1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc tính sinh học và biện pháp phòng trừ bọ vòi voi diocalandra frumenti

179 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 4,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Nghiên cứu đặc tính sinh học và biện pháp phòng trừ bọ vòi voi Diocalandra frumenti Coleoptera: Curculionidae hại dừa tại Đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện từ năm 2014 đến

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

NGUYỄN HỒNG ỬNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BỌ VÒI VOI

Diocalandra frumenti (COLEOPTERA:

CURCULIONIDAE) HẠI DỪA TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT

2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

NGUYỄN HỒNG ỬNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BỌ VÒI VOI

Diocalandra frumenti (COLEOPTERA:

CURCULIONIDAE) HẠI DỪA TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT

Mã ngành: 9 62 01 12

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGS TS TRẦN VĂN HAI

2019

Trang 3

LỜI CẢM TẠ Xin kính gởi lời cảm ơn sâu sắc đến

- PGS TS Trần Văn Hai, người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm, kiến thức, những lời khuyên hết sức thiết thực và hữu ích cho cả quá trình thực hiện luận án

- PGS TS Lê Văn Vàng, người đã hướng dẫn chuyên đề, chia sẻ kịp thời những khó khăn, hỗ trợ kiến thức cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận án

- PGS TS Nguyễn Văn Huỳnh đã hướng dẫn tôi thực hiện chuyên đề và đóng góp những ý kiến chuyên môn trong quá trình thực hiện luận án

Xin trân trọng cảm ơn

Ban chủ nhiệm, Thầy, Cô thuộc Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ, những người đã giảng dạy và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập tại đơn vị

Ban Giám hiệu Trường Đại học Trà Vinh và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi về cơ sở vật chất để thực hiện đề tài

Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre đã hỗ trợ kinh phí cho một số thí nghiệm trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng

Xin gửi lời cám ơn chân thành đến

- Các em Quốc Khánh, Kiều Hạnh, Phương Linh, Trịnh Thị Xuân, Quốc Tuấn và các sinh viên Thanh Phong, Hoàng Giang, Ta Răn thuộc Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện điều tra, nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng

- Các em Ái Dân, Thúy Hằng, Bùi Tín, Ngọc Nhi, Diễm Mi, Thanh Vân, Ngọc Trình, các em sinh viên lớp Đại học Khoa học cây trồng 2013, 2014, 2015, Khoa Nông nghiệp-Thủy sản, Trường Đại học Trà Vinh đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập số liệu trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng

Trân trọng biết ơn gia đình đã hy sinh, thấu hiểu, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập và nghiên cứu Tôi xin ghi ơn những tình cảm tốt đẹp, sự giúp đỡ của bè bạn gần xa và sự động viên và hỗ trợ tôi trong suốt gian qua

Trang 4

TÓM TẮT

Bọ vòi voi hại dừa Diocalandra frumenti Fabricius đã gây hại nghiêm

trọng đến năng suất và chất lượng của dừa tại nhiều tỉnh trồng dừa trên cả nước Tính đến thời điểm hiện tại, việc sử dụng thuốc hóa học là biện pháp chủ yếu

để quản lý đối tượng này Đề tài “Nghiên cứu đặc tính sinh học và biện pháp

phòng trừ bọ vòi voi Diocalandra frumenti (Coleoptera: Curculionidae) hại dừa

tại Đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện từ năm 2014 đến năm 2018

nhằm mục tiêu: 1/ Xác định được khả năng gây hại của bọ vòi voi hại dừa tại

03 tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh, 2/ Xác định được đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại của bọ vòi voi hại cây dừa, 3/ Khảo sát sự đa dạng di truyền

của D frumenti bằng các chỉ thị phân tử ISSR, 4/ Xác định đối tượng nấm ký

sinh trong tự nhiên của bọ vòi voi và hiệu quả của một số chế phẩm sinh học trên bọ vòi voi hại dừa, 5/ Xây dựng mô hình quản lý bọ vòi voi bằng các giải pháp an toàn, thân thiện với môi trường Kết quả nghiên cứu đã cho thấy: 1/ Kết quả điều tra 330 hộ nông dân tại tỉnh Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long và

tỉnh Trà Vinh cho thấy phần lớn nông dân ghi nhận bọ vòi voi D frumenti gây

hại trên vườn dừa từ năm 2013 (32,9% hộ) và năm 2014 (41,6% hộ) với mức

độ gây hại của bọ vòi voi năm 2015 là 10-50% D frumenti gây hại trên tất cả

các giống dừa và gây hại quanh năm (43,9% hộ), triệu chứng gây hại chủ yếu trên trái non (57,6% hộ)

Kết quả khảo sát ngoài đồng trên 27 vườn thể hiện năm 2015 có 100%

vườn dừa bị D frumenti gây hại, trung bình tỉ lệ cây bị hại của 03 tỉnh là 58,9%,

buồng bị hại là 19,4% và trái bị hại là 7,77% Năm 2017 tại tỉnh Bến Tre có tỉ

lệ cây bị hại là 58,1%, buồng bị hại là 16,7% và trái bị hại là 4,62% Sự gây hại

của bọ vòi voi D frumenti trên vườn dừa không thay đổi nhiều trong thời gian

khảo sát và có xu hướng tăng vào những tháng mùa nắng Tại tỉnh Bến Tre, kết quả trung bình dao động từ 8,26% đến 29,4% (tỉ lệ buồng bị hại) với 0,41 đến 1,93 buồng/cây, từ 3,58% đến 13,6% (tỉ lệ trái bị hại) và 0,73-4,01 trái/cây Tại tỉnh Vĩnh Long, trung bình tỉ lệ buồng bị hại từ 13,8% đến 27,3% tương ứng 1,03 đến 1,53 buồng/cây, tỉ lệ trái bị hại từ 3,78% đến 7,76% và 1,04-1,67

trái/cây Trung bình tỉ lệ buồng bị hại của D frumenti trên vườn dừa tại tỉnh Trà

Vinh là từ 18,7% đến 26,0%, tỉ lệ trái bị hại từ 5,31% đến 8,43% tương ứng với 1,03 đến 1,57 buồng/cây và 1,03% đến 1,91% trái/cây

2/ Kết quả khảo sát trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng đối với 150 trứng,

29 ấu trùng, nhộng và 29 cặp thành trùng cho thấy: Trứng D frumenti hình bầu

dục, kích thước 0,85 x 0,29 mm, ấu trùng từ 1,15 x 0,24 mm và 6,09 x 1,35 mm, nhộng cái 5,22 x 1,16 mm và nhộng đực 5,15 x 1,11 mm Thành trùng có bốn

Trang 5

đốm màu nâu vàng trên cánh, kích thước trung bình 5,14 x 1,08 mm đối với thành trùng đực và 6,23 x 1,17 mm đối với thành trùng cái Trứng phát triển trong 5,62 ngày, ấu trùng có 08-19 tuổi với thời gian phát triển trung bình 142,3 ngày Thời gian phát triển của nhộng cái là 9,79 ngày, nhộng đực là 10,2 ngày, thành trùng đực 81,5±43,7 ngày và thành trùng cái là 81,8±37,2 ngày Vòng đời

sát trên vườn dừa cho thấy bọ vòi voi D frumenti tấn công gây ra hiện tượng chảy nhựa sau đó là những lỗ đục nhỏ ngay vết đục D frumenti có thể gây hại

trên mọi bộ phận của dừa như thân dừa, buồng dùa, bẹ lá dừa, trái dừa Trên

trái, sự gây hại của D frumenti cũng làm cho trái non bị biến dạng và rụng, hoặc

có những đốm hoại tử quanh cuống trái Trứng được đẻ bên trong mô của cây,

ấu trùng và nhộng sống bên ký chủ Thành trùng thường ẩn náu trong những khe nứt của cây như thân, bẹ lá, trái…

3/ Kết quả sử dụng dấu phân tử ISSR để xác định mối liên quan di truyền

của các mẩu bọ vòi voi D frumenti được thu thập tại tám tỉnh ĐBSCL và bốn tỉnh miền Đông Nam Bộ cho thấy cả bốn kiểu hình bọ vòi voi D frumenti thu

tại ĐBSCL và miền Đông Nam Bộ có cùng một kiểu di truyền Kết quả phân tích sơ đồ nhánh dựa vào phương pháp UPGMA đã chứng minh quần thể bọ vòi voi có sự đa dạng về kiểu gen rất cao có khoảng cách di truyền dao động từ 3,16-8,54 Bốn mươi mẫu nghiên cứu được chia thành 4 nhóm chính với các kiểu hình khác nhau của cùng 1 địa điểm thu mẫu được xếp cùng một nhóm

4/ Kết quả đánh giá hiệu lực của nấm xanh trong điều kiện phòng thí

nghiệm và ngoài đồng trên thành trùng bọ vòi voi D frumenti đã tuyển chọn được 03 chủng nấm xanh Ma-GT-BT, Ma-BĐ1-BT và Ma-LP-ST cho hiệu quả phòng trị cao đối với D frumenti ở độ hữu hiệu 95,8%, 95,0% và 100% ở 15

tử/ml đều cho hiệu quả phòng trị cao đối với D frumenti

5/ Mô hình quản lý D frumenti theo hướng sinh học tại tỉnh Bến Tre trong

mùa mưa và tại tỉnh Trà Vinh trong mùa nắng cho hiệu quả làm giảm tỉ lệ buồng, trái bị hại Mô hình tại tỉnh Bến Tre có hiệu quả từ hai tháng và duy trì đến sáu tháng, mô hình tại tỉnh Trà Vinh cho hiệu quả khoảng bốn tháng sau khi phun nấm Trung bình tỉ lệ buồng dừa bị hại trong mô hình của tỉnh Bến Tre dao động

từ 5,30% đến 26,6% và tỉ lệ trái bị hại từ 3,90% đến 17,1% trong khi tương ứng với kết quả này ở vườn đối chứng là 6,10%-60,9% và 5,30%-39,2% Vườn mô hình tại tỉnh Trà Vinh có trung bình tỉ lệ buồng bị hại dao động từ 4,42% đến 20,2% và tỉ lệ trái bị hại dao động từ 2,07% đến 9,30% Tỉ lệ này tại vườn đối chứng từ 18,6% đến 26,1% và 6,31% đến 23,9%

Trang 6

Từ khóa: Bọ vòi voi, Diocalandra frumenti, Đặc điểm hình thái, ISSR,

kiểu hình, Metarhizium anisopliae

Trang 7

SUMMARY

Lesser coconut weevil Diocalandra frumenti Fabricius, has seriously

caused losses in productivity and quality of coconut trees in many provinces of the country At present, chemicals are main method to control it Therefore,

“Study of biological characteristics and control methods on Diocalandra

frumenti (Coleoptera: Curculionidae) causing damages to coconut trees in the

Mekong Delta” was conducted to: 1/ Identify the damage capacity of D

frumenti in three provinces: Ben Tre, Vinh Long and Tra Vinh, 2/ Survey of

morphological, biological and damage characteristics of D frumenti Fabricius

on coconut trees, 3/ Identify the genetic diversity of D frumenti by ISSR molecular markers, 4/ Determine natural parasitic fungi of D frumenti Fabricius and evaluate efficacy of bio products against D frumenti Fabricius, and 5/ Establish experimental models to control D frumenti Fabricius by

environmentally-safety solutions The results indicated that:

1/ According to the interview results of 330 farmers in Ben Tre, Vinh Long

and Tra Vinh provinces, the damages of D frumenti on coconut have been

mostly recognized since 2013 (32.9% households) and 2014 (41.6%

households) and the damage ratios in 2015 were up to 10-50% D frumenti has

caused damages to all of coconut varieties in the whole year round (43,9% households) The damage symptoms were mostly found on young fruits (57,6% households)

The field investigation at 27 coconut orchards showed that in 2015, 100%

of them got attacked by D frumenti with the average ratio of 58.9% for three

provinces while the ratios on bunches and fruits were 19.4% and 7.77%, respectively In 2017, in Ben Tre province, ratios of damaged trees, bunches and fruits were 58.1%, 16.7% and 4.62%

The damages of the D frumenti did not fluctuate much during the

investigation period but tended to increase in dry season In Ben Tre province, the average result fluctuated from 8.26% to 29.4% (ratios of damaged bunches) with 0.41 to 1.93 bunches/ tree, 3.58% to 13.6% (ratios of damaged fruits) and 0.73-4.01 fruits/ tree In Vinh Long province, the average ratios of damaged bunches were from 13.8% to 27.3%, equivalent to 1.03 to 1.53 bunches/ tree, ratios of damaged fruits were from 3.78% to 7.76% and 1.04-1.67 fruits/tree

The average ratios of damaged bunches caused by D frumenti on coconut

orchards in Tra Vinh province were 18.7% to 26.0%, those of fruits were 5.31%

to 8.43%, equivalent to 1.03 to 1.57 bunches/ tree and 1.03% to 1.91% fruits/ tree

Trang 8

2/ Survey results in the laboratory and the fields with 150 eggs, 29 larvae,

pupae and 29 pairs of adults showed D frumenti eggs were oval in shapes, sizes

from 0.85 x 0.29 mm, those of larvae were 1.15 x 0.24 mm and 6.09 x 1.35 mm,

of female and male pupae were 5.22 x 1.16 mm and 5.15 x 1.11 mm, respectively Adults had four brownish yellow spots on their wings with the average sizes of 5.14 x 1.08 mm and 6.23 x 1.17 mm for males and females

development period of 142.3 days The development period of female pupae was 9.79 days while that of the male ones was 10.2 days, 81.5±43.7 days and

81.8±37.2 days for male and female adults respectively Life cycle of D

frumenti was 167 days in the temperature of 28-31oC and humidity of 68-80%

Survey results at coconut orchards revealed that D frumenti caused gummy exudates, followed by small bored holes on the infested surfaces D frumenti

can attack almost all coconut parts such as trunks, bunches, petioles and fruits

On young coconut fruits, this insect can cause distortion and premature shedding or necrotic spots around their peduncles Eggs are laid in tissues;

larvae and pupae develop entirely within their hosts Adults of D frumenti are

often found in cracks of trunks, petioles, fruits …

3/ ISSR molecular markers were used to identify genetic relations of D

frumenti samples collected respectively in eight and four provinces in the

Mekong Delta and Southeast region indicated that all 4 phenotypes of D

frumenti had the same genetic diversity Genetic relationship of 40 samples

were clustered by UPGMA to demonstrate the differentiation of all samples, showing an extensive genetic diversity ranged from 3.16 to 8.54 According to the diagram, 40 samples were grouped into four main clusters with different phenotypes of the same locations grouped together

4/ Evaluation results on the effectiveness of M anisopliae on D frumenti

adults in laboratory conditions and coconut orchards indicated that 3 strains of green muscardine fungi: Ma-GT-BT, Ma-BD1-BT and Ma-LP-ST were able to

be selected They provided high preventive effectiveness against D frumenti at

95.8%, 95.0% and 100% at 15 days after being treated with the concentrations

5/ The models in Ben Tre province in the rainy season and Tra Vinh

province in the dry season for biological control of D frumenti revealed that the effectiveness could reduce the ratios of damaged bunches and fruits Models in

Ben Tre province were effective in two months, which could last up to six months while those in Tra Vinh province in the dry season were effective in four months after being treated On average, ratios of damaged coconut bunches

Trang 9

in the models in Ben Tre province varied from 5.30% to 26.6%; those of damaged fruits were from 3.90% to 17.1% while they were at 6,10%-60.9% and 5.30%-39.2% at controlled orchards Models in Tra Vinh province had the average ratios of damaged bunches ranging from 4.42% to 20.2% and those of damaged fruits were from 2.07% to 9.30% They were from 18.6% to 26.1% and 6.31% to 23.9% at controlled orchards

Keywords: Coconut weevil, Diocalandra frumenti, morphological, characteristics, ISSR, phenotypic, Metarhizium anisopliae.

Trang 11

MỤC LỤC

Lời cảm tạ i

Tóm tắt ii

Summary v

Lời cam đoan viii

Mục lục ix

Danh sách bảng xiii

Danh sách hình xvi

Danh mục từ viết tắt xxi

Chương 1: Giới thiệu 1

1.1 Tính cấp thiết của luận án 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa khoa học của luận án 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4.3 Những đóng góp mới của luận án 3

Chương 2: Tổng quan tài liệu 4

2.1 Giới thiệu về cây dừa 4

2.1.1 Nguồn gốc và phân bố 4

2.1.2 Đặc tính thực vật 4

2.1.3 Các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sự phát triển của cây dừa 5

2.1.4 Một số giống dừa phổ biến tại Việt Nam 6

2.1.5 Một số dịch hại chủ yếu trên dừa và biện pháp phòng trừ 7

2.2 Tổng quan về bọ vòi voi Diocalandra frumenti (Fabricius, 1801) 11

2.2.1 Phân loại bọ vòi voi D frumenti (Fabricius, 1801) 11

2.2.2 Phân bố và ký chủ của D frumenti 11

2.2.3 Đặc điểm hình thái, sinh học của bọ vòi voi D frumenti 12

2.2.4 Tập quán sinh sống và sự gây hại của bọ vòi voi D frumenti 21

Trang 12

2.2.5 Biện pháp quản lý 24

2.3 Ứng dụng công nghệ sinh học phân tử trong nghiên cứu đa dạng di truyền của côn trùng 26

2.3.1 Khái niệm về đa dạng di truyền 26

2.3.2 Chỉ thị phân tử dùng trong nghiên cứu đa dạng di truyền 27

2.3.3 Ứng dụng ISSR và COI trong nghiên cứu đa dạng di truyền côn trùng 29

2.4 Giới thiệu về nấm xanh Metarhizium anisopliae và ứng dụng nấm xanh để phòng trừ côn trùng gây hại 31

2.4.1 Giới thiệu về nấm xanh M anisopliae 31

2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm xanh M anisopliae 32

2.4.3 Cơ chế tác động và khả năng sử dụng nấm xanh M anisopliae trong phòng trị côn trùng gây hại cây trồng 32

2.4.4 Khả năng sử dụng nấm xanh M anisopliae trong phòng trị côn trùng gây hại cây trồng 33

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 35

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện luận án 35

3.1.1 Thời gian thực hiện các nội dung 35

3.1.2 Địa điểm thực hiện 35

3.2 Vật liệu và trang thiết bị nghiên cứu 35

3.2.1 Vật liệu nghiên cứu 35

3.2.2 Thiết bị và dụng cụ 38

3.2.3 Hóa chất 38

3.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 39

3.3.1 Nội dung 1: Đánh giá hiện trạng gây hại của bọ vòi voi ở tỉnh Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh 39

3.3.2 Nội dung 2: Khảo sát đặc điểm hình thái, sinh học và sự gây hại của bọ vòi voi D frumenti trong phòng thí nghiệm và trên các vườn dừa tại tỉnh Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh 41

Trang 13

3.3.3 Nội dung 3: Đánh giá sự đa dạng di truyền của các dòng bọ vòi voi

D frumenti) bằng các chỉ thị phân tử ISSR 45

3.3.4 Nội dung 4: Thu thập, phân lập, nhân nuôi và đánh giá hiệu quả nấm

ký sinh trên bọ vòi voi D frumenti 50

3.3.5 Nội dung 5: Xây dựng mô hình quản lý bọ vòi voi bằng các giải pháp

an toàn, thân thiện với môi trường 56

Chương 4: Kết quả và thảo luận 59

4.1 Tình hình gây hại của bọ vòi voi D frumenti tại tỉnh Bến Tre, tỉnh

Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh 59 4.1.1 Kết quả điều tra nông dân về sự nhận biết và cách phòng trị đối với

bọ vòi voi D frumenti tại tỉnh Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh 59

4.1.2 Tình hình gây hại của bọ vòi voi D fumenti tại tỉnh Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh theo khảo sát trên vườn dừa 65

4.2 Đặc điểm hình thái, sinh học và sự gây hại của bọ vòi voi D frumenti

75

4.2.1 Đặc điểm hình thái của bọ vòi voi D frumenti 75

4.2.2 Đặc điểm sinh học và khả năng gây hại của bọ vòi voi

D frumenti 82

4.3 Sự đa dạng di truyền các mẫu bọ vòi voi D frumenti thu tại các tỉnh

ĐBSCL và bốn tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ 93

4.3.2 Kết quả ly trích DNA 94 4.3.3 Khảo sát sự đa dạng kiểu gen giữa 4 kiểu hình dựa vào trình tự đoạn gen COI 95 4.3.4 Kết quả khảo sát đa dạng di truyền của bọ vòi voi bằng dấu chỉ thị phân tử ISSR 97 4.4 Kết quả thu thập, phân lập, nhân nuôi và đánh giá hiệu quả nấm ký sinh trên bọ vòi voi 103 4.4.1 Thu thập, phân lập và nhân nuôi nấm ký sinh trên bọ vòi voi

D frumenti 103

4.4.2 Kết quả đánh giá hiệu lực của các chủng nấm xanh M anisopliae thu thập được trên bọ vòi voi D frumenti trong điều kiện phòng thí nghiệm 105

Trang 14

4.4.3 Kết quả đánh giá hiệu lực của một số chủng nấm xanh M anisopliae

và thuốc bảo vệ thực vật đối với thành trùng bọ vòi voi D frumenti 107

4.4.4 Kết quả đánh giá hiệu lực của nồng độ nấm xanh M anisopliae đối với thành trùng bọ vòi voi D frumenti trong điều kiện phòng thí nghiệm 110

4.4.5 Kết quả đánh giá hiệu quả giảm tỉ lệ gây hại của nấm xanh M anisopliae và một số thuốc bảo vệ thực vật đối với thành trùng bọ vòi voi D frumenti trong điều kiện ngoài đồng 112

4.5 Kết quả xây dựng mô hình quản lý bọ vòi voi D frumenti bằng các giải pháp an toàn, thân thiện với môi trường 115

4.5.1 Kết quả xây dựng mô hình quản lý bọ vòi voi D frumenti tại tỉnh Bến Tre 115

4.5.2 Kết quả xây dựng mô hình quản lý bọ vòi voi D frumenti tại tỉnh Trà Vinh 117

Chương 5: Kết luận và đề xuất 120

5.1 Kết luận 120

5.2 Đề xuất 121

Tài liệu tham khảo 122

Phụ lục 136

Trang 15

DANH SÁCH BẢNG

2.1

Ảnh hưởng của chế độ ăn khác nhau đối với thời gian phát

triển ấu trùng của loài R ferrugineus trong điều kiện phòng

thí nghiệm

16

3.5

Các nghiệm thức thí nghiệm khảo sát hiệu quả của các

chủng nấm ký sinh đối với bọ vòi voi D frumenti trong điều

kiện phòng thí nghiệm ĐHCT, năm 2015

51

3.6

Các nghiệm thức thí nghiệm đánh giá hiệu lực của các

chủng nấm xanh và một số thuốc bảo vệ thực vật đối với

thành trùng bọ vòi voi trong điều kiện phòng thí nghiệm

ĐHCT, năm 2015

53

3.7

Các nghiệm thức thí nghiệm đánh giá hiệu quả của mật số

bào tử nấm xanh đối với thành trùng bọ vòi voi trong điều

kiện phòng thí nghiệm ĐHCT, năm 2015

54

4.1

Thông tin ghi nhận biện pháp quản lý dịch hại trên vườn của

nông dân tại các huyện của tỉnh Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long và

tỉnh Trà Vinh

64

Trang 16

4.2

Tỉ lệ gây hại của bọ vòi voi D fumenti tại ba tỉnh Trà Vinh,

Vĩnh Long và Bến Tre được khảo sát năm 2015 và năm

2017

66

4.5

Kết quả phân tích sự đa hình các phân đoạn DNA khuếch

đại từ 10 chỉ thị ISSR trên 40 mẫu bọ vòi voi D frumenti

frumenti tại tỉnh Bến Tre và các nơi khác ở ĐBCSL, 2015 104

4.9

Độ hữu hiệu của các chủng nấm xanh M anisopliae ở nồng

trong điều kiện phòng thí nghiệm ĐHCT, năm 2015

106

4.10

Độ hữu hiệu của các chủng nấm xanh M anisopliae và một

số thuốc bảo vệ thực vật đối với thành trùng bọ vòi voi D

frumenti ở thời điểm xử lý trong điều kiện phòng thí nghiệm

ĐHCT, năm 2015

108

4.11

Độ hữu hiệu của mật số bào tử nấm xanh đối với thành trùng

bọ vòi voi D frumenti ở các ngày sau khi xử lý trong điều

kiện phòng thí nghiệm ĐHCT, năm 2015

111

4.12

Hiệu quả phòng trị của các chủng nấm xanh và một số thuốc

bảo vệ thực vật đối với thành trùng bọ vòi voi D frumenti

ở các ngày sau khi xử lý trong điều kiện ngoài đồng tại

huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, 2016

113

4.13

Tỉ lệ bọ vòi voi bị nhiễm nấm xanh M anisopliae trở lại ở

các nghiệm thức thí nghiệm được phun nấm xanh tại huyện

Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, 2016

114

Trang 17

4.14 Tỉ lệ buồng dừa bị hại trong vườn mô hình và vườn đối

Trang 18

DANH SÁCH HÌNH

2.2

Thành trùng kiến vương hai sừng X gideon Linneus (A),

đuông dừa R ferrugineus Oliver (B), bọ dừa B longissima

Gestro (C) và sâu sừng A phidippus Linnaeus (D)

frumenti (B) với thức ăn là bẹ lá dừa Ta 42

3.4

Quá trình nuôi khảo sát đặc điểm hình thái và sinh học bọ

vòi voi D frumenti: thành trùng ngoài đồng (A), cho đẻ

trứng (B), nuôi ấu trùng và nhộng (C, D) và cho ghép cặp

thành trùng sau vũ hóa (E)

44

Trang 19

3.5 Các kiểu hình mẫu bọ vòi voi: kiểu hình 1 (A), kiểu hình 2

frumenti trên cây dừa theo điều tra nông dân năm 2015 62

frumenti trên cây dừa theo điều tra nông dân năm 2015 62

frumenti gây ra theo điều tra nông dân năm 2015 64

4.7

Tỉ lệ buồng dừa bị hại bởi D frumenti tại huyện Bình Đại,

huyện Giồng Trôm và huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre từ

7/2015 đến 6/2016

67

4.8

Trung bình buồng dừa bị hại mới bởi D frumenti tại huyện

Bình Đại, huyện Giồng Trôm và huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh

Bến Tre từ 8/2015 đến 6/2016

68

4.9

Tỉ lệ trái dừa bị hại bởi D frumenti tại huyện Bình Đại,

huyện Giồng Trôm và huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre từ

7/2015 đến 6/2016

69

4.10

Trung bình số trái dừa bị hại mới bởi D frumenti tại huyện

Bình Đại, huyện Giồng Trôm và huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh

Bến Tre từ 8/2015 đến 6/2016

69

4.11

Tỉ lệ buồng dừa bị hại bởi D frumenti tại huyện Tam Bình,

huyện Vũng Liêm và huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long từ

7/2015 đến 6/2016

70

Trang 20

4.12

Trung bình số buồng dừa bị hại mới bởi D frumenti tại

huyện Tam Bình, huyện Vũng Liêm và huyện Trà Ôn, tỉnh

Vĩnh Long từ 8/2015 đến 6/2016

71

4.13

Tỉ lệ trái bị hại bởi D frumenti tại huyện Tam Bình, huyện

Vũng Liêm và huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long từ 7/2015 đến

6/2016

71

4.14

Trung bình số trái dừa bị hại mới bởi D frumenti tại huyện

Tam Bình, huyện Vũng Liêm và huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh

Long từ 8/2015 đến 6/2016

72

4.15

Tỉ lệ buồng dừa bị hại bởi D frumenti tại huyện Cầu Kè,

huyện Càng Long và huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh từ

7/2015 đến 6/2016

73

4.16

Trung bình số buồng dừa bị hại mới bởi D frumenti tại

huyện Cầu Kè, huyện Càng Long và huyện Tiểu Cần, tỉnh

Trà Vinh từ 8/2015 đến 6/2016

73

4.17

Tỉ lệ trái dừa bị hại bởi D frumenti tại huyện Cầu Kè, huyện

Càng Long và huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh từ 7/2015 đến

6/2016

74

4.18

Trung bình số trái dừa bị hại mới bởi D frumenti tại huyện

Cầu Kè, huyện Càng Long và huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh

4.24

Thành trùng bọ vòi voi D frumenti: mới vũ hóa (A, B), phát

triển hoàn toàn (C), vòi của thành trùng đực, cái (D) và gai

sinh dục của thành trùng đực (E)

81

Trang 21

4.25 Tình trạng cơ thể ấu trùng bọ vòi voi D frumenti hơi teo lại,

4.32

Triệu chứng gây hại của bọ vòi voi D frumenti trên trái dừa

với hiện tượng chảy nhựa (A,C) và những vết sẹo tại nhiều

vị trí trên trái (B,D,E)

91

4.35

Bốn kiểu hình của bọ vòi voi được thu thập tại các tỉnh đồng

bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ: (A) kiểu hình 1, (B)

kiểu hình 2, (C) kiểu hình 3 và (D) kiểu hình 4

93

frumenti trên gel agarose với mẫu bọ vòi voi 1-40 94

4.38

Vị trí tương đồng chuỗi trình tự nucleotide của D frumenti

với các kiểu hình: kiểu hình 1 (KH1), kiểu hình 2 (KH2),

kiểu hình 3 (KH3) và kiểu hình 4 (KH4)

96

Trang 22

4.40 Sơ đồ phả hệ thể hiện mối tương quan di truyền giữa 40 mẫu

anisopliae trên vườn dừa được phun nấm tại tỉnh Bến Tre 114

Trang 23

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 24

TAE Tris-Acetic-EDTA

Trang 25

Chương 1: GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của luận án

Cây dừa (Cocos nucifera L.) là một trong những cây lấy dầu quan trọng

với tổng diện tích 12 triệu ha được trồng tại 90 quốc gia trên thế giới Dừa được ghi nhận là loại cây cung cấp nguồn thực phẩm (chủ yếu là chất béo), nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng, xuất khẩu và là cây trồng có ý nghĩa về kinh tế, xã hội và sinh thái (Võ Văn Long, 2007) Theo Cao Quốc Hưng (2015) thì dừa là loại cây trồng có tiềm năng kinh tế cao, đặc biệt phù hợp cho các vùng đất nghèo dinh dưỡng ven biển, nhiễm mặn và bị ảnh hưởng bởi bão lụt Các sản phẩm chính từ dừa được xuất khẩu sang thị trường các nước Châu Âu, Trung Đông, Châu Phi, Bắc Mỹ đã đem lại lợi nhuận cao Diện tích dừa của Việt Nam năm 2015 khoảng 160 ngàn ha, phân bố chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với 82,6% diện tích và đã tạo nên giá trị kinh tế đáng

kể Đặc biệt, tại tỉnh Bến Tre, ngành công nghiệp chế biến dừa phát triển nhanh,

là ngành kinh tế mũi nhọn và góp phần tạo việc làm cho nhiều lao động, tăng thu nhập cho người nông dân tai địa phương

Tuy nhiên, giá trị kinh tế của cây dừa có nguy cơ bị giảm do các côn trùng

gây hại đặc biệt là các loài thuộc bộ Cánh cứng như đuông dừa Rhynchophorus

ferrugineus, kiến vương Oryctes rhinoceros, bọ dừa Brontispa longissimi…

trong đó có loài Diocalandra frumenti gây thiệt hại đáng kể Trước đó, D

frumenti còn được ghi nhận gây hại trên cau, dừa nước và nhiều loài cây thuộc

họ cọ dầu khác ở nhiều nơi trên thế giới (CABI, 2009; EPPO, 2012) Theo

Nguyễn Thị Thu Cúc (2015), bọ vòi voi hại dừa có tên khoa học là Diocalandra

frumenti Fabricius (Coleoptera: Curculionidae) Loài côn trùng này được phát

hiện đầu tiên ở tỉnh Kiên Giang vào năm 2012 và nhanh chóng được xác định hiện diện tại nhiều tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, Đông Nam Bộ và miền Trung Sự

gây hại của D frumenti có thể làm trái biến dạng, kích thước nhỏ Năm 2012,

bọ vòi voi được xác định đã gây hại tại 11 tỉnh thành với tỉ lệ vườn bị nhiễm từ1-5%, nơi bị nhiễm nặng có thể lên đến 80% số trái bị hại (Thanh Sơn, 2012)

Qua đó cho thấy, bọ vòi voi D frumenti có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm

trọng đến năng suất và chất lượng dừa của người nông dân Do dừa là loại cây lâu năm nên việc xử lý thuốc hóa học thường gặp rất nhiều khó khăn, gây ô nhiễm môi trường và tổn hại đến sức khỏe con người Hiện tại, chưa có kết quả nghiên cứu chính thức nào được công bố về việc áp dụng các giải pháp quản lý

đối tượng này theo hướng an toàn Do đó, luận án “Nghiên cứu đặc tính sinh

học và biện pháp phòng trừ bọ vòi voi Diocalandra frumenti Fabricius

(Coleoptera: Curculionidae) hại dừa tại Đồng bằng sông Cửu Long” được

Trang 26

thực hiện nhằm xác định những thông tin liên quan đến D frumenti, làm cơ sở

cho việc xây dựng chiến lược quản lý đối tượng này bằng các giải pháp an toàn

1.2 Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu

- Xác định được khả năng gây hại của bọ vòi voi hại dừa tại 3 tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh

- Xác định được đặc điểm hình thái, sinh học và gây hại của bọ vòi voi hại cây dừa

- Khảo sát sự đa dạng di truyền của các dòng bọ vòi voi D frumenti bằng

các chỉ thị phân tử ISSR

- Xác định đối tượng nấm ký sinh trong tự nhiên của bọ vòi voi và hiệu quả của một số chế phẩm sinh học (nấm ký sinh, thuốc trừ sâu sinh học ) trên

bọ vòi voi hại dừa

- Xây dựng mô hình quản lý bọ vòi voi bằng các giải pháp an toàn, thân

thiện với môi trường

1.3 Ý nghĩa khoa học của luận án

Luận án cung cấp những dữ liệu về tình hình gây hại của bọ vòi voi D

frumenti hại dừa tại các tỉnh Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh

Luận án đã xác định được đặc điểm hình thái, sinh học, sự gây hại của bọ

vòi voi D frumenti trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng

Luận án cũng đánh giá được sự đa dạng di truyền của bọ vòi voi tại một

số tỉnh ĐBSCL và miền Đông Nam Bộ, làm phong phú thêm ngân hàng gen của các loài côn trùng

Kết quả của luận án góp phần đảm bảo chất lượng trái dừa, giảm thuốc bảo vệ thực vật, giảm ô nhiễm môi trường và bảo đảm sức khỏe cho con người

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là bọ vòi voi hại dừa D frumenti

Đây là đối tượng côn trùng mới xuất hiện trong những năm gần đây và gây hại quan trọng tại các vườn dừa trên khắp cả nước, đặc biệt là trên các vườn dừa

của nông dân ĐBSCL

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận án là tình hình gây hại trên các vườn dừa, đặc điểm hình thái, sinh học, cách gây hại, tính đa dạng di truyền các kiểu hình

Trang 27

của bọ vòi voi D frumenti ở ĐBSCL và Đông Nam Bộ Đồng thời, luận án xác

định được các dòng nấm ký sinh, thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả trong phòng trị làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình quản lý đối tượng này hiệu quả theo hướng an toàn

Quá trình nghiên cứu được thực hiện trong thời gian 04 năm, từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 11 năm 2018

1.4.3 Những đóng góp mới của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án đã xác định được tình hình gây hại của

bọ vòi voi D frumenti tại tỉnh Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh dựa

trên phỏng vấn nông dân và khảo sát ngoài đồng

Kết quả của luận án cũng xác định được đặc điểm hình thái, sinh học và

sự gây hại của bọ vòi voi D frumenti trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng

Đây là những dữ liệu chưa được hoàn thiện tại ĐBSCL nói riêng và trong nước nói chung

Kết quả của luận án cũng đánh giá được sự đa dạng kiểu gen cũng như

sự đa dạng di truyền của bọ vòi voi D frumenti tại các tỉnh thuộc miền Đông

Nam Bộ và ĐBSCL bằng chỉ thị phân tử ISSR

Kết quả của luận án cũng đã tuyển chọn được một số dòng nấm ký sinh

cho hiệu quả cao trong phòng trị bọ vòi voi D frumenti

Các mô hình được xây dựng tại địa phương cũng cho thấy hiệu quả quản

lý bọ vòi voi D frumenti theo hướng sinh học mang lại hiệu quả về kỹ thuật và

an toàn

Trang 28

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu về cây dừa

2.1.1 Nguồn gốc và phân bố

Cây dừa (Cocos nucifera L.) được canh tác đầu tiên ở Ấn Độ khoảng 3.000

năm trước Công Nguyên (Chen and Craig, 2006) Dừa được phân bố rộng rãi trong vùng nhiệt đới và những vùng ven biển Riêng tại Thái Lan và Việt Nam, dừa được trồng nhiều ở vùng đồng bằng (Ohler, 1984) Đây là loại cây trồng có khả năng phát triển trên đất mặn-lợ và có nhiều ưu thế trong việc thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, dừa còn được xem là cây công nghiệp

có độ che phủ cao, bảo vệ tốt môi trường sống của con người trước sự phát triển công nghiệp và đô thị hoá (Võ Văn Long, 2007)

Tại Việt Nam, cây dừa được trồng nhiều ở các tỉnh ĐBSCL như: Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu và Tiền Giang (Trần Văn Hâu và

Nguyễn Chí Linh, 2011 trích dẫn của Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong,

2004) Theo Sở Công thương tỉnh Bến Tre (2015), các tỉnh trồng dừa với diện tích lớn của ĐBSCL gồm tỉnh Bến Tre (69.000 ha, sản lượng 570.000 tấn), Trà Vinh (19.319 ha, sản lượng 223.318 tấn), Tiền Giang (14.988 ha, sản lượng 106.185 tấn), Vĩnh Long (7.951 ha, sản lượng 112.000 tấn) Do điều kiện thổ nhưỡng thích hợp, phù sa từ các hệ thống sông ngòi đã làm cho dừa của ĐBSCL

có chất lượng tốt, cơm dày, hàm lượng dầu cao

2.1.2 Đặc tính thực vật

Dừa có rễ bất định sinh ra liên tục ở gốc thân, không có rễ cọc, chiều dài khoảng 5-7 m và chiều sâu khoảng 0,30-1,20 m (Chen and Craig, 2006) Trong một số trường hợp rễ có thể mọc dài trên 30,0 m và sâu 5,50 m (Ohler, 1984)

Theo (Võ Văn Long và ctv, 2008), rễ dừa phần lớn tập trung xung quanh thân

với bán kính khoảng 0,75-1,00 m chủ yếu để bám đất và hấp thu dinh dưỡng Theo Võ Văn Long (2007), thân dừa có màu xám và không có tầng sinh

gỗ bên ngoài Tiến trình phát triển đầy đủ của thân cây dừa có thể kéo dài đến

4 năm tùy thuộc vào đặc tính giống (Ohler, 1984)

Lá dừa mọc theo hình xoắn ốc với từ 30 đến 40 tàu lá/cây và mọc ra từ đỉnh thân (Tôn Thất Trình, 1974) Trung bình mỗi tháng dừa mọc thêm một tàu

lá mới, khi gặp điều kiện bất lợi thì thời gian này có thể từ hai đến ba tháng (Võ Văn Long, 2007)

Hoa dừa thuộc loại đơn tính đồng chu, mỗi phát hoa có khoảng 8.000 hoa đực và 1-30 hoa cái (Ohler, 1984) Hoa đực dài khoảng 6-8 mm, gồm ba lá đài

Trang 29

và ba phiến hoa màu vàng với sáu tiểu nhị và nhụy cái ở giữa Tiểu nhị chứa nhiều phấn hoa, có thể đạt 6,10 g/phát hoa Hoa đực của dừa cũng có tuyến mật

để thu hút côn trùng (Trần Văn Hâu và Nguyễn Chí Linh, 2011)

Trái dừa phát triển từ bầu noãn có ba tâm bì, mỗi tâm bì chứa một tiểu noãn, thường có hai tiểu noãn không phát triển sau khi thụ phấn và chỉ có một mầm của tiểu noãn phát triển (Ohler, 1984) Kích thước, màu sắc và hình dáng của trái thay đổi tùy theo giống dừa Thời điểm trái dừa được 6-7 tháng tuổi có trọng lượng nước nhiều nhất Sau khi chín hoàn toàn, trái khô, rụng và rất dễ

nảy mầm nếu gặp điều kiện thuận lợi (Võ Văn Long và ctv, 2008) Theo Trần

Văn Hâu và Nguyễn Chí Linh (2011), trái dừa thuộc nhóm dừa cao được thu hoạch khi trái được 11 tháng tuổi (vỏ trái chuyển sang màu nâu) trong khi trái dừa thuộc nhóm dừa lùn thì thu hoạch khi trái được 7 tháng tuổi

2.1.3 Các yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sự phát triển của cây dừa 2.1.3.1 Yếu tố khí hậu, thời tiết

Theo Trần Văn Hâu và ctv (2009) thì cây dừa thích hợp với điều kiện

cho sự phát triển của cây dừa Nhiệt độ cao có thể ảnh hưởng đến sự đậu trái và làm rụng trái non Lượng mưa trung bình là 1.300-2.500 mm, phân bố đều trong năm và trung bình lượng mưa trong tháng 150 mm được xem là lý tưởng cho sự phát triển của cây dừa

Cây dừa có nhu cầu ẩm độ thích hợp từ 70% đến 90%, dưới 60% sẽ làm rụng trái non, trái dừa không phát triển Dừa là cây ưa sáng, nhu cầu tối thiểu

120 giờ/tháng nên điều kiện tự nhiên ở ĐBSCL rất thích hợp cho sự phát triển của cây dừa Ngoài ra, Trần Văn Hâu và Triệu Quốc Dương (2011) cũng chỉ ra hiện tượng dừa không mang trái trên cây (dừa treo) thường xuất hiện trong mùa mưa, từ tháng bảy đến tháng chín âm lịch Hiện tượng này do nhiều nguyên nhân như chế độ canh tác, dịch hại… đã làm giảm đáng kể năng suất của các vườn dừa Bên cạnh đó, vấn đề ngập úng, khô hạn, nước mặn >10‰ cũng ảnh

hưởng đến sự phát triển và năng suất dừa (Trần Văn Hâu và ctv., 2009)

Theo Võ Văn Long (2007) thì dừa có thể chịu mặn từ 4‰ đến 6‰, một số giống dừa cao địa phương có thể chịu mặn đến 10‰ Theo Huỳnh Quang Đức (2017) thì năm 2015 có lượng mưa rất thấp, chỉ đạt 995 mm đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tạo số hoa cái nói riêng và tình trạng sinh trưởng và phát triển dừa nói chung Ngoài ra, năm 2015 và 2016, dừa chịu đựng đợt hạn - mặn kéo dài làm gia tăng tình trạng suy kiệt cây, nên khả năng đậu hoa ít, nuôi trái non kém làm rụng trái dễ xảy ra ở nhiều vườn dừa

Trang 30

2.1.3.2 Yếu tố đất đai

Cây dừa có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất cát thiếu dinh dưỡng đến đất sét, tuy nhiên loại đất phù hợp nhất là đất thịt pha cát và có khả năng thoát nước tốt Cây dừa chịu được pH từ 5,2 đến 8,0 nhưng thích hợp nhất

là 6,0 đến 7,0 (Tôn Thất Trình, 1974) Tuy nhiên, ở đất nặng nhiều sét, dừa vẫn sinh trưởng tốt nếu không ngập nước trong mùa mưa và không quá khô trong mùa nắng Do đó, điều kiện mực thủy cấp gần mặt đất từ 30 đến 120 cm hoặc đất có khả năng giữ nước cao là yêu cầu quan trọng đối với việc lựa họn vùng

đất để phát triển cây dừa (Võ Văn Long và ctv, 2008)

2.1.4 Một số giống dừa phổ biến tại Việt Nam

2.1.4.1 Giống dừa cao

- Dừa Ta là giống dừa lấy dầu, có gốc và thân cây to, sẹo lá trên thân dày,

cây nhiều lá (28-33 lá), tán lá phân bố đều và chiều dài cuống hoa ngắn 45,0 cm) (Hình 2.1A) Ở vùng ĐBSCL, dừa Ta có thời gian từ khi trồng tới khi

(35,0-ra hoa khoảng bốn đến năm năm và năng suất đạt 60-70 trái/cây/năm Dừa Ta

có hình dạng trái tròn với ba khía rõ rệt, khối lượng trái lớn (2.000-2.300 g), vỏ dày Dừa Ta có khối lượng cơm dừa nhiều (500-550 g), độ dày cơm dừa 1,00-1,10 cm và hàm lượng dầu cao (60-63%) Trong cơm dừa có sự hiện diện của các axit béo cơ bản đặc trưng cho dầu dừa, trong đó, axit lauric bão hòa với 12 carbon chiếm hàm lượng rất cao (47,0-52,0%) (Võ Văn Long, 2007)

- Dừa Dâu cũng thuộc nhóm dừa cao lấy dầu bản địa của Việt Nam Dừa Dâu có gốc và thân cây to, sẹo lá dày, nhiều lá (26-34 lá), tán lá phân bố đều và chiều dài cuống hoa ngắn (40,0-50,0 cm) (Hình 2.1B) Thời gian từ khi trồng tới khi ra hoa của dừa Dâu từ bốn đến năm năm với năng suất từ 70 đến 80 trái tại vùng ĐBSCL Dừa Dâu có hình dạng trái tròn đến hơi dài, không có khía, khối lượng trái lớn (1.800-2.000 g), xơ mỏng Khối lượng cơm dừa của dừa Dâu khá cao (450-500 g) với cơm dừa dày (0,90-1,10 cm), hàm lượng dầu đạt 59-62% Trong cơm dừa có sự hiện diện của các axit béo cơ bản đặc trưng cho dầu dừa, trong đó axit lauric bão hòa với 12 carbon chiếm hàm lượng 44-51% (Võ Văn Long, 2007)

2.1.4.2 Giống dừa lùn

- Dừa Xiêm thuộc nhóm dừa lùn, có thân hình trụ, sẹo lá khít, tốc độ tăng trưởng chiều cao chậm, tổng số hoa cái/chùm từ 20 đến 30 hoa, năng suất trái cao (Hình 2.1C) Dừa Xiêm có khối lượng trái lớn khoảng 850-950 g/trái, hàm lượng glucide trong nước dừa đạt 6,50-6,80 g/100ml và có chứa một số khoáng chất (Ca, Mg, K) và vitamin C (Võ Văn Long, 2007)

Trang 31

- Dừa Ẻo cũng thuộc nhóm dừa lùn của Việt Nam, có thân hình trụ, sẹo lá khít, tốc độ tăng trưởng chiều cao chậm, tổng số hoa cái/chùm cao (từ 30 đến

40 hoa) (Hình 2.1D) Dừa Ẻo có năng suất trái/cây/năm cao (200-300 trái), hàm lượng glucide trong nước dừa đạt 6,50 -7,00 g/100ml Ngoài ra, trong dừa Ẻo còn có một số khoáng chất như Ca, Mg, K và vitamin C (Võ Văn Long, 2007)

Hình 2.1: Một số giống dừa phổ biến tại Việt Nam: Dừa Ta (A) , dừa Dâu (B),

dừa Xiêm (C), dừa Ẻo (D) (Nguồn: Võ Văn Long, 2007)

2.1.5 Một số dịch hại chủ yếu trên dừa và biện pháp phòng trừ

2.1.5.1 Chuột hại dừa

Ở những vùng không có nước ngọt trong mùa khô, chuột có thể gây thiệt hại 30-40% bằng cách cắn phá rễ, trái và cây con trong vườn ươm Đặc biệt, chuột gây hại chủ yếu ở những vườn ươm không thông thoáng và vào thời điểm trái dừa từ 2-6 tháng tuổi Biện pháp quản lý chủ yếu là vệ sinh vườn và tán lá

dừa, làm bẫy và dùng thuốc hóa học (Võ Văn Long và ctv, 2008)

2.1.5.2 Côn trùng hại dừa

Kalshoven (1981) đã ghi nhận thành phần loài côn trùng gây hại trên cây dừa trên thế giới có hàng trăm loài Thành phần côn trùng hại dừa còn có nhiều

Trang 32

loài sâu ăn lá như Amathusia phidippus, Zeuxiooa catoxantha, Hidari irava…, sâu bao Mahasena corbetti, Metisa plana và sâu đục trái Tirathaba rufivena

Tại Việt Nam, kết quả điều tra trên vườn đã phát hiện được 42 loài côn trùng và

nhện hại cây dừa, trong đó bọ dừa Brontispa longissimi, bọ vòi voi Diocalandra

frumenti, đuông dừa Rhynchophorus ferrugineus, kiến vương Oryctes rhinoceros và sâu đục trái Tirathaba rufivena là những đối tượng gây hại quan

vương một sừng (Oryctes rhinoceros) và kiến vương hai sừng (X gideon) Cả

hai loài trên thuộc họ Bọ hung (Scarabaeidae), bộ Cánh cứng (Coleoptera) (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2011)

Thành trùng O rhinoceros có màu nâu đậm hoặc đen, thân và cánh rất

cứng Chiều dài thân từ 30,0 mm đến 50,0 mm, chiều rộng từ 14,0 mm đến 30,0

mm, trước đầu có một sừng mọc ngược ra phía sau Thành trùng cái có thể sống đến ba tháng và đẻ từ 70 đến 140 trứng Trứng kiến vương có dạng thon, dài khoảng 3 mm, màu trắng và chuyển sang màu xám khi sắp nở Ấu trùng thường

có dạng cong hình chữ C, thân màu xám tro, đầu màu nâu Ấu trùng kiến vương một sừng có bốn tuổi, phát triển trong thời gian từ bốn đến sáu tháng Nhộng có màu nâu, dài 5-9 mm và phát triển trong thời gian từ 14 đến 30 ngày Thành

trùng đực của loài kiến vương hai sừng X gideon có màu nâu đỏ láng bóng, đầu

có hai sừng cong hướng vào nhau, đỉnh của sừng chẻ đôi (Hình 2.2A) Thành trùng cái không có sừng, màu nâu đen, cánh không bóng, cánh trước không che phủ hết thân (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)

Kiến vương thường vũ hoá và gây hại nhiều vào mùa mưa Ấu trùng gây hại bằng cách đục vào trung tâm ở cuối bẹ lá, cắn ngang cuống lá và đục theo đường dọc ăn sâu vào phần đỉnh sinh trưởng Kiến vương gây hại tất cả các giai đoạn phát triển của cây dừa nhưng tàn phá mạnh nhất vào giai đoạn cây nhỏ có khả năng cắn đứt ngọn dẫn đến chết cây Biện pháp quản lý kiến vương gồm biện pháp canh tác, vệ sinh vườn dừa, tránh làm tổn thương thân cây, trồng cây che phủ đất, sử dụng bẫy…và sử dụng hóa chất (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)

b) Đuông dừa Rhynchophorus ferrugineus Oliver

Đuông dừa có thể tấn công trên cây dừa một số loại cây khác như đủng đỉnh, dừa nước… Thành trùng đuông dừa có thân màu nâu đỏ, vòi dài và thường cong so với đầu một góc khoảng 30 độ (Hình 2.2B) Mặt lưng của vòi thành

Trang 33

trùng đực phủ lông ngắn màu nâu, trong khi mặt lưng vòi của thành trùng cái không có đặc điểm này Thành trùng cái sống từ hai đến bốn tháng và đẻ 200-

400 trứng Trứng đuông dừa màu vàng nhạt, hình bầu dục và phát triển trong khoảng từ ba đến năm ngày Ấu trùng có màu trắng ngà khi mới nở, đầu màu nâu và phát triển từ 30 đến 85 ngày Nhộng đuông dừa mới hình thành có màu vàng nhạt, sau chuyển sang màu nâu đậm và phát triển từ 12 đến 20 ngày Vòng đời của đuông dừa từ 80 đến 90 ngày (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)

Về đặc tính gây hại của đuông dừa, Nguyễn Thị Thu Cúc (2015) xác định đuông dừa thường vũ hóa vào mùa mưa và dễ bị thu hút bởi mùi nhựa cây từ các vết thương trên thân dừa, nhất là thành trùng cái Thành trùng có khả năng bay nhanh, phạm vi phát tán rộng hơn kiến vương Thành trùng cái thích đẻ trứng trên cây dừa dưới mười năm tuổi, đặc biệt là những cây dừa mới cho trái

Ấu trùng sống và làm nhộng ngay bên trong của thân cây dừa Triệu chứng gây hại của đuông dừa là hiện tượng lá bị vàng, khô và chết cây Để quản lý đối tượng này cần vệ sinh vườn dừa để hạn chế sự lưu tồn và phát tán dịch hại Trường hợp cần thiết có thể sử dụng thuốc hóa học để phun trực tiếp trên vườn dừa

c) Bọ dừa Brontispa longissima Gestro

Bọ dừa được ghi nhận có đến trên 36 loại cây ký chủ, hầu hết là cây họ Cau dừa và có sự gây hại nhiều nhất trên cây dừa (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015) Đặc điểm hình thái và sinh học của bọ dừa được Nguyễn Thị Thu Cúc

gặm Nhộng có hình thái giống ấu trùng tuổi năm với hai kẹp ở cuối bụng dài hơn và có mầm cánh Thành trùng bọ dừa có kích thước 8,50-9,00 mm dài và 2,00-2,25 mm ngang, râu dài 2,75 mm, màu đỏ với hai cánh trước màu đen (Hình 2.2C) Thành trùng có thể sống đến 220 ngày và một thành trùng cái có thể đẻ hơn 100 trứng Thành trùng bọ dừa không ưa sáng, gây hại bằng cách ăn

lá non tại chỗ và có thể tấn công mọi giai đoạn sinh trưởng của cây Sự tấn công liên tục của bọ dừa có thể làm cho cây rụng trái non và có ít trái Đó với bọ dừa,

từ năm 2003, nhiều tỉnh ở ĐBSCL đã áp dụng biện pháp nuôi ong ký sinh

Asecodes hispinarum để quản lý loài này mà không dùng thuốc hoá học

d) Sâu sừng Amathusia phidippus Linnaeus

Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2015) thì thành trùng A phidippus có cánh

màu nâu và có hai chấm đen ở đuôi cánh dưới (Hình 2.2D) Trứng loài này có màu xanh lục, được đẻ rải rác dưới mặt lá với thời gian ủ trứng khoảng tám ngày Thân ấu trùng có nhiều lông, có hai đốt gai ở đầu và một đôi gai ở cuối Gai trước có nhiều lông ngắn, gai sau có nhiều lông dài tạo thành đuôi Ấu trùng

Trang 34

lớn đủ sức dài khoảng 9 cm, màu xám xanh và có sọc đen trên lưng, đốt cuối bụng có một cặp đuôi màu vàng, ngực có một chùm lông màu đỏ Ấu trùng phát triển trong thời gian khoảng 40 ngày và có tập quán sống thành quần thể nên khả năng gây hại khá cao vì có thể ăn trụi cả lá Để quản lý hiệu quả sâu sừng, biện pháp chủ yếu là sử dụng thuốc hóa học (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị

Hình 2.2: Thành trùng kiến vương hai sừng X gideon Linneus (A), đuông dừa

R ferrugineus Oliver (B), bọ dừa B longissima Gestro (C) và sâu sừng A

phidippus Linnaeus (D) (Nguồn: Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)

2.1.5.2 Bệnh hại dừa và biện pháp phòng trừ

a) Bệnh đốm lá

Theo Võ Văn Long và ctv (2008), bệnh đốm lá là bệnh thường gặp trên cây dừa và do hai loại nấm Pestalozzia palmarum Cke và Helminthosorium sp gây ra Triệu chứng do nấm P palmarum gây ra là lá dừa xuất hiện những đốm

vàng, sau lớn dần thành vết cháy hình bầu dục, ở giữa có màu xám nhạt với viền nâu đậm bên ngoài và có thể tạo thành mảng lớn Bên cạnh đó, đầu và lá chét bị

cháy khô Riêng đối với bệnh do nấm Helminthosorium sp thì triệu chứng là

những đốm nhỏ có màu nâu sau lớn dần lên làm cho lá bị khô Để phòng trị bệnh này, cần bón phân kali cho cây dừa, đặc biệt là vườn ươm để giúp cây ít

nhiễm bệnh và nhanh cho trái

b) Bệnh thối đọt

Bệnh thối đọt dừa do nấm Phytophthora palmivora gây ra Nấm gây hại

bằng cách tấn công vào đỉnh sinh trưởng làm thối phần đọt non, cây ngừng sinh trường và chết Bệnh thường xuất hiện vào đầu mùa mưa khi ẩm độ cao và có thể gây chết cây dừa sau ba đến năm tháng Đây là bệnh thường được phát hiện

Trang 35

muộn và tương đối khó phòng trị, nên đốn và tiêu hủy cây bệnh, nếu phát hiện

sớm có thể dùng thuốc gốc đồng để xử lý (Võ Văn Long và ctv., 2008)

c) Hiện tượng nứt, rụng trái

Hiện tượng nứt trái do rất nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do

nấm Fusarium sp gây ra và có khả năng làm giảm năng suất nghiêm trọng

Ngoài ra, sự thiếu kali, thiếu nước hoặc ngập úng cũng gây ra hiện tượng này

Vì vậy, việc phòng trị hiện tượng nứt và rụng trái dựa vào nguyên nhân Theo

đó, biện pháp phòng trị bệnh nứt trái non bao gồm tránh ngập úng trong vườn dừa vào mùa mưa, tưới nước trong mùa nắng, sử dụng phân hữu cơ hàng năm

để đất tơi xốp, bón phân cân đối đặc biệt là phân Kali để hạn chế hiện tượng nứt

và rụng trái… (Võ Văn Long và ctv., 2008)

2.2 Tổng quan về bọ vòi voi Diocalandra frumenti (Fabricius, 1801)

2.2.1 Phân loại bọ vòi voi D frumenti (Fabricius, 1801)

Theo Salomone et al (2000) thì hệ thống phân loại của bọ vòi voi

Diocalandra frumenti (Fabricius, 1801) có thể được trình bày như sau:

+ Loài: Diocalandra frummenti (Fabricius)

frumenti Fabricius, Calandra bifasciata Boisduval, Calandra montrouzieri

Chevrolat, Sitophilus subfasciatus Boheman, Sitophilus stigmaticollis Gyllenhal, Diocalandra frumenti var stigmaticollis Kolbe, Sitophilus

subsignatus Gyllenhal, Sphenophorus cruciger Motschulsky, Calandra punctigera Pascoe và Callandra sechellarum Kolbe (Zimmerman, 1993) Tại

Việt Nam, Nguyễn Thị Thu Cúc (2015) cũng xác định loài này còn có một số

tên khoa học khác là Sitophilus frumenti (Fabricius) Schoenherr, Diocalandra

frumenti (Fabricius), Calandra stigmaticollis và Diocalandra stigmaticollis

2.2.2 Phân bố và ký chủ của D frumenti

Trên thế giới, D frumenti được ghi nhận là loài có khả năng gây hại trên

nhiều loài cây thuộc họ Cau dừa ở nhiều nơi như: các nước thuộc vùng Địa Trung Hải, quần đảo Canary và Tây Ban Nha (Migue and Manuel, 2009) Bên

cạnh đó, D frumenti cũng hiện diện tại Châu Phi (Madagascar, Seychelles,

Trang 36

Somalia và Tanzania), Châu Á (Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Đài Loan và Thái Lan), Châu Đại Dương (Úc, Guam, Palau, Papua New Guinea, Samoa và Quần đảo Solomon) và Nam Mỹ (Ecuador) (EPPO, 2012; Winotai, 2014) Sau đó, Pullen

et al (2014) cũng đã công bố sự hiện diện của D frumenti trong danh mục 4.111

bọ cánh cứng của nước Úc Ngoài ra, D frumenti cũng đã được Ahmed and

Legalov (2015) xác định là một trong 331 loài cánh cứng ở Pakistan Mark (2015) cũng xác định loài này có hiện diện trên cây họ Cau dừa tại Papua New Guinea nhưng không gây hại nghiêm trọng

Bên cạnh đó, tại Indonesia, D frumenti cũng hiện diện trên cây họ Cau

dừa và rất phổ biến trên những vị trí bẹ lá bị cắt, tạo ra hiện tượng chảy nhựa

Ấu trùng gây hại ở phần mô của lá ở những vị trí cắt tỉa (Desmier et al., 2001) Brun and Chazeau (1986) đã có báo cáo D frumenti là đối tượng gây hại trên

cây họ Cau dừa tại Nouvelle-Calédonie của Pháp Đồng thời, loài này cũng được xác định là dịch hại thứ cấp trên cây dừa và được báo cáo lần đầu tiên ở

Pondicherry, Ấn Độ (Subaharan et al., 2004)

Tại Việt Nam, bọ vòi voi D frumenti cũng được xác định đã có sự hiện

diện tại Kiên Giang vào năm 2012 và nhanh chóng được phát hiện đã gây hại tại vùng ĐBSCL, miền Đông Nam Bộ và miền Trung (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)

2.2.3 Đặc điểm hình thái, sinh học của bọ vòi voi D frumenti

2.2.3.1 Trứng của bọ vòi voi D frumenti

Về đặc điểm hình thái của trứng bọ vòi voi D frumenti, Giblin-Davis

(2011) đã mô tả trứng có màu trắng trong, kích thước 0,90 x 0,30 mm Trước

đó, nghiên cứu của Chakravarthy (2003) tại Ấn Độ cũng cho biết trứng của loài

côn trùng này có màu trắng hơi trong Trứng của D frumenti được đẻ trên bẹ

lá, cuống hoa hoặc trên các vết nứt gần rễ ở gốc thân (Giblin-Davis, 2011; Hill,

1983) Theo ghi nhận của González et al (2002), khi được nuôi trên thân cây

mía, trứng được đẻ ở độ sâu 1,00-2,50 mm và không có dấu hiệu đẻ trứng trên

bề mặt

Tại ĐBSCL, trứng của D frumenti được phát hiện trong vết nứt của gốc

thân và các vết nứt ở cuống trái hoặc trên những vết sẹo có sẵn trên chóp trái Trứng có hình bầu dục, dài khoảng 1 mm, màu trắng trong, khi gần nở xuất hiện hai chấm màu nâu (Hình 2.3A) (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)

Trang 37

Hình 2.3: Trứng (A), ấu trùng (B), nhộng (C) và thành trùng (D) của bọ vòi

voi D frumenti (Nguồn: Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)

2.2.3.2 Ấu trùng của bọ vòi voi D frumenti

Về đặc điểm hình thái, Vanderplank (1958) cũng báo cáo ấu trùng loài D

frumenti có sự phân đốt rất rõ ràng Liao and Chen (1997) công bố ấu trùng loài

này có màu trắng, hơi cong và có thể dài 7 mm (Hình 2.3B) Tương tự, Nguyễn

Thị Thu Cúc (2015) chỉ ra rằng ấu trùng D frumenti là dạng không chân, đầu

cứng màu vàng nâu, miệng nhai gặm Ấu trùng mới nở dài khoảng 1,10 mm, tuổi 2: 2,0-2,6 mm, tuổi 3: 3,0-3,8 mm, tuổi 4: 4,2-5,5 mm, tuổi 5: 5,8-7,2 mm

Ấu trùng có màu trắng, hơi vàng, giữa thân thường có màu hồng nâu là màu của thức ăn hiện diện bên trong cơ thể

Về đặc tính sinh sống, Liao and Chen (1997) cũng đã chỉ ra rằng có đến

10 hoặc hơn ấu trùng có thể phát triển trong từng bẹ lá và Salamone et al (2000) ước tính hàng trăm cá thể D frumenti có thể được tìm thấy trong một cây ký

chủ Ngoài ra, Liao and Chen (1997) và Giblin-Davis (2011) ấu trùng bọ vòi

voi D frumenti mới nở đục vào mô cây nơi trứng được đẻ gây ra hiện tượng chảy nhựa Trong thử nghiệm nuôi D frumenti của González et al (2002) trong

phòng thí nghiệm (nhiệt độ 25±1°C, ẩm độ 70%±10), sử dụng mía đường với các chế độ thức ăn nhân tạo đã cho biết thời gian phát triển của ấu trùng loài này thay đổi ở 73,2 ngày, 69,2 ngày và 60,9 ngày Bên cạnh đó, theo Nguyễn

Thị Thu Cúc (2015) thì ấu trùng D frumenti sống bằng cách đục thành đường

hầm trong vỏ trái, có thể đục sâu bên trong trái dừa và toàn bộ sự phát triển của

ấu trùng xảy ra trong mô cây

2.2.3.3 Nhộng của bọ vòi voi D frumenti

Nhộng của D frumenti có màu trắng và dài khoảng 6-7 mm (Liao and

Chen, 1997) Nhộng được hình thành trong đường đục của ấu trùng, không có kén với thời gian phát triển kéo dài khoảng 10-12 ngày (Giblin-Davis, 2011)

Tương tự, Nguyễn Thị Thu Cúc (2015) cũng xác định rằng nhộng D frumenti

D

Trang 38

được hình thành trong đường đục của ấu trùng, là dạng nhộng trần, dạng thon, dài từ 5,90 đến 6,30 mm (Hình 2.3C)

2.2.3.4 Thành trùng của bọ vòi voi D frumenti

Kết quả nghiên cứu về thành trùng D frumenti cũng được một số tác giả

ngoài nước công bố Trong đó, Brun and Chazeau (1986) có báo cáo thành trùng

loài này có kích thước 6 mm Hill (1983) công bố thành trùng D frumenti dài

6-8 mm, màu đen sáng, cánh trước có bốn đốm lớn màu vàng nâu hoặc nâu đen

Tại ĐBSCL, quan sát bọ vòi voi D frumenti tại các vườn dừa cũng cho thấy

thành trùng có 4 đốm màu vàng trên hai cặp cánh cứng (Hình 2.3D) Khi mới

vũ hóa, trưởng thành màu vàng nâu sáng, sau có màu nâu sậm, thành trùng cái lớn hơn thành trùng đực, chiều dài cơ thể kể cả phần vòi là 6,20-7,00 mm (thành trùng cái) và 5,50-6,00 mm (thành trùng đực) (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2015)

Ngoài ra, Hill (1983) cũng xác định thành trùng đực và cái của D frumenti có

một số đặc điểm hình thái hơi khác nhau, thành trùng cái có kích thước lớn hơn thành trùng đực Bên cạnh đó, thành trùng đực có phần bụng thuông tròn, vòi ở trước đầu ngắn nhưng rộng hơn so với thành trùng cái (Hình 2.4)

Hình 2.4: Sự khác nhau của thành trùng đực và thành trùng cái của D

frumenti (Nguồn: Hill, 1983)

Singh and Barrikkad (2017) đã công bố kết quả nghiên cứu bọ vòi voi D

frumenti thuộc bốn vùng sinh thái khác nhau tại Ấn Độ Kết quả cho biết thành

trùng loài này có sự khác nhau ở màu sắc của đầu và được xác định là do sự ảnh hưởng của điều kiện môi trường và thành phần thức ăn

Về tập tính sinh sống của thành trùng bọ vòi voi D Frumenti, một số kết

quả nghiên cứu đã ghi nhận thành trùng loài này bị hấp dẫn bởi nhựa cây họ Cau dừa do bị tổn thương (Kalshoven, 1981) Kết quả nghiên cứu của Liao and Chen (1997) cũng cho biết con trưởng thành có thời gian sống sau khi vũ hóa là

Trang 39

15-22 ngày Bên cạnh đó, tại ĐBSCL, Nguyễn Thị Thu Cúc (2015) có ghi nhận

thành trùng của D frumenti sống ở nơi tiếp xúc giữa hai trái hoặc gần cuống

trái và hoạt động mạnh vào lúc chiều tối Đồng thời, thành trùng cũng sợ ánh sáng, sống ẩn nấp nên khó phát hiện

2.2.3.5 Chu kỳ sinh trưởng của bọ vòi voi D frumenti

Chu kỳ sinh trưởng của D frumenti chưa được công bố nhiều cả trong và

ngoài nước Theo đó Hill (1983) có báo cáo loài này sinh trưởng trong khoảng 10-12 tuần với thời gian phát triển của trứng là 4-9 ngày, ấu trùng 8-10 tuần và nhộng 9-10 ngày Gần đây hơn, Liao and Chen (1997) cũng công bố vòng đời của loài này khoảng hai tháng với giai đoạn trứng, ấu trùng, nhộng và thành

trùng lần lượt là 6-10 ngày, 35-40 ngày, 10-16 ngày Tại Việt Nam, kết quả

nghiên cứu về thời gian các pha phát triển của loài này chưa được công bố cụ thể trong những nghiên cứu chính thức

2.2.3.6 Một số kết quả nghiên cứu về sự phát triển của ấu trùng trong sự ảnh hưởng của điều kiện sống

Sự phát triển của côn trùng, trong đó có giai đoạn ấu trùng chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện sống Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2010) thì thời gian phát triển của côn trùng tùy thuộc từng loài và chịu sự chi phối của các điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, ẩm độ, mưa, gió, ánh sáng, thức ăn

a) Ảnh hưởng của điều kiện sống đến thời gian phát triển của côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera)

Trong việc xác định ảnh hưởng của điều kiện nuôi đến thời gian phát triển của côn trùng, nghiên cứu của McAvoy and Kok (1999) trên thành trùng

Hylobius transversovittatus ở nhiệt độ 12,5±1°C, 15±1°C, 20±1°C, 25±1°C, và

30±1°C cho thấy sự khác biệt lớn trong thời gian sống của loài này Theo đó,

H transversovittatus có thời gian từ vũ hóa đến đẻ trứng dao động từ 8,40 ngày

ở 25°C đến 77,9 ngày ở 12,5°C Trong một kết quả nghiên cứu của Stenseth

(1979) về sự phát triển của loài Otiorrhynchus sulcatus cho thấy thời gian phát

sự ảnh hưởng đến thời gian tiền nhộng, số lượng trứng đẻ bởi thành trùng vũ hóa từ ấu trùng được cho ăn chế độ ăn khác nhau

Trang 40

Bảng 2.1: Ảnh hưởng của chế độ ăn khác nhau đối với thời gian phát triển ấu trùng của loài R ferrugineus trong điều kiện phòng thí

Ngày đăng: 03/04/2021, 08:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ahmed, Z. and A. A. Legalov, 2015. New records and preliminary list of Curculionoidea (Coleoptera) in Pakistan. Euroasian entomological journal, 14 (1): 42-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Euroasian entomological journal
2. Barbosa, N. C. C., S. D. Freitas and A.C. Morales, 2014. Distinct genetic structure in populations of Chrysoperla externa (Hagen) (Neuroptera, Chrysopidae) shown by genetic markers ISSR and COI gene. Revista Brasileira de Entomologia, 58 (2): 203-211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chrysoperla externa" (Hagen) (Neuroptera, Chrysopidae) shown by genetic markers ISSR and COI gene. "Revista Brasileira de Entomologia
3. Beckett, S. J. and D. E. Evans, 1994. The demography of Oryzaephilus surinamensis (L.) (Coleoptera: Silvanidae) on kibbled wheat. Journal of Stored Products Research, 30: 121-137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oryzaephilus surinamensis "(L.) (Coleoptera: Silvanidae) on kibbled wheat. "Journal of Stored Products Research
4. Behura, S. K., 2006. Molecular marker systems in insects: current trends and future avenues. Molecular Ecology, 15: 3087-3113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Molecular Ecology
9. Chakravarthy, A. K., 2003. Status of four spotted coconut weevil Diocalandra frumenti (F.) (Curculionidae: Coleoptera) in Karnataka, South India. Insect Environment, 9 (4): 187-188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diocalandra frumenti" (F.) (Curculionidae: Coleoptera) in Karnataka, South India. "Insect Environment
10. Charlesworth, B., P. Sniegowaski and W. Stephan, 1994. The evolutionary dynamics of repetitive DNA in Eukaryotes. Nature, 371: 215-220 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nature
12. Chong, Y. V., T. H. Chua and B. K. Song, 2014. Genetic variations of Chrysomya megacephala populations in Malaysia (Diptera:Calliphoridae). Advances in Entomology, 2 (1): 49-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chrysomya megacephala" populations in Malaysia (Diptera: Calliphoridae). "Advances in Entomology
13. Clark, T. L., L. J. Meinke and J. E. Foster, 2001. PCR-RFLP of the mitochondrial cytochrome oxidase (subunit I) gene provides diagnostic markers for selected Diabrotica species (Coleoptera: Chrysomelidae).Bulletin of Entomological Research, 91: 479-427 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabrotica" species (Coleoptera: Chrysomelidae). "Bulletin of Entomological Research
16. Dingle, H. and J. B. Haskell, 1967. Phase polymorphism in the grasshopper Melanoplus differentialis, 155: 590-592 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Melanoplus differentialis
17. Dubreuil, P., P. Dufour, E. Krejci and M. Causse, 1996. Organization of RFLP diversity among inbred lines of maize representing the most significant heterotic groups. Crop Science, 36: 790-799 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Crop Science
19. Esperk, T., T. Tammaru, S. Nylin, and T. Teder, 2007. Achieving high sexual size dimorphism in insects: females add instars. Ecological Entomology (2007), 32: 243-256 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ecological Entomology
Tác giả: Esperk, T., T. Tammaru, S. Nylin, and T. Teder, 2007. Achieving high sexual size dimorphism in insects: females add instars. Ecological Entomology
Năm: 2007
20. Fantinou, A. A., J. A. Tsitsipis and M. G. Karandinos, 1996. Effects of short- and long-day photoperiods on growth and development of Sesamia nonagrioides (Lepidoptera: Noctuidae). Environmental Entomology, 25:1337-1343 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sesamia nonagrioides "(Lepidoptera: Noctuidae). "Environmental Entomology
21. Fouly, H. M., H. T. Wilkinson and L. L. Domier, 1996. Use of random amplified polymorphic DNA (RAPD) for identification of Gaeumannomyces species. Soil Biology and Biochemistry, 28 (6): 703-710 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gaeumannomyces "species. "Soil Biology and Biochemistry
22. Frascaroli, E., T. A. Schrag and A. E. Melchinger, 2013. Genetic diversity analysis of elite European maize (Zea mays L.) inbred lines using AFLP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Zea mays
23. Gadelhak, G. G. and M. R. Enan, 2005. Genetic Diversity Among Populations of Red Palm Weevil, Rhynchophorus ferrugineusOlivier (Coleoptera: Curculionidae), Determined by Random Amplified Polymorphic DNAPolymerase Chain Reaction (RAPD-PCR).International Journal of Agriculture and Biology, 7 (3): 395-399 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rhynchophorus ferrugineusOlivier" (Coleoptera: Curculionidae), Determined by Random Amplified Polymorphic DNAPolymerase Chain Reaction (RAPD-PCR). "International Journal of Agriculture and Biology
24. Giblin-Davis, R. M., 2011. Borers of Palms. In: Howard, F.W., D. Moore, R.M. Giblin-Davis and R.G. Abad (Editors). Insects on palms. CABI Publishing, 400: 267-304 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CABI Publishing
25. González, M., A. Jiménez, F. Salomones, A. Carnero, P.D. Estal and J.R.E. Durán, 2002. Diocalandra frumenti (Fabricius) (Coleoptera:Curculionidae), nueva plaga de palmeras introducida en Gran Canaria.Primeros estudios de su biología y cría en laboratorio. Boletín de Sanidad Vegetal Plagas, 28 (3): 347-355 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diocalandra frumenti" (Fabricius) (Coleoptera: Curculionidae), nueva plaga de palmeras introducida en Gran Canaria. Primeros estudios de su biología y cría en laboratorio. "Boletín de Sanidad Vegetal Plagas
26. Guasmi, F., W. Elfalleh, H. Hannachi and K. Fères, 2012. The use of ISSR and RAPD markers for genetic diversity among South Tunisian barley.International Scholarly Research Network Agronomy: 1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Scholarly Research Network Agronomy
8. Cao Quốc Hưng, 2015. Thực trạng, thành tựu và định hướng nghiên cứu phát triển bền vững ngành dừa Việt Nam. Hiệp hội dừa tỉnh Bến Trehttp://hiephoiduabentre.com.vn/index.php?Module=Content&Action=view&id=5903, truy cập ngày 30/7/2016 Link
101. Thanh Sơn, 2012. Căng thẳng dịch bệnh cây trồng. Nông nghiệp Việt Nam https://nongnghiep.vn/cang-thang-dich-benh-cay-trong-post97912.html(truy cập ngày 27/2/2013) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w