1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính

23 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 544 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

  TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH XUÂN NAM SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH Cấp học : Tiểu học Tên tác giả : Phạm Thị Lăng Đơn vị công

Trang 1

 

TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH XUÂN NAM

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI

BÀI TOÁN BẰNG HAI PHÉP TÍNH

Cấp học : Tiểu học Tên tác giả : Phạm Thị Lăng Đơn vị công tác : Trường Tiểu học Thanh Xuân Nam Chức vụ : Giáo viên

Năm học: 2019 - 2020

Trang 2

2 Phương pháp nghiên cứu 2

IV THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

I NHỮNG NỘI DUNG LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ

1 Cơ sở lí luận 3

2 Nội dung chương trình môn Toán lớp 3 3

3 Mục tiêu của môn Toán lớp 3 3

4 Phương pháp dạy học Toán 3 4

II THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC BÀI TOÁN GIẢI BẰNG HAI

PHÉP TÍNH Ở LỚP 3 4

2 Tình hình thực tế của việc dạy và học bài toán giải bằng hai phép tính ở lớp 3 4III CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 5

1 Phân loại đối tượng học sinh 5

2 Tìm hiểu nội dung của kiến thức bài toán giải bằng hai phép tính ở lớp 3 5

3 Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính 6

4 Các hoạt động cụ thể hướng dẫn học sinh 10

5 Bồi dưỡng, nâng cao cho những học sinh hoàn thành tốt 14

IV KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 14

PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 15

1 Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm và bài học kinh nghiệm 15

Trang 3

Trong cấu trúc nội dung môn Toán ở lớp 3, các bài toán có lời văn đượcsắp xếp gắn liền với nội dung từng mạch kiến thức Mỗi khi học một nội dungkiến thức mới, bao giờ học sinh cũng được thực hành giải các bài toán có lời văn

để củng cố nội dung kiến thức đó Mỗi bài toán có lời văn là một tình huống cóvấn đề buộc các em phải tư duy, suy luận, phân tích và tổng hợp để giải quyếtvấn đề Nếu các em giải tốt được các bài toán có lời văn thì những vấn đề gặptrong cuộc sống sẽ được các em vận dụng và giải quyết hợp lí Trên cơ sở họcsinh đã được học các dạng toán về “Nhiều hơn”; “Ít hơn”; “Tìm tổng của haisố”; “So sánh hai số hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị”; “Gấp một số lên nhiềulần”; “Giảm đi một số lần”; “Thêm một số đơn vị”; “Giảm đi một số đơn vị”, chỉ giải bằng một phép tính, từ tuần 11, học sinh được làm quen với “Bài toángiải bằng hai phép tính” Vì vậy, để giúp học sinh biết giải bài toán bằng haiphép tính thành thạo thì người giáo viên cần lựa chọn phương pháp, hình thức tổchức dạy học phù hợp, kích thích sự hứng thú học tập của học sinh, giúp họcsinh nắm được các bước giải để vận dụng trong thực tế được tốt

Thông qua nội dung thực tế nhiều hình nhiều vẻ của các đề toán, học sinh

sẽ tiếp nhận được những kiến thức phong phú về cuộc sống và có điều kiện đểrèn luyện khả năng áp dụng những kiến thức toán học vào cuộc sống Mỗi đềtoán là một bức tranh thu nhỏ của cuộc sống Khi giải mỗi bài toán, học sinh biếtrút ra từ bức tranh ấy bản chất toán học của nó, biết lựa chọn những phép tínhthích hợp, biết đặt lời giải chính xác Vì thế quá trình giải toán sẽ giúp học sinhrèn luyện khả năng quan sát và giải quyết các hiện tượng của cuộc sống qua conmắt toán học của mình

Việc giải các bài toán có lời văn sẽ giúp phát triển trí thông minh, óc sángtạo và thói quen làm việc một cách khoa học cho học sinh Bởi vì khi giải toán

có lời văn, học sinh phải tập trung vào bản chất của đề toán, biết gạt bỏ nhữngcái thứ yếu, phân biệt cái đã cho và cái phải tìm, biết phân tích để tìm ra mối liên

hệ giữa các số liệu Nhờ đó mà đầu óc các em sẽ sáng suốt hơn, tư duy của các

em sẽ linh hoạt, chính xác hơn, cách suy nghĩ và làm việc sẽ khoa học hơn.Khi giải bài toán có lời văn còn đòi hỏi học sinh phải biết tự mình xem xét, tìmtòi cách giải quyết vấn đề; Tự mình thực hiện các phép tính và kiểm tra lại kết

Trang 4

quả Do đó giải bài toán có lời văn là một cách rất tốt để rèn luyện đức tínhkiên trì, tự lực vượt khó, cẩn thận, chu đáo, chính xác cho học sinh.

2 Cơ sở thực tiễn.

Trong thực tế giảng dạy môn Toán ở lớp 3 hiện nay, mỗi giáo viên đềuđang cố gắng tích cực đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằmnâng cao hiệu quả giờ dạy Tuy nhiên, lớp 3 là lớp chuyển tiếp từ giải bài toánbằng 1 phép tính sang giải bài toán bằng 2 phép tính Khi giải bài toán bằng haiphép tính đòi hỏi các em phải phân tích các dữ liệu của đề bài Các em phải tìmhiểu từ câu hỏi của bài toán để suy luận các yếu tố có liên quan đến câu hỏi; Từ

đó đi tìm lời giải cho phép tính thứ nhất sao cho phù hợp Chính vì vậy khánhiều học sinh bỡ ngỡ và khó khăn trong việc tìm ra lời giải thứ nhất cho bàitoán Các em thường nêu lời giải thứ nhất trùng với dữ liệu đã cho của đề bàihoặc viết những câu lời giải hết sức ngô nghê, chưa phù hợp với yêu cầu, hoặcchỉ giải bài toán bằng một phép tính, chưa trả lời được câu hỏi của bài toán đãđáp số Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy - học giải bài toán có lời văn,

trong năm học 2019 - 2020 này, tôi chọn đề tài nghiên cứu : “Một số biện pháp

giúp học sinh lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính” và áp dụng vào thực tế

2 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến dạy học Toán;

- Phương pháp nghiên cứu sách giáo khoa và sách giáo viên để tìm hiểu nội dung

và phương pháp dạy Toán; Trên cơ sở đó lựa chọn những phương pháp phù hợp;

- Phương pháp tìm hiểu thực tế;

- Phương pháp phân tích, tổng hợp;

- Phương pháp kiểm tra, đánh giá;

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động học tập của học sinh

III THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Thời gian: + Tháng 10/ 2019: Khảo sát tình hình thực tế để chọn đề tài

+ Tháng 2/ 2020: Tổng hợp những việc đã làm và đánh giá kết quảđạt được để hoàn thành đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 3A2 trường Tiểu học Thanh Xuân Nam,năm học 2019 - 2020

Trang 5

- Phạm vi nghiên cứu:“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải bài toán bằng

hai phép tính”.

PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I NHỮNG NỘI DUNG LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lí luận

Toán học là một môn khoa học ra đời từ rất sớm Đây là một môn học khó

nhưng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Nó là nềntảng cơ bản để ra đời nhiều ngành khoa học khác nhằm phục vụ cho những nhucầu phát triển chung của xã hội loài người Bởi vậy đã từ rất lâu, Toán học đãkhẳng định vị trí của nó trong nền giáo dục của mọi quốc gia trên thế giới Riêng

ở nước ta, Toán học là môn được trẻ làm quen từ những năm học của bậc Mầmnon và trở thành một môn học chính thức bắt đầu từ bậc Tiểu học Môn Toángiúp học sinh rèn luyện rất nhiều kĩ năng như: cộng, trừ, nhân, chia, giải toán cólời văn; Đồng thời giúp các em phát triển khả năng tư duy logic, óc quan sát,phán đoán, tưởng tượng, khả năng khái quát hóa Không những thế, môn họcnày còn rèn luyện cho các em những phẩm chất đạo đức quý báu như tính chínhxác, kiên trì, cẩn thận và tạo cho các em tác phong làm việc độc lập, sáng tạo.Toán học cũng là chìa khóa mở ra sự phát triển của các môn khoa học khác

2 Nội dung chương trình môn Toán lớp 3

Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu đề tài, tôi thống kê, phân tích cáchướng nghiên cứu giải toán có lời văn trong môn Toán của chương trình sáchgiáo khoa lớp 3 phục vụ cho việc giảng dạy Tôi nhận thấy nội dung về giải bàitoán có lời văn được đưa vào giảng dạy trong chương trình Toán lớp 3 gồm :

1 Bài toán về nhiều hơn, ít hơn; So sánh hai số hơn, kém nhau bao nhiêu đơn vị;Tìm tổng của hai số

2 Bài toán về gấp một số lên nhiều lần; Giảm đi một số lần; Tìm một phần mấycủa một số; Bài toán về tích của hai số - chia thành các phần bằng nhau - chiathành nhóm

3 Bài toán về quan hệ giữa thành phần và kết quả phép tính

4 So sánh số lớp gấp mấy lần số bé; So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn

5 Bài toán liên quan đến rút về đơn vị

6 Bài về đại lượng và đo đại lượng, về hình học (tính chu vi, diện tích)

3 Mục tiêu của môn Toán lớp 3 Dạy học toán ở lớp 3 nhằm giúp học sinh:

- Biết đếm, đọc, viết các số trong phạm vi 100 000

- Biết so sánh và sắp xếp các số theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại

Trang 6

- Biết thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 100 000.

- Biết tính giá trị của biểu thức số có đến hai dấu phép tính

- Biết tìm một thành phần chưa biết của phép tính

- Biết tìm một trong các phần bằng nhau của một số

- Biết đo và ước lượng các đại lượng thường gặp

- Biết đặc điểm, biết tính chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông

- Bước đầu vận dụng các kiến thức, kĩ năng của môn Toán để giải bài toán có lờivăn (có không quá hai bước tính) như gấp 1 số lên nhiều lần; Giảm đi 1 số lần;

So sánh số lớn gấp mấy lần số bé; Bài toán liên quan đến rút về đơn vị,…

- Giúp học sinh phát triển các năng lực tư duy, phát triển trí tưởng tượng không gian,tập nhận xét các số liệu thu thập được, hứng thú trong học tập và thực hành toán

4 Phương pháp dạy học Toán 3

Định hướng của phương pháp dạy học Toán 3 là dạy học trên cơ sở tổchức và hướng dẫn các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh

Ngoài các phương pháp dạy học đã sử dụng ở các lớp 1, 2, đến lớp 3 còn

sử dụng các phương pháp dạy học giúp học sinh tập nêu các nhận xét hoặc cácquy tắc ở dạng khái quát nhất định Đây là cơ hội phát triển năng lực trừu tượnghóa, khái quát hóa trong học Toán ở cuối giai đoạn các lớp 1, 2, 3; Đồng thờitiếp tục phát triển khả năng diễn đạt của học sinh theo mục tiêu môn Toán ở Tiểuhọc Giáo viên vận dụng phương pháp dạy học toán ở Tiểu học nói chung vàphương pháp dạy học Toán 3 nói riêng để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức, kỹnăng toán Do vậy, giáo viên phải khéo léo sử dụng phối hợp các phương pháp

và hình thức dạy học phù hợp để hướng dẫn học sinh tự tìm tòi, tự phát hiệnkiến thức mới và từ đó tự chiếm lĩnh kiến thức cho chính mình

II THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC BÀI TOÁN GIẢI BẰNG HAI PHÉP TÍNH Ở LỚP 3.

1 Thuận lợi

- Các đồng chí trong Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo sát saotrong lĩnh vực chuyên môn; Luôn đồng hành và giúp đỡ kịp thời tới từng giáoviên trong quá trình giảng dạy, tạo điều kiện tốt giúp học sinh đạt kết quả cao

- Đa số các em có ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập Phụ huynh học sinhquan tâm sát sao và tạo điều kiện tốt nhất cho các con trong quá trình học tập

- Cơ sở vật chất: Trường lớp sạch sẽ, thoáng mát Lớp học đầy đủ ánh sáng và đượctrang bị đầy đủ đồ dùng dạy học hiện đại cũng như đồ dùng bán trú

2 Tình hình thực tế của việc dạy và học bài toán giải bằng hai phép tính ở lớp 3.

Qua tình hình giảng dạy thực tế ở lớp 3 nhiều năm, tôi nhận thấy khi giảibài toán bằng hai phép tính ở lớp 3, học sinh thường mắc những lỗi sau:

- Viết sai lời giải hoặc viết sai phép tính;

Trang 7

- Tính toán sai hoặc viết sai đơn vị; Lời giải không phù hợp với phép tính;

- Trình bày bài chưa khoa học, chỉ giải một phép tính đã đáp số…

Ví dụ 1 : Bài 2 (Sách Toán lớp 3 - trang 51)

Một thùng đựng 24 l mật ong, lấy ra 1

3 số lít mật ong đó Hỏi trong thùng cònlại bao nhiêu lít mật ong ?

- Khi giải bài toán này, có học sinh chỉ giải bằng 1 phép tính như sau:

Trong thùng còn lại số lít mật ong là:

24: 3= 8 ( l mật ong)

Đáp số: 8 l mật ong

* Nguyên nhân: Các em chưa đọc kĩ bài toán nên không hiểu mối quan hệgiữa các dữ kiện của bài toán, không xác định đúng câu hỏi của bài toán Các emchưa có thói quen kiểm tra kết quả sau khi đã làm

Năm học 2019 - 2020 này, lớp 3A2 do tôi phụ trách có 62 học sinh Đa số

em có ý thức học tốt, nhiều em tiếp thu bài nhanh; Song bên cạnh đó cũng cònmột số em do tính chưa cẩn thận, chưa tập trung khi làm bài… nên kết quả họctập chưa được như mong muốn Để kiểm tra việc thực hiện giải bài toán bằng haiphép tính của các em, tôi đã ra một bài khảo sát Qua kết quả khảo sát, tôi thấy có

1 số học sinh làm không đúng là do:

+ Viết sai lời giải hoặc viết phép tính sai Tính toán ẩu nên tính sai kết quả;

+ Giải bằng một phép tính đã đáp số, có học sinh lại viết 2 đáp số

(Đề khảo sát và bảng kết quả cụ thể tại phụ lục 1)

III CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

1 Phân loại đối tượng học sinh

Sau khi cho học sinh làm khảo sát và qua các tiết học toán đầu năm, tôi đãtìm hiểu và nhận thấy một số điểm yếu của học sinh trong lớp như sau:

- Học sinh còn thụ động trong suy nghĩ, thường nôn nóng, đọc qua loa đề bài, chưachú ý đến các dữ kiện, dữ liệu của bài toán, chưa xác định đúng yêu cầu của bài toán;

- Khả năng suy luận còn hạn chế dẫn đến máy móc, bắt chước, chỉ giải được cácdạng toán có sẵn, khi gặp bài toán ở dạng biến đổi thì không làm được;

- Kĩ năng tính toán còn thiếu chính xác dẫn đến khi giải toán hay sai kết quả;

- Một số em chưa biết cách trình bày bài toán

2 Tìm hiểu nội dung của kiến thức bài toán giải bằng hai phép tính ở lớp 3.

Qua nghiên cứu sách Toán lớp 3, tôi thấy bắt đầu từ tuần 11, học sinhđược làm quen với bài toán giải bằng hai phép tính Từ đó, các bài toán giảibằng hai phép tính được đưa xen kẽ vào trong chương trình, lồng ghép với cáckiến thức mới tương đối nhiều Chẳng hạn, sau khi học sinh học bảng chia 8,

Trang 8

đến tiết luyện tập (trang 60) có bài tập 3 vừa giúp học sinh củng cố bảng chia 8,đồng thời cũng giúp học sinh củng cố về giải bài toán bằng hai phép tính Hoặcsau khi học bài “So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn”, đến tiết “Luyện tập”(trang 62) có bài tập 2 vừa giúp học sinh củng cố về so sánh số bé bằng một phần mấy số lớn vừa giúp học sinh củng cố về bài toán giải bằng hai phép tính.

3 Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải bài toán bằng hai phép tính.

Trên cơ sở nắm một cách chắc chắn các đối tượng học sinh lớp mình, nắmđược cấu trúc chương trình, tôi lựa chọn hình thức, phương pháp dạy học chophù hợp với học sinh Quá trình dạy học giải bài toán bằng hai phép tính gồmcác bước sau:

3.1 Bước 1: Đọc kĩ bài toán và tóm tắt bài toán.

Hướng dẫn học sinh đọc kĩ bài toán, tìm hiểu nội dung bài toán để nắmđược: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì ? Xác định mối quan hệ giữa các dữkiện của bài toán Đây là một công việc có ý nghĩa hết sức quan trọng, các em

có đọc kĩ đề toán mới nắm bắt được các dữ kiện của bài toán; Ở bước này tôiluôn gọi những em giải toán chưa tốt đọc đề bài nhiều lần và yêu cầu học sinhdùng bút chì gạch 1 gạch dưới những dữ kiện bài toán đã cho, gạch 2 gạch dướicâu hỏi của bài toán; Đồng thời nhấn mạnh ở những dữ kiện của bài toán để giúpcho học sinh hiểu một số thuật ngữ của bài toán Học sinh biết diễn đạt ngắn gọn đềtoán bằng cách tóm tắt, nhìn vào tóm tắt để định ra các bước giải của bài toán

Có 4 cách tóm tắt bài toán: - Cách 1: Dưới dạng câu ngắn

- Cách 2: Dưới dạng sơ đồ đoạn thẳng

- Cách 3: Dưới dạng hình vẽ

- Cách 4: Tóm tắt bằng kí hiệu

Tuỳ vào từng dạng toán mà tôi hướng dẫn cho các em cách tóm tắt phùhợp Với những bài toán tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc hình vẽ cần phảiđảm bảo tính cân đối, chính xác Ở những dạng toán học sinh mới gặp lần đầu,giáo viên có thể làm mẫu tóm tắt Sau đó, hướng dẫn học sinh tự mình tóm tắtbài toán Sau khi tóm tắt, yêu cầu học sinh nhắc lại ngắn gọn bài toán mà khôngcần nhắc lại nguyên văn Khi học sinh đã xác định được mối quan hệ giữa các

dữ kiện, xác định được bài toán yêu cầu tìm gì thì các em dễ dàng giải được bài toán đó

Ví dụ 1: Bài 1 (Tiết Bài toán giải bằng hai phép tính - Sách Toán 3, trang 50)

Với bài tập này, tôi đã hướng dẫn học sinh như sau:

- Giáo viên đưa bài toán trên bài giảng điện tử

- Yêu cầu học sinh đọc bài toán (1- 2 học sinh đọc, cả lớp đọc thầm)

- Hỏi: Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ?

Giáo viên dùng hiệu ứng gạch 1 gạch dưới các dữ kiện bài toán đã cho, gạch 2

gạch dưới câu hỏi của bài toán, nhấn mạnh và in đậm thuật ngữ ít hơn.

Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có ít hơn anh 7 tấm bưu ảnh Hỏi cả hai anh em có

tất cả bao nhiêu tấm bưu ảnh ?

Trang 9

Trên cơ sở hiểu nội dung của bài toán, hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán:

Anh:

Em :

Ví dụ 2: Bài 2 (Tiết Luyện tập - Sách Toán 3, trang 62)

Với cách dẫn dắt như ví dụ 1, hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán bằng lời

Có 7 con trâu, số bò nhiều hơn số trâu là 28 con Hỏi số trâu bằng mộtphần mấy số bò ?

Tóm tắt: Trâu : 7 con

Bò nhiều hơn trâu : 28 con

Số trâu : 1

? Số bò

Ví dụ 3: Bài 3 (Tiết Luyện tập chung - Sách Toán 3, trang 106)

Với cách dẫn dắt tương tự ví dụ 1, 2; tôi hướng dẫn học sinh tóm tắt bàitoán bằng sơ đồ đoạn thẳng:

Một đội trồng cây đã trồng được 948 cây, sau đó trồng thêm được bằng 1

3.2 Bước 2: Phân tích đề toán để tìm cách giải

Bước phân tích đề toán để tìm ra cách giải là bước quan trọng nhất trongquá trình giải một bài toán của học sinh; Đồng thời cũng là bước khó khăn nhấtđối với các em Vì vậy, khi giải một bài toán có lời văn, tôi thường xuyên rènluyện, hướng dẫn các em phân tích từng bước một cách rõ ràng, chính xác thôngqua hệ thống câu hỏi, câu trả lời ngắn gọn, dễ hiểu Cụ thể, tôi hướng dẫn học

Trang 10

sinh bằng cách đi từ câu hỏi của bài toán đến các dữ kiện đã cho Giúp học sinhhiểu bài toán giải bằng hai phép tính chính là một dạng bài toán có lời văn màkhi giải bài toán đó (mặc dù đầu bài chỉ có một câu hỏi) nhưng phải tiến hànhgiải hai bài toán đơn (tức là giải bằng 2 phép tính) Dần dần các em sẽ quen vàbiết phân tích, lập sơ đồ để tìm cách giải một cách đúng đắn và nhanh chóng

Ví dụ 1: Bài 1 (Sách Toán 3, trang 50): Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có ít hơn

anh 7 tấm bưu ảnh Hỏi hai anh em có tất cả bao nhiêu tấm bưu ảnh?

Ta có thể dùng phương pháp phân tích để hướng dẫn học sinh như sau:

- Bài toán hỏi gì? - Hai anh em có bao nhiêu tấm bưu ảnh

- Muốn tìm cả hai anh em có tất cả bao

nhiêu tấm bưu ảnh ta làm thế nào ?

- Lấy số bưu ảnh của anh cộng với sốbưu ảnh của em

- Con có thể tìm ngay được số bưu ảnh

của cả hai anh em không ? Vì sao ?

- Không tìm ngay được vì chưa biết sốbưu ảnh của em là bao nhiêu

- Muốn tìm số bưu ảnh của em ta làm

thế nào?

- Lấy số bưu ảnh của anh trừ đi 7

Có thể ghi vắn tắt quá trình phân tích trên bằng sơ đồ:

+ Sau đó tìm số bưu ảnh của cả hai anh em

Ví dụ 2: Bài 2 (Tiết Luyện tập - Sách Toán 3, trang 62)

Có 7 con trâu, số bò nhiều hơn số trâu là 28 con Hỏi số trâu bằng một phần mấy

số bò ?

Ta có thể dùng phương pháp phân tích để hướng dẫn học sinh như sau:

- Bài toán hỏi gì ? - Số trâu bằng một phần mấy số bò.

- Muốn biết số trâu bằng một phần

mấy số bò ta làm thế nào ? - So sánh số bò gấp mấy lần số trâu rồimới trả lời.

- Con có tìm ngay được số bò gấp mấy

lần số trâu không ? Vì sao ?

- Không tìm ngay được vì chưa biết cóbao nhiêu con bò

- Muốn tìm số bò ta làm thế nào ? - Lấy số trâu cộng với 28.

Có thể ghi vắn tắt quá trình phân tích trên bằng sơ đồ:

Số trâu bằng 1 phần mấy số bò

Trang 11

+ Trước tiên phải đi tìm số bò.

+ So sánh số bò gấp mấy lần số trâu =>Trả lời số trâu bằng một phần mấy số bò

Ví dụ 3: Bài 3 (Tiết Luyện tập chung - Sách Toán 3, trang 106)

Một đội trồng cây đã trồng được 948 cây, sau đó trồng thêm được bằng 1

3 số cây

đã trồng Hỏi đội đó đã trồng được tất cả bao nhiêu cây?

- Bài toán hỏi gì ? - Đội đó trồng được tất cả bao nhiêu cây

- Con có tìm ngay được đội đó có tất

cả bao nhiêu cây không? Vì sao?

- Không tìm ngay được vì chưa biết sốcây đội đó trồng thêm là bao nhiêu cây

- Muốn tìm số cây trồng thêm ta làm

thế nào? - Lấy số cây đã trồng chia cho 3.

Có thể ghi vắn tắt quá trình phân tích trên bằng sơ đồ:

+ Trước tiên phải tìm số cây đội đó trồng thêm

+ Sau đó tìm số cây đội đó trồng được tất cả

* Tóm lại: Khi phân tích một bài toán, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh có

thói quen tự đặt câu hỏi, chẳng hạn:

- Bài toán cho gì ? Bài toán hỏi gì ?

- Muốn trả lời câu hỏi của bài toán ta cần phải biết gì ?

- Từ những dữ kiện đã cho có thể biết được gì ?

Khuyến khích học sinh biết nhận xét, tìm cách giải bài toán bằng nhiềuphương pháp khác nhau, đồng thời biết chọn cách giải hay nhất Điều đó có tácdụng rất lớn trong việc phát huy tính sáng tạo, phát triển trí thông minh Đồngthời đem lại niềm hứng thú cho học sinh khi học toán

3.3 Bước 3: Tổng hợp và trình bày bài giải.

Ngày đăng: 03/04/2021, 07:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w