Mục tiêu 1:Đánh giá tình hình dinh dƣỡng trẻ dƣới 5 tuổi Chiều cao theo tuổi Biến rời Cân đo thực Cân nặng theo tuổi tế Cân nặng theo rạc tuổi Zscore của trẻ theo nhóm tuổi, giới, Zscore[r]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
NGUY ỄN THỊ THANH HUYỀN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
KHOA: KHOA H ỌC SỨC KHỎE
VÀ M ỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Chuyên ngành: Y T Ế CÔNG CỘNG
Mã s ố: 8 72 07 01
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Bạch Ngọc
ội - 2020
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học cùng toàn thể các Thầy, Cô trường Đại học Thăng Long đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, tu dưỡng tại trường
Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô thuộc Bộ môn Y tế Công cộng, trường Đại học Thăng Long đã trang bị cho tôi kiến thức, đạo đức nghề nghiệp, phương pháp nghiên cứu và tư duy khoa học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Bạch Ngọc, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm y tế huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình
đã tạo điều kiện và hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
Xin cảm ơn các anh, chị và các bạn học viên sau đại học chuyên ngành Y
tế công cộng trường Đại học Thăng Long đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Đặc biệt, từ tận đáy lòng mình tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, cơ quan đã chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn và giành cho tôi
những tình cảm chăm sóc quý báu để tôi hoàn tất luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2020
H ọc viên
Nguy ễn Thị Thanh Huyền
Trang 4L ỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại Học Thăng Long
Bộ môn Y tế công cộng Trường Đại học Thăng Long
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Tên tôi là: Nguyễn Thị Thanh Huyền - học viên lớp cao học YTCC7.2, chuyên ngành Y tế công cộng, Trường Đại học Thăng Long
Tôi xin cam đoan các số liệu trong luận văn này là có thật và kết quả hoàn toàn trung thực, chính xác, chưa có ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, tháng 10 năm 2020
H ọc viên
Nguy ễn Thị Thanh Huyền
Trang 5M ỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm 3
1.1.1 Dinh dưỡng 3
1.1.2 Tình trạng dinh dưỡng 3
1.1.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng 3
1.1.4 Suy dinh dưỡng 3
1.1.5 Thừa cân, béo phì 3
1.2 Dinh dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi 4
1.2.1 Dinh dưỡng cho trẻ em dưới 1 tuổi 4
1.2.2 Dinh dưỡng cho trẻ nhỏ dưới 5 tuổi 6
1.3 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng 8
1.3.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em bằng phương pháp nhân trắc học 8
1.3.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em bằng biểu đồ tăng trưởng 9
1.3.3 Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống 10
1.3.4 Phương pháp đánh giá tình trạng bằng khám lâm sàng và các xét nghiệm hóa sinh 11
1.4 Suy dinh dưỡng 12
1.4.1 Nguyên nhân suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng 12
1.4.2 Hậu quả của suy dinh dưỡng 14
1.4.3 Phân loại tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi 15
1.4.4 Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em< 5 tuổi 16
1.5 Thừa cân, béo phì 17
1.5.1 Nguyên nhân của thừa dinh dưỡng, thừa cân và béo phì 17
1.5.2 Hậu quả của thừa cân, béo phì ở trẻ em 17
1.5.3 Dự phòng và quản lý thừa cân và béo phì 18
1.6 Nghiên cứu về dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới và Việt Nam 19 1.6.1 Nghiên cứu về dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới 19
1.6.2 Nghiên cứu về dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam 22
Trang 61.7 Một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng ở trẻ em 25
1.7.1 Nuôi con bằng sữa mẹ 25
1.7.2 Nuôi con ăn bổ sung 26
1.7.3 Cách chăm sóc trẻ 27
1.8 Một số đặc điểm tự nhiên, xã hội của địa điểm nghiên cứu 27
1.9 Khung lý thuyết nghiên cứu 28
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 29
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 29
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 29
2.3 Các biến số, chỉ số nghiên cứu thu thập và tiêu chí đánh giá 30
2.3.1 Biến số và chỉ số nghiên cứu 30
2.3.2 Một số tiêu chí đánh giá 33
2.4 Phương pháp thu thập thông tin 35
2.4.1 Công cụ thu thập thông tin 35
2.4.2 Kỷ thuật thu thập thông tin: 35
2.4.3 Quy trình thu thập thông tin 37
2.5 Phân tích và xử lý số liệu 38
2.6 Sai số và biện pháp khống chế sai số 38
2.6.1 Sai số 38
2.6.2 Biện pháp khắc phục 38
2.7 Đạo đức nghiên cứu 38
2.8 Hạn chế của nghiên cứu 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi 40
3.1.1 Thông tin của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi 40
Trang 73.1.3 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tham gia nghiên cứu 46
3.2 Một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi 50
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 59
4.1 Thực trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Thanh Hoá, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình năm 2020 59
4.1.1 Về thực trạng suy dinh dưỡng của trẻ 59
4.1.2 Tình trạng thừa cân béo phì 63
4.2 Một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu 64
KẾT LUẬN 74
KHUYẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 83
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CN/T Cân n ặng theo tuổi
CN/CC Cân n ặng theo chiều cao
CC/T Chiều cao theo tuổi
QTTK Qu ần thể tham khảo
SDD Suy dinh dƣỡng
SDDTE Suy dinh dƣỡng trẻ em
TC, BP Th ừa cân, béo phì
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Nhu cầu một số Vitamin ở trẻ từ 1 - 3 tuổi [47] 7
Bảng 1.2 Nhu cầu một số Vitamin ở trẻ từ 4 - 6 tuổi [47] 7
Bảng 1.3 Một số dấu hiệu lâm sàng có thể do thiếu hụt dinh dưỡng [48] 11
Bảng 1.4 Phân loại SDD trẻ dưới 5 tuổi của WHO năm 1995 [4], [13] 16
Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 30
Bảng 3.10 Tình trạng dinh dưỡng sinh của trẻ tham gia nghiên cứu (n=451) 46
Bảng 3.11 Phân loại suy dinh dưỡng của trẻ tham gia nghiên cứu (n=451) 46
Bảng 3.12 Tình trạng dinh dưỡng theo giới tính của trẻ (n=451) 47
Bảng 3.13 Tình trạng dinh dưỡng theo dân tộc của trẻ (n=451) 47
Bảng 3.14 Tình trạng dinh dưỡng theo tuổi của trẻ (n=451) 47
Bảng 3.16 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo tuổi của người mẹ (n=451) 48
Bảng 3.17 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo nghề nghiệp của người mẹ (n=451) 49
Bảng 3.18 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo học vấn của người mẹ (n=451) 49 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa tuổi và tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ (n=451) 50
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa giới tính và tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ (n=451) 50
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa dân tộc và tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ (n=451) 51
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa thứ tự sinh và tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ (n=451) 51
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa cân nặng khi sinh và tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ (n=451) 52
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa tình trạng sinh và tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ (n=451) 52
Bảng 3.25 Mối liên quan giữa tuổi mẹ và tình trạng SDD của trẻ (n=451) 53
Trang 10Bảng 3.26 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của mẹ và tình trạng suy dinh dƣỡng
Bảng 3.35 Mối liên quan giữa tình trạng tiêm chủng và SDD của trẻ (n=451) 57
Bảng 3.36 Mối liên quan giữa tiền sử bệnh tật trong 2 tuần qua 58
và SDD của trẻ (n=451) 58
Bảng 3.37 Mối liên quan giữa việctheo dõi cân năng và tình trạng suy dinh dƣỡng của trẻ (n=451) 58
Trang 11DANH M ỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Dân tộc của người mẹ tham gia nghiên cứu (n=405) 40
Biểu đồ 3.2 Số con dưới 5 tuổi của người mẹ tham gia nghiên cứu (n=405) 42
Biểu đồ 3.3 Tình trạng kinh tế của người mẹ tham gia nghiên cứu (n=405) 43
Biểu đồ 3.4 Giới tính của trẻ tham gia nghiên cứu (n=451) 43
Biểu đồ 3.5 Dân tộc của trẻ tham gia nghiên cứu (n=451) 44
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng là nền tảng của sức khỏe, dinh dưỡng tốt là điều kiện tiên quyết để phát triển xã hội Dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển của trẻ, ảnh hưởng đến bệnh tật, làm bệnh dễ phát sinh, kéo dài thời gian mắc bệnh hoặc làm bệnh nặng hơn ở những trẻ bị suy dinh dưỡng Dinh dưỡng cân đối, hợp lý là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống
của từng người, từng gia đình cũng như của toàn xã hội
Suy dinh dưỡng hay thừa cân/béo phì đều là vấn đề của sức khỏe cộng đồng luôn được các quốc gia quan tâm Suy dinh dưỡng thể thấp còi là một bệnh khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt là các nước chậm phát triển Trẻ em là đối tượng chính của suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng gắn liền với nghèo đói, bệnh tật và thiếu kiến thức về dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng liên quan chặt chẽ đến các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường sống và dịch vụ y tế [5], [16]
Hiện nay, ở Việt Nam, tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em vẫn còn ở ngưỡng có ý nghĩa đối với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là suy dinh dưỡng thể
thấp còi (cứ 4 trẻ thì có 1 trẻ bị suy dinh dưỡng thấp còi) và có sự khác biệt giữa các vùng miền, một số tỉnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở mức rất cao (trên 35%) Mặt khác, tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em hiện đang gia tăng nhanh đặc biệt là ở một số tỉnh thành có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế và ở khu vực đô
thị lớn (có tỉnh hiện nay đã trên 10%) [30] Chiến lược mục tiêu quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030, phấn đấu đến năm
2015 giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 15% và thấp còi xuống < 26% [2]
Tại Quảng Bình, theo số liệu thống kê của Viện dinh dưỡng Quốc gia, trong những năm gần đây tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi luôn ở
mức cao so với cả nước và cao nhất trong khu vực Bắc Trung bộ Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân các năm 2015, 2016, 2017 lần lượt là 18,4%; 18,2% và
Trang 1317,7%; Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi lần lượt là 30,5%; 30,2% và 29,7%; tỷ
lệ suy dinh dưỡng thể gày còm là 7,8% (năm 2017), cao hơn rất nhiều so với
mức trung bình cả nước Trong lúc đó tỷ lệ thừa cân, béo phì năm 2017 là 2,9%
thấp hơn so với trung bình cả nước (5,9%) [30]
Tuyên Hóa là huyện nghèo của tỉnh Quảng Bình, đời sống còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao Trong những năm qua, hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại huyện đã được triển khai sâu rộng Tỷ lệ suy dinh dưỡng trong những năm gần đây có giảm Tuy nhiên, về mặt bằng chung tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi của huyện vẫn luôn nằm trong nhóm các huyện có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao của tỉnh Thanh Hóa là xã vùng miền núi khó khăn của huyện Theo số liệu báo cáo địa phương năm 2019, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cân năng/tuổi là 19,3%, suy dinh dưỡng thể thấp còi là 29,8% [19]
Tuy nhiên, đây chỉ là những số liệu về tỷ lệ suy dinh dưỡng, chưa có các
số liệu về tình trạng dinh dưỡng chung của trẻ cũng như chưa có nhiều ý nghĩa trong việc can thiệp để giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở địa phương Vậy, câu hỏi đặt ra ở đây là tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở
xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình như thế nào? Và có những
yếu tố nào liên quan đến suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại địa phương?
Để đi tìm câu trả lời cho vấn đề trên và từ đó đưa ra các khuyến nghị thích hợp góp phần giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ em tại địa phương, chúng tôi chọn đề tài “Thực trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Thanh Hóa, huy ện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình năm 2020 và một số yếu tố liên quan ” được thực hiện với 02 mục tiêu:
1 Đánh giá thực trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Thanh Hoá, huy ện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình năm 2020
2 Phân tích m ột số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng của các đối tượng nghiên cứu
Trang 14C HƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
1.1.3 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Đánh giá TTDD là quá trình thu thập và phân tịch thông tin, số liệu về TTDD và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin số liệu đó
1.1.4 Suy dinh dưỡng
Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng bệnh lý do “Nhu cầu dinh dưỡng bình thường của cơ thể không được đáp ứng” [12] Một đứa trẻ không được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết theo nhu cầu là bị thiếu dinh dưỡng Đứa
trẻ thiếu dinh dưỡng sẽ ngừng lớn và phát triển có thể trở thành SDD [4]
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tổ chức nhiều đoàn khảo sát ở Châu Phi
và bệnh thiếu dinh dưỡng Protein - năng lượng nhanh chóng được coi là bệnh dinh dưỡng quan trọng nhất trên Thế giới [20]
1.1.5 Thừa cân, béo phì
Thừa cânlà tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao
Béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách
cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ
Trang 15Sự tích lũy năng lượng sẽ xảy ra khi cơ thể ăn vào một lượng thức ăn quá nhiều so với nhu cầu, lâu ngày những chất dinh dưỡng du thừa như chất đạm,
chất béo, chất đường đều chuyển hóa thành mỡ để dự trữ, gây nên tình trạng béo phì Trong những năm gần đây, tỷ lê béo phì có xu hướng gia tăng nhanh chóng
ở những thành phố lớn
1.2 D inh dưỡng cho trẻ em dưới 5 tuổi
1.2.1 Dinh dưỡng cho trẻ em dưới 1 tuổi
Dinh dưỡng của trẻ dưới 1 tuổi có ý nghĩa quan trọng tới sức khoẻ và cả quá trình phát triển của trẻ Trẻ em, đặc biệt là trong năm đầu, nếu được chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ sẽ phát triển tốt, ít ốm đau bệnh tật Nhiều vấn đề sức khoẻ, bệnh tật của trẻ có thể phòng và cải thiện được nếu điều chỉnh đúng, kịp thời [47]
1.2.1.1 Sự tăng trưởng của trẻ
Tăng trưởng về cân nặng: Cân nặng trung bình của trẻ sơ sinh đủ tháng
lúc mới đẻ là 2.800 - 3.000g Con trai lớn hơn con gái, con dạ thường nặng hơn con so Cân nặng của trẻ tăng nhanh năm đầu Từ năm thứ 2 trở đi, cân nặng tăng chậm hơn, mỗi năm trung bình tăng 2 - 3kg Có thể ước tính cân nặng trung bình của trẻ trên 1 tuổi theo công thức:
Cân nặng (kg) = 9 + 2 (N - 1) Trong đó N là tuổi của trẻ tính theo năm
Tăng trưởng chiều cao: Chiều cao của trẻ sơ sinh trung bình là 48 - 50cm,
con trai cao hơn con gái Trong năm đầu, chiều cao của trẻ tăng rất nhanh, nhất
là những tháng đầu sau khi sinh Lúc trẻ được 12 tháng, chiều cao tăng gấp 1,5 lần so với lúc sinh (đạt được 75cm) Trên 1 tuổi, mỗi năm trung bình trẻ tăng thêm 5 - 7 cm cho đến lúc dậy thì Có thể ước tính chiều cao của trẻ trên 1 tuổi theo công thức:
Chiều cao (cm) = 75 +6 (N -1)
Trong đó N là số tuổi của trẻ tính theo năm [47]
Trang 161.2.1.2 Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 1 tuổi
Nhu cầu năng lượng: Năng lượng cung cấp cho trẻ được phân bố như sau:
50% đáp ứng nhu cầu chuyển hóa cơ bản và 25% cho hoạt động và 25% cho phát triển (tăng cân trung bình từ 15 - 35g/ngày) Sữa mẹ đáp ứng đuợc nhu cầu của đứa trẻ trong 6 tháng đầu [47]
Nhu cầu Protein: Nhu cầu protein của trẻ dưới 1 tuổi cao do tốc độ phát
triển của xương, cơ và các mô Nhu cầu protein hàng ngày là 2,2g/kg cân nặng của trẻ, đến tháng thứ tư trở đi nhu cầu protein là 1,4g/kg/ngày Đối với trẻ em nên sử dụng protein có giá trị sinh học cao từ 70-85% như sữa, thịt, trứng Hiện nay, theo khuyến cáo của WHO/UNICEF đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi bú mẹ hoàn toàn là đảm bảo nhu cầu protein để trẻ phát triển và khỏe mạnh [47]
Nhu cầu Lipid: Nhu cầu lipid ở trẻ đảm bảo trước hết cho nhu cầu năng
lượng và các acid béo cần thiết và hỗ trợ việc hấp thu các vitamin tan trong dầu (A, D, E, K) Nhu cầu lipid ở trẻ dưới 1 tuổi được xác định dựa vào lượng chất béo trung bình có trong sữa mẹ và lượng sữa trung bình đứa trẻ được bú.Ở trẻ đang bú mẹ, vì 50-60% năng lượng ăn vào là do chất béo của sữa mẹ cung cấp nên khi trẻ bắt đầu ăn bổ sung, nhất là khi cai sữa cần chú ý đến tình trạng dinh dưỡng giảm lượng chất béo đột ngột do bú mẹ ít hơn hoặc đã ngừng bú mẹ[47]
Nhu cầu Glucid: Người ta thấy 8% glucid trong sữa mẹ là lactose xấp xỉ
7g trong 100 ml sữa mẹ, trong chế độ ăn 37% năng lượng của trẻ do glucose, theo tháng tuổi lượng glucid trong bữa ăn của trẻ thay đổi bởi các thức ăn bổ sung và khi nhu cầu năng lượng của trẻ thay đổi [47]
Vitamin: cácvitamin tan trong nước sữa mẹ cung cấp đủ nhu cầu cho trẻ khi người mẹ được ăn uống đầy đủ Nhu cầu đề nghị vitamin tan trong nước chủ yếu dựa vào hàm lượng các vitamin nhóm này và thêm giới hạn an toàn cho trẻ
Các chất khoáng: Ở độ tuổi này trẻ cần các chất khoáng cần thiết như:
Calci, sắt, kẽm [47]
1.2.1.3 Nuôi con bằng sữa mẹ
Nuôi con bằng sữa mẹ là vấn đề được quan tâm nhiều trong dinh dưỡng trẻ em, đã có nhiều hội nghị quốc tế dành riêng cho vấn đề này Hiện nay nuôi
Trang 17con bằng sữa mẹ được coi là biện pháp quan trọng để bảo vệ sức khoẻ trẻ em Ở Việt Nam đã có chương trình nuôi con bằng sữa mẹ nhằm khuyến khích và hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ Những năm gần đây việc tuyên truyền về lợi ích của sữa mẹ tới sức khoẻ của trẻ em và ngay cả sức khoẻ của người mẹ đã thúc đẩy tỷ
lệ nuôi con bằng sữa mẹ tăng lên [47]
1.2.1.4 Cho trẻ ăn bổ sung hợp lý
Trẻ từ 6 tháng tuổi trở đi, ngoài bú sữa mẹ hàng ngày nên bắt đầu cho ăn một bữa bột, từ tháng thứ 7 đến 8, một ngày cho ăn 2 bữa bột đặc đến 9-12 tháng cho trẻ ăn 3 bữa đến tròn 1 tuổi cho một ngày 4 bữa Nên cho trẻ ăn từ ít tới nhiều tập cho trẻ ăn quen dần với thức ăn mới Bữa ăn bổ sung cho trẻ đảm bảo đủ các nhóm thức ăn để đáp ứng đủ các chất dinh dưỡng và đậm độ nhiệt Các thức ăn của trẻ cần được chế biến sạch sẽ đảm bảo vệ sinh tránh các rối loạn tiêu hóa Đối với trẻ ở lứa tuổi ăn bổ sung đảm bảo cho trẻ được bú càng nhiều càng tốt để cùng với thức ăn đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ [47]
1.2.2 Dinh dưỡng cho trẻ nhỏ dưới 5 tuổi
Dinh đưỡng trẻ từ 1 tuổi đến 5 tuổi có những thay đổi đặc biệt về nhu cầu bởi trẻ lớn lên cả về kích thước và phát triển trí tuệ Nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của dinh dưỡng đối với sự phát triển kích thước cơ thể và trí tuệ trong những năm đầu, dinh dưỡng không thích hợp cả thiếu và thừa đều ảnh hưởng tới
dự phát triển của trẻ Một trong những vấn đề dinh dưỡng trẻ em là thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cho sự phát triển của trẻ em về thể chất và tinh thần, cho đến nay những vấn đề về dinh dưỡng của trẻ em chưa được giải quyết đầy đủ [47]
1.2.2.1.Dinh dưỡng trẻ em từ 1 - 3 tuổi
Dinh dưỡng của trẻ từ 1 đến 3 tuổi có ý nghĩa quan trọng tới sức khoẻ và
cả quá trình phát triển của trẻ Khi dinh dưỡng của trẻ không đáp ứng đầy đủ sẽ dẫn đến chậm phát triển và cả những biến đổi về hoá sinh và những hậu quả bệnh tật của thiếu các chất dinh dưỡng Ảnh hưởng của thiếu dinh dưỡng lên sức khoẻ của trẻ phụ thuộc vào thời điểm chất dinh dưỡng nào thiếu và thời gian
Trang 18thiếu bao lâu Nhiều vấn đề sức khoẻ, bệnh tật của trẻ có thể phòng và cải thiện đƣợc nếu đƣợc điều chỉnh đúng kịp thời [47]
Nhu cầu năng lƣợng lứa tuổi này là 1300kcal/ngày (100 kcal/1 kg cân nặng/ngày) Lƣợng protein 28g khoảng 2,5-3 g protein/kg cân nặng, protein động vật ở lứa tuổi nên đạt 50% tổng số protein
Nhu cầu một số Vitamin:
B ảng 1.1 Nhu cầu một số Vitamin ở trẻ từ 1 - 3 tuổi [47]
1.2.2.2 Dinh dưỡng cho trẻ em từ 4-6 tuổi
Lứa tuổi này tốc độ lớn vẫn còn cao, cân nặng mỗi năm tăng lên 2kg và chiều cao mỗi năm tăng trung bình là 7cm đồng thời hoạt động thể lực tăng lên nhiều và bắt đầu vào lứa tuổi học mẫu giáo Nhu cầu các chất dinh dƣỡng và năng lƣợng ở lứa tuổi này đã đƣợc khuyến nghị nhƣ sau:
Nhu cầu năng lƣợng lứa tuổi này là 1600kcal
Lƣợng protein 36g khoảng 2-2,5 protein/kg cân nặng, protein động vật nên đạt 50% tổng số protein
Nhu cầu một số vitamin
B ảng 1.2 Nhu cầu một số Vitamin ở trẻ từ 4 - 6 tuổi [47]
ăn Giáo dục thói quen về vệ sinh cũng là điều cần thiết ở lứa tuổi này [47]
Trang 191.3 C ác phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
1.3.1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em bằng phương pháp nhân trắc học
Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước và
cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Phương pháp nhân trắc học
có những ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn Trang thiết bị không đắt, dễ vận chuyển Có thể khai thác đánh giá được các dấu
hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ và xác định được mức độ suy dinh
dưỡng Tuy nhiên phương pháp nhân trắc học cũng có một vài nhược điểm như: không đánh giá được sự thay đổi về tình trạng dinh dưỡng trong giai đoạn ngắn
hoặc không nhạy để xác định các thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu Quá trình lớn là
kết quả tổng hợp của các yếu tố di truyền và ngoại cảm, trong đó các yếu tố dinh
dưỡng có vai trò rất quan trọng Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy yếu tố dinh
dưỡng hầu như giữ vai trò chi phối chính trong sự phát triển của trẻ em, ít nhất đến 5 tuổi Vì vậy, thu thập các kích thước nhân trắc là bộ phận quan trọng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng Có thể chia ra nhóm kích thước nhân trắc sau đây:
- Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng
- Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao
- Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các
mô mềm bề mặt: Lớp mỡ dưới da và cơ
Tuy nhiên, từng số đo riêng lẻ về chiều cao, cân nặng sẽ không nói lên được điều gì, chúng chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với tuổi, giới hoặc kết hợp giữa các số đo của đứa trẻ với nhau và phải được so sánh với giá trị của QTTK Đối
với trẻ em, để đánh giá TTDD, người ta thường dựa vào Z-Score các chỉ số cân
nặng theo tuổi (WFA), chiều cao theo tuổi (HFA), cân nặng theo chiều cao (WFH) [23]
Với người trưởng thành, chỉ số BMI được dùng để đánh giá TTDD Chỉ
số BMI ở người bình thường (đối với người châu Á): nữ 18,5 - 23,0 Khi cao hơn các giới hạn trên là béo và thấp hơn là gầy Tuy nhiên, chỉ số BMI không áp
dụng cho phụ nữ có thai, vận động viên, người tập thể hình [39]
Trang 201.3.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em bằng biểu đồ tăng trưởng
Biểu đồ tăng trưởng có hai loại là biểu đồ dùng để theo dõi chiều cao và
biểu đồ theo dõi cân nặng Biểu đồ tăng trưởng giúp cho các bà mẹ và cán bộ y
tế đánh giá được tình trạng dinh dưỡng của trẻ thông qua theo dõi cân nặng
- Cách chấm biểu đồ: Vào một ngày cố định trong mỗi tháng, đo cân nặng
và chiều cao của trẻ để thu thập thông tin, sau đó, bạn dò theo cột số tháng tuổi của trẻ rồi kéo theo hướng lên trên đến đúng vị trí chỉ số cân nặng và chiều cao của trẻ thì chấm một chấm Thực hiện việc theo dõi các chỉ số này một cách đều đặn Sau đó, nối các chấm đã chấm vào với nhau, sẽ có được đường biểu diễn cân nặng và chiều cao của trẻ
- Cách đọc biểu đồ: Vị trí và hướng đi của đường biểu diễn cân nặng và chiều cao của trẻ sẽ cho thấy tình trạng phát triển về mặt thể chất của trẻ Cụ thể như sau:
+ Nếu đường biểu diễn cân nặng và chiều cao của trẻ đi song song với đường cong chuẩn (là đường cong đậm nằm giữa vùng màu xanh - vùng an toàn) thì có nghĩa là thể trạng của trẻ tăng trưởng tốt
+ Nếu đường biểu diễn cân nặng và chiều cao của trẻ nằm ở vùng màu cam – vùng cần chú ý, thì có nghĩa là thể trạng của trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng Bạn cần tăng cường chế độ dinh dưỡng hợp lý hơn để giúp trẻ tăng cân
và phát triển chiều cao theo đúng độ tuổi
+ Nếu đường biểu diễn cân nặng và chiều cao của trẻ nằm ở vùng màu đỏ – vùng báo động, thì có nghĩa là thể trạng của trẻ không đáp ứng về yêu cầu phát triển thể chất phù hợp với độ tuổi Trẻ có nguy cơ suy dinh dưỡng về chiều cao hoặc cân nặng hoặc là cả hai chỉ số Trong trường hợp này, bạn nên cho trẻ đi khám dinh dưỡng để được tư vấn và điều trị kịp thời
Nếu đường biểu diễn cân nặng và chiều cao của trẻ nằm ở vùng màu vàng – vùng vượt trội, nằm trên vùng an toàn thì có nghĩa là trẻ phát triển về cân nặng quá mức cho phép Bạn nên cho trẻ đi khám dinh dưỡng để được tư vấn và điều trị kịp thời nếu bị dư cân hay béo phì
Trang 211.3.3 Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống
1.3 3.1 Điều tra khẩu phần
* Phương pháp xác định lương thực thực phẩm theo trọng lượng (cân đong): Phương pháp này chính xác, chất lượng cao, cho phép đánh giá lượng
thức ăn và chất dinh dưỡng ăn vào thường ngày của đối tượng Có thể áp dụng cho cả nhà ăn tập thể, gia đình và cá nhân Phương pháp này đòi hỏi người điều tra cân đong tất cả các loại thực phẩm và đồ uống được tiêu thụ cho một người hay một nhóm đối tượng trong một thời gian nhất định Công việc này được coi
là khó khăn, tiêu tốn nhiều thời gian và kinh phí
Ph ương pháp ghi nhớ lại 24 giờ qua: Trong phương pháp này, đối tượng
kể lại tỉ mỉ những gì đã ăn ngày hôm trước hoặc 24 giờ trước khi phỏng vấn Người phỏng vấn cần được huấn luyện kỹ để có thể thu được các thông tin chính xác về số lượng các thực phẩm được đối tượng đã tiêu thụ Đây là một phương pháp rất thông dụng, nhanh, chi phí ít, đơn giản, nhẹ nhàng có giá trị khi áp dụng cho số đông đối tượng và áp dụng cả với đối tượng trình độ văn hóa thấp hoặc mù chữ Tuy nhiên, phương pháp này phụ thuộc nhiều vào trí nhớ, thái độ cộng tác của đối tượng và cách gợi vấn đề của điều tra viên nên không thể áp dụng cho người có trí nhớ kém và khó ước tính chính xác trọng lượng một số
thực phẩm
1.3.3.2 Điều tra tập quán ăn uống
Đó là các phương pháp nhằm thu thập các thông tin như các quan niệm, niềm tin sở thích đối với thức ăn cũng như cách chế biến, phân bố các thức ăn trong ngày, cách ăn uống trong các dịp lễ hội Tìm hiểu tập quán ăn uống và xác định nguyên nhân của chúng là cần thiết, vừa để tiến hành giáo dục dinh dưỡng
có hiệu quả, vừa đề ra phương hướng sản xuất thích hợp Sự hình thành và phát triển tập quán ăn uống chịu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lí, kinh tế, xã hội, tôn giáo, lịch sử và địa lí Để đạt được các yêu cầu trên, người ta thường sử dụng các phương pháp định tính như: phương pháp phỏng vấn và trò chuyện, Phương pháp quan sát, tìm hiểu thực hành nuôi con bằng sữa mẹ và thức ăn bổsung
Trang 221.3.4 Phương pháp đánh giá tình trạng bằng khám lâm sàng và các xét nghiệm hóa sinh
1.3.4.1 Khám lâm sàng
Việc khám thực thể tập trung vào mặt dinh dưỡng trên từng bệnh nhân có nguy cơ về các vấn đề dinh dưỡng Khám nhấn mạnh vào sự mỏi cơ, dự trữ mỡ, kích thước cơ thể, và các dấu hiệu của sự thiếu hụt vi chất [48]
B ảng 1.3 Một số dấu hiệu lâm sàng có thể do thiếu hụt dinh dưỡng [48]
Dấu hiệu lâm sàng Thiếu hụt dinh dưỡng Tóc:
Mất sắc tố theo đường ngang Protein, đồng
Dày sừng nang lông Vitamin A và C
Đốm xuất huyết quanh nang lông Vitamin C
Đốm và ban xuất huyết Vitamin C và K
Tăng sắc tố, bong vẩy Niacin
Tăng tiết bã nhờn mũi - môi Niacin, riboflavin
Xanh xao Vitamin B12, đồng, sắt
Bệnh da vàng bìu âm hộ folat
Tưới máu giác mạc Riboflavin
Khô, vệt Bitot và nhuyễn giác mạc Vitamin A
Miệng
Viêm lưỡi (đỏ, chảy máu) Niacin, pyridoxin, Riboflavin, Vitamin B12, Folat
Chảy máu lợi Vitamin C, Riboflavin
Viêm góc miệng Riboflavin, sắt
Teo gai lưỡi Niacin, sắt, riboflavin, folat,
Trang 23vitaminB12 Giảm vị giác Kẽm, Vitamin A
Ngực Chuỗi tràng hạt Vitamin D
Tim Suy tim cung lượng cao Thiamin
Giảm cung lượng Protein – năng lượng
1.3.4.2 Các xét nghiệm hóa sinh
Albumin huyết thanh là xét nghiệm quan trọng nhất để chẩn đoán suy dinh dưỡng protein - năng lượng Hầu hết bệnh nhân thiếu protein nặng sẽ có mức albumin huyết thanh thấp Nhiều tình trạng không phải do dinh dưỡng cũng
có thể làm giảm albumin huyết thanh, nhất là bệnh gan và bệnh toàn thân nặng Các protein huyết thanh khác với thời gian bán hủy ngắn (transferrin, transthyretin ) có thể phản ánh những thay đổi nhất thời trong tình trạng dinh dưỡng nhưng bị những thiếu hụt tương tự
Các xét nghiệm về số lượng và chất lượng của miễn dịch tế bào cũng bất thường ở nhiều bệnh nhân suy dinh dưỡng protein - năng lượng Các phương pháp xác định số lượng lympho bào toàn phần và phản ứng quá mẫn muộn với các kháng nguyên thử trên da thông thường là không đặc hiệu; những bất thường
có thể do các yếu tố khác ngoài dinh dưỡng
Mặc dù giá trị chẩn đoán là chưa chắc chắn nhưng những xét nghiệm này được sử dụng để tiên lượng Những bệnh nhân có các tham số đánh giá dinh dưỡng bất thường thì sẽ có các kết quả xấu tăng rõ trên lâm sàng [48]
1.4 S uy dinh dưỡng
1.4.1 Nguyên nhân suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng
Suy dinh dưỡng là hậu quả của nhiều yếu tố Theo các chuyên gia nguyên nhân của SDD được chia 2 nhóm:
1.4.1.1 Nguyên nhân trực tiếp
Nguyên nhân trực tiếp cơ bản là chế độ ăn của trẻ không đủ cả về số lẫn
chất lượng, thiếu năng lượng và protein cũng như các chất dinh dưỡng khác
Trang 24nhau như vitamin và các yếu tố vi lượng
Nguyên nhân trực tiếp thứ hai là các bệnh nhiễm trùng Từ hàng trăm năm trước đây người ta đã quan sát thấy những trẻ em nào bị SDD thì trẻ đó hay mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính như các bệnh đường tiêu hóa, đường hô hấp trên, nhiễm trùng phổi, sởi Các bệnh nhiễm trùng ảnh hưởng rất nhiều đến tình trạng dinh dưỡng, do bị sốt cao tiêu tốn nhiều năng lượng và sự giáng hóa protein, trẻ kém ngon miệng và lượng thức ăn ăn vào giảm Điều đó dẫn đến cân bằng năng lượng và nitơ âm làm trẻ tụt cân và dẫn tới SDD [39]
1.4 1.2.Nguyên nhân tiềm tàng
Sự thiếu hụt khẩu phần xảy ra do thiếu nguồn thực phẩm hoặc do người
mẹ có quá ít thời gian dành cho chế biến thức ăn hoặc dành cho trẻ ăn Nhiễm khuẩn là hậu quả của dịch vụ y tế kém, thiếu nước sạch, vệ sinh kém hoặc trẻ không được chăm sóc đầy đủ Những nguyên nhân này được xếp thành 3 nhóm: Thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình, chăm sóc bà mẹ trẻ em chưa tốt, thiếu
dịch vụ y tế và vệ sinh môi trường kém
1.4 1.3 Nguyên nhân cơ bản
Nguyên nhân cơ bản gồm những vấn đề liên quan đến cơ cấu kinh tế, các
yếu tố chính trị, văn hóa, xã hội Đó là sự phân phối không công bằng các nguồn
lực, thiếu những chính sách xã hội phù hợp, tập quán ăn uống sai lầm
Vào những năm của thập kỷ 80 và những năm đầu của thập kỷ 90 đất nước
ta phải đối đầu với nạn khủng hoảng kinh tế trầm trọng, gây nên sự thiếu lương
thực, thực phẩm, thiếu các chính sách về dinh dưỡng hợp lý và phòng chống SDD
trẻ em… điều này đã dẫn đến tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi (cân nặng/tuổi) ở nước
ta vào năm 1985 ở mức cao là 51,5% và vào năm 1994 là 44,9%, song trong
những năm gần đây nhà nước và Chính phủ đã có những chế độ chính sách phù
hợp về phát triển kinh tế nên đời sống của nhân dân đã được cải thiện đáng kể và
tỷ lệ SDD trẻ em cũng có phần giảm đi, không còn SDD nặng”[13]
Chỉ tiêu về tỷ lệ SDD được đặt ra là mỗi năm cả nước giảm 1,5% Như
vậy có thể nói là chúng ta đã huy động được hệ thống chính trị tham gia vào công tác phòng chống SDD trẻ em và kết quả là tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt
Trang 25Nam đã giảm đáng kể trong những năm qua
Chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ đóng vai trò rất quan trọng trong phòng
chống SDD trẻ em, để thực hiện tốt điều này bà mẹ và những người chăm sóc
trẻ cần có kiến thức và thực hành dinh dưỡng tốt Một trong những nguyên nhân chính của SDD là sự thiếu kiến thức về nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ, nước ta là
một nước đang phát triển còn tồn tại rất nhiều tập quán và quan niệm sai lầm về chăm sóc bà mẹ khi mang thai và sau sinh, nuôi con bằng sữa mẹ, ăn bổ sung, chăm sóc trẻ khi bị ốm… đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa và các vùng nông thôn,
và thực hành nuôi con của các bà mẹ, cho ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn
hoặc trẻ ăn cơm trước 12 tháng tuổi đều có nguy cơ dẫn đến SDD thể còi cọc [12]
1.4 2 Hậu quả của suy dinh dưỡng
Trẻ có cân nặng theo tuổi thấp thường hay bị bệnh như tiêu chảy và viêm
phổi Suy dinh dưỡng làm tăng tỷ lệ tử vong Ước tính riêng trong năm 1995, có 11,6 triệu ca trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị tử vong vì tất cả các nguyên nhân khác nhau thì có 6,3 triệu ca (chiếm 54%) bị suy dinh dưỡng Suydinh dưỡng ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, hành vi khả năng học hành của trẻ, khả năng lao động đến tuổi trưởng thành Suy dinh dưỡng trẻ em
thường để lại những hậu quả nặng nề Gần đây, nhiều bằng chứng cho thấy suy dinh dưỡng ở giai đoạn sớm, nhất là trong thời kỳ bào thai có mối liên hệ với
mọi thời kỳ của đời người Hậu quả của thiếu dinh dưỡng có thể kéo dài qua nhiều thế hệ Phụ nữ đã từng bị suy dinh dưỡng trong thời kỳ còn là trẻ em nhỏ
hoặc trong độ tuổi vị thành niên đến khi lớn lên trở thành bà mẹ bị suy dinh
dưỡng Bà mẹ bị suy dinh dưỡng thường dễ đẻ con nhỏ yếu, cân nặng sơ sinh (CNSS) thấp Hầu hết những trẻ có CNSS thấp bị suy dinh dưỡng (nhẹ cân hoặc
Trang 26thấp còi) ngay trong năm đầu sau sinh Những trẻ này có nguy cơ tử vong cao
hơn so với trẻ bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường
1.4.3 Phân loại tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
1.4 3.1.Phân loại suy dinh dưỡng
Có 2 cách phân loại: theo lâm sàng (đây là cách phân loại khá kinh điển, gồm 2 thể thiếu dinh dưỡng nặng là Kwashiorkor và Marasmus) và phân loại trên cộng đồng Trong điều kiện thực địa, người ta chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC) để phân loại tình trạng thiếu dinh dưỡng [11],[23], [13]
1.4 3.2 Các thể thiếu dinh dưỡng
Theo WHO năm 2005, SDD trong cộng đồng được chia thành 3 thể: SDD
nhẹ cân, SDD thấp còi và SDD gày còm [6]
* Th ể nhẹ cân hay cân nặng theo tuổi thấp (underweight):
Phản ánh cả sự chậm của quá trình tăng trưởng trong tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài cũng như tình trạng thiếu dinh dưỡng tại thời điểm đó Chỉ tiêu này có ích cho việc xác định mức độ chung về qui mô của thiếu dinh dưỡng và các thay đổi theo thời gian
* Th ể thấp còi (Stunting):
Sự thấp còi được phản ảnh bằng chỉ tiêu CC/T thấp do sự chậm tăng trưởng của trẻ dẫn đến không đạt được chiều cao nên có của một đứa trẻ cùng
tuổi ở QTTK Thể còi cọc là một biểu hiện của sự chậm phát triển kéo dài hoặc
một dấu hiệu của sự chậm lớn trong quá khứ
* Th ể gầy còm (Wasting):
Hiện tượng gầy còm chỉ xảy ra khi chỉ tiêu CN/CC của trẻ tụt xuống thấp
có ý nghĩa so với trị số nên có ở QTTK Thể gầy còm phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng cấp tính do không lên cân hoặc đang tụt cân
Để có thể xác định được các vùng có nguy cơ về SDD trên thế giới, từ đó
có sự can thiệp thích hợp, năm 1995 TCYTTG đã đưa ra bảng phân loại theo tỷ
lệ % như sau [4], [13]:
Trang 27B ảng 1.4 Phân loại SDD trẻ dưới 5 tuổi của WHO năm 1995 [4], [13]
Chỉ tiêu Thấp Mức độ thiếu dinh dưỡng theo tỷ lệ % Trung bình Cao Rất cao
Thấp còi (stunting) < 20 20-29 30-39 40
Nhẹ cân (Underweight) < 10 10-19 20-29 30
Gầy còm (wasting) < 5 5-9 10-14 15
1.4 4 Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em< 5 tuổi
Suy dinh dưỡng là vấn đề dinh dưỡng cộng đồng quan trọng nhất trên thế
giới hiện nay Trẻ em là đối tượng chính của SDD, nếu không can thiệp kịp thời thì quãng thời gian phát triển nhanh nhất và quan trọng nhất (thời kỳ bào thai và
5 năm đầu tiên) sẽ trôi qua và hậu quả do SDD không có cơ hội phục hồi được
Do nguyên nhân phức tạp nên chiến lược phòng chống SDD phải là một chiến lược lồng ghép trong đó vai trò của phụ nữ hộ gia đình rất quan trọng Tổ chức UNICEF đã đề ra chiến lược GOBIFF (theo dõi tăng trưởng, tiêm chủng theo
lịch, nuôi con bằng sữa mẹ, bù nước và điện giải, kế hoạch hoá gia đình và tạo nguồn thực phẩm) [1]
Thời kỳ có nguy cơ cao về SDD là thời gian nằm trong bụng mẹ và 2 năm đầu tiên, đỉnh cao của SDD thường ở lứa tuổi từ 24 - 36 tháng tuổi [35]
Tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng của bà mẹ có liên quan chặt chẽ tới thai nhi và con của họ, cho nên cần theo dõi cả tình trạng dinh dưỡng của người mẹ
Đối với trẻ phải theo dõi cân nặng hàng tháng ghi vào biểu đồ tăng trưởng
để phát hiện sớm SDD, tìm nguyên nhân và có biện pháp can thiệp kịp thời có
hiệu quả Hai thời điểm làm cho trẻ dễ bị SDD nhất là lúc bắt dầu cho ăn bổ sung và lúc cai sữa mẹ Các biện pháp phòng chống SDD tốt nhất hiện nay là:
- Nuôi con bằng sữa mẹ
- Cho ăn bổ sung hợp lý, ăn từ ít đến nhiều từ lỏng đến đặc và thực hiện
“tô màu bát bột” cho trẻ, thức ăn bổ sung cần có đậm độ năng lượng cao, đồng
thời có đủ và cân đối các chất dinh dưỡng
- Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính; tiêm chủng đầy đủ theo lịch
- Theo dõi tình trạng dinh dưỡng của mẹ trước, trong khi có thai và thời
Trang 28kỳ cho con bú Khám thai định kỳ, tiêm chủng đầy đủ và theo dõi cân nặng hàng tháng trong thời kỳ có thai là hết sức cần thiết [23]
1.5 T hừa cân, béo phì
1.5.1 Nguyên nhân của thừa dinh dưỡng, thừa cân và béo phì
- Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, hiện tượng thừa dinh dưỡng liên quan đến thừa cân, béo phì, các bệnh tim mạch, huyết áp, đái đường, sỏi mật và một
số bệnh mãn tính khác
- Thừa dinh dưỡng do bữa ăn cung cấp quá thừa năng lượng so với nhu
cầu, ăn nhiều bữa, lượng các chất béo khẩu phần quá nhiều với các món ăn xào, rán Những tập quán ăn uống thay đổi, ít chất xơ, ít rau quả
- Thừa năng lượng khẩu phần còn có nguyên nhân do thay đổi lối sống trong thời đại kỹ thuật, lao động thể lực ít, ít tập luyện Trẻ em thời gian dành cho vui chơi ngoài trời và thể dục thể thao ít, thời gian ngồi trước màn hình vô tuyến, vi tính nhiều đã làm tiêu tốn năng lượng ít đi [39]
1.5 2 Hậu quả của thừa cân, béo phì ở trẻ em
- Tỷ lệ mắc bệnh tăng: Hội chứng béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên bao
gồm các vấn đề tâm lý, tăng yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch, chuyển hoá bất
thường glucose, rối loạn gan mật-đường ruột, khó thở khi ngủ và biến chứng
giải phẫu Hầu hết các hậu quả lâu dài của trẻ em béo phì là dai dẳng cho đến thanh niên và liên quan tới tất cả các yếu tố nguy cơ cho sức khỏe
- Ảnh hưởng tâm lý xã hội: Trẻ bị béo phì hồi nhỏ thường kéo dài cho đến
hết thời thanh thiếu niên, có chức năng tâm lý xã hội kém, giảm thành công trong học tập và thường không khỏe mạnh
- Các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch: rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và kháng insulin thường thấy ở trẻ em béo phì và rối loạn lipid máu xuất hiện liên quan tới tăng tích lũy mỡ trong ổ bụng Những rối loạn lipid máu, huyết áp và insulin máu ở trẻ em sẽ kéo dài đến thời thanh thiếu niên Tình trạng béo phì ở
trẻ tại thời điểm ban đầu đã được đoán trước có ý nghĩa sức khỏe khi trưởng thành
Trang 29- Biến chứng gan: Các biến chứng gan ở trẻ béo phì đã được đưa ra báo cáo, đặc biệt đặc tính nhiễm mỡ gan biểu hiện bằng sự tăng transaminase huyết thanh Các bất thường men gan cũng có thể liên quan với bệnh sỏi mật, nhưng
bệnh này thường hiếm gặp ở trẻ emvà thanh thiếu niên
- Các biến chứng về giải phẫu: Trẻ béo phì có thể bị các biến chứng về
mặt giải phẩu Nghiêm trọng đó là bệnh Blount (một dị dạng xương chày do phát triển quá mạnh), bên cạnh đó có các bất thường nhỏ hơn như đánh mạnh đầu gối và dễ bị bong gân mắt cá chân
- Các biến chứng khác: Người ta cũng đã thấy một loạt các biến chứng khác ở trẻ béo phì bao gồm nghẽn thở khi ngủ và bệnh não Nghẽn thở khi ngủ
có thể gây chứng thở quá chậm và thậm chí ở những trường hợp nặng có thể gây
tử vong Bệnh não là một bệnh hiếm gặp liên quan đến tăng áp suất trong sọ não; đòi hỏi cần phải đến bác sĩ ngay lập tức
1.5 3 Dự phòng và quản lý thừa cân và béo phì
Thừa cân, béo phì là vấn đề có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng trên toàn cầu
do đó biện pháp tiếp cận để phòng ngừa dựa trên việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Gần đây dự phòng và xử trí béo phì vẫn đi theo hai hướng: dự phòng
nhằm mục đích không tăng cân và xử trí nhằm mục đích giảm cân Hiện nay người ta coi quá trình xử trí đối với béo phì bao gồm một chuỗi giải pháp đi từ phòng ngừa thông qua duy trì cân nặng và xử trí các bệnh kèm theo cho đến
giảm cân [27]
Tại Việt Nam, một trong những giải pháp chiến lược quan trọng của Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2001 - 2010 là phòng chống các
bệnh mạn tính có liên quan đến dinh dưỡng như béo phì, tim mạch, cao huyết
áp,… Trong chiến lược này thì giáo dục dinh dưỡng được đặt vào vị trí ưu tiên
với mục tiêu cụ thể là người dân được nâng cao về kiến thức và thực hành dinh dưỡng hợp lý
Trang 30
1.6 Nghiên c ứu về dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới và Việt Nam
1.6.1 Nghiên cứu về dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới
Trong vòng 15 năm trở lại đây, SDD trẻ em có xu hướng giảm trên phạm
vi toàn cầu Thống kê của Qũy Nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF), WHO và Ngân hàng thế giới năm 2011 về SDD trẻ em dưới 5 tuổi thấy châu Á vẫn là châu lục đứng đầu về tỷ lệ 19,3% nhẹ cân (69,1 triệu) và tỷ lệ 10,1% gầy còm (36,1 triệu) [58] Riêng trẻ thấp còi, châu Phi trở thành châu lục chiếm tỷ lệ cao
nhất với 35,6% (56,3 triệu); tiếp theo là châu Á: 26,8% (98,4 triệu) Hai châu lục này chiếm trên 90% trẻ thấp còi trên toàn cầu [58]
Theo kết quả nghiên cứu trẻ em dưới 5 tuổi của tổ chức Cứu trợ trẻ em
Mỹ năm 2012, trên thế giới còn hơn 100 triệu (15,7%) nhẹ cân, 171,0 triệu (27,0%) thấp còi và hơn 60 triệu (10,0%) gầy còm [55] Các khu vực Nam Á,
cận hoang mạc Sahara có tỷ lệ SDD trẻ em cao nhất [55] Những quốc gia còn tỷ
lệ SDD trẻ em cao và rất cao cả 3 thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm tương ứng như Timor Leste năm 2010 (44,7%, 58,1%, 18,6%); Niger năm 2011 (38,5%, 51,0%,12,3%); Pakistan năm 2011 (31,5%, 43,7%, 15,1%); Bangladesh năm
2011 (36,4%, 41,3%, 15,6%) [58]
Nghiên cứu của Larrea C và Freire W tại các nước Nam Mỹ cho thấy tỷ
lệ trẻ em thấp còi năm 1999 ở các tộc người bản xứ liên quan chặt chẽ với điều
kiện kinh tế đói nghèo và cao hơn cách biệt so với trẻ em không thuộc tộc người
bản xứ, như ở Ecuador (58,2% so với 24,2%); ở Peru (47,0%/22,5%) và Bolivia (50,5%/23,7%) tương ứng [54]
Điều tra của Hatlekk M năm 2012 thấy tỷ lệ thấp còi trẻ em khác nhau
giữa các tộc người vùng Nam Á: Tộc người Bà la môn (Brahmin) 45,1%; Hill Dalits 56,1%; Yadav (70,7%); Newar 72,3% và Hồi giáo (Muslim) 72,8% [25] Nghiên cứu của UNICEF năm 2011 khu vực châu Á-Thái Bình Dương cũng thấy
sự chênh lệch lớn giữa các tộc người Tỷ lệ trẻ 18-23 tháng ở Campuchia bị thấp còi 50,0% và trẻ nhẹ cân 45,0% chủ yếu ở trẻ em dân tộc thiểu số Tương tự, tỷ lệ
Trang 31tương ứng ở Lào là 40,0% và 37,0% Ở Phillippines, trẻ nhẹ cân sống vùng thủ đô 15,7%, thấp hơn nhiều so với 36,1% trẻ sống ở vùng khó khăn Bitol [57]
Tác giả Silvia và cộng sự cho thấy thời gian trung bình cho trẻ ăn thức ăn đặc là 22,2 tuần sau sinh; 60,9% trẻ thôi bú mẹ trước 4 tháng; 18,0% trẻ sơ sinh cân nặng dưới 5 kg vào thời điểm dừng bú mẹ Trong các yếu tố liên quan đến người mẹ, chỉ có tuổi của người mẹ là có ảnh hưởng đến thời gian cho con bú
Thức ăn dặm đầu tiên để nuôi trẻ là nước nghiền khoai tây (48,6% trường hợp)
Thịt và chất tinh bột được dùng cho trẻ ăn trung bình 5-7 tuần sau khi thôi bú [56]
Nghiên cứu tại nước láng giềng Trung Quốc chỉ ra sự khác biệt về thực hành nuôi con là rất khác nhau giữa các vùng, các dân tộc, các nền văn hóa và phụ thuộc vào nguồn thực phẩm Ở vùng nông thôn phía Bắc của Trung Quốc, trứng, đậu là nguồn thức ăn phổ biến để cung cấp đạm cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, trong khi cá và thịt là rất hiếm ở đây Sau khi điều chỉnh chế độ ăn cho trẻ dựa vào nguồn thức ăn phổ biến tại địa phương thì đã có sự thay đổi đáng kể về thực hành
nuôi dưỡng trẻ của các bà mẹ tại đây [53]
Từ trước Công nguyên, các nhà y học đã nói ăn uống và cho ăn uống là
một phương tiện để chữa bệnh và giữ gìn sức khỏe Hypocrat, một danh y thời
cổ đã nhắc đến vai trò của ăn uống trong điều trị
Từ thế kỷ 17, với sự phát triển của khoa học giải phẫu và sinh lý, đến cuối
thế kỷ 18 tiếp theo những công trình nghiên cứu của Lavoasdie và những người
kế tục về chuyển hóa các chất trong cơ thể, ăn uống ngày càng được các nhà khoa học chú ý Nổi bật lên là vấn đề tiêu hao năng lượng Tiếp theo là các công trình nghiên cứu của Bunghe và Hopman về nghiên cứu vai trò của muối khoáng, Lunin khi nghiên cứu vai trò của sữa đã biết ngoài chất đạm, chất ngọt,
chất béo, các muối khoáng và nước, còn có một số chất khác tuy có rất ít nhưng
rất cần cho sự sống Hơn 30 mươi năm sau Funck tìm ra một trong những chất
đó là Vitamin
Y học phương Đông cũng nói đến sự cân bằng âm dương là điều kiện để
Trang 32con người khỏe mạnh Thực phẩm với tính cách âm dương của nó, sẽ góp phần
tạo lại thế cân bằng khi cơ thể bị bệnh, nếu dương quá thịnh mà sinh bệnh thì
phải bổ âm và ngược lại [4], [11], [20]
Theo báo cáo của Quỹ Nhi đồng của Liên Hiệp Quốc (UNICEF), hiện trên thế giới có khoảng 146 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân, phần lớn tập trung ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latin[11]
Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về trẻ em vào những năm đầu thập kỷ 90, đã
đề ra mục tiêu giảm một nửa tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em vào năm 2000 Riêng các nước đang phát triển trong cả thập kỷ qua tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm được 4%; từ 32% xuống còn 28%, trong đó tiến trình giảm SDD mạnh nhất là ở các nước khu vực Đông Á và Thái Bình Dương [4]
Nguy cơ bị SDD thể nhẹ cân ở Châu Á gấp 1,5 lần so với Châu Phi và nguy cơ bị SDD ở Châu Phi cao gấp 2,3 lần so với Châu Mỹ La tinh Theo số
liệu của WHO, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở một số nước trong khu vực hiện nay là Trung Quốc 16,8%, Thái Lan 25%, Philipin 38% Ấn Độ 53%; Trong đó Trung Quốc và Thái Lan là 2 nước có nền kinh tế ổn định nên tình trạng suy dinh dưỡng được cải thiện đáng kể [23]
Trên thế giới, thừa cân và béo phì là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong với
gần 2,8 triệu người trưởng thành tử vong hàng năm Bên cạnh đó, 44% bị béo phì, 23% thiếu máu cục bộ ở tim và từ 7% đến 41% mắc một số bệnh ung thư có nguyên nhân từ thừa cân và béo phì Trong 3 thập kỷ qua (1980 - 2010) số ca béo phì đã tăng gấp đôi trên toàn thế giới [27]
Năm 2010, kết quả phân tích trên 450 cuộc điều tra cắt ngang về TC, BP
của trẻ em ở 144 nước trên thế giới cho thấy có khoảng 43 triệu trẻ em dưới 5
tuổi bị TC, BP, 92 triệu trẻ em có nguy cơ bị thừa cân Tỷ lệ TC, BP của trẻ em trên thế giới đã tăng từ 4,2% năm 1990 lên 6,7% vào năm 2010 Với xu hướng này thì dự kiến đến năm 2020 sẽ có 9,1% tương đương với khoảng 60 triệu trẻ
em bị TC, BP Tỷ lệ béo phì ở các nước phát triển cao gấp 2 lần các nước đang phát triển [27]
Trang 331.6.2 Nghiên cứu về dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam
Nước ta là một trong những nước có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5
tuổi thể nhẹ cân giảm liên tục từ mức rất cao 51,5% năm 1985 xuống 44,9% năm 1995, mỗi năm giảm trung bình 0,66% [3] Từ năm 1995 bắt đầu thực hiện
kế hoạch quốc gia về dinh dưỡng, suy dinh dưỡng trẻ em thể nhẹ cân giảm trung bình mỗi năm 1,5%, được các tổ chức quốc tế thừa nhận và đánh giá cao: năm
2000 (33,1%) [3], đến năm 2012 còn 16,2% [49], là mức trung bình theo phân
loại của WHO-1997 [2] Tỷ lệ trẻ thấp còi cũng đã giảm từ 59,7% năm 1985
xuống 29,3% năm 2010, bình quân giảm 1,3% mỗi năm [3] và đến năm 2012 còn mức trung bình 26,7% [49] Tỷ lệ trẻ gầy còm hiện nay là 6,7% [49] Suy dinh dưỡng nhẹ cân hiện nay ở nước ta chủ yếu là mức độ vừa (14,5%), còn thể
Đến nay, các tỉnh thuộc vùng khó khăn có tỷ lệ trẻ nhẹ cân, thấp còi và
gầy còm cao tương ứng như Kon Tum (26,3%, 40,6%, 9,2%); Hà Giang (23,1%, 35,0%, 7,9%) [45] Vùng miền núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, SDD trẻ
em luôn cao hơn hẳn các vùng khác [15], [22] Khu vực duyên hải miền Trung
là một trong những vùng có tỷ lệ trẻ nhẹ cân, thấp còi và gầy còm tương ứng còn trung bình và cao (19,5%, 31,2%, 7,5%), trong đó có Quảng Nam (16,0%, 30,1%, 6,8%) [45] Phân bố suy dinh dưỡng ở Quảng Nam cũng không đồng đều giữa các vùng: trẻ nhẹ cân ở Hội An 10,1%, Tam Kỳ 12,4%; Nam Trà My 31,0% và Bắc Trà My cao nhất tỉnh 32,2% [45]
Trang 34Một nghiên cứu tại Hà Nội của Lê Thị Hợp cho thấy các yếu tố như cai
sữa trước 12 tháng, ăn bổ sung sớm, chất lượng bữa ăn bổ sung kém, mắc bệnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trong 2 tuần qua là các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng trẻ em [16]
Nghiên cứu của Vũ Phương Hà và cộng sự tại hai huyện Hướng Hóa và Đăkrong của tỉnh Quảng trị trong năm 2010 cho thấy: Kiến thức của bà mẹ về nuôi con bú và ăn bổ sung còn nhiều hạn chế Có tới 27,0% bà mẹ không biết cho bú lần đầu vào thời gian nào và bú hoàn toàn trong mấy tháng là phù hợp
Chỉ có 46,8% bà mẹ cho rằng nên cho bú hoàn toàn đến 6 tháng Trên 50% các
bà mẹ cho rằng phải cho con ăn bổ sung trước 6 tháng hoặc không biết nên bắt đầu cho ăn vào thời điểm nào [10]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Như Hoa tại huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình năm 2011 cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ khu vực nghiên cứu là cao so
với tỷ lệ suy dinh dưỡng chung toàn quốc Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 23,5% (CN/T), thể thấp còi 52,2% (CC/T) và thể gầy còm 6,9% (CN/CC) Tỷ lệ SDD ở ba thể xuất hiện khá sớm và có xu hướng tăng theo độ tuổi, đặc biệt thể
Nghiên cứu của Chu Thị Phương Mai tại phòng khám dinh dưỡng Bệnh
viện nhi Trung ương (2014) cho thấy: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là
Trang 3537,5%, suy dinh dưỡng thể thấp còi là 28,2% và suy dinh dưỡng thể gầy còm là 26,9% Trẻ bị suy dinh dưỡng chủ yếu là mức độ vừa ở cả 3 thể suy dinh dưỡng
nhẹ cân, thấp còi và gầy còm Suy dinh dưỡng mức độ nặng chiếm tỷ lệ thấp [24]
Nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Việt tại 2 xã Đồng Hóa và Sơn Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình năm 2014 cho thấy: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 28,2%, thể thấp còi là 35,4% và thể gầy còm là 17,2% Suy dinh dưỡng
thể nhẹ cân theo mức độ: Độ 1: 21,0%; Độ 2: 4,6%; Độ 3: 2,6% Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể phối hợp còi cọc và gầy còm: 3,4% [44]
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về dinh dưỡng được triển khai mạnh mẽ như điều tra khẩu phần ăn cho các lứa tuổi và nghề nghiệp, nghiên cứu về tiêu hao năng lượng, xây dựng bảng tiêu hao năng lượng cho các loại hình lao động, xây
dựng bản quy định tạm thời về tiêu chuẩn dinh dưỡng ở Việt Nam, nhu cầu về các chất dinh dưỡng theo các lứa tuổi, xây dựng cơ cấu bữa ăn cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở Việt Nam [11]
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn Đồng thời các hoạt động chăm sóc sức khỏe và phòng chống SDD đã và đang được đẩy mạnh, những cải thiện toàn diện đó cũng có tác động mạnh mẽ đến tiến triển của suy dinh dưỡng trẻ em [46]
TCYTTG nhận định Việt Nam nằm trong số các nước có tỷ lệ SDD trẻ
em đang giảm nhanh nhưng do điểm xuất phát của chúng ta thấp nên hiện nay tỷ
Trang 36Nội (9,7%), trong khi đó vẫn còn 6 tỉnh SDD ở mức rất cao trong đó có Quảng Bình (30,6%) Một lần nữa khẳng định nguyên nhân gây SDD trẻ em ở các vùng, các tỉnh không như nhau [13]
1.7 M ột số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng ở trẻ em
Nhờ các nghiên cứu dịch tễ học dinh dưỡng, người ta đã tìm ra hàng loạt
yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em ở các nước đang phát triển, trong đó có nước ta Đó là các yếu tố về sinh học, di truyền (chủng tộc, dân tộc, tình trạng sức khỏe bệnh tật mẹ khi mang thai); yếu tố về hành vi, lối
sống mà ở đây chủ yếu liên quan trực tiếp đến hành vi nuôi con của các bà mẹ như cho trẻ bú mẹ; ăn bổ sung; chăm sóc trẻ chưa đúng cách do rào cản của các
tập quán lạc hậu, đặc biệt khi trẻ bị ốm, bà mẹ thường kiêng khem như kiêng nước, kiêng ăn lúc trẻ bị sởi; cúng bái khi trẻ ốm Các yếu tố liên quan khác như: điều kiện kinh tế xã hội thấp, đầu tư cho y tế còn hạn chế; dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh; sự quan tâm của lãnh đạo địa phương và năng lực hoạt động của các cấp, các ngành hạn chế; chất lượng dịch vụ y tế kém hiệu quả [8]
1.7.1 Nuôi con bằng sữa mẹ
UNICEF coi nuôi con bằng sữa mẹ là biện pháp hàng đầu bảo vệ sức khoẻ
trẻ em, do sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ Theo khuyến cáo của chuyên gia dinh dưỡng, đứa trẻ cần được bú mẹ trong vòng giờ đầu sau sinh và giúp làm
giảm nguy cơ SDD Thống kê năm 2009 của WHO thấy có sự khác nhau rõ rệt
giữa các nước về tỷ lệ trẻ bú mẹ trongvòng giờ đầu sau sinh: Cuba 70,0%, Mozambique 63,1%, Việt Nam 57,8%,Bangladesh 35,6%, Lào 29,8%, Yemen 29,6%, Cameroon 19,6%
Trong 6 tháng đầu, trẻ cần được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ màkhông
cần thêm thức ăn nào khác [3] Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu theo WHO công bố năm 2009, có sự khác biệt rất lớn ở nhiều nước trên thế
giới như Rwanda 88%, Srilanka 76%, Peru 73,0%, Triều Tiên 65%, Bolivia 60,0%; nhưng Belarus chỉ 9,0%, Nam Phi 7,0%, Thái Lan 5,0%, Djibouti 1,0%,
Bỉ 1,0% [8] và ở Việt Nam, tỷ lệ này là 19,6% [3] Với trẻ dưới 12 tháng tuổi,
Trang 37sữa mẹ là thức ăn quý giá nhất mà không một thức ăn nhân tạo nào có thể so sánh được Nhiều nghiên cứu chỉ rõ tỉ lệ SDD và mắc các bệnh nhiễm trùng hô
hấp, tiêu chảy cao hơn một cách có ý nghĩa ở nhóm trẻ mẹ bị thiếu sữa mẹ [44], [8]
Nhiều nghiên cứu có nhận định là ở vùng nông thôn tình hình nuôi con
bằng sữa mẹ luôn có xu hướng tích cực hơn so với ở thành thị, nhất là vùng nông thôn ở các nước đang phát triển [8]
Trẻ cần được bú mẹ thường xuyên, nên bú kéo dài từ 18 đến 24 tháng tuổi
và không nên quá 24 tháng Tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú mẹ đến 2 tuổi theo UNICEF
khảo sát năm 2009 có sự khác biệt giữa các nước rất rõ: Nepal 95,0%, Benin 92,0%, Bangladesh 91,0%, Ethiopia 88,0%, Myanmar 67,0%, nhưng Jordan chỉ 11,0%, Bosnia 6,0% [8] Việt Nam có đến 93% bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ [3]
Tỷ lệ bà mẹ Việt Nam cho con bú từ 18-24 tháng rất cao trong những năm gần đây cho thấy công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cùng với thực tiễn về lợi ích của sữa mẹ đã thay đổi căn bản thực hành nuôi con bằng sữamẹ ở nhiều vùng miền trên cả nước
1.7.2 Nuôi con ăn bổ sung
Thời gian bắt đầu ăn bổ sung theo khuyến cáo chung là khi trẻ tròn 6 tháng tuổi [3] Trong một bữa ăn bổ sung hợp lý cho trẻ, cần có sự phối hợp đầy
đủ giữa 4 nhóm thực phẩm theo một tỷ lệ cân đối: Protein/Lipit/Gluxit
=1/1/4-5 cùng rau, củ, quả và tập cho trẻ thích nghi dần với từng loại thức ăn
mới theo nguyên tắc từ ít đến nhiều; từ lỏng đến đặc [38]
Chất lượng bữa ăn có vai trò rất quan trọng đối với phát triển thể chất trẻ
em Nghiên cứu của WHO cho thấy những đứa trẻ bắt đầu ăn bổ sung thêm sữa
hộp ngay trong tuần đầu, có nguy cơ bị tiêu chảy cao gấp 3 lần và nguy cơ nhập
viện cao gấp 5 lần so với trẻ chỉ bú sữa mẹ; đối với trẻ cai sữa trong tuần đầu sau đẻ có nguy cơ bị tiêu chảy cao gấp 5 lần và nguy cơ phải vào viện do tiêu
chảy cao gấp 12 lần so với trẻ bình thường Nguyễn Thị Hải Anh, Lê Thị Hợp
và cộng sự thấy trẻ ăn bổ sung không hợp lý có nguy cơ SDD tăng 2,7 - 4 lần
Trang 38[1] Nhiều nghiên cứu khác đều khẳng định hậu quả của ăn bổ sung sớm đến tình trạng SDD, bệnh tật trẻ em Bà mẹ cho con ăn bổ sung sớm là hiện trạng chung của nước ta
1.7.3 Cách chăm sóc trẻ
Nếu như việc cung cấp chất dinh dưỡng đóng vai trò quyết định trongviệc phát triển thể chất trẻ em, thì cách chăm sóc trẻ quyết định sự phát triển tinh
thần và góp phần rất quan trọng vào việc đảm bảo phát triển thể chất trẻ em toàn
diện Trẻ em cần được chăm sóc chu đáo về vệ sinh; tiêm chủng mở rộng; theo dõi tăng trưởng; tình thương yêu; học hành và được chăm sóc dinh dưỡng đúng khi ốm như tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp [8]
1.8 M ột số đặc điểm tự nhiên, xã hội của địa điểm nghiên cứu
Thanh Hóa là một xã miền núi biên giới của huyện Tuyên Hóa, tỉnh
Quảng Bình Xã có diện tích là 13.846 ha, trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp, địa hình phần lớn là đồi núi Cơ cấu nông – lâm – ngư nghiệp chiếm gần 50% Toàn xã có 8 thôn và 3 bản dân tộc với tổng số hộ gia đình là 1.892 hộ Tổng số dân trong toàn xã là 6.624 người Số trẻ em dưới 5 tuổi trong toàn xã là 634 trẻ Trong xã có nhiều dân tộc sinh sống: Kinh, Mã Liềng, Sách, Nùng Đời sống
của người dân ở đây còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm
tới 35% [42]
Trạm y tế xã Thanh Hóa có 6 cán bộ, trong đó 1 Bác sỹ, 1 nữ hộ sinh, 1 Y sỹ
và 1 điều dưỡng, 01 Dược sỹ và 01 viên chức dân số, có 11y tá thôn được đào tạo chương trình y tế 3, 6, 9 tháng của Bộ Y tế
Mạng lưới hoạt động y tế ngày càng được nâng cao, công tác chăm sóc
sức khỏe nhân ngày càng được cải thiện
Để chỉ đạo công tác SDDTE từ xã đến thôn, UBND xã đã thành lập Ban
Chỉ đạo gồm: Chủ tịch UBND xã làm trưởng ban, Trạm trưởng Trạm Y tế làm phó ban trực, các thành viên là phụ nữ, giáo dục, dân số, gia đình và trẻ em, chữ
thập đỏ, tài chính xã Ban chỉ đạo sinh hoạt định kỳ hàng quý, năm để tổng kết công tác phòng chống SDDTE và lập kế hoạch cho năm sau Nhờ hoạt động của
Trang 39BCĐ mà công tác phòng chống SDD của xã đã có nhiều chuyển biến tích cực
1.9 Khung lý thuyết nghiên cứu
Khung lý thuyết của vấn đề tình trạng dinh dƣỡng trẻ em
Tình trạng dinh dƣỡng (SDD ho ặc TC, BP)
Thi ếu dinh dƣỡng
Th ừa dinh dƣỡng
Thói quen,
t ập quán
Ki ến thức, thực hành chăm sóc tr ẻ của bàn mẹ mẹ Điều kiện kinh tế gia đình
Phân phối không công
b ằng về thực phẩm
Cấu trúc chính trị kinh t ế - xã hội
s ống kém
v ận động
Trang 40C HƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Trẻ em dưới 5 tuổi và các bà mẹ có con dưới 5 tuổi hiện đang sinh sống
tại xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình năm 2020
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những bà mẹ vắng mặt tại địa phương trong thời gian nghiên cứu
- Những trẻ bị dị tật bẩm sinh và các bệnh như: Tim bẩm sinh, Hội chứng Down
- Những bà mẹ và trẻ vãng lai ở nơi khác đến
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ 5/2020 - 7/2020
2.2 P hương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, có phân tích
Trong đó: