò, thép đai đứng hoặc xiên

-Ở đây sự dính kết giữa bêtông cũ và bêtông mới là vấn đề rất quan trọng, nếu thi công không tốt thì hàng năm do tuổi bêtông khác nhau, độ dính kết sẽ giảm dần đi

Độ dính kết giữa bêtông cũ và bêtông mới phụ thuộc rất nhiều yếu tố như điều kiện đổ bêtông, phương pháp đầm và bảo dưỡng, cách thức gia công mặt tiếp xúc, thành phần hạt cốt liệu, liều lượng ximăng v.v …

-Đúc bêtông gia cường dầm có thể tiến hành từ trên xuống qua các lỗ đục sẵn trên sàn và xọc vữa xuống dầm

Trang 25

-Trong một số các trường hợp có thể áp dụng phương pháp phun bêtông vỏ áo thành nhiều lớp; mỗi lớp dầy không quá 15 mm

-Nếu khối lượng sủa chữa gia cường nhỏ thì có thể thi công bêtông các vỏ áo gia cường dầm và cột bằng một loại ngăn kéo đặc biệt Sau khi đánh sớm mặt bên người ta lắp hộp cốp pha vỏ áo cách mặt dưới sàn tầng một khoảng 100 – 150 mm Tiến hành đúc bêtông từng đoạn một bằng một ngăn kéo có ba thành, trong đó hai thành dọc biên đặt tỳ lên thành đứng của hộp cốp pha, còn đáy ngăn kéo thì đặt trên một giá đỡ thẳng đứng Khi đã đặt xong ngăn kéo vào vị trí làm việc của nó người ta

đổ vữa bêtông vào ngăn kéo rồi dùng bàn đẩy đẩy vữa xuống khe hở, đồng thời cho đầm dọc theo hộp

-Phương pháp gia cường dầm bằng cách tăng tiết diện có nhiều ưu điểm : nó kinh tế, tốn ít vật liệu mà hiệu quả tăng cường khả năng chịu lực cho kết cấu vẫn lớn, sửa chữa được những hư hỏng có trước, giữ nguyên tính chất toàn khối của của kết cấu bêtông cốt thép

-Khuyết điểm của phương pháp này thi công phức tạp, tốn nhiều công lao động, phải làm dàn giáo, cốp pha trong toàn bộ đoạn sửa chữa gia cường, phải đục, phải thi công đúc bêtông trong điều kiện khó khăn, không thể tiến hành công tác sửa chữa mà không ảnh hưởng đến sản xuất hoặc sử dụng

Trang 26

Chương III : CÁC BIỆN PHÁP SỬA CHỮA VÀ KHÔI PHỤC CÔNG

TRÌNH

-Trước khi trình bày về việc biện pháp sửa chữa và khôi phục công trình hư hỏng cần phơi cần nhắc xem việc sửa chữa từng phần có đạt được yêu cầu kỹ thuật không, hay nên thay thế toàn bộ công trình hư hỏng bằng xây dựng mới

-Việc sửa chữa bêtông riêng phần không có lợi trong các trường hợp sau đây :

• Cốt thép đã bị xâm thực và hư mục;

• Biến dạng nhiệt và biến dạng ẩm không đồng đều;

• Mô-đun đàn hồi của bêtông cũ và bêtông mới khác nhau, hậu quả là bêtông mới bị quá tải;

♦ Không loại trừ được hết mầm móng của rong rêu và nấm trong bêtông

Sau đây trình bày những biện pháp sửa chữa mặt ngoài bêtông bị hư hỏng

3.1-Sửa chữa và khôi phục bằng cách làm màng bảo vệ :

-Quét vữa ximăng lỏng hay vữa ximăng cát lên mặt bêtông tạo thành lớp màng bảo vệ rất tốt, chống được tác dụng của khí trời; những lớp màng này không thể bảo vệ bêtông chống xâm thực, chống được tác dụng nhiệt và ẩm

Cách thức thi công màng bảo vệ này như sau :

Nếu là bêtông mới đổ thì ngay hôm sau nên làm màng bảo vệ ngay để đảm bảo

sự dính kết chắc chắn

Trang 27

Nếu thi công màng bảo vệ trên mặt bêtông cũ thì cần phải tuân theo cách thức sau đây để đảm bảo cường độ và sự bền lâu của màng :

9 Mặt bêtông phải sạch, không mốc rêu, bụi

9 Mặt bêtông phải nháp, không cần đẽo sờm, mà chỉ cần dùng bàn chải sắt chải sạch cho đến lớp bêtông rắn chắc bên dưới,như vậy vữa sẽ dính chặt vào mặt bêtông nhưng không vì thế mà trộn vữa quá lỏng

9 Phải bảo dưỡng màng bảo vệ trong một tuần lễ, không được để nó bị khô cưởng bức luôn, phải che đậy vữa ướt khỏi tác dụng của gió và ánh nắng

Thành phần vữa nên như sau :

♦ Lớp đầu tiên gồm một phần cát và một phần ximăng trộn lẫn với nước đến mức độ chảy dẻo; dùng chổi sắt quét vữa cẩn thận trên mặt bêtông

♦ Lớp thứ hai (lớp giữa) gồm 1,5 phần cát nhỏ và một phần ximăng trộn lẫn với nước, khô hơn loại vữa trên ( vữa lớp đầu tiên), và quét thành lớp mỏng

♦ Lớp thứ ba ( không bắt buộc) gồm ximăng và nước, quét bằng chổi hoặc phun bằng vòi phun vữa

-Khoảng cách giữa các lớp vữa tối thiếu là 3 – 4 giờ Lớp trước phải kịp khô quánh mới được quét lớp mới lên trên, Khoảng cách giữa hai lớp độ 4 giờ là thích hợp nhất, vì như vậy trong ngày có thể quét được ba lớp, thi công vào lúc chiều, nhiệt độ ban đêm phù hợp hơn, vữa có thể khô rắn hoàn toàn mà co ngót rất ít

¾ Chiều dầy của cả ba lớp vữa thường không nên quá 3 mm

¾ Thi công màng bảo vệ trên mặt phẳng đứng tiến hành từ trên xuống dưới và đồng thời một lúc cho toàn bộ mặt phẳng, cũng giống như thi công trát

¾ Vữa mới chế trộn xong không nên dùng ngay, mà nên để nó trong thùng chứa độ một giờ sau, không nên đổ thêm nước trước khi sử dụng vữa nên trộn lại

¾ Những màng bảo vệ thi công tốt, đảm bảo cho bêtông chịu được tác dụng của khí trờilâu 20 năm

3.2-Sủa chữa và khôi phục bằng cách phun vữa và tô trát vữa

-Biện pháp phun vữa : Biện pháp phun vữa được áp dụng để tạo nên lớp vỏ

bảo vệ chống tác dụng khí trời và chống thấm mặt bêtông Chiều dầy của lớp vữa phun

Trang 28

thường không dầy quá 7,5 cm Chất lượng dính kết khá cao, nếu đánh sờm mặt bêtông trước khi phun vữa thì độ dính kết của lớp vữa với mặt nền càng tăng hơn nữa

Có hai loại phun khô và ướt

a)- Loại phun khô là loại trộn khô cát và ximăng trước; hỗn hợp khô

được vận chuyển theo đường ống bằng khí nén từ máy trộn đến vòi phun, cùng dùng luồng khí nén này để phun hỗn hợp lên mặt bêtông; hỗn hợp ximănng cát khô khi ra khỏi vòi phun được trộn lẫn với nước phun

b)- Loại phun ướt là loại trộn ximăng, cát và nước cùng một lúc trong

máy trộn, rồi bơm vữa lỏng theo đường ống ra vòi phun, sau đó khí nén sẽ phun vữa lên mặt bêtôtng

-Trong sửa chữa, lớp lót đầu tiên mà thi công theo phương pháp trát thì không đảm bảo chất lượng dính kết, vì lực miếtvữa của người thợ cũng như việc “băm” vữa tươi đều không bảo đảm sự dính kết với lớp nền được tốt Còn vữa được phun thẳng góc lên mặt bêtông bằng một áp lực sẽ bám chắc vào mặt nền

-Trước khi phun vữa phải làm sạch, đánh sờm và rửa mặt nền Lớp đầu tiên gồm cát và ximăng với thành phần 2/1, đảm bảo được sự bám chắc vào nền, các lớp ngoài có thể dùng loại vữa với thành phần nghèo hơn là 3/1 – 4/1

-Muốn tăng cường cho lớp vữa phun, thì bọc thêm một lưới thép với mắt lưới 7,5 x 7,5; 10 x 10 và 15 x 15cm, rồi phun vữa phủ lên, lưới thép lien kết vào bêtông

cũ bằng các đinh chốt, đóng vào bêtông bằng súng bắn đinh Nếu kết cấu là cột nhà thì bọc lưới thép chung quanh cột, nếu là bộ phận có hình dáng phức tạp thì uốn cong lưới thép bọc quanh bộ phận đó Lưới thép làm cho lớp vữa phủ ngoài có khả năng chịu được lực kéo nhất định, ngoài ra lưới còn chịu các ứng suất phụ, ví dụ như ứng suất nhiệt Lớp vữa phun dầy chịu được một phần tải trọng tác dụng lên kết cấu

-Phun vữa ở chỗ góc cạnh của hai mặt phẳng thì phải ghép vào đó thanh thước dẹt, khi phun vữa lên một mặt xong thì ngày hôm sau lại phun vữa lên mặt phẳng kia

-Biện pháp phun vữa tốn ít công hơn biện pháp trát vữa khi mặt thi công có ít ô cửa và ít giờ; nó thường được áp dụng vào việc sửa chữa những xi-lô, cầu cảng có những mặt, sàn và trụ bêtông với diện tích lớn Không nên áp dụng biện pháp sửa chữanày cho những mặt phẳng kiến trúc phức tạp, có những đường nét tinh xảo, vì bề

Trang 29

mặt sau khi phun thì gai và mất hết đường nét kiến trúc trên mặt Không được dùng bay xoa nhẵn mặt lớp tươi mới phun

-Biện pháp tô trát vữa:

- Phương pháp tô trát vữa so với phương pháp phun vữa có hai ưu điểm như sau

¾ 1-Có thể áp dụng vào sửa chữa các mặt phẳng và cạnh góc với độ chính xác

và tinh xảo cao, vừa bảo tồn vừa nâng cao được đường nét kiến trúc của nhà

¾ 2-Vữa tô trát lên mặt thường khá dẻo, nên chất lượng đồng nhất hơn khi phun, vì vậy phương pháp này được áp dụng khi yêu cầu lớp vữa bảo vệ chống được xâm thực của hóa chất và của nước( khi sử dụng thêm phụ gia)

Để bảo vệ các công trình bêtông và gạch khỏi tác dụng của nước, như ở phần tầng hầm, nên sử dụng loại vữa trát

-Phương pháp tô trát vữa có khuyết điểm sau :

♦ Chiều dầy lớp vữa trát bị giới hạn trong khoảng 30 mm Tô trát những lớp vữa dầy cần có thợ chuyên nghiệp và phải kiểm tra theo dõi chất lượng thường xuyên

♦ Lớp vữa tô trát dễ bị nứt nẻ và bong vỡ theo thời gian

♦ Giá thành cao vì việc chuẩn bị bề mặt tốn công

-Thi công tô trát vữa gồm những quá trình sau :

Phá bỏ lớp bêtông cũ, thay thế cốt thép hoặc thêm cốt thép ở những nơi cần thiết, tô trát vữa ximăng cát thay thế lớp bêtông cũ Kết quả là tạo nên một lớp phủ ngoài, bảo vệ được lõi bêtông và chịu đựng được một phần tải trọng

-Chuẩn bị mặt trát là giai đoạn quan trọng nhất; trước tiên phải phá bỏ các cục bêtông yếu hoặc bong; đánh sờm mặt nền sâu độ 2 – 6 mm Đánh sờm thủ công bằng đục hoặc bằng búa tay có nhiều răng nhọn thường tốt hơn là đánh sờm bằng búa máy

-Trong khi đánh sờm mặt có thể phát hiện được những chỗ yếu, hư hỏng của công trình, cần phải phá bỏ đi ngay, và gia cường thêm

Trang 30

-Trát vữa ximăng cát tiến hành thành vài ba lớp, chiều dầy mỗi lớp không nên quá 6- 9 mm Cũng có thể trát vữa lên trên lưới thép

-Lớp thứ nhất (vữa vẩy) làm nhiệm vụ liên kết mặt nền và lớp vỏ;thành phần lớpvữa này thường là 1/1

-Mặt bêtông phải tươi ẩm trước để cho bêtông cũ không hút nước của vữa,làm thay đổi tỷ lệ nước ximăng

-Các lớp vữa trát phủ phải để khô đến khi chúng chịu đựng được trọng lượng của lớp trát sau Mùa hè thời gian để vữa khô là 4 giờ; mà mùa đông là 6 giờ

-Lớp trát thứ hai ( lớp lót ) dầy khoảng 6 mm, trát bằng bay; thành phần gồm hai phần cát, một phần ximăng; lớp này dùng làm lớp chuẩn bị cho lớp trát ngoài cùng, dầy khoảng 9 mm

-Lớp trát thứ ba ( lớp bọc ngoài) chỉ tiến hành sau khi lớp trát thứ hai đã khô cứng Vào mùa hè có thể trát cả ba lớp trong một ngày; về mùa đông có khi lớp trát thứ ba phải để sang ngày hôm sau Trường hợp phải lưu sang ngày hôm sau thì trước khi trát lớp vữa thứ bacần phải vẩy vữa với thành phần (1/1) như lúc ban đầu, để đảm -bảo sự dính kết giữa hai lớp trát Khi này lhông thể đánh sờm, vì có hại đến chất lượng lớp vữa trát

-Lớp trát thứ ba thường là lớp cuối cùng, làm bằng vữa có thành phần (3/1), trát bằng tay, sau là bằng bàn xoa gỗ

-Nếu số lớp trát lớn hơn ba, thì các lớp lót dùng vữa có thành phần (2/1) Mép lớp bên trên nên cách lớp bên dưới một đoạn khoảng 15cm, để cho các mạnh ngừng không chồng lên nhau, cả về chiều đứng lẫn chiều ngang

-Để tăng chất lượng lớp vữa trát bảo vệ nên dùng thêm phụ gia làm chậm đông kết và làm cho lớp vữa có tính chống thấm cao Làm vữa chậm đông kết còn giúp vào việc tăng diện tíchkhu vực thi công, tăng độ dính kết giữa các lớp Riêng lớp vữa ngoài cùng tiếp xúc với khí trời

cần được bảo dưỡng cẩn thận để vữa khỏi mau khô nước, ảnh hưởng không tốt đến chất lượng và tuổi thọ lớp vữa trát

Trang 31

3.3-Sửa chữa và khôi phục trần bêtông và độ sâu đục bêtông cũ

-Đối với trần bêtông :

-Sau khi mặt trần đã chuẩn bị tốt, người ta vẩy nước vữa làm cho bề mặt thành sần sùi Nếu phun vữa thì mỗi lớp không được dầy quá 6mm Lớp thứ nhất ninh kết và đạt tới một cường độ nhất định mới được thi công lớp tiếp theo Lớp vữa vẩy bằng tay dính chắc vào mặt nền hơn lớp vữa phun bằng súng phun vữa

-Cần thường xuyên kiểm tra độ dính của lớp vữa sửa chữa sửa chữa trần mất nhiều thời gian hơn sửa chữa tường và sàn; mỗi ngày thường chỉ thi công bằng bàn xoa, chiều dầy lớp này phải nhỏ nhất

-Đối với độ sâu đục bêtông cũ :

-Trước khi sửa chữa phải đục bỏ phần bêtông xốp, hư hỏng, kém chất lượng -Có rất nhiều ý kiến về vấn đề này có nên phá bỏ chỗ bêtông có chất lượng tốt không, nếu như trong mặt phẳng có cốt thép vẫn còn vết nứt, tức vẫn còn nguy cơ cốt thép bị xâm thực Trong trường hợp này chỉ cần nên đục phá bêtông đến mặt phẳng có cốt thép hay phải tiếp tục đục phá bêtông cho đến khi cốt thép bị trơ lộ hoàn toàn

-Đã có những trường hợp người ta chỉ đục phá bêtông đến trục của các thanh cốt thép, mà kết quả sửa chữa vẫn tốt là vì hư hỏng chỉ ở trong bêtông Lúc này lớp bảo vệ mới phải chống nước tốt để khỏi xảy ra hư hỏng sau này

-Trong trường hợp chung, nếu diện tích tiết diện các cốt thép, đặt song song với một cạnh nào đó của kết cấu, chiếm trên 33% diện tích mặt cạnh đó, thì nên đục phá bêtông vào sâu hết đường kính cốt thép, bất kể chiều dầy lớp bảo vệ thế nào Còn nhiều diện tích tiết diện cốt thép chiếm vào khoảng 25% diện tích mặt cạnh thì một một số thanh cốt thép được đục trơ đến một nửa đường kính, còn một số thanh cốt thép được đục trơ hoàn toàn Trong dầm có bốn thanh cốt thép chịu kéo thì các thanh cốt thép ở góc cần được phá trơ hoàn toàn

-Nếu diện tích cốt thép nhỏ hơn 10% diện tích mặt cạnh thì toàn bộ các thanh cốt thép được đục trơ đến một nửa tiết diện cốt thép

Trang 32

-Trong trường hợp nước có thể thâm nhập vào trong bêtông không qua lớp bảo

vệ của một cạnh kết cấu, mà qua mặt cạnh khác thì phải đục phá trơ các thanh cốt thép hoàn toàn không kể chúng được đặt ở phía nào

-Đục phá bêtông sâu quá nửa đường kính cốt thép tức làm tăng độ dính kết hơn

3.4-Sủa chữa và khôi phục với xử lý cốt thép và dính kết giữa bêtông

cũ và bêtông mới

-Đối với xử lý cốt thép:

-Trong trường hợp cốt thép bị xâm thực, gỉ sét phá hoại lớp bêtông bảo vệ, hoặc ngược lại lớp bêtông bảo vệ bị phá hoại là nguyên nhân để cho cốt thép bị xâm thực, đều cần phải xét xem khả năng chịu lực của cốt thép đã giảm sút đi bao nhiêu Thông thường thì cường độ cốt thép đã lớn hơn yêu cầu

Có hai biện pháp xử lý cốt thép như sau :

a)-Đánh sạch cốt thép đến mức có thể phục hồi độ dính kết giữa cốt thép

-Không nên quét lót quá nhiều cốt thép của kết cấu, vì như vậy phải phá dỡ lớp bêtông bảo vệ trên một khoảng lớn, do đó mà có thể xảy ra hiện tượng từ biến trong bêtông

-Đánh sạch gỉ cho cốt thép ở hiện trường bằng chải sắt

-Trường hợp hư hỏng vì vị trí cốt thép đặt sai so với mặt bêtông, thì cần nắn sửa -chữa cốt thép và cốt đai về đúng vị trí thiết kế

-Đối với dính kết giữa bêtông cũ và mới :

Trang 33

-Đảm bảo sự dính kết giữa bêtông cũ và mới là vấn đề khó khăn, vì bêtông mới

co ngót và biến dạng rất nhiều sau khi ninh kết Hiện nay chỉ có một biện pháp tăng cường độ dính kết là tăng cường độ dính kết là làm tăng bề mặt tiếp xúc giữa vữa tươi

và bêtông cũ theo hai cách thức sau đây :

a)- Quét một lớp sữa ximăng mỏng lên mặt bêtông đã chuẩn bị và sau đó cào sờm mặt

b)-Phun bằng áp lực mạnh hay bằng cách vẩy đáp một lớp sữa ximăng ( chất kết dính ) thẳng góc cho mặt sửa chữa

-Biện pháp rải miết vữa bằng bay không làm cho các hạt vữa bám dính tốt vào

bề mặt đánh sờm, mà sẽ chảy trên mặt đó, vì chúng không thâm nhập sâu vào bên trong được

-Biện pháp phun vữa bằng áp lực mạnh lên bề mặt đảm bả chất lượng dính kết tốt nhất, vì những hạt vữa thấm sâu được vào trong các lỗ rộng của bêtông cũ Phương pháp phun vữa khô tạo được tốc độ bay lớn của hạt vữa, nhưng khối lượng hạt đập vào mặt bêtông cũ lại nhỏ so với khi vẩy vữa bằng thủ công Còn khi phun vữa ướt thì cả tốc độ và khối lượng hạt đập vào bêtông cũ đều nhỏ

-Nếu sửa chữa vào mùa hè, mặt bêtông cũ nắng nên bị nóng cần phải làm nguội bằng tưới ẩm vài ba lần trước khi lấp vữa Lớp vữa đầu tiên mà đắp phủ lên bề mặt nóng thì mau mất nước, cường độ sẽ giảm sút Điều này cũng cần chú ý đến khi thi công vào mùa hanh; vào lúc đó gió khô Lớp vữa sau phải phủ lên mặt còn ẩm của lớp vữa trước không nên chậm quá hai giờ

-Mỗi lớp vữa sau là màng phủ lên lớp vữa trước; chỉ còn lớp vữa ngoài cùng chịu tác dụng của mặt trời lâu nhất, ở đó có thể hình thành những vết nứt Trên lớp vữa phun dầy 5 cm thì chiều sâu vết nứt do nắng mặt trời tới 1,2 cm; chiều sâu vết nứt có thể lớn hơn nếu chiều dầy lớp vữa lại nhỏ hơn

3.5-Sửa chữa và khôi phục theo tỷ lệ cát-ximăng và nước –ximăng trong vữa sửa chữa

-Tỷ lệ cát-ximăng trong vữa sửa chữa:

-Trong vũa sửa chữa nếu dùng nhiều cát nhỏ hạt quá thì chất lượng vữa sẽ kém, nếu dùng cát to hạt thì chất lượng vữa cao hơn Nguyên nhân là cát nhỏ hạt có bề mặt

Trang 34

độ nhỏ nào đấy; vữa có cát nhỏ lại cần một lượng nước lớn để đảm bảo tính dễ đổ khuôn;

-Muốn sử dụng cát nhỏ hạt trong vữa thì phải tăng liều lượng ximăng

-Thông thường thì vữa có tỷ lệ cát-ximăng là 2 đã đáp ứng được yêu cầu sử dụng vào sửa chữa; tỷ lệ này càng nhỏ thì vữa càng bền chắc hơn

-Cỡ hạt của cát nằm trong khoảng 4,75 và 0,105 mm, trong đó thì các cỡ hạt từ 3,17 đến 0,6mm yêu cầu tỷ lệ cát – ximăng là 2; nếu cỡ hạt nhỏ hơn thì lệ đó phải giảm, và ngược lại cỡ hạt lớn hơn tỷ lệ đó phải tăng

-Lượng ximăng trong vữa phải đủ để đảm bảo bao bọc các hạt cốt liệu và lấp kín các lỗ rỗng trong vữa Nếu cốt liệu chỉ có một loại cỡ hạt thì lượng ximăng sử dụng phải tăng

-Nếu cát còn đi qua được mắt sàng có kích thước 0,211 mm thì vữa phải dùng

Bảng tính toán số phần trăm

100

d c b a

+ + +

Lớp thứ hai có thể là loại vữa nghèo ximăng hơn, lượng ximăng chiếm từ 2/3 đến 1/2 của lượng ximăng lớp thứ nhất Lớp thứ ba thì từ ½ đến 1/3 lượng ximăng của lớp thứ nhất

Trang 35

-Sàn ximăng làm việc chịu chà sát, bào mòn, nên lớp trên cùng làm bằng loại vữa có thành phần giống như lớp thứ hai

-Đối với tỷ lệ nước – ximăng trong vữa sửa chữa;

-Xác định tỷ lệ

X

N

là để đảm bảo tỷ trọng (độ chắc đặc ) và cường độ cần thiết của vữa

-Đường cong trong hình sau này (hình III-1) cho biết sự thay đổi thể

tích của hỗn hợp cát, ximăng và nước khi tỷ lệ

-Cần chú ý một điều là nếu bề mặt gia công được tưới ướt đến bão hòa nước thì đến lúc đắp vữa ra ngoài, bề mặt đó vẫn có thể lại hút một lượng nào đó

-Người ta thấy vữa nhả nước rất khó ở một tỷ lệ

Trang 36

không làm ướt bề mặt, cho nên phải cho thêm một lượng nước nào đó, lượng nước này tất nhiên không phải chỉ để làm ướt bề mặt, mà cả để làm ninh kết

-Hạt ximăng có trọng lượng riêng vào khoảng 3 tấn/m3; trọng lượng thể tích của ximăng là 1,44 tấn/m3; như vật có khoảng 50% thể tích ximăng là lỗ rỗng nếuximăng

đó bão hòa nước(trọng lượng riêng là 1) thì tỷ lệ

-Lớp vữa gồm nhiều lớp mỏng có tỷ lệ

X

N cao, nhưng khả năng xuất hiện vết nứt lại giảm, vì nếu các vết nứt co ngót có xuất hiện ở lớp mỏng dưới, thì lớp mỏng trên sẽ lấp kín chúng ngay

¾ Xác định tỷ lệ

X

N sao cho vữa chống thấm tốt Vữa khô không thể làm cho chắc đặc được, vữa càng dẻo thì các hạt cát càng dễ được bao bọc bằng keo ximăng Nếu tăng tỷ lệ

X

N lên đến điểm vữa đạt được độ chắc đặc ( tỷ trọng ) lớn nhất, thì tính thấm nước của lớp phủ sẽ giảm, nhưng thì vữa thật khô rồi thì mặt vữa trở thành hấp thụ Lúc này tính chống thấm nước của lớp phủ hầu như không thay đổi gì, nhưng tính thấm khí của vữa lại tăng Các phụ gia kỵ nước giúp được làm giảm tính thấm khí của lớp phụ gia và giảm lượng nước sử dụng dư

-Tóm lại trong thi công sủa chữa mặt bêtông, dư nước trong vữa không hại bằng thiếu nước Thi công lớp phủ bên ngoài theo kiểu nhiều lớp mỏng, kỵ nước sẽ đạt được chất lượng cao

Trang 37

Chương IV : ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DÁN FRC

4.1-Vật liệu vải sỏi tổng hợp

-Vật liệu tấm vải sợi của FRC dùng trong xây dựng thường có 2 dạng cơ -bản: dạng ướt và dạng chế tạo sẵn trong nhà máy

-Dạng ướt nghĩa là loại chế tạo tại hiện trường thi công

-Dạng chế tạo sẵn trong nhà máy nghĩa là dạng sản xuất sẵn và cuộn có kích thước và chủng loại khác nhau sau đó ráp nối tại công trường

Cách phân loại hai dạng sản phẩm FRC là cách phân loại tương tự như cách phân loại sản phẩm bêtông cốt thép ( kết cấu bêtông cốt thép toàn khối đúc tại chỗ và cấu kiện bêtông cốt thép đúc sẵn trong nhà máy theo kích thước tiêu chuẩn hoặc đơn đặt hàng ) Dạng vật liệu tấm sợi tổng hợp FRC chế tạo sẵn trong nhà máy theo những kích thước, kiểu dáng đã tiêu chuẩn hóa , nên có thể sản xuất hàng loạt rút ngắn thời gian thi công trên công trường.Tuy vậy loại tấm sợi FRC chế tạo sẵn này cũng có những nhược điểm của nó là khó thích ứng với việc thi công với những kết cấu có hình dáng, vị trí, kích thước đặc biệt, hoặc kết cấu có sự thay đổi hình dáng vị trí, kích thước thực tế trên công trường Dạng kết cấu chế tạo sẵn có thể dưới dạng tấm hoặc dạng thanh, và có thể sử dụng gia cường bên ngoài hoặc bố trí bên trong như cốt thép

-Dạng vật liệu FRC chế tạo tại công trường sẽ tốn nhiều thời gian hơn, vì phương cách chế tạo sẽ phụ thuộc vào từng hoàn cảnh thực tế cụ thể trên công trường Tuy nhiên nó mở ra khả năng thích ứng với việc thi công trên những kết cấu phức tạp,

có sự thay đổi hình dáng, vị trí, kích thước, có thể sử dụng để gia cường kết cấu tại những những chỗ khó thi công như mối nối … loại sản phẩm tấm sợi FRC chế tạo công trường chỉ dùng vào việc gia cường bên ngoài kết cấu (căng cáp ứng suất, dán gia cường vùng chịu kéo)

Trang 38

Bảng 1 Mô hình phương pháp gia cường vật liệu

1 CFRP cường độ nén Kg/cm-ply 〉 Tốt hơn 550 CNS 13555

2 CRFP môđun nén Kg/cm-ply 〉 Tốt hơn 30000 CNS 1355

3 Hỗn hợp trộn nhựa thông % 〉 Tốt hơn 99 CNS 13069

4

Cường độ dính giữa chất

dùng để sơn lót và BTCT Kg/cm2

〉 Tốt hơn 20 hoặc không thực hiện bề mặt BTCT

-Sản phẩm vật liệu gia cường sử dụng sợi tấm

Cácbon, sợi cácbôn đã sắp xếp liên tục và sắp cho thẳng

hàng đều trong một chiều, phải thoả mãn giá trị dạng 1

và 2 của bảng 1ở trên (chu et al 1999) xem Hình A

Hình B Nhựa thông và

độ cứng của RC kết cấu

-Trong nhựa thông Hình B nhựa thông epoxi

không thể hoà tan Nội dung có thể cho phép theo hàng 3

của bảng 1ở trên Xem trong Hình B

Hình D Mài bề mặt BTCT

Hình C làm sách bề mặt BTCT

với máy thổi khí

-Trong Hình C Người ta sử dụng bàn chải hoặc

dụng máy thổi khí áp lực cao loại bỏ bụi và mảnh nhỏ để

bảo đảm sạch bề mặt của BTCT

-Trong Hình D.Người ta làm sạch bề mặt BTCT bằng sử

dụng máy mài, và phun cát làm ráp bề mặt của bêtông

cốt thép

Trang 39

Hình E Đục bỏ phần bị ăn mòn Hình F Trát mát tít

-Các vết nứt gãy trênbề mặt kết cấu (Trong Hình ) cách xử lý sự ăn mòn khi cốt thép lộ ra ngoài bề mặt kết cấu Trong Hình F Người ta trát mát tít vào vị trí đã

đục phá và sau đó bù lại với vữa epoxi

-Nhựa thông là chất dùng để sơn lót trong xây dựng Trong Hình J và K chuẩn

bị nhựa thông và bề mặt kết cấu

Trang 40

-Xác định mực trên bề mặt Hình L và M Pha trộn nhựa thông đầu tiên lấp

bằng mát tít và độ cứng với xác định tỷ lệvà đặt noótrong việc pha trộn Áp dụng pha trộn trước thới hạn sử dụng Sau khi lấp bằng mát tít nhựa thông khô Áp dụng lấp bằng mát tít tại yếu vết đen và sử dụng dụng cụ như lưỡi bề mặt của lớp

-Trong Hình N.Đảm bảo lớp sơn lót cho khô trước khi phun nhựa thông dính

-Trong Hình O Tấm FRP có thể cắt theo yêu cầu kích thước

-Trong Hình P Lớp đầu tiên của hoá chất epoxi nhựa thông trộn tốc độ chậm

trong thùng trộn và sử dụng vật liệu trước khi hết hạn sử dụng

-Trong Hình Q Áp dụng nhựa thông dán dính với ống cuộn, chải đều trên bề

mặt của kết cấu

-Trong Hình R Đặt tấm FRP trên bề mặt đã quét nhựa thông và miết chặt vải

vào lớp nền để loại bỏ lớp bong bóng

-Trong Hình S.Sử dụng trục lăn chải với sợi vải theo chiều song song để sợi

những hoàn toàn ngấm vào nhựa thông và loại ra bong bóng

Ngày đăng: 03/04/2021, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w