1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác nhân gây bệnh và biện pháp phòng trừ bệnh thối thân chảy nhựa trên cây mít

229 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 229
Dung lượng 13,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của mẫu Phytophthora phân lập trên cây mít ở miền Đông Nam bộ...100 3.3.1.. Ảnh hưởng của bón phân gà và phân bò đến tỷ lệ bệnh TTCN % trên

Trang 2

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS TS Nguyễn Văn Tuất

2 TS Nguyễn Văn Hòa

TP Hồ Chí Minh - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Toàn bộ

số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng đượccông bố trong các công trình nghiên cứu khác

Tác giả luận án

Mai Văn Trị

Trang 4

bộ tham gia công tác đào tạo; của lãnh đạo Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam

và Phòng QLKH và HTQT và cán bộ tham gia công tác đào tạo; chân thành cảm

ơn sự đồng ý, động viên và hỗ trợ của lãnh đạo Viện cây ăn quả miền Nam

Xin chân thành cảm ơn TS Santa Olga Cacciola, BM Nông nghiệp, Thựcphẩm và Môi trường, ĐH Catania, Italia; GS Gaetano Magnano di San Lio (ĐHReggio Calabria Địa Trung Hải, Italia) cùng một số đồng nghiệp khác đã tài trợ vàgiúp đỡ về vật liệu, phương tiện cho việc thực hiện một số thí nghiệm

Xin chân thành cám ơn các đồng nghiệp ở Phòng Bảo vệ thực vật và Phòng

CN Sau thu hoạch thuộc Viện cây ăn quả miền Nam, BM Di truyền và SH phân tửthuộc ĐH Cần Thơ, đồng nghiệp tại Trung tâm Kiểm dịch sau nhập khẩu, TS.André Drenth (ĐH Queensland), PGS.TS Nguyễn Minh Châu và TS Đinh ThịYến Phương Chân thành cảm ơn lãnh đạo ngành chuyên môn và nông dân trồngmít ở các tỉnh miền Đông Nam bộ đã động viên, giúp đỡ, hỗ trợ trong suốt quátrình điều tra, thực hiện thí nghiệm và hoàn chỉnh luận văn Cuối cùng xin cám ơncác anh chị, các cháu, gia đình, người thân, cùng tất cả đồng nghiệp và bạn bè đãđộng viên, giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận án

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC THUẬT NGỮ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH xii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2

3 Những đóng góp mới của luận án 2

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

6 Giới hạn của đề tài 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

1.2 Một số thông tin về cây mít 8

1.2.1 Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học, sản xuất và sử dụng 8

1.2.2 Một số giống mít chính ở miền Đông Nam bộ 10

1.2.3 Một số đặc điểm canh tác 12

1.2.4 Một số sâu bệnh hại trên cây mít 13

1.2.5 Sản xuất mít ởĐông Nam bộ 125

1.3 Bệnh thối thân chảy nhựa (TTCN) hại mít 16

1.4 Một số đặc điểm hình thái và sinh học của Phytophthora 17

Trang 6

1.4.1 Chi Phytophthora 17

1.4.2 Phân lập Phytophthora 17

1.4.3 Chu kỳ sống (life cycle) của Phytophthora 20

1.4.4 Loài Phytophthora palmivora 22

1.4.5 Xác định loài Phytophthora gây bệnh cây trồng 25

1.4.6 Một số yếu tố sinh thái ảnh hưởng sự phát triển của Phytophthora 28

1.5 Chu kỳ bệnh (disease cycle) Phytophthora 29

1.6 Một số biện pháp phòng trừ bệnh gây bởi Phytophthora 32

1.6.1 Biện pháp canh tác 32

1.6.1.1 Ngăn ngừa nguồn bệnh xâm nhập, lây lan và sử dụng cây giống sạch bệnh 32

1.6.1.2 Thoát nước trong vườn 33

1.6.1.3 Bón phân hữu cơ 34

1.6.2 Biện pháp giống chống chịu bệnh 35

1.6.3 Biện pháp sinh học 36

1.6.4 Phòng trừ bằng thuốc hóa học 38

1.6.5 Phòng trừ tổng hợp bệnh Phytophthora 42

1.7 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu bệnh thối thân chảy nhựa hại mít 43

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

2.1 Vật liệu nghiên cứu 45

2.1.1 Môi trường nuôi cấy, hóa chất, trang thiết bị và dụng cụ sử dụng chung 45

2.1.2 Nguồn Phytophthora 46

2.1.3 Các giống cây ăn quả 47

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 47

2.2.1 Thời gian thực hiện 47

2.2.2 Địa điểm thực hiện 47

2.3 Nội dung nghiên cứu 48

2.4 Phương pháp và phương tiện nghiên cứu 48

Trang 7

2.4.1 Phương pháp điều tra tình hình bệnh thối thân chảy nhựa 48

2.4.2 Phương pháp thu thập và phân lập mẫu 49

2.4.3 Phương pháp xác định loài Phytophthora gây bệnh 54

2.4.4 Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của loài P palmivora 57

2.4.5 Nghiên cứu đặc điểm phát sinh- phát triển của bệnh TTCN ngoài đồng 61

2.4.6 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh thối thân chảy nhựa 63

2.4.6.1 Nghiên cứu tuyển chọn giống mít có khả năng chống chịu bệnh TTCN 63

2.4.6.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp canh tác đối với bệnh TTCN 67

2.4.6.3 Nghiên cứu khả năng giảm bệnh TTCN hại mít của T harzianum trong điều kiện đồng ruộng 73

2.4.6.4 Nghiên cứu phòng trừ bệnh TTCN hại mít sử dụng thuốc hóa học 75

2.4.7 Xây dựng mô hình phòng trừ tổng hợp bệnh TTCN hại mít 78

2.5 Phương pháp xử lý, chuyển đổi số liệu cho các thí nghiệm 80

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 82

3.1 Triệu chứng bệnh thối thân chảy nhựa trên mít ở Đông Nam bộ 82

3.2 Phân lập, xác định tác nhân gây bệnh TTCN hại mít ở Đông Nam bộ 87

3.2.1 Phân lập tác nhân gây bệnh TTCN hại mít ở Đông Nam bộ 87

3.2.2 Kết quả lây nhiễm nhân tạo và tái phân lập ký sinh gây bệnh 88

3.2.3 Xác định loài Phytophthora bằng biện pháp hình thái 92

3.2.4 Xác định loài Phytophthora gây bệnh bằng phương pháp sinh học phân tử 96

3.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của mẫu Phytophthora phân lập trên cây mít ở miền Đông Nam bộ 100

3.3.1 Xác định kiểu ghép cặp (mating type, kiểu lai) của các mẫu phân lập 100

3.3.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển tản nấm của P palmivora 101

3.3.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng tạo bào tử nang của P palmivora 103

3.3.4 Ảnh hưởng của mức pH môi trường đến tăng trưởng của P palmivora 104

3.3.5 Khả năng gây bệnh của P palmivora đối với một số loài cây ăn quả 106

3.3.6 Tính kháng Metalaxyl của mẫu Phytophthora phân lập trên mít 107

Trang 8

3.4 Nghiên cứu đặc điểm phát sinh, phát triển của bệnh TTCN hại mít 108

3.4.1 Tình hình bệnh thối thân chảy nhựa ngoài đồng 108

3.4.2 Diễn biến trong năm của bệnh TTCN hại mít ở khu vực miền Đông Nam bộ 110

3.4.3 Điều tra ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật canh tác và sinh thái đến bệnh TTCN hại mít 114

3.4.3.1 Ảnh hưởng của giống trồng đến bệnh TTCN 114

3.4.3.3 Ảnh hưởng của độ tuổi vườn cây đến bệnh TTCN 117

3.4.3.4 Ảnh hưởng của địa hình vườn cây đến bệnh TTCN 1178

3.4.3.5 Ảnh hưởng của trồng thuần và trồng xen đến bệnh TTCN hại mít 119

3.5 Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh TTCN hại mít 121

3.5.1 Nghiên cứu tuyển chọn giống mít chống chịu bệnh TTCN 121

3.5.2 Nghiên cứu phòng trừ bệnh TTCN hại mít bằng biện pháp canh tác 130

3.5.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý T harzianum đến bệnh TTCN hại mít trong điều kiện đồng ruộng 144

3.5.4 Nghiên cứu phòng trừ bệnh bằng thuốc hóa học 149

3.5.5 Kết quả thực hiện mô hình phòng trừ tổng hợp bệnh TTCN hại mít 162

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 168

4.1 Kết luận 168

4.2 Đề nghị 169

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 170

TÀI LIỆU THAM KHẢO 171

-Tài liệu tham khảo tiếng Việt 171

-Tài liệu tham khảo tiếng Anh 173

PHỤ LỤC 190

Trang 9

PDA Môi trường nuôi cấy PDA (Potato Dextrose Agar)

Trang 10

DANH MỤC THUẬT NGỮ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG ANH

Bào tử động/động bào tử Zoospores

Bào tử hậu/hậu bào tử Chlamydospores

Cấu trúc cái/túi noãn Oogonium

Cấu trúc đực/ bao đực Antheridium

Núm (của bào tử nang) Papillate

Trang 11

3.2 Danh sách 10 mẫu phân lập được mã hóa và nguồn gốc của mẫu 87

3.4 Tổng hợp một số đặc điểm hình thái của 10 mẫu Phytophthora được

3.5 Kết quả xác định kiểu ghép cặp của các mẫu Phytophthora phân lập

3.6 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển đường kính tản nấm của P

3.7 Ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ đến sản sinh bào tử nang của P

palmivora trong điều kiện phòng thí nghiệm (104x bào tử nang/đĩa) 1043.8 Đáp ứng đối với các nồng độ Metalaxyl của 10 mẫu Phytophthora

phân lập trên mít ở Đông Nam bộ

107

3.9 Ảnh hưởng của giống mít được trồng đến tỷ lệ bệnh TTCN (%) hại

mít qua điều tra (BRVT, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai)

115

3.10 Ảnh hưởng của khoảng cách trồng mít đến tỷ lệ bệnh TTCN (%) hại

mít qua điều tra (BRVT, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai)

116

3.11 Ảnh hưởng của độ tuổi vườn mít đến tỷ lệ bệnh TTCN (%) hại mít

qua điều tra (BRVT, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai) 1173.12 Ảnh hưởng của địa hình vườn mít đến tỷ lệ bệnh TTCN (%) hại mít

Trang 12

3.13 Ảnh hưởng của trồng thuần và trồng xen đến tỷ lệ bệnh (%) TTCN

3.14 Diện tích vết bệnh (cm2) trung bình trên mô lá của một số giống/dòng

mít sau lây nhiễm với P palmivora trong phòng thí nghiệm (BRVT) 1233.15 Chiều dài vết bệnh (mm) trung bình trên đoạn cành non của một số

giống/dòng mít sau lây nhiễm với P palmivora trong phòng thí

nghiệm (BRVT)

125

3.16 Tỷ lệ bệnh (%) trên cây con trồng từ hạt của bảy giống mít sau khi lây

nhiễm với P palmivora trong điều kiện nhà lưới (BRVT) 1293.17 Tỷ lệ hiện diện (%) của P palmivora trên cây giống và trên vườn

3.18 Ảnh hưởng của biện pháp tiêu nước trong vườn mít đến tỷ lệ bệnh

TTCN (%) hại mít (Lộc Ninh, Bình Phước)

134

3.19 Ảnh hưởng của biện pháp tiêu nước trong vườn mít đến chỉ số bệnh

3.20 Ảnh hưởng của bón phân gà và phân bò đến tỷ lệ bệnh TTCN (%)

trên cây mít trồng chậu trong nhà lưới (Bà Rịa Vũng Tàu) 1373.21 Ảnh hưởng của bón phân gà và phân bò đến tỷ lệ bệnh TTCN (%) hại

3.22 Ảnh hưởng của bón phân gà và phân bò đến chỉ số bệnh TTCN (%)

hại mít giai đoạn kinh doanh (Lộc Ninh, Bình Phước) 1403.23 Ảnh hưởng của bón phân gà và phân bò đến năng suất mít (kg

quả/cây/năm) giai đoạn kinh doanh (Lộc Ninh, Bình Phước) 1423.24 Ảnh hưởng của xử lý nấm T harzianum SR18 đến tỷ lệ bệnh TTCN

(%) hại mít giai đoạn kinh doanh (Lộc Ninh, Bình Phước)

145

3.25 Ảnh hưởng của xử lý nấm T harzianum SR18 đến chỉ số bệnh TTCN

(%) hại mít giai đoạn kinh doanh (Lộc Ninh, Bình Phước)

146

3.26 Ảnh hưởng của xử lý nấm T harzianum SR18 đến năng suất mít

(kg/cây/năm) giai đoạn kinh doanh (Lộc Ninh, Bình Phước) 147

Trang 13

3.27 Hiệu lực của một số thuốc hóa học đến tỷ lệ bệnh TTCN (%) trên cây

mít trồng chậu và tỷ lệ hiện diện (%) của P palmivora trong giá thể

trồng trong điều kiện nhà lưới (BRVT)

151

3.28 Hiệu lực của một số thuốc hóa học đến tỷ lệ bệnh TTCN (%) hại mít

3.29 Hiệu lực của một số thuốc hóa học đến chỉ số bệnh TTCN (%) hại mít

3.30 Hiệu lực của một số thuốc hóa học đến trung bình năng suất quả mít

(kg/cây/năm) giai đoạn kinh doanh (Đồng Xoài, Bình Phước) 1553.31 Ảnh hưởng của một số biện pháp áp dụng Potassium phosphite đến tỷ

lệ bệnh TTCN hại mít (%) giai đoạn kinh doanh (Lộc Ninh, Bình

Phước)

157

3.32 Ảnh hưởng của một số biện pháp áp dụng Potassium phosphite đến

chỉ số bệnh TTCN (%) hại mít giai đoạn kinh doanh (Lộc Ninh, Bình

Phước)

158

3.33 Ảnh hưởng của một số biện pháp áp dụng Potassium phosphite đến

trung bình năng suất quả mít (kg/cây/năm) giai đoạn kinh doanh (Lộc

Ninh, Bình Phước)

161

3.34 Tỷ lệ bệnh (%) và hiệu lực phòng trừ bệnh (%) trên ba điểm mô hình

phòng trừ tổng hợp bệnh TTCN hại mít ở Đông Nam bộ 1623.35 Số quả trên cây, khối lượng quả (kg) và năng suất quả (kg/cây/năm)

trên mít trên ba điểm mô hình phòng trừ tổng hợp bệnh TTCN hại mít

ở Đông Nam bộ

163

3.36 Chi phí và lợi nhuận trung bình của lô mô hình và lô đối chứng từ ba

điểm mô hình phòng trừ tổng hợp bệnh TTCN hại mít ở Đông Nam bộ 164

Trang 14

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.1 Phương pháp phân lập sử dụng mồi bẫy là cánh hoa hồng 512.2 Cách chuẩn bị mẫu lá và mẫu đoạn cành cho thí nghiệm đánh giá tính

chống chịu của giống sử dụng mô rời của mít trong phòng thí nghiệm 652.3 Đắp bờ quanh gốc mít làm ‘bồn tưới’ để chứa nước tưới (a) và trồng

theo cách thông thường, không làm mô cạn và làm rãnh thoát nước (b) 69

3.6 Triệu chứng bệnh trên quả mít được lây nhiễm với Phytophthora 903.7 Triệu chứng bệnh trên lá mít sau khi lây nhiễm với Phytophthora 903.8 Triệu chứng bệnh trên thân mít sau khi lây nhiễm với Phytophthora 903.9 Lây nhiễm mẫu phân lập Phytophthora MD5 trên cây con 903.10 Hình thái khuẩn lạc mẫu phân lập Phytophthora MD5 trên môi

trường nuôi cấy

94

3.11 Đặc điểm hình thái bào tử mẫu phân lập Phytophthora MD5 943.12 Kết quả chạy điện di mẫu DNA trên gel agarose 1% (w/v) 96

Trang 15

3.13 Ảnh hưởng của mức pH môi trường đến mức tăng trưởng đường kính

tản nấm (cm) của mẫu phân lập P palmivora MD5 trong điều kiện

phòng thí nghiệm

105

3.14 Hình minh họa vị trí tương đối khu vực khảo sát và số cây khảo sát, tỷ

lệ (%) cây mít nhiễm bệnh TTCN ở bốn tỉnh miền Đông Nam bộ 1093.15 Sơ đồ biểu diễn tỷ lệ bệnh phát sinh trong tháng và lượng mưa trung

bình qua các tháng trong năm 2013 ở khu vực miền Đông Nam bộ

(BRVT, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai)

111

3.16 Sơ đồ biểu diễn tỷ lệ bệnh phát sinh trong tháng và lượng mưa trung

bình qua các tháng trong năm 2013 ở khu vực miền Đông Nam bộ

(BRVT, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai)

112

3.17 Cây mít đối chứng (hình trái) và cây mít (từ hạt giống Siêu Sớm) sau

lây nhiễm với P palmivora (hình phải)

130

3.18 Cây mít (a) và quả của cây mít (b) trong nghiệm thức tưới 2 lần +

3.19 Cây mít bị bệnh, lá vàng rụng dần trên ô đối chứng (a) và cây mít sinh

trưởng tốt (b) trong nghiệm thức Potassium phosphite tưới đất + phun

tán

160

3.20 Cây mít bị nhiễm bệnh có tán thưa, quả nhỏ trong lô đối chứng (hình

trái) và cây không bị bệnh đang cho quả trong lô mô hình (hình phải)

166

3.21 Vết bệnh trên thân còn tươi (a) trên cây mít lô đối chứng và vết bệnh

Trang 16

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mít (Artocarpus heterophyllus Lam., Moraceae) là loài cây ăn quả nhiệt đới cókhả năng thích nghi rộng, ít đòi hỏi chăm sóc, được trồng phổ biến ở nhiều vùng ởnước ta trong đó có khu vực Đông Nam bộ Hiện nay cây mít trở thành cây trồng hànghóa, được nông dân chú trọng phát triển Thống kê của Cục Trồng trọt (Bộ Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn) diện tích trồng mít ở nước ta ước tính trên 24.000 ha(năm 2018) Phần lớn diện tích trồng tập trung ở các khu vực Đông Nam bộ, Tây Nam

bộ, Tây nguyên và Nam Trung bộ, trong đó Đông Nam bộ là vùng sản xuất và chế biếnmít hàng hóa quan trọng Theo thống kê năm 2017 của Cục Trồng trọt, mít trong nhóm

15 loại cây ăn quả có diện tích trồng lớn nhất (có diện tích trên 10.000 ha), là một trongtám loại quả tươi được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc Kim ngạch xuất khẩumít năm 2017 ước đạt 28 triệu USD, đứng thứ 7 trong 10 mặt hàng rau quả xuất khẩu,cao hơn cả mặt hàng chôm chôm (Nephelium lappaceum) Do trồng mít có hiệu quảkinh tế, diện tích trồng mít đang tăng nhanh, đặc biệt trong 5 năm gần đây

Phân bố rộng hơn, sản xuất tập trung ở quy mô lớn hơn và thâm canh cao nhằmtăng năng suất và sản lượng quả là điều kiện thuận lợi cho nhiều dịch hại phát sinh pháttriển trên cây mít Trong những năm gần đây, bệnh thối thân chảy nhựa (TTCN) (còngọi là thối gốc chảy nhựa, thối gốc chảy mủ) đã gây thiệt hại cho nhiều vùng trồng mít

ở Đông Nam bộ Cây bị bệnh sẽ có sinh trưởng chậm lại, mất sức sống, lá chuyển vàng

và rụng sớm, khô chết dần từng cành hay cả cây nếu bệnh không được ngăn chặn Hiệnnay bệnh TTCN ngày càng trở nên phổ biến, gây thiệt hại sinh trưởng, năng suất và rútngắn chu kỳ kinh tế vườn cây, trở thành yếu tố chính giới hạn sản xuất mít ở miềnĐông Nam bộ [101]

Mặc dù bệnh phổ biến và gây thiệt hại cho sản xuất nhưng việc phòng trừ bệnhcòn lúng túng do chưa có nghiên cứu hệ thống về tác nhân gây bệnh, đặc điểm phát

Trang 17

sinh phát triển và biện pháp phòng trừ bệnh [4], [5] và [134] Đề tài “Nghiên cứu tácnhân gây bệnh và biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thối thân chảy nhựa trên cây mít

ở miền Đông Nam bộ” được thực hiện nhằm xác định tác nhân gây bệnh và phát triểncác biện pháp nhằm giảm bệnh góp phần khắc phục bệnh thối thân chảy nhựa hại mít ởmiền Đông Nam bộ

2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu xác định tác nhân gây bệnh và một số biện pháp nhằm giảm bệnhthối thân chảy nhựa (TTCN) hại mít ở miền Đông Nam bộ

2.2 Yêu cầu của đề tài

-Xác định loài Phytophthora gây bệnh thối thân chảy nhựa hại mít ở miền ĐôngNam bộ

-Khảo sát một số đặc điểm sinh học của Phytophthora gây bệnh thối thân chảynhựa và diễn biến của bệnh trong năm

-Nghiên cứu xác định một số biện pháp nhằm giảm bệnh TTCN hại cây mít ởmiền Đông Nam bộ

3 Những đóng góp mới của luận án

Những kết quả mới của luận án đã đạt được là:

-Loài P palmivora được xác định là tác nhân gây bệnh thối thân chảy nhựa hạimít ở miền Đông Nam bộ dựa trên đặc điểm hình thái và trình tự nucleotide của vùngrDNA-ITS và của gen COX II Đây là lần đầu tiên loài này được xác định gây ra bệnhthối thân chảy nhựa trên cây mít ở Việt Nam

-Xác định được trình tự nucleotide của vùng rDNA-ITS và của gen COX II củaloài P palmivora gây hại trên cây mít, cung cấp dữ liệu khoa học cho các nghiên cứutiếp theo về mầm bệnh quan trọng này

-Xác định một số biện pháp làm giảm bệnh, đó là: (i) sử dụng giống mít Lá Lớnchống chịu bệnh (ii) làm rãnh tạo điều kiện thoát nước trong vườn, (iv) bón phân gà 12

Trang 18

tấn/ha hoặc phân bò 16 tấn/ha mỗi năm, (v) sử dụng nấm đối kháng T harzianumSR18 tưới đất 2 lần hay tưới đất vào tháng 5 và 7 và phun tán vào tháng 6; 8; 10; và (vi)

sử dụng Potassium phosphite 200 g/lít, lượng 6 lít/ha, nồng độ 1%; phun tán (tháng 5

và bệnh hại cây trồng gây bởi ký sinh lây-nhiễm-qua-đất Phytophthora

-Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình phòng trừtổng hợp bệnh thối thân chảy nhựa hại mít

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

-Kết quả của đề tài áp dụng vào sản xuất sẽ giúp cho việc nhận diện bệnh thốithân chảy nhựa hại mít nhanh, chính xác, giúp cho việc phòng trừ bệnh chủ động vàhiệu quả hơn, góp phần hạn chế được bệnh, cải thiện năng suất và kéo dài chu kỳ kinh

tế của vườn cây

-Kết quả của đề tài là nguồn tài liệu cho các nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật, sinhviên tham khảo phục vụ cho định hướng nghiên cứu, xây dựng tài liệu giảng dạy, tàiliệu tập huấn kỹ thuật cho nông dân

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Loài Phytophthora gây bệnh và bệnh thối thân chảynhựa trên cây mít (Artocarpus heterophyllus Lam.)

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu xác định loài Phytophthoragây bệnh thối thân chảy nhựa hại cây mít ở miền Đông Nam bộ và nghiên cứu một sốbiện pháp phòng trừ giúp giảm được bệnh và phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất

- Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ tháng 9/2012 đến 3/2018

Trang 19

6 Giới hạn của đề tài

Các nghiên cứu phòng trừ ngoài đồng là thí nghiệm đơn yếu tố và việc đánh giáhiệu lực chủ yếu dựa trên các chỉ tiêu chính như tỷ lệ bệnh, chỉ số bệnh và năng suấtquả trên cây

Trang 20

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Bệnh thối thân chảy nhựa (TTCN) hại mít được ghi nhận từ lâu ở Việt Nam vàđược cho là do Phytophthora gây ra [4], [5] Triệu chứng bệnh thường bắt đầu ở phầnthân gần gốc, đặc trưng với vết loét sủng nước, có dịch cây tiết ra, lá vàng rụng dần [4].Bệnh ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất quả và rút ngắn chu kỳ kinh tế vườn cây[101] Dù được đánh giá là một trong những yếu tố chính giới hạn sản xuất mít, nhưngchưa có nghiên cứu một cách hệ thống về bệnh TTCN hại mít ở nước ta [4], [5] Do đó,việc nghiên cứu xác định loài Phytophthora gây bệnh và phát triển các biện phápphòng trừ bệnh thích hợp nhằm giảm thiệt hại do bệnh TTCN gây ra là cần thiết

Theo Drenth và Guest (2004) [50], có hơn 60 loài Phytophthora gây hại thựcvật Nhiều loài Phytophthora có thể được xác định bằng phương pháp hình thái họcqua sử dụng một số đặc điểm hình thái và sinh lý học dựa trên các nghiên cứu củaWaterhouse (1963) [151], Stamps và cs (1990) [137], Erwin và Ribeiro (1996) [59] vàGallegly và Hong (2008) [62] Bên cạnh phương pháp hình thái học, phương pháp sinhhọc phân tử đã được sử dụng để xác định loài [53] và đang được ứng dụng ngày càngrộng rải của [39] Việc xác định loài Phytophthora kết hợp giữa hình thái học và sinhhọc phân tử là phương pháp được áp dụng phổ biến hiện nay giúp cho việc xác định tácnhân gây bệnh chính xác và tin cậy hơn [15], [62]

Phytophthora được xem là một trong những vi sinh vật gây bệnh trên cây trồng

có tính hủy diệt nhất [119] và là một trong những bệnh hại cây trồng khó phòng trừnhất [50] Trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm như miền Đông Nam bộ, việc phòng trừbệnh Phytophthora trở nên nan giải do trong hệ thống canh tác luôn tồn tại một loạt cây

ký chủ và điều kiện môi trường ưa thích cho sự phát triển của ký sinh Nhằm giảmthiểu mức độ bệnh gây bởi Phytophthora, các biện pháp quản lý bệnh hiệu quả cầnđược phát triển

Trang 21

Phytophthora có thể lây lan qua con đường cây giống [157] nên việc đánh giánguy cơ lây lan qua vật liệu trồng là cần thiết để có khuyến cáo thích hợp nhằm ngănngừa sự lây lan của bệnh [50] Tính chống chịu đối với Phytophthora của một số cây

ăn quả bao gồm cây bơ (Persea americana), cây ca cao (Theobroma cacao), cây cómúi (Citrus spp.) đã được ghi nhận và ứng dụng vào trong sản xuất để phòng trừ bệnhPhytophthora [59] Đối với cây mít, việc nghiên cứu sử dụng tính chống chịu của giốngnhằm giảm áp lực bệnh TTCN là biện pháp quan trọng trong chiến lược quản lý bệnhtổng hợp [50]

Thoát nước tốt cho vườn cây là biện pháp quan trọng nhằm giảm bệnh [33], [50],[59] Thêm vào đó cây mít chịu úng kém và đòi hỏi đất trồng phải thoát nước tốt [4],[5] Những vùng đất thấp, đất bằng phẳng cần lên líp, đắp mô và làm mương thoátnước để cải thiện khả năng thoát nước và độ ẩm đất vườn cây [33], [59] Việc nghiêncứu ảnh hưởng của tiêu thoát nước trong vườn đối với bệnh nhằm giảm điều kiện ưathích đối với Phytophthora để quản lý bệnh hiệu quả hơn là cần thiết

Bón phân hữu cơ có thể ức chế P palmivora trong đất vì có thể giúp gia tăngchất hữu cơ trong đất, phát triển vi sinh vật cạnh tranh, gia tăng hoạt động sinh họctổng số và quần thể xạ khuẩn, vi khuẩn nhóm Pseudomonas sinh huỳnh quang và nấmđối kháng [50], [21], [99]; ổn định mức pH đất, thúc đẩy sinh trưởng cây trồng; thúcđẩy cơ chế phòng vệ của cây trồng chống lại vi sinh vật gây bệnh trong đất [78], [89];hình thành các hợp chất trung gian mà có thể giết Phytophthora qua quá trình phân hủychất hữu cơ trong đất [94] Do đó, cần nghiên cứu ảnh hưởng của bón phân hữu cơ đốivới bệnh TTCN để đánh giá tiềm năng sử dụng chúng nhằm giảm áp lực của bệnh

Nấm đối kháng Trichoderma spp đã được sử dụng để phòng trừ bệnhPhytophthora trên một số cây trồng trên thế giới và ở Việt Nam từ lâu [42], [112] Cơchế tác động của Trichoderma trong giảm bệnh dựa trên sự xâm chiếm không gian vật

lý và ức chế sự nhân lên của mầm bệnh; sản xuất các enzyme làm suy yếu vách tế bàocủa các tác nhân gây bệnh; sản xuất kháng sinh có thể tiêu diệt mầm bệnh; thúc đẩy

Trang 22

tăng trưởng cây trồng và kích thích cơ chế phòng vệ của cây trồng Việc sử dụng nấmđối kháng này tương thích với biện pháp bón phân hữu cơ và được xem là một biệnpháp không thể thiếu trong phòng trừ tổng hợp [112] Điều đó tạo cơ sở khoa học choviệc nghiên cứu sử dụng nấm đối kháng Trichoderma đối phó với bệnh TTCN hại mít.

Phosphonate (Potassium phosphite hay Phosphite; HPO32-/H2PO3-) đã được sửdụng phòng trừ bệnh Phytophthora trên một số cây trồng bao gồm cây bơ [123], ca cao(Theobroma cacao) [70] [79], [80], sầu riêng (Durio zibethinus) [47] và hồ tiêu [15].Potassium phosphite bảo vệ cây trồng chống lại Phytophthora qua cơ chế tác độngphức hợp bao gồm những đáp ứng gián tiếp và trực tiếp dẫn đến gia tăng khả năngphòng vệ của cây chủ trước sự tấn công của Phytophthora [43], [69] Bên cạnh các loạithuốc hóa học được sử dụng phổ biến, việc nghiên cứu sử dụng Potassium phosphitephòng trừ bệnh nhằm tạo ra nhiều lựa chọn trong sử dụng thuốc hóa học là quan trọng

Bệnh Phytophthora là một bệnh nguy hiểm và khó phòng trừ Phòng trừ bệnhhiệu quả hiếm khi đạt được nếu chỉ dựa vào một biện pháp đơn lẻ [50] Nhằm giảmnguy cơ dẫn đến bộc phát dịch bệnh, cần sử dụng một số cách tiếp cận khác nhau theohướng quản lý bệnh tổng hợp Drenth và Guest (2004) [50] đã nêu một loạt biện phápđối phó với bệnh Phytophthora được liệt kê thành nhóm năm giải pháp để quản lý bệnhbao gồm (1) biện pháp canh tác, (2) tính kháng của giống, (3) phòng trừ sinh học, (4)

sử dụng thuốc hóa học và (5) sử dụng Phosphonates Việc nghiên cứu biện pháp phòngtrừ bệnh thối thân chảy nhựa hại mít, do đó cũng cần tiếp cận theo hướng phòng trừtổng hợp trên cơ sở áp dụng các biện pháp phòng trừ có tính khả thi và phù hợp vớiđiều kiện thực tế sản xuất [66], [70] Theo đó, cần đi sâu tìm hiểu về tác nhân gây bệnh

và điều kiện phát sinh phát triển của bệnh, quan hệ giữa bệnh và các yếu tố môi trường,

và các yếu tố liên quan từ đó phát triển những biện pháp có khả năng giảm được bệnh

và áp dụng chúng theo hướng tổng hợp để đối phó với bệnh, cho phép tiếp tục sản xuấtmít có hiệu quả trong sự hiện diện của bệnh

Trang 23

1.2 Một số thông tin về cây mít

1.2.1 Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học, sản xuất và sử dụng

Cây mít (Artocarpus heterophyllus Lam.) thuộc chi (genus) Artocarpus, họ dâutằm Moraceae Trong chi Artocarpus có hai loài khá phổ biến khác là mít Tố Nữ(Artocarpus integer Merr.) và cây sa kê (Artocarpus altilis (Parkinson) Fosberg) Câymít có xuất xứ từ khu vực rừng mưa Ghats Tây (Western Ghats) của Ấn Độ [113],được trồng rộng rải ở những khu vực nhiệt đới của Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, SriLanka, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippines Mít cũng được trồng ởkhu vực nhiệt đới của châu Phi (như Cameroon, Uganda, Tanzania và Mauritius), ở Bra-xin, khu vực Tây Ấn (the East Indies) và một ít ở Mexico và Australia

Mít là loài cây thân gỗ lớn, trong tự nhiên cây có thể cao từ 10-30 m, có thểsống từ 20-100 năm hay lâu hơn Thân có vỏ dày, phân cành nhiều với nhiều cấp cành,tán dày và rộng Tất cả các phần của cây đều tiết ra chất nhựa cây màu trắng khi bịthương [58] Lá mít màu xanh đậm, dày và chắc, lá đơn mọc cách; mặt trên xanh đậmbóng láng, mặt dưới xanh nhạt không bóng láng Lá thường có hình elip đến hình bầudục, có thể có thùy sâu trên các cây còn non Loài này có hoa phức, đơn tính cùng gốc(đồng chu), hoa đực và hoa cái mọc riêng trên cùng một cây [58] Hoa đực thường mọctrên cành trẻ hơn, nhỏ hơn hoa cái với bề mặt ít gai góc hơn, cuống nhỏ Hoa cái lớnhơn, hình elip hoặc có hình ống dài Cây mít được cho là thụ phấn nhờ côn trùng và gióvới tỷ lệ thụ phấn chéo cao

Quả mít có vỏ dày có gai phía bên ngoài có màu xanh lá cây đến màu vàng hoặcmàu đồng Quả mít là một quả phức gồm nhiều quả thật bên trong vỏ quả [58], [4].Quả thật phát triển hình thành múi mít và hạt Múi mít (thịt quả) có phần thịt mềm, làphần chính để ăn Phía ngoài của vỏ quả có gai Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại bên trongcủa quả mít hầu như ăn được Mất trung bình 90-180 ngày để quả chín và quả có thểnặng 4,5-30 kg [58] Cây trồng từ hạt mất 4-6 năm hay lâu hơn mới cho quả [5], [58].Hạt nằm trong một quả thật phát triển đầy đủ, có màu nâu nhạt đến nâu, gần tròn đến

Trang 24

hình thuôn dài, được bao bọc trong một lớp màng mỏng (áo hạt) màu trắng Hạt mítchứa nhiều dinh dưỡng mà chủ yếu là chất bột, có thể dùng để luộc, nướng, hấp ăn trựctiếp hoặc chế biến thành nhiều thực phẩm khác nhau [4], [58].

Mít là cây ăn quả đa dụng, hầu như các phần của quả mít khi thu hoạch đềuđược sử dụng [73] Những phần con người không sử dụng còn được dùng làm thức ăngia súc Thịt quả có thể dùng ăn tươi hay chế biến thành nhiều sản phẩm khác nhau nhưđóng hộp, nước quả, bánh, mứt, kẹo, làm mít sấy giòn, sấy dẽo, được dùng nấu nhiềumón ăn chay và mặn [73], [113] Quả mít non được sử dụng như một loại rau, đượcxem là ‘thịt rau’ ở Ấn Độ [73], [118] Cây mít được xem là nguồn thực phẩm bổ sungquan trọng, rẻ và sẵn có cho người dân khu vực nông thôn các nước đang phát triển ởNam Á và Đông Nam Á, được xem là cây trồng chìa khóa trong chính sách an ninhlương thực nhằm đối phó với biến đổi khí hậu ở Ấn Độ, là loại quả quốc gia ‘NationalFruit’ ở Bangladesh [73], [113] Bên cạnh là nguồn cung cấp thực phẩm, muối khoáng

và vitamin (Bảng 1.1), cây mít còn là nguồn cung cấp gỗ, dược liệu và nhiều côngdụng khác [58] Thêm vào đó, cây mít còn là một cây trồng có vai trò quan trọng trong

hệ thống canh tác nông lâm kết hợp [58] Canh tác cây mít là sinh kế của người nghèokhu vực nông thôn của nhiều nước đang phát triển ở Nam Á và Đông Nam Á [36]

Mít được tiêu thụ qua dạng ăn tươi và chế biến Mít được xuất khẩu ở dạng tươi

và qua chế biến Mít sấy và mít đông lạnh là hai sản phẩm xuất khẩu chính Bên cạnhtiêu thụ trong nước, mít chế biến và đông lạnh còn được xuất khẩu đến hơn 17 nước vàvùng lãnh thổ

Cây mít có thể cho quả sau 2-3 năm trồng nếu được nhân giống bằng cách ghép[4] Năng suất quả có thể đạt đến 30-55 tấn/ha tùy giống được trồng và mức đầu tư [3].Giá quả mít thay đổi theo mùa, theo năm tùy theo nhu cầu của thị trường So với một

số cây ăn quả khác, nông dân trồng mít có thu nhập ổn định và khá tốt từ cây trồng đadụng này [73] Thu nhập có thể tăng thêm do giá bán cao hơn cho những quả thu hoạchlệch vụ [73]

Trang 25

Bảng 1.1 Giá trị dinh dưỡng các bộ phận trong quả mít (100g phần ăn được)

1.2.2 Một số giống mít chính ở miền Đông Nam bộ

Có nhiều giống mít đươc trồng trong khu vực nhưng chỉ có một số giống đượctrồng phổ biến Dưới đây là đặc điểm của một số giống phổ biến [2], [3], [5], [101]

-Giống Siêu Sớm: Lá to trung bình, bóng láng, dạng elip, đầu lá nhọn ngắn; quả

to trung bình 7-11 kg/quả; vỏ quả màu xanh vàng, dày 1,4-1,6 cm; ít xơ; múi dày, vàngtươi, mềm hơi xốp, ráo và hơi giòn; chất lượng ăn tươi ngon; tỷ lệ ăn được 47-53%.Mít Siêu Sớm phát triển nhanh, mau cho quả, năng suất cao, phân cành yếu thích hợpcho trồng dày, được ưa chuộng để ăn tươi Nhược điểm là thân cành có gỗ mềm, dễ

Trang 26

gãy tét cành, thịt quả ít thích hợp cho chế biến [3] Đây là giống mít được trồng phổbiến nhất hiện nay.

-Giống Lá Lớn: Còn có tên là Lá Bàng vì có lá to và cứng dày Mặt trên lá cómàu xanh đậm, bóng láng; quả có màu xanh vàng, to quả, vỏ dày 1,4-1,7 cm; quả totrung bình 9-14 kg/quả; thịt quả quả vàng tươi; tỷ lệ ăn được 43-47% Giống này pháttriển nhanh, thân lá cứng chắc, phân cành mạnh, tán to rộng Giống Lá Lớn mau choquả, năng suất rất cao, dễ chăm sóc, ít nhiễm sâu bệnh, thích hợp cho chế biến, chấtlượng ăn tươi ngon nhưng ít được ưa chuộng hơn so với giống Siêu Sớm

-Giống Viên Linh: Lá mặt trên xanh đậm hơi tối, bóng loáng Vỏ quả có màuxanh, dày từ 1,7-2,1 cm; khối lượng quả 8-11 kg/quả Cây phát triển khá nhanh, năngsuất khá cao, chất lượng ăn tươi ngon nhưng không được ưa chuộng bằng giống SiêuSớm Tỷ lệ ăn được khoảng 46-52% Giống này có thể dùng ăn tươi và chế biến, trướcđây được trồng nhiều hiện nay được chuyển dần sang giống Siêu Sớm và Lá Lớn

-Giống M97I: Là dòng địa phương được tuyển chọn Có thịt quả dẻo ngọt, ăntươi ngon, năng suất khá cao, tỷ lệ ăn được khoảng 43-47% Giống này được trồng khánhiều trước đây, giờ chuyển sang các giống khác

-Giống mít Không Hạt: Dòng mít này xuất phát từ Cần Thơ, hạt bị thui nên quảchủ yếu có múi và xơ Giống này có lá nhỏ, gần tròn, dợn sóng, ít phân cành; chậm choquả hơn Siêu Sớm, năng suất khá cao, thích hợp cho ăn tươi

-Ngoài ra còn một số giống được canh tác ít phổ biến khác gồm Ruột Đỏ, TốTây, Mã Lai, M102, M98 và M99 Dựa trên đặc điểm hình thái, Mít Tố Tây và Mã Lai

là hai giống được cho là cây lai giữa mít Tố Nữ và mít

-Một số dòng địa phương được tuyển chọn khác: Gồm các dòng mang mã sốMBRVT32H, MBRVT33H, MĐN02H, MĐN06H, MĐN07H, MĐN09H, MTNĐN04,MTNĐN05, MTNĐN06, MTNĐN07 và MTNĐN08 Các giống này được trồng rải ráctrên các vùng trồng trong khu vực

Trang 27

Từ năm 2006-2012, một số chương trình điều tra tuyển chọn giống, nhập nội,thu thập nguồn giống trong sản xuất, trồng đánh giá và bảo tồn trong vườn sưu tập vàbảo quản nguồn gen mít tại được triển khai bởi Trung tâm nghiên cứu cây ăn quả miềnĐông Nam bộ, Viện cây ăn quả miền Nam [2].

1.2.3 Một số đặc điểm canh tác

Cây mít trước đây thường được trồng từ hạt nhưng hiện nay hầu hết là sử dụngcây nhân giống vô tính (qua ghép mầm ngủ hay ghép đoạn cành) [5] Đất trồng phảithoát nước tốt, đủ nước tưới, có tầng canh tác dày Đất thấp phải lên liếp hay lên mô đủcao vì mít sợ ngập úng Hố trồng kích thước trung bình 60 x 60 x 60 cm [5]

Khoảng cách trồng thay đổi tùy theo giống, đất trồng và phương thức canh tác,thay đổi từ 8 x 8 m đến 3 x 3 m [5] Đối với phương pháp canh tác áp dụng mật độ cao,khoảng cách trồng được áp dụng là 4 x 5 m, 4 x 4 m và 3 x 3 m [3] Bón lót 10-20 kgphân chuồng hoai; 0,2 -0,5 kg phân super lân; đất chua bón bổ sung 0,5 kg vôi bột mỗihố; rải thuốc trừ sâu dạng hạt để phòng chống mối và sùng [5]

Cây mít cần nhiều nước ở giai đoạn phát triển chồi non và giai đoạn quả pháttriển Bón phân cho mít trong thời kỳ kiến thiết cơ bản, phân chuồng 20-50 kg/cây,(bón 1-2 lần mỗi năm); phân hóa học năm thứ 1 bón 1,5-2 kg NPK 16-16-8 chia làm 3-

4 lần; năm thứ hai bón 2,1-2,8 kg NPK 16-16-8 trong khi năm thứ 3 bón 3-3,5kg/cây/năm Trong thời kỳ kinh doanh, theo Nguyễn Văn Kế (2014) [5], đối với phânchuồng bón 30 kg/gốc/năm; phân hóa học bón từ 0,6-1,2 kg N; 0,48 kg P2O5 và 0,6-1,3

kg K2O (cho cây từ năm thứ 4-8); lượng phân có thể tăng thêm cho những cây lớn tán,nhiều quả; trên đất chua bổ sung thêm vôi 1-2 kg/gốc Lượng phân bón được gia giảmtùy theo sức khỏe, năng suất và mức độ thâm canh vườn cây Những vườn canh tác mật

độ cao, lượng phân có thể thay đổi từ 1,0-1,4 kg N; 0,8-1,2 kg P2O5và 1,6-2,1 kg K2Ocho mỗi cây Phân bón được chia làm các lần: Sau thu hoạch bón 100% phân chuồng +

½ phân N; ½ phân lân và ½ phân kali; bón đón hoa ½ phân lân + ¼ kali; bón nuôi quả

½ phân N và 1/4 phân kali [5]

Trang 28

Tưới nước cho cây trong mùa khô giúp tăng năng suất nên được áp dụng hầu hếttrong sản xuất thương mại Tưới bồn là phương pháp tưới được áp dụng phổ biến.Lượng nước tưới theo phương pháp tưới bồn từ 4.000 -7.500 m3 cho mỗi hecta trong 6tháng mùa khô Gần đây, tưới phun dưới tán và tưới nhỏ giọt cũng được áp dụng.

Tỉa cành tạo tán để khống chế chiều cao cây (khi cần), tạo thông thoáng vườncây, tạo khung tán vững chắc và cũng góp phần kích thích ra nhiều hoa [5]; tán cây sautỉa thường có dạng hình cầu hay hình dù, có các cành chính phân đều về các phía Tỉa

bỏ các cành mọc sát đất, cành mọc dày, cành nằm khuất trong tán, cành nhiễm sâubệnh, cành mọc chen vào nhau

Cây mít thường đậu rất nhiều quả Tỉa bớt quả để cây đủ sức nuôi quả còn lại.Tỉa bớt các quả mọc chụm, quả mọc trên các cành nhỏ, yếu hay ở rìa tán Giữ các quảmọc từ thân cành lớn, cuống to, phân bố đều trên thân cành

Cây trồng từ hạt có thể mất đến 4-6 năm hay lâu hơn mới cho thu hoạch nhưngcây nhân vô tính (ghép) có thể cho thu hoạch từ năm thứ 2-3 sau trồng Quả được thuhoạch khi cuống quả chuyển vàng rồi rụng Mùa thu hoạch tự nhiên tập trung từ tháng

12 đến tháng 4 năm sau Khi thu quả, giữ chặt quả, cắt cuống, không để quả chạm đất.Giữ nơi sạch, khô và mát trước khi sơ chế Quả được phân loại tại theo 2 cấp loại, quảloại 1 là quả từ 8-10 kg hay cao hơn, nở đều, không bị sâu bệnh, không hay ít dị tật, tìvết; quả còn lại là hạng 2 Năng suất mít thay đổi tùy giống, vùng trồng, mật độ trồng,tuổi cây và mức độ đầu tư chăm sóc

1.2.4 Một số sâu bệnh hại trên cây mít

Phytophthora sp cùng với một số loài khác như Pythium splendens, Fusarium

sp và Rhizoctonia sp được cho là tác nhân gây bệnh thối rễ trên cây mít [85] Bệnhsuy tàn cây mít do P palmivora được ghi nhận ở miền Nam Philippines [27] Một sốbệnh quan trọng khác trên mít đã được báo cáo bao gồm; thối cành, thối quả và thốihoa đực do Rhizopus artocarpi; khô chết ngọn do Lasiodiplodia theobromae vàColletotrichum gloeosporioides; và bệnh đốm lá gây bởi Phomopsis artocarpina,

Trang 29

Colletotrichum lagenarium, C gloeosporioides, Phyllosticta artocarpina, Septoriaartocarpi và một số loài nấm khác [81], [113], [132] Một số nấm gây đốm lá đã đượcghi nhận bao gồm Alternaria sp., Botryodiplodia theobromae, Cercospora sp.,Nigrospora sphaerica, Pestalotiopsis versicolour, Pseudocercospora artocarpi,Gloeosporium spp và Phyllostica artocarpi [24], [73] Bệnh khô cành chết ngọn donấm Botryodiplodia theobromae tấn công và gây thiệt hại ở một số vùng trồng [73].Botrytis cinerea cũng được ghi nhận gây thối quả non [85].

Một vài vi khuẩn cũng được ghi nhận gây hại trên cây mít dù ít phổ biến [27]

Vi khuẩn Erwinia carotovora [143] và Erwinia nigrifluens được báo cáo một vài nơi,gây triệu chứng chết ngọn- khô cành (dieback) [73], [136] Vết bệnh trên cành đầu tiên

là những vết biến màu sau chuyển sang màu nâu tối, có nhựa cây màu trắng ứa, bêndưới mô vỏ cũng bị biến màu, có màu vàng nâu đến nâu Vi khuẩn Pantoea stewartiiđược cho là gây nâu xơ và thịt quả mít, làm cho thịt quả bị sượng trong khiPseudomonas sp được ghi nhận gây triệu chứng cháy lá cây con trong vườn ươm [63]

Một số loài tuyến trùng cũng được ghi nhận trên cây mít, bao gồmAphelenchoides sp., Helicotylenchus dihystera, H multicinctus, Hemicriconemoidescocophilus, Meloidogyne sp., Pratylenchus sp và Xiphinema brevicolle [132] Tuynhiên, đây chỉ là những trường hợp đơn lẻ và chưa có ghi nhận gây thiệt hại đáng kể

Ở Việt Nam, theo Nguyễn Văn Kế (2014) [5], một số sâu hại chính được ghinhận cây mít ở nước ta bao gồm sâu đục quả (Conogethes punctiferalis và Glyphodescaesalis), ruồi đục quả (Bactrocera spp.), sâu đục cành Bệnh hại chính trên mít đượcbáo cáo là bệnh thối thân chảy nhựa (Phytophthora), bệnh nấm hồng (Corticiumsalmonicolor) [4], [5] Ngoài ra còn có một số sâu bệnh hại khác nhưng không phổbiến Theo Vũ Công Hậu (2007) [4], các biện pháp phòng trừ bệnh hại được khuyếncáo chủ yếu là trồng trên đất cao ráo, thoát nước tốt, vệ sinh đồng ruộng, tỉa thưa quả,bao quả và phun thuốc hóa học

Trang 30

1.2.5 Sản xuất mít ở Đông Nam bộ

Miền Đông Nam bộ có 6 tỉnh thành gồm tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương,Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh Khu vực này có đặcđiểm của vùng khí hậu cận xích đạo với nền nhiệt độ cao và ít thay đổi trong năm Khíhậu chủ yếu phân làm hai mùa, mùa mưa từ tháng 5-10, mùa khô từ tháng 11-4 năm;mùa khô có lượng mưa thấp, không hơn 10% của cả năm Lượng mưa khá dồi dào,trung bình hàng năm khoảng 1.500-2.000 mm [10] Miền Đông Nam bộ có ba nhómđất chính là đất nâu đỏ trên nền bazan, đất nâu vàng trên nền bazan và đất xám trên nềnphù sa cổ; thích hợp cho rất nhiều loại cây trồng phát triển, trong đó có cây ăn quả.Trong khu vực, cây mít được trồng chủ yếu trên đất nâu đỏ và nâu vàng trên nền bazan

Thống kê của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) diệntích trồng mít ở nước ta ước tính trên 24.000 ha (năm 2018) Phần lớn diện tích trồngtập trung ở các khu vực Đông Nam bộ, Tây Nam bộ, Tây nguyên và Nam Trung bộ,trong đó Đông Nam bộ là vùng sản xuất và chế biến mít hàng hóa quan trọng [2], [3]

Trang 31

1.3 Bệnh thối thân chảy nhựa (TTCN) hại mít

Bệnh TTCN được gọi với các tên khác nhau như thối gốc chảy nhựa [4], thốithân chảy mủ [5] Bệnh gây hại trên nhiều vùng trồng mít ở các tỉnh miền Đông Nam

bộ, ảnh hưởng đến sức sống, năng suất, chất lượng quả và rút ngắn chu kỳ kinh tế vườncây Nhiều vườn sau trồng 7-10 năm phải phá bỏ trồng lại hay chuyển đổi sang câykhác do bị bệnh nặng Bệnh thối thân chảy nhựa được nông dân đánh giá là một trongnhững bệnh nguy hiểm, được xem là yếu tố giới hạn sản xuất mít ở khu vực Đông Nam

bộ Cây bị bệnh có sức sống giảm, sinh trưởng chậm lại và suy yếu dần, ít ra quả vàquả nhỏ Trong điều kiện thuận lợi cho bệnh, cây mít có thể nhiễm và chết trong vàitháng sau đó Theo Vũ Công Hậu (2007) [4], triệu chứng bệnh tập trung ở phần gốc vớicác vết loét, nước dịch từ bên trong rỉ ra, vỏ vùng gốc bị thối từng mảng to, bề mặt ẩmướt và thâm đen Lá vàng rụng và chết cây Triệu chứng bệnh có nhiều điểm tương tựvới bệnh thối gốc chảy nhựa trên cây sầu riêng [5] Thường khi triệu chứng bệnh thấyđược thì bệnh ở tình trạng nặng, khó chữa trị [4]

Theo Nguyễn Văn Kế (2014) [5], có thể vận dụng phương pháp phòng trừ bệnhPhytophthora trên cây sầu riêng có thể vận dụng để đối phó với bệnh thối thân chảynhựa trên cây mít dù biện pháp cụ thể chưa được tác giả đề cập Theo Vũ Công Hậu(2007) [4], các biện pháp phòng trừ bệnh được khuyến cáo là trồng cây trên đất cao ráo,thoát nước tốt; khi cần thiết thì phun các thuốc như Metalaxyl, Ridomil Gold, Aliette.Hiện tại, việc trừ bệnh TTCN trong sản xuất chủ yếu dựa vào biện pháp thuốc hóa họcvới các loại thuốc thường được sử dụng như Mancozeb, Ridomil Gold, Fosetyl-Al,Metalaxyl, thuốc gốc đồng và một vài loại khác, phun tán 15-30 ngày một lần tùy theomức độ bệnh [2], [3], [11]

Về tác nhân gây bệnh, theo Vũ Công Hậu (2007) [4] và Nguyễn Văn Kế (2014)[5], bệnh được cho là do Phytophthora gây ra Tuy nhiên, các tài liệu này chỉ nêu têntác nhân và giới thiệu một số biện pháp phòng trừ tổng quát nhưng không có nghiêncứu về bệnh hay có dẫn liệu cụ thể về tác nhân gây bệnh

Trang 32

1.4 Một số đặc điểm hình thái và sinh học của Phytophthora

1.4.1 Chi Phytophthora

Chi Phytophthora thuộc họ Pythiaceae, Bộ Peronosporales, Lớp Oomycetes,Ngành Oomycota, và Giới (Kingdom) Straminipila [30] Trong nhiều năm, các thànhviên của Giới Straminipila được xếp trong Giới Nấm thật vì chúng có đặc điểm về hìnhthái và sinh thái học tương tự nấm thật [30] Tuy nhiên, mỗi thành viên của GiớiStraminipila có đặc điểm khác biệt với nấm (thật) do không có khả năng tạo sterols, sựhiện diện của ß-glucan như là thành phần chính của vách tế bào và không có dạng đơnbội trong hầu hết chu kỳ sống của chúng [30] Dù Phytophthora không phải là một nấmthật nhưng chia sẻ chung với nấm thật một số đặc điểm về hình thái và đặc điểm nuôicấy trong phòng thí nghiệm Do đó, một số thuật ngữ dùng cho nấm thật cũng đượcđược sử dụng cho Phytophthora Thí dụ như sợi nấm (hyphae), hệ sợi nấm (mycelium),tản nấm (hệ sợi nấm phát triển trên môi trường) [51] và một số tài liệu cũng gọiPhytophthora là nấm theo cách gọi trước đây [4], [5], [6], [7], [8], [15]

Chi Phytophthora được mô tả đầu tiên vào năm 1876 và đến năm 2012 đã cókhoảng 117 loài trong chi này được ghi nhận [104] Các loài Phytophthora khác nhau

có tính chuyên biệt ký chủ khác nhau, một số loài chỉ gây hại trên một số cây ký chủgiới hạn trong khi những loài khác có phổ ký chủ rộng hơn [30], [82] Thiệt hại gây rabởi các loài Phytophthora và chi phí dành cho việc phòng trừ bệnh ước tính khoảng 10

tỷ USD năm 2002 và thiệt hại xảy ra nhiều hơn ở những nước mà các biện pháp quản

lý bệnh còn hạn chế [146]

1.4.2 Phân lập Phytophthora

Các thành viên thuộc chi Phytophthora không phải là một nấm thật [129], do đónhững kỹ thuật đặc biệt được đòi hỏi cho việc phân lập chúng Trên môi trường nuôicấy, chúng mọc khá chậm so với một số vi khuẩn và nấm hoại sinh Do đó, môi trườngchọn lọc được sử dụng trong phân lập Phytophthora Môi trường chọn lọc là môitrường nuôi cấy căn bản được bổ sung một số chất như chất kháng sinh, chất chống

Trang 33

nấm để ức chế sự phát triển của vi khuẩn và nấm tạp tạo điều kiện cho sự phát triển củaPhytophthora Môi trường phân lập cũng phải ít dinh dưỡng để góp phần hạn chế sựphát triển và cạnh tranh của nấm tạp [55], [56].

Nhiều môi trường căn bản đã được sử dụng trong phân lập Phytophthora Một

số môi trường căn bản được sử dụng phổ biến như bột bắp agar (CMA), nước agar(WA) và môi trường 2% và 4% V8 juice agar (V8A) [52] Theo Eckert và Tsao (1960

và 1962) [55], [56], môi trường chọn lọc 3-P thích hợp cho phân lập Phytophthora từ

mô bệnh còn tươi nhưng không thích hợp cho mô bệnh đã cũ, bị thối hay từ mẫu đất

Để phân lập Phytophthora từ mẫu mô bệnh cũ hay từ mẫu đất, môi trường chọn lọc 3-P+ 10 mg/mL primaricin được khuyến cáo Trong quá trình phân lập Phytophthora từmẫu đất có thể có sự hiện diện của một số loài Pythium và hymexazol được khuyến cáo

sử dụng trong môi trường chọn lọc để ức chế Pythium [106] Hymexazol có khả năng

ức chế mạnh hầu hết các loài Pythium ngoại trừ P irregulare và P vexans Tsao vàOcana (1969) [144] cũng sử dụng môi trường chọn lọc P10VP để phân lậpPhytophthora từ đất và mô cây nhiễm, với sự bổ sung hymexazol ở nồng độ (cuối cùng)25-50 mg/mL khi cần thiết Môi trường chọn lọc P10ARP [86] và P5ARP [84], [121]được sử dụng để phân lập hầu hết loài Phytophthora

Ở mỗi nơi, sự sẵn có của các thành phần cho các loại môi trường cơ bản và hóachất bổ sung khác nhau nên việc chuẩn bị môi trường chọn lọc có thể thay đổi theothực tế Drenth và Sendall (2001; 2004) [51], [52] đã giới thiệu một số cách thức bổsung kháng sinh, chất chống nấm và hợp chất thay thế để sử dụng trong môi trườngchọn lọc Trong trường hợp mẫu thu được sạch và không nhiễm vi sinh vật khác, có thểphân lập trực tiếp Phytophthora trên môi trường không cần bổ sung chất kháng sinh

Drenth và Sendall (2001; 2004) [51], [52] đã tổng hợp một số kỹ thuật lấy mẫu,cấy mẫu, làm ròng Phytophthora trên môi trường, trong phòng thí nghiệm Những kỹthuật này ngày càng hoàn thiện khiến việc phân lập Phytophthora từ mẫu mô và mẫuđất trở nên dễ dàng hơn, được sử dụng trong nhiều nghiên cứu về Phytophthora trên

Trang 34

nhiều loại cây trồng vùng nhiệt đới Ở nước ta, Ngô Vĩnh Viễn và cs (2007) [17] cũng

đã nêu một số kỹ thuật chính yếu trong phân lập Phytophthora

Phytophthora có thể phân lập nhanh từ mẫu đất hay mô cây nhiễm bằng kỹthuật ‘bẫy’ Theo Drenth và Sendall (2001) [51], kỹ thuật bẫy rất hữu ích bởi hai lý do:(i) một số bước ban đầu có thể tiến hành ngoài đồng và (ii) việc khử trùng kỹ bề mặt

mô trong kỹ thuật bẫy thường không đòi hỏi Về nguyên tắc, phương pháp bẫy lợi dụngtính gây bệnh chọn lọc của loài Phytophthora đối với loài ký chủ dùng để bẫy, sử dụng

mô cây ký chủ như là môi trường chọn lọc tự nhiên, Phytophthora từ vết bệnh trên môcây bẫy sẽ được phân lập trên môi trường chọn lọc hoặc môi trường cơ bản

Nhiều phần của cây có thể được sử dụng làm vật liệu để bẫy Phytophthora nhưquả, hạt, vỏ hạt, cây con, lá mầm, lá và cánh hoa Theo Drenth và Sendall (2004) [52],đối với loài P palmivora, có thể sử dụng quả táo tây (Malus domestica), vỏ và mô quả

ca cao (Theobroma cacao), quả cà tím (Solanum melongena), lá hồ tiêu (Piper nigrum),

rễ cây môn (Colocasia esculenta) Ở Việt Nam, Nguyễn Vĩnh Trường (2008) [14] đã

sử dụng hạt đậu lupin (Lupinus sp.) và lá hồ tiêu để bẫy P capsici từ các mẫu đất trongkhi Nguyễn Văn Tuất và Phạm Ngọc Dung (2012) [15] đã sử dụng một số mẫu mô nhưcánh hoa hồng (Rosa sp.), lá hồ tiêu, quả đu đủ (Carica papaya) và quả ca cao để bẫyPhytophthora gây hại trên cây hồ tiêu, trong đó cánh hoa hồng và lá cây hồ tiêu cho kếtquả tốt nhất

Pythium spp thường có mặt trên cả rễ khỏe mạnh và bị bệnh gây khó khăntrong phân lập Phytophthora Đa số loài Pythium phát triển nhanh hơn Phytophthoratrên môi trường căn bản nên gây khó cho việc phân lập Phytophthora từ các mô rễ.Trường hợp này có thể dùng các thủ thuật sau [51]: (i) Sử dụng môi trường có bổ sungHymexazol (Tachigaren); (ii) chọn mô bệnh nằm phía bên trong rễ sau khi loại bỏ phần

mô thối rữa, dập nát bên ngoài; (iii) Phân lập từ động bào tử: Mô bệnh được rữa kỹ vàđặt vào nước cất vô trùng; sau 4 giờ, theo dõi thường xuyên để tìm động bào tử đểphân lập, (iv) Chọn mẫu bệnh còn tươi mới hoặc trên cao so với mặt đất

Trang 35

1.4.3 Chu kỳ sống (life cycle) của Phytophthora

Các loài trong chi Phytophthora hình thành một số cấu trúc chuyên biệt cho sựtồn tại, lây lan và xâm nhiễm của chúng (Hình 1.1) Nhờ tạo ra nhiều loại bào tử khácnhau, chúng có khả năng sống sót trong một số điều kiện khác nhau cũng như có khảnăng lưu tồn trong đất một thời gian dài trong điều kiện không có ký chủ [59]

Trong quá trình sinh sản vô tính, Phytophthora tạo ra bào tử nang, bào tử hậu vàbào tử động Bào tử nang có thể nẩy mầm trực tiếp thành sợi nấm hoặc có thể sản sinhbào tử động [146] Động bào tử không có vách ngăn, có hai lông roi (flagella) có khảnăng bơi trong môi trường nước Khi động bào tử tiếp cận với mô ký chủ thích hợp,chúng rụng lông roi, tạo nang và nẩy mầm, xâm nhập và ký sinh mô ký chủ [146].Động bào tử có cơ chế hiệu quả để ký sinh rễ cây ký chủ [146] Bào tử hậu là bào tửvách dày giúp chúng có khả năng tồn tại và sống sót lâu dài trong đất hay trong mô câykhi gặp điều kiện bất lợi [30]

Quá trình sinh sản hữu tính xảy ra trên hầu hết các loài Phytophthora khi hai cấutrúc sinh sản khác giới; cấu trúc đực (hay còn gọi là bao đực - antheridium) và cấu trúccái (hay còn gọi là túi noãn -oogonium); tiếp xúc và kết hợp với nhau trên cơ sở có sựtrao đổi di truyền tạo ra bào tử noãn [133] Sự phát triển của bào tử noãn có thể xảy ratrên cùng (Homothallic- kiểu đồng tản) hay khác (Heterothallic - kiểu dị tản) mẫu phânlập (isolate) [30] Chúng tiếp xúc nhau theo hai cách: Bao đực bao quanh cuống túinoãn (amphigynous antheridium) hay đính một bên túi noãn (paragynous antheridium).Chỉ khoảng phân nửa số loài Phytophthora là đồng tản, có khả năng tạo ra nhanh vànhiều bào tử noãn trên môi trường đơn Những loài thuộc dị tản tạo ra túi giao tử(Gametangia) chỉ khi đáp ứng với kích thích hóa học từ một mẫu phân lập có kiểu ghépđôi/kiểu lai/kiểu ghép cặp (mating types) đối ngược [30] Những loài thuộc dị tảnthường có kiểu ghép cặp/ghép đôi A1 và A2 [30] Bào tử noãn có vách dày giúp chúng

có thể tồn tại trong đất và mô cây, sống sót trong các điều kiện bất lợi và chờ cho đếnkhi có cơ hội thuận lợi để phát triển và xâm nhiễm Sinh sản hữu tính có vai trò quan

Trang 36

trọng trong chu kỳ sống và khả năng lưu tồn của Phytophthora [59] Chu kỳ sống củaPhytophthora được minh họa tóm tắt trong Hình 1.1.

Hình 1.1: Chu kỳ sống của Phytophthora (Ribeiro và Lamour, 2013) [127]

Phytophthora có thể lây lan từ rễ sang rễ hay nhờ sự di chuyển theo dòng nướchay giọt nước (mưa hay tưới) [139] Nguồn bệnh còn có thể lây lan qua gió, qua nước,qua động vật, dụng cụ lao động, qua vật liệu cây trồng nhiễm bệnh [28], [93], [139].Đặc biệt môi trường có nước (nước tưới, nước mưa, nước đọng) trên đất và sự dichuyển của dòng nước tạo thuận lợi cho chúng có điều kiện lây lan rộng và nhanh

Tất cả các loại bào tử của Phytophthora đều có tiềm năng xâm nhiễm vào cây[30] Bào tử noãn và bào tử hậu có cấu trúc vách dày cho phép chúng tồn tại một thờigian khi gặp điều kiện bất lợi [30] Trong điều kiện ẩm độ cao, bào tử hậu hoặc bào tửnoãn nẩy mầm hình thành các bào tử nang và phóng thích bào tử động giúp chúng cóthể lan truyền qua dòng nước hay qua giọt nước bắn lên [50] Một vài loài như P.palmivora có khả năng lan truyền qua không khí chủ yếu dưới dạng bào tử nang [50]

Trang 37

1.4.4 Loài Phytophthora palmivora

P palmivora là loài ký sinh cây trồng nhiệt đới nguy hiểm và phân bố rộng rảitrên thế giới [59], là một trong những ký sinh gây thiệt hại lớn cho sản xuất nôngnghiệp nhiệt đới ở nhiều nước [50]

Phytophthora palmivora (E J Butler) E J Butler (1919)

Phytophthora palmivora was first identified as P omnivora (Massee, 1899), the cause of black pod disease of cocoa, Theobroma cacao, and as Pythium palmivorum (Butler, 1907), the cause of destructive diseases in palms The pathogen was later renamed P palmivora by Butler in 1919 (Butler, 1919) Synonyms of P palmivora include P omnivora de Bary (1881), Pythium palmivorum E J Butler (1907), P faberi Maubl (1909), P theobromae L C.

Coleman (1910) (=P palmivora var theobromae (L C Coleman) Orellana (1959)), P.

omnivora var arecae L C Coleman (1910) (=P arecae (L C Coleman) Pethybr (1913)), P cactorum var arecae (L C Coleman) Sacc & Trotter (1912), Kawakamia carica Hara (1915),

P fici Hori (1915) (considered an invalid name, nom nud [Waterhouse, 1963]), P carica Hara (1918), P palmivora var piperis Muller (1936) (considered an invalid name

[Waterhouse, 1963]), and P palmivora var theobromae (L C Coleman) Orellana (1959) (Cline et al., 2008) P agaves Gandara (1909) was listed as a synonym by Erwin and Ribeiro (1996) but was not examined by Tucker (1931) Waterhouse (1963) considered this an invalid name (nom nud.) P arecae was considered a distinct species until recently but is now considered to be synonymous with P palmivora as originally suggested by Tucker (1931) (Cline et al., 2008; Cooke et al., 2000; Mitchell and Kannwischer-Mitchell, 1983).

Theo Ashby (1929) [22], P palmivora được xác định đầu tiên là làPhytophthora omnivore bởi Hart năm 1899 ở Trinidad từ quả ca cao (Theobromacacao L) và được xác định là Pythium palmivorum, tác nhân gây bệnh trên cây cọ sau

đó loài này sau đó được đặt tên lại là P palmivora by Butler vào năm 1919 [19] Nhữngtên khác của P palmivora bao gồm Pythium palmivora [152], P faberi [22], P.theobromae [22] và P carica [59] P palmivora được cho là có nguồn gốc từ khu vực

Trang 38

Đông Nam Á [108], từ đó lây lan sang các nơi khác trên thế giới P palmivora đượcxếp vào group II theo khóa phân loại của Stamps và cs (1990) [137] và trong clade 4(Cooke và cs, 2000) [39] dựa trên cơ sở giải trình tự vùng ITS của genomic rDNA.

P palmivora tạo ra bào tử nang và bào tử hậu trong quá trình sinh sản vô tínhcũng như tạo bào tử noãn trong giai đoạn sinh sản hữu tính Theo Waterhouse (1974)[152], bào tử nang loài này đặc trưng là có núm (papillate) với cuống (pedicel) ngắn và

có tỷ lệ dài/rộng vượt mức 1,4 (dài từ 35-60µm và rộng từ 20-40µm) Bào tử nang của

P palmivora hầu hết có dạng từ thuôn dài, elip đến hình trứng, kích thước thay đổi tùythuộc vào mẫu phân lập [59] Theo Holliday (1980) [81] bào tử nang P palmivora dễrụng, có cuống ngắn (<5 µm), có kích thước thay đổi, dài trung bình từ 40-60 µm vàrộng trung bình 25-35 µm với tỷ lệ dài - rộng khoảng 1,4-2,0 Theo Pongpisutta vàSangchote (2004) [124], các mẫu P palmivora phân lập từ cây sầu riêng có bào tửnang mau rụng, cuống ngắn (2,8-4,2 µm), núm rất rõ; chiều dài bào tử nang thay đổi,khoảng từ 35-90 µm, rộng từ 22-62 µm; tỷ lệ dài/rộng từ 1,6-2,0 Bào tử nang có thểnảy mầm trực tiếp thành sợi nấm hoặc phóng thích bào tử động tùy thuộc vào điều kiệnmôi trường Trong phòng thí nghiệm, bào tử nang của Phytophthora phóng thích bào

tử động bắt đầu ở nhiệt độ phòng 15 phút sau khi đặt chúng vào nước ở 20-25°C [61]

Bào tử hậu hình thành nhiều, có dạng gần cầu, vách dày, đính ở cuối hay giữasợi nấm [108], có đường kính trung bình 32-42 µm, trung bình khoảng 36,2 ±9,6 µm[108] Cấu trúc này giúp chúng có thể lưu tồn lên đến 36 tháng [81], [152] Tuy nhiên,một số mẫu phân lập không tạo bào tử hậu trên môi trường V8A [108] TheoPongpisutta và Sangchote (2004) [124], P palmivora phân lập từ cây sầu riêng ở TháiLan có bào tử hậu hình cầu, đường kính trung bình 30-39 µm

P palmivora có các cấu trúc sinh sản hữu tính như bao đực (antheridium), túinoãn (oogonium) và bào tử noãn (oospore) Loài này có cơ quan sinh sản hữu tính theokiểu dị tản (heterothallic) với hai kiểu ghép cặp A1 và A2 Một vài loài Phytophthoratạo ra tỷ lệ ghép cặp A1 và A2 tương đương nhau nhưng trong loài P palmivora, nhóm

Trang 39

ghép cặp A2 chiếm tỷ lệ cao hơn [30] Ở những loài dị tản như P palmivora, túi giao

tử (bao đực và túi noãn) chỉ hình thành khi có sự hiện diện của một mẫu phân lập cókiểu kết đôi đối nghịch trên cùng một đĩa Petri [59] P palmivora có phổ ký chủ rấtrộng [50] Theo Erwin và Ribeiro (1996), [59] có đến 168 loài ký chủ của P palmivora.Nhiều cây ăn quả nhiệt đới là ký chủ của loài này, bao gồm mít (A heterophyllus), sa

kê (A altilis), dứa (A comosus var comosus), cây có múi (Citrus spp.), cây dừa (Cocosnucifera), đu dủ (Carica papaya), sầu riêng (Durio zibethinus), và một số cây côngnghiệp thường được trồng trong hệ thống canh tác cây mít ở vùng nhiệt đới như ca cao(Theobroma cacao), cao su (Hevea brasiliensis), hồ tiêu (Piper nigrum), cây mắc ca(Maccadamia intergrifolia) [59]

Sự phát triển của P palmivora chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường, trong

đó nhiệt độ đóng vai trò quan trọng Nhiệt độ tối thích cho loài này là khoảng 30°C với mức tối thiểu là 11°C và tối đa là 35°C [152] P palmivora tạo ra bốn loạibào tử mà có thể xâm nhiễm trực tiếp hay gián tiếp mô cây Chúng có khả năng xâmnhiễm nhiều cây chủ khác nhau nhờ khả năng hình thành bào tử nang và rất nhiều độngbào tử trên mô bệnh trong điều kiện ẩm độ cao [50] P palmivora có thể gây hại trênnhiều bộ phận khác nhau của ký chủ bao gồm rễ, thân, lá, hoa và quả [59] gây các triệuchứng thối rễ, thối gốc, thối thân, cháy lá, thối hoa và thối quả Vết bệnh do loài nàygây ra thường trên thân gần gốc, đặc trưng là những vết loét có màu tối sũng nước vànhững vệt hóa nâu chạy dọc theo mạch dẫn trên mô vỏ và mô gỗ [50]

27,5-Bào tử nang có thể được tạo ra trên bộ phận cây bao gồm thân, cành, lá, quả và

rễ khi có điều kiện thích hợp Chúng có thể nẩy mầm trực tiếp trên bề mặt cây hoặctrong đất [50] hoặc phóng thích các động bào tử Động bào tử bơi trong nước hoặc trên

bề mặt của bộ phận cây bị ướt chờ cơ hội xâm nhiễm vào cây Bào tử nang và động bào

tử có thể lây lan qua giọt mưa bắn lên, qua mưa gió, qua đất và nước trong đất [50],[59] Bào tử hậu hình thành từ sợi nấm, khi có điều kiện thích hợp sẽ nẩy mầm và tiếptheo sản sinh các bào tử nang Bào tử noãn được hình thành khi có hai kiểu ghép cặp

Trang 40

khác nhau, được gọi là A1 và A2 hiện diện Pha sinh sản hữu tính gây nguy cơ tiềmtàng do có thể tạo ra thế hệ con cháu thay đổi về mặt di truyền mà có thể khắc phụcđược tính kháng của ký chủ [59] Bào tử hậu và bào tử noãn là những cấu trúc quantrọng giúp chúng sinh tồn được trong điều kiện bất lợi [50] Chúng có thể sống trongđất và tàn dư cây trồng trong lúc cây chủ chưa có mặt Khả năng này giúp chúng lưutồn và phát sinh phát triển trong điều kiện không thuận và tiếp tục gây bệnh cho câykhi gặp điều kiện thuận lợi [59].

1.4.5 Xác định loài Phytophthora gây bệnh cây trồng

Phương pháp xác định loài Phytophthora được phát triển và ngày càng đượchoàn thiện, bao gồm phương pháp thông thường dựa vào đặc điểm hình thái học vàphương pháp sinh học phân tử

1.4.5.1 Xác định loài Phytophthora dựa vào hình thái và sinh học

Nhiều loài Phytophthora có thể dễ dàng được xác định bằng phương pháp hìnhthái học Biện pháp này sử dụng một số đặc điểm về hình thái và sinh học của loàiPhytophthora chủ yếu dựa vào khóa phân loại của Waterhouse (1963) [151] và Stamps

và cs (1990) [137] và từ các công trình của Erwin và Riberrio (1996) [59], Gallegly vàHong (2008) [62] Một số đặc điểm thường được sử dụng để phân biệt loài củaPhytophthora bao gồm đặc điểm hình thái học của bào tử nang (sporangium), của cáccấu trúc sinh sản hữu tính như bao đực (antheridium), túi noãn (oogonium) và bào tửnoãn (oospore), có hay không có bào tử hậu (chlamydospores), hình thức sinh sản hữutính (đồng tản- homothallic hay dị tản-heterothallic) Drenth và Sendal (2001) [51] đãtổng hợp và trình bày khá chi tiết phương pháp xác định loài Phytophthora bằng hìnhthái học Tuy nhiên rất nhiều loài mà khác nhau về hình thái học rất ít hoặc có một mức

độ biến đổi đáng kể về hình thái trong loài và giữa các loài, khiến cho việc xác định ởmức độ loài của một vài mẫu phân lập mất nhiều thời gian và phức tạp Ngoài ra, một

số đặc điểm hình thái dùng làm tiêu chí để xác định ở một số loài thay đổi tùy theo kýchủ, mẫu phân lập và điều kiện nuôi cấy nên đòi hỏi kinh nghiệm chuyên môn cho việc

Ngày đăng: 03/04/2021, 08:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm