1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

tranh bố cục mĩ thuật 1 nguyễn thị thanh tâm thư viện tư liệu giáo dục

17 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 42,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người tham gia hợp đồng dân sự không có năng lực hành vi dân sự,mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế hành vi dân sự(Theo điều 21,22,23 Bộ luật Dân sự) sẽ không thể có đủ điề[r]

Trang 1

Hợp đồng vô hiệu và

xử lí hợp đồng vô hiệu

Nhóm 4

Đăng Cảnh

Trang 2

Nội dung trình bày:

I-Khái niệm hợp đồng vô hiệu

II-Các loại hợp đồng vô hiệu

III-Xử lý hợp đồng vô hiệu

IV-Một số vấn đề khác

Trang 3

I-Khái niệm hợp đồng vô hiệu:

1.Hợp đồng có hiệu lực:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì bất kỳ một giao dịch nào được coi là có hiệu lực thì cũng phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

-Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự

-Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp

luật,không trái đạo đức xã hội

-Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

-Hình thức hợp đồng dân sự phải phù hợp trong trường hợp pháp luật có quy định

(Theo điều 122 Bộ luật Dân sự)

2.Hợp đồng vô hiệu:

Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng được ký trái với những quy định của pháp luật

và không có giá trị về mặt pháp lý

Tức là khi một hợp đồng không thỏa mãn được một trong các điều kiện trên của một hợp đồng được coi là có hiệu lực thì sẽ bị coi là vô hiệu

II-Các loại hợp đồng vô hiệu:

Trang 4

1.Hợp đồng dân sự vô hiệu do người tham gia không có năng lực hành vi dân sự:

Người tham gia hợp đồng dân sự không có năng lực hành vi dân sự,mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế hành vi dân sự(Theo điều 21,22,23 Bộ luật Dân sự) sẽ không thể có đủ điều kiện để tự do ý chí,không thể nhận thức hành vi và hậu quả của hành vi của mình khi tham gia vào quan hệ hợp đồng.Khi hợp đồng dân sự do những người không có năng lực hành vi dân sự,mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế hành vi dân sự xác lập,thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện người đó,tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô

hiệu,nếu theo qui định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập thực hiện.thời hiệu đẻ người đại diện theo pháp luật của người tham gia giao kết hợp đồng trong trường hợp này là 2 năm kể từ ngày hợp đồng đó được thiết lập

-Ví dụ:Một người bị tâm thần không ý thức được hành vi của mình đã kí hợp đồng để bán nhà cho một người khácgiao dịch này bị coi là vô hiệu vì người bị tam thần không thể tự mình giao dịch được mà cần phải có người đại diện của họ

Trong trường hợp người tham gia hợp đồng đã biết người thực hiện giao dịch dân sự với mình là người chưa thành niên,người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà vẫn giao dịch với họ và hậu quả là gâythiệt hại cho những người này thì người đại diện theo pháp luật có quyền yêu cầungười đó phải bồi thường thiệt hại.tất nhiên người đại diện theo pháp luật của những người này phải chứng minh được những khoản thiệt hại đó Trong trường hợp đặc biệt: những người có năng lực hành vi dân sự nhưng

đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành

vi của mình (ví dụ như người đó đang trong tình trạng bị kích thích tinh thần vì say rượu,người đang bị mộng du …)cũng bị coi là vô hiệu heo qui đinh tại điều

133 Bộ luật Dân sự và người đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó

là vô hiệu.Thời hiệu đẻ người đó yêu cầu Tòa án tuyên tuyên hợp đồng vô hiệu

là hai năm kể từ ngày thiết lập hợp đồng

-Ví dụ:một người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã ký hợp đồng bán nhà trong lúc đang say rượu,không nhận thức được hành vi của họ thì trong trường hợp này hợp đồng bị coi là vô hiệu nếu người đó yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng đó là vô hiệu

Trang 5

2.Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật,trái đạo đức xã hội:

Khi những giao dịch dân sự có những nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật,trái với đạo đức xã hội thì giao dịch dân sự đó sẽ bị coi là vô hiệu mà không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia giao dịch

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện nhũng hành vi nhất định(ví dụ như hành vi buôn bán ma túy,buôn người ).Đạo đức xã hội được hiểu là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với ngườitrong đời sống xã hội.được cộng đồng thừa nhận và tôn

trọng(Điều 128 Bộ luật Dân sự).Như vậy hợp đồng dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật,trái đạo đức xã hội sẽ bị coi là vô hiệu toàn bộ.Trong trường hợp này các bên trong quan hệ hợp đồng hoặc những ngời có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu bất cứ khi nào,không phụ thuộc vào thời điểm yêu cầu,thời điểm ký kết( Điều 136 Bộ luật Dân sự)

Ví dụ 1:

Vào thời điểm tháng 3/2008, Công ty Huy Bảo đã hoàn tất thủ tục mua bán và chuyển nhượng quyền sở hữu 14/29 căn hộ thuộc khu tập thể 19B Nguyễn Thị Minh Khai để xây dựng dự án khu thương mại, dịch

vụ, văn phòng và căn hộ tại số 15,17,19B Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1; còn lại 15/29 căn hộ đang chờ hoàn tất thủ tục, thì ngày 6/3/2008, Công ty Suối Ngọc gửi thư ngỏ đến các hộ dân với mục đích muốn mua lại căn hộ để đầu tư khu đất này

Ngày 29/4/2008, Công ty Suối Ngọc đã ký hợp đồng thỏa thuận với các hộ dân về việc giải quyết tài sản đặt cọc của ông Nguyễn Huy Bảo với nội dung đơn phương chịu trách nhiệm giải quyết hậu quả về tài sản đặt cọc mà Công ty Huy Bảo đã giao cọc (50% bằng vàng cho từng hộ dân)

Theo UBMTQ TP.HCM, việc Công ty Huy Bảo ký hợp đồng đặt cọc với

29 hộ dân để đảm bảo việc hứa mua bán nhà sau này là phù hợp với quy định của pháp luật

Vì hợp đồng dân sự thể hiện ý chí của hai bên, khi người bán đã hoàn tất thủ tục mua nhà thuộc sở hữu Nhà nước theo Nghị định 61/CP có

Trang 6

toàn quyền định đoạt quyền sở hữu của mình và sẽ làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho Công ty Huy Bảo để thực hiện dự án đầu tư xây dựng phù hợp với chủ trương đầu tư; quy hoạch của TP là đúng pháp luật

Còn việc Công ty Suối Ngọc ký kết hợp đồng với một số hộ dân tại khu nhà ở nêu trên có biểu hiện vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng; về mặt đạo đức xã hội, mang tính cạnh tranh mua thiếu lành mạnh và

người bán thiếu trung thực… Do vậy, những hợp đồng này đã bị vô

hiệu ngay từ khi ký kết vì đã vi phạm nguyên tắc ký kết hợp đồng dân

sự

Từ các nhận định trên, UBMTTQ TP kiến nghị Chủ tịch UBND TP sớm có chủ trương đầu tư giao cho Công ty Huy Bảo thực hiện dự án nếu công

ty này đảm bảo đầy đủ các điều kiện và năng lực thực hiện dự án Việc tranh chấp hợp đồng mua bán giữa các bên sẽ do TAND giải quyết theo luật định

Ví dụ 2

Anh A và anh B kí hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất , tuy nhiên bên bán là anh A cùng lúc đó cũng đã kí 1 hợp đồng chuyển nhượng chính thửa đất

đó cho 1 người khác Trong trường hợp này, hợp đồng bị cho là vô hiệu vì có yếu tố lừa dối

3.Hợp đồng dân sự vô hiệu do không có sự tự nguyện của chủ thể tham gia giao kết hợp đồng:

Khi thiết lập quan hệ hợp đồng thì các bên phải hoàn toàn tự nguyện,không bên nào được áp đặt,cấm đoán,cưỡng ép,đe dọa,ngăn cản bên nào hoặc không chịu sự ắp đặt chi phối,can thiệp của bất kì một cơ quan nhà nước hay bất kì một tổ chức nào.Khi các bên xác lập hợp đồng dân sự mà vi phạm nguyên tắc tự do,tự nguyện trong thỏa thuận thì hợp đồng đó là vô hiệu

Cụ thể là,khi các bên xác lập hợp đồng dân sự một cách giả tạo nhằm che dấu một giao dịch khác thì hợp đồng giả tạo vô hiệu còn giao dịch bị che dấu vẫn

có hiệu lực,trừ trường hợp hợp đồng đó cũng bị vô hiệu.nếu hợp đồng giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba nghĩa là không nhằm mục đích làm phát sinh quyền,ngĩa vụ của các bên thì hợp đồng đó cũng bị coi là vô hiệu.Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự đó vô hiệu không bị hạn chế

Trang 7

Ví dụ:A bán nhà cho B nhưng lại làm hợp đồng giả tạo là hợp đồng tặng để không phải đóng thuế cho Nhà nước,khi đó hợp đồng tặng bị coi là vô hiệu còn hợp đồng bán nhà vẫn có hiệu lực

Trong trường hợp khi một bên vô ý mà có nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng

mà xác lập hợp đồng thì có quyền bên kia thay đổi nội dung của hợp đồng

đó,nếu bên kia không chấp nhận thay đổi của bên bị nhầm lẫn thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu Hợp đồng dân do bị lừa dối hoặc bị đe dọa cũng bị coi là hợp đồng dân sự vô hiệu Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng dân sự đó vô hiệu là hai năm kể từ ngày hợp đồng đó được thiết lập

4.Hợp đồng dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức:

Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức của giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì khi có yêu cầu,Tòa án,cơ quan nhà nước có thảm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định

về hình thức của giao dịch trong một thời hạn,qua thời hạn đó mà các bên không thực hiện thì giao dịch đó bị vô hiệu

Ví dụ:A và B thỏa thuận mua bán nhà nhưng không ký hợp đồng bằng văn bản (Theo quy định của pháp luật thì hợp đồng mua bán nhà phải được giao kết bằng văn bản),khi có tranh chấp xảy ra,Tòa yêu cầu các bên phải hoàn tất thủ tục theo quy định nhưng không bên nào thực hiện.Theo yêu cầu của một hoặc các bên,Tòa án có thể uyên hợp đồng này là vô hiệu Thời hiệu để các bên yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng đó vô hiệu là hai năm,kể từ khi hợp đồng đó được thiết lập(Điều 134 Bộ luật Dân sự)

5.Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được:

Bộ luật Dân sự hiện hành,ngoài việc xác định các hợp đồng bị vô hiệu do không thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng(Điều 410) thì tại Điều

411 còn xác định trong trường hợp ngay từ khi ký kết,hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì hợp đồng đó cũng sẽ được coi

là vô hiệu

Bộ luật Dân sự cũng xác định,trong trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì

Trang 8

phải bồi thường thiệt hại cho bên kia.Tất nhiên bên bị thiệt hại phải chứng minh những khoản thiệt hại mà mình phải gánh chịu từ việc ký kết hợp đồng đó.Không bên nào phải bồi thường nếu cả hai bên biết hoặc phải biết hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được

Ví dụ:

Tưởng đã chắc cú khi mua bán nhà đất với người đứng tên trên giấy chủ quyền, nào ngờ người đó chỉ là người đứng tên giùm Cuối tháng 7-2007, ông D (ngụ Đồng Nai) bỏ gần 2,7 tỷ đồng để mua hơn 2.400 m2 đất cùng căn nhà trên đất tọa lạc tại TP Vũng Tàu (Bà Rịa-Vũng Tàu) Cứ tưởng việc mua bán sẽ rất suôn sẻ vì hai bên đã hoàn tất các thủ tục liên quan, nào ngờ đến phút chót tất cả đã vuột mất

Đứng tên giùm mà lại bán nhà

Theo “giấy hồng”, “giấy đỏ” được bà T (TP Vũng Tàu) trưng ra thì bà

là chủ sở hữu, sử dụng hợp pháp nhà, đất trên Lúc giao dịch, bà T cũng được UBND phường cấp giấy xác nhận bà chưa đăng ký kết hôn với ai Thấy chắc ăn, ông D đã mạnh dạn ký hợp đồng mua nhà đất trên với bà T

Ngay sau đó, hai bên đã đến Phòng Công chứng số 1 tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu chứng nhận hợp đồng Ông D giao đủ tiền cho bên bán và đã nộp

đủ cho nhà nước các khoản nghĩa vụ tài chính liên quan Việc sang tên

từ người bán sang người mua trên “giấy hồng” đã thực hiện xong

“Giấy đỏ” cũng có dấu mộc của công chứng viên xác nhận toàn bộ diện tích đất đã được chuyển nhượng cho người mua và ông D chỉ còn chờ được cấp giấy mới Bỗng dưng, một Việt kiều Mỹ tự xưng là chồng bà

T xuất hiện và đã làm mọi việc rối tinh

Hóa ra ông Việt kiều này từng chung sống như vợ chồng với bà T từ năm 2000 nhưng không đăng ký kết hôn Do cuộc sống chung với bà

T không hạnh phúc nên ông Việt kiều đã nộp đơn xin ly hôn, đồng thời yêu cầu tòa án xác định khối tài sản mà bà T đứng tên thực chất là… của ông Do trước đây pháp luật không cho phép nhiều Việt kiều đứng tên sở hữu, sử dụng nhà đất tại Việt Nam nên ông phải nhờ bà T đứng tên giùm

Chứng cứ ông Việt kiều xuất trình được gồm giấy bán nhà lập cuối năm

2000 có chữ ký của ông, chủ cũ và một người làm chứng (không rõ địa

Trang 9

chỉ, nhân thân) Ngoài ra, còn có giấy của bà T cam kết mình chỉ là người đứng tên giùm…

Người mua thua đậm

Tháng 7-2008, TAND TP Vũng Tàu đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ

án Theo tòa này, tại phiên hòa giải tháng 3-2007, bà T đã xác nhận mình chỉ đứng tên tài sản giùm ông Việt kiều Vậy mà vào tháng

7-2007, bà tự ý rút giấy tờ nhà đất đang thế chấp tại ngân hàng, đang tranh chấp tại tòa án để chuyển nhượng cho ông D Tòa sơ thẩm đã tuyên xử hợp đồng mà ông D ký với bà T là vô hiệu Ông D phải trả lại bản chính toàn bộ giấy tờ cho ông Việt kiều (đang là thành viên của một công ty cổ phần tại Việt Nam) để ông này lập thủ tục đứng tên theo luật định Ba tháng sau đó, TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu mở phiên tòa phúc thẩm và đã xử y án sơ thẩm

Như vậy, sau hơn một năm giao dịch với bà T., ông D đành phải ngậm ngùi trả lại cho ông Việt kiều toàn bộ nhà đất đã mua hợp pháp Đáng nói là giá trị nhà đất đó giờ đã tăng lên gấp… chín lần Vì theo thông tin do ông Việt kiều cung cấp, ông này vừa bán nhà đất ấy với giá 19

tỷ đồng!

Theo Điều 137 Bộ luật Dân sự, khi giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường Ông D ấm ức: Rủi ro trên xảy ra không phải do ông bất cẩn, không tìm hiểu kỹ lưỡng tình trạng pháp lý của căn nhà mà là do người bán cố tình nói dối ngay từ ban đầu Thế mà các cấp tòa đều không làm rõ phần lỗi của bà T nhằm xác định trách nhiệm bồi thường của bà đối với ông

III-Xử lý hợp đồng vô hiệu:

Tùy từng trường hợp,phụ thuộc vào từng thời điểm mà có thể xử lý hợp đồng như sau:

Trang 10

1.Trong trường hợp hợp đồng đã được ký kết nhưng các bên chưa thực hiện hợp đồng đó thì khi nhận được yêu cầu,nếu thấy có căn cứ,Tòa sẽ tuyên hợp đồng đó vô hiệu,Trong trường hợp này.hợp đồng sẽ không phát sinh hiệu lực đối với các bên và các bên không được thực hiện hợp đồng đó

2.Trong trường hợp các bên đang thực hiện thì sau khi tuyên hợp đồng đó vô hiệu.Tòa án yêu cầu các bên dừng ngay việc thực hiện hợp đồng.Khi hợp đồng

bị Tòa án tuyên là vô hiệu mà các bên đang thực hiện hoặc các bên đã thực hiện xong thì đều phải xử lý về tài sản theo nguyên tắc các bên hoàn trả bằng hiện vật là đối tượng của hợp đồng mà các bên đã thực hiện việc giao nhận,các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu(ngoại trừ trường hợp đối tượng của hợp đồng là hiện vật nhưng bị tịch thu);nếu các bên không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền.Bên có lỗi trong việc thiết lập hợp đồng vô hiệu

mà gây thiệt hại cho phía bên kia sẽ phải bồi thường

3.Tùy từng trường hợp xét theo tính chất của giao dịch,sự vô hiệu,tài sản giao

dịch và hoa lợi,lợi tức thu được có thể bị tịch thu và nhập vào ngân sách của nhà nước

Ví dụ:

A bán cho B một chiếc xe máy,B là người không có năng lực hành vi dân sự nên hợp đồng bị tuyên là vô hiệu do đó B phải trả lại chiếc xe máy cho A,còn A phải trả lại tiền cho B.Tuy nhiên qua một thời gian sử dụng,B đã làm hỏng một vài bộ phận của chiếc xe mấy nên B phải trả lại A chiếc xe máy đó cùng với những bộ phận mới thay cho những bộ phận đã bị hư hại,nếu không hoàn trả được bằng các bộ phận đó thì phải trả một món tiền bù đắp cho phần hư hỏng của chiếc xe

*Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu:

Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu được giải quyết theo quy định của Điều

137 đối với hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu.Theo quy định này thì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh,thay đổi hoặc chấm dứt quyền,nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập

Ngày đăng: 03/04/2021, 19:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w