Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Để góp phần đổi mới phương pháp dạy Tập làm văn ở lớp 4 theo hướngtích cực chủ động và sáng tạo của học sinh trên cơ sở đặc điểm tâm sinh lý củahọc sinh,
Trang 1TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH XUÂN TRUNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP RÈN KĨ NĂNG TẬP LÀM VĂN
MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4
Lĩnh vực : Tiếng Việt
Cấp học : Tiểu học
Tên Tác giả : Nguyễn Thị Huyền
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thanh Xuân Trung
Chức vụ : Giáo viên cơ bản
NĂM HỌC 2019 -2020
Trang 2và nâng cao dần Bên cạnh đó, việc rèn luyện tâm hồn, cảm xúc và việc tăng vốnsống, vốn hiểu biết của các em cũng là yêu cầu cần quan tâm Phân môn Tậplàm văn góp phần cùng các môn học khác rèn luyện tư duy phát triển ngôn ngữ
và hình thành nhân cách cho học sinh Với kiểu bài kể chuyện góp phần rènluyện tư duy hình tượng, từ óc quan sát tới trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiệncác chi tiết đã quan sát được tới khả năng nhào nặn các vật liệu có thực trong đờisống để xây dựng nên nhân vật, xây dựng cốt truyện giúp cho HS phát triểnvốn từ thì kiểu bài miêu tả lại đem đến cho các em các kĩ năng quan sát, vậndụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá, hoán dụ làm cho các emthêm yêu mến gắn bó với thiên nhiên với những người và việc chung quanh nảy
nở Các em thấy vẻ đẹp của một buổi bình minh, một cây phượng ra hoa, mộtcon mèo tam thể, thấy dáng vẻ đáng yêu của một em bé tập đi, của một cụ giàthương con quý cháu Từ đây tâm hồn và nhân cách của các em được hìnhthành và phát triển
2 Cơ sở thực tiễn
Tầm quan trọng của phân môn Tập làm văn nói chung, dạng bài văn miêu
tả của lớp 4 nói riêng là như vậy Nhưng trên thực tế, qua những năm giảng dạynhiều năm ở lớp 4, tôi nhận thấy học sinh thường không có hứng thú với phânmôn Tập làm văn đặc biệt rất sợ làm văn thể loại miêu tả Bài văn của các emthường rất sơ sài bố cục không chặt chẽ, diễn đạt lủng củng, tả hay liệt kê.Nguyên nhân chủ yếu là do các em chưa có kĩ năng quan sát, vốn hiểu biết thực
tế còn nghèo nàn Các em chưa biết diễn đạt câu văn có hình ảnh, có cảm xúc điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả học tập Vậy làm thế nào để gây hứngthú cho học sinh trong tiết Tập làm văn, tôi luôn chú ý tới đổi mới phương phápdạy học, sử dụng linh hoạt các phương pháp sao cho phù hợp từng bài dạy, từng
Trang 3hoạt động Chính vì lẽ đó tôi chọn nghiên cứu đề tài “Một số phương pháp rèn
kĩ năng tập làm văn miêu tả cho HS lớp 4”.
II Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Để góp phần đổi mới phương pháp dạy Tập làm văn ở lớp 4 theo hướngtích cực chủ động và sáng tạo của học sinh trên cơ sở đặc điểm tâm sinh lý củahọc sinh, người giáo viên phải biết lựa chọn các phương pháp, hình thức dạy saocho phù hợp, vận dụng sáng tạo trong từng tiết dạy, từng bài học, gây hứng thúcho HS trong giờ tập làm văn tiến tới nhiều em thích môn văn, học giỏi văn
Trong các phương pháp dạy học môn Tập làm văn thì rèn kĩ năng viết và
nói giúp các em phát triển ngôn ngữ, giáo dục lòng yêu thiên nhiên thì kĩ năng quan sát trong văn miêu tả rất quan trọng, tiếp sau đó là kĩ năng phân tích đề
bài, kĩ năng tìm ý và lựa chọn ý, kĩ năng xây dựng dàn ý Để viết được đoạnvăn, bài văn miêu tả hay tôi nhận thấy HS còn phải rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu,viết đoạn văn, liên kết đoạn thành bài Sau khi viết xong HS biết tự kiểm tra kếtquả đó là kĩ năng phát hiện lỗi (lỗi dùng từ, lỗi chính tả, đặt câu đến lỗi viết văn,
từ lỗi thuộc về kĩ năng đến lỗi thuộc về nội dung, tình cảm được thể hiệntrong bài và sửa chữa lỗi)
Người giáo viên muốn dạy tốt phân môn Tập làm văn không những cần
quan tâm rèn luyện các kĩ năng làm bài mà còn cần quan tâm đến việc bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, mở rộng và nâng cao vốn hiểu biết, vốn sống cho các em Chỉ có như vậy các kĩ năng mới có nội dung phong phú, đạt hiệu quả.
Thông qua việc rèn kĩ năng trên chính là hướng đổi mới nhằm làm cho các giờdạy Tập làm văn trở nên hấp dẫn đối với học sinh
III Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 4A1 Trường Tiểu học Thanh Xuân Trung
IV Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài tôi đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau:
1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề lí luận, những kiến thức về Tập làmvăn Nghiên cứu SGK Tiếng Việt chương trình tiểu học, các sách báo tài liệu bồidưỡng giáo viên lớp 4 Các phương pháp giảng dạy Tiếng Việt
2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra, quan sát
- Tổng hợp các bài miêu tả của HS trong những năm học trước
- Tìm ra những lỗi cơ bản HS hay mắc lỗi (bố cục bài văn, cấu tạo đoạnvăn, liên kết câu đoạn, cách sử dụng từ ngữ, cách biểu đạt, )
Trang 4- Tìm hiểu nguyên nhân học sinh hay mắc các lỗi trên (nguyên nhân dongười dạy, hay người học, do vốn sống, vốn hiểu biết hay do khả năng diễnđạt, )
- Tìm ra phương pháp dạy học phù hợp để giải quyết những khó khăn tạohiệu quả cho việc rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho HS
- Dạy học theo phương pháp đã lựa chọn kết hợp rút kinh nghiệm và cóđiều chỉnh sao cho phù hợp đối tượng
3 Phương pháp bổ trợ:
- Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn, lấy ý kiến HS, đồng nghiệp
Trang 5PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Tầm quan trọng của phân môn tập làm văn nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.
+ Phân môn Tập làm văn sử dụng toàn bộ các kĩ năng được hình thành vàphát triển do nhiều phân môn khác của Tiếng Việt đảm nhiệm và còn sử dụngnhiều kiến thức, kĩ năng do các môn học khác cung cấp
+ Phân môn Tập làm văn huy động toàn bộ vốn sống, vốn hiểu biết của
HS có liên quan đến đề bài
+ Thông qua một đoạn văn, một bài văn, người giáo viên có thể nắm bắtđược trình độ nhận thức, vốn sống và kĩ năng sử dụng Tiếng Việt của HS để kịpthời bồi dưỡng cho các em
+ Thông qua mỗi bài văn, đoạn văn, học sinh được chủ động bộc lộ cái
“tôi” của bản thân một cách rõ ràng, bộc bạch cái riêng của mình một cách trọnvẹn Dạy Tập làm văn là dạy cho các em tập suy nghĩ riêng, tập sáng tạo, tập thểhiện trung thực con người mình Tóm lại Tập làm văn là một phân môn quantrọng trong quá trình dạy học cũng như phát triển nhân cách cho HS Tiểu học
II Nội dung và phân bổ chương trình thể loại văn miêu tả ở lớp 4.
So với các thể loại văn khác ở lớp 4 như văn kể chuyện, viết thư , vănmiêu tả chiếm một phần lớn thời gian ( 56% lượng thời gian) bao gồm các kiểubài:
III Những khó khăn của người giáo viên trong quá trình dạy phân môn Tập làm văn và thể loại văn miêu tả.
1 Khó khăn từ bản thân người dạy.
Văn học với tư cách là một môn nghệ thuật đòi hỏi người dạy và ngườihọc phải có năng khiếu Năng khiếu của người dạy thể hiện ở khả năng cảm thụvăn học; khả năng truyền đạt tới người nghe các giá trị của văn học; khả nănghướng dẫn người học sản sinh văn bản, có kĩ năng liên kết nội dung ( liên kếtcâu, đoạn ); biết bộc lộ cảm xúc Tuy nhiên mỗi giáo viên lại có những sở
Trang 6trường riêng với từng môn học khác nhau nên gặp tương đối nhiều khó khăntrong quá trình dạy học Tập làm văn nói chung và văn miêu tả nói riêng.
2 Khó khăn từ phía người học.
Qua thực tế nhiều năm dạy học, tôi nhận thấy học sinh ít có hứng thú vớiphân môn Tập làm văn và coi đây là một môn học khó Nguyên nhân chủ yếu docác em còn thiếu vốn từ, khả năng diễn đạt kém, chưa biết cách làm bài kết hợpnhững vấn đề về tư tưởng của các em đã làm hạn chế khả năng học tốt phânmôn, gây khó khăn cho giáo viên trong quá trình giảng dạy
IV.Những biện pháp đã tiến hành
1 Rèn kĩ năng quan sát cho học sinh
Đối với kiểu bài miêu tả, quan sát là cơ sở để tìm ý, thông qua việc quansát, học sinh được cụ thể hoá đối tượng miêu tả, được cảm nhận bằng các giácquan Điều đó giúp các em dễ dàng hơn, có chủ định hơn trong việc miêu tả.Nhiệm vụ của người giáo viên là giúp các em quan sát như thế nào để có hiệu quả
1.1 Lựa chọn đối tượng quan sát
Tuỳ theo từng kiểu bài quan sát, giáo viên định hướng cho HS lựa chọnđối tượng quan sát phù hợp với sở thích của bản thân các em Với kiểu bài tả đồvật, tôi hướng dẫn các con chọn đồ vật mình yêu thích.(VD đề bài: Tả đồ chơi
mà em yêu thích) Khi đã xác định đối tượng quan sát theo sở thích, HS sẽ thấy
tự tin hơn, khẳng định cái tôi của HS càng phong phú thì bài văn các em tạo racàng đa dạng, thoát khỏi sự gò bó, khuôn mẫu, không gây sự nhàm chán chongười nghe, người đọc và phản ánh được những tư tưởng, cá tính riêng biệt,cũng như khả năng sáng tạo của từng học sinh Lớp có 55 học sinh thì có tới 55bài văn tả khác nhau
1.2 Lựa chọn thời điểm quan sát kịp thời
Thông thường, trong quá trình dạy học, GV thường cho HS quan sát cácđối tượng miêu tả theo chương trình Nhưng tôi mạnh dạn thường cho các con
về nhà tự quan sát trước vật mình định tả VD: Kiểu bài tả đồ vật, HS quan sáttrước ở nhà đồ vật mình sẽ tả ở lớp, ghi ra nháp những đặc điểm chính, đặc điểmnổi bật để đến lớp sắp xếp lại thành câu văn, đoạn văn hoàn chỉnh Về nhà cóthời gian các con quan sát kĩ hơn, hoặc trong lúc sử dụng đồ vật đó học sinh tựlưu giữ hình ảnh, màu sắc, tác dụng của đồ vật mình tả, giáo viên chỉ địnhhướng HS nên quan sát như thế nào? sao cho khi tả bài văn của HS thật phongphú
Với kiểu bài miêu tả cây cối, con vật cũng vậy, tôi hướng dẫn HS quan sáttừng thời kì sinh trưởng của cây, của con vật mình định tả Ví dụ: Tả cây bàng,
HS quan sát cây bàng theo từng mùa Mùa đông, đặc điểm của cây, đặc điểm
Trang 7của từng bộ phận: gốc, thân, cành, lá phát hiện những tác động của không gianxung quanh tới cây cối Tiếp sau đến mùa xuân các con lại tiếp tục quan sát, lúcnày các con sẽ cảm nhận được vẻ đẹp của từng búp chồi non, sự trưởng thànhcủa những chiếc lá, vẻ đẹp rực rỡ của cả vòm trời xanh ngắt màu của lá Từ đócác con có sự so sánh, liên tưởng đến vẻ đẹp lạ lùng đầy bí ẩn của những chiếc
lá bàng đỏ, tới những chồi non, sự sống mãnh liệt của cây, rồi đến mùa hè, mùihăng hắc man mát của hoa, vẻ đẹp của cây thay đổi theo từng mùa Với cách họcnày, HS cảm thấy không bị gò bó, tạo cho các em thói quen quan sát tự nhiên,cảm nhận được những vẻ đẹp quanh mình cũng chính là giáo dục các em tìnhyêu quê hương, đất nước Qua đó, HS có vốn sống về thực tế, có cảm xúc thật sựvới các đối tượng miêu tả tạo ra những tiết học sinh động và hiệu quả
1.3 Định hướng cho HS quan sát các đối tượng miêu tả.
Đối với học sinh lớp 4, việc đọc một số bài văn mẫu rồi rút ra trình tựquan sát để làm một số bài văn quả là khó khăn với HS Mặt khác do vốn từ củacác em còn hạn chế, khả năng phân tích, tổng hợp còn yếu nên những ghi chépsau quan sát còn vụn vặt, liệt kê theo dạng trả lời câu hỏi
Hướng dẫn HS quan sát tìm ra màu sắc, âm thanh, hình ảnh tiêu biểu vàcảm xúc của người đối với sự vật
* Quan sát bằng nhiều giác quan:
- Quan sát bằng mắt: Nhận ra màu sắc, hình khối, sự vật
- Quan sát bằng tai: Âm thanh nhịp điệu gợi cảm xúc
- Quan sát bằng mũi: Những mùi vị tác động đến tình cảm
- Quan sát bằng vị giác và xúc giác: Quan sát cảm nhận
-> Nhờ cách quan sát này mà các em ghi nhận được nhiều ý giúp cho bàivăn đa dạng, phong phú
* Quan sát tỉ mỉ nhiều lượt: Muốn tìm ý cho bài văn học sinh phải quansát kĩ, quan sát nhiều lần Học sinh cần xác định rõ trình tự quan sát và biết chọnlựa các trình tự quan sát khác nhau
a Trình tự không gian: Quan sát từ trên xuống dưới hoặc từ dưới lên trên.
Từ trái sang phải hay từ ngoài vào trong
Để xây dựng được kiến thức miêu tả cây cối theo trình tự không gian, tôilựa chọn văn bản sau:
Cây mai tứ quý
Cây mai cao trên hai mét, dáng thanh, thân thẳng như thân trúc Tán tròn
tự nhiên xòe rộng ở phần gốc, thu dần thành một điểm ở trên ngọn Gốc lớnbằng bắp tay, cành vươn đều, nhánh nào cũng rắn chắc
Trang 8Mai tứ quý nở bốn mùa Cánh hoa vàng thẫm, xếp thành ba lớp Nămcánh dài đỏ tía như ức gà chọi, đỏ suốt từ đời hoa sang đời kết trái Trái kết màuchín đậm, óng ánh như những hạt cườm đính trên tầng áo lá lúc nào cũng xumxuê một màu xanh chắc bền.
Đứng bên cây ngắm hoa, xem lá, ta thầm cảm phục cái mầu nhiệm của tạovật trong sự hào phóng và lo xa: đã có mai vàng rực rỡ góp với muôn hoa ngàyTết, lại có mai tứ quý cần mẫn, thịnh vượng quanh năm
Theo Nguyễn Vũ Tiềm
Hướng dẫn học sinh xác định
+ Đối tượng miêu tả : Cây hoa mai
+ Nội dung chính của từng đoạn:
Đoạn 1: Miêu tả hình dáng, tầm vóc của cây mai và các bộ phận chính: tán, gốc,cành nhánh
Đoạn 2: Miêu tả cấu tạo, vẻ đẹp của hoa, trái
Đoạn 3: Miêu tả giá trị của cây mai tứ quý và tình cảm của con người đối vớicây
Xác định trình tự miêu tả: Từ bao quát đến chi tiết
Chốt kiến thức: Miêu tả cây cối theo trình tự từ hình dáng tầm vóc chung
của cây đến tả từng bộ phận của cây gọi là trình tự không gian ( Bao quát đến chi tiết).
Phân biệt sự khác nhau và giống nhau giữa hai trình tự miêu tả
* Giống: Cùng có mục đích làm nổi bật các đặc điểm của đối tượng miêu tả
* Khác nhau ở thời điểm miêu tả - Trình tự không gian Các bộ phận đượcmiêu tả trong cùng một thời điểm
b Trình tự thời gian: Quan sát từ sáng đến tối, từ lúc bắt đầu đến khi kết
thúc Có sự thay đổi về đặc điểm theo gian
Hướng dẫn HS xác định trọng tâm quan sát các đối tượng theo yêu cầucủa chương trình bao gồm các loại : Cây có bóng mát, cây ăn quả, cây hoa, vườnrau- những đối tượng gần gũi với học sinh
Ở phần này tôi hướng dẫn các em xác định trọng tâm miêu tả dựa trênbảng tổng hợp sau:
Trang 9TƯỢNG
MIÊU TẢ
THỜI ĐIỂM MIÊU TẢ TRỌNG TÂM CẦN QUAN SÁT KĨ
Cây có
bóng
mát
Từng thời kìphát triển củacây, đặc biệtlưu ý các đặcđiểm của câytrong mùa hè
- Đặc điểm của cây, lá theo từng mùa đặc biệttrong mùa hè
- Tán lá, lá ( Đặc điểm về tầm vóc; hình dáng,kích thước, màu sắc, sự tác động của ánh nắng,gió; liên tưởng đến những sự vật, hình ảnhnào?)
- Tác dụng của tán lá, bóng mát của cây trongmùa hè; cảm xúc, kỉ niệm của người tả với cây
Cây hoa
Từng thời kìphát triển củahoa
- Quan sát sự trưởng thành của bông hoa từ khimới hình thành ( nụ) sắp nở nở xòe ; lưu ýcác đặc điểm nổi bật về sự thay đổi, cấu tạo,màu sắc của các bộ phận; của cả bông hoa liên tưởng, so sánh với những sự vật có néttương đồng để gợi tả rõ nét hơn vẻ đẹp của hoa;đặc biệt chú trọng cảm nhận mùi hương đặcbiệt của hoa
- Tác dụng của hoa đối con người và cảnh quanxung quanh
Cây ăn quả Thời kì cây ra
- Đặc biệt lưu ý tới cấu tạo bên trong, màu sắc
và hương vị của quả; tìm từ gợi tả thích hợp thểhiện rõ sự hấp dẫn của quả, ấn tượng mà quả đểlại cho người
Vườn rau
Từng thời kìphát triển củarau
- Sự phát triển của các cây rau theo thời gian
về độ cao, dầy, sự phát triển của từng cây rau;
độ tươi non; giá trị của vườn rau
c)Tìm hiểu kiểu miêu tả lồng ghép trình tự không gian và thời gian.
Trang 10Lựa chọn văn bản khai thác kiến thức:
Cây sồi
Bên vệ đường sừng sững một cây sồi Đó là một cây sồi lớn, hai người ôm không xuể, có những cành có lẽ đã gãy từ lâu, vỏ cây nứt nẻ đầy vết sẹo Với những cánh tay to xù xì không cân đối, với những ngón tay quều quào xòe rộng,
nó như một con quái vật già nua, cau có và khinh khỉnh giữa đám bạch dương tươi cười.
Bấy giờ đã là đầu tháng sáu Mới sau có một tháng, cây sồi già đã thay đổi hẳn, tỏa rộng thành vòm lá xum xuê xanh tốt thẫm màu, đang say sưa ngây ngất: khẽ đung đưa trong nắng chiều Không còn nhìn thấy những ngón tay co quắp, những vết sẹo và vẻ ngờ vực, buồn rầu trước kia Xuyên qua lớp vỏ cøng già hàng thế kỉ, những khóm lá non xanh tươi đã đâm thẳng ra ngoài Thật khó lòng tin được chính cây sồi già cằn cỗi kia đã sinh ra những chùm lá non xanh mơn mởn ấy.
+ Đối tượng miêu tả: Cây sồi già
+ Nội dung đoạn:
Đoạn 1: Miêu tả cây sồi theo trình tự từ bao quát đến chi tiết.
Đoạn 2: Miêu tả sự đổi thay kì diệu của cây sồi khi mùa hè đến.
Tác dụng của việc miêu tả lồng ghép trình tự không gian và thời gian:Làm cho cây sồi được miêu tả rõ nét hơn, sinh động hơn Sự tương phản giữathân hình xù xì, xấu xí của gốc, thân cành cây và sự biến đổi kì diệu của lá tạonên sự hấp dẫn, nét đẹp riêng biệt của đối tượng được miêu tả
Chốt kiến thức : Trong bài văn miêu tả nhiều khi cần lồng ghép trình
tự miêu tả không gian và thời gian để làm nổi bật những đặc điểm của các đối tượng được miêu tả
* Xác định trọng tâm
Giáo viên phải hướng dẫn HS tìm được những nét tiêu biểu của sự vật Không cần dàn đủ chi tiết về sự vật, chỉ cần ghi chép lại những đặc điểm mà mình cảm nhận sâu sắc nhất Từ đó tạo ra hứng thú, cảm xúc giúp học sinh dễ dàng tìm ý, chọn ý để có thể miêu tả sinh động, hấp dẫn.
Trang 11Hoạt động 1 - Tập hợp học sinh quanh một cây cụ thể Yêu cầu học sinh
nhắc lại trình tự quan sát (đã cung cấp trong các tiết hình thành kiến thức theochương trình) và khái niệm miêu tả theo trình tự bao quát đến chi tiết (khônggian); thời gian
Hoạt động 2- Hướng dẫn học sinh quan sát:
- Theo góc độ từ xa: Hình dáng, tầm vóc của cả cây, của vòm lá, vòm hoa
- Theo góc độ gần : Lưu ý HS trọng tâm cần quan sát kĩ ở đối tượng miêu tả
là gì? Với cây có bóng mát cần quan sát hình dạng, màu sắc, đặc điểm nổi bậtcủa các bộ phận: gốc cây, thân cây, cành cây, tán lá, cấu tạo của từng chiếc lá;
so sánh màu sắc khác nhau của lá non, lá già, quan sát vòm cây lá theo góc độ từ
dưới gốc nhìn lên; cảm nhận điều gì khi đứng dưới tán lá xanh um của cây? Liên
tưởng tới cây, lá vào mùa khác; quan sát sự tác động của ánh nắng tới màu sắccủa lá, tán lá; quan sát phía dưới nền đất để cảm nhận được những đặc điểm màtán lá và ánh nắng phối hợp tạo ra cho khoảng sân Sự tương phản của gốc, thâncành, lá, tán lá với màu sắc rực rỡ của hoa Với những loài cây có hoa ví dụ nhưhoa phượng, bằng lăng , tôi thường định hướng cho các em quan sát, so sánh
nụ hoa, bông hoa mới nở và những bông hoa đã nở; so sánh vẻ đẹp của từngbông đơn lẻ với cả một chùm, cả một góc trời rợp màu phượng đỏ; hướng dẫncác em vận dụng các giác quan để cảm nhận được sự mịn màng, ánh màu củalớp nhung bao phủ trên những cánh hoa, hình dáng của cánh, của các tua nhụy,hương thơm Từ đó giúp các em vận dụng được sự liên tưởng, so sánh, nhânhóa để diễn đạt các ý quan sát đồng thời giáo viên có thể điều chỉnh, hình thành
kĩ năng quan sát cho học sinh Thông qua việc hướng dẫn tỉ mỉ khi quan sát đểrèn kĩ năng nói, cung cấp vốn từ ngữ, điều chỉnh khả năng diễn đạt của học sinh
Hoạt động 3- Tổng hợp các kết quả quan sát.
* Báo cáo kết quả.
Sau khi HS được hướng dẫn, tự quan sát và ghi lại những đặc điểm quan sátđược theo cảm nhận riêng của bản thân, tôi tiến hành cho các em báo cáo kếtquả quan sát ngay tại sân trường, nơi có đối tượng miêu tả; tổ chức cho nhiềuhọc sinh được nêu ý kiến, lắng nghe, góp ý cho bạn kết hợp cung cấp thêm vốn
từ cho các em và đồng thời phát hiện những điểm học sinh còn yếu để hướngdẫn học sinh quan sát lại hoặc gợi ý cách diễn đạt hợp lý Thông qua việc báocáo kết quả, GV kịp thời điều chỉnh khi HS quan sát không đúng trình tự hoặcgiải đáp những thắc mắc của học sinh về cấu tạo của cây ( VD: Trên cây cónhững cục lồi to ra và những chỗ lõm sâu vào gọi là gì khi miêu tả ? (hốc,bướu) Trên cây đa có những sợi tua mọc thả từ trên cành buông thõng xuốngmặt đất gọi là gì ( rễ phụ của cây) vv Cùng một h×nh tượng nhưng với các cảm
Trang 12nhận khác nhau, mỗi học sinh lại có kết quả khác nhau - Đó chính là những yếu
tố tạo nên nét phong phú, đa dạng thể hiện tính cách và vốn hiểu biết của các cánhân
VD Cùng quan sát gốc bàng, học sinh có được những cảm nhận riêng biệtnhư:
+ Gốc bàng to bằng hai vòng tay ôm của người lớn.
+ Gốc bàng to, xù xì với những hốc bướu cổ quái nom thật kì lạ.
+ Gốc bàng thô ráp với lớp vỏ cây sần sùi, xám xịt.
+ Gốc bàng to bằng cái cột đình làm trụ chống đỡ cho cả cái thân cây đồ sộ bên trên vv.
* Củng cố lại các bước quan sát
Từ thực tế quan sát và thông qua hoạt động báo cáo kết quả quan sát,tranh luận, bổ sung ý kiến, các em sẽ tự hình thành kĩ năng quan sát hợp lí chothể loại bài miêu tả cây cối theo trình tự không gian, thời gian GV chốt lạikiến thức :
- Miêu tả cây cối theo từng thời kì phát triển của cây là trình tự thời gian
- Miêu tả cây cối theo trình tự từ hình dáng tầm vóc chung của cây đến tảtừng bộ phận của cây gọi là trình tự không gian ( bao quát đến chi tiết)
b) Phối hợp quan sát thực tiễn với quan sát tranh ảnh minh họa
Nếu như việc quan sát cây cối ngoài trời đem lại cho các em cái nhìn cụ
thể, chân thực nhất cũng như khơi gợi ở các em nguồn cảm hứng, sự say mêkhám phá tự nhiên, xây dựng tình yêu đối với thiên nhiên thì hệ thống tranh ảnhlại hỗ trợ rất nhiều cho việc quan sát những đối tượng mà các em không có điềukiện quan sát ngoài thực tế Việc quan sát tranh ảnh phối hợp với những ghichép được từ thực tế sẽ làm cho đoạn văn, bài văn của các em sinh động, rõ néthơn.Trong quá trình dạy học, tôi chú trọng lựa chọn những tranh ảnh có màu sắc
rõ nét, thể hiện được độ tương phản, có tính nghệ thuật, phản ánh những đốitượng mà các em không có điều kiện quan sát ở thực tế và tận dụng tối đa bộ đồdùng dạy học phần văn miêu tả Tuy nhiên để tạo được hiệu quả trong quan sát,giáo viên cần hướng dẫn cụ thể bằng hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp HS xácđịnh cần quan sát cái gì, quan sát như thế nào và quan trọng hơn nữa là diễn đạtcác ý quan sát được ra sao?
VD: Quan sát tranh để miêu tả hoa gạo.
Hướng dẫn các em quan sát ảnh chụp toàn cây ghi chép các ý theo trình tự:
- Toàn cảnh cây gạo ( Hình dáng, tầm vóc , có thể so sánh với những cây
xung quanh.
Trang 13- Vẻ đẹp của hoa ( ảnh nhỏ) hình dáng , kích cỡ của hoa, số cánh, dáng
mọc, cảm nhận độ dày, độ bóng, màu sắc của từng cánh hoa, đặc điểm của nhụy hoa
- Quả gạo khi còn non đến khi đã già ( hình dáng, màu sắc )
Sau đó cung cấp thêm cho các em đặc điểm của gốc, cành, thân, lá, hươngthơm của hoa gạo, giảng thêm về sự gắn bó của cây gạo với mỗi làng quê ViệtNam để giúp các em hình dung rõ nét hơn về những đối tượng miêu tả.Qua việcgợi ý, giới thiệu giáo viên sẽ khơi gợi ở các em trí tò mò, hình thành thói quenthích khám phá tự nhiên Cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên bằng cảm quan củachính bản thân Bên cạnh đó để HS có nhiều sự lựa chọn, giáo viên sưu tầmthêm nhiều loại tranh ảnh về các loại cây khác và các thông tin liên quan đếnđặc tính của một số loài cây để cung cấp thêm cho học sinh Những bức ảnhchụp với màu sắc tươi sáng, thể hiện rõ điểm nhấn và phối hợp độ sáng tối hàihòa sẽ làm khơi gợi ở các em nguồn cảm hứng sáng tạo
VD: Về một số đối tượng miêu tả giới thiệu qua tranh ảnh:
Cách quan sát.
+ Tổng thể bức tranh: Điểm nổi bật về màu sắc, độ rực rỡ của những bông hoa;nền lá
+ Chi tiết từng bộ phận:
- Hình dáng, màu sắc, sự cảm nhận về đặc điểm của lá, cách mọc
- Hình dáng, đặc điểm của nụ non, nụ sắp nở và vẻ đẹp của những bônghoa đã nở
Xác định trình tự quan sát ghi lại những đặc điểm quan sát được Báo cáo kết quả; GV bổ sung những thông tin cần thiết nếu học sinh chưa biếttường tận về đối tượng miêu tả
2 Rèn kĩ năng lập dàn ý
- Trước khi lập dàn ý học sinh tìm hiểu kĩ đề bài Kĩ năng tìm hiểu đề bài
là một quy trình bao gồm nhiều bước: đọc đề bài, xác định từ ngữ quan trọng,xác định quan hệ giữa các vế câu về mặt ngữ pháp và lô gíc, xác định nội dungcủa đề và trọng tâm, xác định kiểu bài và các điểm giới hạn khác
Trang 14Làm dàn ý cú nhiều cỏch trỡnh bày, nhưng tụi cho cỏc con lập dàn ý qua
“khung” ý nghĩa cú thể được trỡnh bày dưới nhiều hỡnh thức khỏc nhau tuỳ theonội dung bài HS phải tự làm việc, tự quan sỏt, tự ghi chộp những gỡ quan sỏtđược là chớnh Giỏo viờn cú thể gợi ý giỳp cỏc em phỏt hiện ra những nột đặc sắc
Đối tượng là HS khỏ giỏi: tụi để cho cỏc em tự thảo luận suy nghĩ và viết
ra cỏc ý dưới dạng từ hay cụm từ xung quanh khung chủ đề
Vớ dụ: Cả nhúm HS sẽ cựng thảo luận làm “khung” ý nghĩa tả cõy hoahồng nhung
+ Đối với đối tượng là học sinh trung bỡnh – yếu: Tụi sử dụng hệ thốngcõu hỏi để kớch thớch và định hướng cho học sinh phỏt triển ý Ở đõy cần lưu ýcõu hỏi phải cú tớnh chất gợi mở, hướng đến việc khơi gợi sự quan tõm và kinhnghiệm riờng của cỏc em
VD: Học sinh quan sỏt “hoa hồng nhung” giỏo viờn cú thể hỏi:
Em thấy màu sắc hoa hồng như thế nào?
Khi dựng tay sờ vào cành hoa em cảm thấy thế nào?
Quan sỏt quanh mộp là em thấy lỏ hoa hồng cú điểm gỡ đặc biệt?
Lập dàn ý chi tiết:
Tụi hướng dẫn học sinh dựa vào dàn bài chung để đỏnh số thứ tự cho cỏc
ý tỡm được trờn “khung” từ đú sẽ diễn đạt thành dàn ý chi tiết Tụi cũng lưu ý
Longưlanhư
(2)
Hươngưthơmưthoangưthoảngư
(2)Yêuưthích,ưtỉaưlá,ưtướiưnướcư(3)
Trang 15cho học sinh về trình tự chung của thể loại văn đang làm và hướng dẫn có tínhchất mở.
VD: Đối với loại văn miêu tả thì lưu ý học sinh những chi tiết nào có ý
giới thiệu chung thì nói trước, ý nào miêu tả chi tiết cụ thể thì nói sau
Tuy nhiên tôi luôn rèn cho học sinh hiểu trong những ý chung hoặc trongnhững ý cụ thể đó vấn đề nào đưa vào trước cũng được, miễn là phải đảm bảo
đủ các nội dung cần diễn tả Tránh lối áp đặt như là cho sẵn một trật tự chi tiết
cố định
VD: Từ “khung” ý nghĩa và dàn bài chung, học sinh thảo luận nhóm tự
lập dàn ý chi tiết tả cây hoa hồng Những từ ngữ đánh dấu: số (1) nằm trongphần mở bài, số (2) trong phần thân bài, số (3) nằm trong phần kết bài
Mở bài: Giới thiệu cây hoa hồng Trồng ở đâu? (trước cửa) Ai trồng?
(mẹ em)
Thân bài:
* Tả bao quát:
- Cây cao khoảng nửa mét
- Thân khẳng khiu bằng chiếc đũa ăn cơm
* Tả chi tiết:
- Cành đâm tua tủa, có nhiều gai nhọn như những chàng vệ sĩ
- Là hình bầu dục, lá non màu tim tím, lá già màu xanh đậm, mép
có viền răng cưa
- Nụ màu xanh mơn mởn, bằng đầu ngón tay út của em
- Hoa mới nở to bằng chén uống trà, như ông mặt trời đỏ thắm
- Cánh hoa đỏ tươi, mỏng mịn như nhung xếp chồng lên nhau
- Hương thơm thoang thoảng quyến rũ ong bướm
Kết bài: Nêu cảm nghĩ: yêu thích, tỉa lá, tưới nước để cây luôn xanh tốt.
-> Từ dàn ý chi tiết, tôi nghĩ học sinh có thể vận dụng thêm một số từngữ, hình ảnh gợi cảm xúc để viết thành bài văn hoàn chỉnh một cách khá dễdàng
3 Rèn kĩ năng phát triển từ ngữ
Để rèn cho học sinh kỹ năng phát triển từ ngữ miêu tả tôi đã tích hợp việcdạy Tập làm văn trong những tiết Tập đọc Nếu nội dung bài đọc hoặc một số từngữ trong bài, tôi thấy học sinh có thể vận dụng vào bài viết của mình, tôi sẽnhấn mạnh với các em
VD: Qua bài tập đọc “Sầu riêng” tôi sẽ nhấn mạnh cho học sinh những từ
ngữ miêu tả hình dáng thân cây sầu riêng: “khẳng khiu”, “cao vút”, “thẳng
Trang 16đuột” Từ đó học sinh có thể vận dụng những từ ngữ này khi miêu tả những loại cây khác
VD: Trong bài tập đọc “Con sẻ” học sinh sẽ nhận ra một số từ ngữ giàu
hình ảnh dùng để miêu tả con vật như “vàng óng”, “nhúm lông tơ”, “lông dựng
ngược”, “mõm há rộng đầy răng”
Một hình ảnh sống động sẽ giúp bài viết miêu tả có được sự chú ý, thích thú từ người đọc Vì thế giáo viên nên giúp học sinh có thói quen sử dụng hình ảnh trong thể loại miêu tả, việc dùng hình ảnh này giúp chúng ta nhìn sự vật bằng một cái nhìn mới, tuy nhiên cũng cần tránh lạm dụng việc sử dụng hình ảnh Cùng với phân môn Tập đọc, phân môn Luyện từ và câu cũng có thể làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh Việc tổ chức trò chơi cũng là một biện pháp sinh động để học sinh bồi dưỡng vốn từ 4 Rèn kỹ năng viết câu văn đúng, câu văn hay cho học sinh Để rèn được kỹ năng này tôi cho học sinh luyện tập thông qua các dạng bài tập cơ bản sau: 4.1 Dạng bài tập phát hiện từ ngữ miêu tả hợp lí. 4.1.1 Phát hiện từ trong tập các từ cho sẵn: Với dạng bài tập này, giáo viên cung cấp cho học sinh một hệ thống từ, ngữ yêu cầu học sinh phân nhóm từ miêu tả đối tượng hợp lí VD Cho các từ ngữ tả lá bàng như sau: Màu đỏ au hơi pha ánh tím, màu xanh nõn nà, màu đỏ tía pha những sắc xanh thẫm, ngời xanh màu ngọc bích, xanh um, màu đỏ đọt lỗ chỗ những đốm màu cam đậm như ánh lửa; ngả sang màu xanh đậm, màu đỏ tím lịm như màu của những trái mận chín trông thật hấp dẫn; màu nâu đỏ pha những sắc xanh biếc như những ngọn nến nhỏ, màu nâu đỏ óng lên như đồng hun, những tán lá xòe rộng như một chiếc ô xanh khổng lồ
-Hãyxếpcáctừngữthíchhợpvàobảngphânloạisau: Từ ngữ tả lá bàng vào mùa xuân Từ ngữ tả lá bàng vào mùa hạ Từ ngữ tả lá bàng vào mùa thu Từ ngữ tả lá bàng vào mùa đông
Đápán
Từ ngữ tả lá Từ ngữ tả lá Từ ngữ tả lá Từ ngữ tả lá bàng vào