1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại thành phố đà nẵng

99 596 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại thành phố Đà Nẵng
Thể loại Đề tài luận văn
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại thành phố đà nẵng

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1.Tính cấp thiết của đề tài 4

2.Tình hình nghiên cứu đề tài 6

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu đề tài 7

3.1 Mục đích nghiên cứu 7

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

3.3 Đối tượng nghiên cứu 8

3.4 Phạm vi nghiên cứu 8

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8

5 Điểm mới của đề tài 8

6 Ý nghĩa của luận văn 9

7 Kết cấu đề tài luận văn 9

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 10

1.1 Khái niệm người chưa thành niên và tuổi chịu trách nhiệm hình sự 10

1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản 13

1.3 Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội cướp giật tài sản 17

1.4 Các yếu tố tác động đến hiệu quả phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ THỰC TIỄN PHÒNG NGỪA TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2012 30

2.1 Tình hình tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012 30

Trang 2

2.1.1 Phần hiện của tình hình tội cướp giật tài sản do người chưa thànhniên thực hiện tại thành Phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012 30

2.1.1.1 Thực trạng (mức độ) của tình hình cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012

32

2.1.1.2 Động thái (diễn biến) của tình hình cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012 38

2.1.1.3 Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012 .45

2.1.1.4 Tính chất của tình hình tội cướp giật tài sản do người chưathành niên phạm tội thực hiện từ năm 2008 đến 2012 502.1.2 Phần ẩn của tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thựchiện tại thành phố Đà Nẵng từ 2008 đến 2012 522.1.3 Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản do ngườichưa thành niên thực hiện tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012 .562.2 Thực tiễn phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thựchiện tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012 682.2.1 Thực tiễn phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thànhniên thực hiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012 682.2.2 Những hạn chế bất cập trong việc phòng ngừa và nguyên nhân củahạn chế đó 72

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76 CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG NGỪA TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN TỚI 77

Trang 3

3.1 Dự báo về tình hình tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực

hiện tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới 77

3.1.1 Cơ sở dự báo 77

3.1.2 Nội dung dự báo 78

3.2 Các biện pháp phòng ngừa tội cướp giật tài sản 79

3.3 Các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại thành phố Đà Nẵng 84

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 93

KẾT LUẬN 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 4

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Đà Nẵng là thành phố thuộc vùng Nam Trung Bộ, Việt Nam Đây là trungtâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ lớn của khu vực miềnTrung - Tây Nguyên.Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764 km về phíaBắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam Phía Bắc Đà Nẵng giápvới tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Nam và phía Tây giáp với tỉnh Quảng Nam, phíaĐông giáp với biển Đông.Thành phố Đà Nẵng nằm trong vùng trọng điểm kinhtế của đất nước và là thành phố lớn thứ ba trong cả nước

Thành Phố Đà Nẵng là thành phố trực thuộc trung ương với nhiều tiềmnăng, phát triển mạnh mẽ cả về kinh tế, chính trị và văn hóa

Tuy nhiên, song song với sự phát triển chung của thành phố, Đà Nẵng cũngphát sinh nhiều mặt trái của nó, đó là: tệ nạn xã hội kéo theo, đặc biệt là giớingười chưa thành niên, một lớp người rất nhạy bén trong việc tiếp cận xã hội,tâm sinh lý phát triển chưa hoàn chỉnh, thích làm người lớn, dễ ảnh hưởng từthói hư tật xấu của những người xung quanh

Tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tội thực hiện tạiThành Phố Đà Nẵng gia tăng trong thời gian qua: tổng số vụ cướp giật tài sản

do người chưa thành niên phạm tội từ năm 2008 đến năm 2012 có tổng số 80 vụvới tổng số bị cáo là 126 người

Tình hình tội phạm của người chưa thành niên phạm tội cướp giật tài sảndiễn biến hết sức phức tạp: Hành vi, phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càngtinh vi, liều lĩnh, chuyên nghiệp, phạm tội có tổ chức Tội cướp giật tài sản dongười chưa thành niên phạm tội lập thành băng nhóm với mức độ ngày càngnghiêm trọng, gây lo lắng trong quần chúng nhân dân

Hiện nay trên các quận, huyện Thành Phố Đà Nẵng, tình hình tội cướp giậttài sản do người chưa thành niên phạm tội thực hiện khá liều lĩnh, bọn chúngkhông chỉ thực hiện vào ban đêm nơi vắng người qua lại mà bọn chúng cònthực hiện cả vào ban ngày, nơi đông người, gây ra tình trạng xôn xao trong dư

Trang 5

luận, gây lo lắng cho quần chúng nhân dân, ảnh hưởng không tốt đến tình hình

an ninh trật tự trên toàn địa bàn thành phố

Người chưa thành niên là chủ nhân tương lai của đất nước, là nguồn nhânlực của toàn xã hội Nhưng có một số bộ phận thanh thiếu niên sống buông thả,thích đua đòi, lười học và bị những tác động tiêu cực từ phía gia đình như bố mẹ

ly hôn hoặc những gia đình có người nghiện các chất kích thích…Một số ngườichưa thành niên bị tác động từ môi trường sống ,ăn chơi sa đọa, khi không cótiền tiêu xài thì đi cướp giật tài sản của người khác nhằm thỏa mãn cho nhu cầulợi ích cá nhân mà không nghĩ đến hậu quả, tác hại của nó ảnh hưởng xấu đến xãhội, tác động trực tiếp đến bản thân

Việc phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tộitrong những năm qua có những thay đổi nhất định nhưng vẫn còn nhiều bất cập.Để phòng chống tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tội thì cáccấp, các ngành và toàn xã hội cần quan tâm hơn về người chưa thành niên,tạođiều kiện cho người chưa thành niên có cơ hội học tập và lao động tốt hơn trongmột xã hội hiện đại

Đối với gia đình, cần chú trọng công tác chăm lo giáo dục cũng như quantâm giám sát về tình hình người chưa thành niên nhằm nâng cao chất lượng vềcuộc sống cũng như học tập, vui chơi, giải trí của người chưa thành niên phùhợp với từng lứa tuổi, tránh sự buông lỏng, quản lý lỏng lẽo của một số gia đìnhảnh hưởng tiêu cực tới người chưa thành niên

Để góp phần hiệu quả trong công tác phòng ngừa tội phạm nói chung,tộicướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tội nói riêng tại Thành Phố ĐàNẵng qua việc nghiên cứu có hệ thống từ thực tiễn đến lý luận về việc phòngngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tội Từ đó tìm ra cácnguyên nhân, điều kiện việc phạm tội, tìm ra những yếu kém tồn tại trong côngtác phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện, có cáckiến nghị đề xuất và những giải pháp phòng ngừa để nâng cao hiệu quả công tác

phòng ngừa loại tội phạm này Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Phòng ngừa tội

Trang 6

cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại Thành Phố Đà Nẵng.” làm đề tài Luận văn thạc sỹ luật học của mình.

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tộitrước đây đã có một số tác giả nghiên cứu và đề cập đến như :

1.“ Phòng ngừa thanh, thiếu niên phạm tội - trách nhiệm của gia đình và

xã hội” của tác giả Nguyễn Xuân Yêm

2 “ Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội”

3 Đề tài thạc sỹ năm 2011 “ Người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn thành phố Hà Nội - thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”.

4 Ngoài ra, tội cướp giật tài sản cũng đã được một số tác giả đề cập đến

trong đề tài thạc sỹ của mình như: “Đấu tranh phòng chống tội cướp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên”

5 PGS.TS Trần Đình Nhã - chương XVIII “ trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.”

6 Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hương “ Vi phạm pháp luật của người chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay” - khóa luận tốt nghiệp

năm 2012

7 Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Chí năm 2000 “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu”

Ngoài ra còn có một số giáo trình nghiên cứu về người chưa thành niên

phạm tội đã được đề cập đến như: “ Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam” của Đại học luật Hà Nội năm 2005 “ Luật tố tụng Hình sự ” chương X

Đề tài nghiên cứu phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thànhniên phạm tội là một đề tài hoàn toàn không mới so với các công trình nghiêncứu khác nhưng tại địa bàn thành phố Đà Nẵng cho đến hiện nay, vẫn chưa cómột công trình nghiên cứu nào cụ thể,chuyên sâu và hoàn chỉnh về nguyênnhân,điều kiện và các biện pháp phòng ngừa người chưa thành niên phạm tộicướp giật tài sản

Trang 7

Như vậy, việc nghiên cứu đề tài “Phòng ngừa tội cướp giật tài sản do ngườichưa thành niên thực hiện tại Thành Phố Đà Nẵng” dựa trên những cơ sở lý luậncũng như thực tiễn, đồng thời dựa trên những kế thừa,tiếp thu những lý luận mới đãđược công bố và phát triển trên cơ sở tội phạm học và khoa học điều tra tội phạm.

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu đề tài.

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài hướng vào làm rõ mức độ, diễn biến, tính chất, cơ cấu, của tình hìnhtội cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tội thực hiện tại Thành PhốĐà Nẵng, nguyên nhân và điều kiện của tội phạm đó, từ đó đưa ra những biệnpháp phòng ngừa có hiệu quả loại tội phạm này trên địa bàn thành Phố Đà Nẵngtrong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụnghiên cứu sau đây:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội cướp giật tài sản dongười chưa thành niên thực hiện

- Phân tích khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản

- Phân tích lý luận về tình hình tội phạm và tình hình tội cướp giật tài sản

do người chưa thành niên thực hiện

- Phân tích đánh giá tình hình tội cướp giật tài sản do người chưa thànhniên thực hiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

- Phân tích, đánh giá thực trạng phòng ngừa tội cướp giật tài sản do ngườichưa thành niên phạm tội thực hiện tại Thành Phố Đà Nẵng

- Phân tích nguyên nhân của phòng ngừa tội cướp giật tài sản do ngườichưa thành niên phạm tội thực hiện tại Thành Phố Đà Nẵng

- Dự báo tình hình cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tộithực hiện tại Thành Phố Đà Nẵng

- Đưa ra các biện pháp phòng ngừa trên cơ sở lý luận và thực tiễn có tínhkhả thi nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác phòng ngừa tội cướp giật tài sản

Trang 8

nói chung và tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tội nói riêngthực hiện tại Thành Phố Đà Nẵng.

3.3 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn lấy các quan điểm khoa học và các quy phạm pháp luật hình sự

về tội cướp giật tài sản; các quan điểm khoa học trong tội phạm học về tình hìnhtội phạm,về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, về dự báo tìnhhình tội phạm, về phòng ngừa tội phạm; tình hình tội cướp giật tài sản do ngườichưa thành niên thực hiện trên địa bàn Thành Phố Đà Nẵng từ năm 2008 đếnnăm 2012; thực tiễn phòng ngừa loại tội phạm này trên địa bàn thành phố Đà

Nẵng trong thời gian nói trên làm đối tượng nghiên cứu của mình

3.4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu đề tài chủ yếu dưới góc độ tội phạm học và điều tratội phạm

Các số liệu thống kê trong luận văn được thu thập trên địa bàn thành phốĐà Nẵng trong thời gian từ năm 2008 đến năm 2012

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước, pháp luật vềtội phạm nói chung và phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thànhniên phạm tội nói riêng

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thểnhư: phương pháp hệ thống, lịch sử, lôgíc, phân tích, so sánh, tổng hợp Ngoài

ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả tham khảo ý kiến chuyên gia liên quanđến đề tài

5 Điểm mới của đề tài

Luận văn là một công trình nghiên cứu một cách có hệ thống phân tích,

đánh giá một cách tương đối đầy đủ về tình hình tội phạm, tìm ra những nguyênnhân từ đâu mà người chưa thành niên phạm tội cướp giật tài sản tại Đà Nẵngtrong những năm qua gia tăng

Trang 9

Khắc phục những tồn đọng yếu kém trong công tác quản lý của các ngành,cáccấp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác phòng ngừa tội cướp giật nói chung,đối với tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tội nói riêng.

Dự báo tình hình phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đặc biệtchú trọng đến dự báo tình hình cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạmtội Từ đó, có các biện pháp nâng cao công tác phòng ngừa tốt hơn về tội cướpgiật tài sản do người chưa thành niên phạm tội tại Thành Phố Đà Nẵng trongnhững năm tới

6 Ý nghĩa của luận văn

Về lý luận: Là công trình nghiên cứu một cách toàn diện về tình hình tộicướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại Thành Phố Đà Nẵng.Dựa trên sự phân tích lý luận và tổng kết thực tiễn, công tác đấu tranh phòngngừa tội cướp giật tài sản nói chung, tội cướp giật tài sản do người chưa thànhniên phạm tội nói riêng ,áp dụng luật hình sự, tố tụng hình sự…đưa ra nhữngluận giải, những căn cứ khoa học, để từ đó đưa ra kết luận, kiến nghị có ý nghĩalý luận và thực tiễn trong công tác phòng ngừa tội cướp giật tài sản

Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đề tài có thể tham khảo để xây dựngđường lối, chính sách, quản lý xã hội, nhằm mục đích ngăn chặn và tiến tới đẩylùi tội cướp giật tài sản nói chung, tội cướp giật tài sản do người chưa thành niênphạm tội nói riêng ra khỏi đời sống xã hội Đề tài có thể được dùng làm tư liệutham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập

7 Kết cấu đề tài luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương Chương 1: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội cướp giật tài sản dongười chưa thành niên thực hiện tại thành phố Đà Nẵng

Chương 2: Tình hình tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiệntại thành phố Đà Nẵng và thực tiễn phòng ngừa từ năm 2008 đến năm 2012

Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội cướpgiật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại Thành Phố Đà Nẵng trongthời gian tới

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ

ĐÀ NẴNG 1.1.Khái niệm người chưa thành niên và tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Như chúng ta đã biết con người phải đạt đến độ tuổi nhất định nào đó mới

có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình trong việc ứng

xử và những tình huống trong cuộc sống Con người không thể sinh ra đã cónăng lực trách nhiệm hành chính, dân sự hay hình sự mà năng lực đó được pháttriển và hoàn thiện cùng với sự phát triển và hoàn thiện của các cấu tạo sinh họcở cơ thể con người Như vậy, con người phải trải qua những năm tháng nhấtđịnh mới có được trách nhiệm dân sự hay hình sự

Ở nước ta, theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em “công dân ViệtNam dưới 16 tuổi” (Điều 1) Khái niệm người chưa thành niên được sử dụngtrong Bộ luật lao động, Luật dân sự, Pháp lệnh xử lý các vi phạm hành chính,

Bộ luật tố tụng hình sự và Bộ luật hình sự.Bộ luật lao động quy định : “Ngườilao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” (Điều 119),còn trong

Bộ luật dân sự người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi và người thànhniên là người từ đủ 18 tuổi trở lên (Điều 20)

Nghị định số 141 HĐBT ngày 13/11/1986 của Hội đồng Bộ trưởng (này làChính phủ) ban hành quy chế về buộc phải chịu thử thách đối với người chưathành niên phạm tội, xác định người chưa thành niên là người từ đủ 16 tuổi đếndưới 18 tuổi (Điều 1)

Như vậy là trong pháp luật Việt Nam, người thành niên là người từ đủ 18tuổi trở lên, còn người chưa thành niên là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi.Trẻ

em là người dưới 16 tuổi

Tại Điều 12 Bộ Luật Hình Sự năm 1999 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi trởlên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rấtnghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Người từ đủ 16 tuổitrở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm” Ở đây, chúng ta thấy

Trang 11

xuất hiện khái niệm “trách nhiệm hình sự”.Vậy trách nhiệm hình sự là gì? Nóimột cách đơn giản thì trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên là tráchnhiệm phải gánh chịu các biện pháp xử lý về hành vi nguy hiểm cho xã hội domình gây ra Tại Điều 8 Bộ luật hình sự hiện hành quy định: “tội phạm là hành

vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự, do người có nănglực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập,chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng…”

Như vậy, có thể coi một người nào đó có trách nhiệm hình sự, pháp luậthình sự đòi hỏi phải có các yếu tố sau:

- Có sự việc xảy ra

- Người thực hiện hành vi tội phạm đó phải là người có năng lực tráchnhiệm hình sự

- Sự việc phạm tội xảy ra do lỗi của người đó Đối với người chưa thànhniên có những hành vi vi phạm pháp luật hình sự (thực hiện hành vi mà điều luậtcấm hoặc không thực hiện hành vi mà điều luật yêu cầu) thì có thể bị truy cứutrách nhiệm hình sự Việc xác định một độ tuổi nhất định có ý nghĩa quan trọngtrong đấu tranh phòng ngừa tội phạm Độ tuổi gắn liền với năng lực, trách nhiệmhình sự Nói một cách khác, chỉ có độ tuổi đó con người mới có sự phát triển vềthể chất, tâm sinh lý cũng như trí tuệ để có thể nhận thức tương đối đầy đủ vềhành vi của mình cũng như có khả năng điều khiển hành vi đó Việc nghiên cứu

cơ sở cho việc xác định một độ tuổi nhất định bắt đầu phải chịu trách nhiệmhình sự của người chưa thành niên là việc vô cùng quan trọng, đòi hỏi phải có sựphân tích, đánh giá công phu về các chuẩn mực, đạo đức, truyền thống, mức độphát triển về tâm sinh lý của lứa tuổi, sự phát triển của đời sống kinh tế, xã hộicũng như truyền thống pháp lý của từng dân tộc

Pháp luật hình sự nước ta quy định: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do

cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu

Trang 12

trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm” Như vậy là tuổi bắt đầu phải chịu trách

nhiệm hình sự theo pháp luật của nước ta là từ đủ 14 tuổi

Một điểm khác so với pháp luật hình sự của một số nước là Bộ luật hình sựnước ta quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệmhình sự về những tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệtnghiêm trọng (Tội phạm rất nghiêm trọng mức cao nhất của khung hình phạt là

15 năm tù Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mức cao nhất của khung hình phạttrên 15 năm tù,tù chung thân hoặc tử hình) Nói một cách khác, những tội phạmkhông nghiêm trọng hoặc do không cố ý thì ở lứa tuổi này (từ đủ 14 tuổi đếndưới 16 tuổi) không phải chịu trách nhiệm hình sự Một vấn đề đặt ra ở đây làngoài năng lực trách nhiệm hình sự nói chung, có năng lực trách nhiệm hình sựhạn chế không? Bộ luật hình sự nước ta cũng như một số nước khác quy định xửlý nhẹ đối với người chưa thành niên, họ không phải chịu trách nhiệm hình sự vềmột số loại tội phạm ít nghiêm trọng Cơ sở của sự miễn giảm đó đối với lứatuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là gì? Có phải do năng lực trách nhiệm hình

sự hạn chế không? Nếu có thì điều kiện tồn tại của nó thế nào? Theo chúng tôi,chủ thể tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự đạt đến một độ tuổinhất định Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi do khả năng nhận thức xã hộicòn non nớt, bồng bột, khả năng điều khiển hành vi còn hạn chế do lứa tuổi, bởivậy họ không thể chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Đây chính là biểuhiện của năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế, điều này chỉ tồn tại cho đến khichủ thể tội phạm tròn 16 tuổi Việc quy định độ tuổi bắt đầu phải chịu tráchnhiệm hình sự ở mỗi nước có sự khác nhau tuỳ thuộc vào các vấn đề sau đây : 1.Trình độ phát triển dân trí bao gồm cả trình độ văn hoá và trình độ hiểubiết pháp luật

2.Điều kiện kinh tế,xã hội

3.Tình hình tội phạm và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm

4.Tập quán pháp luật truyền thống

5.Tương quan với sự phát triển các ngành luật khác

Trang 13

Tuổi bắt đầu chịu trách nhiệm hình sự ở một số nước như sau : Anh từ 8tuổi, ở Mỹ từ 7 tuổi, Thụy Điển từ 15 tuổi, ở Nga từ 14 tuổi, Ai Cập, Li Băng, ởIrăc từ 7 tuổi, ở Pháp 13 tuổi, ở Australia từ 10 tuổi và ở Nhật từ 15 tuổi

1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản

Điều 136 Tội cướp giật tài sản

1.Người nào cướp giật tài sản của người khác,thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm 2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm :

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; h) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm :

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân :

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Trang 14

5.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

Khách thể của tội cướp giật tài sản: Khách thể của tội phạm là hệ thống

các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đếnlợi ích và tồn tại của giai cấp thống trị, được Nhà nước (đại diện cho giai cấpthống trị) bảo vệ bằng các quy phạm pháp luật hình sự Khách thể của tội phạmlà quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm phạm Khách thể

Theo quy định tại Điều 136 của Bộ Luật Hình sự nước Cộng Hoà Xã Hội ChủNghĩa Việt Nam quy định tội cướp giật tài sản xâm hại đến hai khách thể : i) quan hệ sởhữu chính là tài sản - ii) quan hệ về nhân thân chính là tính mạng, sức khoẻ Trong haikhách thể này chủ yếu là quan hệ về tài sản Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, nhiềuvụ cướp giật tài sản đã gây ra hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng sức khoẻ của người

bị thiệt hại Các vụ cướp giật tài sản của người đang điều khiển xe đạp, xe máy vànhững người đi trên đường Qua những vụ cướp giật gây tai nạn, mặc dầu những thiệthại về tính mạng , sức khoẻ không phải là đối tượng người cướp giật tài sản nhằm vàonhưng khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản người phạm tội nhận thức tính chất nguyhiểm của hành vi và hậu quả nguy hiểm của hành vi nhưng vẫn thực hiện Cũng chính

vi vậy Bộ luật hình sự năm 1999 khi quy định về tội cướp giật tài sản đã đưa vào cấuthành dấu hiệu thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và coi đây là tình tiết định khung

Khẳng định khách thể của tội cướp giật tài sản là quan hệ sở hữu và quan hệ nhânthân không chỉ đúng với lý luận mà còn phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chốngloại tội phạm này trong tình hình hiện nay

Trang 15

Mặt khách quan của tội cướp giật tài sản: là biểu hiện bên ngoài của tội phạm

bao gồm những dấu hiệu của tội phạm diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan.Dấu hiệu nhận biết mặt khách quan của tội phạm là hànhh vi, hậu quả và mối quanhệ nhân quả nguy hiểm cho xã hội Mặt khách quan của tội phạm nói chung là hành vinguy hiểm cho xã hội và là dấu hiệu đâù tiên, quan trọng nhất bắt buộc phải có của mọicấu thành tội phạm Còn hậu quả nguy hiểm cho xã hội, cũng như mối quan hệ nhânquả giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện bên ngoài khác có thể có, có thể không cótrong từng cấu thành tội phạm cụ thể Tội cướp giật tài sản khi xảy ra đều có các biểuhiện diễn ra bên ngoài hoặc tồn tại bên ngoài giới khách quan mà con người có thể trựctiếp biết được Những biểu hiện đó là : hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội, hậuquả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các điều kiệnbên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội cụ thể như phương tiện ,thủ đoạn, thờigian, địa điểm phạm tội

Tội phạm cướp giật tài sản là tội cấu thành vật chất nên ngoài hành vi khách quan,hậu quả và mốí quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả là dấu hiệu bắtbuộc phải có trong cấu thành tội phạm

Hành vi khách quan : trong tội cướp giật tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của

người khác Hành vi chiếm đoạt là hành vi dịch chuyển tài sản đang do người khác quảnlý thành tài sản của mình một cách bất hợp pháp Hành vi chiếm đoạt bao gồm sự thốngnhất giữa biểu hiện khách quan (là sự chuyển dịch tài sản) với ý thức chủ quan (mongmuốn chiếm đoạt tài sản của người khác một cách hợp pháp)

Trong tội cướp giật tài sản, hành vi chiếm đoạt thực hiện bằng hình thức công khaivà nhanh chóng Đây là dấu hiệu đặc trưng, là cơ sở để phân biệt với các tội phạm khác.Dấu hiệu công khai chiếm đoạt : trước hết dấu hiệu công khai được hiểu là ngườitội phạm không có ý thức che dấu hành vi phạm tội của mình và khi thực hiện chiếmđoạt tài sản Chủ tài sản biết ngay hành vi chiếm đoạt xảy ra, dấu hiệu này vừa chỉ tínhkhách quan của hành vi chiếm đoạt ,vừa thể hiện ý thức chủ quan của người phạm tội.Về khách quan, người phạm tội che dấu hành vi chiếm đoạt công khai, ngang nhiênthực hiện hành vi đó Ngay sau khi thực hiện hành vi, người xung quanh có thể nhậnthấy ngay hành vi của người phạm tội Về mặt chủ quan, người phạm tội không có ý

Trang 16

thức che dấu hành vi phạm tội của mình và cố ý thức hiện hành vi cướp lấy bằng đượctài sản của chủ tài sản Tính chất công khai của việc cướp giật tài sản là công khai khithực hiện hành vi đó đối với chủ sở hữu hoặc ngưòi có trách nhiệm quản lý tài sản bịcướp giật Hành vi chiếm đoạt thông thường bằng cách: giật lấy, giằng lấy, đoạt lấy tàisản của chủ sở hữu Tội cứơp giật tài sản có dấu hiệu đặc trưng là người phạm tội thựchiện hành vi chiếm đoạt một cách công khai, không thể thiếu được trong cấu thành tộiphạm.

Dấu hiệu nhanh chóng tẩu thoát dùng để chỉ sự lẫn tránh khỏi sự tìm kiếm của chủtài sản

Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi khách quan tội phạm gây ra cho quanhệ xã hội là khách thể của luật hình sự Trong tội cướp giật tài sản, hậu quả nguy hiểmcho xã hội trực tiếp là thiệt hại về vật chất song có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độnguy hiểm của tội phạm đã thực hiện

Mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản: tội phạm là một thể thống nhất của hai

mặt chủ quan và khách quan Mặt khách quan là biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm,mặt chủ quan là hoạt động tâm sinh lý bên trong của người phạm tội Với ý nghĩa là mộtmặt thống nhất, mặt chủ quan của tội phạm không tồn tại độc lập mà luôn gắn liền vớikhách quan của tội phạm bao gồm các nội dung , lỗi, động cơ, mục đích phạm tội Đốivới tội cướp giật tài sản, mặt chủ quan của tội phạm gồm dấu hiệu lỗi; động cơ và mụcđích phạm tội

Lỗi của người phạm tội cướp giật tài sản là lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vicướp giật tài sản người phạm tội biết mình có hành vi công khai nhanh chóng chiếmđoạt tài sản của người khác, thấy trước hậu quả nguy hiểm của hành vi mình gây ranhưng lại mong muốn hậu quả đó xảy ra, mong muốn thực hiện trọn vẹn quá trìnhphạm tội Trong mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản, ngoài lỗi là dấu hiệu bắt buộccòn có động cơ và mục đích phạm tội

Động cơ của tội cướp giật tài sản được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy ngườiphạm tôị thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách cố ý

Mục đích của tội cướp giật tài sản là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạmtội đặt ra khi thực hiện hành vi phạm tội

Trang 17

Chủ thể : chủ thể của tội cướp giật tài sản quy định tại Điều 136 Bộ Luật Hình Sựnăm 1999 Chủ thể là hành vi có lỗi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người thựchiện hành vi lỗi phải có năng lực trách nhiệm hình sự Hai điều kiện năng lực, tráchnhiệm hình sự và độ tuổi là những dấu hiệu pháp lý bắt buộc của chủ thể tội phạm.

Điều kiện về độ tuổi : Điều 12 Bộ Luật Hình Sự năm 1999 quy định “người từ

đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổitrở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêmtrọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ”

1.3 Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội cướp giật tài sản

Để phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện có hiệuquả phải nắm vững các lý luận về đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung và tội cướpgiật tài sản nói riêng ; “tình hình tội phạm là hiện tượng tâm-sinh lý xã hội tiêu cựcmang tính chất lịch sử (cụ thể) và tính pháp lý hình sự và hạt nhân là tính giai cấp vàđược biểu hiện bằng tổng thể các hành vi phạm tội xảy ra cùng các chủ thể thực hiệncác hành vi đó trong một đơn vị thời gian nhất định” [37,tr 4] Phòng ngừa tội phạmnhằm tác động vào các yếu tố phát sinh tội phạm cũng như loại trừ các yếu tố này nhằmmục đích ngăn chặn tội phạm và hạn chế , loại trừ những nguyên nhân sinh ra tội phạm

Phòng ngừa là điều cơ bản trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm Mác –

Ănghen cho rằng “ phòng ngừa tội phạm quan trọng hơn việc trừng phạt nó ” [31,tr.50].

Giáo trình tội phạm học xã hội chủ nghĩa đầu tiên đã xuất hiện cơ bản ở Liên Xô năm

1966, định nghĩa khái niệm phòng ngừa tội phạm “là tổng hợp các biện pháp có quan hệtác động lẫn nhau, được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội nhằmmục đích ngăn chặn tội phạm và hạn chế, loại trừ những nguyên nhân sinh ra tội phạm[37, tr 112]

Phòng ngừa tội phạm thực tế và lý luận được phân biệt với nhau với tư cách làmột dạng hoạt động của con người, đó là hoạt động cải tạo các quan hệ xã hội nhằmmục đích loại trừ các nguyên nhân tội phạm, loại trừ các điều kiện tạo thuận lợi phátsinh ra các hành vi tội phạm, hạn chế hoặc cô lập các nhân tố tội phạm hoặc có ảnhhưởng đến sự hình thành các đặc điểm chống xã hội của con người phạm tội Thực tếphòng ngừa tội phạm hoạt động thể hiện như là một phương thức hoàn thiện những

Trang 18

quan hệ xã hội nhằm mục đích ngăn chặn trực tiếp những tội phạm cụ thể và giáo dụchành vi, ý thức, thói quen, nhu cầu, khuynh hướng, giá trị của con người phạm tội

Qua nội dung lý luận phòng ngừa tội phạm gồm các vấn đề : i)mối quan hệ tácđộng lẫn nhau của các chủ thể phòng ngừa tội phạm và chủ thể của hệ thống chung,ii)xác định sự tương quan, liên hệ và tác động lẫn nhau của các biện pháp chung vàriêng về phòng ngừa tội phạm, iii)các điều kiện kinh tế - xã hội, phương pháp, nguồn dựtrữ, khả năng,tiềm lực (bao gồm cả điều kiện cán bộ) đảm bảo cho hoạt động phòngngừa tội phạm

Qua đó, tổng hợp các biện pháp phòng ngừa và các chương trình, mục đích vớicác mức độ, quy mô và cấu trúc khác nhau (các dạng tội phạm và số lượng người gây ranó) ; soạn thảo những phương pháp riêng và hệ thống phòng ngừa cá biệt, soạn thảonhững biện pháp riêng, phòng ngừa các dạng tội phạm riêng biệt theo lãnh thổ và đốitượng ; điều phối và lập kế hoạch những biện pháp phòng ngừa tội phạm ; đánh giá kếtquả công tác phòng ngừa tội phạm ; thí nghiệm, phân tích và so sánh phòng ngừa tộiphạm ở các nước xã hội chủ nghĩa ; phân tích khuynh hướng, kinh nghiệm phòng ngừatội phạm ở các nước tư bản, các nước đang phát triển và phân tích nội dung giai cấp của

nó, phê phán những khuynh hướng phản động

Như vậy, phòng ngừa tội phạm là hệ thống các biện pháp khác nhau của nhànước, xã hội nhằm khắc phục, hạn chế và loại trừ nguyên nhân và điều kiện của tộiphạm để ngăn chặn, hạn chế và tiến tới thủ tiêu loại tội phạm trong xã hội [37,tr.6]

Lý luận phòng ngừa tội phạm là một bộ phận cấu thành của tội phạm học, trong

đó có tổng hợp và sử dụng tổng hòa các thông tin mà tội phạm học đã thu thập được.Đồng thời lý luận và phòng ngừa tội phạm cũng thực hiện vai trò liên hệ qua lại đối vớicác bộ phận khác của tội phạm học Điều đó khẳng định vai trò điều phối của lý luậnphòng ngừa trong tội phạm học cũng như trong mối quan hệ tác động với các khoa họckhác [37,tr 6]

Thứ nhất, phòng ngừa tội phạm bằng cách ngăn chặn, không cho tội phạm xảy raquan trọng hơn nhiều so với việc tiến hành điều tra, truy tố, xét xử và áp dụng các hìnhphạt đối với người phạm tội Hoạt động này được tiến hành bởi các chủ thể nhất định :

Trang 19

các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và các tập thể, cũng như các công dân thựchiện việc phòng ngừa trong phạm vi thẩm quyền của mình

Phòng ngừa tội phạm là trách nhiệm của toàn thể xã hội Mỗi chủ thể trong số

đó, trong mối liên hệ đó có nghiệp vụ, quyền hạn và nghĩa vụ nhất định và chịu tráchnhiệm đối với việc thực hiện chúng Hoạt động phòng ngừa không chỉ là các khẩu hiệumà là những công việc cụ thể, do những chủ thể cụ thể tiến hành một cách khoa học,hợp lý và có hiệu quả trên cơ sở quy định của pháp luật Các cơ quan và tổ chức sau đây

có thể coi là những chủ thể chính của hoạt động phòng ngừa tội phạm :

* Các cơ quan tư pháp hình sự với tư cách là chủ thể của phòng ngừa tội phạm:

Phòng ngừa tội phạm là trách nhiệm của Nhà nước, các tổ chức và công dânnhưng trong đó các chủ thể phòng ngừa tội phạm thì vai trò của cơ quan Công an làhàng đầu Việc có mặt của cảnh sát cũng như hoạt động tích cực của họ sẽ hạn chế tộiphạm xảy ra trên thực tế, nhất là tội phạm xảy ra trên các tuyến đường Hoạt độngphòng ngừa tội phạm của công an thông qua các hoạt động cụ thể như : hoạt động tuầntra ở các tuyến phố, ở các tuyến đường quốc lộ, lắp đặt các hệ thống camera theo dõi tạicác ngã tư, ngã năm đường phố nơi có đông đúc người thường xuyên qua lại Thườngxuyên tuần tra ở các khu vực đông người, nơi có nhiều tệ nạn xã hội hoặc nơi phức tạp vềtrị an, tiếp cận tích cực các tin báo của quần chúng nhân dân cũng như xử lý tốt các thôngtin do quần chúng nhân dân cung cấp, xây dựng mạng lưới kết nối chặt chẽ giữa các cơquan cảnh sát khu vực với nhân dân, các doanh nghiệp trên địa bàn, hoạt động kiểm soátngười nhập cư, tổ chức các chiến dịch truy quét tội phạm trên phạm vi cả nước hay ở từngđịa phương, tham gia giáo dục trẻ em tại các trường giáo dưỡng, cảnh báo với nhân dânvề phương thức ,thủ đoạn phạm tội để nhân dân chủ động phòng tránh

Bên cạnh đó, hoạt động của cơ quan cảnh sát với tính chất là cơ quan điều tratheo quy định Bộ Luật tố tụng hình sự phối hợp với Viện Kiểm Sát, Tòa án cũng đóngvai trò quan trọng trong phòng ngừa tội phạm Thông qua các hoạt động phát hiện, điềutra, truy tố, xét xử và áp dụng các biện pháp chế tài, hình sự đối với người phạm tội củacác cơ quan tư pháp, hình sự sẽ có tác động răn đe người phạm tội, thức tỉnh họ nhậnthức sai lầm của hành vi tự giác, từ bỏ con đường phạm tội, việc áp dụng các biện phápchế tài hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội có tác dụng cảnh tỉnh những

Trang 20

người không vững vàng trong xã hội, từ đó có tác dụng phòng ngừa tội phạm Các Cơquan tư pháp hình sự giữ vai trò kiến nghị, đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiệnpháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, đây là hoạt động rất cần thiết.

Cơ quan tư pháp hình sự cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp với các cơquan truyền thông, các cơ quan tổ chức khác để tuyên truyền, giáo dục pháp luật trongnhân dân, động viên mọi người tích cực tham gia trong công tác đấu tranh phòng ngừatội phạm

* Các cơ quan lập pháp với tư cách là chủ thể phòng ngừa :

Cơ quan lập pháp (cũng như các cơ quan ban hành ra văn bản dưới luật) có vaitrò quan trọng trong phòng ngừa tội phạm thể hiện cụ thể ở việc đưa ra những quy phạmpháp luật chặt chẽ, là hàng rào chắc chắn để ngăn chặn tội phạm, tái phạm Tổ chứcrộng rãi cho quần chúng nhân dân tham gia góp ý xây dựng dự thảo luật cũng như cácvăn bản khác

* Các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức, công dân với tư cách là chủ thể phòng ngừa tội phạm :

Việc lập đơn vị tự quản tại các khu dân cư, trong các doanh nghiệp, các tổ chức,các cơ quan quản lý Nhà nước là cần thiết để ngăn chặn, không để cho tội phạm có cơhội thực hiện tội phạm Sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan, tổ chức này với cơquan cảnh sát về đào tạo nghiệp vụ ngăn chặn, phát hiện tội phạm cũng như tiếp cận, xửlý tin báo có vai trò quan trọng trong phòng ngừa tội phạm Đối với công dân, phòngngừa tội phạm không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của họ trong việc bảo đảm

an toàn cá nhân cũng như mọi lợi ích cộng đồng Người dân nên chủ động trong phòngngừa tội phạm mà không nên thụ động và coi đó là việc của cơ quan chức năng, Nhànước Mỗi người dân phải có ý thức bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe… của mình,đồng thời phải có ý thức bảo vệ tài sản, tôn trọng quyền, lợi ích chính đáng của ngườikhác

Thứ hai, phòng ngừa tội phạm là tổng thể các biện pháp khác nhau do các chủthể phòng ngừa tội phạm tiến hành nhằm ngăn chặn, không để cho tội phạm xảy rahoặc xảy ra ít đi Đây là hoạt động vừa có tính chất khoa học, vừa có tính chất thực tiễn

Trang 21

cao, vì vậy hoạt động xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm có thể được phânloại như sau :

* Phòng ngừa ở cấp độ vĩ mô (phòng ngừa chung): đây là hoạt động phòng

ngừa tội phạm có tính chất chiến lược, đảm bảo sự thống nhất đồng bộ trong phạm viquốc gia do cơ quan có thẩm quyền tiến hành Các biện pháp ở cấp độ vĩ mô cụ thể là:

Biện pháp kinh tế : Tăng cường sự phát triển kinh tế mang tính chất bền vững, tạo

ra công ăn việc làm cho nhân dân, khắc phục những yếu kém của nền kinh tế (nếu có),tăng cường cải thiện đời sống vật chất, đời sống tinh thần cho nhân dân, tạo ra nhiềuviệc làm cho nhân dân, tránh tình trạng thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo,tạo ra nhiềutrường học cho các con em có hoàn cảnh khó khăn được đến trường, xóa mù chữ vàphổ cập giáo dục

Biện pháp chính trị, xã hội : Nhằm hoàn thiện và củng cố bộ máy nhà nước, đẩy

mạnh công khai, dân chủ, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, trongquan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhân dân, từ đó lôi cuốn đông đảo mọi tầng lớpnhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, góp phần thúc đẩy xã hội trật tự vàphát triển

Biện pháp văn hóa- tư tưởng : Nhằm nâng cao ý thức chính trị, ý thức chấp hành

pháp luật trong các cơ quan tổ chức và công dân, đồng thời định hướng cho nhân dân cólối sống văn hóa, văn minh trong cộng đồng xã hội, hạn chế tiêu cực nảy sinh (trong đó

có tội phạm)

Biện pháp tổ chức, quản lý : Đây là biện pháp rất quan trọng vì Nhà nước quản lý

xã hội thông qua các cơ quan đại diện của mình trong các lĩnh vực Nhà nước quản lý xãhội càng chặt chẽ, khoa học và công bằng thì hạn chế càng nhiều hiệu quả vi phạm vàtội phạm nảy sinh trong xã hội

Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn củacác cơ quan này cũng như có cơ chế giám sát hoạt động của các cơ quan đó

Biện pháp pháp luật : Hệ thống pháp luật là rào cản hữu hiệu trong việc ngăn chặn

tội phạm Do vậy, việc thường xuyên rà soát các quy định pháp luật hiện hành, kịp thờikhắc phục những lỗ hổng của pháp luật bằng việc sửa đổi, bổ sung những quy địnhpháp luật lỗi thời, bất cập, bổ sung những quy định mới, cần thiết, đáp ứng được yêu cầu

Trang 22

thực tiễn để hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung cũng như pháp luật thuộc từng lĩnhvực nói riêng.

* Phòng ngừa tội phạm theo phạm vi lãnh thổ : Phòng ngừa tội phạm không

phải là việc riêng của các cơ quan Trung ương hay ở các cơ quan chính quyền các cấp

cơ sở Tùy theo quy mô cũng như tính chất của việc phòng ngừa tội phạm mà các cơquan có thẩm quyền có thể xây dựng các chương trình, các biện pháp phòng ngừa ở cáccấp độ khác nhau từ phạm vi quốc gia cho đến các cấp độ thấp hơn trên địa bàn tỉnh,huyện, xã, phường, thị trấn, cụm dân cư, tổ dân phố…

Việc xây dựng các chương trình, biện pháp phòng ngừa tội phạm phải chú ý đếnđặc điểm riêng về địa lý, dân cư, phong tục, tập quán trên từng địa bàn, lãnh thổ đồngthời bám sát vào các vấn đề tình hình tội phạm, nguyên nhân của tội phạm trên các địabàn lãnh thổ đó mà có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn

* Phòng ngừa tội phạm theo cấp độ chuyên ngành : là hoạt động phòng ngừa

tội phạm của các chủ thể khác nhau, căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn của mình trên cơsở quy định của pháp luật nhằm ngăn chặn, hạn chế tội phạm xảy ra Thực chất đây lànhững hoạt động phòng ngừa khá cụ thể ở những lĩnh vực nhất định

Phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện :

Tìm hiểu nguyên nhân, điều kiện và diễn biến của tình hình tội cướp giậttài sản do người chưa thành niên thực hiện ,tìm hiểu từng địa bàn, từng đốitượng cụ thể để xác định được phương thức hoạt động của đối tượng, từ đó cókế hoạch ngăn chặn được tốt hơn

Khi nắm bắt được tình hình, diễn biến, nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnhphương thức hoạt động của người chưa thành niên thực hiện tội cướp giật tàisản, từ đó có các chủ trương, biện pháp phòng ngừa

Các nội dung này cần nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, khoa học trên cơ sởđánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình tội cướp giật tài sản do ngườichưa thành niên thực hiện trên từng địa phương, nắm rõ số lượng vụ án cướp giậttài sản do người chưa thành niên thực hiện, phân tích diễn biến tội cướp giật tàisản nói chung, tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tội nói riêng

Trang 23

Cần phân tích rõ thủ đoạn, phương thức hoạt động, phân tích mức độ, hành

vi, phân tích diễn biến tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện :người chưa thành niên bộc phát đi cướp giật tài sản hay do người đã thành niênxúi giục hoặc là do người đã thành niên ép đi cướp giật, nếu không thực hiệntheo yêu cầu sẽ bị đe dọa ảnh hưởng tới bản thân và những người thân trong giađình, làm cho người chưa thành niên phải thực hiện theo yêu cầu đó

Quản lý các đối tượng người chưa thành niên có hành vi nghi vấn về việccướp giật tài sản, tuyên truyền pháp luật cho các đối tượng này nhằm giáo dục,răn đe

Những việc làm này phải tiến hành thường xuyên bằng các biện phápnghiệp vụ như : theo dõi, nghiên cứu, chuyên trách, sử dụng các hình thức nhưcông khai theo dõi, bí mật theo dõi

Được tiến hành hằng tuần, hằng tháng, hằng quý phải báo cáo tình hình tộicướp giật tài sản do người chưa thành niên, tham mưu đề xuất với cấp ủy Đảng,Chính quyền địa phương cũng như lãnh đạo công an về chủ trương, chính sáchpháp luật, về các biện pháp phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưathành niên thực hiện Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật tạicác nhà trường, tại các tổ dân phố, thôn, xóm Nâng cao hiệu quả công tác bảovệ an ninh tổ quốc, lồng ghép các chương trình để tuyên truyền pháp luật đếnmọi người dân đặc biệt là người chưa thành niên

Tham mưu cho Đảng, Nhà nước về lĩnh vực phòng ngừa tội cướp giật tàisản nói chung, tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tội nói riêng,đặc biệt là các cơ quan tư pháp Các cơ quan này triển khai biện pháp phòngngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện

Để đạt được kết quả cao trong công tác phòng ngừa tội cướp giật tài sản dongười chưa thành niên thực hiện thì việc phòng ngừa không chỉ thực hiện ở cáccấp, ở các ngành mà phải là sự chung tay của toàn xã hội :

Chủ thể phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện:

Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp:

Trang 24

Đối với Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là chủ thể của việc phòngngừa tội phạm nói chung và tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thựchiện nói riêng Ban hành pháp luật, các nghị quyết, các văn bản pháp luật phùhợp với điều kiện và kịp thời cho các cơ quan, tổ chức, xã hội và công dân trongquá trình phòng ngừa tội phạm, đồng thời giám sát kiểm tra trong quá trình thựcthi pháp luật của việc phòng ngừa tội cướp giật tài sản.

Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam:

Đảng Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, vạch racác đường lối, các biện pháp trong công tác phòng ngừa tội phạm, thường xuyênkiểm tra, đôn đốc, yêu cầu các cơ quan chức năng báo cáo tình hình an ninh trật

tự, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm người chưa thành niên cướp giật tàisản theo nhiệm vụ từng cấp, từng ngành Trên cơ sở có những chủ trươngphương hướng thể hiện bằng nghị quyết phòng ngừa tội cướp giật tài sản dongười chưa thành niên thực hiện cho chính quyền các cơ quan ban ngành, để đápứng yêu cầu trong phòng ngừa tội phạm Trong tình hình mới hiện nay, trước hếtthực hiện tốt nghị quyết của Đảng, Đảng viên là người gương mẫu trong phongtrào phòng ngừa tội phạm, các cơ sở Đảng xây dựng mối quan hệ chặt chẽ vớiquần chúng nhân dân trong việc phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưathành niên thực hiện

Các tổ chức quần chúng có vai trò to lớn trong việc phòng ngừa người chưathành niên phạm tội đặc biệt là Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, ĐộiThiếu niên, Hội phụ nữ, Hội học sinh, Sinh viên

Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh: Có trách nhiệm giáo dục thanh

thiếu niên, nhi đồng Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh có vai trò quantrọng trong sự nghiệp cách mạng, đào tạo thế hệ trẻ xuất sắc nhằm giới thiệu choĐảng

Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh có trách nhiệm đối với thiếu nhinhi đồng trong quá trình hoạt động của Đội thiếu niên tiền phong

Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh có vai trò trong việcphòng ngừa tội phạm thanh thiếu niên, Đoàn có đủ cơ sở pháp lý và trách nhiệm,

Trang 25

nghĩa vụ thực hiện công tác phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội, nhữnghình thức, biện pháp, tổ chức của Đoàn cần tập trung và nâng cao trách nhiệm, ýthức cho các chi đoàn, đoàn viên đối với thanh niên, thiếu niên.

Quản lý giáo dục các em có các biểu hiện hư hỏng, nhận đỡ đầu, chăm sóccác em có hoàn cảnh khó khăn, các em có hành vi vi phạm pháp luật

Hội liên hiệp phụ nữ : với tư cách là một chủ thể trong phòng ngừa ngườichưa thành niên phạm tội được thể hiện rõ ràng qua văn bản pháp luật của Nhànước Hội phụ nữ có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi bà mẹ trẻ em Trách nhiệmcủa hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam được thể hiện tại Chương III Luật bảo vệ

chăm sóc giáo dục trẻ em Tại Khoản 2 Điều 21 ghi rõ “Hội LiênHiệp phụ nữ Việt Nam ngoài trách nhiệm quy định tại Khoản 1 điều này còn có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan để tổ chức hướng dẫn nuôi con khỏe,dạy con ngoan” Với vai trò của mình, Hội phụ nữ có trách nhiệm trong

việc đấu tranh với các hành vi phạm tội của người chưa thành niên, đấu tranhchống các hành vi lôi kéo các em vào con đường phạm tội hoặc các tệ nạn xãhội, làm tròn bổn phận là mẹ, người phụ nữ trong gia đình, nêu cao tấm gươngsáng cho các em học tập, tích cực tham gia hoạt động xã hội, chống các biểuhiện tiêu cực, suy thoái đạo đức, truyền thống, các tệ nạn xã hội ở người chưathành niên nhằm tạo môi trường trong sạch cho các em

Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội : có trách nhiệm giải quyết, giúp đỡ

các em đang gặp khó khăn, những em lang thang, không nơi nương tựa, những

em là nạn nhân của sự đói nghèo Bộ Lao Động - Thương binh và Xã hội cùngvới Ủy ban dân số và trẻ em Việt Nam cần nắm vững tình hình trẻ em có hoàncảnh khó khăn, thành lập các cơ sở quản lý, thu gom, tạo công việc cho các em

Các cơ quan quản lý kinh tế, văn hóa: Hoạt động của các tổ chức này trong

công tác phòng ngừa tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện

có nhiệm vụ chính là tổ chức hoạt động của mình theo đúng lĩnh vực chuyênmôn và theo đúng yêu cầu, chức năng và nhiệm vụ của mình trong công tácphòng ngừa tội cướp giật tài sản truyên truyền pháp luật rộng rải trong quầnchúng nhân dân

Trang 26

Công dân: Công dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình về việc

phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản nói chung và cướp giật tài sản do ngườichưa thành niên phạm tội nói riêng Trong công tác phòng ngừa tội phạm, côngdân khi phát hiện tội phạm thì tố giác cho các cơ quan ban ngành, thực hiện tốtxây dựng bảo vệ an ninh trật tự nơi công dân đang sinh sống, thực hiện sự đoànkết ở khu dân cư

Hoạt động điều tra ,truy tố, xét xử tội cướp giật tài sản:

Trong công tác điều tra phải điều tra nhanh chóng, kịp thời ,chính xác cácvụ án cướp giật tài sản Đây là nhiệm vụ quan trọng của công tác điều tra đồngthời là yêu cầu của pháp luật, quy định căn cứ vào Điều 10 Bộ luật tố tụng hình

sự năm 2003 quy định “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan ,toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ, xác định tội và chứng cứ xác định của tội, những tình tiết tăng nặng, những tình tiết giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo ”

Để thực hiện tốt các công tác này ,việc tiếp nhận thông tin, xử lý thông tintố giác tội cướp giật tài sản từ người cung cấp thông tin rất quan trọng

Việc tiến hành hoạt động điều tra, thu thập các chứng cứ phải đòi hỏi sựchính xác, nhanh chóng,cần làm rõ những vấn đề cần chứng minh trong vụ ánhình sự quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Có nhiều chủ thể cùng tham gia trong quá trình phòng ngừa tội phạm nóichung và phòng ngừa tội cướp giật tài sản nói riêng nhưng để đạt hiệu quả caotrong công tác phòng ngừa chính là sự phối hợp giữa các cơ quan một cách chặtchẽ

1.4 Các yếu tố tác động đến hiệu quả phòng ngừa tội cướp giật tài sản

do người chưa thành niên thực hiện

Hiệu quả là khái niệm dùng để chỉ mức độ đạt được mục đích của hoạtđộng thực tiễn của con người tác động đến sự vật, hiện tượng bao gồm hiệu quảkinh tế, xã hội, đời sống, phát triển nhận thức…

Trang 27

Hiệu quả của đấu tranh phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản do người chưathành niên thực hiện là mục đích đạt được của hoạt động thực tiễn do các chủthể phòng ngừa tội phạm thực hiện nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm và hạnchế ,loại trừ những nguyên nhân sinh ra tội phạm.

Nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, ý thức xã hội: Tội phạm là một

hiện tượng xã hội, nghĩa là nó xuất phát (nguồn gốc) từ các quan hệ và điều kiệnxã hội, phát triển theo những sự thay đổi của các điều kiện đó Tội phạm là một

bộ phận, một yếu tố được đặt trong mối quan hệ mật thiết với các quá trình vàhiện tượng khác, có hiện tượng tích cực và tiêu cực, trong đó có hai quan hệ : i)quan hệ giữa tội phạm với các quá trình xã hội về mọi mặt: kinh tế, xã hội, chínhtrị, văn hóa… ii) quan hệ giữa tội phạm với các biện pháp tiêu cực, các vi phạmvà các tệ nạn xã hội khác Trong quan hệ thứ nhất, xã hội học Mácxit thừa nhậnvai trò quyết định của môi trường xã hội Tội phạm không chỉ xuất phát từnhững quá trình sai trái, tiêu cực mà còn từ những quá trình khác không thể coilà tiêu cực Chẳng hạn, trong vấn đề chính sách kinh tế, nhiều biện pháp vàchính sách có thể đúng xét từ nhu cầu và lợi ích kinh tế và hậu quả quản lýnhưng vẫn đồng thời tạo khe hở cho một số loại tội phạm phát sinh và tồn tại

Nhân tố pháp luật: Để phòng ngừa tội phạm có hiệu quả, hệ thống tư pháp

hình sự phải được xây dựng và hoàn thiện một cách có hệ thống từ cấp trungương đến địa phương Hệ thống tư pháp hình sự là một khâu quan trọng trongcác giải pháp phòng ngừa tội phạm Các giải pháp đó nằm trong một chươngtrình thống nhất “chương trình quốc gia phòng chống tội phạm” Sự điều chỉnhpháp luật đảm bảo cho tính pháp chế trong các lĩnh vực xã hội, tính bất khả xâmphạm của quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như Nhà nước, tổ chức,

cơ quan đảm bảo tính hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa tội phạm Nhưvậy, điều chỉnh pháp luật phòng ngừa tội phạm là hoạt động pháp luật sáng tạocủa Nhà nước và các cơ quan của nó Trong các đạo luật và các văn bản phápquy khác đã xác định nhiệm vụ và mục đích phòng ngừa tội phạm, phạm vi cácchủ thể phòng ngừa, thẩm quyền, các hình thức và các phương pháp cơ bản thựchiện, các biện pháp phòng ngừa

Trang 28

Nhân tố tổ chức phòng ngừa tội phạm: Kế hoạch hóa việc tổ chức hoạt

động phòng ngừa tội phạm chiếm một vị trí quan trọng trong công tác đó, nóđược coi như là một trong những biện pháp bảo đảm tính định hướng, có mụcđích của phòng ngừa do các cơ quan Nhà nước khác nhau, các tổ chức xã hội vàtập thể lao động thực hiện Trong thời gian gần đây, ở phạm vi toàn quốc và ởcác địa phương, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã tiến hành xây dựng các loại kếhoạch khác nhau trong công tác phòng ngừa tội phạm, tính tổng thể của việc kếhoạch hóa hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm đảm bảo : i) là sự tác độngtoàn diện đến các nhân tố quyết định tình hình tội phạm nói chung, các tình hìnhtội phạm cụ thể và các hiện tượng liên quan đến tội phạm (các hiện tượng hoàncảnh) ,ii) sự huy động, phát huy hiệu lực của toàn hệ thống các chủ thể phòngngừa tình hình tội phạm và các biện pháp nhằm vô hiệu sự ảnh hưởng của cácnhân tố tiêu cực đến tình hình tội phạm

Nhân tố con người, vật chất kỹ thuật trong công tác phòng ngừa tội phạm: là yếu tố quan trọng trong hoạt động phòng ngừa tội phạm Để đề cập

đến nhân tố con người, trước hết cần phải nói đến sự tăng cường đào tạo đội ngũchuyên gia, cán bộ, tội phạm học cho các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quanthanh tra, kiểm tra, các chủ thể khác tham gia phòng ngừa tình hình tội phạm.Cần phải huy động mọi khả năng trong xã hội để tạo ra những điều kiện tổ chứcvà tài chính để lôi cuốn các chuyên gia khác nhau trong số các chuyên gia tronglĩnh vực kinh tế, chính trị, tâm lý, giáo dục và các lĩnh vực hiểu biết khác thamgia vào việc giải quyết các nhiệm vụ đa dạng và phức tạp của hoạt động phòngngừa tình hình tội phạm

Như vậy, để đạt được hiểu quả trong việc phòng ngừa tội phạm nói chung,tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện nói riêng cần phải pháthuy tất cả những nhân tố xã hội, tâm sinh lý, khoa học kỹ thuật đến nhân tố conngười Những nhân tố này như một chuỗi các mắt xích đan xen và liên kết vớinhau tạo nên một khối thống nhất bền vững nhằm góp phần phòng ngừa tộiphạm một cách hiệu quả nhất

Trang 29

Tội cướp giật tài sản xâm phạm đến hai khách thể:

- Quan hệ về sở hữu: tài sản

- Quan hệ về nhân thân: tính mạng, sức khỏe

Phòng ngừa tội cướp giật tài sản nói chung và tội cướp giật tài sản dongười chưa thành niên thực hiện nói riêng là hoạt động sử dụng các phươngpháp, chiến lược, phương tiện, nghiệp vụ cần thiết của các cơ quan nhà nước,các tổ chức xã hội và mọi tầng lớp nhân dân nhằm ngăn chặn tội phạm và hạn chế,loại trừ những nguyên nhân sinh ra tội phạm

Trang 30

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ THỰC TIỄN

PHÒNG NGỪA TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2012

Thành phố Đà Nẵng nằm tại miền Trung Tổng diện tích thành phố ĐàNẵng là 1.283,43 km2 gồm có 06 Quận và 02 Huyện Quận Hải Châu diện tích là21,35 km2, Quận Thanh Khê diện tích là 9,36 km2, Quận Sơn Trà diện tích là59,32 km2, Quận Ngũ Hành Sơn diện tích là 38,59 km2, Quận Liên Chiểu diệntích là 79,13 km2, Quận Cẩm Lệ diện tích là 33,76 km2, Huyện Hòa Vang diệntích là 736,91 km2, Huyện đảo Trường Sa diện tích là 305,00 km2

Dân số toàn thành phố là 951,93 nghìn người.Vào năm 2011, mật độ dân sốlà 757,8 người/1km2

Thành phố Đà Nẵng với một đội ngũ lực lượng dân số trẻ, người từ đủ 14tuổi đến dưới 18 tuổi chiếm 224.52 nghìn người theo thống kê năm 2011 Đây làđiều kiện để phát triển kinh tế

Thành phố Đà Nẵng có 6 khu công nghiệp : Đà Nẵng, Hòa Khánh, LiênChiểu, dịch vụ thủy sản Đà Nẵng, Hòa Cầm và Hòa Khánh mở rộng thu hút mộtlượng lớn công nhân vào đây làm việc

Tổng chiều dài mạng lưới đường bộ nội địa thành phố 859,973km

Địa bàn thành phố Đà Nẵng rộng, dân số trẻ từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổichiếm tỷ lệ cao, chiều dài mạng lưới giao thông phức tạp nên tình hình tội phạmphát triển, đặc biệt là tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện

2.1 Tình hình tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012

2.1.1 Phần hiện của tình hình tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại thành Phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012

Thực trạng (mức độ) của tình hình cướp giật tài sản do người chưa thànhniên thực hiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012, làtổng số tội cướp giật tài sản đã xảy ra và toàn bộ những người đã thực hiệnchúng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian nói trên Trong số những

Trang 31

tội phạm và người thực hiện chúng có các tội phạm và người phạm tội đã bịkhởi tố, điều tra, xét xử và kết án ; các tội phạm và người phạm tội đã bị khởi tố,điều tra xét xử nhưng có những lý do mà pháp luật quy định, được đình chỉ,được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; các tội phạm không bị phát hiện,không bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; các tội phạm đã bị khởi tố điều tra,truy tố, xét xử nhưng vì lý do khách quan hay chủ quan đã không được đưa vàocon số thống kê về tội cướp giật tài sản.

Như vây, tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từnăm 2008 đến năm 2012 có hai phần: Phần hiện và phần ẩn (hay còn gọi là tộiphạm ẩn)

Phần hiện là phần nhìn thấy rõ nhất của tội phạm cướp giật tài sản do ngườichưa thành thực hiện, tội phạm đã bị truy tố xét xử và thi hành án hình sự và đưavào bảng thống kê hình sự

Để nghiên cứu ở thành phố Đà Nẵng, tác giả đã sử dụng số liệu thống kêcủa Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng và 100 bản án xét xử “ tội cướp giật tàisản do người chưa thành niên thực hiện” trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm

2012 được đánh từ 0 đến 100, trên cơ sở đó tác giả lấy ngẫu nhiêu từ Tòa ánquận/ huyện cho đến Tòa án thành phố trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2012 đểlàm chất liệu nghiên cứu

Tác giả luận văn nghiên cứu tình hình tội cướp giật tài sản do người chưathành niên thực hiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm

2012 thông qua các thông số về lượng và các thông số về chất Các thông số vềlượng của tình hình tội cướp giật tài sản gồm thực trạng (mức độ) của tình hìnhtội cướp giật tài sản và động thái (diễn biến) của nó Các thông số về chất củatình hình tội cướp giật tài sản bao gồm cơ cấu và tính chất của nó

Trang 32

2.1.1.1 Thực trạng (mức độ) của tình hình cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012 Bảng 1: Số vụ và số bị cáo người chưa thành niên phạm tội cướp giật tài sản

tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012

Qua kết quả thống kê bảng 1 và qua biểu đồ 1 cho thấy : tội cướp giật tài sản

do người chưa thành niên thực hiện từ năm 2008 đến năm 2012 có tổng số vụ là 80vụ, có 126 bị cáo

Cao nhất là năm 2008 với 43 vụ chiếm tỷ lệ 53,75% và 71 bị cáo chiếm tỷlệ 56,35%

Tiếp đến là năm 2009 với 15 vụ chiếm tỷ lệ 18,75% và 28 bị cáo chiếm tỷlệ 22,22%

Vào năm 2012 có 11 vụ chiếm tỷ lệ 13,75% và 13 bị cáo chiếm tỷ lệ10.32%

Trang 33

Trong khi đó vào năm 2010 có 7 vụ chiếm tỷ lệ 8,75% và 8 bị cáo chiếm tỷlệ 6.35%

Năm 2011 có 4 vụ chiếm tỷ lệ 5%và 6 bị cáo chiếm 4,76%

Năm 2008, số người chưa thành niên phạm tội cướp giật tài sản cao nhất là

43 vụ, 71 bị cáo chiếm tỷ lệ 53,75% về số vụ và 56,35% số bị cáo, thấp nhất lànăm 2011 có 4 vụ chiếm tỷ lệ 5% với 6 bị cáo chiếm tỷ lệ 4,76%

Tương ứng với sự gia tăng về số vụ thì biểu đồ số 1 thể hiện cao nhất về sốvụ và số bị cáo là vào năm 2008, tiếp đến năm 2009, năm 2012, thấp dần là năm

2010 và thấp nhất là năm 2011

Năm 2008, tình hình tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tộichiếm tỷ lệ cao nhất vì: Công tác tuyền truyền pháp luật chưa đúng mức, các cấpcác ngành chưa quan tâm, sự quản lý tại các khu dân cư còn lỏng lẻo, cho nên tìnhhình cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tội chiếm tỷ lệ cao

Với tình hình số vụ cướp giật tài sản tăng quá cao trong năm 2008 nên vàonăm 2009, trên lĩnh vực phòng ngừa đã tập trung làm tốt công tác tuyên truyền,vận động nhân dân, chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tiếp tụcthực hiện NQ09/CP và chương trình QG PCTP ; mở các đợt tuyên truyền theocác chuyên đề như : cố ý gây thương tích, cướp, cướp giật…ở các địa bàn trọngđiểm, địa bàn giáp ranh, đã tham mưu cho UBND thành phố ban hành và tổchức triển khai Quyết định số 6259/QĐ-UBND về tuần tra ban đêm phòngchống tội phạm nên tình hình cướp giật tài sản đã giảm một cách đáng kể, chỉcòn 15 vụ

Vào năm 2011, thành phố Đà Nẵng thông qua việc tạm dừng giải quyếtđăng ký thường trú vào thành phố đối với các trường hợp cho thuê nhà, mượnnhà ở nhờ, không có nghề nghiệp hoặc có tiền án tiền sự Bên cạnh đó, công anthành phố Đà Nẵng đã tham mưu Thành ủy ban hành chương trình hành động số05/CTr/TU ngày 9/12/2010 và UBND thành phố ban hành Kế hoạch số 676/KH-UBND ngày 9/2/2011 về thực hiện chỉ thị 48 ngày 22/10/2010 của Bộ Chính Trị vềtăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trongtình hình mới Do kiểm soát được lượng người nhập cư cũng như cư trú cùng vớiviệc thực hiện các chủ trương trên nên tình hình tội cướp giật tài sản do người chưathành niên phạm tội đã giảm đi một cách rõ

Trang 34

Bảng 2: Tình hình người chưa thành niên phạm tội cướp giật tài sản thực

hiện theo từng quận, huyện từ năm 2008 đến năm 2012

Số vụ cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện trên các quận, huyện tại TP Đà Nẵng từ năm 2008 - 2012

Số bị cáo (người) phạm tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện trên các quận.huyện tại TP Đà Nẵng từ năm 2008 - 2012

(Nguồn từ tòa án nhân dân Thành Phố Đà Nẵng)

Biểu đồ 2: Thể hiện số vụ, số bị cáo phạm tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện tại TP Đà Nẵng từ năm 2008 đến

năm 2012

Trang 35

Qua bảng thống kê số 2 và biểu đồ số 2 , ta nhận thấy :

Quận Hải Châu: Số vụ và số bị cáo người chưa thành niên phạm tội cướpgiật tài sản cao nhất : năm 2008 có 21 vụ, 40 bị cáo, năm 2009 có 4 vụ, 8 bị cáo,năm 2010 có 2 vụ, 2 bị cáo, năm 2011 có 2 vụ, 3 bị cáo và năm 2012 có 2 vụ, 3

bị cáo Như vậy, quận Hải Châu có 31 vụ , 56 bị cáo người chưa thành niênphạm tội cướp giật tài sản

Quận Thanh Khê: Cao nhất là vào năm 2008 có 13 vụ với 20 bị cáo Năm

2011 không có vụ nào Năm 2012 có 3 vụ, 3 bị cáo.Như vậy quận Thanh Khê có

26 vụ 39 bị cáo người chưa thành niên phạm tội cướp giật tài sản xảy ra trong 5năm từ năm 2008 đến năm 2012

Quận Liên Chiểu: Số vụ và số bị cáo người chưa thành niên phạm tội cướpgiật tài sản xếp thứ 3: Năm 2008 có 7 vụ, 9 bị cáo năm 2009, 2010, 2012 không

có bị cáo nào Năm 2011 có 2 vụ, 3 bị cáo Như vậy, quận Liên Chiểu có 9 vụ,

12 bị cáo người chưa thành niên phạm tội cướp giật tài sản

Quận Sơn Trà: Số vụ và số bị cáo người chưa thành niên phạm tội cướpgiật tài sản xếp thứ 4: có 8 vụ, 9 bị cáo

Quận Cẩm Lệ: Số vụ và số bị cáo người chưa thành niên phạm tội cướpgiật tài sản xếp thứ 5 có 4 vụ, 7 bị cáo

Quận Ngũ Hành Sơn : Số vụ và số bị cáo người chưa thành niên phạm tộicướp giật tài sản xếp thứ 5 có 1 vụ, 2 bị cáo

Huyện Hòa Vang: Số vụ và số bị cáo người chưa thành niên phạm tội cướpgiật tài sản xếp cuối cùng 1 vụ và 1 bị cáo Tương ứng với số vụ và số bị cáo tạicác quận, huyện thì biểu đồ số 2 cũng thể hiện số vụ, số bị cáo chưa thành niênphạm tội cướp giật tài sản qua 5 năm (2008 – 2012) cao nhất là quận Hải Châuvà thấp nhất là Huyện Hòa Vang

Nguyên nhân : Quận Hải Châu là quận nằm ở trung tâm thành phố với sốngười tập trung đông, dân thập phương từ nơi khác đến cư trú nhiều, nhất làngười chưa thành niên chiếm tỷ lệ cao, quận Hải Châu có nhiều siêu thị, cửahàng, ngân hàng mọc lên, đời sống nhân dân tương đối cao, tình hình dân cưphức tạp nên tình hình cướp giật thường hay xảy ra Trong khi đó, huyện Hòa

Trang 36

Vang là một huyện nằm ở ngoại ô thành phố, dân số tập trung thưa thớt, đờisống dân cư thấp, đa số là làm nông, phần nhiều người chưa thành niên không

có việc làm thường hay đến vùng khác để kiếm việc làm thêm nên tình hìnhcướp giật tài sản tại địa phương này thường ít hơn so với các quận, huyện kháctrên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Bảng 3: Người chưa thành niên phạm tội cướp giật tài sản tại thành phố Đà Nẵng so với tổng dân số thành phố Đà Nẵng (từ đủ 14 tuổi đến dưới 18

tuổi) từ năm 2008 đến năm 2012

Năm Số vụ

(I)

Số bị cáo (II)

Tổng dân số (tính trên nghìn người từ đủ 14 tuổi đến dưới

18 tuổi) (III)

Tỷ lệ % Số vụ

(I-III)

Số bị cáo (II-III)

Trang 37

Qua bảng thống kê số 3 và biểu đồ số 3: Từ năm 2008 đến năm 2012, xétvề tổng dân số từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi qua 5 năm ta thấy, dân số từ đủ 14tuổi đến dưới 18 tuổi tại Thành Phố Đà Nẵng tăng nhanh

Năm 2008, dân số: 168.06 nghìn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi,trong đó có 43 vụ cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tội thực hiện,có 71 bị cáo chiếm tỷ lệ: 0.0256% số vụ và chiếm tỷ lệ 0.0422% bị cáo.Đây là

tỷ lệ cao nhất trong 5 năm kể từ năm 2008 đến năm 2012

Năm 2009: Tổng dân số từ đủ 14 tuổi đến dưới dưới 18 tuổi : 176.94 nghìnngười, có 15 vụ cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện, có 28 bịcáo người chưa thành niên, số vụ chiếm tỷ lệ 0.0085% và số bị cáo chiếm0.0158%

Năm 2010: Tổng dân số từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi là 178.08 nghìnngười, có 7 vụ cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện với 8 bị cáongười chưa thành niên, số vụ chiếm tỷ lệ 0.0039% và số bị cáo chiếm 0.0045%Năm 2011: Tổng dân số từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi là 224.52 nghìn có 4vụ cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện với 6 bị cáo, số vụchiếm tỷ lệ 0.0018% và số bị cáo chiếm 0.0027%

Năm 2012: Tổng dân số từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi là 240.57 nghìnngười, có 11 vụ cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện, có 13 bịcáo người chưa thành niên, số vụ chiếm tỷ lệ 0.0046% và số bị cáo chiếm0.0054%

Nguyên nhân: vào năm 2008, tội cướp giật tài sản do người chưa thành niênphạm tội chiếm tỷ lệ cao nhất về số vụ là 0.0256% và số bị cáo chiếm tỷ lệ0.0422% Có nhiều yếu tố tác động nhưng nguyên nhân chủ yếu là do đời sốngkinh tế tăng lên, đời sống vật chất cũng tăng lên, bên cạnh sự phát triển kinh tếdẫn đến mặt trái của nó nên tội phạm phát sinh ngày càng gia tăng ,đặc biệt làtội cướp giật tài sản do người chưa thành niên gây ra

Năm 2008, đội ngũ cán bộ còn thiếu nên công tác tuần tra ban đêm chưachặt chẽ, công tác tuyên truyền về việc phòng ngừa tội phạm chưa cao, nhữngvùng giáp ranh thường hay xảy ra cướp giật tài sản Tương ứng với việc phântích số liệu nêu trên thì biểu đồ số 3 cũng thể hiện rõ về số vụ và số bị cáo caonhất là năm 2008 và thấp nhất về số vụ và số bị cáo là năm 2011

Trang 38

2.1.1.2 Động thái (diễn biến) của tình hình cướp giật tài sản do người

chưa thành niên thực hiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2008

đến năm 2012

Bảng 4: Số vụ, số bị cáo người chưa thành niên phạm tội cướp giật tài sản

so với toàn bộ số vụ án hình sự và tổng số bị cáo tại thành phố Đà

Nẵng từ năm 2008 đến năm 2012

toàn TP Đà Nẵng giải quyết (II)

Số vụ cướp giật tài sản

do người chưa thành niên thực hiện (III)

Số bị cáo cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện (IV)

Tỷ lệ % số vụ

(III-I)

Tỷ lệ % số bị cáo (IV-II)

Biểu đồ 4: Số vụ và số bị cáo người chưa thành niên phạm tội cướp giật tài

sản so với tổng số vụ án hình sự và tổng số bị cáo tại Thành phố Đà Nẵng từ

năm 2008 đến năm 2012

Qua bảng thống kê số 4 và biểu đồ 4 : tổng số án hình sự toàn ngành Tòa án

thành phố Đà nẵng giải quyết tăng dần qua các năm từ năm 2008 đến năm 2012

Năm 2008 ,số vụ cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện có

43 vụ với số bị cáo là 71 so với tổng số án hình sự toàn thành phố Đà Nẵng đã

Trang 39

giải quyết số vụ là 824 và số bị cáo là 1562 chiếm tỷ lệ 5.2% số vụ và chiếm tỷlệ 4.5% số bị cáo.

Năm 2009 ,số vụ cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện vớisố vụ là 15, bị cáo là 28 so với tổng số án hình sự toàn thành phố Đà Nẵng đãgiải quyết số vụ là 938, số bị cáo là 1691 chiếm tỷ lệ 1.6% số vụ và chiếm tỷ lệ1.7% số bị cáo

Năm 2010, số vụ cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện vớisố vụ là 7, số bị cáo là 8 so với tổng số án hình sự toàn thành phố Đà Nẵng đãgiải quyết số vụ là 915, số bị cáo là 1510 chiếm tỷ lệ 0.8% số vụ và chiếm tỷ lệ0.5% số bị cáo

Năm 2011, số vụ cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện vớisố vụ là 4, số bị cáo là 6 so với tổng số án hình sự toàn thành phố Đà Nẵng đãgiải quyết số vụ là 962, số bị cáo là 1643 chiếm tỷ lệ 0.4% số vụ và chiếm tỷ lệ0.4% số bị cáo

Năm 2012, số vụ cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện vớisố vụ là 11, số bị cáo là 13 so với tổng số án hình sự toàn thành phố Đà Nẵng đãgiải quyết số vụ là 1064, số bị cáo là 1806 chiếm tỷ lệ 1.0% số vụ và chiếm tỷ lệ0.7% số bị cáo

Như vậy, qua bảng thống kê số 4 và biểu đồ số 4 cho thấy số vụ và số bịcáo phạm tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên thực hiện so với tổng số

bị cáo và tổng số vụ án hình sự toàn thành phố Đà Nẵng đã giải quyết cao nhấtnăm 2008

Tiếp theo năm 2009 – tiếp theo là năm 2012, tiếp theo là năm 2010 và thấpnhất là năm 2011; tương ứng với số vụ và số bị cáo thì biểu đồ số 4 tăng giảmcao nhất năm 2008 và thấp nhất năm 2011

Nguyên nhân: Năm 2008, tỷ lệ cướp giật tài sản do người chưa thành niênthực hiện chiếm tỷ lệ cao nhưng năm 2011 tỷ lệ chiếm thấp nhất Mặc dù tổng sốvụ án hình sự Tòa án thành phố Đà Nẵng tăng lên qua các năm nhưng tội cướpgiật tài sản do người chưa thành niên thực hiện lại giảm xuống cho thấy công táctuyên truyền pháp luật qua các năm đạt hiệu quả Các đối tượng người chưa thành

Trang 40

niên nghi vấn, các đối tượng có tiền án về tội cướp giật tài sản được quản lý chặtchẽ cho nên so với các tội phạm khác mà Tòa án thành phố Đà Nẵng đã giải quyếtthì tội cướp giật tài sản do người chưa thành niên phạm tội giảm.

Bảng 5: Số vụ và số bị cáo người chưa thành niên phạm tội cướp giật tài sản

từ năm 2008 đến 2012 so với diện tích thành phố Đà Nẵng

Năm Số vụ (I)

Số bị cáo (người) (II)

Tổng diện tích Đà Nẵng (km 2 ) (III)

Tỉ lệ diện tích trên số vụ

(km 2 /vụ) (I-III)

Tỉ lệ diện tích trên số bị cáo (km 2 /người) (II-III)

Tỉ lệ diện tích trên số bị cáo (km2/người)

Biểu đồ số 5: Số vụ và số bị cáo người chưa thành niên phạm tội cướp giật tài sản từ năm 2008 đến 2012 so với diện tích thành phố Đà Nẵng

Những số liệu thống kê tại bảng 5 và biểu đồ số 5 cho thấy

Năm 2008, tổng diện tích thành phố Đà Nẵng có 1283.43 km2 với 43 vụ vàsố bị cáo là 71 tỷ lệ tính trên 30km2/1 vụ cướp giật tài sản do người chưa thành

Ngày đăng: 26/11/2013, 13:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w