Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 – 2005
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, xu hướng chung của tất cả các quốc gia là xây dựng một nềnkinh tế với cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế Cơ cấu kinh tế chính là tiêu thức phản ảnh sự thay đổi về chất, là dấuhiệu đàn giá, so sánh về các giai đoạn của nền kinh tế Cơ cấu kinh tế đượcbiểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau như: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùngkinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu khu vực thể chế.v.v …Trong đó cơcấu ngành kinh tế là quan trọng nhất vì nó phản ảnh sự phát triển của phâncông lao động xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất
Đối với Việt Nam, công cuộc đổi mới nền kinh tế chính thức bắt đầu từnăm 1986 Kể từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổimới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trungbao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện côngnghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, đa dạng hoá và đa phương hoá các quan hệkinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa hội nhập quốc tế Con đường đổi mới đó
đã giúp Việt Nam giảm nhanh đựơc tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựngnền kinh tế công nghiệp hoá hiện đại hoá, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tếcao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội Và song song với nhữngkết quả nảy là sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tích cực: tăngdần tỉ trọng của các ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỉtrọng của các ngành nông – lâm – thuỷ sản
Từ những lí do trên cho thấy được tầm quan trọng của chuyển dịch cơcấu ngành kinh tế đối với sự phát triển bền vững của quốc gia Do đó em chọn
đề tài “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 – 2005”.
Trong thời gian thực hiện đề tài em đã được sự hướng dẫn tận tình của
TS Phan Thị Nhiệm Em xin chân thành cảm ơn TS Phan Thị Nhiệm đã giúp
đỡ em hoàn thành đề tài này Tuy nhiên do điều kiên về thời gian và khả năng
có hạn nên không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong được sự góp ý của côgiáo và những người quan tâm tới đề tài này
Trang 2CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU NGÀNH TRONG NỀN KINH TẾ 1.1 Một số lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm về cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế: là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ
lệ biểu hiện mối liên hệ giáa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc dân
Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hộichung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thay đổimạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển Khiphân tích cơ cấu ngành của một quốc gia người ta phân tích theo 3 nhómngành chính: nông nghiệp (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp),công nghiệp (bao gồm công nghiệp và xây dựng), dịch vụ (bao gồm cácngành kinh tế còn lại như: thương mại, bưu điện, du lịch )
Việc phân tích cơ cấu ngành của nền kinh tế không chỉ dừng lại ở nhữngbiểu hiện về mặt lượng (số lượng ngành, tỷ trọng) mà quan trọng hơn là phântích được mặt chất của cơ cấu: vị trí, vai trò của ngành hiện tại trong nền kinh
tế, sự tương tác giữa công nghiệp và nông nghiệp trong phát triển, khả nănghướng ngoại, quan hệ giữa cơ cấu ngành với cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu theothành phần kinh tế
Mặt khác, cơ cấu ngành "luôn luôn vận động, phát triển", nhất là trongđiều kiện cơ chế thị trường Bởi vậy, khi phân tích cơ cấu ngành cần thấy rõtính quy luật của sự vận động và luôn đặt ra phương hướng chuyển dịch cơcấu ngành cho thích ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong từng giai đoạn
1.1.1.2 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế:
Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế: là sự thay đổi có mục đích,
có định hướng và dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễncùng với việc áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển cơ cấungành từ trạng thái này sang trạng thái khác hợp lý và hiệu quả hơn Đâykhông phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, tỷ trọng và quan hệ giữa các ngành
mà là sự biến đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên cơ sở cơ cấu hiện có, do
đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu hoặc chưa
Trang 3phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũnhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn.
Xu hướng có tính quy luật chung của sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế là chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nghĩa là tỷ trọng
và vai trò của ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng nhanh còn tỷtrọng của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm Kinh nghiệm trên thế giớicho thấy muốn chuyển từ một nền nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệpđều phải trải qua các bước: Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp (tỷ trọngngành nông nghiệp chiếm 40-60%, công nghiệp từ 10-20%, dịch vụ từ 10-30%) sang nền kinh tế công, nông nghiệp (tỷ trọng ngành nông nghiệp 15-25%, công nghiệp 25-35%, dịch vụ 40-50%) để từ đó chuyển sang nền kinh tếcông nghiệp phát triển (tỷ trọng ngành nông nghiệp dưới 10%, công nghiệp35-40%, dịch vụ 50-60%)
1.1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu ngành của nềnkinh tế
- Sự phát triển các loại thị trường trong nước và thị trường quốc tế cóảnh hưởng trực tiếp và quyết định đầu tiên tới cơ cấu ngành của nền kinh tế.Bởi lẽ, thị trường là yếu tố hướng dẫn và điều tiết các hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp đều xuất phát từ quan hệ cung -cầu trên thị trường để định hướng chiến lược kinh doanh của minh Sự hìnhthành và biến đổi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thíchứng với các điều kiện của thị trường, dẫn tới từng bước thúc đẩy sự hìnhthành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước Bởi vậy, sự hình thành và pháttriển đồng bộ các loại thị trường trong nước (thị trường hàng hoá dịch vụ, thịtrường vốn, thị trường lao động, thị trường khoa học - công nghệ ) có tácđộng mạnh đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Các nguồn lực và lợi thế so sánh của đất nước là cơ sở hình thành vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách bền váng và có hiệu quả Việc xác địnhcác ngành mũi nhọn, các ngành cần ưu tiên phát triển phải dựa trên cơ sở xácđịnh lợi thế so sánh và các nguồn lực (cả trong và ngoài nước có khả năngkhai thác) để chuyển hướng mạnh mẽ sang phát triển các ngành mà quốc gia
có lợi thế và có điều kiện phát triển mới tạo đà hội nhập và tham gia có hiệuquả vào phân công lao động quốc tế, ví dụ như tài nguyên thiên nhiên và điềukiện tự nhiên phong phú và thuận lợi tạo điều kiện phát triển các ngành côngnghiệp du lịch, ngư nghiệp, nông nghiệp
Trang 4Dân số lao động được xem là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh
tế, sự tác động của nhân tố này lên quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấukinh tế được xem xét trên các mặt sau:
+ Kết cấu dân cư và trình độ dân trí, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuậtmới là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao vànâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các ngành đang hoạt động, lànhân tố thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong sản xuất các ngành kinh tếquốc dân
+ Quy mô dân số, kết cấu dân cư và thu nhập của họ có ảnh hưởng lớnđến quy mô và cơ cấu của nhu cầu thị trường Đó là cơ sở để phát triển cácngành công nghiệp và các ngành phục vụ tiêu dùng
- Môi trường thể chế là yếu tố cơ sở cho quá trình xác định và chuyểndịch cơ cấu kinh tế Môi trường thể chế là biểu hiện cụ thể của nháng quanđiểm, ý tưởng và hành vi của Nhà nước can thiệp và định hướng sự phát triểntổng thể cũng như sự phát triển các bộ phận cấu thành của nền kinh tế Vai trò
đó được thể thiện:
+ Nhà nước xây dựng và Quyết định chiến lược và kế hoạch phát triểnkinh tế xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội tổng thể của đấtnước Đó thực chất là quá trình định hướng phân bố nguồn lực và hướng đầu
tư theo ngành
+ Bằng hệ thống pháp luật, chính sách Nhà nước khuyến khích hay hạnchế, thậm chí gây áp lực để các doanh nghiệp, các nhà đầu tư (cả trong vàngoài nước) phát triển sản xuất kinh doanh theo định hướng Nhà nước đã xácđịnh Ví dụ: để khuyến khích công nghiệp ô tô phát triển, trong những năm
1970 nhiều tổ hợp công nghiệp của Hàn Quốc được khuyến khích phát triểnchế tạo ô tô và xuất khẩu ô tô Các tổ hợp này được hưởng chế độ miễn thuếđặc biệt và trong trường hợp doanh nghiệp bị thua lỗ thì Nhà nước sẽ bù lỗ
- Tiến bộ khoa học - công nghệ không những chỉ tạo ra những khả năngsản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành làm tăng tỷ trọng củachúng trong tổng thể nền kinh tế (làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế) mà còn tạo
ra những nhu cầu mới, đòi hỏi sự xuất hiện một số ngành công nghiệp non trẻcông nghệ tiên tiến như: dầu khí, điện tử do đó có triển vọng phát triểnmạnh mẽ trong tương lai
Trên đây, chúng ta vừa xem xét một số khái niệm cơ bản cũng như cácnhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Qua đó, giúp chochúng ta hiểu rõ hơn về bản chất của vấn đề để từ đó có thể rút ra những kết
Trang 5luận mang tính giải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu kinh tế hợp lý trong quátrình phát triển.
1.1.2 Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triểnkinh tế
Cơ cấu kinh tế hợp lý giúp cho việc thu được mức tăng sản xuất xã hộilớn nhất, mới có thể phân bố hợp lý lực lượng sản xuất, phát triển các mốiquan hệ đối ngoại, đưa nhanh tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất
Để làm sáng tỏ kết luận trên, ta có thể phân tích ví dụ sau đây về cơ cấungành sản xuất của hệ thống kinh tế - xã hội cho năm 1976 ở Việt Nam
Bảng 1: Bảng cân đối liên ngành của Việt Nam năm 1976
ĐV: Triệu
Ngành sản xuất
Giá trị tổng sản lượng
Tiêu dùng sản xuất Sản
lượng cuối cùng
11001160350
11702501160
306056303600Chi phí lao động
Lợi nhuận
Giá trị tổng sản lượng
194012909180
355017807940
220015306310
Năm1976
Nguồn: Niên giám thống kê
Tổng số vốn đầu tư (trong và ngoài nước) có thể huy động cho năm sau
là 1878 triệu đồng và có thể phân bố cho các ngành với mức tiếp nhận cùnghiệu quả thu được như sau:
Trang 6Bảng 3:
Công nghiệp
Nông nghiệp
khác
Mức % tiếp nhận
Hiệu quả (Mức tăng sản lượng /
1 triệu đồng vốn đầu tư)
Vượt quá mức, hiệu quả là 15% 22% 20%
Nguồn: Niên giám thống kê.
Ta xét 2 phương án phân bố vốn đầu tư như sau:
cơ cấu khác nhau - với ký hiệu: Xi (i = I, II, II) là giá trị tổng sản phẩm củangành i; CPLĐ: Chi phí lao động; LN : lợi nhuận; GTTSL : giá trị tổng sảnlượng
Trang 7Bảng 6: Bảng cân đối liên ngành năm 1977 (Phương án I)
Đơn vị: Triệu đồng
Ngành sản xuất
Giá trị tổng sản lượng
Tiêu dùng sản xuất Sản lượng
390591312172
1116,761177,15355,17
1200,642591191,45
CPLĐ
LN
GTTSL
1967,81308,489311,46
3602,481806,328057,38
2259,871564,36475,26
Năm 1977Phương
Tiêu dùng sản xuất Sản lượng
3897,3910,701214,6
1111,131172,111214,6
1195,14258,411188,68
CPLĐ
LN
GTTSL
1963,581306,549292,68
3586,121797,078022,63
2254,621563,396460,24
Năm 1977Phương
án 2
Như vậy, với cùng một mức vốn đầu tư như nhau (2878 triệu) nếu đầu tưtheo tỷ lệ khác nhau vào các ngành khác nhau, sẽ dẫn tới kết cấu chi phí laođộng khác nhau và hiệu quả thu được mức tăng sản phẩm xã hội khác nhau(Bảng 6,7,8)
Trang 8Phương án I Phương án II
Kết cấu lao động 25,13% 46% 28,87% 25,16% 45,95% 28,89%Mức tăng TSL + 414, 1 triệu đồng + 345, 28 triệu đồng
Ta thấy phương án I hơn hẳn phương án II mặc dù số vốn đầu tư như nhau.Chính vì vai trò cơ cấu kinh tế trong việc phát triển, cho nên có nhiều tácgiả đã nói rằng: thực chất của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là chiếnlược không ngừng hoàn thiện và chuyển đổi cơ cấu kinh tế
1.1.3 Lý luận về mối liên hệ giũa chuyển dịch cơ cấu và quá trình pháttriển nền kinh tế
Quá trình phát triển tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thường đượcxem xét như là một quá trình làm thay đổi thu nhập bình quân đầu người Mặc
dù có nhiều thay đổi trong quan niệm về phát triển và tăng trưởng nhưng chỉtiêu trên vẫn được coi trọng và làm thước đo cho sự phát triển kinh tế Một xuhướng mang tính quy luật là cùng với sự phát triển của kinh tế là một quátrình thay đổi về cơ cấu kinh tế, tức là một sự thay đổi tương đối về mức đónggóp, tốc độ phát triển của từng thành phần, từng yếu tố riêng về cấu thành nêntoàn bộ kinh tế Một trong những cơ cấu kinh tế được quan tâm và nghiên cứunhiều trong mối liên hệ với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế là cơcấu ngành Ngay từ cuối thế kỷ 19, nhà kinh tế học người Đức E.Engle đãphát hiện ra mối quan hệ giữa phát triển kinh tế (thu nhập bình quân tăng lên)với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Theo E.Engle, khi thu nhập của các gia đình tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu của
họ cho lương thực, thực phẩm giảm đi Do chức năng chính của khu vực nôngnghiệp là sản xuất lương thực, thực phẩm nên có thể suy ra là tỷ trọng nôngnghiệp trong toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi khi thu nhập tăng lên
Quy luật E.Engle được phát hiện cho sự tiêu dùng lương thực, thực phẩmnhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng cho việc nghiên cứutiêu dùng các loại sản phẩm khác Các nhà kinh tế gọi lương thực, thực phẩm
là các sản phẩm thiết yếu, hàng công nghiệp là sản phẩm tiêu dùng lâu bền vàviệc cung cấp dịch vụ là sự tiêu dùng cao cấp Qua quá trình nghiên cứu, họphát hiện ra xu hướng chung là khi thu nhập tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu chohàng tiêu dùng lâu bền tăng phù hợp với thu nhập, còn chi tiêu cho tiêu dùngcao cấp tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập, tức là tỷ trọng của ngành côngnghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế đã có sự thay đổi
Trang 9Như vậy, quy luật tiêu thụ sản phẩm của E.Engle đã làm rõ tính xuhướng của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành nóiriêng trong quá trình phát triển.
1.2 Cơ cấu ngành kinh tế trong các lý thuyết phát triển.
Với tư cách là loại lý thuyết chủ yếu nghiên cứu các con đường pháttriển kinh tế của các nước chậm phát triển hiện đang tiến hành công nghiệphoá, các lý thuyết phát triển trực tiếp hoặc gián tiếp đều bàn tới một trongnhững vấn đề cơ bản nhất của công nghiệp hoá là chuyển dịch cơ cấu ngành.Song do bản thân thế giới chậm phát triển bao gồm nhiều quốc gia với nhữngđặc điểm đặc thù khác nhau Do xuất phát từ các quan điểm và các góc độnghiên cứu khác nhau nên vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trìnhcông nghiệp hoá của các loại lý thuyết phát triển cũng rất khác nhau Có thểthấy điều này qua một số lý thuyết phát triển chủ yếu sau:
1.2.1 Lý thuyết phân kỳ phát triển kinh tế
Năm 1960 cuốn "Các giai đoạn phát triển kinh tế" của nhà kinh tế học
Mỹ Walt -Rostow đã tạo ra sự quan tâm lớn về nghiên cứu quá trình tăngtrưởng và phát triển kinh tế của các nước Theo W.Rostow, nhìn chung quátrình phát triển kinh tế của một nước có thể chia ra 5 giai đoạn: Xã hội truyềnthống, chuẩn bị cất cánh, trưởng thành và mức tiêu dùng cao
* Giai đoạn I Xã hội truyền thống: Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này
là sản xuất nông nghiệp giá vai trò chủ yếu trong hoạt động kinh tế Năng suấtlao động thấp do sản xuất chủ yếu bằng công cụ thủ công, khoa học - kỹ thuậtchưa phát triển mạnh Hoạt động chung của xã hội kém linh hoạt: sản xuấtnông nghiệp còn mang tính tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hoá chưa phát triển.Tuy vậy xã hội truyền thống không hoàn toàn là tĩnh tại, mức sản lượng
có thể là vẫn tăng liên tục, do diện tích canh tác được mở rộng, hoặc do ápdụng những cải tiến trong sản xuất như: xây dựng các hệ thống thuỷ lợi, ápdụng giống cây trồng mới Song nhìn chung nền kinh tế không có những biếnđổi mạnh Đặc trưng cơ cấu ngành kinh tế là: nông - công nghiệp và côngnghiệp còn rất nhỏ bé, chậm phát triển
* Giai đoạn II Chuẩn bị cất cánh: Đây được coi là thời kỳ quá độ giữa
xã hội truyền thống và sự cất cánh Trong giai đoạn này những điều kiện cầnthiết để cất cánh đã bắt đầu xuất hiện Đó là những biểu hiện về khoa học - kỹthuật đã bắt đầu được áp dụng vào sản xuất cả trong nông nghiệp và côngnghiệp với những thay đổi quan trọng là trong xã hội đã xuất hiện nháng khuvực "đầu tầu" có tác động lôi kéo nền kinh tế Bắt đầu phát triển các ngànhcông nghiệp đòi hỏi phải sử dụng nhiều lao động như các ngành dệt, may, đồ
Trang 10da, chế biến nông sản và các hàng tiêu dùng khác vốn đầu tư ít Giáo dụcđược mở rộng và có những cải tiến phù hợp để phù hợp với những yêu cầumới của sự phát triển Nhu cầu đầu tư tăng lên đã thúc đẩy sự hoạt động củangân hàng và sự ra đời của các tổ chức huy động vốn Tiếp đó giao lưu hànghoá trong và ngoài nước phát triển đã thúc đẩy sự hoạt động của ngành giaothông vận tải, thông tin liên lạc.
Tuy vậy, tính cả các hoạt động này chưa vượt qua được phạm vi giới hạncủa một nền kinh tế với những đặc trưng của phương thức sản xuất truyềnthống, năng suất thấp Xã hội truyền thống vẫn tồn tại song song với các hoạtđộng kinh tế hiện đại đang phát triển
* Giai đoạn III Cất cánh: Đây là giai đoạn mà lực cản của xã hội
truyền thống và các thế lực chống đối với sự phát triển đã bị đẩy lùi Các lựclượng tạo ra sự tiến bộ về kinh tế đang lớn mạnh và trở thành lực lượng chiếm
tỷ trọng lớn trong xã hội Trong giai đoạn này khoa học - kỹ thuật tác độngmạnh vào công nghiệp và nông nghiệp; công nghiệp giá vai trò “đầu tầu”, cótốc độ tăng trưởng cao, đem lại lợi nhuận lớn Ngoài ra, ở giai đoạn này hầuhết các nước đã phát huy các ngành công nghiệp mũi nhọn để chiếm lĩnh đỉnhcao về khoa học - công nghệ của lĩnh vực này và tiến hành chuyển giao chocác nước đi sau Sự chuyển dịch cơ cấu ngành trong giai đoạn này đã pháttriển đến một trình độ cao hơn Ví dụ, nước Anh tiến hành công nghiệp hoá từcuối thế kỳ XVII với sự khởi sắc của ngành công nghiệp dệt và đến nay vẫn làngành có ưu thế Đức, Hoa Kỳ, Bỉ, Pháp, Thuỵ Điển là những nước tiến hànhcông nghiệp hoá ở vào thời kỳ những năm 40-50 của thế kỷ XIX và chiếm giữthế mạnh là ngành cơ khí chế tạo ở trên ta mới xét đến đặc điểm về cơ cấungành, ngoài ra ở giai đoạn này còn một số đặc điểm về mặt kinh tế - xã hộinhư: tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư tăng từ 5 đến 10% và cao hơn trong thu nhậpquốc dân thuần tuý (NNP), ngoài vốn đầu tư huy động trong nước, vốn đầu tưhuy động từ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng
* Giai đoạn IV Trưởng thành: Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là:
Tỷ lệ đầu tư đã tăng từ 10 đến 20% thu nhập quốc dân thuần tuý; khoa học
-kỹ thuật được ứng dụng trên toàn bộ các mặt hoạt động kinh tế Nhiều ngànhcông nghiệp mới, hiện đại phát triển; nông nghiệp được cơ giới hoá, đạt đượcnăng suất lao động cao; nhu cầu xuất nhập khẩu tăng mạnh, sự phát triển kinh
tế trong nước hoà dòng vào thị trường quốc tế
* Giai đoạn V Tiêu dùng cao: Trong giai đoạn này có 2 xu hướng cơ
bản về kinh tế Thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh tới mức phần lớndân cư có nhu cầu tiêu dùng vượt quá đòi hỏi cơ bản về ăn, mặc, ở Thứ hai là
cơ cấu lao động thay đổi theo chiều hướng tăng tỷ lệ dân cư đô thị và tăng tỷ
Trang 11lệ lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề cao Về mặt xã hội các chínhsách kinh tế hướng vào phúc lợi xã hội nhằm tạo ra nhu cầu cao về hàng tiêudùng lâu bền và các dịch vụ xã hội của nhóm dân cư Xét về cơ cấu ngành thì
tỷ trọng của ngành dịch vụ đang có xu hướng tăng lên, vượt qua tỷ trọng củangành công nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân Theo lý thuyết phân kỳphát triển của W.Rostow thì hầu hết các nước đang phát triển đang tiến hànhcông nghiệp hoá hiện nay nằm ở khoảng giai đoạn 2 và 3, tuỳ theo mức độphát triển của từng nước Ngoài những dấu hiệu kinh tế - xã hội khác, về mặt
cơ cấu phải bắt đầu hình thành một số ngành công nghiệp chế biến có khảnăng lôi kéo toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng Đồng thời cùng với sự chuyểntiếp từ giai 2 sang 3 là sự thay đổi của những lĩnh vực đóng vai trò “đầu tầu”.Nghĩa là trong chính sách cơ cấu cần xét đến trật tự ưu tiên phát triển nhữnglĩnh vực có thể đảm trách vai trò đó qua mỗi giai đoạn cụ thể
dư thừa ở nông thôn Ông đưa ra khả năng mở rộng khu vực công nghiệpbằng cách sử dụng nguồn lao động nông thôn không hạn chế Mô hình này đãđược hai nhà kinh tế học là John Fei và Gustar Rairis áp dụng vào phân tíchquá trình tăng trưởng ở các nước đang phát triển
Cơ sở nghiên cứu của mô hình: Lewis xuất phát từ cách đặt vấn đề củanhà kinh tế học cổ điển David Ricardo, người đầu tiên nghiên cứu vấn đề haikhu vực kinh tế trong tác phẩm “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học vàthuế khoá” xuất bản năm 1817 Trong nghiên cứu mô hình của mình, Ricardo
đã đưa ra hai vấn đề: Một là, khu vực nông nghiệp có lợi nhuận biên giảm dầntheo quy mô và tiến tới bằng không Nguyên nhân của hiện tượng này là doquy mô sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng lên đòi hỏi phải sử dụng đất đaingày càng xấu hơn, dẫn đến chi phí sản xuất tăng dần khi sản xuất một tấnlương thực, với mức tăng cho trước ở đầu vào dẫn đến các mức tăng liên tụcnhỏ hơn ở đầu ra Số và chất lượng ruộng đất là yếu tố có điểm dừng, nếu conngười khai thác đến điểm đó, việc tăng thêm các yếu tố đầu vào sẽ không làmtăng mức sản lượng đầu ra Hai là, trong khi ruộng đất có xu hướng cạn kiệtdần thì lao động trong khu vực nông nghiệp vẫn tiếp tục tăng và dẫn đến hiệntượng dư thừa ngày càng phổ biến Ông cho rằng lao động dư thừa ở nôngthôn về hình thức khác với lao động dư thừa ở khu vực thành thị ở thành thị
Trang 12lao động được coi là dư thừa khi họ có khả năng lao động, có nhu cầu laođộng nhưng không thể tìm được việc làm Còn ở nông thôn thì không phảinhư vậy, hiện tượng phổ biến ở đây là mọi người đều có việc làm nhưng vớinăng suất lao động ngày càng thấp, các thành viên trong gia đình phải chiaviệc ra để làm Sản phẩm biên của lao động giảm dần và tiến tới bằng không.Hiện này các nhà kinh tế gọi là thất nghiệp trá hình (vô hình hoặc bán thấtnghiệp) Từ những cơ sở nêu trên, Ricardo kết luận rằng khu vực nông nghiệpmang tính trì trệ tuyệt đối, cần phải giảm dần cả về quy mô và tỷ trọng trongđầu tư.
Nội dung của mô hình: Lý thuyết nhị nghuyên cho rằng ở các nền kinh tế
có 2 khu vực kinh tế song song tồn tại: Khu vực kinh tế truyền thống chủ yếu
là sản xuất nông nghiệp và khu vực kinh tế hiện đại (công nghiệp) du nhập từbên ngoài Theo ông, với các mức tăng cho trước ở đầu vào dẫn đến các mứctăng liên tục nhỏ hơn ở đầu ra Vì thế, có thể chuyển một phần lao động từkhu vực này sang công nghiệp hiện đại mà không làm ảnh hưởng gì tới sảnlượng nông nghiệp Do có năng suất cao nên khu vực công nghiệp hiện đại cóthể tự tích luỹ để mở rộng sản xuất một các độc lập mà không phụ thuộc vàonhững điều kiện chung của toàn bộ nền kinh tế
Kết luận đương nhiên rút ra từ những nhận định này là để thúc đẩy sựphát triển kinh tế của những nước chậm phát triển cần phải bằng mọi cách mởrộng khu vực sản xuất công nghệ hiện đại càng nhanh càng tốt mà không cầnquan tâm tới khu vực nông nghiệp truyền thống Sự gia tăng của khu vựccông nghiệp hiện đại tự nó sẽ rút dần lao động từ khu vực nông nghiệp sang
và biến nền sản xuất xã hội từ trạng thái nhị nguyên thành một nền kinh tếcông nghiệp phát triển Như vậy, theo lý thuyết nhị nguyên, trong quá trìnhphát triển các nước chỉ nên chú trọng vào phát triển ngành công nghiệp vàcông nghiệp sẽ chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế
Phải nói rằng, những kết luận của lý thuyết nhị nguyên đã gây ra được ấntượng mạnh mẽ đối với các quốc gia chậm phát triển từ sau chiến tranh thếgiới lần thứ II đến thời gian gần đây đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của lý thuyếtnày.Một hướng phát triển khác dựa trên lý thuyết nhị nguyên là phân tích khảnăng di chuyển lao động từ nông thôn ra khu vực công nghiệp thành thị Quátrình chuyển dịch lao động chỉ trôi chảy khi "tổng cung" về lao động từ nôngnghiệp phù hợp với "tổng cầu" ở khu vực công nghệp Sự di chuyển nàykhông chỉ phụ thuộc vào mức chênh lệch về thu nhập mà còn phụ thuộc vào
"xác suất" tìm được việc làm đối với những người lao động nông nghiệp Khiđưa thêm yếu tố "xác suất tìm được việc làm" vào phân tích, người ta thấy
Trang 13xuất hiện những tình huống làm yếu đi khả năng di chuyển lao động giáa 2khu vực như sau:
- Sự năng động của bản thân khu vực công nghiệp: Về mặt này, so vớinền công nghiệp ở các nước phát triển thì khu vực được gọi là "công nghiệphiện đại" ở các nước chậm phát triển yếu kém hơn rất nhiều Vì vậy, để vừa
có thể tăng cường khả năng cạnh tranh với các nền công nghiệp nước ngoài,vừa làm "đầu tầu" lôi kéo sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế thì khu vựccông nghiệp hướng tới những ngành kỹ thuật cao Nhưng những ngành nàycần tăng hàm lượng vốn đầu tư hơn là cần tăng hàm lượng lao động vì thế,khu vực "công nghiệp hiện đại" ở các nước chậm phát triển cũng có nguy cơgặp phải vấn đề dư thừa lao động chứ không riêng gì ở khu vực nông nghiệp
- Khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của người lao động nông nghiệpkhi chuyển sang lĩnh vực công nghiệp Về mặt này, một thực tế là người laođộng nông thôn có trình độ học vấn thấp hơn nhiều so với lao động thành thị
và thậm chí chưa quên với môi trường lao động công nghiệp Việc đào tạo laođộng công nghiệp kỹ năng cao chẳng những đòi hỏi nhiều thời gian mà cònphải có đầu tư lớn, đến mức người ta xem như một trong những lĩnh vực đầu
tư quan trọng nhất đối với 1 nền kinh tế Với những phân tích trên, người tathấy rằng xác suất tìm được việc làm mới ở khu vực công nghiệp đối vớingười nông dân dời bỏ ruộng đồng là có giới hạn
Tóm lại, khi phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của 2 lĩnh vực sảnxuất vật chất quan trọng nhất của nền kinh tế chậm phát triển trong thời kỳcông nghiệp hoá, các lý thuyết nhị nguyên đã đi từ chỗ cho rằng chỉ cần tậptrung vào phát triển công nghiệp mà không chú ý tới nông nghiệp đến chỗ chỉ
ra những giới hạn của chúng và vì thế cần quan tâm thích đáng tới nôngnghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quá trình phát triển.1.2.3 Lý thuyết phát triển cân đối liên ngành
Những người ủng hộ quan điểm này như R.Murkse, P.Rosentein Rodan cho rằng để nhanh chóng công nghiệp hoá cần thúc đẩy sự phát triểnđồng đều ở tất cả các ngành kinh tế quốc dân Họ chủ yếu dựa trên nhữngluận cứ sau:
Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành kinh tế liên quan mật thiếtvới nhau trong chu trình "đầu ra" của ngành này là "đầu vào" của ngành kia
Vì thế, sự phát triển đồng đều và cân đối chính là đòi hỏi sự cân bằng cung,cầu trong sản xuất
- Sự phát triển cân đối giáa các ngành như vậy còn giúp tránh được ảnhhưởng tiêu cực của nháng biến động của thị trường thế giới và hạn chế mức
Trang 14độ phụ thuộc vào các nền kinh tế khác, tiết kiệm ngoại tệ vốn rất khan hiếm
và thiếu hụt
- Một nền kinh tế dựa trên cơ cấu cân đối hoàn chỉnh như vậy chính lànền tảng váng chắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nước thuộc thế giớithứ ba chống lại chủ nghĩa thực dân
Tuy nhiên, trong sự phát triển luôn có cạnh tranh giữa các nước về cácsản phẩm, hàng hoá Do đó, để phát triển được các ngành kinh tế nội địa, Nhànước cần có nháng chính sách bảo hộ, cụ thể là:
+ Chính sách bảo hộ mậu dịch: Nhà nước thực hiện hàng rào thuế quancao và chế độ hạn ngạch nhâp khẩu nhằm hạn chế các loại hàng nhập khẩu vànâng sức cạnh tranh về giá của các mặt hàng nội địa
+ Chính sách tỷ giá hối đoái: Để khuyến khích sản xuất và tiêu dùnghàng hoá nội địa, các Chính phủ thường duy trì chế độ tỷ giá hối đoái theohướng nâng cao trị giá đồng tiền bản điạ nhằm làm yếu khả năng cạnh tranhcủa hàng ngoại trên thị trường nội địa
Như vậy, theo lý thuyết này, để phát triển cần xây dựng một nền kinh tế
đa ngành và hạn chế giao lưu, trao đổi với bên ngoài, hay nói cách khác đó lànền kinh tế "tự cung, tự cấp" Với những chính sách trên, hầu hết các quốc giađang phát triển theo mô hình này đã đạt được mức tăng trưởng tương đối caotrong giai đoạn đầu Mặc dù về thực chất, sự tăng trưởng này chủ yếu bắtnguồn từ điểm xuất phát thấp, khiến cho một mức gia tăng nhỏ về số lượngtuyệt đối cũng đẩy chỉ số tương đối lên rất cao, song nó cũng tạo ra sự thayđổi về cơ cấu kinh tế nhất định, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của cácquốc gia vốn trước đây là xứ thuộc địa Đáng tiếc rằng, tốc độ tăng trưởng vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế của mô hình này đã không thể tiếp tục duy trì lâuhơn Các nước khác nhau tuỳ vào những điều kiện cụ thể của mình mà lầnlượt rời bỏ mô hình trước những giới hạn không sao vượt qua được Các nhàkinh tế học đã tổng kết các lý do cơ bản của tình hình này là:
+ Mô hình này tự nó giả định phát triển đồng thời tất cả (hay ít nhất cũng
là hầu hết) các ngành kinh tế quốc dân Yêu cầu này không thể đáp ứng đượcbởi các nền kinh tế kém phát triển do bị quá tải về vốn đầu tư, khả năng côngnghệ kỹ thuật và quản lý
+ Việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối, hoàn chỉnh đã đưa nền kinh
tế đến chỗ khép kín và tách biệt với thế giới bên ngoài Điều này chẳng nhữngngược với xu hướng chung của tất thảy mọi nền kinh tế trong điều kiện hiệnđại là khu vực hoá và toàn cầu hoá Kinh nghiệm thế giới và lý thuyết hệthống đã chỉ ra rằng: Sự phát triển của một quốc gia do động lực bên trong
Trang 15quốc gia đó là chính, tuy nhiên có sự tận dụng các lợi thế từ môi trường bênngoài.
Cả hai yếu tố trên đều góp phần làm cho sự chuyển dịch cơ cấu ngànhtheo hướng công nghiệp hoá gặp khó khăn bởi lẽ cách tiếp cận trên đã làmphân tán các nguồn lực phát triển rất có hạn của quốc gia khiến cho ngay cảviệc sửa cháa hậu quả cơ cấu kinh tế què quặt của thời kỳ thuộc địa cũ cũng bịtrở ngại Chính vì thế, chỉ sau 1 thời kỳ tăng trưởng, các nền kinh tế theo đuổi
mô hình cơ cấu cân đối này đã nhanh chóng rơi vào tình trạng thiếu năng(maldevelopment)
1.2.4 Lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối hay
"các cực tăng trưởng"
Ngược lại với quan điểm phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu cân đối,khép kín nêu trên, lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối(A.hirschman, F.Perrons, G.Destanne deBernis) cho rằng không thể và khôngnhất thiết phải bảo đảm tăng trưởng bền váng bằng cách duy trì cơ cấu cân đốiliên ngành đối với mọi quốc gia, bởi nháng luận cứ chủ yếu sau:
- Việc phát triển cơ cấu không cân đối gây lên áp lực, tạo ra sự kích thíchđầu tư Trong mối tương quan giáa các ngành nếu cung bằng cầu thì sẽ triệttiêu động lực khuyến khích đầu tư nâng cao năng lực sản xuất Do đó, nếu cónhững dự án đầu tư lớn hơn vào một số lĩnh vực thì áp lực đầu tư sẽ xuất hiệnbởi cầu lớn hơn cung lúc đầu và sau đó thì cung lớn hơn cầu ở một số lĩnhvực Chính những dự án đó có tác dụng lôi kéo đầu tư theo kiểu lý thuyết sốnhân
- Trong mỗi giai đoạn phát triển của thời kỳ công nghiệp hoá, vai trò
"cực tăng trưởng" của các ngành trong nền kinh tế là không giống nhau Vìthế cần tập trung nguồn lực khan hiếm cho một số lĩnh vực trong 1 thời điểmnhất định
- Do trong thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hoá các nước đang pháttriển rất thiếu vốn, lao động, kỹ thuật, công nghệ và thị trường nên không đủđiều kiện để cùng một lúc phát triển đồng bộ tất cả các ngành hiện đại Vì thế,việc phát triển cơ cấu không cân đối là một sự lựa chọn bắt buộc Lý thuyếtnày là cơ sở để hình thành lên mô hình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu
Về mặt lý thuyết, mô hình này dựa trên nháng xu hướng quốc tế hoá đời sốngkinh tế dưới tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật và lựa chọn một cơcấu kinh tế không cân đối để hình thành các cực tăng trưởng dựa trên nhữnglợi thế so sánh trong quan hệ ngoại thương Các tiếp cận cơ cấu kinh tế trong
mô hình công nghiệp hoá này có một số đặc trưng là:
Trang 16+ Quá trình công nghiệp hoá được bắt đầu từ việc tập trung khai thác cácthế mạnh của nền kinh tế, tạo ra những lĩnh vực phát triển có lợi thế so sánhtrên thị trường thế giới Thông thường, đối với các nước chậm phát triển,nháng thế mạnh khả dĩ là nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, tài nguyên khoángsản và nông sản Ví dụ, như NICs thì hướng sự phát triển vào những ngànhcông nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động như: dệt, may, chế biến thựcphẩm, điện tử dân dụng Trong khi đó một số nước khác như Malaysia vàThái Lan lại khởi đầu với những sản phẩm nông nghiệp và khai thác khoángsản.
+ Toàn bộ hệ thống chính sách chủ yếu nhằm khuyến khích xuất khẩu,tức là đảm bảo cho các nhà sản xuất có lợi hơn nếu bán sản phẩm của mình ranước ngoài Cụ thể là:
Nhà nước trực tiếp tác động bằng cách đưa ra danh mục các mặt hàng ưutiên, được giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu, hoặc trực tiếp trợ cấp cho các loạihàng hoá phục vụ sản xuất hàng xuát khẩu
Nhà nước gián tiếp can thiệp qua các công cụ tài chính, tiền tệ, tạo lậpmôi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất hướng ra thị trường thế giới Ví
dụ như: đánh tụt giá đồng tiền nội địa cung cấp tín dụng với lãi suất ưu đãicho sản xuất xuất khẩu khuyến khích đầu tư ngước ngoài
Lúc đầu, lý thuyết này tỏ ra không hấp dẫn lắm vì nó xây dựng một nềnkinh tế hướng ngoại và phụ thuộc vào bên ngoài (các nền kinh tế khác) màthường thì các nước có nền kinh tế chậm phát triển gặp phải nhiều bất lợi hơn.Nhưng về sau do kết quả tăng trưởng kinh tế "thần kỳ" của một nhóm nướcthực hiện chính sách này như: NICs, Malay sia, Thái Lan nên xu hướng này
đã được nhiềù nước áp dụng Tuy nhiên, các nhà kinh tế học cũng đưa ra hailoại vấn đề cần lưu ý khi áp dụng lý thuyết này;
Thứ nhất, một số yếu điểm của chính sách thúc đẩy công nghiệp hoáhướng ngoại như sự phụ thuộc quá mức vào biến động của thị trường thế giới,tiêu biểu là cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 vừa qua đã làm cho nhiềunước bị ảnh hưởng nghiêm trọng về tăng trưởng kinh tế cũng như về mặt xãhội
Thứ hai, không chắc môi trường kinh tế quốc tế còn thuận lợi cho việcthực thi chính sách hướng về xuất khẩu vì lợi thế so sánh không tồn tại mãimãi
Trang 171.2.5 Lý thuyết phát triển theo mô hình "đàn nhạn bay".
Từ sự phân tích thực tế lịch sử phát triển kinh tế của các quốc gia và dựatrên lý thuyết lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế Người khởi xướng
lý thuyết này, giáo sư Kaname Akamatsu đã đưa ra nháng kiến giải về quátrình "đuổi kịp" các nước tiên tiến nhất của các nước kém phát triển hơn.Trong những ý tưởng về sự đuổi kịp này, vấn đề cơ cấu ngành có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng Xét trên góc độ phát triển của toàn bộ nền công nghiệp, từngphân ngành hay thậm chí từng loại sản phẩm riêng biệt Quá trình "đuổi kịp"
về mặt kinh tế và kỹ thuật của chúng được chia thành 4 giai đoạn sau:
* Giai đoạn 1: Các nước kém phát triển nhập hàng công nghiệp chế biến
từ các nước phát triển hơn và xuất khẩu một số sản phẩm thủ công đặc biệt.Tức là, các nước kém phát triển đã có sự chuyên môn hoá sản xuất 1 số loạihàng thủ công đặc biệt để xuất khẩu sang các nước phát triển
* Giai đoạn 2: Các nước chậm phát triển nhập sản phẩm đầu tư từ các
nước công nghiệp để chế tạo lấy hàng hoá công nghiệp tiêu dùng trước đâyvẫn phải nhập Đây là giai đoạn các nước kém phát triển bắt đầu tích luỹ tưbản (vốn) và phỏng theo (bắt chước) công nghệ chế tạo từ các nước côngnghiệp phát triển Vì thế những ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùngthay thế nhập khẩu phát triển mạnh trong giai đoạn này Song những điềuchỉnh cơ cấu kinh tế vĩ mô lại được giành ưu tiên cho các ngành công nghiệptrợ giúp (kết cấu hạ tầng kinh tế) cho nháng ngành công nghiệp sản xuất hàngtiêu dùng phát triển như điện nước và giao thông vận tải
* Giai đoạn 3: Là giai đoạn mà sản phẩm công nghiệp thay thế ở giai
đoạn 2 đã có thể trở thành sản phẩm xuất khẩu Những sản phẩm đầu tư trướcđây phải nhập giờ đây đã có thể dần dần thay thế bằng nguồn khai thác và sảnxuất ở trong nước Như vậy, về khoảng cách kỹ thuật giáa các nước đi sau vớicác nước công nghiệp phát triển (trước hết là trong lĩnh vực hàng tiêu dùng)không còn xa cách bao nhiêu
* Giai đoạn 4: Là giai đoạn việc xuất khẩu hàng công nghiệp tiêu dùng
bắt đầu giảm xuống, nhường chỗ cho việc xuất khẩu các loại hàng hoá đầu tưvốn đã bắt đầu phát triển ở giai đoạn 3 Về mặt kỹ thuật, nền công nghiệp đãđạt mức ngang bằng với các nước công nghiệp phát triển và chuyển giao một
số ngành sản xuất công nghiệp hàng tiêu dùng sang các nước kém phát triểnhơn
Như vậy, quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mô hình "đàn nhạnbay" có nhiều điểm tương đồng với lý thuyết phát triển cơ cấu ngành "khôngcân đối" Ngoài ra, điều cần lưu ý náa là việc "đuổi kịp" các nước công
Trang 18nghiệp phát triển diễn ra nhanh hay chậm một phần rất lớn phụ thuộc vào việclựa chọn các "cực tăng trưởng" trong mỗi giai đoạn nhất định.
Trên đây, đề án đã đưa ra một số lý thuyết phát triển và sự chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế Về nguyên tắc, phải thừa nhận rằng mỗi mô hình côngnghiệp hoá đều có những khía cạnh hợp lý Vì thế sẽ là lý tưởng nếu tận dụngđược tối đa các yếu tố hợp lý của mỗi mô hình để thúc đẩy quá trình côngnghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thông qua các mô hình có thể rút
ra một số kết luận về sự chuyển dịch cơ cấu ngành trong quá trình phát triểnnhư sau:
+ Các lý thuyết phát triển đều quan tâm đến việc xác định các tiền đề cầnthiết của quá trình công nghiệp hoá
+ Chúng không những chỉ coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trongnhững chỉ tiêu quan trọng của sự phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá màcòn chỉ ra nội dung cụ thể của nó là tăng tỷ trọng của công nghiệp, giảm tỷtrọng nông nghiệp trong GDP, cũng như sự phát triển trong nội bộ từngngành Cách xác định nội dung chuyển dich cơ cấu kinh tế như vậy cho phépmột mặt đánh giá mức độ thành công của công nghiệp hoá của một số quốcgia, mặt khác tìm hiểu nháng nguyên nhân quy định tình trạng thoái triển haykhông sao bắt nhịp được với quá trình công nghiệp hoá đã xảy ra ở một sốnước trên thế giới
+ "Kinh tế học của sự phát triển" đã đạt vấn đề cơ cấu vào một trongnhững vị trí cơ bản trong lý thuyết của mình để xem xét, đánh giá và phânloại các dạng thức phát triển và suy thoái ở các nước thuộc thế giới thứ 3.Việc đề cao vấn đề cơ cấu được xem là một trong những thành công trong lýthuyết phát triển kinh tế hiện đại, bởi vì nó khắc phục được sự phiến diện củaviệc nhìn nhận các vấn đề kinh tế của các nước chậm phát triển chỉ xoayquanh chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế
+ Kinh tế học phát triển cho rằng hình thức chuyển dịch cơ cấu ngànhcủa các nước chậm phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá diễn ra rất đadạng Chính vì vậy, việc công nghiệp hoá bắt đầu từ đâu: công nghiệp, nôngnghiệp hay dịch vụ vẫn là một thách thức lớn đối với các nước đang pháttriển Để lựa chọn cơ cấu ngành kinh tế hợp lý, Chính phủ cần đánh giá đượccác nguồn lực bên trong, đồng thời kết hợp được với các nguồn lực bên ngoàitrong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế Khi nghiên cứu các điều kiệncủa Việt Nam nhiều tác giả đã cho rằng Việt Nam nên áp dụng lý thuyết phân
kỳ phát triển của W.Rostow bởi vì nó có nhiều yếu tố phù hợp với nền kinh tếViệt Nam như: nền kinh tế nông nghiệp, lực lượng lao động dồi dào do đó
Trang 19trong quá trình phát triển cần bắt đầu từ nông nghiệp và hiện đại hoá nôngnghiệp nhằm đảm bảo lương thực tạo cơ sở cho quá trình phát triển Sau đó cóthể thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu để tạo ra một số tiền đề cần thiết,
cơ bản, tạo đà cho sự "cất cánh" và nhanh chóng chuyển sang chiến lượchướng về xuất khẩu nhằm tận dụng các lợi thế so sánh
1.3 Một số kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước trên thế giới.
1.3.1 Các nền kinh tế châu á - Thái Bình Dương ( APEC)
Mặc dù, phát triển bền vững luôn là mục tiêu đi cùng với lịch sử ra đời
và phát triển của APEC, nhưng cải cách cơ cấu kinh tế nhằm bảo đảm bảo sựphát triển bền vững của APEC đang phải đối mặt với nhiều thách thức Giữacác nền kinh tế APEC có sự chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển kinh tế,trong đó các nền kinh tế đông dân, thu nhập thấp lại có trình độ phát triểnkinh tế chưa cao, phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài Nghèo đói, bất bìnhđẳng; hiệu quả, hiệu lực thực thi của pháp luật về bảo vệ môi trường yếu kém,việc thiếu kinh phí đầu tư cho kiểm soát ô nhiễm môi trường và việc nhậpkhẩu công nghệ lạc hậu vào các nền kinh tế đang phát triển, diện tích đất nôngnghiệp giảm đi nhanh chóng tạo ra áp lực rất lớn đối với các nền kinh tế đangphát triển Thiên tai với tần suất cao và phạm vi tàn phá lớn, sự xuất hiệnnhững bệnh dịch mới cũng ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển bềnvững của APEC
Các nền kinh tế công nghiệp /công nghiệp mới (Canada, Hoa Kỳ,Ôxtrâlia ), với trình độ phát triển và ứng dụng công nghệ cao (năng suất laođộng cao), có dịch vụ phát triển, đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế Nhữngnăm gần đây cải cách cơ cấu trong nền kinh tế này nhằm giải quyết nhữngvấn đề đặc thù, những khiếm khuyết của nền kinh tế nước mình, trong đó tậptrung vào các lĩnh vực: Cải cách dịch vụ, Cải cách sở hữu nước ngoài đối vớikhu vực FDI, Cải cách giáo dục và dạy nghề, Cải cách sử dụng lao động vàviệc làm, Cải cách hệ thống tài chính, Cải cách hệ thống thuế, Cải cách trợcấp nông nghiệp Các nền kinh tế có thu nhập trung bình và thu nhập thấp(Chi Lê, Thái Lan, Việt Nam, New ghinê, Inđônêxia, Philippin ) trong vài bathập kỷ qua, kinh tế phát triển chủ yếu dựa vào các nghành nông, lâm, ngưnghiệp và công nghiệp, thu hút nhiều lao động (trừ Cộng hoà Liên bang Nga
và một số nền kinh tế chuyển đổi) năng suất lao động chưa cao
Các nền kinh tế APEC phát triển thành công khi chuyển trọng tâm từ cácnghành có năng suất lao động thấp sang các ngành có năng suất lao động caohơn, đóng góp lớn hơn cho phát triển kinh tế Tuy nhiên đối với các nền kinh
Trang 20tế đông dân cần chuyển dịch mạnh sang các ngành công nghiệp, dịch vụ dựavào nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và giảm tỉ lệ tăng dân số, bảođảm quá trình này không bị tác động bởi sự di chuyển lao động, nhất là laođộng kỹ thuật cao giữa các nền kinh tế, tận dụng những lợi thế tạo tích lũyban đầu, tạo ra những lợi thế so sánh mới, có khả năng cạnh tranh cao hơn, đó
là sản xuất các sản phẩm công nghiệp, dịch vụ có trình độ cao hơn Tự do hóathương mại, đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với các nền kinh tế đang pháttriển nhưng phải đảm bảo cho nền kinh tế phát triển phù hợp với những đòihỏi của quá trình hội nhập, không tạo ra những cú sốc cho nền kinh tế, đồngthời có thể triển khai triệt để những cơ hội từ bên ngoài
1.3.2 Nhật Bản
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã bắt đầu diễn ra, lao động trong nôngnghiệp bị thu nhỏ dần một phần do tác động của kỹ thuật mới, mặt khác do sựtính toán hiệu quả sản xuất đã tạo ra một sự di chuyển lao động rất lớn từnông nghiệp sang công nghiệp và các lĩnh vực kinh tế khác Chỉ trong thờigian 30 năm (từ 1950-1979) đã có 9 triệu người rút khỏi khu vực nông nghiệp
để chuyển sang các khu vực khác Nhờ chủ trương nâng cao tiền lương thực
tế của nhân dân bằng cách nâng cao năng suất lao động nên trong suốt thập kỷ
50, tiền lương thực tế của công nhân nông nghiệp đã tăng bình quân 7%/năm,điều này đã góp phần làm tăng thêm thu nhập của gia đình nông dân trongsuốt thập kỷ 50, tạo cơ sở cho sự phát triển các giai đoạn sau Đến những năm
1960 và 1970, tình hình thị trường lao động ở Nhật Bản trở nên rất căngthẳng Chính phủ Nhật Bản đã tận dụng hết khả năng nguồn nhân lực cho sựphát triển kinh tế Tình hình di chuyển lao động sang các ngành phi nôngnghiệp phát triển quá nhanh đã trở thành mối nguy cho sự phát triển của khuvực nông nghiệp, nông thôn Để giải quyết tình trạng đó, Chính phủ Nhật Bản
đã đưa tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp (đầu tiên là máy gặt đập, sau đó làmáy cày ) đã giải phóng sức lao động của nông dân, tạo cơ hội cho họ tìmkiếm việc làm phi nông nghiệp Như vậy, ở đây ta thấy Nhật Bản đã phát triểntheo mô hình hai khu vực của A.Lewis
- Về tài chính: sau chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), nền kinh
tế Nhật Bản bắt đầu đi vào phát triển; sự thiếu vốn diễn ra là một thực tế.Nguồn tài chính của Chính phủ, thậm chí cả của tư nhân cũng bị kiệt quệ hoặc
bị tiêu hao do tình trạng lạm phát diễn ra Tuy vậy, Nhật Bản đã nhận đượcnguồn viện trợ từ Mỹ cùng với sự thành công của một số chính sách làm cho
tỷ lệ tích luỹ cao và có xu hướng tăng Thứ nhất, Nhật Bản duy trì mức tiềnlương thấp trong khi năng suất lao động tăng nhanh Thứ hai, nhờ tính tiếtkiệm, người Nhật đã làm tăng khối lượng tiền tiết kiệm cho sản xuất kinh
Trang 21doanh Chỉ tính từ năm 1961-1967, thời kỳ phát triển mạnh nhất của côngnghiệp Nhật Bản thì tỷ lệ tiết kiệm trong tổng số thu nhập của người dân Nhật
là 18,6%, trong khi đó của Mỹ là 6,2%, Anh là 7,7%, Philippin là 8,7% vàCộng hoà Liên bang Đức là 13% Thứ ba, do có chính sách thuế hợp lý đãgóp phần đáng kể vào ổn định và tăng trưởng kinh tế Chính phủ Nhật đã ápdụng chính sách giảm thuế trong nháng năm đầu đi vào sản xuất, vì vậy tỷ lệtiết kiệm trong dân cư tăng
Ngay từ đầu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Chính phủ NhậtBản đã chủ trương nhập khẩu các kỹ thuật mới, nhập khẩu các bằng phátminh sáng chế từ các nước phát triển
- Về ngoại thương: Nhờ có những chiến dịch xuất khẩu ngày càng tăng đãđẩy nền kinh tế Nhật Bản ra khỏi khủng hoảng và suy thoái Trong 20 năm(1965-1985), tỷ trọng nông nghiệp giảm đi 3 lần trong cơ cấu kinh tế của NhậtBản (từ 9% năm 1965 còn 3% năm 1985) Một điều đáng quan tâm mới là trongquá trình công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ngành dịch vụ NhậtBản đã dần trở thành một ngành có tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu kinh tế cả nước.1.3.3 Hàn Quốc
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hàn Quốc có thể coi là thànhcông trong khoảng thập kỷ 60-80 với các kế hoạch 5 năm đã thực hiện (bảng9) Điểm nổi bật của giai đoạn này là nền kinh tế Hàn Quốc đã đạt tốc độ tăngtrưởng kinh tế rất nhanh, bình quân trong 4 kế hoạch 5 năm là 8,3% Sau 4 lầnthực hiện kế hoạch 5 năm Hàn Quốc đã đạt được một nền kinh tế tự lực(1981) Đạt được sự thành công đó, trước hết phải nói đến vai trò của Chínhphủ trong việc lựa chọn chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong giai đoạn phát triển, Hàn Quốc đã theo đuổi lý thuyết thay thếnhập khẩu, tập trung sức phát triển công nghiệp, đặc biệt là các ngành côngnghiệp nhẹ cần nhiều lao động và làm hàng xuất khẩu Nháng năm 1986-1988được xem là những năm thành công nhất của Hàn Quốc, do xuất khẩu bùng
nổ nền tăng trưởng hàng năm lên tới 15% Hàn Quốc trở thành một lực lượngmới, quan trọng trong nền kinh tế thế giới và là một trong nháng nước côngnghiệp hoá mới (NICs) hùng mạnh trong thế giới thứ ba Tuy nhiên, do một
số chính sách về tài chính chưa được đảm bảo nên Hàn Quốc đã phải trả mộtgiá đắt trong đợt khủng hoảng tài chính vừa qua