Trước những đòi hỏi cấp bách về nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu khoa học về Triết học trong xu thế hội nhập khu vực, việc nghiên cứu nhu cầu tin và thực trạng nguồn lực thông tin ở Viện Triết học, từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp để nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu tin đa dạng của những người quan tâm về Triết học là vấn đề quan trọng và cấp thiết. Chính vì vậy tôi chọn đề tài : “Nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin tại thư viện Triết học” để đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin, đáp ứng nhu cầu tin da dạng của những người quan tâm đến triết học .
Trang 1MỞ ĐẦU 1) Tính cấp thiết của đề tài
Vào những năm cuối của thế kỉ XX, nền kinh tế tri thức đã xuất hiện trên thếgiới và ngày càng phát triển, đó là một nên kinh tế được xây dựng trên nền tảngtruyền tri thức, sản xuất và truyền tải thông tin, tri thức ngày càng có vai trò đặcbiệt quan trọng Trong nền kinh tế tri thức, tài nguyên quan trọng nhất không phải
là tài nguyên vật thể mà là thông tin/tri thức Thông tin/tri thức trong đó có thôngtin/tri thức Khoa học Xã hội và Nhân văn trở thành nhân tố quan trọng quyết định
sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnhcông nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Khoa học xã hội và nhân văn ngày càngđược khẳng định, có vị trí,vai trò quan trọng đối với đời sống chính trị, xã hội, đốivới công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế xãhội Những thành tựu của cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn đã vàđang đóng góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền tảng tư tưởng, xác lập cơ sởkhoa học cũng như khẳng định nguồn gốc, truyền thống lịch sử và bản sắc văn hóadân tộc Việt Nam Chính vì vậy ngay từ Hội nghị lần thứ hai ban chấp hành Trungương Đảng khóa VIII Đảng ta đã khẳng định: phải đẩy mạnh các hoạt động thôngtin, phổ cập kiến thức khoa học công nghệ, đẩy mạnh các hoạt động thông tin, phổbiến kiến thức khoa h ọc công nghệ, đẩy mạnh các hoạt động thông tin, phổ cậpkiến thức khoa học công nghệ, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ cập tri thức khoa họcMác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khoa học xã hội và nhân văn
Viện triết là cơ quan nghiên cứu khoa học đầu ngành về các lĩnh vực Triếthọc,có chức năng nghiên cứu những vấn đề Triết học trong nước và thế giới, nhất
là những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn Việt Nam Từ góc độ triết học góp phần vàoviệc cung cấp căn cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối chủ trương, chínhsách của Đảng và Nhà nước là cơ sở xây dựng thế giới quan ,phương pháp luậnkhoa học cho cán bộ và nhân dân ta Vì vậy, nhiệm vụ cấp cung cấp thông tin đầy
Trang 2đủ chính xác, kịp thời là công việc quan trọng và cấp thiết của thư viện Viện Triếthọc trong gia đoạn hiện nay.
Để đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ của Viện Triết học trong xu thế hộinhập và liên kết khu vực hiện nay, Viện Triết học đã đầu tư càng tốt hơn đến hoạtđộng thông tin thư viện, nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo, phổ biến trithức triết học cho các đối tượng Với hệ thống tài liệu về các chuyên ngành triếthọc, lịch sử triết học, luận án, luận văn, các đề tài , kết quả nghiên cứu trong nhữngnăm qua , …đã góp phần nào đáp ứng được nhu cầu của giới nghiên cứu , giảngdạy , học tập và những người yêu thích triết học Tuy vậy, vẫn còn những thông tinmới về sự phát triển của các trường phái triết học hiện đại trên thế giới , nguồn tàiliệu hiện có của thư viện chưa được cập nhật thường xuyên , các tài liệu cổ, quýhiếm chưa được khai thác triệt để nguyên nhân của tình trạng này chính là do cơ
sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực của thư viện chưa đáp ứng đáp ứng đượccông tác thông tin trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Thêm vào
đó, công tác tin học hóa thông tin thư viện chưa được thực hiện một cách đồng bộ
và còn nhiều bất cập là nguyên nhân khiến nguồn tài liệu hiện có chưa được sửdụng một cách hiệu quả
Trước những đòi hỏi cấp bách về nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu khoa học
về Triết học trong xu thế hội nhập khu vực, việc nghiên cứu nhu cầu tin và thựctrạng nguồn lực thông tin ở Viện Triết học, từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp
để nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu tin đa dạng củanhững người quan tâm về Triết học là vấn đề quan trọng và cấp thiết Chính vì vậy
tôi chọn đề tài : “Nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin tại thư viện Triết học” để đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực
thông tin, đáp ứng nhu cầu tin da dạng của những người quan tâm đến triết học
Trang 32) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1) Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nguồn lực thông tincủa thư viện Viện Triếthọc
2.2) Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài được giới hạn trong việc nghiên cứu nguồn lực thôngtin của phòng thư viện Viện Triết học
Về thời gian: Đề tài giới hạn từ 2010 đến 2015
3) Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu những vấn đề có tính bản chất, tới việc khảo sát thựctrạng nguồn lực thông tin và khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của người dùngtin tại thư viện Triết học, từ đó có cơ sở lí luận và thực tiễn để đề xuất những giảipháp nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu tincủa người dùng tin về lĩnh vực triết học trước yêu cầu nghiên cứu các vấn đề vềkhoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn đổi mới của đất nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài tập trung vào một số những vấn đề cụ thểsau:
- Nghiên cứu đặc điểm người dùng tin, vai trò nguồn lực thông tin của ViệnTriết học
- Phân tích thực trạng của việc xây dựng nguồn lực thông tin tại thư viện ViệnTriết học
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin tạithư viện của Viện Triết học
4) Phương pháp nghiên cứu
Trang 4Trên cơ sở sử dụng phương pháp nhận thức khoa học chung của chủ nghĩabiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đề tài được sử dụng các phương pháp cụthể sau:
- Phương pháp thu thập,phân tích, tổng hợp, so sánh
- Phương pháp trao đổi, phỏng vấn trực tiếp các nhà quản lý và người dùng tin
- Phương pháp thống kê
5) Cấu trúc của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết thúc, danh mục tài liệu tham khảo và phục lục , bàitiểu luận có cấu trúc gồm 3 chương :
Chương 1: Khái quát về Viện Triết học và phòng Thư Viện của Viện Triết học
1.1 Vài nét về lịch sử phát triển của Viện Triết học
1.2 Giới thiệu phòng thư viện với nhiệm vụ chiến lược của Viện Triếthọc
Trang 5Chương 1: Khái quát về Viện Triết học và phòng Thư Viện của Viện Triết học.
1.1 Vài nét lịch sử phát triển về Viện Triết học
Viện Triết học là viện nghiên cứu khoa học cơ bản cấp quốc gia
thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam, viện được thành lập năm 1962 trên cơ sở tổchức tiền thân là tổ Triết học do giáo sư Vũ Khiêu phụ trách
Viện Triết học được thành lập với chức năng : Nghiên cứu những vấn đềTriết học trong nước và thế giới ,những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn của sựnghiệp cách mạng Việt Nam Từ góc độ triết học góp phần vào việc cung cấp luận
cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước vào việc xây dựng thế giới quan khoa học và phương pháp luận khoahọc pháp luận chung cho cán bộ và nhân dân
Viện triết học có các nhiệm vụ chính sau đây :
- Xác định và thực hiện các kế hoạch nghiên cứu dài hạn và ngắn hạn thuộclĩnh vực triết học
- Tham gia giảng dạy, truyền bá tri thức triết học Mác – Lênin, những tưtưởng triết học tiến bộ khác, chống lại các trào lưu triết học có phản động, phảnkhoa học
- Tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ triết học có trình độ trên đại học
- Tiến hành trao đổi và hợp tác khoa học với các nước trên thế giới trong lĩnhvực triết học
- Xây dựng hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện và cơ sở vật chất kỹ thuật cầnthiết cho công tác nghiên cứu khoa học trước mắt cũng như lâu dài của Viện
Cơ cấu tổ chức của viện gồm có 11 phòng nghiên cứu và 4 phòng chức năngphục vụ nghiên cứu dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Viện trưởng:
Mười một phòng nghiên cứu khoa học của Viện bao gồm:
1 Phòng tư tưởng triết học Việt Nam
Trang 62 Phòng triết học phương Đông.
3 Phòng triết học phương Tây
Bốn phòng chức năng phục vụ nghiên cứu:
1 Phòng quản lý khoa học và đào tạo
2 Phòng hành chính tổng hợp
3 Phòng thư viện
4 Phòng tạp chí triết học
Đội ngũ cán bộ nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu của Viện
Đội ngũ cán bộ nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu của Viện hiện nay gồm 49cán bộ trong biên chế Viện Triết học cũng là một trong những địa chỉ nghiên cứutập trung nhiều nhà khoa học Triết học có trình độ cao, với 18 tiến sĩ, 17 thạc sĩ, 15
cử nhân chuyên ngành Triết học và các chuyên ngành khác
1.2 Phòng thư viện Viện Triết học với nhiệm vụ chiến lược của Viện 1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của thư viện:
Thư viện là bộ phận có vai trò quan trọng, không thể thiếu trong việc phục vụhoạt động nghiên cứu và đào tạo Triết học Do nhận thức được ý nghĩa của hoạtđộng này lãnh đạo Viện qua các thời kì đã rất quan tâm phát triển thư viện Triếthọc ngay từ khi thành lập
Trang 7Xuất phát từ chức năng và nhiệm vụ chung của Viện Triết học, chức năngnhiệm vụ của thư viện triết học được xác định là:
- Lưu trữ và phổ biến các ấn phẩm nghiên cứu liên quan đến Triết học
- Tiến hành xây dựng, tổ chức hoạt động thông tin thư viện phục vụ cán bộnghiên cứu nói chung nhằm đáp ứng nhu cầu tin của bạn đọc một cách đầy đủ, kịpthời và xác định Thư viện sử dụng những phương tiện thông tin hiện đại đồng thờikết hợp sử dụng các phương tiện tìm tin truyền thông như hệ thống mục lục, cùngvới việc xây dựng các cơ sở dữ liệu giúp cho những cán bộ nghiên cứu tìm đượctài liệu nhanh nhất trong thời gian ngắn nhất
- Tổng hợp, sắp xếp, in các án phẩm thông tin sách và tạp chí theo chủ đề,giúp các nhà nghiên cứu rút ngắn thời gian sưu tầm tài liệu, tập trung thời giannghiên cứu, đem lại hiểu quả cao
- Tổng quan tài liệu theo chủ đề nghiên cứu của các phòng và Viện đặt hàng.Hàng năm Thư viện sưu tầm các bài báo theo chuyên đề có liên quan đến ngànhTriết học góp phần hỗ trợ người dùng tin sử dụng có hiệu quả cao
- Tổ chức trưng bày, triển lãm tài liệu mới hay tài liệu theo chuyên đề, giớithiệu đến đọc giả những tài liệu cụ thể giúp họ tìm được nguồn tài liệu phongphú,đi sâu nghiên cứu khai thác thông tin
- Phục vụ phổ biến thông tin, khai thác nội dung tài liệu để cung cấp chongười dùng tin Thư viện tổ chức phòng đọc, phòng mượn, giúp đọc giả khai thác,tra cứu tài liệu theo yêu cầu một cách tốt nhất
Căn cứ vào vai trò, chức năng,nhiệm vụ được giao, công tác bổ sung, trao đổicủa thư viện được đầu tư thỏa đáng; có chính sách phát triển cụ thể, phù hợp vớiyêu cầu của Viện Triết học
1.2.2 Đội ngũ cán bộ trong thư viện
Phòng thư viện có 4 cán bộ trong đó có 2 cán bộ có trình độ thạc sĩchuyên ngành thư viện; 1 thạc sĩ Văn hóa và 1 người đang học cao học thư viện
Trang 8Hầu hết cán bộ sử dụng tương đối tốt một ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Nga, tiếngTrung) Để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ, phòng luôn chú trọng đến việc nâng caotrình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ trẻ, như thường xuyên được cử đihọc các lớp bồi dường về nghiệp vụ do Viện thông tin khoa học xã hội, trung tâmthông tin tư liệu khoa học và công nghệ quốc gi tổ chức.
Do được đào tạo cơ bản, đội ngũ cán bộ trong phòng đã đảm nhiệm toàn bộcác khâu trong hoạt động thông tin – thư viện, từ việc bổ sung, thu thập tài liệu đến
xử lí thông tin, phục vụ người dùng tin Các công việc trong phòng đều được phâncông cụ thể, phù hợp với khả năng của từng cán bộ:
- Trưởng phòng phụ trách chung và theo dõi tình hình tin học hóa,thực hiệncông tác bổ sung, trao đổi tài liệu
- Một cán bộ phụ trách công tác theo dõi, xử lý nội dung và kĩ thuật sách vàtạp chí nhập vào kho
- Một cán bộ phụ trách phòng đọc quản lí kho sách và công tác phục vụ ngườidùng tin
- Một cán bộ phụ trách phòng đọc,quản lí kho tư liệu và công tác phục vụngười dùng tin
Ngoài ra các thành viên trong thư viện đều tham gia công tác tin học hóa thưviện do Viện khoa học xã hội Việt Nam giao nhiệm vụ hằng năm
1.2.3 Cơ sở vật chất.
Thư viện Triết học đã được đầu tư cơ sở vật chất và các trang thiết bị đáp ứngđược nhu cầu của người dùng tin hiện nay thư viện được bố trí được 8 phòng,trong đó 4 phòng dùng làm kho, 1 phòng đọc, 2 phòng thủ thư phục vụ bạn đọc, 1phòng bổ sung và xử lý nghiệp vụ Các phòng làm việc, phòng đọc phòng khođược trang bị hệ thống chiếu sáng, máy hút ẩm, máy hút bụi, điều hòa, quạt thônggió Các phương tiện để làm việc gồm có 4 máy tính đều nối mạng Internet, trong
đó có 1 máy chủ chuyên dùng lưu trữ các CSDL đã được tích hợp nối mạng LAN
Trang 9và Internet để các máy tính trong Viện có thể tra cứu tài liệu,3 máy in Laser, các hệthống phần mềm chuyên dụng phục vụ cho việc phổ biến thông tin và người dùngtin
1.3 Vốn Tài Liệu
Nguồn lực thông tin của Viện Xã hội học được hình thành vàphát triển trong hơn 20 năm (1983-2007) Số lượng tài liệu khi mới thành lập Việnchỉ có hơn 250 bản sách, trang thiết bị của thư viện còn phải dùng chung với phònghành chính nhưng đến nay lên tới hơn 12.500 bản (sách, tư liệu ) và nhiều loại tạpchí khác nhau Hiện nay hàng năm Thư viện thường được bổ sung khoảng 300cuốn sách tiếng Việt, 150 cuốn sách tiếng Anh, hơn 30 loại tạp chí Việt và khoảng
40 loại tạp chí tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc
Có thể chia toàn bộ tài liệu hiện có tại Thư viện Viện Xã hội học thành cácthành phần chính như sau:
1 Từ điển, bách khoa toàn thư liên quan đến khoa học xã hội và xã hội học
2 Các sách nói về Lý thuyết, phương pháp nghiên cứu xã hội học và các sách
xã hội học chuyên biệt như: xã hội học gia đình, xã hội học dân số, xã hội họcnông thôn, xã hội học đô thị, xã hội học sức khoẻ
3 Các loại tạp chí Xã hội học, xã hội học chuyên ngành và các ngành liênquan với xã hội học
4 Các báo cáo nghiên cứu, kết quả khảo sát thực nghiệm, tài liệu chuyênkhảo
5 Số liệu điều tra cơ bản quốc gia về dân số, niên giám thống kê, mức sống
Trang 10* Sách: khoảng 22.175 cuốn gồm nhiều ngôn ngữ khác nhau như tiếng Việt,tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Đức và tiếng Nga v.v.
* Tài liệu tra cứu: 529 cuốn
* Báo, tạp chí: 38 loại báo trong nước
30 loại tạp chí tiếng Việt
58 tạp chí tiếng nước ngoài
(tổng số khoảng 8.500 bản)
* Tư liệu: 2551 cuốn
1.4 Đặc điểm người dùng tin ở Thư Viện Viện Triết học
Để xây dựng và phát triển nâng cao chất lượng nguồn lực thông của thưviện, đề tài đã tiến hành nghiên cứu để xác định lại một cách cụ thể người dùng tin
là ai, họ có những đặc điểm và nội dung nhu cầu tin của họ như thế nào
Phân tích thành phần và lĩnh vực hoạt động cụ thể của dùng tin có thể chia ra
2 nhóm người dùng tin chính sau :
Nhóm 1: Nhóm cán bộ nghiên cứu và giảng dạy.
Đây là nhóm người dùng tin chiếm phần lớn trong tổng số người dùng tin củathư viện Triết học Nhóm này bao gồm các cán bộ nghiên cứu của Viện và cả cáccán bộ ngoài cơ cơ quan, gồm 69 người, chiếm 49,3% Công việc nghiên cứu cũngnhư các đề tài, dự án đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải chủ động tìm tòi nhữngthông tin cần thiết Dù nhóm này nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác nhau trong Triếthọc nhưng đều có mối quan tâm đến các vấn đề như: Triết học Mác- Lênin, lịch sửTriết học, Triết học văn hóa, ngôn ngữ học, tư tưởng Hồ Chí Minh đạo đức học,toàn cầu hóa xã hội học…Thông tin dành cho đối tượng người dùng tin này rất đadạng nhưng đòi hỏi ngày càng chuyên sâu để phù hợp với vấn đề mà học nghiêncứu Họ luôn yêu cầu được cung cấp những thông tin mới, cập nhật, đầy đủ vàchính xác
Trang 11Về các loại hình tài liệu mà nhóm người người dùng tin này thường sử dụng,ngoài sách báo, tạp chí họ rất quan tâm đến các thông tin trên Internet, các tài liệuđiền dã và đặc biệt và các số liệu điều tra và thống kê mang tính chất liên ngànhcủa Quốc gia Các tài liệu điện tử như CD- ROM, bang từ thường ít có người sửdụng Các dạng tài liệu cấp 2 như thư mục chuyên đề, thư mục thông báo sáchmới, tài liệu tổng thuật, lược thuật… cũng được nhóm người dùng tin này sử dụng
vì giúp học nắm bắt được hệ thống các vấn đề nghiên cứu trong, ngoài nước và lựachọn, khai thác thông tin nhanh chóng và thuận tiện
Nhóm 2 : Nhóm nghiên cứu sinh , học viên cao học và sinh viên
Nhóm nghiên cứu sinh học viên cao học là những ngườ tốt nghiệp đại họcchuyên ngành triết học hoặc các ngành tương đương đang công tác tại Viện Triếthọc và các trường đại học hoặc cán bộ nghiên cứu các viện nghiên cứu gồm 54người chiếm 32,1% Đồng thời họ cũng là nghiên cứu sinh học , đối tượng nàythường tìm kiếm những tài liệu thông tin về một vấn đề cụ thể nào đó phù hợp vớichương trình học hoặc đề tài mà họ nghiên cứu , như sách ,tạp chí chuyên ngành,các luận án , luận văn …
Nhóm sinh viên chiếm 12,1% tổng số người dùng tin của thư viện Nhómngười này thường đến thư viện làm luận văn tốt nghiệp, tiểu luận hoặc khi có bàitập thực hành
Chương 2 Thực trạng nguồn lực thông tin tại phòng Thư Viện của Viện Triết học.
2.1 Các loại hình tài liệu tại thư viện Viện Triết học
Trang 12Nguồn lực thông tin khoa học là tập hợp có hệ thống những xuất bản phẩm
và những vật mang tin khác nhau, tồn tại dưới mọi hình thức: tư liệu, điện tử…được lựa chọn phù hợp với tính chất, loại hình và chức năng nhiệm vụ của cơ quanthông tin tư liệu
Căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ của một cơ quan nghiên cứu chuyênngành về Triết học, thư viện đã xây dựng được nguồn lực thông tin khá phong phú,
có khả năng đáp ứng nhu cầu nghiên cứu cơ bản, toàn diện về các vấn đề của Triếthọc Nguồn lực thông tin của thư viện Viện Triết học có thể được chia thành 2nhóm chính:
- Tài liệu truyền thống ( sách, báo, tạp chí, tư liệu)
- Tài liệu điện tử ( bang từ, CD- ROM, CSDL,…)
2.1.1 Nguồn tài liệu truyền thống
Nguồn tài liệu truyền thống bao gồm: sách, báo, tạp chí, tài liệu dịch, báocáo khoa học…là nguồn tin chính của thư viện Viện Triết học Nguồn tài liệu nàyđược chia làm 2 loại : tài liệu công bố và tài liệu không công bố
- Tài liệu công bố hay còn gọi là tài liệu xuất bản thường do các nhà xuất bản
ấn hành, được phân phối qua các kênh phát hành chính thức như các nhà xuất bản,các công ty, các đại lý phát hành, hiệu sách
- Tài liệu không công bố hay còn gọi la tai liệu chất “xám”, là tất cả các tàiliệu được đưa ra bởi các cơ quan chính phủ, các viện nghiên cứu, cá các nhà xuấtbản thương mại
Trải qua 53 năm hoạt động và phát triển, nguồn lực thông tin của Viện Triết
đã phát triển không ngừng, ngày càng phong phú về số lượng và chất lượng Tổngcộng kho tài liệu của thư viện có 22.175 bản
Sách : số lượng sách trong thư viện hiện nay là khoảng 22.175 cuốn gồmnhiều ngôn ngữ khác nhau như sách tiếng Việt , tiếng Anh , tiếng Pháp , tiếngTrung và tiếng Nga …
Trang 13Báo , tạp chí : Số lượng báo và tạp chí của thư viện có khoảng 2551bản, trong đó báo và tạp chí các thứ tiếng có khoảng 88 loại
Tư liệu : Kho tư liệu của Thư viện gồm 1145 bản
Tài liệu Tra cứu : 888 cuốn (chiếm 3%)
Tổng cộng : 29.588 bản
2.1.2 Nguồn tài liệu điện tử
Phòng thư viện của Viện Triết là một trong những thư viện của Viện Khoahọc Xã hội Việt Nam rất quan tâm đến việc xây dựng và phát triển các nguồn lựcthông tin điện tử Từ năm 2000 thư viện đã tiến hành nghiên cứu xây dựng CSDLnguồn tài liệu của thư viện Đến nay ( tháng 5/2007), thư viện đã xây dựng đượcmột số CSDL như :
Bảng 1 : Các CSDL đã được xây dựng tại Viện Triết học
Tên CSDL Số biểu ghiCSDL Sách tiếng Việt ,Anh, Pháp 6.700
Ngoài các CSDL dạng thư mục được lưu trên máy tính Thư viện còn cómột số CD – ROM về các số liệu điều tra xã hội về tình hình kinh tế xã hội của cáctỉnh miền Trung; một số hội thảo về Triết học tổ chức trong nước và quốc tế đượclưu trữ lại
2.2 Ngôn ngữ vốn tài liệu tại Thư viện Viện Triết học
Trang 14Vốn tài liệu của thư viện Triết học có rất nhiều các loại ngôn ngữ khác nhau,sau đây là bảng thống kê và biểu đồ thành phần ngôn ngữ sách, tư liệu và tạp chícủa thư viện Triết học:
Bảng 2 : Thống kê thành phần ngôn ngữ sách và tạp chí
Ngôn ngữ loại hình tài liệu Tiếng
Việt
TiếngLatinh
818
0
2500
380
Hiện năm, thư viện bổ sung khoảng hơn 200 đầu sách tiếng Việt trong đó baogồm cả các tư liệu dích từ nước ngoài và một phần tài liệu Hán cổ Số lượng sáchviết tiếng Anh, tiếng Pháp khoảng 2019 bản
Về tài liệu tiếng Nga: chủ yếu được bổ sung từ 1990 Tài liệu tiếng Nga có tạithư viện từ 1962
Về tài liệu tiếng Anh, tiếng Pháp, Trung Quốc nguồn tài liệu tiếng Anh, Phápđược chú trọng bổ sung cho thư viện Triết học bắt đầu từ cuối 1790
2.3 Nội dung vốn tài liệu Thư viện Viện Triết học.
Số lượng sách trong thư viện hiện nay có khoảng 13.850 bản Mặc dù là mộtViện nghiên cứu ngành về Triết học nhưng nội dung của vốn tài liệu rất đa dạng vàphong phú Nội dung tài liệu không chỉ bao gồm nội dung của các chuyên ngànhtrong ngành Triết học mà có những tài liệu nói về các vấn đề gần với Triết họchoặc liên quan đến ngành Triết để phục vụ nghiên cứu Nội dung kho sách của thưviện lên đến hơn 20 khía cạnh nghiên cứu Sau đây là bảng thống kê và biểu đồ thểhiện nội dung vốn tài liệu của thư viện Triết học
Bảng 3 : Thống kê nội dung tài liệu theo bộ môn khoa học