Như vậy khái niệm TH ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS để chiếm lĩnh tri t hức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chương trình và SGK với sự hướng dẫn trự[r]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Huỳnh Phước Hiệp
THIẾT KẾ TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN
THEO MÔĐUN NHẰM HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH KHÁ – GIỎI HÓA HỌC LỚP 10
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Huỳnh Phước Hiệp
THIẾT KẾ TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN
THEO MÔĐUN NHẰM HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH KHÁ – GIỎI HÓA HỌC LỚP 10
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gởi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, Phòng Khoa học công nghệ và Sau đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để khóa học được hoàn thành tốt đẹp Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Đặng Thị Oanh người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện
đề tài này
Đồng thời xin gởi lời cám ơn chân thành đến PGS.TS Trịnh Văn Biều đã quan tâm động viên, khuyến khích tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập
Tôi chân thành cảm ơn quý thầy cô giảng viên trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí minh đã tận tình giảng dạy, mở rộng và làm sâu sắc kiến thức chuyên môn đến cho chúng tôi
Tác giả xin gởi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu - Quý thầy cô trường THPT Nguyễn Đình Chiểu, cũng như quý thầy cô của nhiều trường THPT thuộc địa bàn tỉnh Tiền Giang và các tỉnh bạn đã có nhiều giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thuộc đã luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc, tạo điều kiện cho tác giả thực hiện tốt luận văn này
Trong quá trình thực hiện đề tài còn nhiều sơ sót Kính mong quí thầy cô góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn
Lê Huỳnh Phước Hiệp
TP Hồ Chí Minh, 2011
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC CÁC HÌNH 8
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Các phương pháp nghiên cứu 4
8 Điểm mới của luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.2 TỰ HỌC 8
1.3 PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN 17
1.4 BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƯỜNG THPT 26
1.5 TH ỰC TRẠNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH KHÁ GIỎI 30
CHƯƠNG 2 : THIẾT KẾ TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN CHƯƠNG NHÓM HALOGEN VÀ CHƯƠNG NHÓM OXI 34
2.1 GIỚI THIỆU PHẦN HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 10- CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO [5], [34] 34
2.1.1 Mục đích dạy học 34
2.1.2 Nội dung dạy học 34
2.1.3 Mục tiêu-yêu cầu của chương “Nhóm Halogen” và chương “Nhóm Oxi” lớp 10 nâng cao [34] 34
2.2 NGUYÊN TẮC THIẾT KẾ TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN [23] 36
Trang 52.3 QUI TRÌNH THIẾT KẾ TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO
MÔĐUN[23] 36
2.4 PHẦN LÍ THUYẾT CỦA TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN 37
2.4.1 Tiểu môđun 1 Khái quát nhóm Halogen 38
2.4.2 Tiểu môđun 2 Clo 46
2.5 PHẦN BÀI TẬP CỦA TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN 54
2.6 SỬ DỤNG THIẾT KẾ TÀI LIỆU TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN ĐỂ HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HS KHÁ GIỎI 61
2.6.1 Những biện pháp hỗ trợ việc tự học cho HS khá - giỏi 61
2.6.2 Phương pháp sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn để hỗ trợ việc học cho HS khá giỏi 63
CHƯƠNG 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67
3.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM 67
3.2 NHIỆM VỤ THỰC NGHIỆM 67
3.3 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 68
3.4 TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM 68
3.4.1 Thực nghiệm thăm dò 68
3.4.2 Thực nghiệm chính thức 68
3.5 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 70
3.5.1 Đánh giá về mặt định lượng 70
3.5.2 Đánh giá về mặt định tính 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Kiến nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 94
Trang 6SGK : Sách giáo khoa
TNKQ : trắc nghiệm khách quan TNSP : Thực nghiệm sư phạm THPT : Trung học phổ thông
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Số HS tham gia thực hiện phiếu điều tra tự học 33
Bảng 1.2 Số liệu thống kê phiếu điều tra tự học 34
Bảng 3.1 Các lớp TN – ĐC 76
Bảng 3.2 Số HS đạt điểm Xi của các nhóm TN và ĐC 79
Bảng 3.3 Tần suất của các nhóm TN và ĐC 80
Bảng 3.4 Tần suất lũy tích của các nhóm TN và ĐC 81
Bảng 3.5 Tổng hợp các tham số đặc trưng ở từng cặp TN 82
Bảng 3.6 Tổng hợp các tham số đặc trưng ở các lớp đối chứng 82
Bảng 3.7 Số % HS đạt điểm giỏi, khá, trung bình và yếu kém lớp TN và ĐC 83
Bảng 3.8 Tổng hợp các tham số đặc trưng các lớp TN và ĐC 84
Bảng 3.9 Số HS đạt điểm Xi ở nhóm TN và ĐC trong bài KT độ bền kiến thức 87
Bảng 3.10 Tần suất các nhóm TN và ĐC trong bài KT độ bền kiến thức 87
Bảng 3.11 Tần suất lũy tích nhóm TN và ĐC trong bài KT độ bền kiến thức 87
Bảng 3.12 Các tham số đặc trưng bài KT độ bền kiến thức của các nhóm TN và ĐC 87
Bảng 3.13 Số HS đạt điểm Xi ở nhóm TN và ĐC trong bài KT năng lực TH 88
Bảng 3.14 Số % HS đạt điểm giỏi, khá, trung bình và yếu kém bài KT năng lực TH 89
Bảng 3.15 Các tham số đặc trưng trong bài KT đánh giá năng lực TH 89
Bảng 3.16 Kết quả đánh giá tài liệu tự học có hướng dẫn phần lí thuyết (phiếu hỏi GV ) 91
Bảng 3.17 Kết quả đánh giá tài liệu tự học có hướng dẫn phần bài tập (theo GV) 92
Bảng 3.18 Kết quả đánh giá tài liệu tự học (theo phiếu hỏi học sinh) 95
Trang 8DANH M ỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Chu trình tự học 14
Hình 1.2 Cấu trúc môđun dạy học 19
Hình 1.3 Sơ đồ cấu trúc hệ ra của môđun 20
Hình 1.4 Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun 24
Hình 3.1 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 1 ở lớp 10 Lí và 10 Sinh 84
Hình 3.2 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 2 ở lớp 10 Lí và 10 Sinh 84
Hình 3.3 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 1 ở lớp 10A1(TG) và 10A3 84
Hình 3.4 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 2 ở lớp 10A1(TG) và 10A3 84
Hình 3.5 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 1 ở lớp 10CB và 10CA2 85
Hình 3.6 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 2 ở lớp 10CB và 10CA2 85
Hình 3.7 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 1 ở lớp 10A17 và 10A15 85
Hình 3.8 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 2 ở lớp 10A17 và 10A15 85
Hình 3.9 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 1 ở lớp 10CBA10 và 10CBA5 85
Hình 3.10 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 2 ở lớp 10CBA10 và 10CBA5 85
Hình 3.11 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 1 ở lớp 10A1(BT) và 10A2(BT) 86
Hình 3.12 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 2 ở lớp 10A1(BT) và 10A2(BT) 86
Hình 3.13 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 1 của các nhóm TN và ĐC 86
Hình 3.14 Đồ thị lũy tích bài KT môđun 2 của các nhóm TN và ĐC 87
Hình 3.15 Đồ thị lũy tích bài KT độ bền kiến thức của các lớp TN và ĐC 88
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Giáo dục thế kỉ XXI đã và đang có những chuyển đổi nhanh, mạnh theo xu hướng tích cực và ngày càng hiện đại Sự phát triển nhảy vọt của khoa học kĩ thuật đang đưa nhân loại bước đầu quá độ sang nền kinh tế tri thức Xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, dân chủ hóa, đại chúng hóa… mạnh mẽ đang diễn ra trên thế giới tác động đến sự phát triển giáo dục
Để đáp ứng được yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, quán triệt mục tiêu đào tạo con người mới toàn diện, vai trò của giáo viên trong nhà trường phải không ng ừng được nâng cao Trong quá trình truyền thụ kiến thức, người giáo viên phải có trách nhiệm điều khiển quá trình nhận thức, phát triển năng lực nhận thức, rèn luy ện tư duy sáng tạo, bồi dưỡng khả năng tự học, tự đọc, tự nghiên cứu thật tốt, nhất là với các em học sinh khá giỏi ở các lớp chọn, các lớp có học nâng cao môn Hoá học
1.2 Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 9, tháng 4
năm 2001 về chiến lược giáo dục có ghi: “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong
những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II, BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
khóa VIII chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước
áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, …”
Luật Giáo dục đã ghi: “ phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Trang 10Như vậy, các chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật nhà nước đã đặt ra
yêu cầu đổi mới theo hướng hiện đại hóa nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo Trong đó phải thường xuyên cải tiến nội dung và phương pháp giáo dục, nhanh chóng bắt kịp xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện đại nhằm hình thành và phát triển những giá trị nhân cách tích cực, năng động, sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề cho HS
1.3 Tuy nhiên trong nhiều năm gần đây, việc đổi mới phương pháp để nâng
cao hiệu quả dạy học nói chung, dạy học Hóa học nói riêng đã được chú ý nhưng
chưa thật sự đi vào chiều sâu là chú trọng nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh Qua thực tế nghiên cứu cho thấy các em học sinh khá, gỉỏi ở các
trường phổ thông hiện nay phải dành nhiều thời gian để tự học, tự nghiên cứu nhằm nâng cao kiến thức Tuy nhiên, các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn,
phân loại sách để tự học trước nguồn tài liệu quá phong phú Nhiều học sinh không
biết phải tự học như thế nào để đạt được hiệu quả học tập cao
Đặc biệt, đối tượng học sinh lớp 10, đây là năm đầu tiên các em tiếp xúc với chương trình THPT, với khối lượng kiến thức nhiều hơn và phương pháp giảng dạy
của giáo viên cũng khác hơn so với ở bậc THCS Do đó, để có được sự hứng thú và
kết quả tốt trong học tập, các em cần phải được hình thành một phương pháp, động lực tự học Tuy nhiên, đây là vấn đề hết sức khó khăn, vì các em vẫn còn nhiểu bỡ ngỡ và chưa có kinh nghiệm nhiều trong việc tự chủ động tìm tòi và nghiên cứu
1.4 Bên cạnh đó để kịp thời tiếp cận với sự đổi mới của nền giáo dục của các nước trên thế giới, đổi mới phương pháp học cần được tiến hành song song với việc
đổi mới phương pháp dạy học Hỗ trợ việc tự họccho học sinh là một yếu tố quan
trọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục
Xuất phát từ thực tế đó, việc nghiên cứu đề tài “ Thiết kế tài liệu tự học có hướng
dẫn theo môđun nhằm hỗ trợ việc tự học cho học sinh khá - giỏi Hóa học lớp 10 Trung học phổ thông” là một việc làm rất cần thiết
Trang 112 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun nhằm nâng cao năng lực tự học phần hóa vô cơ nói riêng và năng lực tự học bộ môn Hóa học nói chung, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học cho học sinh khá - giỏi ở các lớp chọn, các lớp có nâng cao môn Hoá học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài:
Những cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài hỗ trợ việc tự học cho HS khá giỏi bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
Q uá trình tự học có hướng dẫn và phương pháp dạy học hóa học ở trường THPT
Việc vận dụng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun trong dạy học hóa học đối với học sinh khá - giỏi ở các trường THPT
3.2 Biên soạn một tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun với nội dung lý thuyết
và bài tập chương “Nhóm Halogen” và chương “Nhóm Oxi” theo chương trình lớp
10 - nâng cao trường THPT giúp học sinh khá giỏi có thể tự học có hiệu quả
3.3 Thử nghiệm đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả việc sử dụng tài liệu có hướng dẫn cho học sinh khá, giỏi tại các lớp chọn, các lớp nâng cao môn Hoá học ở trường THPT
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm
- Xử lý thống kê các số liệu và rút ra kết luận
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình tự học Hóa học vô cơ (cụ thể là chương nhóm Halogen và Chương nhóm Oxi - lớp 10 chương trình nâng cao) trường THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Việc thiết kế tài liệu tự học theo mođun nhằm hỗ trợ việc tự học cho học sinh khá giỏi ở các trường THPT
Trang 12- Thời gian: từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 5 năm 2011
6 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn (lí thuyết và bài tập) theo môđun đảm bảo được yêu cầu, chất lượng và sử dụng một cách hợp lí, có hiệu quả sẽ hỗ trợ tốt cho việc tự học của học sinh phổ thông đặc biệt là đối tượng học sinh khá – giỏi
7 Các phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp mô hình hoá, phương pháp giả thuyết, phương pháp phân loại và hệ thống hóa
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, trò chuyện với học sinh nhằm đánh giá khả năng tự học của HS
- Điều tra thăm dò trước và sau thực nghiệm sư phạm
- Nghiên cứu kế hoạch học tập của học sinh giỏi hóa học ở các trường THPT
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo lâu năm để hoàn thiện tài liệu tự học Trao đổi kinh nghiệm với các nhà giáo dục, các GV
về kinh nghiệm dạy và học tập
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7.3 Các phương pháp thống kê toán học
8 Điểm mới của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về nâng cao chất lượng dạy học và tổ chức việc tự học có hướng dẫn cho học sinh khá giỏi ở các lớp chọn, các lớp nâng cao môn Hoá học ở các trường THPT
Trang 13- Đề xuất một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học cho học sinh thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập Hóa học
- Soạn thảo bộ tài liệu tự học có hướng dẫn (chương “Nhóm Halogen” và chương ‘Nhóm Oxi”) với nội dung lí thuyết và bài tập đồng thời sử dụng hợp lý có hiệu quả, nhằm hỗ trợ việc tự học, tự nghiên cứu cho học sinh khá - giỏi các lớp chọn, các lớp nâng cao môn Hoá học ở trường THPT
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Đi theo hướng nghiên cứu về tự học nói chung và tự học có hướng dẫn theo mođun nói riêng, trong lĩnh vực nghiên cứu về PP dạy học môn hoá học đã có một số công trình nghiên cứu như:
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Bắc: “Nâng cao chất lượng thực hành thí nghiệm phương pháp dạy học Hoá học ở Trường ĐHSP bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun”, bảo vệ năm 2002 tại trường ĐHSP Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Hoàng Hà: “Nâng cao chất lượng dạy học phần Hoá hữu cơ (chuyên môn I) ở Trường CĐSP bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun”, bảo vệ năm 2003 tại trường ĐHSP Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Kiều Trang: “Nâng cao chất lượng dạy học phần Hoá vô cơ (chuyên môn I) ở Trường CĐSP bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun”, bảo vệ năm 2004 tại trường ĐHSP Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Bùi Thị Tuyết Mai: “Nâng cao năng lực tự học cho học sinh giỏi hoá học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun (Chương Ancol-phenol và chương Anđehit-xeton)”, bảo vệ năm 2007 tại trường ĐHSP Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Toàn: “Nâng cao năng lực tự học cho học sinh chuyên hóa học bằng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun (phần hóa học vô cơ lớp 12)”, bảo vệ năm 2009 tại trường ĐHSP Hà Nội
Luận án Tiến sĩ của tác giả Đặng Thị Oanh: “Dùng bài toán tình huống mô phỏng rèn luyện kỹ năng thiết kế công nghệ bài nghiên cứu tài liệu mới cho sinh viên khoa hoá đại học
Sư phạm” bảo vệ năm 1995 tại trường ĐHSP Hà Nội
Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Ngà: “Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun phần kiến thức cơ sở hóa học chung - chương trình THPT chuyên hóa học góp phần nâng cao năng lực tự học cho học sinh”, bảo vệ năm 2010 tại trường
ĐHSP Hà Nội
Luận văn thạc sĩ của Tống Thanh Tùng: “ Thiết kế E-book hóa học lớp 12 phần Crôm, sắt, đồng nhằm hỗ trợ học sinh tự học”, bảo vệ năm 2009 tại trường ĐHSP TP Hồ Chí
Minh
Trang 15Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Tuyết Hoa: “Xây dựng website nhằm tăng cường năng lực tự học cho học sinh giỏi hóa lớp 11”, bảo vệ năm 2010 tại trường ĐHSP TP Hồ
Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thanh Hà: “ Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn theo
môđun nhằm tăng cường năng lực tự học cho học sinh giỏi hóa học trường Trung học phổ thông (chương Este-Lipit và chương Cacbohidrat)”, bảo vệ năm 2010 tại trường ĐHSP TP
năm 2008 tại trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Qua nghiên cứu tìm hiểu các luận văn tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và khoá luận tốt nghiệp nêu trên chúng tôi nhận thấy:
Tự học là vấn đề đang được rất quan tâm nhất từ năm 2002, đây là năm mà ngành giáo dục có nhiều bước chuyển mình đáng kể từ nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy cũng như kiểm tra đánh giá và bước ngoặc là kì thi đại học toàn quốc với hình thức 3 chung Theo các hướng nghiên cứu về tự học, các tác giả đã phân tích được vai trò của tự học, các hình thức tự học và đưa ra các biện pháp để hỗ trợ hoặc nâng cao năng lực tự học của
HS
Để hỗ trợ cho HS tự học, hướng thứ nhất của các tác già là thiết kế website, ebook để
HS có thể chủ động tự học ở mọi lúc mọi nơi, hướng thứ hai là thiết kế các tài liệu tự học có hướng dẫn theo mođun
Trang 16Mỗi hướng nghiên cứu đều có những ưu điểm tích cực Bản thân chúng tôi nhận thấy,
tự học của HS cần có sự hướng dẫn của GV và đặc biệt là kết hợp với những giờ lên lớp Để
hỗ trợ cho vấn đề này thì tài liệu tự học theo môđun là vấn đề được chúng tôi đặc biệt quan tâm và nghiên cứu
Như vậy, tài liệu tự học có hướng dẫn theo mođun phần Hoá hữu cơ lớp 11 và 12 đã có hai luận văn nghiên cứu Tuy nhiên, hai luận văn trên thiên về đối tượng là HS ở các trường THPT chuyên Tiếp tục theo hướng này chúng tôi nghiên cứu phần Hoá vô cơ ở hai chương
5 và 6 của lớp 10 chương trình nâng cao, đối tượng là HS khá giỏi ở các trường THPT 1.2 TỰ HỌC
1.2.1 Khái niệm tự học [25]
Theo Rubakin NA, t ự học là hoạt động học không có sự hiện diện của GV, HS không
có sự tiếp xúc trực tiếp với GV, là hình thức học tập hoàn toàn không có sự tương tác trực tiếp thầy trò, do đó HS phải tự lực thông qua tài liệu, qua hoạt động thực tế, qua thí nghiệm
để chiếm lĩnh kiến thức
1 2.2 Năng lực tự học [25]
Năng lực tự học là năng lực hết sức quan trọng vì tự học là chìa khoá tiến vào thế kỉ XXI, một thế kỉ với quan niệm học suốt đời, xã hội học tập Có năng lực tự học mới có thể
học suốt đời được Vì vậy, quan trọng nhất đối với HS là học cách học Năng lực TH là khả
năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao Để bồi dưỡng cho HS năng lực tự học, tự nghiên cứu, cần phải xác định được các năng lực và trong quá trình dạy học, GV cần hướng dẫn và tạo các cơ hội, điều kiện thuận lợi cho
HS hoạt động nhằm phát triển các năng lực đó
1.2.3 Các năng lực tự học cơ bản [25, 12]
Cần bồi dưỡng và phát triển năm năng lực tự học cơ bản sau cho HS:
Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Trong dạy học truyền thống, theo kiểu “bình quân - đồng loạt”, HS được “ru êm” bằng những bài thuyết trình của GV suốt từ học kì này sang học kì khác của năm học HS ít khi được phát hiện vấn đề mới, mà thường lặp lại hoặc phát hiện lại vấn đề đã được GV đưa ra Kiểu học như vậy kéo dài góp phần làm thui chột khả năng tự tìm kiếm, tự phát hiện của
HS, trái với quan niệm về việc học “là sự biến đổi bản thân mình trở nên có thêm giá trị, bằng nỗ lực của chính mình để chiếm lĩnh những giá trị mới lấy từ bên ngoài” là “một hành
Trang 17trình nội tại, được cắm mốc bởi kiến thức, PP tư duy và sự thực hiện tự phê bình, để tự hiểu bản thân mình” (Jacques Delors-Learing: The Treasure Within, UNESCO, Pari 1996) Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề hết sức quan trọng đối với mọi người, đặc biệt HSG Nhờ năng lực này HS vừa tự làm giàu kiến thức của mình, vừa rèn luyện tư duy
và thói quen phát hiện, tìm tòi,…
Năng lực này đòi hỏi HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung các bế tắc, nghịch lí cần phải khai thông, khám phá, làm sáng tỏ,… Để phát hiện đúng vấn đề, đòi hỏi người học phải thâm nhập, hiểu biết khá sâu sắc đối tượng, đồng thời biết liên tưởng, vận dụng những hiểu biết và tri thức khoa học của mình đã
có tương ứng Trên cơ sở đó, dường như xuất hiện “linh cảm”, và từ đó mạch suy luận được hình thành Phải sau nhiều lần suy xét thêm trong óc, vấn đề phát hiện được nói lên thành lời, hiện lên rõ ràng, thúc bách việc tìm kiếm con đường và hướng đi để giải quyết
Năng lực giải quyết vấn đề
Trong cuộc sống của mỗi người bao gồm một chuỗi các vấn đề khác nhau được giải quyết Nhờ vào việc đối mặt và giải quyết các vấn đề, mỗi người ngày càng trưởng thành và thích nghi hơn với cuộc sống, xây dựng cho mình cuộc sống có chất lượng ngày càng phát triển Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều HS thu thập được một khối lượng thông tin phong phú nhưng không biết hệ thống và xử lí như thế nào để tìm ra con đường đến với giả thuyết Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của các GV ngay từ những hoạt động đầu của giải quyết vấn đề
Nếu nói rằng trong dạy học đối với HSG, quan trọng nhất là dạy cho HS cách học, thì trong đó cần coi trọng dạy cho HS kĩ thuật giải quyết vấn đề Với kĩ thuật này, HS có thể áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri
thức cần thiết cho mình Nên xem kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy học cho HS phương pháp tự học
Năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, biện pháp…) từ quá trình giải quyết vấn đề
Trang 18Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính bản thân HS có năng lực này
Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết) Trên thực tế có rất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên HS có thể đi chệch ra khỏi vấn đề chính đang giải quyết hoặc lệch lạc với mục tiêu đề ra ban đầu Vì vậy hướng dẫn cho HS kĩ thuật xác định kết luận đúng không kém phần quan trọng so với các kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải được dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề
và nhắm đúng mục tiêu
Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (hoặc vào nhận thức kiến thức mới)
Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trong thực tiễn cuộc sống, hoặc là HS vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên
cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới
Cả hai đều đòi hỏi người học phải có năng lực vận dụng kiến thức
Việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đặc biệt trong các trường hợp mới, lại làm xuất hiện các vấn đề đòi hỏi phải giải quyết Như vậy kĩ năng giải quyết vấn đề lại có cơ hội để rèn luyện và kết quả của việc giải quyết vấn đề giúp cho người học thâm nhập sâu hơn vào thực tiễn Từ đó hứng thú học tập, niềm say mê và khao khát được tìm tòi, khám phá, áp dụng kiến thức và kinh nghiệm tăng lên, các động cơ học tập đúng đắn càng được bồi dưỡng vững chắc Giải quyết các vấn đề thực tiễn mới làm nảy sinh nhu cầu nghiên cứu tài liệu, trao đổi, hợp tác với bạn bè, đồng nghiệp Các kĩ năng về giao tiếp, cộng tác, huy động nguồn lực được rèn luyện Kết quả của hoạt động thực tiễn vừa làm giàu thêm tri thức, vừa soi sáng, giải thích, làm rõ thêm các kiến thức được học từ SGK, tài liệu HS thấy tự tin, chủ động hơn, đồng thời họ lại phải có thái độ dám chịu trách nhiệm về các quyết định mình đã lựa chọn và có kĩ năng lập luận, bảo vệ các quyết định của mình
Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Dạy học đề cao vai trò tự chủ của HS (hay tập trung vào người học), đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích (thậm chí bắt buộc) HS đánh giá và tự đánh giá mình Chỉ
có như vậy, họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi sáng tạo, tìm
ra cái mới, cái hợp lí, cái có hiệu quả hơn
Trang 19Mặt khác, kết quả tất yếu của việc rèn luyện các kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn
đề, kết luận và áp dụng kết quả của qui trình giải quyết vấn đề đòi hỏi HS phải luôn đánh giá và tự đánh giá HS phải biết được mặt mạnh, hạn chế của mình, cái đúng sai trong việc mình làm mới có thể tiếp tục vững bước tiếp trên con đường học tập chủ động của mình Không có khả năng đánh giá, HS khó có thể tự tin trong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học
Năm năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau, tạo nên năng lực TH ở HS Các năng lực trên cũng chính là năng lực của người nghiên cứu khoa học Vì vậy, rèn luyện được các năng lực đó, chính là HS đặt mình vào vị trí của người nghiên cứu khoa học, hay nói cách khác, đó là sự rèn luyện năng lực TH, tự nghiên cứu Cũng chính việc học như vậy, đòi hỏi việc dạy học không phải là truyền thụ kiến thức làm sẵn cho HS mà người GV phải đặt mình vào vị trí người hướng dẫn HS nghiên cứu
Biết và sử dụng có hiệu quả các kỉ thuật đọc sách, nghe giảng, trao đổi, thảo
luận, tranh luận, xây dựng đề cương, viết báo cáo, thu thập và xử lí thông tin
Biết sử dụng các phương tiện học tập, đặc biệt là công nghệ thông tin
Biết lắng nghe và thông tin trí thức, giải thích tài liệu cho người khác
Biết phân tích, đánh giá và sử dụng các thông tin
Biết KT-ĐG chất lượng học tập của bản thân và bạn học
Biết vận dụng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng
Trang 201.2.5 Động cơ hoạt động tự học [9], [31], [20]
Động cơ của hoạt động nào thì quyết định kết quả của hoạt động đó Giống như động
cơ hoạt động nói chung, động cơ tự học cũng có nhiều cấp độ khác nhau, bắt đầu từ sự thoả mãn nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ, tự khẳng định mình, mong muốn thành thạo nghề nghiệp cho tới cấp độ cao là thoả mãn nhu cầu hiểu biết, lòng khao khát tri thức và được nảy sinh trong mối quan hệ với đối tượng tự học
Động cơ có thể có nguồn gốc từ bên ngoài, được hình thành từ những tác động bên ngoài và được cá nhân hoá thành hứng thú, tâm thế, niềm tin, của mình Hình thành động
cơ hoạt động cho cá nhân phải bắt đầu xây dựng các điều kiện bên ngoài cho phù hợp với nhận thức, tình cảm của cá nhân Đó chính là quá trình "chuyển vào trong" của những điều kiện, những yêu cầu có nguồn gốc từ bên ngoài thành động cơ cá nhân; từ những động cơ có thứ bậc thấp tới động cơ có thứ bậc cao hơn như: danh dự trong cộng đồng, tương lai cá nhân, lí tưởng xây dựng đất nước giàu đẹp Sự nảy sinh động cơ TH lúc đầu xuất phát từ ý thức trách nhiệm buộc phải hoàn thành các nhiệm vụ học tập đã thúc đẩy hoạt động tự học của HS
Động cơ có nguồn gốc bên trong: xuất phát từ logic chính nội dung tri thức khoa học làm nảy sinh trong HS lòng khao khát hiểu biết sâu sắc, thoả mãn sự tò mò, hoàn chỉnh kiến thức, thử thách năng lực trí tuệ của chính mình
Động cơ tự học không có sẵn, không thể áp đặt từ bên ngoài mà phải được hình thành dần chính trong quá trình HS ngày càng đi sâu chiếm lĩnh đối tượng học tập Khi bắt tay vào giải quyết các nhiệm vụ tự học, mục đích tự học xuất hiện dưới hình thức một biểu tượng chung về sự hoàn thành nhiệm vụ đó Xét về nội dung, biểu tượng đó còn nghèo nàn, thô sơ và có nguồn gốc từ động cơ học tập Quá trình giải quyết các nhiệm vụ tự học, biểu tượng ban đầu ngày càng được cụ thể hoá, những mục đích bộ phận tiếp theo được hình thành, dẫn HS tới mục đích cuối cùng là chiếm lĩnh được tri thức khoa học
Động cơ tự học của HS được hình thành bởi sự tác động của các yếu tố bên ngoài như: sự bất cập giữa trình độ bản thân với yêu cầu của công việc, nhu cầu thăng tiến, do tự
ái bạn bè, đồng nghiệp, thoả mãn nhu cầu hiểu biết, lòng khao khát tri thức và cả những khó khăn về thời gian, trường lớp nếu đi học tập trung Chính những mâu thuẫn giữa yêu cầu của công việc, cuộc sống với khả năng của HS làm xuất hiện nhu cầu tự học để nâng cao trình độ học vấn của họ
Động cơ tự học của HS xuất phát từ sự nhận thức, về yêu cầu nâng cao trình độ, từ sự
Trang 21thúc bách của nhu cầu thực tiễn nên động cơ TH bền vững và do vậy trong hoạt động TH
họ thực sự tích cực, tự giác hướng tới sự tự giáo dục, tự đào tạo bản thân
Khi động cơ đủ mạnh, tuỳ vào điều kiện của bản thân để lựa chọn hình thức, nội dung và xây dựng kế hoạch tự học thích hợp cho mình Trong quá trình tiến hành tự học, việc chiếm lĩnh được tri thức sẽ nâng tầm hiểu biết của người học, làm tăng khả năng thích ứng với công việc và cuộc sống, do đó làm nảy sinh tiếp ham muốn nâng cao hiểu biết, động cơ học tập được củng cố và nâng lên mức cao hơn
Như vậy, động cơ tự học hoàn toàn không xuất hiện một cách ngẫu nhiên hay do người khác mang đến mà chỉ có thể nảy sinh một cách có ý thức trong từng cá nhân nhờ các tác động phù hợp từ bên ngoài và chỉ có thể được nâng cao khi quá trình tự học có hiệu quả
Thời (1): Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân
Thời (2): Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học
Trang 22Thời (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự KT, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
1.2.7 Các hình thức tự học [26],[ 18]
Có 5 hình thức tự học
Tự học hoàn toàn (không có GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lổ hỏng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch TH, không tự đánh giá được kết quả TH của mình Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục TH
TH trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông Để giúp HS
có thể TH ở nhà, GV cần tăng cường KT-ĐG kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ
TH qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp
đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức TH này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình
TH qua tài liệu hướng dẫn: trong tài liệu trình bày cả ND, cách xây dựng kiến thức, cách KT kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được Song nếu chỉ dùng tài liệu TH, HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai
Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp: với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định, song nếu HS vẫn sử dụng SGK hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành TH vì thiếu sự hướng dẫn về PP học Qua việc nghiên cứu các hình thức TH ở trên thấy rằng mỗi hình thức TH có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định Để nhằm khắc phục được những nhược điểm của các hình thức TH đã có này và xét đặc điểm của HSG hoá học chúng tôi đề xuất một hình thức
TH mới:tự học theo tài liệu hướng dẫn và có sự giúp đỡ trực tiếp một phần của GV gọi tắt là
"tự học có hướng dẫn"
1.2.8 Tự học có hướng dẫn [24], [32]
Tự học là một hình thức học Vậy hoạt động TH cũng phải có mục đích, ND và PP
phù hợp Hình thức TH có hướng dẫn vừa phải đảm bảo thực hiện đúng quan điểm dạy học
Trang 23hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS
Cần hiểu mối quan hệ giữa dạy và TH là quan hệ giữa tác động bên ngoài và hoạt động bên trong Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho HS tự phát triển, chỉ có TH của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân HS Hình thức TH có hướng dẫn là hướng dẫn để HS tự học Trong TH có hướng dẫn, HS nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ GV
Nguồn hướng dẫn qua tài liệu: Tài liệu SGK hóa học thường chỉ trình bày kiến thức
mà không có những chỉ dẫn về PP hoạt động để dẫn đến kiến thức, để hình thành kĩ năng Bởi vậy HS rất bị động, đọc đến dòng nào trong SGK thì biết đến dòng ấy không hiểu phương hướng bước đi kế hoạch như thế nào và sau khi học xong cũng không thể tự rút ra được điều gì về PP làm việc để vận dụng cho các bài sau Để khắc phục tình trạng đó tài liệu hướng dẫn TH ngoài việc trình bày ND kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động để phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận, KT-ĐG kết quả
Nguồn hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lớp: theo qui đinh của Bộ giáo
dục đào tạo, môn Hoá học trong các trường THPT có thời gian từ 2-3 tiết/ tuần, thời gian
đó nếu để giảng giải kiến thức thì quá ít và sẽ phiến diện nếu để HS hoàn toàn TH thì cũng không được Chúng tôi cho rằng có thể tận dụng thời gian tiếp xúc giữa GV và HS để GV
tổ chức, hướng dẫn và rèn luyện cho HS những kĩ năng TH cụ thể Rất nhiều HS từ trước đến nay vẫn học tập một cách thụ động, ghi chép học thuộc, áp dụng máy móc, chỉ dựa vào lời giảng của GV, hầu như không có thói quen TH, thậm chí đọc xong một đoạn trong SGK, không thể tự tóm tắt được nội dung chính, đặc biệt là không thể rút ra PP chung để thực hiện một loại hoạt động nào đó, thí dụ: nghiên cứu tính chất hóa học của một chất phải làm những gì ? Rèn luyện kĩ năng TH cho HS là một quá trình lâu dài phức tạp và luôn luôn được củng cố, nâng cao và bổ sung thêm, bởi vậy tốt nhất là nên dành thời gian tiếp xúc giữa GV và HS ở trên lớp để thực hiện công việc đó
Hoạt động TH của HS có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thông qua các hoạt động học tập của chính bản thân họ Đây là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tới những mục đích nhất định Vì vậy, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động học của HS chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động HS phải tự sắp xếp, bố trí các công việc sẽ tiến hành trong thời gian
TH, biết huy động các điều kiện, phương tiện cần thiết để hoàn thành từng công việc, biết
Trang 24tự KT, tự đánh giá kết quả hoạt động TH của chính mình
Như vậy khái niệm TH ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS để chiếm lĩnh tri
thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chương trình và SGK với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua các phương tiện học tập như tài liệu
TH có hướng dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử,
HS không dùng SGK phổ thông mà sử dụng tài liệu viết riêng cho họ TH Tài liệu TH
có hướng dẫn cung cấp cho HS ND kiến thức và PP học ND kiến thức đó
- Tự học khắc phục nghịch lý: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn Sự bùng nổ thông tin làm cho người thầy không có cách nào truyền thụ hết kiến thức cho trò, trò phải học cách học, tự học, tự đào tạo để không bị rơi vào tình trạng “tụt hậu” Đối với học sinh THPT, quỹ thời gian 3 năm được đào tạo ở bậc học này chắc chắn sẽ không thể nào tiếp thu được hết khối lượng kiến thức khổng lồ trong chương trình Vì vậy, TH là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường
- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Quá trình TH khác hẳn với quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt Quá trình TH diễn ra theo đúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức có được do tự học là kết quả của sự hứng thú, của sự tìm tòi, lựa chọn nên bao giờ cũng vững chắc bền lâu Có phương pháp TH tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi HS biết cách tự học, HS sẽ “có ý thức và xây dựng thời gian
TH, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”
- Người học phải biết cách TH vì học tập là một quá trình suốt đời Đối với học sinh THPT, nếu không có khả năng và phương pháp TH, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng… HS sẽ khó thích ứng với cách học đòi hỏi phải tự học tập, tự nghiên cứu thường xuyên do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt
- Tự học của học sinh THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Với lối dạy theo
Trang 25hướng “nhồi nhét” trong các nhà trường phổ thông hiện nay, HS khó có thể có thời gian để
TH và TH có hiệu quả Đổi mới PP dạy học theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, TH chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp
sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông
T óm lại, có thể nói TH chính là con đường để mỗi chúng ta tự khẳng định khả năng
của mình Nó có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người Tuy tự học có một vai trò hết sức quan trọng nhưng TH của HS cũng không thể đạt được kết quả cao nhất nếu không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người thầy Chính vì vậy, “trong nhà trường điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn… mà là
giáo dục cho học trò PP suy nghĩ, PP nghiên cứu, PP học tập, PP giải quyết vấn đề” (Thủ tướng Phạm Văn Đồng-1969) GV cần giúp cho HS tìm ra PP tự học thích hợp và cung cấp
cho HS những phương tiện TH có hiệu quả chính là một trong những cách giúp HS tìm ra chiếc chìa khóa vàng để mở kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại
1.3 PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN
1.3 1 Môđun [24]
1.3 1.1 Khái niệm môđun dạy học
Theo L.D’Hainaut và Nguyễn Ngọc Quang đưa ra: “Môđun dạy học là một đơn vị, một chương trình dạy học tương đối độc lập, được cấu trúc một cách đặc biệt nhằm phục vụ cho người học, nó chứa đựng cả mục tiêu dạy học, ND dạy học, PP dạy học và hệ thống công cụ đánh giá kết quả lĩnh hội, gắn bó chặt chẽ với nhau thành một hệ toàn vẹn”
1.3 1.2 Cấu trúc của môđun dạy học [24]
Môđun dạy học bao gồm ba phần hợp thành: hệ vào, thân của môđun và hệ ra
Hình 1.2 Cấu trúc môđun dạy học
a Hệ vào của môđun [30]
Tên gọi hay tiêu đề của môđun
Giới thiệu vị trí, tầm quan trọng và lợi ích của việc học theo môđun
Nêu rõ các kiến thức, kĩ năng cần có trước
Hệ thống các mục tiêu của môđun
Thân môđun
Trang 26 Test vào mụđun
b Thõn của mụđun: bao gồm một loạt những tiểu mụđun tương ứng với những
chương, đỳng hơn tương ứng với mục tiờu chung hoặc một loạt những mục tiờu mà muốn lĩnh hội được phải cần thời gian học tập từ 15 đến 40 phỳt
Cấu trỳc của tiểu mụđun gồm 4 phần
- Phần mở đầu:
Đặt HS vào một tỡnh huống dạy học thớch hợp
Giỳp HS tiếp cận với những mục tiờu cụ thể của tiểu mụđun
Cung cấp cho HS sử dụng kinh nghiệm học tập
Cho họ lựa chọn, nếu cần thiết, nhiều con đường giải quyết vấn đề nhận thức
- Một loạt những tỡnh huống, qua đú người học sẽ được dẫn tới việc nắm vững những mục tiờu
- Test kết thỳc: nhằm kiểm tra mục tiờu toàn bộ của mụđun
- Một hệ thống phõn nhỏnh dẫn tới: đơn vị phụ đạo, hoặc vào đơn vị đào sõu thờm hiểu biết hoặc gợi ý chọn mụđun tiếp theo
Hệ ra
Tổng kết chung
Test kết thúc (Post - test)
Chuyên sâu
và làm giàu hiểu biết
Phụ đạo toàn diện
Hướng dẫn chọn mođun tiếp theo hoặc chuyển sang chuyên sâu
Mụđun tiếp theo
Trang 27HÖ vµo
Hình 1.3 Sơ đồ cấu trúc hệ ra của môđun
1.3 1.3 Những đặc trưng cơ bản của môđun dạy học [24]
Là một đơn vị học trình độc lập, chứa đựng cả mục tiêu, ND và PP dạy học và bao gồm một tập hợp những tình huống dạy học được lắp đặt theo lôgic nhất định Nó là tài liệu
kế được nhanh chóng những chương trình môn học có những trình độ đa dạng về cùng một
đề tài, đó là những chương trình huấn luyện môđun hoá
1.3 2 Tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun [10], [24]
1.3.2.1 Khái niệm tài liệu tự học có hướng dẫn theo môđun
TH có hướng dẫn có thể được thực hiện trực tiếp giữa thầy và trò: Thực hiện trong bài lên lớp (PP đàm thoại, PP dạy học nêu vấn đề, PP tích cực hoá hoạt động của HS…); thực hiện bằng hình thức giao nhiệm vụ, cũng có thể thực hiện gián tiếp giữa GV và HS thông qua "Tài liệu TH có hướng dẫn theo môđun” Tài liệu TH có hướng dẫn theo môđun là tài liệu được biên soạn theo những đặc trưng và cấu trúc của một môđun Tài liệu có thể được phân thành nhiều loại: theo nội dung lí thuyết hoặc theo nội dung bài tập
1.3 2.2 Tài liệu TH có hướng dẫn theo môđun với nội dung lí thuyết
Trang 28Đây là một tài liệu vừa cung cấp ND kiến thức vừa hướng dẫn hoạt động học tập của
HS đồng thời hướng dẫn cả hoạt động KT-ĐG kiến thức của HS
Về việc đọc tài liệu trước khi nghe giảng trên lớp: Đa số các em đều có ý thức đọc bài học mới trước khi đến lớp nhưng chủ yếu các em chỉ đọc qua một lần để "nhớ được cái gì thì nhớ" hoặc chỉ chú tâm vào một vài phần kiến thức có vẻ hấp dẫn, thú vị Những phần kiến thức còn lại các em sẽ bỏ qua, chờ nghe GV giảng trên lớp Như vậy dẫn đến việc chuẩn bị bài của các em chưa đạt hiệu quả Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do các
em chưa nắm được mục đích, yêu cầu của bài học Thông qua việc trả lời các câu hỏi hướng dẫn học lí thuyết và KT lại với đáp án các em đã có thể nắm một cách tương đối đầy đủ, chắc chắn các kiến thức trọng tâm và bước đầu vận dụng chúng
Việc TH của HS cũng gặp phải nhiều khó khăn trong khâu tự KT-ĐG Các em rất khó
tự đánh giá được mức độ đúng, đủ của những kiến thức mà mình thu được trong quá trình
TH do không có một tài liệu KT chính xác, chi tiết cho từng bài học
Để khắc phục khó khăn này của các em, để phù hợp với xu hướng thi trắc nghiệm hiện nay và để các em HS có thể KT kiến thức của mình một cách nhanh chóng, trong tài liệu này ở mỗi bài học đều có hai đề bài tập TNKQ gồm các câu hỏi lí thuyết và bài tập ở mức
độ từ dễ đến khó, bám theo nội dung kiến thức của từng bài Dựa vào những đề bài tập này với thời gian cho phép (thường là 15 phút) và so sánh với đáp án đã được trình bày với thang điểm rất cụ thể các em HS có thể KT kiến thức của mình một cách chính xác là đang
ở mức độ nào, còn hỏng những vấn đề gì Qua đây các em có thể tự đánh giá mức độ đạt yêu cầu của quá trình TH của bản thân
1.3.2 3 Tài liệu TH có hướng dẫn theo môđun phần bài tập
Đây là một tài liệu cung cấp ND kiến thức và hướng dẫn hoạt động học tập của HS thông qua hệ thống bài tập, đồng thời hướng dẫn cả hoạt động KT-ĐG kiến thức của HS Tài liệu này được biên soạn theo những đặc trưng của môđun như cho phép người học tiến lên theo nhịp độ thích hợp với năng lực riêng (có thể nhanh hay chậm) Chỉ khi nào xong môđun trước, mới được phép học môđun sau
Thực tiễn ở trường phổ thông, bài tập hoá học giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo Bài tập vừa là mục đích vừa là ND lại vừa là PP dạy học hiệu nghiệm Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cả niềm
vui sướng của sự phát hiện - tìm ra đáp số - một trạng thái hưng phấn - hứng thú nhận thức -
Trang 29một yếu tố tâm lí góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người
1.3.3 Hướng dẫn HS tự học theo môđun [10]
Phương pháp dạy học này là nhờ các môđun mà HS được dẫn dắt từng bước để đạt tới mục tiêu dạy học Nhờ nội dung dạy học được phân nhỏ ra từng phần, nhờ hệ thống mục tiêu chuyên biệt và hệ thống test, HS có thể TH và tự KT mức độ nắm vững các kiến thức,
kỹ năng và thái độ trong từng tiểu môđun Bằng cách này HS có thể TH theo nhịp độ riêng của mình
Trong phương pháp TH có hướng dẫn theo môđun thì GV chỉ giúp đỡ khi HS cần thiết, chẳng hạn như: giải đáp các thắc mắc, sửa chữa những sai sót của HS, động viên HS học tập Kết thúc mỗi môđun, GV đánh giá kết quả học tập của HS Nếu đạt HS chuyển sang môđun tiếp theo Nếu không đạt HS thảo luận với GV về những khó khăn của mình và sẽ học lại một phần nào đó của môđun với nhịp độ riêng
Phương pháp TH có hướng dẫn theo môđun đảm bảo tuân theo những nguyên tắc cơ
bản của quá trình dạy học sau đây:
Nguyên tắc cá thể hoá trong học tập
Nguyên tắc đảm bảo hình thành ở HS kỹ năng TH từ thấp đến cao
Nguyên tắc GV thu thập thông tin về kết quả học tập của HS sau quá trình
TH, giúp đỡ họ khi cần thiết, điều chỉnh nhịp độ học tập
Nội dung của phương pháp "dạy tự học có hướng dẫn" là tạo điều kiện cho HS tự học được dễ dàng và tận dụng điều kiện có một số thời gian làm việc với GV để tranh thủ sự hướng dẫn của GV mà rèn luyện PP, kĩ năng TH, việc nắm vững kiến thức, rèn luyện năng lực Như vậy ND của PP "dạy tự học có hướng dẫn theo môđun" sẽ bao gồm hoạt động của
Như vậy, trong cách dạy học này có hai kiểu hướng dẫn được phối hợp với nhau:
Hướng dẫn bằng lời viết ngay trong tài liệu, đó là những chỉ dẫn về kế hoạch,
về phương pháp giải quyết vấn đề, thu thập, xử lí thông tin nhằm định hướng
Trang 30cho HS có thể tự lực thực hiện các hoạt động học một cách có ý thức, có phương hướng rõ ràng
Hướng dẫn ngay tại lớp những loại hoạt động cụ thể để rèn luyện kĩ năng TH
GV theo dõi giúp đỡ, uốn nắn, điều chỉnh ngay tại lớp
Hình 1.4: Phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun
Ưu và nhược điểm của phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun
* Ưu điểm [10], [24]
Giúp HS học tập ở lớp và ở nhà có hiệu quả
Tạo điều kiện cho HS học tập với nhịp độ cá nhân, luyện tập việc tự đánh giá kết quả học tập, học tập theo cách giải quyết vấn đề, do đó nâng cao được chất lượng dạy học thực tế
Tránh được sự tuỳ tiện của GV trong quá trình dạy học
GV giúp đỡ khi cần
thiết
Giới thiệu cách dùng môđun
HS nghiên cứu môđun thứ nhất để giải quyết vấn đề đã đề ra
Trang 31 Cập nhật được những thông tin mới về khoa học và công nghệ có điều kiện thuận lợi trong việc bổ sung nội dung mới và tài liệu dạy học (nhờ các môđun phụ đạo)
Cho phép sử dụng đội ngũ cán bộ giảng dạy, theo dõi kèm cặp một cách tối ưu tuỳ theo mức độ phức tạp của nhiệm vụ dạy học
Đảm bảo tính thiết thực của ND dạy học
Đảm bảo được tính vững chắc của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
* Nhược điểm [10], [24]
Việc thiết kế hệ thống dạy học và biên soạn tài liệu dạy học theo môđun khá công phu và tốn kém Cần khoảng 5 đến 7 giờ biên soạn môđun dạy học cho một giờ học
Đòi hỏi HS phải có động cơ học tập tốt, có năng lực học tập nhất định
Có thể nảy sinh tâm lí buồn chán do tính đơn điệu của việc TH
Các tình huống sử dụng [10], [24]
Với các ưu, nhược điểm nói trên có thể sử dụng phương pháp TH có hướng dẫn theo môđun trong các trường hợp sau:
Dạy học những ND quan trọng với nhiều đối tượng theo học
Dạy học những ND, kiến thức có liên quan nhiều đến ND đã được học ở lớp dưới, các kiến thức nâng cao cập nhật không nhiều và không quá khó
Dạy học những ND có tính biến động cao, thường xuyên phải đổi mới vì môđun có khả năng “lắp ghép” và “tháo gỡ” nên có nhiều thuận lợi trong việc thay đổi ND, chương trình dạy học
Khắc phục những nhược điểm của hệ thống dạy học cũ như: đồng loạt, không phân hoá, không tiến triển theo nhịp độ cá nhân
Đặc biệt rất phù hợp cho hình thức đào tạo giáo dục từ xa nếu kết hợp với hình thức biên soạn tài liệu dạng mở
1.3.4 Vai trò c ủa người giáo viên trong việc hướng dẫn HS tự học [32]
Xét về bản chất quá trình dạy học ở trường THPT là một hệ thống toàn vẹn gồm 3 thành tố cơ bản: nội dung khoa học; hoạt động dạy và hoạt động học Ba thành tố trên luôn tương tác với nhau theo những qui luật riêng, thâm nhập vào nhau, qui định lẫn nhau để tạo nên những mối quan hệ biện chứng: Dạy-Học; Truyền thụ-Điều khiển (trong dạy); Lĩnh hội-
Trang 32Tự điều khiển (trong học) Trong các mối quan hệ trên, thành tố thứ ba là nội dung khoa học
Trong TH có hướng dẫn, có sự tương tác thầy trò: uốn nắn, điều chỉnh, KT sự tự học ở nhà của HS, hướng dẫn cho HS tiếp tục TH Sự có mặt của GV là có sự tương tác với trò để
KT thu lượm thông tin ngược, bổ sung thêm những chỗ họ còn lúng túng, hướng dẫn cụ thể
để nâng cao kiến thức cho họ, động viên giúp họ tự đánh giá một phần, hướng dẫn họ tự KT kết quả học tập Quá trình này phù hợp với lí thuyết vai trò của thầy là tổ chức hướng dẫn,
có sự tương tác với HS
Trong dạy TH có hướng dẫn, GV rèn luyện cho HS một số kĩ năng TH như: kĩ năng tóm tắt ý chính, kĩ năng tự tra cứu tài liệu GV dành thời gian trên lớp để hướng dẫn một phần ND kiến thức như: cho HS đọc 1 đoạn ngắn, 1 đoạn dài, xây dựng dàn bài khái quát cho từng loại bài học hóa học, sau đó cho họ về TH GV cũng có thể hướng dẫn một số việc
ở trên lớp mà HS không thể hoàn toàn tự làm được, ví dụ như làm một số thí nghiệm GV dành một số thời gian để HS thực hiện ngay tại lớp các kĩ năng TH, sau đó họ về nhà TH các bài khác, buổi sau đến lớp HS trao đổi thảo luận kết quả TH ở nhà Lúc đó GV đóng vai trò trọng tài
Trong TH có hướng dẫn, GV vẫn có hai chức năng "truyền thụ" và "hướng dẫn", song khác với hình thức dạy học tập trung là ở đây chức năng "hướng dẫn" phải được phát huy cao độ và chiếm hầu hết thời gian trên lớp, còn chức năng "truyền thụ" thì chủ yếu được thực hiện gián tiếp thông qua chức năng "hướng dẫn" của GV thể hiện ở việc hướng dẫn HS
để họ tự thực hiện có hiệu quả các hoạt động TH Như vậy ở TH có hướng dẫn, người học thực sự đóng vai trò chủ thể của quá trình nhận thức tích cực, song hoàn toàn không hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò của GV GV đã làm nảy sinh và bồi dưỡng hứng thú học tập, phát triển năng lực sáng tạo, năng lực hoạt động độc lập của HS Nói cách khác, GV đã giúp HS hình thành và phát triển năng lực TH, đây chính là mục tiêu cốt yếu của TH có hướng dẫn Thảo luận nhóm là một hoạt động TH có hiệu quả Trong hoạt động thảo luận nhóm (hay thực hành thí nghiệm), nhiệm vụ học tập đã được HS nghiên cứu, chuẩn bị và được đưa ra thảo luận trong tập thể tổ, nhóm Tại đây, HS có dịp bộc lộ các mặt mạnh, yếu trong nhận thức bài học thông qua trình bày quan điểm của mình
Trong suốt quá trình tiến hành thảo luận nhóm, GV luôn đóng vai trò là trọng tài, là người cố vấn, dẫn dắt và cũng có khi cùng tranh luận với HS để tăng thêm hứng thú cho họ
Trang 33GV là người kết luận, chốt lại, khẳng định vấn đề đã thảo luận Nếu không có những sự định hướng, hướng dẫn về PP tự học hợp lí và sự bổ sung, khuyến khích, đánh giá, động viên kịp thời từ GV thì HS sẽ rất khó đạt được kết quả cao trong TH, nhất là những HS lớn tuổi trình
độ học vấn chưa cao và mới TH
1.3.5 Yêu c ầu đối với học sinh khi sử dụng tài liệu có hướng dẫn [24]
Để có thể TH, HS phải có đủ trình độ về kiến thức, có PP học tập tự lực, có động cơ học tập đúng đắn Việc là đầu tiên nhằm khởi phát hoạt động TH là người học phải làm sao
tự kích thích, động viên mình, làm cho mình tự cảm thấy cần thiết và hứng thú bắt tay vào việc học, qua việc xác định ý nghĩa quan trọng của vấn đề nghiên cứu, tinh thần trách nhiệm đối với công việc, qua cảm giác hứng thú với ND vấn đề và PP làm việc
HS phải nắm được PP học tập chủ động, lấy TH là chính Đáng lý PP học tập như vậy phải được hình thành từng bước ở các cấp học dưới, nhưng với tình trạng chung của dạy học phổ thông là thầy đọc, trò chép, chúng ta chưa hình thành được PP học tập chủ động cho
HS Họ chưa có kỹ năng thiết kế được kế hoạch học tập Chỉ có một số ít HS có được kỹ năng tìm tài liệu, tra cứu sách báo cần thiết cho việc học tập Kỹ năng đọc sách cũng còn nhiều hạn chế Trong khi đó PP tự học có hướng dẫn theo môđun đòi hỏi HS phải có các kỹ năng trên Trong quá trình học tập này, HS phải tự lực học tập bằng tài liệu biên soạn theo môđun để nắm vững mục tiêu và nhiệm vụ học tập Kỹ năng TH theo môđun của HS sẽ dần dần được hình thành Giai đoạn đầu cần tăng cường theo dõi, KT và giúp đỡ HS tự học Có thể tổ chức cho HS thảo luận
về PP dạy học này trước khi bước vào học tập Trong quá trình học tập này dần dần HS sẽ nắm được PP học tập chủ động
HS phải chăm học, có quyết tâm và hứng thú tự học, có ý chí vượt khó, kiên trì chiếm lĩnh ND dạy học Do vậy, phải xây dựng được động cơ học tập cho HS, làm cho HS thấy được ý nghĩa, tầm quan trọng và lợi ích của môn hoá học nói riêng và các môn học khác nói chung đối với tương lai của họ
PP tự học có hướng dẫn theo môđun chuyển trọng tâm nhiệm vụ dạy học về phía HS
Vì vậy những yêu cầu trên là những điều kiện cần thiết để dạy phần hóa vô cơ đạt kết quả, cũng chính trong quá trình dạy học mà những phẩm chất kể trên sẽ từng bước hình thành và phát triển ở HS Tổ chức cho HS học phần hóa vô cơ như trên sẽ tạo ra chất lượng mới trong nhân cách của HS Nó giúp họ TH suốt đời
Trang 341.4 BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƯỜNG THPT
1.4 1 Dạy học theo hướng “cá thể hóa” người học [20], [28]
thức
a Quan điểm hiện đại về học hóa học được dựa trên quan điểm hiện đại về hoạt động học nói chung, đó là:
Quan điểm 1: Học thực chất là tự học (TH) Chỉ có TH mới đem lại kiến thức vững
chắc, hình thành kĩ năng, kĩ xảo đem lại năng lực, phẩm chất mới cho người học và tạo thói quen học tập suốt đời
Quan điểm 2: Học là quá trình hoạt động tự lực sáng tạo của HS cho nên GV phải tạo
tình huống, gợi động cơ đúng đắn, lòng say mê hứng thú lao động học tập thì HS mới tự giác tích cực đem hết sức mình vào công việc học tập
Quan điểm 3: Học phải có sự tương tác hỗ trợ của các bạn trong lớp và của GV
b Những đặc trưng cơ bản của hoạt động học hóa học
Hoạt động học hóa học giống hoạt động học của các môn khoa học thực nghiệm khác Đối tượng hoạt động ở đây chính là các hiện tượng hóa học, các vật thể tồn tại xung quanh chúng ta, chúng luôn luôn chuyển động và biến đổi không ngừng Qua đó HS sẽ phát hiện được những bản chất, những tính chất và được chuyển vào trong não bộ
Hoạt động học hóa học của HS là hoạt động có chủ thể, chủ thể của hoạt động học ở đây chính là các em HS Trong quá trình hoạt động học đòi hỏi HS phải thực hiện và hoàn thiện một loạt các kĩ năng như: viết phương trình phản ứng, giải thích các hiện tượng, sử dụng đúng các thao tác lắp ráp thí nghiệm, thứ tự tiến hành thí nghiệm, Để hoạt động học hóa học của HS đạt kết quả cao, trong quá trình học tập cần có sự giúp đỡ và định hướng hành động học tập của GV đối với HS
1.4 1.2 Hoạt động dạy hóa học
Trang 35Quan điểm hiện đại về dạy học
Quan điểm 1: Dạy học trước hết là dạy TH Việc học tập dẫn tới sự chuyển biến chính
ở bên trong, cho nên HS không chỉ ngồi nghe GV mà phải TH, chỉ có TH mới đem lại kết quả GV tổ chức hướng dẫn cho HS tự lực hoạt động, xây dựng logic kiến thức khoa học, xây dựng tình huống có vấn đề hứng thú lôi cuốn HS vào giải quyết mâu thuẫn, từ đó HS chủ động chiếm lĩnh kiến thức
Quan điểm 2: Dạy học một môn khoa học thực chất là dạy cho HS biết làm việc, tìm
tòi nghiên cứu, xây dựng kiến thức, rèn luyện kĩ năng đặc thù đồng thời biết hoạt động theo
PP nhận thức của môn khoa học đó Với vai trò người tổ chức, hướng dẫn HS hoạt động nhận thức chiếm lĩnh kiến thức thì GV phải hiểu chính xác, khoa học kiến thức cần dạy, lựa chọn được logic dạy học thích hợp để chuyển kiến thức khoa học thành kiến thức giáo khoa thích hợp, phù hợp với trình độ mỗi đối tượng HS
Quan điểm 3: Tổ chức cho HS thực hiện các hoạt động tự lực trên cơ sở đó hình thành
kiến thức, rèn kĩ năng, kĩ xảo, thói quen rèn luyện năng lực Tổ chức cho HS hoạt động trong giờ học theo phương án dự định, đồng thời dự kiến những khó khăn và biện pháp giúp
đỡ khi HS không tự lực vượt qua được
Quan điểm 4: Tổ chức cho HS trao đổi tương tác thầy - trò, trò - trò là điều kiện tốt để
giúp HS quan sát, phát triển năng lực tư duy của họ
Quan điểm 5: Tư tưởng công nghệ dạy học hiện đại [14]
Tư tưởng công nghệ dạy học hiện đại thể hiện ở ba điểm cơ bản sau đây:
Chuyển hoá vào thực tiễn dạy học những thành tựu mới nhất của khoa công nghệ và nghệ thuật Thông qua xử lí sư phạm người ta chuyển hóa những thành tựu này vào mục tiêu, ND, PP dạy học
học- Sử dụng tối đa và tối ưu những hệ phương tiện kỹ thuật hiện đại đa kênh, đa hình vào dạy học
Từ đó, thiết kế được những hệ dạy học mới, vận hành theo nguyên lý mới: Đó
là những hệ dạy học "tự học - cá thể hoá - có hướng dẫn" thích hợp
1.4 2 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn mới [9]
Theo chiến lược phát triển giáo dục "Tự học, tự đào tạo là một con đường phát triển suốt đời của mỗi con người trong điều kiện kinh tế, xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau”;
đó cũng là giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi
Trang 36biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Qui mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân TH, tự đào tạo, mang lại chất lượng đích thực và phát triển tài năng của mỗi người
Hiện nay, trong hệ thống PP dạy học đang nổi lên các PP dạy học lấy học sinh làm trung tâm thì "thầy giáo không còn là người truyền đạt kiến thức sẵn có mà là người định hướng, cho HS tự mình khám phá ra chân lý, tự mình tìm ra kiến thức" Trong dạy học lấy
học sinh làm trung tâm, PP dạy học coi trọng việc rèn luyện cho HS phương pháp tự học,
HS tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, tham gia tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau
1.4.3 B ồi dưỡng HSG trong dạy học hóa học ở trường THPT [32]
Để tiếp tục vững bước trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay Trong nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, ngành giáo dục đào tạo đóng vai trò chủ đạo
Việc phát hiện và đào tạo HSG nhằm phát triển nhân tài cho đất nước là một trong những nhiệm vụ quan trọng ở bậc THPT Trong các kì thi HSG Quốc gia và Quốc tế, Việt Nam đã khẳng định được vị trí của mình cả về số lượng và chất lượng so với nhiều quốc gia khác Những HS đó sau này đã trở thành những chuyên gia đầu ngành trong nhiều lĩnh vực,
họ đã phát huy được những khả năng của mình và cống hiến tài năng cho đất nước Vì vậy, trong quá trình dạy học, ngoài việc cung cấp kiến thức, kĩ năng bộ môn cho HS nói chung, người GV hoá học còn có nhiệm vụ bồi dưỡng HSG hoá học, cung cấp cho các trường đại học nguồn sinh viên tài năng để đào tạo nguồn lao động chất lượng cao cho đất nước
Nhìn chung các nước đều dùng hai thuật ngữ chính là gift (giỏi, có năng khiếu) và talent (tài năng) Luật bang Georgia (Hoa Kỳ) định nghĩa HSG như sau:
“HSG là học sinh chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao và có khả năng sáng tạo, thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt và đạt xuất sắc trong lĩnh vực lí thuyết, khoa học; người cần một sự giáo dục đặc biệt/ và sự phục vụ đặc biệt để đạt được trình độ tương ứng với năng lực của người đó” - (Georgia Law)
1.4.4 Một số phẩm chất và năng lực của HSG [32]
Các em HSG là các HS có trí tuệ phát triển tương đối đặc biệt, đó phải là HS hội tụ
được các phẩm chất và năng lực sau:
Trang 37 Có kiến thức hoá học cơ bản vững vàng, sâu sắc, hệ thống (chính là nắm vững bản chất hoá học của các hiện tượng hoá học)
Có khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng và năng lực tư duy hoá học (biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá cao, có khả năng sử dụng PP phán đoán mới: qui nạp, diễn dịch, loại suy )
Có khả năng quan sát, nhận thức, nhận xét các hiện tượng tự nhiên, có khả năng vận dụng linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo những kiến thức cơ bản và những nhận thức đó vào những tình huống khác nhau Có khả năng nhìn nhận một vấn đề từ nhiều góc độ
Biết tìm ra con đường hay nhất, ngắn nhất, độc đáo để đi đến đích và có khả năng diễn đạt những ý tưởng của mình một cách ngắn gọn, chính xác, súc tích
Có năng lực thực hành tốt, biểu hiện ở chỗ có kĩ năng tiến hành thí nghiệm hoá học , biết nhận xét hiện tượng và phân tích kết quả thí nghiệm để rút ra kiến thức
Có năng lực về PP nghiên cứu khoa học: biết nêu ra những dự đoán, lí luận và giải thích cho những hiện tượng xảy ra trong thực tế, biết cách dùng thực nghiệm để kiểm
chứng lại lí thuyết
Có năng lực lao động sáng tạo: biết tổ hợp các yếu tố, các thao tác để thiết kế một dãy hoạt động, nhằm đạt đến kết quả mong muốn
Có lòng say mê đặc biệt với môn hoá học, có sức khoẻ tốt, có tính kiên trì bền bỉ để
có thể học tập nghiên cứu trong một thời gian dài, có tính khiêm tốn và cầu tiến Có ý
thức TH, tự hoàn thiện kiến thức ở mọi nơi, mọi lúc
Có kiến thức văn hoá nền tảng vững chắc Đó là kiến thức các bộ môn bổ trợ như toán học, vật lí, sinh học, ngoại ngữ, tin học và các kiến thức văn hoá nền như địa lí, lịch sử, văn hoá ứng xử…
Trang 381.5 TH ỰC TRẠNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH KHÁ GIỎI
Chúng tôi đã tổng hợp điều tra khoảng 750 HS học ở các lớp chọn trường THPT ở 5
Trang 39B ảng 1.2 Số liệu thống kê phiếu điều tra tự học
HS
Tỉ lệ (%)
Chuẩn bị bài trên lớp theo hướng dẫn 257 37,15 Đọc tất cả các vấn đề có liên quan đến bài học 493 71,11
Thầy giao việc, HS học tập, trao đổi 254 36,56
Sự chủ động của HS theo tài liệu hướng dẫn học tập 342 49,25 Cần sự tổ chức, hướng dẫn của thầy 517 74,65
Sự nỗ lực của HS và nhờ giáo trình, bài giảng 50 7,16
5 Tự học
thường xuyên
Chỉ học bài, làm bài khi thật cần thiết 265 38,15 Học theo hướng dẫn, có ND câu hỏi, bài tập của GV 399 57,49 Chỉ học phần nào quan trọng, bản thân cảm thấy
thích thú
120 17,2
* Đánh giá việc tự học của HS các lớp ban khoa học tự nhiên
• Các ý kiến cho rằng phần đông HS chưa có cách học tốt vì vậy mất nhiều thời gian hoặc học qua loa nên kết quả học tập đạt được chưa cao
• Việc tự học của HS chủ yếu là học thuộc lại bài trên lớp, nên kiến thức tích lũy được là hạn chế và kém bền, thụ động và thiếu tự tin trong học tập
* Phân tích kết quả điều tra
Trang 40Các số liệu điều tra cho thấy HS đã xác định đúng vị trí về TH khi học ở các lớp ban KHTN
Các lý do về điều kiện học tập như thiếu tài liệu, thời gian học và cách thức học tập được coi là yếu tố ảnh hưởng đến TH, đến kết quả học tập của HS Tuy nhiên, theo chúng tôi nguyên nhân chính vẫn là cách TH của HS và nguồn gốc của nó có thể là cách dạy học truyền thống ở trường phổ thông đã tạo nên cách học lệ thuộc vào thầy, HS thiếu tính chủ động trong học tập nên kết quả không cao
Theo số liệu có 410/540 HS tỉ lệ 59,20%, cho là thiếu tài liệu học tập, tham khảo; có 349/693 HS tỉ lệ 50,33%, cho là thiếu sự hướng dẫn cụ thể cho việc học tập; 131/693 HS tỉ lệ
18,80%, cho là kiến thức rộng khó bao quát Thực tế do không có hướng dẫn của GV hay tài liệu học tập Mặt khác HS không biết khái quát, tổng hợp thành các ND cơ bản của bài học mà chỉ liệt
kê chung chung theo giáo trình, không biết phân tích để vận dụng nên chỉ nắm lí thuyết theo giáo trình, thiếu luyện tập để củng cố và rèn luyện kỹ năng
Các GV đã thực hiện đổi mới PPDH theo hướng tăng cường TH của HS như giao bài cho
HS chuẩn bị nhưng chưa hướng dẫn cách học nên HS lúng túng trong việc TH kiến thức mới hoặc khi vận dụng kiến thức đã học ở các bài tập khó
Thực trạng này cho thấy việc học tập nói chung, việc TH của HS nói riêng cần có sự hướng dẫn học tập của GV Bước đầu GV vừa giao ND mà HS phải đọc, phải tóm tắt Sau
đó nêu vấn đề, gợi ý tài liệu, HS nghiên cứu các nội dung, làm các bài tập để tự KT-ĐG kiến thức đã đạt được Từ đó sẽ giúp HS xóa dần cách học lệ thuộc vào thầy và làm quen rồi thích nghi dần với cách học tập chủ động, khả năng TH và đạt được hiệu quả cao trong học tập
Kết quả điều tra trên đây là cơ sở quan trọng, định hướng cho tác giả đề xuất tài liệu TH
có hướng dẫn theo môđun nhằm tăng cường năng lực TH cho HSG hóa học ở trường THPT,
đó cũng chính là nội dung nghiên cứu của luận văn
Tóm tắt chương 1
Trong chương này chúng tôi đã trình bày các nội dung sau:
1 Trước hết chúng tôi đề cập đến TH, năng lực TH, các năng lực TH cơ bản cần bồi dưỡng và phát triển cho HS, các kĩ năng TH, từ đó thấy được động cơ hoạt động tự học