Quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển hải vân
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của giảng viên TS Lê Phước Thanh và PGS.TS Lê Đức Toàn và đồng nghiệp của tôi đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Tác giả
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Lê Phước Thanh và PGS.TS Lê Đức Toàn Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu đã được công bố.
Tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
5 Kết cấu luận văn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Rủi ro tín dụng 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Các phương thức tín dụng NHTM 6
1.1.3 Phân loại rủi ro tín dụng 8
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng và hậu quả của rủi ro tín dụng 10
1.1.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng rủi ro tín dụng 10
1.1.4.2 Hậu quả của rủi ro tín dụng 11
1.2 Quản trị rủi ro tín dụng 12
1.2.1 Khái niệm 12
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của quản trị rủi ro tín dụng 12
1.2.3 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng: 14
Trang 51.2.3.3 Kiểm soát rủi ro 31
1.2.3.4 Tài trợ rủi ro 33
1.2.3.5 Theo dõi, đánh giá và điều chỉnh phương pháp phòng chống 34 1.3 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của một số nước trên thế giới 34 1.3.1 Nguyên tắc của Basel trong quản trị rủi ro tín dụng 34
1.3.2 Kinh nghiệm quản trị rủi ro một số nước trên thế giới 35
Tóm tắt chương 1 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN HẢI VÂN 38
2.1 Giới thiệu Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân 38
2.1.1 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 38
2.1.2 Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân 44
2.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân 44
2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân 45
2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng tại Chi nhánh 48
2.2.1 Hoạt động huy động vốn (Phụ lục 2) 48
2.2.2 Hoạt động cho vay 52
2.2.3 Kết quả kinh doanh 55
2.2.4 Phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại NHĐT và PT Việt Nam - CN Hải Vân 55
2.2.4.1 Nợ quá hạn 55
2.2.4.2 Nợ xấu 57
2.2.4.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong thời gian qua 59
Trang 62.3.1 Định hướng, mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng 65
2.3.2 Tổ chức bộ máy quản trị rủi ro tín dụng 66
2.3.3 Nhận diện rủi ro tín dụng 69
2.3.4 Đo lường rủi ro tín dụng 71
2.3.5 Kiểm soát và tài trợ rủi ro tín dụng 75
2.3.5.1 Kiểm soát rủi ro 75
2.3.5.2 Tài trợ rủi ro 77
2.3.5.3 Tình hình trích lập dự phòng rủi ro theo Quyết Định 493/2005/ QĐ-NHNN của Chi nhánh 79
2.3.6 Công tác báo cáo thống kê 80
2.3.7 Đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế về công tác quản trị rủi ro tín dụng trong thời gian qua 80
2.3.7.1 Kết quả đạt được 80
2.3.7.2 Những mặt hạn chế về công tác quản trị rủi ro 80
Tóm tắt chương 2 82
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN HẢI VÂN 83
3.1 Dự báo tình hình phát triển kinh tế xã hội thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến 83
3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 83
3.2 Định hướng hoạt động tín dụng và mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân 85
3.2.1 Về Định hướng 85
3.2.2 Về mục tiêu 86
Trang 73.3.1 Nhóm giải pháp về nhận dạng rủi ro tín dụng 88
3.3.2 Mở rộng ứng dụng của hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ 88
3.3.3 Hoàn thiện công tác kiểm soát, phòng ngừa rủi ro 89
3.3.3.1 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định khách hàng vay vốn .89
3.3.3.3 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ 100
3.3.3.4 Tăng cường công tác thu thập, xử lý và lưu trữ thông tin 104
3.3.3.5 Phân tán rủi ro 106
3.3.4 Hoàn thiện các biện pháp tài trợ rủi ro 106
3.3.4.1 Cơ cấu lại nợ cho khách hàng 106
3.3.4.2 Sử dụng công cụ bảo hiểm và tài sản đảm bảo 107
3.3.4.3 Bán nợ 108
3.3.4.4 Chuyển nợ thành vốn góp cổ phần 109
3.3.4.5 Chứng khoán hóa 109
3.3.4.6 Sử dụng hợp đồng tín dụng phái sinh 109
3.3.4.7 Sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro: 111
3.3.4.8 Đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá công nghệ ngân hàng trong hoạt động kinh doanh tín dụng 112
3.4 Một số kiến nghị 113
3.4.1 Kiến nghị đối với các cơ quan liên quan 113
3.4.1.1 Đối với Nhà nước, Chính phủ, các Bộ ngành 113
3.4.1.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 114
3.4.2 Kiến nghị với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 116
KẾT LUẬN 118 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9BIDV : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Trang 10Số hiệu Tên bảng Trang
2.5 Trích lập dự phòng và xử lý rủi ro giai đoạn 2008- năm 2011 79
Trang 11Số hiệu Tên bảng Trang
2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy Quản lý rủi ro của BIDV 43
2.4
Tình hình số dư huy động vốn theo thành phần kinh tế
của Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm vừa qua, nhiều Ngân hàng cổ phần thương mại, Ngân hàngnước ngoài và các công ty tài chính được thành lập, cho thấy mức hấp dẫn vàtính sinh lợi trong lĩnh vực tài chính cao hơn so với các ngành kinh tế khác.Đối với thị trường tài chính Việt Nam, sản phẩm dịch vụ tài chính hiện nayvẫn chưa thực sự đa dạng Tỷ trọng thu nhập từ các sản phẩm dịch vụ cònthấp trên tổng thu nhập, phần còn lại đến từ hoạt động tín dụng chiếm từ 60đến 70% thu nhập của Ngân hàng Đi đôi với nó là hệ quả canh tranh giữa các
tổ chức tín dụng sẽ khốc liệt hơn, hạ thấp các tiêu chuẩn, điều kiện cho vaynhằm tranh giành khách hàng Vì vậy, cùng với việc đem lại thu nhập đáng kểcho Ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng cũng là lĩnh vực có rủi ro lớn nhất Cácthống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổngrủi ro hoạt động Ngân hàng Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với Ngân hàngthường rất lớn, nó làm tăng thêm chi phí, hạn chế về qui mô tín dụng, gâythiệt hại về tài chính, đặc biệt trầm trọng hơn là mất uy tín đối với kháchhàng, gây mất ổn định trong hoạt động Ngân hàng cũng như hoạt động củanền kinh tế Chính vì vậy, công tác quản trị rủi ro tín dụng luôn là mối quantâm hàng đầu của các Ngân hàng, việc kiểm soát rủi ro và giảm thiểu tổn thấttrong hoạt động tín dụng luôn được đặt ra và đồng thời là mục tỉêu hướng tớicủa các Ngân hàng trong hoạt động tín dụng
Tuy nhiên trong tình hình hiện nay, để các NHTM có thể hội nhập vàcạnh tranh tốt trên thị trường nội địa và tham gia vào thị trường thế giới thìviệc hướng đến các tiêu chuẩn quốc tế là việc nên làm đối với bất kỳ Ngânhàng nào Do đó, yêu cầu xây dựng một mô hình quản trị quản trị rủi ro cóhiệu quả và phù hợp với điều kiện Việt Nam là một đòi hỏi bức thiết để đảm
Trang 13bảo hạn chế rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng, phù hợp với môi trường hội
nhập Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân” làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi rotín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân, đồng thời kếthợp với những nghiên cứu lý thuyết về hoạt động tín dụng và công tác quảntrị rủi ro trong hoạt động tín dụng tại NHTM, đề tài đề xuất các giải pháp,kiến nghị để hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động tíndụng Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tín dụng và công tác quản trị rủi ro tíndụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: Phương pháp duy vật biệnchứng, phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh số liệu, phương pháp thống
kê toán, phương pháp chuyên gia…
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụngcủa NHTM
- Phân tích tình hình hoạt động tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tạiChi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân, từ đó đánh giá những mặttích cực cũng như hạn chế của công tác quản trị rủi ro tín dụng
-Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi
ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hải Vân
Trang 145 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia làm 3 chương,
Trang 15CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Rủi ro tín dụng
1.1.1 Khái niệm
Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất
về tài sản của Ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải
bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tàichính nhất định
Kinh doanh Ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi rochấp nhận được là bản chất Ngân hàng P Volker, cựu chủ tịch Cục dự trữ liên
bang Mỹ (FED) cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản vay tồi thì
đó không phải là hoạt động kinh doanh” Rủi ro tín dụng là một trong những
nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượngkinh doanh Ngân hàng Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng:
Đối với Timothy W.Koch: “Một khi Ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn”, tức là khách hàng không thanh toán
vốn gốc và lãi theo thỏa thuận Rủi ro là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhậpthuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay
thanh toán trễ hạn (Trích dẫn nguồn: The Dryden Press (1995), Bank Management, University of South Carolina, paper 107)
Theo Henie Van Greuning…Sonja Brajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng
được định nghĩa là: “ Nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng ” Đây là
thuộc tính vốn có của hoạt động Ngân hàng Rủi ro tín dụng là việc chi trả bị trì
Trang 16hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ Điều này gây ra sự cố đốivới dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của Ngân
hàng (Trích dẫn nguồn: World bank (2001), Banking Reform in Vietnam)
Ngoài ra, rủi ro tín dụng được khái niệm như sau: “Rủi ro tín dụng phát sinh khi có dấu hiệu tổn thất xảy ra từ bên vay, đối tác, hoặc người có nghĩa
vụ vi phạm các thỏa thuận, cam kết đã ký”.
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày ngày 22 tháng 4 năm
2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Như vậy, rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụngcủa Ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợhoặc trả không đúng hạn cho Ngân hàng Rủi ro tín dụng không những chỉxảy ra ở hoạt động cho vay, mà còn liên quan đến hoạt động tín dụng kháccủa Ngân hàng như bảo lãnh, cam kết tín dụng, tài trợ thương mại, thuê mua,đồng tài trợ… Đây là loại rủi ro cơ bản nhất của Ngân hàng
Mặt khác, chúng ta cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, là khảnăng, do đó có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất Điều này có nghĩa làmột khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổnthất, một Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng sẽrất cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng,ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản trịrủi ro tín dụng được chủ động trong phòng ngừa, trích lập dự phòng, đảm bảochống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra
Từ nhiều quan điểm khác nhau, về cơ bản rủi ro tín dụng bao gồm nhữngnội dung, đặc điểm như sau:
Trang 17- Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợtheo hợp đồng, bao gồm vốn và/ hoặc lãi Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặckhông thanh toán.
- Lợi nhuận kỳ vọng càng cao thì đi đôi với nó là rủi ro tiềm ẩn càng lớn
- Rủi ro là một yếu tố không thể loại trừ hoàn toàn, mà chỉ có thể hạn chế
sự xuất hiện cũng như tác hại của chúng gây ra
- Rủi ro tín dụng là loại rủi ro mang tính gián tiếp Với chức năng trunggian tài chính, Ngân hàng đứng giữa người đi vay và người cho vay để kiếmlợi, tức là Ngân hàng sử dụng vốn của người gửi để đầu tư cho người vay.Nếu người đi vay gặp rủi ro không trả được nợ thì Ngân hàng sẽ không thểnào hoàn trả cho người gửi Vì vậy, rủi ro tín dụng phụ thuộc khá lớn vào rủi
ro của khách hàng
- Rủi ro tín dụng là loại rủi ro mang tính đa dạng và phức tạp Mục tiêukinh doanh của Ngân hàng là tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở đáp ứng nhu cầutín dụng của nền kinh tế, đồng thời phải đảm bảo sự an toàn vốn Tuy nhiên,nhu cầu tín dụng của khách hàng thường hoạt động ở nhiều lĩnh vực khácnhau với những đặc thù riêng và nguy cơ rủi ro rất khác nhau và phức tạp nênrủi ro tín dụng cũng đa dạng và phức tạp
- Rủi ro tín dụng là loại rủi ro mang tính khách quan Sự thành công haythất bại của một quan hệ tín dụng phụ thuộc vào sự thành bại của khách hàngvay, sự hưng thịnh hay suy thoái của nền kinh tế và sự tác động thuận lợi haybất lợi của môi trường chính trị và tự nhiên Như vậy, Ngân hàng được coi lànơi phải hứng chịu mọi rủi ro từ mọi sự bất ổn của nền kinh tế, mọi rủi ro củakhách hàng Chính vì vầy, có thể khẳng định rằng rủi ro tín dụng không hoàntoàn nằm trong kiểm soát của Ngân hàng
1.1.2 Các phương thức tín dụng NHTM
Tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng vay việc áp dụng cácphương thức cho vay:
Trang 18Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thựchiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xácđịnh và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời giannhất định
Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn đểthực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự
án đầu tư phục vụ đời sống
Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chứctín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác Việc chovay hợp vốn thực hiện theo quy định của Quy chế này và Quy chế đồng tài trợcủa các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định
và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợtheo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảmbảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhấtđịnh Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạnmức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổchức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trongphạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rúttiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chứctín dụng Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng vàkhách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhànước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Trang 19Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụngthỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trêntài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ
và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chứccung ứng dịch vụ thanh toán
Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp vớiquy định tại Quy chế này và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tíndụng và đặc điểm của khách hàng vay (Trích nguồn: Điều 16, quyết định1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001)
1.1.3 Phân loại rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêucầu nghiên cứu Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụngthành các loại khác nhau
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro
Rủi ro tín dụng được phân chia thành hai loại là rủi ro giao dịch(Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk)
- Rủi ro (Transaction risk): là một hình thức của rủi ro tín dụng mànguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xétduyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có ba bộ phận:
+ Rủi ro xét duyệt: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tíndụng, khi Ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyếtđịnh cho vay
+ Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điềukhoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo,cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo
+ Rủi ro kiểm soát là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay vàhoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹthuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề
Trang 20- Rủi ro danh mục (Portfolio risk): Là một hình thức của rủi ro tín dụng
mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mụccho vay của Ngân hàng, được phân chia thành hai loại: Rủi ro nội tại(Intrinsic) và rủi ro tập trung (Concentration risk)
+ Rủi ro cá biệt xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tínhriêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc nghành, lĩnh vực kinh tế Nóxuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàngvay vốn
+ Rủi ro tập trung là trường hợp Ngân hàng tập trung vốn cho vay quánhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt độngtrong cùng một nghành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa
lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
Hình 1.1 Sơ đồ mô hình rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch
(liên quan đến 1 khoản cho vay)
Rủi ro danh mục
(liên quan đến danh mục các khoản cho vay)
Rủi ro bảo đảm
(liên quan đến chính sách và hợp đồng cho vay)
Rủi ro cá biệt
(liên quan đến từng sản phẩm tín dụng)
Rủi ro tập trung cho vay
(do kém đa dạng hoá hanh mục tín dụng)
Trang 21 Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro:Rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan.Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, dịchhọa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thấtthoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách.Rủi ro chủ quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và ngườicho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủquan khác.
Căn cứ vào hình thức tài trợ vốn: rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro nộibảng (cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu …) và rủi ro ngoại bảng (bảolãnh, cam kết thanh toán L/C ….)
Căn cứ vào tính chất: rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro sai hẹn và rủi romất vốn
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng và hậu quả của rủi ro tín dụng
1.1.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng rủi ro tín dụng
Môi trường bên ngoài
- Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới
- Quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế
- Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủnghoảng thừa về đầu tư trong một số ngành
- Các thiệt hại từ nguyên nhân thiên tai, bão lụt, hạn hán, hỏa họan vàđộng đất làm thiệt hại nghiêm trọng đến khả năng trả nợ vay của người đi vay
- Thông tin không cân xứng trên thị trường tài chính dẫn đến sự lựa chọnđối nghịch và rủi ro đạo đức đã đặt các Ngân hàng trước nguy cơ rủi ro cao
- Tình hình an ninh trong nước và khu vực bất ổn
- Môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô
Từ phía người vay
Trang 22- Sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả và không có thiện chí trongviệc trả nợ vay.
- Năng lực quản lý kinh doanh kém, đầu tư nhiều lĩnh vực, dàn trải vượtquá khả năng quản lý
- Quản lý vốn vay không hợp lý dẫn đến thiếu khả năng thanh khoản
- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu sự minh bạch Quy
mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao
Từ phía Ngân hàng
- Do Ngân hàng tăng trưởng tín dụng mà không có sự kiểm soát chấtlượng tín dụng: bỏ bớt các điều kiện tín dụng, thực hiện cho vay không đúngquy định, thiếu kiểm soát quản lý tín dụng trước, trong và sau cho vay
- Quá nhấn mạnh tập trung vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến cho vay đầu
tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một doanhnghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó
- CBTD không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúng quytrình cho vay CBTD vi phạm đạo đức kinh doanh
- Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tinkhông đầy đủ dẫn đến cho vay hoặc đầu tư không hợp lý
- Định giá tài sản không đảm bảo không chính xác hoặc không thực hiệnđầy đủ thủ tục pháp lý cần thiết
- Do sự cạnh tranh của các Ngân hàng
Tóm lại, các nhân tố gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng, bao gồm nhân tốkhách quan và chủ quan do chủ thể tham gia quan hệ tín dụng Đối với nhân
tố chủ quan, do các chủ thể có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng vàNgân hàng có thể kiểm soát được nếu có những biện pháp thích hợp
1.1.4.2 Hậu quả của rủi ro tín dụng
- Hậu quả đối với Ngân hàng: Khi rủi ro tín dụng xảy ra, điều này sẽ làmcho Ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm
Trang 23làm cho Ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí tăng lên, lợi nhuậngiảm và uy tín đối với khách hàng bị giảm sút Nếu mức độ trầm trọng, Ngânhàng sẽ mất khả năng chi trả và có nguy cơ bị phá sản.
- Hậu quả đối với khách hàng: Quyền lợi của khách hàng gửi tiền bị ảnhhưởng, không được đáp ứng kịp thời, đầy đủ khi rút tiền, thậm chí khách hàng
có nguy cơ mất khoản tiền đã gửi Đối với khách hàng vay, rủi ro tín dụngbuộc Ngân hàng áp dụng chính sách thắt chặt tín dụng, điều này sẽ ảnh hưởngđến khả năng tiếp cận vốn cũng như việc mở rộng kinh doanh gặp khó khăn
- Hầu quả đối với nền kinh tế: Hoạt động Ngân hàng là hoạt động mangtính xã hội cao, khi một Ngân hàng bị đỗ vỡ do hậu quả rủi ro tín dụng, sẽ dễtạo phản ứng dây chuyền đối với các tổ chức tín dụng khác Từ đó, dẫn đếncuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, kiềm hãm sự phát triển hay dẫnđến suy thoái kinh tế
1.2 Quản trị rủi ro tín dụng
1.2.1 Khái niệm
Quản trị rủi ro tín dụng là dự kiến, ngăn ngừa và đề xuất biện pháp kiểmsoát các rủi ro nhằm loại bỏ, giảm nhẹ hoặc chuyển chúng sang một tác nhânkhác tạo điều kiện sử dụng tối ưu nguồn lực của doanh nghiệp
Từ các định nghĩa chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tíndụng như sau:
Rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay trễ hẹn hoặc tồi tệ hơn là khôngthanh toán trong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãiphát sinh
Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng
và giảm giá trị thị trường của vốn Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫnđến phá sản
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của quản trị rủi ro tín dụng
- Nguyên tắc chấp nhận rủi ro
Trang 24Nhà quản trị ngân hàng phải chấp nhận rủi ro ở mức độ cho phép nếunhư mong muốn có được mức thu nhập phù hợp từ hoạt động nghiệp vụ củamình, việc chấp nhận mức độ, loại rủi ro là điều kiện quan trọng để điều tiếtnhững tác động tiêu cực trong quá trình quản trị.
- Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép
Nguyên tắc này đòi hỏi phần lớn rủi ro trong “gói rủi ro cho phép” phải
có khả năng điều tiết trong quá trình quản trị mà không phụ thuộc vào hoàncảnh khách quan và chủ quan của nó, ngoài ra đối với các loại rủi ro không cókhả năng điều chỉnh cần phải được chuyển đẩy sang các công ty bảo hiểm
- Nguyên tắc quản trị độc lập các rủi ro riêng biệt
Một trong những nguyên lý cơ bản của lý thuyết quản trị rủi ro là cácloại rủi ro khá độc lập với nhau và sự thiệt hại do một loại nào đó nằm trong
“gói rủi ro cho phép” gây nên không nhất thiết sẽ làm tăng xác suất xảy ra vớicác loại rủi ro khác Không thể gộp các loại rủi ro khác nhau vào một nhóm
để đưa ra cùng một phương pháp điều hành
- Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và thu nhập mong đợicủa ngân hàng
Nguyên tắc này là nền tảng của lý thuyết quản trị rủi ro, tất cả các loạirủi ro có mức độ cao hơn mức độ thu nhập mong đợi cần phải được loại bỏ
- Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chínhGiá trị thiệt hại mà ngân hàng mong muốn từ những khoản rủi ro phảiphù hợp với phần vốn mà ngân hàng phải trích dự phòng khi có thiệt hại xảy
ra Khi rủi ro xảy ra, nó kéo theo sự thiệt hại về thu nhập, giảm tiềm năng lợinhuận và nhịp độ phát triển của ngân hàng trong tương lai
- Nguyên tắc hiệu quả kinh tế
Mục đích cơ bản của việc quản trị rủi ro ngân hàng là điều tiết những tácđộng tiêu cực của rủi ro khi xảy ra Cùng với điều này, chi phí của ngân hàng
Trang 25bỏ ra để điều tiết phải thấp hơn giá trị thiệt hại do những rủi ro ngân hàng cókhả năng xảy ra và thậm chí ở mức độ giá trị cao nhất khi chúng xảy ra
- Nguyên tắc hợp lý về thời gian
Thời gian tồn tại của một nghiệp vụ ngân hàng càng lâu thì biên độ xảy
ra rủi ro càng lớn, khả năng điều tiết những tác động tiêu cực của nó và tínhkinh tế của quản trị rủi ro càng thấp Khi bắt buộc phải tồn tại các nghiệp vụnày thì ngân hàng phải đảm bảo mức độ thu nhập phụ trội cần thiết không chỉ
vì lợi nhuận mà còn vì mục đích bù đắp những chi phí để điều tiết tác độngcủa rủi ro trong trường hợp chúng xảy ra
- Nguyên tắc phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng
Hệ thống quản trị rủi ro cần phải được dựa trên nền tảng những tiêu chíchung của chiến lược phát triển ngân hàng cũng như các chính sách điều hànhtừng hoạt động riêng biệt của ngân hàng
- Nguyên tắc chuyển đẩy các rủi ro không cho phép
Các rủi ro không tương thích với khả năng của ngân hàng trong việc điềutiết những hậu quả tiêu cực khi chúng xảy ra hay không phù hợp với nhữngyêu cầu cụ thể của chiến lược và chính sách điều hành hoạt động của ngânhàng phải được loại bỏ khỏi “ gói rủi ro cho phép”
1.2.3 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng:
Quy trình quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêngcủa một Ngân hàng luôn tuân theo trình tự bốn bước cụ thể như sau:
Mục đích của quản trị rủi ro tín dụng là phòng ngừa và hạn chế rủi ro đểrủi ro thực tế xảy ra ở mức thấp nhất mà mỗi một NHTM có thể chấp nhậnđược trong kinh doanh tín dụng của mình
Quy trình quản trị rủi ro tín dụng phải được xây dựng thành một chươngtrình hoàn chỉnh từ khâu nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro và
hỗ trợ rủi ro
Trang 261.2.3.1 Nhận dạng rủi ro tín dụng
+ Khái niệm: Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục, có hệ thốngcác rủi ro trong hoạt động kinh doanh của tổ chức, bao gồm việc theo dõi,xem xét , nghiên cứu môi trường và toàn bộ hoạt động của tổ chức nhằmthống kê được tất cả rủi ro xảy ra trong thời gian dài Để từ đó đưa ra nhữngdấu hiệu rủi ro nhằm cảnh báo cho ngân hàng và tiếp tục dự báo những dạngrủi ro mới xuất hiện
+ Các phương pháp nhận dạng rủi ro tín dụng
* Phương pháp nhận dạng rủi ro bằng các dấu hiệu cảnh báo khoản tíndụng có vấn đề Thứ nhất, từ khách hàng vay vốn (tình hình tài chính mất cânđối, lịch sử trả nợ hay chậm trễ…) Thứ hai, từ ngân hàng cho vay (quy trình chovay không đảm bảo, giải ngân khi chưa đầy đủ chứng từ chứng minh mụcđích…)
* Phương pháp lập bảng điều tra – thiết lập bảng kê:
Bằng việc lập ra các bảng điều tra, ngân hàng đưa ra các nghi vấn về cácyếu tố có thể gây ra tổn thất trong quy trình cho vay, thu thập thông tin từkhách hàng để có thể tìm hiểu được nguyên nhân gây ra rủi ro, rủi ro bắtnguồn ở khâu nào trong quy trình cũng như những yêu cầu, mong muốn từphía khách hàng được điều tra Từ đó đưa ra những dự đoán về tính chấtnghiêm trọng và hậu quả của rủi ro để có những biện pháp nhằm hạn chế vàphòng tránh
* Phương pháp phân tích các tổn thất:
Các số liệu thống kê cho phép nhà quản trị rủi ro đánh giá các xu hướngcủa các tổn thất mà tổ chức đã trải qua và so sánh kinh nghiệm này với các tổchức khác
* Phương pháp tham khảo ý kiến, thu thập thông tin từ nhiều nguồnkhác nhau:
Trang 27Một cách nữa để nhận dạng rủi ro của tổ chức là thông qua các giao tiếpthường xuyên và có hệ thống với các bộ phận khác trong tổ chức.
Để có được nguồn thông tin đa dạng, chính xác, nhanh chóng để đáp ứngyêu cầu trong hoạt động của mình, ngân hàng sẽ tiến hành thu thập thông tin từnhiều nguồn khác nhau, có thể là từ khách hàng cung cấp, từ các tạp chí kinh tế,tạp chí tài chính - ngân hàng hay thực hiện việc điều tra thông tin tín dụng từCIC Giúp ngân hàng có cái nhìn tổng quát, chính xác về mọi mặt của kháchhàng vay vốn, khắc phục những rủi ro do thông tin bất đối xứng là nguyên nhânchính gây ra sự lựa chọn đối nghịch, bảo vệ lợi ích của ngân hàng
1.2.3.2 Đo lường rủi ro tín dụng
+ Khái niệm
Đo lường rủi ro tín dụng tức là tính toán ra con số cụ thể về mức độ rủi
ro mà ngân hàng đang đối mặt và tính toán những tổn thất mà RRTD gây ra
Đo lường rủi ro để xác định được mức rủi ro có thể chấp nhận được và giúpNHTM tìm biện pháp giảm thiểu rủi ro, loại bỏ hoặc chuyển hoá rủi ro
Khi phân tích đo lường rủi ro sẽ hỗ trợ cho NHTM ra quyết định cấp tíndụng, giám sát và đánh giá khách hàng có các khoản tín dụng còn dư nợ, chophép NHTM lường trước được những dấu hiệu rủi ro và có biện pháp xử lýrủi ro kịp thời, đồng thời cũng giúp NHTM tự trích lập DPRR cho các khoảnvay có dấu hiệu không thu hồi được gốc, lãi được phân loại từ nhóm 2 đếnnhóm 5 theo tỷ lệ quy định tại QĐ số 493/QĐ-2005-NHNN ngày 22/4/2005của Thống đốc NHNN Việt Nam
+ Một số mô hình đo lường rủi ro tín dụng
* Mô hình chất lượng – mô hình 6C (mô hình đo lường định tính)
+ Tư cách của người vay (Character): CBTD phải có được những bằngchứng cho thấy khách hàng có mục đích vay vốn rõ ràng và có thiện chí trả nợkhi đến hạn Khi mục đích xin vay đã rõ ràng, Ngân hàng phải xác định xem
có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của Ngân hàng hay không Tinh
Trang 28thần trách nhiệm, tính trung thực, mục đích rõ ràng và thiện chí trả nợ củakhách hàng gọi chung là “tư cách người vay”
+ Năng lực của người vay (Capacity): CBTD phải chắc chắn rằng kháchhàng vay phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồngtín dụng
+ Thu nhập của người vay (Cashflow): Để đánh giá thu nhập của kháchhàng được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích các thông tin kế toán và cácthông tin khác nhằm đưa ra những kết luận chính xác về điểm mạnh, điểm yếutrong quá trình hoạt động Điều này thực hiện thông qua việc phân tích nhómcác chỉ tiêu như: nhóm chỉ tiêu thanh khoản, nhóm chỉ tiêu hoạt động, nhómchỉ tiêu đòn bẩy, nhóm chỉ tiêu sinh lời
+ Bảo đảm tiền vay (Collateral): khi đánh giá tài sản đảm bảo tiền vay,CBTD phải đặt câu hỏi: người vay có sở hữu một tài sản nào với giá trị ròngtương xứng với khoản vay không ? CBTD phải đặc biệt chú ý đến những yếu
tố nhạy cảm như: tuổi thọ, điều kiện, và mức độ chuyên dụng của tài sảnngười vay Khía cạnh công nghệ cũng đặc biệt chú ý, bởi vì nếu tài sản củangười vay có công nghệ lạc hậu, thì giá trị giảm rất nhiều và rất khó tìm ngườimua trong khi công nghệ lại thay đổi hằng ngày
+ Các điều kiện (Conditions): CBTD phải biết được xu hướng hiện hành
về công việc kinh doanh và ngành nghề kinh doanh của người vay, cũng nhưkhi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến khoản vay
+ Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi củapháp luật và quy chế có ảnh hưởng xấu đến khách hàng vay không ? kháchhàng có đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng tín dụng do các cơ quan quản lýNgân hàng đặt ra không?
Sau khi đánh giá tiêu chí 6 C của khách hàng, bước tiếp theo là Ngânhàng phân tích hợp đồng tín dụng có được ký kết một cách đúng đắn và hợp
Trang 29lệ, nhằm bảo vệ được Ngân hàng và người đi vay có khả năng hoàn trả nợ vay
mà không cần đến một sức ép nào? Điều này đòi hỏi trước hết là nội dung hợpđồng tín dụng phải đáp ứng được nhu cầu vốn của người vay theo một kếhoạch trả nợ thích hợp Do vậy, CBTD phải có khả năng cố vấn tài chính chokhách hàng, đồng thời hướng dẫn khách hàng trong việc lập đơn xin vay.Một hợp đồng tín dụng hợp lệ phải bảo vệ được quyền lợi của Ngân hàngbằng cách quy định những điều khoản giới hạn hoạt động của người vay, nếuhoạt động này đe dọa khả năng thu hồi vốn vay của Ngân hàng Quá trìnhcưỡng chế thu hồi nợ vay cũng phải được quy định cụ thể và rõ ràng trong hợđồng tín dụng Đồng thời, Ngân hàng có thể đòi nợ thuận lợi hơn thông quatài sản đảm bảo ?
Việc Ngân hàng nhận tài sản đảm bảo tín dụng nhằm hai mục đích là:thứ nhất, nếu người vay không trả nợ theo quy định, thì Ngân hàng có quyền
xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ; thứ hai, nhận đảm bảo tín dụng tạo choNgân hàng lợi thế tâm lý so với người vay Bởi vì một tài sản khi đã dùng đểđảm bảo cho khoản vay, buộc người vay phải có trách nhiệm nhiều hơn trongviệc hoàn trả nợ vay để khỏi phải tổn thất những tài sản có giá trị của mình.Khi nhận đảm bảo tín dụng, Ngân hàng phải xác định rõ ràng và chínhxác những tài sản nào là đối tượng có thể gán nợ và có thể chuyển nhượngđược, đồng thời phải chứng minh bằng văn bản cho các chủ nợ khác biết rằngmình là người hợp pháp, có quyền chiếm đoạt tài sản nếu như người vaykhông trả được nợ Ngân hàng sẽ được xếp thứ tự ưu tiên về quyền đối với tàisản so với chủ nợ khác và ngay cả với chủ sở hữu
Ngoài việc sử dụng mô hình định tính để phân tích, đánh giá rủi ro tíndụng thì Ngân hàng còn xây dựng mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng nhằmxác định mức độ xảy ra rủi ro và khả năng chống đỡ của Ngân hàng Một số
mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng thường được sử dụng
Trang 30Mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng
Mô hình 1: Mô hình điểm Z (Z - Credit scoring model)
Đây là mô hình do E.I Altman dùng để cho điểm tín dụng đối với cácdoanh nghiệp vay vốn Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loạirủi ro tín dụng đối với người đi vay và phụ thuộc vào:
Trị số của các chỉ số tài chính của người vay
Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợngười vay trong quá khứ Từ đó Altman xây dựng mô hình điểm Z như sau:
Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5Trong đó:
X1: Hệ số vốn lưu động/trên tổng tài sản
X2: Hệ số lãi chưa phân phối/tổng tài sản
X3: Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản
X4: Hệ số giá thị trường của tổng vốn sở hữu/giá trị hạch toán của nợ.X5: Hệ số doanh thu/tổng tài sản
Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp Ngượclại, trị số Z càng thấp hoặc là một số âm thì khách hàng có nguy cơ vỡ nợ cao.Theo mô hình điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số thấphơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro cao
Một số vấn đề đang sử dụng trong mô hình điểm số Z
- Mô hình này chỉ cho phép phân loại khách hàng thành hai nhóm “Vỡnợ” và “không vỡ nợ” Trong thực tế, mức độ rủi ro tiềm năng của mỗi kháchhàng khác nhau từ không trả hay chậm trể trong việc trả lãi tiền vay, đến việckhông hoàn trả nợ gốc và lãi vay Vấn đề đặt ra cần có một mô hình cho điểmchính xác hơn, toàn diện hơn theo nhiều thang điểm để phân loại khách hàngthành nhiều nhóm tương ứng với các mức độ vỡ nợ khác nhau
Trang 31- Không có quan điểm kinh tế rõ ràng để giải thích rằng các thông sốphản ánh tầm quan trọng của các chỉ số trong công thức là bất biến, dù làtrong ngắn hạn Tương tự, bản thân các chỉ số được chọn (Xj) cũng khôngphải là bất biến, đặc biệt khi điều kiện thị trường và kinh doanh thường xuyênthay đổi Ngoài ra, mô hình biệt số tuyến tính cho rằng các biến Xj không phụthuộc lẫn nhau.
- Mô hình không tính đến một số nhân tố quan trọng khó định lượng,nhưng lại ảnh hưởng đáng kể đến mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng(danh tiếng của khách hàng, mối quan hệ truyền thống giữa khách hàng vàNgân hàng, hay các yếu tố vĩ mô như chu kỳ kinh tế, chu kỳ kinh doanh).Những biến này thường không đề cập trong mô hình điểm số tín dụng Mặtkhác, mô hình điểm số tín dụng truyền thống thường không sử dụng các thôngtin đại chúng như: giá cả thị trường của các tài sản tài chính
Mô hình 2: Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Mô hình này áp dụng đối với tín dụng tiêu dùng Các yếu tố quan trọngliên quan đến khách hàng sử dụng mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: Hệ
số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà,điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác…
Mô hình loại bỏ được sự phán xét chủ quan trong quá trình cho vay vàgiảm đáng kể thời gian ra quyết định tín dụng của Ngân hàng Tuy nhiên, môhình này cũng có một số nhược điểm như không thể tự điều chỉnh một cáchnhanh chóng để đáp ứng những thay đổi trong nền kinh tế và cuộc sống giađình Mô hình không linh hoạt có thể ảnh hưởng đến tín dụng tiêu dùng củaNgân hàng, làm ảnh hưởng lòng tin của cộng đồng vào dịch vụ Ngân hàng
Mô hình 3: Mô hình xếp hạng tín dụng của Moody’s và Standard & Poor’sĐối với các công ty, tổ chức: kết quả xếp hạng hệ số tín nhiệm có ảnhhưởng rất lớn đến sự thành công của việc phát hành trái phiếu, nhất là khi
Trang 32phát hành trái phiếu ra nước ngoài, cũng như việc xác định lãi suất trái phiếu(hệ số tín nhiệm càng cao thì lãi trái phiếu càng thấp và ngược lại) Thiếu sựxác định hệ số tín nhiệm, thị trường trái phiếu dài hạn của các công ty chưathể phát triển được Đối với các nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư tổ chức, chuyênnghiệp, ngoài việc căn cứ vào hệ số tín nhiệm để quyết định mua trái phiếu,
họ còn dùng hệ số tín nhiệm của trái phiếu của công ty đó để làm căn cứ đểquyết định có đưa cổ phiếu của công ty đó vào danh mục đầu tư của mình haykhông Theo đó, cổ phiếu của những công ty có trái phiếu được xếp hạng hệ
số tín nhiệm thấp (từ BB hay Ba trở xuống) thường không được lựa chọn.Những đánh giá này được chuẩn bị bởi một số dịch vụ xếp hạng tư nhântrong đó Moody’s và Standard & Poor’s là những dịch vụ tốt nhất
Bảng 1.1: Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor
Moody’s
Xếp hạng Tình trạng
Standard
& Poor’
Xếp hạng Tình trạngAaa Chất lượng cao nhất AAA Chất lượng cao nhất
A Chất lượng vừa cao hơn A Chất lượng vừa cao hơn
Ba Nhiều yếu tố đầu cơ BB Chất lượng vừa thấp hơn
CCC-CC
Đầu cơ có rủi ro cao
Ca Đầu cơ có rủi ro cao C Trái phiếu có lợi nhuận
C Chất lượng kém nhất DDD-D Không hoàn được vốnCác bước thực hiện đánh giá và xếp hạng doanh nghiệp
Bước 1: Xác định qui mô doanh nghiệp: Bao gồm tiêu thức về vốn, tiêu
thức về doanh thu, tiêu thức về nghĩa vụ thuế, tiêu thức về lao động
Bước 2: Đánh giá các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính
+ Đánh giá các chỉ tiêu tài chính: Bao gồm các chỉ tiêu được xem xét như khả năng thanh khoản, hiệu quả hoạt động, khả năng trả nợ, thu nhập Do
Trang 33các ngành nghề khác nhau nên khi đánh giá phải dựa vào ngành và qui môdoanh nghiệp.
+ Phi tài chính: Về môi trường kinh doanh, các yếu tố đầu vào - đầu ra, mối
quan hệ của khách hàng, bằng cấp của giám đốc, kinh nghiệm kinh doanh…
Bước 3: Tổng hợp kết quả điểm về xếp hạng doanh nghiệp
* Mô hình chấm điểm tín dụng tiêu dùng
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hìnhcho điểm tín dụng tiêu dùng bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tàisản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, giấy thông báo điện, điện thoại
cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác Đối với Moody’s xếp hạngcao nhất từ Aaa nhưng với Standard & Poor’s thì cao nhất là AAA Việc xếphạng giảm dần từ Aa (Moody’s) và AA (Standard & Poor’s) sau đó thấp dần
để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao Trong đó, chứng khoán trong 4loại đầu được xem như loại chứng khoán nên đầu tư, còn các loại chứngkhoán bên dưới được xếp hạng rác rưởi (junk) Nhưng do có mối quan hệ giữarủi ro và lợi nhuận nên tuy việc xếp hạng thấp (rủi ro không hoàn vốn cao)nhưng có lợi nhuận cao nên đôi lúc khách hàng chấp nhận đầu tư vào các loạichứng khoán này
Các mô hình xếp hạng doanh nghiệp trên có độ tin cậy cao do các tổchức xếp hạng này có uy tín, do đó Ngân hàng có thể sử dụng ngay kết quả
xếp hạng này để quyết định cấp tín dụng Tuy nhiên, các mô hình này phổ
biến ở các nước phát triển, nơi mà thị trường vốn phát triển
Mô hình 4: Mô hình dự đoán xác suất vỡ nợ
Theo Basel II, các Ngân hàng sẽ sử dụng các mô hình dựa trên hệ thống
dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng Các Ngân hàng sẽ xácđịnh các biến số như: PD - Probability of Default: xác suất khách hàng khôngtrả được nợ; LGD - Loss Given Default: tỷ trọng tổn thất ước tính; EAD -
Trang 34Exposure at Default: tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàngkhông trả được nợ Thông qua các biến số trên, Ngân hàng sẽ xác định được
EL - Expected Loss: tổn thất có thể ước tính Với mỗi kỳ hạn xác định, tổnthất có thể ước tính được tính toán dựa trên công thức sau:
EL = PD x EAD x LGDNếu mỗi khoản vay được xem như là một phép thử, nếu có số liệu thống
kê rủi ro đầy đủ chúng ta có thể xác định một cách tương đối chính xác xácsuất bị rủi ro của từng loại tài sản của Ngân hàng trong từng thời kỳ, từng loạihình tín dụng, tình lĩnh vực đầu tư
Cơ sở để NH xác định PD là các số liệu về các khoản nợ trong quá khứcủa KH bao gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ khôngthu hồi được Theo Basel II cần những nhóm dữ liệu sau (ít nhất 5 năm trước
Nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến hiện tượng báo hiệu khảnăng không trả được nợ cho NH như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi Tiếptheo là việc sử dụng các mô hình để đưa ra xác suất vỡ nợ của KH
Riêng cho vay hạn mức tín dụng thì EAD = Dư nợ bình quân + LEQ *Hạn mức tín dụng chưa sử dụng) với LEQ (LEQ - Loan EquivalentExposure): Tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng có nhiều khả năng sẽ được kháchhàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ
LGD (Loss Given Default): Tỷ trọng tổn thất tín dụng ước tính là tỷtrọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm KH không trả được nợ
Trang 35bao gồm các chi phí hành chính có thể phát sinh khi xử lý TSĐB LGD =(EAD - số tiền có thể thu hồi)/EAD Hiện nay có ba phương pháp tính LGD:+ Market LGD- tỷ trọng tổn thất căn cứ vào thị trường
+ Workout LGD- tỷ trọng tổn thất căn cứ vào việc xử lý các khoản tíndụng không trả được nợ
+ Implied Market LGD- tỷ trọng tổn thất xác định dựa vào giá các tráiphiếu trên thị trường
Việc đo lường tổn thất tín dụng dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu đánh giánội bộ- IRB là xu thế tất yếu của các NHTM Việt Nam trong quá trình hộinhập Nhưng việc tính toán PD, LGD, EAD luôn sức phức tạp, đòi hỏi NHphải có một cơ sở dữ liệu đầy đủ, được lưu trữ khoa học với những chươngtrình phần mềm xử lý dữ liệu hiện đại, xác định cho được các số liệu khôngphải đơn giản bởi số liệu thông tin phải có cả một quá trình thu thập, xử lý,lưu trữ Những người làm công tác này cũng phải có năng lực nhất định và kỹthuật xử lý số liệu thế nào để việc truy xuất được một cách khoa học, phục vụtốt cho công tác quản trị RRTD nhất là việc xây dựng hệ thống xếp hạng tíndụng nội bộ Việc triển khai giải pháp này đòi hỏi các NHTM phải đầu tưnguồn lực về tài chính, con người, thời gian rất khổng lồ và đặc biệt phải cómột lộ trình khoa học
Tóm lại: Mỗi mô hình đều có những ưu điểm và nhược điểm cũng nhưcác điều kiện để áp dụng khác nhau Tùy theo điều kiện của mình mà cácNgân hàng có thể áp dụng mô hình thích hợp nhằm giúp CBTD và nhân viênquản lý rủi ro ước tính rủi ro tín dụng để có quyết định phù hợp
Ngày nay, các Ngân hàng thông qua việc đánh giá và đo lường rủi ro tíndụng nhằm lượng hóa các rủi ro cũng như biết được xác suất xảy ra rủi ro,mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra để xem xét khả năng chấp nhận nó của Ngânhàng, và từ đó ra quyết định một cách đúng đắn nhất Nếu việc đo lường đượcchính xác, biết được mức độ rủi ro sẽ cho phép ngân chủ động trong việc theo
Trang 36dõi, đối phó và kiểm soát bằng những biện pháp được tính toán trước khi rủi
ro xảy ra
Hiện nay, có các phương pháp để đánh giá và đo lường rủi ro tín dụngnhư sau:
-Phương pháp chuyên gia: Thu thập ý kiến đánh giá của các chuyên gia
có kinh nghiệm, hiểu biết chuyên sâu về các vấn đề của rủi ro tín dụng vàcông tác quản trị rủi ro, có thể tham khảo ý kiến của họ để việc đo lường hiệuquả hơn
-Phương pháp thống kê: Ngân hàng dựa trên các dữ liệu đã được thuthập, phân tích, thống kê, lưu trữ trong quá khứ và hiện tại để tính toán xácxuất xuất hiện rủi ro, mức độ thiệt hại đối với nghiệp vụ được nghiên cứu lấy
đó làm bài học kinh nghiệm, những cảnh báo cho những quyết định trongtương lai của Ngân hàng
-Phương pháp tính toán - phân tích: Phương pháp này được xây dựngtrên cơ sở xây dựng các đường cong thiệt hại và đánh giá rủi ro dựa trên độngthái biến thiên của đồ thị toán ứng dụng bằng phương pháp ngoại suy Tuynhiên, hiện nay trên thực tế chưa áp dụng phương pháp này trong lĩnh vựcđánh giá rủi ro tài chính, rủi ro tín dụng và những rủi ro khác trên cơ sở toánứng dụng vì về mặt lý thuyết chưa được hoàn thiện
Một số chỉ số thường được sử dụng để đánh giá rủi ro tín dụng:
Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = Tuy nhiên, nợ quá hạn chưa phải là tổn thất của Ngân hàng, đây vẫn làchỉ tiêu gián tiếp, bởi vì không phải tất cả các khoản nợ quá hạn đều dẫn đếntổn thất
Tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu = x 100%
Trang 37Nợ xấu ( NPL) là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 quy định tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng.
Theo quy định của NHNN tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày
22/04/2005 của Thống đốc NHNN “ Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD”,
TCTD thực hiện phân loại nợ thành 5 nhóm:
Nhóm 1 ( Nợ đủ tiêu chuẩn), bao gồm:
+ Các khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là có đủ khả năng thu hồiđầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn
+ Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh giá là có khả năngthu hồi đầy đủ gốc và lãi quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạncòn lại
+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 1 theo quy định
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý), bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn đã
cơ cấu lại
+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 2 theo quy định
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 90-180 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thờihạn đã cơ cấu lại
+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 3 theo quy định
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 181 - 360 ngày
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
Trang 38+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 4 theo quy định.
+ Các khoản nợ khác được phân vào nhóm 5 theo quy định
Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và IAS39 vừa được
Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế cho ra đời và được khuyến cáo áp dụng ởmột số nước phát triển vào đầu năm 2005 Về cơ bản IAS 39 chỉ chú trọngđến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90ngày hoặc chưa quá hạn Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của kháchhàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạngkhoản vay Như vậy có thể nói rằng việc phân loại nợ tại Quyết định493/2005/QĐ-NHNN được coi là sát với thông lệ quốc tế
Nợ xấu (nợ có vấn đề) là các khoản tín dụng có nguy cơ không thể thuhồi và đây là biểu hiện của rủi ro tín dụng Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ cáckhoản vay khó thu hồi đầy đủ trên tổng các khoản cho vay của Ngân hàng.Chỉ tiêu này thấp thể hiện rủi ro tín dụng của Ngân hàng thấp và các kế hoạchcủa Ngân hàng sẽ được thực hiện tốt Ngược lại rủi ro tín dụng của Ngân hàngcao, điều này ảnh hưởng đến chi phí, lợi nhuận cũng như tính thanh khoản củaNgân hàng
Tỷ lệ nợ xóa ròng:
Tỷ lệ nợ xóa ròng =
Tỷ lệ nợ xóa ròng trên tổng dư nợ: Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu chưa phải là căn
cứ tin cậy để đánh giá mức độ rủi ro mà Ngân hàng phải đối mặt Thực tế, cónhững hợp đồng vốn do những nguyên nhân nào đó không thực hiện việc trả
nợ kịp thời (đúng theo hợp đồng), nhưng Ngân hàng vẫn có thể thu hồi đầy đủ
Trang 39số nợ này Xóa nợ ròng là một khoản cho vay không còn giá trị và Ngân hàng
đã đưa ra khỏi sổ sách (theo dõi ngoại bảng) được gọi là khoản cho vay đượcxóa Nếu một trong những khoản cho vay đó mà cuối cùng Ngân hàng thuđược thì khoản thu nhập đó sẽ khấu trừ tổng các khoản xóa nợ tạo thànhkhoản xóa nợ ròng Khoản xóa nợ ròng là mức tổn thất thật sự, phản ánh mứcrủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Do vậy, để đánh giáchính xác hơn về mức độ rủi ro, người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ nợ xóa ròng.Nếu tỷ lệ này càng cao, điều này cho thấy hoạt động tín dụng của Ngân hàng
có vấn đề, bị tổn thất lớn, danh mục cho vay có chất lượng thấp và nguy cơphá sản cao
Hệ số rủi ro tín dụng
Hệ số rủi ro tín dụng =
Hệ số này cho thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có,khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưngđồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao
Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng =
Chỉ tiêu này phản ảnh khả năng chống đỡ của Ngân hàng cho các khoản tổnthất tín dụng, chủ động đối phó với các khoản tổn thất dự kiến thông qua việc lậpquĩ dự phòng rủi ro hàng năm Trích lập dự phòng dựa trên cơ sở phân loại nhóm
nợ Chỉ tiêu này càng lớn thể hiện danh mục cho vay của Ngân hàng có nhữngrủi ro tiềm ẩn lớn
Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng =
Chỉ tiêu này cho biết, trong 100 đồng vốn Ngân hàng cho khách hàng vaythì trung bình Ngân hàng đã có bao nhiêu đồng vốn dự phòng cho tổn thất cóthể xảy ra Chỉ tiêu này nói lên sự chuẩn bị của Ngân hàng cho các khoản tổnthất tín dụng thông qua việc lập quĩ dự phòng rủi ro hàng năm từ thu nhập hiện
Trang 40tại Trích lập dự phòng dựa trên cơ sở phân loại nhóm nợ Chỉ tiêu này càng lớnthể hiện danh mục cho vay của Ngân hàng có những rủi ro tiềm ẩn lớn.
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, số tiền dự phòng cụ thể phảitrích được tính theo công thức sau: R = max {0, (A - C)} x r
Trong đó:
R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A: giá trị của khoản nợ
C: giá trị của tài sản bảo đảm
r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
Tỷ lệ trích lập dự phòng (r) đối với các nhóm nợ 1,2,3,4,5 tương ứng là0%, 5%, 20%, 50% và 100% so với giá trị khoản nợ sau khi đã trừ đi giá trịcủa TSĐB Tài sản bảo đảm đưa vào để khấu trừ khi tính số tiền dự phòng cụthể phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
+ Tổ chức tín dụng có quyền phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồngbảo đảm khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết;
+ Thời gian tiến hành phát mại tài sản bảo đảm theo dự kiến của tổ chứctín dụng là không quá một (01) năm đối với tài sản bảo đảm không phải là bấtđộng sản và không quá hai (02) năm đối với tài sản bảo đảm là bất động sản,
kể từ khi bắt đầu tiến hành việc phát mại tài sản bảo đảm
Trường hợp tài sản bảo đảm không đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêutrên hoặc không phát mại được, giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm đó (C)quy định tại Khoản 1 Điều này phải coi là bằng không (0)
* Giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm (C) được xác định trên cơ sở tích
số giữa tỷ lệ khấu trừ với:
Giá trị thị trường của vàng tại thời điểm trích lập dự phòng cụ thể;
Mệnh giá của trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc và các loại giấy tờ
có giá, trừ trái phiếu của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp;