Theo đúng kế hoạch công trình đại lộ Đông tây phải hoàn thành vào năm 2008, tuy nhiên đến nay công trình vẫn chưa hoàn thành với nhiều nguyên nhân khác nhau mà chủ yếu là nguyên nhân từ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
Cán bộ hướng dẫn khoa học : ………
………
Cán bộ chấm nhận xét 1: ………
………
Cán bộ chấm nhận xét 2: ………
………
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM, BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, Ngày ………… tháng … …… năm 2010 Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm: 1 ……….……
2 ……….……
3 ……….……
4 ……….……
5 ……….……
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV Bộ môn quản lý chuyên nghành
Trang 3NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
1 TÊN ĐỀ TÀI : ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ GIỮA THỜI GIAN VÀ CHI PHÍ CỦA CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM.
2 NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG :
Xác định mối quan hệ giữa thời gian và chi phí theo phương trình Bromilow’s time cost thông qua các dự án xây dựng ở Việt Nam đã được thực hiện tùy theo tính chất đặc điểm của từng loại dự án
Cải thiện mô hình Bromilow’s time cost bằng cách xác định mối quan hệ thời gian với các yếu tố tác động khác
3 NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 25-01-2010
4 NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 02-07-2010
5 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN : T.S LƯU TRƯỜNG VĂN
Nội dung và đề cương Luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM BỘ MÔN KHOA QL CHUYÊN NGÀNH
QL CHUYÊN NGÀNH
TS LƯU TRƯỜNG VĂN TS LƯƠNG ĐỨC LONG
Trang 4Luận văn tốt nghiệp là thành quả cuối cùng thể hiện những nổ lực và cố gắng của học viên cao học trong suốt quá trình 2 năm học tập Để có được ngày hôm nay, em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến toàn thể các thầy cô giáo trường ĐH Bách Khoa Tp.HCM, đặc biệt là các thầy cô khoa Xây Dựng và bộ môn Thi Công Trong suốt 2 năm qua, các thầy cô đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt cho em những kiến thức quý báu, giúp em mở rộng thêm tầm hiểu biết nhằm bắt kịp với xu thế phát triển chung của đất nước và thế giới Cho em gửi lời cảm ơn đến TS Lưu Trường Văn, người thầy đã tận tâm chỉ bảo, hướng dẫn em trong quá trình làm luận văn để em có thể hoàn thành đúng thời hạn Những ý kiến đóng góp, hướng dẫn của thầy là rất quan trọng góp phần thành công cho luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè tôi, những người cùng lớp đại học và cao học đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập dữ liệu khảo sát, đây là một phần quan trọng trong quá trình thực hiện luận văn này
Xin gửi lời biết ơn đến bố mẹ, những người thân trong gia đình và các bạn bè khác của tôi
đã luôn động viên, cổ vũ tinh thần giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn tất cả mọi người !
Tp Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2010
PHẠM CHÍ CÔNG
Trang 5Thời gian hoàn thành dự án là một trong những khái niệm quan trọng trong việc đánh giá
sự thành công hoặc sự biến đổi trong các dự án xây dựng Một phương trình mối quan hệ thời gian và chi phí cho các dự án xây dựng ở Việt Nam được thực hiện từ mô hình mối quan hệ thời gian và chi phí của Bromilow Dữ liệu thu thập được từ 57 dự án đã được thực hiện từ năm 2000 đến năm 2010, và chi phí thực hiện dự án đã được hiệu chỉnh về cùng một thời điểm gốc đó là năm 2009
Phần mềm SPSS ® là công cụ chính dùng để phân tích dữ liệu Kỹ thuật phân tích dùng trong phân tích này là kỹ thuật phân tích hồi quy tuyến tính đơn và bội
Nhiều phương trình thời gian - chi phí đã được khám phá ra theo từng loại hình dự án, hình thức chủ đầu tư và phương thức lựa chọn nhà thầu nghiên cứu cho thấy loại hình dự
án giáo dục, hình thức chủ đầu tư “nhà nước” và hình thức đấu thầu “rộng rãi” cho ra kết quả thời gian hoàn thành dài nhất với một 1 tỷ VND Hệ số R2 hiệu chỉnh nằm trong khoảng 0.236 đến 0.546 cho thấy khả năng giải thích, dự đoán của mô hình tương đối thấp
Kết quả nghiên cứu có thể cung cấp một công cụ tham khảo cho những người trong ngành xây dựng tại giai đoạn đầu trong quá trình thực hiện dự án tại Việt Nam Kết quả của mô hình không dự định bác bỏ hay thay thế các kỹ thuật lập tiến độ chi tiết đã có trước đây
Trang 6The concept of project duration is important in assessing the success or viability of a construction project A time – cost relationship for construction projects in Viet Nam has been developed on Bromilow’s time-cost model Data set was collected from 57 historical building construction projects completed between 2000 to 2010 which were adjusted by Construction cost index (CCI) to 2009 price
SPSS ® software was primary data analysis tool The statistical technique used for the analysis was a multiple linear regression
Various time-cost equations were specified respected to sector, project type and contractor selection method It is shown that public, school and selective contractor, selection building projects have the longer construction duration within their groups The adjusted R-square coefficients that rang from 0.236 to 0.546 are rather low that excite the modification to original Bromilow’s model in future
Models from this study can serve as a reference tool for practitioners at the early stage of building projects in Viet Nam Results from this study are not intended to reject or replace the detailed construction scheduling techniques
Trang 7CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Tổng quan: 1
1.2 Cơ sở hình thành đề tài: 7
1.3 Mục tiêu nghiên cứu: 12
1.4 Phạm vi nghiên cứu: 13
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: 13
CHƯƠNG 2: KHẢO LƯỢC CÁC VẤN ĐỀ ĐÃ NGHIÊN CỨU 15
2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài: 15
2.2 Các nghiên cứu trong nước: 18
CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 23
3.1 Các khái niệm về dự án và tiến độ xây dựng 23
3.2.1 Dự án và dự án xây dựng 23
3.2.1.1 Các loại dự án 23
3.2.1.2 Các tiêu chuẩn để đánh giá sự thành công của một dự án: 24
3.2.2 Tiến độ xây dựng: 24
3.2 Lý thuyết bảng câu hỏi: 25
3.2.1 Giới thiệu: 25
3.2.2 Mẫu nghiên cứu: 26
3.3 Khái quát về phân tích hồi quy 27
3.3.1 Hồi quy tuyến tính đơn 27
3.3.1.1 Các giả định đối với phân tích hồi quy tuyến tính đơn 27
3.3.1.2 Độ chính xác khi ước lượng các tham số của tổng thể từ các hệ số hồi quy của mẫu 29 3.3.1.3 Đánh giá độ phù hợp của mô hình 30
3.3.1.4 Kiểm định các giả thuyết 32
3.3.1.5 Dự đoán bằng mô hình hồi quy: 33
3.3.1.6 Chuẩn đoán sự vi phạm các giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính 34
a Giả định liên hệ tuyến tính 34
b Giả định phương sai của sai số không đổi 35
c Giả định về phân phối chuẩn của phần dư 35
d Giả định về tính độc lập của sai số (không có tương quan giữa các phần dư) 35
Trang 83.3.2.1 Đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính bội 36
3.3.2.2 Đo lường đa cộng tuyến: 37
3.4 Phần mềm SPSS: 38
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
4.1 Thiết kế bảng câu hỏi: 39
4.2 Nội dung bảng câu hỏi: 40
4.3 Thu thập số liệu khảo sát 41
4.4 Đánh giá đối tượng tham gia khảo sát 41
4.4.1 Thời gian công tác 41
4.4.2 Vị trí công tác hiện tại 42
4.4.3 Vị trí của anh/ chị trong dự án đã tham gia 43
4.4.4 Quy mô dự án lớn nhất mà anh/ chị đã tham gia 45
4.5 Phân tích sơ bộ tập mẫu 46
4.5.1 Lựa chọn mẫu đưa vào phương trình hồi quy 46
4.5.2 Loại bỏ mẫu không đủ dữ liệu 48
4.5.3 Loại hình dự án 50
4.5.4 Hình thức chủ đầu tư 51
4.5.5 Phương pháp đấu thầu 52
4.5.6 Thời gian hoàn thành dự án 52
4.5.7 Chi phí thực hiện dự án 54
4.5.8 Tổng kết 55
4.6 Xây dựng phương trình mối liên hệ thời gian và chi phí bằng mô hình hồi quy đơn tuyến tính 56
4.6.1 Mô hình mối quan hệ giữa thời gian và chi phí của Bromilow 56
4.6.2 Xây dựng mô hình hồi quy đơn tuyến tính 57
4.6.3 Kiểm tra có hay không sự vi phạm đến các giả định của mô hình hồi quy 60
4.7 Xây dựng phương trình thời gian hoàn thành dự án bằng mô hình hồi quy tuyến tính bội 73
4.7.1 Xem xét ma trận hệ số tương quan: 74
4.7.2 Xây dựng phương trình hồi quy giữa lnT với các biến độc lập khác 76
4.7.3 Kiểm tra có hay không sự vi phạm đến các giả định của mô hình hồi quy 79
4.8 Kiểm nghiệm kết quả làm việc của mô hình 93
Trang 94.8.2 Kiểm nghiệm mô hình mối quan hệ thời gian và các yếu tố tác động khác 95
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .96
5.1 Kết luận 96
5.2 Khả năng ứng dụng và ý nghĩa của luận văn 98
5.2.1 Khả năng ứng dụng 98
5.2.2 Ý nghĩa của luận văn 98
5.3 Hạn chế của nghiên cứu 98
5.4 Kiến nghị hướng phát triển đề tài 99
Trang 10Hình 1.1 Tăng trưởng GDP theo quý 2
Hình 1.2: Diễn biến lạm phát hàng tháng năm 2009 6
Hình 3.1 Đặc điểm của dự án Nguồn (DTXL-2003) Error! Bookmark not defined Hình 4.1: Biểu đồ đánh giá thời gian công tác của người được khảo sát 42
Hình 4.2: Biểu đồ vị trí công tác người được khảo sát 43
Hình 4.3: Vị trí của anh/ chị trong dự án đã tham gia 44
Hình 4.4: Quy mô dự án lớn nhất mà anh/ chị từng tham gia 45
Hình 4.5: Biểu đồ Boxplot của biến Ln(tổng diện tích sàn) 46
Hình 4.6: Biểu đồ Boxplot của biến Ln(chi phí thực tế) 46
Hình 4.7: Biểu đồ Boxplot của biến Ln (thời gian thi công thực tế) 47
Hình 4.8: Biểu đồ Boxplot của biến Ln(số tầng) 47
Hình 4.9: Biểu đồ mẫu dữ liệu phân theo loại hình dự án 50
Hình 4.10: Biểu đồ mẫu dữ liệu phân theo hình thức chủ đầu tư 51
Hình 4.11: Biểu đồ mẫu dữ liệu phân theo phương pháp đấu thầu 52
Hình 4.12: Thống kê tình hình vượt tiến độ của các dự án 53
Hình 4.13: Thống kê tình hình vượt chi phí của các dự án 55
Hình 4.14: Đồ thị scatter biểu diễn số liệu của lnC và lnT 58
Hình 4.15: Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của loại hình “giáo dục” 61
Hình 4.16: Phân phối của phần dư của loại hình “giáo dục” 61
Hình 4.17: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của loại hình “giáo dục” 62
Hình 4.18: Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của loại hình “thương mại” 63
Hình 4.19: Phân phối của phần dư của loại hình “thương mại” 63
Hình 4.20: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của loại hình “thương mại” 64
Hình 4.21: Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của loại hình “nhà ở” 64
Hình 4.22: Phân phối của phần dư của loại hình “thương mại” 65
Trang 11Hình 4.24:Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của hình thức CĐT “nhà nước” 66
Hình 4.25: Phân phối của phần dư của hình thức CĐT “nhà nước” 66
Hình 4.26: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của hình thức CĐT “nhà nước” 67
Hình 4.27:Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của hình thức CĐT “tư nhân” 67
Hình 4.28: Phân phối của phần dư của hình thức CĐT “tư nhân” 68
Hình 4.29: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của hình thức CĐT “tư nhân” 68
Hình 4.30:Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của hình thức ĐT “rộng rãi” 69
Hình 4.31: Phân phối của phần dư của hình thức ĐT “rộng rãi” 69
Hình 4.32: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của hình thức ĐT “rộng rãi” 70
Hình 4.33:Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của hình thức ĐT “hạn chế” 70
Hình 4.34: Phân phối của phần dư của hình thức ĐT “hạn chế” 71
Hình 4.35: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của hình thức ĐT “hạn chế” 71
Hình 4.36:Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của hình thức ĐT “chỉ định thầu” 72
Hình 4.37: Phân phối của phần dư của hình thức ĐT “chỉ định thầu” 73
Hình 4.38: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của hình thức ĐT “chỉ định thầu” 73
Hình 4.39: Ma trận biểu đồ scatter plot giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc và giữa các biến độc lập với nhau 76
Hình 4.40: Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của loại hình “giáo dục” 80
Hình 4.41: Phân phối của phần dư của loại hình “giáo dục” 80
Hình 4.42: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của loại hình “giáo dục” 81
Hình 4.43: Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của loại hình “thương mại” 82
Hình 4.44: Phân phối của phần dư của loại hình “thương mại” 82
Hình 4.45: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của loại hình “thương mại” 83
Hình 4.46: Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của loại hình “nhà ở” 83
Hình 4.47: Phân phối của phần dư của loại hình “nhà ở” 84
Hình 4.48: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của loại hình “nhà ở” 84
Trang 12Hình 4.50: Phân phối của phần dư của hình thức CĐT “nhà nước” 85
Hình 4.51: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của hình thức CĐT “nhà nước” 86
Hình 4.52: Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của hình thức CĐT “tư nhân” 87
Hình 4.53: Phân phối của phần dư của hình thức CĐT “tư nhân” 87
Hình 4.54: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của hình thức CĐT “tư nhân 88
Hình 4.55: Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của hình thức ĐT “rộng rãi” 88
Hình 4.56: Phân phối của phần dư của hình thức ĐT “rộng rãi” 89
Hình 4.57: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của hình thức ĐT “rộng rãi” 89
Hình 4.58: Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của hình thức ĐT “hạn chế” 90
Hình 4.59: Phân phối của phần dư của hình thức ĐT “hạn chế” 90
Hình 4.60: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của hình thức ĐT “hạn chế” 91
Hình 4.61: Biểu đồ điểm phần dư dự đoán và phân dư thực của hình thức ĐT “chỉ định thầu” 92
Hình 4.62: Phân phối của phần dư của hình thức ĐT “chỉ định thầu” 92
Hình 4.63: Biểu đồ tầng số Q-Q phần dư của hình thức ĐT “chỉ định thầu” 93
Trang 13Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu chủ yếu năm 2009 so với năm 2008 7
Bảng 2.1: Xếp hạng các vấn đề thường gặp trong ngành xây dựng 20
Bảng 4.1: Tỷ lệ phúc đáp bảng câu hỏi 41
Bảng 4.2: Thống kê thời gian công tác của người được khảo sát 41
Bảng 4.3: Vị trí công tác hiện tại của người được phỏng vấn 43
Bảng 4.4: Bảng kê vị trí của Anh/ Chị trong dự án đã tham gia 44
Bảng 4.5: Bảng kê quy mô dự án lớn nhất của người được phỏng vấn 45
Bảng 4.6: Bảng kê tổng số công trình đem vào nghiên cứu 50
Bảng 4.7: Thống kê mẫu dữ liệu theo loại hình dự án 50
Bảng 4.8: Bảng kê các dự án phân theo hình thức chủ đầu tư 51
Bảng 4.9: Bảng kê phương pháp đấu thầu 52
Bảng 4.10: Bảng kê các dự án theo tình hình vượt tiến độ 53
Bảng 4.11: Bảng kê các dự án theo tình hình vượt chi phí 54
Bảng 4.12: Bảng phân loại dự án theo đặc trưng, tính chất của các dự án trong mẫu 56
Bảng 4.13: Bảng kết quả hồi quy 59
Bảng 4.14: Ma trận tương quan giữa các biến trong nghiên cứu 75
Bảng 4.15: Tổng hợp các thông số thống kê của từng loại dự án 77
Bảng 4.16: Khả năng giải thích của phương trình so đối với tổng thể 78
Bảng 4.17: Thống kê các mẫu đem vào kiểm định 94
Bảng 4.18: Kết quả kiểm nghiệm các mẫu theo BTC 95
Bảng 4.19: Kết quả kiểm nghiệm các mẫu 95
Trang 14HVTH: Phạm Chí Công Page 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Tổng quan:
Kết quả hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước đã mang lại cho
VN nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, giảm đói nghèo, nâng cao mức sống cho người dân Chính sách đổi mới cũng đã đưa nền kinh tế VN ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới Trong bối cảnh VN là thành viên của khối ASEAN, tham gia AFTA
và APEC, thực hiện có hiệu quả Hiệp định thương mại với Mỹ, trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), thị trường xuất khẩu của VN ngày càng mở rộng, xu hướng các nguồn vốn từ bên ngoài đổ vào VN ngày càng tăng qua các kênh đầu tư trực
tiếp và gián tiếp… [24]
Tất cả những nhân tố trên đã tạo điều kiện cho kinh tế VN phát triển Đây cũng là cơ hội tốt để VN thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển đất nước là đến năm 2020 về cơ bản, trở thành một nước công nghiệp Tuy nhiên, quá trình hội nhập, nền kinh tế VN cũng gặp nhiều khó khăn và thách thức đó là nhiều chỉ số phát triển còn thấp so với yêu cầu, tình hình khủng hoảng tài chính Mỹ và thế giới cũng có tác động tiêu cực đến nền kinh tế VN
[24]
Tăng trưởng kinh tế: Cần khẳng định rằng dưới tác động mạnh của khủng hoảng kinh tế
toàn cầu, quá trình suy giảm kinh tế của Việt Nam đã không kéo dài và sự phục hồi tốc độ
tăng trưởng đến nhanh Hình 1.1 cho thấy nền kinh tế chạm đáy suy giảm tăng trưởng
trong quý I/2009 sau đó liên tục cải thiên tốc độ ở các quý sau Tốc độ tăng GDP quý II
đạt 4,5%, quý III đạt 5,8% và dự đoán quý IV sẽ đạt 6,8% [25]
Trang 15HVTH: Phạm Chí Công Page 2
Hình 1.1 Tăng trưởng GDP theo quý
Như vậy xu hướng phục hồi tăng trưởng là khá vững chắc và đạt được ngay từ trước khi các gói kích cầu được triển khai trên thực tế Với mức tăng trưởng như vậy dự báo GDP
cả năm 2009 sẽ đạt 5,2%, cao hơn so với mức tăng trưởng đáy trong 20 năm qua ở mức 4,77% của năm 1999 Đây là một thành tựu kinh tế nổi bật trong năm 2009 nếu đặt trong bối cảnh Việt Nam là một trong số ít nền kinh tế trong khu vực và thế giới vẫn đạt mức
tăng trưởng dương [25]
Đầu tư phát triển: Trong bối cảnh suy giảm kinh tế, những khó khăn trong sản xuất kinh
doanh và hiệu quả đầu tư kinh doanh giảm sút đã ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động đầu tư phát triển Trước tình hình đó, Chính phủ đã thực hiện các giải pháp kích cầu đầu
tư, tăng cường huy động các nguồn vốn, bao gồm việc ứng trước kế hoạch đầu tư ngân sách nhà nước của các năm sau, bổ sung thêm nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu, tín dụng đào tạo lại cho người lao động bị mất việc làm… Với những nỗ lực đó, nguồn vốn đầu tư toàn xã hội năm 2009 đã đạt được những kết quả tích cực Ước tính tổng đầu tư toàn xã hội năm 2009 đạt 708,5 nghìn tỷ đồng, bằng 42,2% GDP, tăng 16% so với năm 2008 Trong đó, nguồn vốn đầu tư nhà nước (gồm đầu
tư từ ngân sách nhà nước, nguồn trái phiếu Chính phủ, nguồn tín dụng đầu tư theo kế hoạch nhà nước và nguồn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước) là 321 nghìn tỷ đồng,
Trang 16HVTH: Phạm Chí Công Page 3
tăng 43,3% so với năm 2008; nguồn vốn đầu tư của tư nhân và của dân cư là 220,5 nghìn
tỷ, tăng 22,5% Những kết quả này cho thấy các nguồn lực trong nước được huy động tích cực hơn Tuy nhiên, trong khi các nguồn vốn đầu tư trong nước có sự gia tăng thì nguồn vốn FDI năm 2009 lại giảm mạnh Tổng số vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 20
tỷ USD (so với 64 tỷ USD năm 2008), vốn thực hiện ước đạt khoảng 8 tỷ USD (so với 11,5 tỷ USD năm 2008) Tổng vốn ODA ký kết cả năm ước đạt 5,456 tỷ USD, giải ngân
đạt khoảng 3 tỷ USD [25]
Tăng vốn đầu tư trong bối cảnh khó khăn kinh tế toàn cầu là một điểm sáng của kinh tế Việt Nam năm 2009 để vượt qua tình trạng suy giảm kinh tế Tuy nhiên, những hạn chế trong hiệu quả đầu tư đã xuất hiện từ nhiều năm nay và càng trở thành vấn đề cần giải quyết Nếu như năm 1997, chúng ta đạt được tốc độ tăng trưởng 8,2% với vốn đầu tư chỉ chiếm 28,7% GDP thì cũng với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ như vậy năm 2007 (8,5%) chúng
ta phải đầu tư tới 43,1% GDP Đến năm 2009, trong khi tổng mức đầu tư toàn xã hội lên tới 42,2% GDP, thì tốc độ tăng trưởng lại chỉ đạt 5,2% Chỉ số ICOR năm 2009 đã tăng tới mức quá cao, trên 8 so với 6,6 của năm 2008 Bên cạnh đó còn xảy ra tình trạng chậm trễ trong giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, lãng phí, thất thoát vốn đầu tư ở tất cả các khâu của quá trình quản lý dự án đầu tư
Những đặc điểm này là đáng báo động về cả trước mắt cũng như lâu dài [25]
Theo Cục Đầu tư Nước ngoài (FIA) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2009, Việt Nam có 839 dự án đầu tư nước ngoài đăng ký mới và xin tăng vốn, với tổng vốn 21,48 tỉ USD, giải ngân xấp xỉ 10 tỉ USD, chỉ bằng 30% và 87% so với năm 2008 Tuy nhiên, đây
là cũng là con số khả quan trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế.[30]
Nhìn lại FDI 2009:
Ông Nguyễn Xuân Trung, Phó Cục trưởng FIA, cho biết, trong năm 2009, cả nước nhập siêu hơn 12 tỉ USD Tuy nhiên, riêng khu vực FDI lại xuất siêu hơn 5 tỉ USD và đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội khoảng 30% (năm 2008 là hơn 10%)
Trang 17HVTH: Phạm Chí Công Page 4
Vẫn theo FIA, 2 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương đã lần lượt về nhất và ba trong cuộc đua thu hút FDI năm 2009 Số vốn mới đăng ký và tăng thêm của 2 tỉnh này là 6,7 và 2,5 tỉ USD
Về kết quả trên, ông Huỳnh Quang Hải, thành viên Hội đồng Quản trị Công ty Liên doanh Khu Công nghiệp Việt Nam - Singapore VSIP, cho biết, sở dĩ Bình Dương vẫn là 1 trong những lựa chọn hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài là nhờ có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh hơn so với các địa phương khác Lĩnh vực công nghiệp, thường chiếm hơn 70% danh mục đầu tư của Tỉnh, được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong năm nay
Còn theo bà Lê Kim Hương, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Bà Rịa - Vũng Tàu, vị trí dẫn đầu về thu hút FDI của tỉnh chủ yếu đến từ 2 nguyên nhân
Thứ nhất, 17 cảng trong tổng số 43 cảng thuộc hệ thống cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải
đã đi vào hoạt động và rất hiệu quả Riêng trong 6 tháng cuối năm 2009, 2 cảng nước sâu SP-PSA và Tân Cảng đã đạt chỉ tiêu bốc dỡ 2,6 triệu tấn hàng hóa Hơn nữa, các nhà đầu
tư nước ngoài nay có thể tiết kiệm được chi phí trung chuyển vì đã có dịch vụ chở hàng trực tiếp từ các cảng đến Mỹ, không phải quá cảnh sang Singapore hay Hồng Kông như trước
Ưu thế tiếp theo là việc triển khai hiệu quả cải cách hành chính và dịch vụ công tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Tất cả đều được quy về một cửa và miễn phí Chính sách này được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao Nhờ đó chỉ số năng lực cạnh tranh của Tỉnh vừa tăng từ hạng 12 lên hạng 10 trong năm 2009
Mới đây, tập đoàn tài chính Mỹ Goldman Sachs đã xếp Việt Nam nằm trong nhóm 11 nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới (N-11), đồng thời là địa chỉ đầu tư tốt cho các nhà đầu tư thế giới trong những năm tiếp theo
Theo Goldman Sachs, các nước trong nhóm N-11 có dân số đông và đang tăng nhanh, đồng nghĩa với việc có nhiều cơ hội kinh doanh hơn các nước công nghiệp phát triển với dân số giảm mạnh Nhiều nước trong N-11 đã khẳng định khả năng sản xuất hàng tiêu dùng và tiềm lực tiêu dùng của người dân Những ưu thế này đã tạo ra tiềm lực lớn về tăng trưởng kinh doanh và tiêu dùng, mở ra nhiều cơ hội cho các nhà đầu tư
Trang 18HVTH: Phạm Chí Công Page 5
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong tháng 2/2010 đã có 48 dự án đăng ký mới và đạt 1,46 tỷ USD Lũy kế hai tháng đầu năm có 88 dự án mới đăng ký với tổng số vốn đạt gần 1,78 tỷ USD, bằng 57,5% về số dự án và 27,3% về lượng vốn so với cùng kỳ năm ngoái Lượng vốn FDI trong 2 tháng đầu năm khá thấp so với cùng kỳ năm ngoái, do ảnh hưởng từ tình hình kinh tế thế giới Nếu xét về lượng vốn giải ngân thì riêng tháng 2 đạt
700 triệu USD và lũy kế 2 tháng đạt 1,1 tỷ USD (tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm ngoái) Ngoài ra, theo thống kê mới nhất của Grant Thornton International, đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sẽ có lợi nhuận cao so với nhiều nước khác là yếu tố tích cực cho dòng
vốn FDI vào các tháng tới [26]
Năm 2010, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt mục tiêu thu hút FDI tăng 10%, đạt từ 22 – 25 tỷ USD Chủ trương chung đối với khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2010 là tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đã cam kết; định hướng thu hút vào các vùng một cách hợp lý, vào các lĩnh vực ưu tiên với trọng tâm là thu hút các dự án sử dụng công nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh Đáng chú ý sẽ
là vốn thực hiện có triển vọng tăng cao, ước tính cũng sẽ tăng 10% so với năm 2009.[27] Lạm phát và giá cả: Nếu như năm 2008 là năm chứng kiến một tốc độ lạm phát cao kỷ
lục trong vòng hơn một thập kỷ qua thì năm 2009 lại chứng kiến một mức lạm phát ở mức dưới hai con số Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước qua 10 tháng đầu năm chỉ tăng 4,49%
so với tháng 12/2008 Đây là mức tăng chỉ số giá tiêu dùng khá thấp so với những năm gần đây và là mức tăng hợp lý, không gây ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của người dân Nhiều loại hàng hoá có ảnh hưởng mạnh trong rổ hàng hoá để tính CPI tăng thấp Chỉ số CPI lương thực tăng nhẹ trong 6 tháng đầu năm (0,59%) nhưng lại có xu hướng giảm trong những tháng cuối năm Như vậy, nếu như lương thực, thực phẩm luôn
là đầu tàu kéo lạm phát đi lên trong những năm 2007 và 2008 thì ở năm 2009 nhân tố này không còn đóng vai trò chính nữa
Trang 19HVTH: Phạm Chí Công Page 6
Hình 1.2: Diễn biến lạm phát hàng tháng năm 2009
Một số chỉ tiêu chủ yếu năm 2009 So năm 2008
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá thực tế +15,3%
Giá trị sản xuất công nghiệp +7,6%
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản +3,0%
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ
CPI +6,88% Tổng kim ngạch xuất khẩu -9,7%
Tổng kim ngạch nhập khẩu -14,7%
Trang 20HVTH: Phạm Chí Công Page 7
Bảng 1.1: một số chỉ tiêu chủ yếu năm 2009 so với năm 2008
Riêng ngành xây dựng: Theo IMF, ngành xây dựng ở Việt Nam đã tăng 6,9% trong quý I/2009 và các số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 4 tháng đầu năm 2009 đã tăng 21,5% so với cùng kỳ năm
ngoái [28] Đây là số liệu khả quan cho thấy ngành xây dựng dẫn đầu trong tăng trưởng
kinh tế Việt Nam trong năm 2009
Trước đó, theo tổng hợp báo cáo của Bộ Xây dựng cho thấy, giá trị sản xuất kinh doanh của các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng ước thực hiện tháng 4 đạt 9.112 tỷ đồng, 4 tháng đầu năm 2009 đạt khoảng 32.017 tỷ đồng Nhìn chung, tình hình sản xuất của các doanh nghiệp thuộc Bộ đã bắt đầu tăng, đặc biệt là 4 tháng đầu năm 2009
Tình hình đầu tư bất động sản ở Tp HCM: TP HCM của Việt Nam đứng ở vị trí thứ 13, cùng nhóm với một số thành phố khác trong khu vực châu Á Thái Bình Dương như Melbourne, Bắc Kinh, Sydney, Osaka, Quảng Châu, Auckland, Bangkok, Manila và
Jakarta về địa điểm thu hút đầu tư bất động sản trong năm 2009 [29] Điều này cho thấy
mặc dù Nền kinh tế Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn trong việc phục hồi và phát triển tuy nhiên tp HCM vẫn là nơi thu hút được vốn đầu tư vào thị trường bất động sản nhiều nhất trong cả nước
1.2 Cơ sở hình thành đề tài:
Theo PGS.TS Đinh Văn Ân - viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM)- cho rằng hai năm qua từ khi VN gia nhập WTO Về góc độ đầu tư, đã có chuyển biến và tác động rõ, thể hiện ở nguồn vốn trực tiếp và gián tiếp đổ vào tăng đột biến so với trước đó
Đối với nhà đầu tư nước ngoài, ngay sau khi gia nhập WTO, một làn sóng đầu tư đã đổ vào Việt Nam Trong đó có nhiều dự án đầu tư lớn, tầm cỡ trên thế giới, đã đẩy chỉ tiêu kinh tế và đầu tư trực tiếp (FDI) tăng vọt, vượt kỉ lục cao nhất 20 năm qua Đặc biệt, thị trường bất động sản chiếm đến 50% vốn đầu tư nước ngoài cả về số lượng dự án lẫn tổng vốn đầu tư Cụ thể năm 2007, đã có 24 dự án đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bất động sản với tổng vốn đầu tư là 1530,4 triệu USD, gần gấp 2 lần tổng vốn đầu tư từ năm 2000 đến
Trang 21HVTH: Phạm Chí Công Page 8
năm 2006 cộng lại Con số này tiếp tục tăng lên sang năm 2008: 45 dự án đầu tư vào lĩnh vực bất động sản với tổng vốn đầu tư lên gần 3 tỷ USD Nguồn vốn trong nước hạn hẹp thì việc FDI tăng mạnh vào lĩnh vực bất động sản sẽ góp phần rất quan trọng vào việc đô thị hóa, nâng cấp cơ sở hạ tầng Một góc nhìn khác, việc gia nhập WTO đã đem đến nguồn vốn dồi dào, nhờ đó thị trường nhà ở đã khởi sắc mạnh mẽ Năm 2007, TP có 23 dự án hoàn thành cung cấp cho thị trường 6400 căn hộ, thuộc các dự án Cantavil, Garden Plaza, Hoàng Anh Gia Lai 1, Botanic, Tanda Court… cũng trong năm này, có 26 dự án khởi công cung cấp thêm 12000 căn hộ Đến năm 2008, có 31 dự án hoàn thành như Saigon Pearl, Panorama, Hùng Vương Plaza, Phú Mỹ, Garden Plaza 2, Hoàng Anh Gia Lai 2,… Đến năm 2010 dự kiến có tiếp 40 dự án hoàn thành Những con số trên cho thấy ngành xây dựng dân dụng ngày càng đóng góp 1 vai trò rất tích cực, góp phần thay đổi rõ nét sự phát triển và đô thị hóa hết sức mạnh mẽ của thành phố HCM nói riêng và cả nước nói chung
Bên cạnh mặt tích cực, theo phân tích của các chuyên gia kinh tế, vốn FDI dồn vào thị trường bất động sản cũng đem lại nhiều hạn chế Trong 2 năm qua, các nhà đầu tư chuyển hướng sang bất động sản, bao gồm 50% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cùng với một lượng lớn vốn của các doanh nghiệp nhà nước di chuyển sang khu vực bất động sản với giá trị bị thổi phồng, gây ra hiện tượng đầu cơ, sốt ảo Điều này khiến tín dụng nội địa tăng vọt, làm nên kinh tế trở nên quá nóng và tiềm ẩn nhiều rủi ro Vốn đầu tư FDI đổ vào nhiều, trong khi hạ tầng yếu kém gây nên tình trạng kẹt xe, ngập nước ngày càng nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường ngày càng tăng…
Trong năm 2010 TPHCM đặt mục tiêu thu hút 8,4 tỉ đô la Mỹ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cho năm nay, nhưng trong bốn tháng qua thành phố chỉ thu hút được trên 526 triệu đô la Mỹ, giảm gần 17% so với cùng kỳ năm ngoái
Theo số liệu mới nhất của Phòng Đầu tư nước ngoài thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM, trong bốn tháng qua thành phố cấp phép cho 112 dự án FDI mới với tổng vốn đăng ký gần 444 triệu đô la Mỹ, giảm hơn 21% so với cùng kỳ năm ngoái Cũng trong thời gian này, thành phố có 34 doanh nghiệp đang hoạt động tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm trên 82 triệu đô la Mỹ, tăng gần 17% so với cùng kỳ năm ngoái
Trang 22HVTH: Phạm Chí Công Page 9
Tình hình trễ tiến độ trong xây dựng ở Tp HCM
Cái giá của sự chậm trễ: www.tinkinhte.com
Thông tin dự án đại lộ Đông Tây và cải thiện môi trường nước đội vốn thêm 3600 tỉ đồng khiến không ít người dân giật mình vì xót của
Dù thực tế thời gian qua cho thấy không có dự án giao thông nào của Tp.HCM nói riêng
và Việt Nam nói chung không phát sinh chi phí trong quá trình triển khai, song con số 3.600 tỉ đồng tăng thêm cho một dự án quả là quá sức tưởng tượng Số tiền này có thể giúp Tp.HCM có thêm nhiều con đường, nhiều cây cầu mới, đầu tư vào các dự án cấp bách và thiết thực khác, song ở đây lại dùng để bù đắp cho phần chi phí phát sinh từ việc thi công chậm trễ và sự ngắn hạn của tầm nhìn
Theo đúng kế hoạch công trình đại lộ Đông tây phải hoàn thành vào năm 2008, tuy nhiên đến nay công trình vẫn chưa hoàn thành với nhiều nguyên nhân khác nhau mà chủ yếu là nguyên nhân từ tầm nhìn, vốn đầu tư phát sinh còn do các cơ quan chức năng trong quá trình thiết kế dự án đã “quên” mất yếu tố quy hoạch, dẫn đến phần đại lộ Đông Tây phía quận 2 phải điều chỉnh từ 10 lên 14 làn xe cho phù hợp với khu đô thị mới Thủ Thiêm đã quy hoạch và sẽ được xây dựng trong tương lai Tương tự, các khó khăn trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, di dời các công trình tiện ích ngầm, các sự cố trong quá trình triển khai các gói thầu xây lắp cống thoát nước… tại dự án cải thiện môi trường nước cũng không được các sở ngành thành phố lượng định trước nên dự án liên tục lỗi hẹn tiến
độ
Trang 23Công trình trường THPT chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định, kinh phí đầu tư xây dựng trong 2 giai đoạn là 146 tỷ (nguồn vốn từ ngân sách thành phố) từng được xem là niềm từ hào và hy vọng của ngành giáo dục- đào tạo Việt Nam, đến nay công trình vẫn chưa hoàn thành, tiến độ chậm trễ gần 3 năm, kinh phí phát sinh thêm 40,8 tỷ đồng Ngoài ra, một số hạng mục hoàn thành trong giai đoạn 1 mới được đưa vào sử dụng đã có dấu hiệu xuống cấp, nhiều vết nứt, dột… Đây là một trong những công trình bê bối nhất ở tp.HCM
Gói thầu số 7 trị giá gần 30 triệu USD của dự án Nhiêu Lộc – Thị Nghè tổng vốn đầu tư 188,8 triệu USD, thời gian thi công dự kiến đến cuối năm 2006 là hoàn thành nhưng đến nay (12-2008) gói thầu này vẫn chưa hoàn thành kéo theo nhiều gói thầu khác cũng chậm theo, trong khi đó WB chỉ giải ngân đến cuối năm 2009 Sau khi WB đóng các khoảng vay, thành phố phải gánh mọi chi phí còn lại, chắc chắn là không nhỏ, để hoàn thành dự
án
Công trình nhà chung cư 262 Nguyễn Hư Tưởng, quận Thanh Xuân, Hà Nội (16 tầng, 148 căn hộ) do công ty Đầu Tư- Xây Dựng Hà Nội làm chủ đầu tư, hoàn thành trễ tiến độ trên
2 năm, chi phí phát sinh do chủ đầu tư phải tăng vốn nhằm đảm bảo chất lượng công trình
Vì sự chậm trễ này, chủ đầu tư đã phải bàn giao căn hộ không đúng cam kết làm mất uy tín với khách hàng, đồng thời gây thiệt hại cho khách hàng nhiều tỷ đồng
Trang 24lý chất lượng, chi phí, nhân vật lực… Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các công ty xây dựng rất khốc liệt, do đó các nhà thầu không ngừng phải cải tiến biện pháp thi công, cách thức quản lý để giảm chi phí, giảm thời gian thi công dựa trên năng lực hiện có mà vẫn đảm bảo chất lượng Điều này đòi hỏi phải có một công cụ trợ giúp các nhà thầu có thể tính toán được chi phí và thời gian thi công đáng tin cậy nhất
Các dự án xây dựng thường được tiến hành dưới những điều kiện rủi ro khác nhau Điều này sẽ tác động đến việc ước lượng thời gian thực hiện công việc cũng như chi phí cho các công việc đó trong quá trình lập tiến độ Nếu có được các dữ liệu lưu trữ cho thời gian và chi phí cũng như nhân vật lực cho việc thực hiện các công tác sẽ giúp ích rất nhiều cho người lập tiến độ dự án
Việc trễ tiến độ trong thi công các dự án xây dựng là vấn đề xảy ra thường xuyên trong ngành công nghiệp xây dựng đặc biệt ở Việt Nam Nó làm tăng chi phí xây dựng từ đó làm giảm lợi nhuận và danh tiếng của nhà thầu (Bromilow and Henderson, 1976), nó cũng
có thể làm nảy sinh ra nhiều tranh cãi giữa nhà thầu và chủ đầu tư Việc trễ tiến độ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau bao gồm lỗi của nhà thầu, thay đổi thiết kế, và những vấn đề không lường trước được như tình trạng khắc nghiệt của thời tiết…(Kasprowicz, 1994)
Dưới sức ép của quy luật cạnh tranh tự nhiên trong kinh tế làm cho chi phí của các dự án luôn ở mức thấp nhất có thể, trong khi đó tiến độ dự án hoặc được xác định theo yêu cầu
Trang 25độ Việc phải đáp ứng cùng lúc nhiều yêu cầu về tối ưu chi phí , tiến độ trong khả năng nhân vật lực bị giới hạn của mình đặt ra một vấn đề lớn mà rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý, nhiều đề tài khoa học đã đề cập và đưa ra các phương pháp giải quyết khác nhau Nghiên cứu này hình thành nhằm xây dựng một mô hình dự đoán được thời gian thi công dựa trên chi phí đã được ước tính, nhằm đưa ra một tiến độ thi công hợp lý phục vụ cho công tác đấu thầu cũng như tình trạng trễ tiến độ trong các dự án xây dựng tại Việt Nam
Đó là mô hình xây dựng mối quan hệ giữa thời gian và chi phí theo mối quan hệ giữa thời gian và chi phí của Bromilow (BTC)
B: là hằng số miêu tả sự ảnh hưởng của quy mô dự án tới thời gian thực hiện dự án được
đo lường bởi chi phí
1.3 Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài: Mô hình đánh giá mối quan hệ giữa thời gian và chi phí của các dự án xây dựng tại Việt Nam có các mục tiêu nghiên cứu sau:
Trang 26HVTH: Phạm Chí Công Page 13
9 Xác định mối quan hệ giữa thời gian và chi phí theo phương trình BTC
thông qua các dự án xây dựng ở Việt Nam đã được thực hiện tùy theo đặc điểm, tính chất của các dự án
9 Cải thiện mô hình BTC bằng cách xác định mối quan hệ thời gian với các
Đối tượng khảo sát:
Để có được số liệu chính xác và nhanh chóng thì đối tượng khảo sát ở đây sẽ là các công
ty xây dựng trong và ngoài nước, các nhà quản lý dự án, các chỉ huy trưởng công trình của các công ty tổng thầu xây dựng dự án đó
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Trong lĩnh vực công nghiệp xây dựng, thực hiện đúng với các dự toán chi phí và tiến độ là điều mong muốn của các bên tham gia dự án Tuy nhiên, theo thống kê cho thấy hầu như các dự án xây dựng đều bị vượt chi phí và chậm trễ tiến độ ít hoặc nhiều dù cho công tác quản lý thực hiện nghiêm túc và ngày càng cải thiện Điều đó xảy ra do tính chất đặc thù, tính phức tạp của công việc xây dựng và thời gian thi công kéo dài, các nguyên nhân
Trang 27HVTH: Phạm Chí Công Page 14
khách quan khó kiểm soát nên dự án xây dựng mang nhiều rủi ro tiềm ẩn Quản lý hiệu quả thời gian và chi phí có một vai trò quan trọng đối với sự thành công của dự án, giảm thiểu được những lãng phí trong đầu tư xây dựng, đặc biệt đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách
Nghiên cứu mối quan hệ giữa thời gian và chi phí sẽ giúp cho các bên liên quan trong lĩnh vực xây dựng có thể dự đoán được thời gian trung bình cho việc hoàn thành dự án khi biết được chi phí của dự án Nó cũng cung cấp một một mô hình logic cho việc ước lượng thời gian xây dựng cho các nhà đấu thầu cũng như khách hàng, nó bổ sung thêm những kiến thức thực tế cho việc ước lượng vốn mang nặng tính chất kinh nghiệm cá nhân của các nhà đấu thầu
Chính từ việc phát triển mô hình mối liên hệ giữa thời gian và chi phí có thể tạo ra một công cụ phần mềm tự động dùng để ước lượng chi phí hoặc thời gian từ những dữ liệu thu thập được ở quá khứ phục vụ cho các nhà đấu thầu
Trang 28HVTH: Phạm Chí Công Page 15
CHƯƠNG 2: KHẢO LƯỢC CÁC VẤN ĐỀ ĐÃ NGHIÊN CỨU
2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài:
Nguồn bài báo của D R Ogunsemi và G O Jagboro: Time-Cost Model For Building Projects In Nigeria [10]
Tiến độ xây dựng vẫn luôn là một trong những yếu tố dùng để đánh giá việc thực hiện dự
án Thời gian hoàn thành dự án là cái đích hướng tới của cả khách hàng lẫn đơn vị thi công bởi vì mỗi bên đều không muốn mình chịu trách nhiệm về việc phát sinh thêm chi phí đồng thời giảm đi một phần lợi nhuận khi dự án bị trễ tiến độ (Thomas cùng các đồng
sự, 1995)
Chan và Kumaraswamy (1996) phát biểu rằng một dự án được xem là thành công nếu hoàn thành đúng tiến độ, đúng chi phí và đạt yêu cầu chất lượng theo tiêu chuẩn, tuy nhiên
ít có dự án nào đạt được các yêu câu trên
Vấn đề trễ tiến độ là một khái niệm mang tính toàn cầu bởi vì đa số các nước trên thế giới đều mắc phải tình trạng này Theo Chan và Kumaraswamy (1996), ở Australia cho thấy khoảng 78 dự án xây dựng được khảo sát cuối thập niên 60 là hoàn thành sau so với tiến
độ đề ra, trong khi đó, ở Hong Kong, khoảng 70% dự án xây dựng là trễ tiến độ Ở Saudi Arabia, Al-Khalil và Al-Ghafly (1999) xác nhận trong một nghiên cứu của họ, cho thấy các nhà thầu xây dựng đồng ý 37% trên tổng số dự án của họ là trễ tiến độ trong khi đó, đơn vị tư vấn cho rằng có đến hơn 84% dự án là trễ tiến độ dưới sự giám sát của họ Điều
này cho thấy việc trễ tiến độ là vấn đề cần khắc phục ở hầu hết các nước trên thế giới
Mối quan hệ giữa thời gian và chi phí hoàn thành một dự án xây dựng đã được thành lập lần đầu bởi Bromilow(1974) với việc khảo sát 370 dự án xây dựng ở Australia và sau này được cập nhật và chính sửa bởi Bromilow (1980) Ở lần cập nhật này, tác giả đã phân tích
dữ liệu thời gian- chi phí của 419 dự án xây dựng ở Australia Phương trình mô tả thời gian trung bình của dự án là một hàm theo chi phí dự án được mô tả như sau:
B
T =KC
Kết quả thu được: T =313C0.3
Trang 29HVTH: Phạm Chí Công Page 16
Nghiên cứu Ireland (1993) cũng dự báo mối quan hệ thời gian và chi phí của các dự án cao ốc thương mại ở Australia Mô hình phân tích từ mẫu dữ liệu gồm 25 cao ốc dựa trên chi phí được quy về thời điểm xây dựng tháng 6 năm 1979
Dự án thuộc tư nhân: T =161C0.367
Dự án nhà nước: T =287C0.237
Tổng các dự án: T =269C0.215
Dự án công cộng Malaysian: T =518C0.352
Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu trước đây đều nghiên cứu bộ dữ liệu hoặc là cao ốc hoặc
là các dự án xây dựng nói chung, Kumaraswamy và Chan (1995) khảo sát bộ mẫu dữ liệu gồm có cao ốc và các dự án xây dựng nói chung và công bố phương trình của Bromilow đều phù hợp với hai loại hình trên Họ đề nghị đưa thêm các biến vĩ mô về tính cách dự án như chi phí xây dựng, tổng diện tích sàn xây dựng, số tầng, và các nhân tố vi mô ảnh hưởng đến năng suất lao động, cũng như các yếu tố ý nghĩa khác có ảnh hưởng đến thời gian hoàn thành dự án Một chuỗi nghiên cứu sau này của Chan (1999) Ông nghiên cứu mẫu dữ liệu gồm 110 dự án xây dựng ở Hong Kong với kết quả thực hiện như sau:
Các dự án công cộng: T =166C0.28
Các dự án tư nhân: T =120C0.34
Tổng các dự án: T =152C0.29
Trang 30HVTH: Phạm Chí Công Page 17
Những nghiên cứu gần đây: Love và các cộng sự (2005) đã thực hiện một phân tích với một dữ liệu nhóm của 161 dự án xây dựng tại từng khoảng thời gian dự án, loại dự án và kết quả đã chỉ ra rằng chi phí là nhân tố ước lượng nghèo nàn của thời gian thực hiện dự
án và các nhà nghiên cứu đã đề xuất thêm nhân tố tổng diện tích sàn (GFA) và số tầng (Floor) để đưa vào mô hình để dự báo thời gian và chi phí nhằm làm cho phương trình của Bromilow thêm dự báo chính xác
Log T = + GFA + Floor cho các dự án ở Australia
Ogusemi và Jagboro (2005) phát triển mối quan hệ giữa thời gian và chi phí theo Bromilow này ở Nigeria với bộ mẫu dữ liệu gồm thời gian và chi phí thực tế của 87 dự án
đã hoàn thành trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến năm 2000 Mẫu dữ liệu đã được hồi quy tuyến tính sau đó được hồi quy theo từng mẫu dữ liệu nhỏ hơn được phân chia theo điểm gãy (là điểm mà đường hồi quy gãy khúc) Theo điều kiện đặc điểm văn hóa kinh tế xã hội ở Nigerian, mô hình thời gian chi phí của Bromilow được thành lập: T=63C0.262 với khả năng dự báo nghèo nàn (R=0.453; R2=0.205) Do đó Ogusemi và Jagboro đã cải tiến mô hình Bromilow bằng việc sử dụng các nhóm dữ liệu mẫu được phân theo các điểm gãy khúc, điều này làm cho khả năng dự đoán của mô hình tăng lên đáng kể (R=0.875, R2=0.765), và phương trình được tìm thấy: T=118,563-0.401C (C≤408) hoặc T=603,427+0.610C (C>408) Mô hình đã cho thấy sự hữu ích trong việc dự đoán thời gian hoàn thành dự án
Nguồn bài báo của TS Lê Hoài Long: Time-Cost Relationships of Building Construction Project In Korea [13]
Bromilow (1969; 1980; 1988); Sidwell (1984) và Walker (1995) đã tìm ra “chi phí” chính
là chìa khóa để xác định thời gian thực hiện dự án ở Australia Ng cùng các cộng sự (2001) sau khi đã kiểm tra và sửa đổi lại mô hình BTC với bộ dữ liệu mới, so sánh với những nghiên cứu trước đây ở Australia đã nhận ra rằng chiều dài của một đơn vị thời gian xây dựng thay đổi theo từng giai đoạn thời gian Và họ cũng kết luận sự cải tiến trong xây dựng đã phát triển mạnh mẽ hơn 3 thập kỷ qua so với thời kỳ nghiên cứu của
Bromilow (1969)
Trang 31HVTH: Phạm Chí Công Page 18
Chan (1999) nghiên cứu ở Hong Kong đã khám phá ra rằng mối quan hệ giữa thời gian và chi phí là một công cụ tiện lợi cho những người ứng dụng mô hình này trong xây dựng ở các dự án công cộng hay những dự án tư nhân Chan (2001) thực hiện một nghiên cứu tương tự cho các dự án công cộng từ những năm cuối thập niêm 80 cho đến đầu những năm thập niên 90 ở Malaysia và giới thiệu mô hình ứng dụng BTC
Một nghiên cứu khác, Endut cùng các cộng sự (2006) đã cho thấy không có căn cứ gì để
đề nghị tất cả các tham số dự án đều tuân theo mô hình BTC Mẫu dữ liệu của Endut (2006) lấy từ các dự án đã được thực hiện từ năm 1994 đến năm 2005
Chen và Huang (2006) đưa ra quan điểm là chỉ những dự án xây dựng tư nhân là tuân theo
mô hình nguyên thủy của BTC Trong nghiên cứu này, thời gian thực hiện các dự án công cộng thì cũng giống như phương trình của các dự án tư nhân tuy nhiên chi phí xây dựng được thay bằng nhân tố diện tích sàn xây dựng
Từ đó thật dễ dàng ta thấy rằng, các tham số trong mô hình BTC không đồng nhất trong từng thời đoạn, từng thị trường, và đặc điểm đăc trưng từng dự án Tuy nhiên việc ứng dụng mô hình BTC trong việc ước lượng và chấm điểm chuẩn cho thời gian xây dựng là rất mạnh và nó sẽ giúp ích cho các nhà quản lý xây dựng và các chuyên gia trong lĩnh vực này
2.2 Các nghiên cứu trong nước:
Theo báo Người Lao Động (16/07/2001):
Tiến độ xây dựng nhìn chung phụ thuộc vào nhiều nguồn vốn đầu tư cho dự án Nguồn vốn đầu tư, đối với các công trình lớn thường là vốn vay, bị chi phối bởi trạng thái của nền kinh tế Theo phân tích của các chuyên viên kinh tế tài chánh, khi phải đối phó với tình hình tín dụng trong nước tăng trưởng cao và chỉ số giá tiêu dùng tăng, Nhà nước kiềm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng phương pháp “xiết chặt tín dụng”, nhiều dự án đầu tư lớn phải tạm đình chỉ thực hiện hoặc trì hoãn thời gian thi công
Theo một nghiên cứu của Nguyễn Duy Long & Lưu Trường Văn [9] về vấn đề vướng
mắc của các dự án xây dựng lớn ở thành phố Hồ Chí Minh Với năm vấn đề vướng mắc
Trang 32Nghiên cứu sâu hơn đã chỉ ra có một mối liên hệ giữa các vướng mắc này Các vướng mắc thường xảy ra có thể được nhóm thành năm nhóm: Các đơn vị thiết kế và thi công thiếu năng lực; Công tác dự báo và quản lý các thay đổi nghèo nàn; Các vấn đề thuộc xã hội và công nghiệp; Các vấn đề về địa điểm dự án; Các phương tiện/ công cụ thi công và quản lý thích hợp Các vướng mắc này đã khẳng định là hầu hết các vấn đề này liên quan đến con người và quản lý
Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, nếu không giải quyết được các vướng mắc trong ngành xây dựng Việt Nam thì dẫn đến: chậm trễ và vượt ngân sách; Tai nạn lao động; Chất lượng kém; Tranh chấp làm tổn hại quan hệ hợp tác Trong đó sự chậm trễ và vượt chi phí được nhận định là thường hay xuất hiện nhất
Trang 33HVTH: Phạm Chí Công Page 20
Bảng 2.1: Xếp hạng các vấn đề thường gặp trong ngành xây dựng
Từ kết quả trên cho thấy, vấn đề dự án bị chậm trễ và vượt chi phí là hai vấn đề vướng mắc hàng đầu trong ngành xây dựng hiện nay Với trị trung bình nằm trong khoảng 3÷4, đồng nghĩa với việc dự án bị chậm trễ và vượt chi phí xảy ra hầu như trong tất cả các dự
án xây dựng tại Việt Nam
Theo PGS.TS Trần Chủng (2004): việc chậm trễ trong quá trình thi công sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến chi phí dự án Phần lớn các dự án xây dựng bị chậm tiến độ đều làm cho chi phí dự án tăng lên, thậm chí đến 20-30% tổng giá trị Chậm bàn giao công trình đưa vào sử dụng làm cho vốn đầu tư quay vòng chậm, gây thiệt hại về vốn cho chủ đầu tư
Luận văn thạc sỹ của Trần Khoa: Mô hình phân tích biến động thời gian và chi phí
dự án xây dựng dân dụng và công nghiệp bằng phương pháp BBNs (2009)
Đề tài luận văn này tập trung vào nghiên cứu những rủi ro về thời gian và chi phí của dự
án đầu tư Mô hình được xây dựng và phân tích trong nghiên cứu này là để dự báo, đánh giá mức độ rủi ro thời gian và chi phí của một dự án tương lai dựa vào các dữ liệu quá khứ cùng với kinh nghiệm thực tế, đánh giá những xác suất xảy ra rủi ro của các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian và chi phí của dự án Nghiên cứu đã nhận dạng và xếp hạng được mức độ ảnh hưởng của 38 yếu tố rủi ro gây biến động đến thời gian và chi phí của dự án xây dựng dân dụng và công nghiệp thông qua bảng khảo sát lần 1 Từ đó, chọn lọc 17 yếu
tố rủi ro chính tác động mạnh đến thời gian và chi phí của dự án và thiết lập 29 mối quan
hệ giữa chúng thông qua bảng khảo sát lần 2 để xây dựng mô hình BBNs tổng quát phân tích biến động thời gian và chi phí cho các dự án xây dựng dân dụng và công nghiệp
) Hạn chế: Mô hình BBNs trong nghiên cứu này được xây dựng chủ yếu dựa trên ý kiến chuyên gia Từ bước xác định các yếu tố gây biến động thời gian và chi phí của dự án đến việc xác định mối quan hệ tác động các yếu tố cũng như mức độ tác động của các yếu
tố đó Do đó, kết quả khảo sát đôi khi mang tính chủ quan, cảm tính, phụ thuộc vào quan điểm của mỗi cá nhân đối với mỗi vấn đề về đánh giá Một vài số liệu khảo sát không chính xác có thể dẫn đến sai lệch đối với kết quả phân tích, làm kết quả mô hình không còn chính xác
Trang 34Có 6 nguyên nhân được đánh giá là có ảnh hưởng mạnh đến việc trễ tiến độ đối với các dự
án trong lĩnh vực nghiên cứu được sắp xếp theo trình tự giảm dần mức độ ảnh hưởng như sau:
- Chủ đầu tư thay đổi mục đích sử dụng, quy mô xây dựng và khối lượng
- Nhà thầu thiếu máy móc, thiết bị, nhân sự thi công chưa phù hợp với thi công nhà cao tầng; cung ứng vật tư không kịp thời
- Những trở ngại trong công tác đền bù, giải phóng mặt bằng
- Khảo sát không đầy đủ, hồ sơ thiết kế giải pháp thiết kế không đúng, thủ tục thay đổi thiết kế phức tạp
- Nhà thầu gặp khó khăn về tài chính
- Nhà nước có sự thay đổi về Quy hoạch, thay đổi về các chính sách trong quá trình thực hiện dự án
Trong 6 nguyên nhân trên nêu trên có 2 nguyên nhân thuộc về Chủ đầu tư, 2 nguyên nhân thuộc về Nhà thầu, 1 nguyên nhân thuộc về Tư vấn thiết kế và một nguyên nhân thuộc về môi trường chính trị, chính sách
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Anh Tuấn: Đánh giá biến động chi phí và thời gian của
dự án xây dựng với công cụ Neuron Network (ANN) (2007)
Qua kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy 10 nhân tố chính tác động đến dự thay đổi về chi phí và thời gian của một dự án xây dựng dân dụng- công nghiệp bao gồm:
- Yếu kém của ban quản lý dự án
- Khả năng tài chính của chủ đầu tư
Trang 35HVTH: Phạm Chí Công Page 22
- Tổ chức quản lý công trường và giám sát yếu kém
- Khả năng tài chính của nhà thầu
- Thiết kế thay đổi
- Biến động giá cả trên thị trường
- Khác biệt giữa điều kiện thực tế so với khi khảo sát thiết kế
- Độ chính xác của dự toán và các khoản dự trù
- Các sai sót trong thiết kế
- Sự chậm trễ trong thanh toán của các công việc đã hoàn thành của chủ đầu tư
Từ kết quả này, tác giả đề xuất 4 biện pháp chính nhằm cải thiện, kiểm soát chi phí và tiến
độ dự án là: Năng lực quản lý của chủ đầu tư/ban quản lý dự án tốt; tổ chức quản lý công trường và giám sát tốt Nếu đáp ứng tốt được 4 nhân tố này xuyên suốt quá trình thực hiện
dự án thì chúng ta có thể cải thiện đáng kể tình trạng vượt chi phí và chậm tiến độ của các
dự án trong nước
Trang 36HVTH: Phạm Chí Công Page 23
CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
3.1 Các khái niệm về dự án và tiến độ xây dựng
3.2.1 Dự án và dự án xây dựng
Dự án: là một quá trình gồm các công tác, nhiệm vụ có liên quan với nhau, được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong các điều kiện ràng buộc về thời gian, nguồn lực và ngân sách Mỗi dự án có các đặc điểm: có mục tiêu rõ ràng; có thời hạn nhất định, nghĩa là
có thời điểm bắt đầu và kết thúc; sử dụng nguồn lực và nguồn lực này bị hạn chế; mang
tính độc đáo đối với mục tiêu và phương thức thực hiện (Quản Lý Dự Án-Cao Hào Thi, Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, 1998)
Dự án: là một nhóm các công việc được thực hiện theo một quy trình nhất định dể đạt được mục tiêu đề ra, có thời điểm bắt đầu và kết thúc được ấn định trước và sử dụng tài
nguyên có giới hạn (Quản Lý Dự Án Xây Dựng- Đỗ Thị Xuân Lan)
Dự án xây dựng: là tập hợp những đề xuất có liên quan đến bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải tạo những công trình xây dựng Đặc điểm của một dự án nói chung và dự án xây
dựng nói riêng gồm có ba yếu tố: quy mô; kinh phí và thời gian (Quản Lý Dự Án Xây Dựng- Đỗ Thị Xuân Lan)
3.2.1.1 Các loại dự án
- Dự án hợp đồng (Contractual project): sản xuất sản phẩm, dịch vụ
- Dự án nghiên cứu và phát triển (R&D Project)
- Dự án xây dựng (Construction Project)
- Dự án hệ thống thông tin (Information System Project)
- Dự án đào tạo và quản lý (Management & Tranning Project)
- Dự án bảo dưỡng lớn (Major Maintenance Project)
- Dự án viện trợ phát triển/ phúc lợi công cộng (Public/ Welfare/ Development Project)
(Cao Hào Thi- Nguyễn Thúy Quỳnh Loan,1998)
Trang 37HVTH: Phạm Chí Công Page 24
3.2.1.2 Các tiêu chuẩn để đánh giá sự thành công của một dự án:
Một dự án được gọi là thành công khi:
- Hoàn thành trong thời gian quy định ( within time)
- Hoàn thành trong chi phí cho phép (within cost)
- Đạt được thành quả mong muốn (design performance)
- Sử dụng nguồn lực được giao một cách hiệu quả (effective) và hữu hiệu (efficiency)
(Cao Hào Thi- Nguyễn Thúy Quỳnh Loan,1998)
Theo Nguyễn Duy Long và Đỗ Thị Xuân Lan (2003), việc xác định một dự án thành
công hay thất bại là rất khó khăn vì ba lý do sau:
- Không có sự rõ ràng trong việc làm thế nào để đo lường sự thành công của dự án vì các bên tham gia cảm nhận sự thành công hay thất bại của các dự án là khác nhau
- Các yếu tố thành công và thất bại của các dự án là không giống nhau trong các nghiên cứu trước đây
- Đối với mỗi bên tham gia thì mục tiêu và sự ưu tiên được xác định khác nhau trong các giai đoạn khác nhau của dự án
Cần phân biệt sự thành công của dự án và sự thành công của quản lý dự án, de Wit (1998) cho rằng sự thành công của dự án được đánh giá trên cơ sở các mục tiêu chung của dự án còn sự thành công của quản lý dự án được đánh giá trên cơ sở chi phi, thời gian và chất lượng Tuy nhiên, Baccarini (1999) quan niệm sự thành công của dự án được đo lường bằng sự thành công của công trình và sự thành công của quản lý dự án
3.2.2 Tiến độ xây dựng:
a Theo Jong H Ock, tiến độ dự án là một kế hoạch để hoàn thành dự án dựa trên các
điều kiện về dự án, ví dụ như một trình tự logic của các hoạt động, các nguồn lực sẵn có, các ràng buộc về thời gian cũng như ngân sách
b Theo Nguyễn Đình Thám (2001), tiến độ thi công là tài liệu thiết kế, được lập dựa trên
cơ sở biện pháp tổ chức thi công đã xác định nhằm ấn đinh các yêu cầu sau:
Trang 38HVTH: Phạm Chí Công Page 25
- Trình tự tiến hành các công tác
- Quan hệ ràng buộc giữa các công tác với nhau
- Thời gian hoàn thành từng hạng mục và toàn bộ công trình
- Nhu cầu về nhân tài, vật lực cần thiết cho việc thi công tại những thời điểm nhất định
c Theo Eric Verzuh (1999), tiến độ xác thực là một trong những tiêu chí hàng đầu cho
sự thành công của dự án Những yêu cầu về một tiến độ thực tế gồm có:
- Bao gồm một kiến thức sâu sắc về công việc cần hoàn thành
- Thể hiện trình tự công tác theo trật tự đúng đắn
- Kể đến những ràng buộc bên ngoài bên cạnh sự kiểm soát trong nội bộ nhóm
- Có thể hoàn thành kịp thời gian, với sự cung cấp nhân lực có năng lực hiện hữu và đầy
đủ thiết bị
d Theo PGS.TS Trần Chủng (2004): tiến độ xây dựng là kế hoạch thời gian thực hiện
các phần công việc xây dựng được sắp xếp có tổ chức, có trình tự và được kiểm soát Hầu hết các tiến độ xây dựng đều được biểu diễn bằng các sơ đồ chỉ ra sự liên quan giữa thời gian bắt đầu và kết thúc các công việc của dự án Nó có thể là sơ đồ ngang, sơ đồ xiên, hay sơ đồ mang lưới, tùy theo quy mô và mức độ phức tạp của dự án
e Theo Bromilow (1969): thời gian hoàn thành dự án là khoảng thời gian tính từ ngày
khởi công nhận mặt bằng công trường cho đến lúc bàn giao công trình cho chủ đầu tư để
đi vào hoạt động
3.2 Lý thuyết bảng câu hỏi:
3.2.1 Giới thiệu:
Để thu thập tài liệu ban đầu, hiện nay ngành thống kê thực hiện hai hình thức: báo cáo thông kê định kỳ và điều tra chuyên môn Điều tra chuyên môn được áp dụng để thu thập thông tin đối với những hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội không thể hoặc không nhất thiết phải thực hiện báo cáo thống kê định kỳ Điều tra chuyên môn có thể được tiến hành trên tất cả các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu, gọi là điều tra toàn bộ hoặc chỉ tiến hành
Trang 39HVTH: Phạm Chí Công Page 26
trên một số đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu gọi là điều tra không toàn bộ Điều tra không toàn bộ gồm một số loại chủ yếu như điều tra chọn mẫu, điều tra trọng điểm, điều tra chuyên đề
Điều tra chọn mẫu là một loại điều tra không toàn bộ, người ta chỉ chọn ra một số đơn vị
từ tổng thể chung để điều tra thực tế, rồi sau đó bằng các phương pháp khoa học, tính toán suy rộng cho toàn bộ tổng thể Theo Th.S Hà Văn Sơn- trường ĐH Kinh tế Tp.HCM
“Điều tra chọn mẫu có thể ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội Với các phương pháp suy luận thống kê khoa học, thông qua nghiên cứu mẫu có thể đi đến các kết luận đáng tin cậy mà cần phải nghiên cứu toàn bộ tổng thể”
3.2.2 Mẫu nghiên cứu:
Dữ liệu cho mẫu được nghiên cứu từ các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, các nhà quản lý dự
án, các chuyên viên, kỹ sư, kiến trúc sư đã từng tham gia thực hiện các dự án và có thể nắm được các thông tin về dự án Khi nghiên cứu điều tra chọn mẫu, cái chính không phải nhằm nghiên cứu tổng thể mẫu đại diện được chọn ra từ tổng thể chung, mà chính là qua tổng thể mẫu đó để nghiên cứu được tính quy luật và trạng thái của tổng thể chung chứa
nó Kích thước mẫu phụ thuộc vào phương pháp ước lượng theo nghiên cứu cụ thể Hiện nay có nhiều cách chọn kích thước mẫu khác nhau Theo một số tài liệu tham khảo, có 3 phương pháp chọn cỡ mẫu được quan tâm nhất:
- Theo Hoelter (1983), kích thước mẫu tới hạn phải là 200
- Theo Bollen (1989), kích thước mẫu tối thiểu phải là 5 mẫu cho một tham số cần ước lượng
- Theo Luck D.J ; Rubin R.S ; Phan Văn Thắng (2002) có thể xác định kích thước mẫu theo công thức:
2 2 2 / 2
Trang 401.645 0.25
2700.05
3.3 Khái quát về phân tích hồi quy
3.3.1 Hồi quy tuyến tính đơn
Nếu kết luận được 2 biến có tương quan tuyến tính chặt chẽ với nhau qua hệ số tương quan r, đồng thời giả định rằng chúng ta đã cân nhắc kỹ bản chất của mối quan hệ tiềm ẩn giữa 2 biến và xem như đã xác định đúng hướng của 1 mối quan hệ có thật giữa chúng, thì
ta có thể mô hình hóa mối quan hệ nhân quả của chúng bằng mô hình hồi quy tuyến tính, trong đó một biến được gọi là biến phụ thuộc (hay biến được giải thích- Y) và biến kia là biến độc lập (hay biến giải thích-X) Mô hình này sẽ mô tả hình thức của mối quan hệ và qua đó giúp ta dự đoán mức độ của biến phụ thuộc (với độ chính xác trong một phạm vi giới hạn) khi biết trước giá trị của biến độc lập
3.3.1.1 Các giả định đối với phân tích hồi quy tuyến tính đơn
Phân tích hồi quy không phải chỉ là mô tả các dữ liệu quan sát được Từ các kết quả quan sát được trong mẫu, phải suy rộng kết luận cho mối quan hệ giữa các biến trong tổng thể
Sự chấp nhận và diễn dịch kết quả hồi quy không thể tách rời các giả định cần thiết và những chuẩn đoán về sự vi phạm của các giả định đó Nếu các giả định bị vi phạm thì các kết quả ước lượng được không đáng tin cậy nữa
Sự suy rộng các kết quả của mẫu cho các giá trị của tổng thể phải trên cơ sở các giả định cần thiết sau: