Các TTTT địa phương được dùng trong giao tiếp, qua các ngữ cảnh sử dụng không những thể hiện các ý nghĩa tình thái TT đa dạng, tinh tế mà còn mang sắc thái phương ngữ.. Mô tả và phân tíc
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN MAI PHƯƠNG
TIỂU TỪ TÌNH THÁI CUỐI PHÁT NGÔN TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NAM BỘ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 92 22 01 02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2020
Trang 2Luận án được hoàn thành tại Trường Đại học Vinh
Người hướng dẫn khoa học:
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Trường
Địa điểm: Trường Đại học Vinh Thời gian: Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2021
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Trung tâm Thông tin - Thư viện Nguyễn Thúc Hào, Trường Đại học Vinh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tiếng Việt có hệ thống tiểu từ tình thái (TTTT) đa dạng phong phú Ngoài những TTTT toàn dân, trong mỗi vùng phương ngữ còn có những TTTT địa phương Các TTTT địa phương được dùng trong giao tiếp, qua các ngữ cảnh sử dụng không những thể hiện các ý nghĩa tình thái (TT) đa dạng, tinh tế mà còn mang sắc thái phương ngữ Cho nên, tìm hiểu ý nghĩa TT tiếng Việt, ngoài nghiên cứu TTTT toàn dân còn cần tìm hiểu ý nghĩa TTTT phương ngữ; điều này cần thiết không chỉ về ngôn ngữ mà còn cả mặt văn hóa, xã hội Nghiên cứu TT trong phương ngữ là góp phần vào việc làm cho bức tranh TT của tiếng Việt ngày càng đầy đủ hơn trong sự đa dạng, phong phú của tiếng Việt
1.2 Là yếu tố mang chức năng ngữ nghĩa và chức năng dụng học nên khi được dùng, TTTT là một trong các nhân tố thể hiện thói quen vùng miền, ý thức xã hội về giới, địa vị, tuổi tác, bối cảnh,…của người giao tiếp Các TTTT cuối phát ngôn là một trong những phương tiện quan trọng để thực tại hóa câu, biến nội dung mệnh đề dưới dạng nguyên liệu, tiềm năng trở thành một phát ngôn trong tình huống giao tiếp nhất định Tìm hiểu số lượng TTTT cuối phát ngôn và ý nghĩa của chúng trong giao tiếp của người Việt nói chung và người Nam Bộ (NB) nói riêng là một việc làm cần thiết
để bổ sung lí thuyết về từ loại, trong đó có TTTT
1.3 Việc tìm hiểu ngữ nghĩa chức năng của TTTT giúp ta thấy rõ thêm ngữ nghĩa và cách dùng của một lớp từ trong phương ngữ Nam Bộ (PNNB) từ trước đến nay chưa được nghiên cứu sâu, hệ thống và còn giúp hiểu thêm đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa độc đáo của người dân vùng sông nước phương Nam
Trên đây là những lí do luận án đi sâu khảo sát nghiên cứu “TTTT cuối phát
ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ”
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
Đối tượng nghiên cứu là các TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người
Việt NB, gồm: 1) Các TTTT toàn dân được người NB dùng; 2) Các TTTT phương ngữ Nam Bộ
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu TTTT cuối phát ngôn mà người NB dùng
trong giao tiếp về các phương diện: 1) Đặc điểm ngữ nghĩa, cách dùng TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người NB, xét theo hành động ngôn ngữ (HĐNN); 2) Đặc điểm sử dụng TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người NB xét theo phân tầng xã hội về giới tính
Ngữ liệu dùng nghiên cứu là kết quả điền dã 8531 phát ngôn chứa các TTTT đứng cuối của người Việt NB được thu thập trực tiếp từ các cuộc hội thoại của người
Trang 4dân tại TP Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, huyện Trần Đề - Sóc Trăng, Đồng Tháp, Vĩnh Long, An Giang, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án hướng đến hai mục đích chính: 1) Làm rõ được chức năng ngữ nghĩa của TTTT theo HĐNT; 2) Chỉ ra được đặc điểm sử dụng TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người NB theo phân tầng xã hội về giới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
1) Điền dã khảo sát, thu thập, thống kê số lượng, phân loại TTTT đối với những phát ngôn có các TTTT đứng cuối qua các cuộc giao tiếp trực tiếp và một phần
từ văn bản văn chương, từ điển, google fom;
2) Nhìn lại một cách tổng quan tình hình nghiên cứu TTTT trong ngôn ngữ nói chung và trong PNNB nói riêng; xác định các cơ sở lí thuyết của đề tài;
3) Tìm hiểu ý nghĩa khái quát của các TTTT phương ngữ NB trên cơ sở so sánh đối chiếu với những TTTT toàn dân để rút ra điểm chung cũng như nét riêng biệt của TTTT cuối phát ngôn của người NB;
4) Mô tả và phân tích các TTTT tiếng NB trên hai phương diện: ngữ nghĩa - chức năng gắn với HĐNN trong giao tiếp và đặc điểm sử dụng TTTT cuối phát ngôn của người NB theo phân tầng xã hội về giới
4 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp điều tra điền dã
Chúng tôi ghi âm, quay video trực tiếp các cuộc thoại trong sinh hoạt hàng ngày của các đối tượng và làm fom chia sẻ qua google drive, câu trả lời sẽ được gửi phản hồi qua mail, qua zalo hoặc facebook Các nhân tố hội thoại được phân biệt theo các điểm: 1) Hoàn cảnh phát ngôn; 2) Nội dung phát ngôn; 3) Độ tuổi; 4) Nghề nghiệp; 5) Mối quan hệ; 6) Giới tính: nam, nữ Từ đó, chúng tôi gỡ băng ghi âm, ghi chép, chuyển thành văn bản, phân loại các cuộc thoại có xuất hiện TTTT
b Phương pháp miêu tả
Luận án dùng phương pháp này để miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ dụng của TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người NB
c Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp này được dùng để phân tích các tham thoại gắn với các nhân tố hội thoại cụ thể theo từng ngữ cảnh để xác định chính xác, sát thực nghĩa tình thái theo loại phát ngôn và HĐNN
4.2 Thủ pháp nghiên cứu
a Thủ pháp thống kê phân loại
Chúng tôi quan sát số lượng lớn ngữ cảnh có các TTTT để thống kê phân loại các TTTT và các HĐ lời nói có sự xuất hiện của các TTTT trong lời thoại của người NB
Trang 5b Thủ pháp phân tích, tổng hợp
Trên cơ sở thống kê, phân loại, so sánh, chúng tôi tiến hành phân tích rút ra từng ý nghĩa cụ thể từ đó tổng hợp khái quát thành ý nghĩa chung của các TTTT và ý nghĩa của chúng trong các nhóm HĐ lời nói và những đặc trưng giới tính thể hiện qua việc sử dụng TTTT cuối phát ngôn của người NB
c Thủ pháp so sánh
Luận án so sánh: nghĩa và cách dùng TTTT Nam Bộ với TTTT toàn dân và phương ngữ khác, nghĩa các TTTT phương ngữ có âm gần nhau và đặc điểm sử dụng các TTTT trong tham thoại giữa nam giới và nữ giới
Xác định số lượng TTTT được dùng cuối phát ngôn trong giao tiếp của người
NB, trong đó có hệ thống TTTT phương ngữ NB, chỉ ra những nét khác biệt giữa nam và nữ trong việc sử dụng TTTT cuối phát ngôn
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài
Chương 2: Nhận diện tiểu từ tình thái cuối phát ngôn và ngữ nghĩa của chúng trong giao tiếp của người Nam Bộ
Chương 3: Đặc điểm sử dụng các tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ xét theo hành động ngôn ngữ
Chương 4: Đặc điểm sử dụng các tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ xét theo phân tầng xã hội về giới tính
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu TT và TTTT cuối phát ngôn
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.1.1.1 Về tình thái
Điểm lại lịch sử nghiên cứu về TT ở ngoài nước qua công trình của các tác giả như Charles Bally, Benveniste, Oswld Ducrot, J.Lyons, M.V.Liapol, B.Gak, F.R.Palmer, Halliday, John Bybee,…luận án chỉ ra tuy hướng tiếp cận, quan niệm, phạm vi nghiên cứu TT rộng hẹp khác nhau nhưng nhìn chung các nhà nghiên này
Trang 6đều cho rằng, TT là thành phần nghĩa thể hiện thái độ của người nói đối với hiện thực được phản ánh, hoặc với đối tượng giao tiếp TT là một phạm trù phức tạp, luôn gắn với thức; có nhiều kiểu loại khác nhau và giữa chúng không có ranh giới rõ ràng
1.1.1.2 Về tiểu từ tình thái và tiểu từ tình thái cuối phát ngôn
Vị trí, chức năng, vai trò của TTTT cuối câu trong quan hệ với cấu trúc câu ít nhiều cũng đã được các nhà nghiên cứu nước ngoài bàn đến, trong đó có vấn đề TTTT trong tiếng Việt Một số nhà ngôn ngữ học Nga như I I Glebova, V.M Solntsev, Yu Lekomtsev, Bystrov, đã đề cập đến TTTT tiếng Việt nhưng loại tiểu từ này chưa được nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.2.1 Về tình thái
Ở Việt Nam, tuy TT mới được đề cập đến từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhưng tới nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trực tiếp đến vấn đề này Luận án điểm lại các khuynh hướng, quan niệm, kết quả nghiên cứu TT của các nhà nghiên cứu Cao Xuân Hạo, Đinh Văn Đức, Phạm Hùng Việt, Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp, Đỗ Thị Kim Liên,… đã cho thấy tuy có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về TT, nhưng nhìn chung ý kiến của các tác giả đều xoay quanh đặc trưng cơ bản của TT, xem TT là một phạm trù của những hiện tượng ngữ nghĩa - chức năng rộng lớn, đa dạng và phức tạp mà đặc trưng chung nhất của chúng là phản ánh những mối quan hệ khác nhau của một nội dung thông tin miêu tả trong phát ngôn với thực
tế, cũng như những quan điểm, thái độ đánh giá và định tính khác nhau của người nói đối với nội dung miêu tả trong câu, xét trong mối quan hệ với người nghe, với hoàn cảnh giao tiếp
1.1.2.2 Về tiểu từ tình thái và tiểu từ tình thái cuối phát ngôn
Luận án đã tổng quan lịch sử nghiên cứu TTTT và TTTT cuối phát ngôn theo vấn đề chung và từng phương diện cụ thể căn cứ vào kết quả nghiên cứu của hầu hết các tác giả trong nước, từ Trần Trọng Kim, Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê ở thời kì đầu, thập kỉ 60 đến Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Hoàng Phê, Nguyễn Kim Thản, Đinh Văn Đức, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Phạm Mạnh Hùng, Nguyễn Thị Lương,…những năm trước / sau 1990 cho tới các nghiên cứu gần đây của Đỗ Thị Kim Liên, Phạm Hùng Việt, Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp, Ngô Thị Minh, Hoàng Thúy Hà, Lê Xinh Tươm, Từ các nghiên cứu của các tác giả, có thể đánh giá khái quát và nêu vấn đề:
1) Việc xem xét nghĩa của từ không chỉ là trong hệ thống mà còn được đặt trong mối quan hệ của con người - chủ thể sử dụng, thái độ của người nói, mục đích nói, hoàn cảnh nói năng TTTT là loại tín hiệu rất đặc biệt, thường được xem là mang tính “động”, hoạt động luôn gắn với các phát ngôn hiện thực hơn là mang tính “tĩnh”,
Trang 7cho nên cần dựa vào ý nghĩa của phát ngôn cụ thể để xác định ý nghĩa của các TTTT được dùng trong ngữ cảnh Đó là việc rất phức tạp song lại cần thiết, không những có thể phát hiện ra tính đa sắc thái nghĩa TT của các yếu tố mà còn là cơ sở để khái quát hóa ý nghĩa khái quát của các TTTT
2) Mặc dù đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ sớm nhưng trong một thời gian dài, các TTTT là phương tiện để thực tại hoá câu, bị đẩy về phía “lời nói”, trong khi đó các sự kiện thuộc về “lời nói” thường bị xem nhẹ trong nghiên cứu ngôn ngữ học Vì vậy, cần có sự điều chỉnh trong việc nghiên cứu lớp TTTT này gắn với các phát ngôn diễn ra trong thực tế giao tiếp đời sống hơn nữa
3) Nội dung nghĩa các TTTT thường đa dạng, gồm nhiều sắc thái, có nét nghĩa tiềm tàng trong bản thân TTTT, có nét nghĩa hình thành do sự kết hợp của TTTT với
cả cấu trúc, lại có nét nghĩa do tình huống giao tiếp mang lại Nói cách khác, ý nghĩa của các phát ngôn hiện thực, tức lực ngôn trung hay hiệu lực tại lời của chúng, ở các mức độ khác nhau, bao giờ cũng biến động theo ngữ cảnh
4) TTTT là loại từ thể hiện rõ nhất thái độ của người dùng đối với thực tại được phản ánh và với đối tượng giao tiếp Mỗi vùng, do thói quen dùng ngôn ngữ, quan hệ ứng xử trong gia đình và ngoài xã hội mang những nét văn hóa riêng, vì vậy dấu ấn đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa phương ngữ từng miền thể hiện ở lớp từ TTTT cũng sẽ rõ nét Do đó, việc nghiên cứu TTTT cần được mở rộng, đào sâu cả lớp TTTT trong các phương ngữ TTTT cuối phát ngôn trong PNNB chưa được nghiên cứu sâu, hệ thống, việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu lớp từ này là cần thiết
1.2 Cơ sở lý thuyết của đề tài
1.2.1 Khái niệm “tiểu từ tình thái” và “tiểu từ tình thái cuối phát ngôn”
1.2.1.1 Khái niệm tiểu từ tình thái
Sau khi nêu lên quan niệm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ về TTTT, chúng
tôi rút ra cách hiểu chung: TTTT là tiểu loại từ đặc biệt thuộc hư từ, được sử dụng để
biểu đạt ý nghĩa TT trong mối quan hệ với mục đích phát ngôn, biểu thị cảm xúc của người nói đối với nội dung, thực tại phản ánh trong phát ngôn và người nghe Nó là
yếu tố đi kèm để thực tại hóa nghĩa của câu nhưng không làm thành tố của nồng cốt cũng như thành phần của cụm từ trong câu, vì thế TTTT không /hoặc ít chịu ảnh hưởng của những biến đổi của trật tự từ và cấu trúc
1.2.1.2 Khái niệm tiểu từ tình thái cuối phát ngôn
Trên cơ sở cách hiểu về TTTT và quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước,
chúng tôi xác định: TTTT cuối phát ngôn là những hư từ nằm ở cuối phát ngôn nhằm
thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ giữa người nói với người nghe hay đối với thực tại được phản ánh trong phát ngôn Các TTTT cuối phát ngôn tiếng Việt là một
trong những phương tiện quan trọng để thực tại hoá câu
Trang 8Phạm vi nghiên cứu của luận án là những TTTT khi chúng xuất hiện ở cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Việt ở NB
1.2.2 Lý thuyết hoạt động giao tiếp
1.2.2.1 Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp ngôn ngữ là hoạt động trao đổi thông tin bằng phương tiện ngôn ngữ giữa các thành viên trong xã hội nhằm mục đích nhất định, diễn ra trong một ngữ cảnh nhất định Hoạt động giao tiếp bao gồm nhiều nhân tố
1.2.2.2 Các nhân tố giao tiếp
a) Ngữ cảnh
Nội dung khái niệm ngữ cảnh bao chứa hai khái niệm: “nhân vật giao tiếp” và
“hiện thực ngoài diễn ngôn”
- Nhân vật giao tiếp thường được hiểu là “người tham gia giao tiếp” Khi giao
tiếp, ít nhất phải có hai người tham gia Nói như Đỗ Hữu Châu, nhân vật giao tiếp là:
“Ai nói với ai? Ai nói và nói cho ai?”
- “Hiện thực ngoài diễn ngôn (ngoài ngôn ngữ)”, theo Đỗ Hữu Châu, bao gồm
nhiều hợp phần (xin lược trích nội dung cốt lõi mà tác giả diễn giải):
1) “Hoàn cảnh giao tiếp” (…): là tổng thể các nhân tố “môi trường xã hội - văn hóa - địa lí cho các cuộc giao tiếp”; 2) “Thoại trường hay hiện trường giao
tiếp”: “Đó là không gian, thời gian của cuộc giao tiếp”; 3) “Hiện thực được nói tới hay hiện thực đề tài” là nội dung giao tiếp “nói về một hoặc những cái gì đó trong hoàn cảnh giao tiếp”; 4); “Ngữ huống”: thời điểm cụ thể của cuộc giao tiếp
Trong các khía cạnh biểu hiện trên thì nội dung (1) và (2) thường được nhiều người gọi chung là hoàn cảnh giao tiếp (rộng và hẹp)
b) Khái niệm “diễn ngôn”: Nói theo cách quen thuộc, đơn giản, diễn ngôn là
ngôn ngữ, phương tiện được dùng khi giao tiếp ngôn ngữ Nói tới diễn ngôn là nói tới
ngôn ngữ sử dụng trong quan hệ với ngữ cảnh, với mục đích phát ngôn
1.2.2.3 Khái niệm “phát ngôn”
Trong ngôn ngữ học, khái niệm “phát ngôn” liên quan mật thiết với khái niệm
“câu” nhưng sự phân biệt hai khái niệm này chưa hoàn toàn thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Luận án này dùng khái niệm “phát ngôn” trong sự phân biệt với “câu” theo quan niệm ngôn ngữ gồm hai phương diện chủ yếu: phương diện hệ thống những đơn vị trừu tượng khái quát như âm vị, hình vị, từ, câu và phương diện hoạt động thực hiện chức năng hướng ngoại của hệ thống trong đó những quy tắc điều khiển hoạt động của ngôn ngữ, những HĐ của ngôn ngữ đặc trưng và những sản phẩm cụ thể do các hoạt động của ngôn ngữ tạo ra như phát ngôn, văn bản, diễn ngôn
và các đơn vị của hội thoại Vì thế, nói tới phát ngôn là nói tới “câu” cụ thể trong
giao tiếp, xuất hiện trong một ngữ cảnh, gắn với người phát ngôn và có tính mục đích
Trang 9nhất định Nói ngắn gọn theo Đỗ Thị Kim Liên (2005) “Một lời của chúng ta nói ra
ứng với một đơn vị câu được gọi là một phát ngôn”
1.2.3 Hành động ngôn ngữ
1.2.3.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ
HĐNN là một dạng HĐ đặc biệt của con người, chỉ có ở con người HĐNN gắn liền với HĐ nói năng của con người, là HĐ mang tính xã hội Trên cơ sở định nghĩa của Đỗ Hữu Châu (2001) và quan niệm của các tác giả khác, chúng tôi rút ra
cách hiểu cụ thể: Hành động ngôn ngữ là hành động con người sử dụng ngôn ngữ để
thực hiện một trong các mục đích: kể, hỏi, yêu cầu, đề nghị, nhận xét, bày tỏ tình cảm, cảm xúc,…của mình trong một ngữ cảnh cụ thể
1.2.3.2 Phân loại hành động ngôn ngữ
Chúng tôi chọn bảng phân loại của J.R Searle làm cơ sở cho việc nghiên cứu của luận án vì cách phân loại của ông đến nay được các nhà nghiên cứu đánh giá cao J.R Searle phân loại các hành vi tại lời thành 5 nhóm lớn
1.2.3.3 Hành động ngôn trung (hành động ở lời)
Các HĐNT được Searle chia ra thành năm phạm trù (còn gọi là lớp) Mỗi
phạm trù lại gồm những nhóm lớn nhỏ khác nhau Đó là các phạm trù: trình bày, điều
khiển, cam kết, biểu cảm, tuyên bố Về mặt hiệu lực của HĐNT, có thể chia ra HĐNT trực tiếp và HĐNT gián tiếp
1.2.3.4 Sự hành chức của tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong HĐNT
a TTTT cuối phát ngôn thực hiện các HĐNT trực tiếp: a.1 Các TTTT xuất
hiện trong các cấu trúc HĐ hỏi: à, ừ, hả, hử, chứ;…a.2 Các TTTT xuất hiện trong các cấu trúc HĐ cầu khiến: đã, đi, nhé;…a.3 Các TTTT xuất hiện trong các cấu trúc
HĐ trần thuật: đấy, kia
b TTTT cuối phát ngôn thực hiện các HĐNT gián tiếp: b1 Hiệu lực hỏi
nhưng gián tiếp là nhắc nhở, thúc giục; b2 Hiệu lực hỏi nhưng gián tiếp là cảnh cáo
đe nẹt; b3 Hiệu lực hỏi nhưng gián tiếp là đánh giá; b4 Hiệu lực hỏi nhưng gián tiếp
là nhắc lại; b5 Hiệu lực hỏi nhưng gián tiếp là bác bỏ; b6 Hiệu lực hỏi nhưng gián tiếp là lời chào; b7 Hiệu lực hỏi nhưng gián tiếp là khẳng định; b8 Hiệu lực hỏi nhưng gián tiếp là mỉa mai, chê trách; b.9 Hiệu lực hỏi nhưng gián tiếp là xác nhận;
b.10 Hiệu lực hỏi nhưng gián tiếp là than vãn; b.11 Hiệu lực hỏi nhưng gián tiếp là
đề nghị kết thúc cuộc thoại; b.12 Hiệu lực khảo nghiệm nhưng gián tiếp là giải thích
Số lượng các HĐ lời nói trực tiếp mà các TTTT tham gia biểu thị ở trên tuy chưa đầy đủ nhưng cũng đã cho thấy sự đa dạng của tính hiệu lực do các HĐNT gây nên trong đó có sự tham gia của TTTT Do giới hạn của phạm vi đề tài, trong các chương 2, 3, 4, chúng tôi chỉ đi vào phân tích và mô tả các nhóm HĐNT trực tiếp có
sự tham gia của TTTT
Trang 101.2.4 Phương ngữ Nam Bộ và vấn đề phân tích TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ
1.2.4.1 Khái niệm phương ngữ
Phương ngữ thường được hiểu là tiếng nói quen dùng của một vùng, một khu vực địa lí dân cư (phương ngữ địa lí) hay một tầng lớp người trong xã hội (phương ngữ xã hội) với những sự khác biệt nhất định (về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp) so với ngôn ngữ toàn dân hay phương ngữ khác
1.2.4.2 Phương ngữ Nam Bộ
Theo Hoàng Thị Châu (2004) và ý kiến của phần đông các nhà nghiên cứu, tiếng Việt có 3 vùng phương ngữ, trong đó PNNB là giải phương ngữ từ phía nam Bình Thuận trở vào, thuộc vùng phương ngữ Nam PNNB không chỉ là kết quả của một sự phân chia phương ngữ Việt mà nó đã trở thành một đối tượng được nghiên cứu trên nhiều bình diện Đó cũng là cơ sở để chúng tôi thực hiện nghiên cứu TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người NB
Nghiên cứu TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Việt ở NB là nghiên cứu một lớp từ; cho nên luận án đã dựa theo quan niệm của Hoàng Trọng Canh (2001) về “Từ địa phương Nghệ Tĩnh” để xác định: Từ địa phương Nam Bộ là những từ người dân Nam Bộ quen dùng một cách tự nhiên, có sự khác biệt nhất định (về âm, nghĩa, ngữ pháp) so với từ toàn dân
1.2.4.3 Vấn đề TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người NB
Một đặc trưng nổi bật của tiếng Việt là hệ thống TTTT rất phong phú, thể hiện
đa dạng trong các phương ngữ, trong đó có PNNB Sự khác nhau giữa TTTT địa phương trong tương quan so sánh với TTTT toàn dân ở những trường hợp này không chỉ thuộc về hình thức ngữ âm mà quan trọng hơn là ở chức năng - nghĩa biểu thị tình thái và xác lập các hành vi ngôn ngữ
Như vậy, TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Việt NB là đối tượng cần được nghiên cứu, và có cơ sở khoa học và thực tiễn để nghiên cứu chúng
1.3 Tiểu kết chương 1
Điểm lại kết quả nghiên cứu của những tác giả đi trước, luận án chỉ ra TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Việt NB cần tiếp tục được đào sâu, mở rộng nghiên cứu để góp phần cho thấy đặc điểm TTTT cuối phát ngôn trong bức tranh đa dạng, nhiều màu sắc của TTTT tiếng Việt Luận án cũng đã xác định và giới thuyết các khái niệm và những vấn đề có liên quan làm cơ sở cho đề tài Luận án xác định: TTTT cuối phát ngôn là những hư từ nằm cuối phát ngôn nhằm thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ giữa người nói với người nghe hay đối với thực tại được phản ánh trong phát ngôn Các TTTT cuối phát ngôn là một trong những phương tiện quan trọng để thực tại hoá câu và là một phương tiện biểu thị thái độ, cảm xúc của người nói luôn gắn chặt với các hành động ngôn ngữ và các nhân tố vai giao tiếp về giới và các mặt khác
Trang 11Chương 2
NHẬN DIỆN TIỂU TỪ TÌNH THÁI CUỐI PHÁT NGÔN VÀ NGỮ NGHĨA
CỦA CHÚNG TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NAM BỘ
2.1 Nhận diện TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người NB
2.1.1 Nhận diện TTTT trong phát ngôn về mặt chức năng
2.1.1.1 Những nhìn nhận chung về chức năng của TTTT
Mặc dù có sự khác nhau ít nhiều trong nhìn nhận cụ thể về nghĩa TT nhưng
điểm chung của các nhà Việt ngữ học đều khẳng định TTTT là một trong những
phương tiện biểu thị TT mà chủ thể của đánh giá TT luôn thuộc về người nói Vai trò
của TTTT là chuyên dùng để biểu thị ý nghĩa TT (thái độ, cảm xúc ) xét trong quan
hệ giữa chủ thể phát ngôn với người nghe, với nội dung phản ánh cũng như có chức
năng cấu tạo các dạng HĐ nói: nghi vấn, cầu khiến, cảm thán
TTTT có thể đứng đầu, có thể đứng ở cuối phát ngôn Trọng tâm nghiên cứu
của luận án này là những TTTT khi chúng xuất hiện ở cuối phát ngôn
2.1.1.2 Chức năng liên nhân của TTTT
TTTT đảm nhận vai trò biểu đạt nghĩa TT Thành phần nghĩa này chủ yếu thực
hiện chức năng liên nhân Chức năng liên nhân là chức năng xác lập mối quan hệ
giữa các vai giao tiếp trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể: thân thiện hay xa lạ, thân, sơ
hay ghét bỏ,… Khi thực hiện chức năng liên nhân, các TTTT đồng thời thể hiện
nhiều vai trò cụ thể khác nhau
2.1.2 Nhận diện tiểu từ tình thái về phương diện từ loại
Trong quan niệm của các tác giả đi trước, vấn đề mối quan hệ, vị trí của TTTT
trong hệ thống từ loại tiếng Việt có nhiều điểm còn chưa thống nhất; xem chúng là
một từ loại riêng hoặc tập hợp cùng trợ từ vào cùng một nhóm Luận án này xem
TTTT là một tiểu loại thuộc nhóm hư từ Bởi, về ý nghĩa, các TTTT có đặc điểm
không mang ý nghĩa từ vựng chân thực mà mang ý nghĩa tình thái; về chức năng, các
TTTT không làm thành phần chính và thành phần phụ của câu mà chỉ xuất hiện trong
câu để tạo câu theo mục đích nói: câu cầu khiến, câu nghi vấn
2.1.3 Tiêu chí cụ thể nhận diện TTTT và danh sách TTTT cuối phát ngôn
2.1.3.1 Tiêu chí nhận diện và danh sách các TTTT của các tác giả đi trước
Về tiêu chí phân chia cụ thể và số lượng TTTT, ý kiến của các nhà nghiên cứu
Việt ngữ học chưa thật thống nhất Danh sách TTTT của Nguyễn Văn Hiệp gồm 27
từ Chúng tôi xem đây là những TTTT toàn dân và sẽ chọn (có bổ sung) làm cơ sở để
so sánh với TTTT trong PNNB (trừ từ phỏng hiện ít sử dụng)
2.1.3.2 Tiêu chí nhận diện của luận án và danh sách TTTT cuối phát ngôn
trong giao tiếp của người Nam Bộ
Trang 12Sử dụng các tiêu chí trên, luân án bổ sung, cụ thể hóa, nhấn mạnh thêm các tiêu chí để nhận diện TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người NB là: (1) TTTT là yếu tố đi kèm với phát ngôn miêu tả, đứng cuối phát ngôn Phát ngôn này giống như một hằng số, chưa thể hiện các tình thái khác nhau; (2) Yếu tố được xem
là TTTT phải thể hiện một thái độ nhất định của người nói đối với người nghe; (3) Yếu tố được xem là TTTT phải gắn với phát ngôn cụ thể xuất hiện trong một ngữ cảnh, ngữ huống giao tiếp cụ thể; (4) TTTT xuất hiện cuối phát ngôn có tác dụng biến phát ngôn từ lõi mệnh đề có khả năng phản ánh và tác động, bộc lộ hướng thoại:
nghi vấn, cầu khiến, trần thuật, bác bỏ, từ chối, Ví dụ: Bạn làm à Bạn làm ư Bạn
b1 Tiểu từ tình thái toàn dân
Vận dụng các tiêu chí nhận diện TTTT nêu trên, đối chiếu với từ trong Từ điển
tiếng Việt và danh sách các TT trong các công trình của các tác giả, luận án chọn
danh sách TTTT toàn dân gồm 29 đơn vị do Hoàng Thúy Hà (2008) tổng hợp để
khảo sát thực tế sử dụng ở NB là a, à, ạ, ấy, chắc, chăng, cho, chứ, cơ, đã, đây, đấy,
đi, hả, hẳn, hử, hỉ, kia, mà, nào, này, nhé, nhỉ, thôi, thế, ư, vậy, với, chứ lại/lị
b2 Tiểu từ tình thái dùng trong phương ngữ Nam Bộ
Khảo sát các TTTT trong phát ngôn của người NB, chúng tôi gặp các đơn vị
TT được dùng là từ và dạng thức của từ Các TT là hình thức biến âm, có nghĩa tương đồng thì xem là dạng thức của từ; nếu chúng khác nghĩa thì xem là hai từ
Qua khảo sát, thống kê, chúng tôi gặp 87 TTTT cuối phát ngôn trong giao tiếp của người NB, bao gồm 32 TTTT toàn dân và 55 TTTT PNNB, trong đó có hai
Trang 13dạng: TTTT đơn và TTTT kết hợp TTTT đơn: là hiện tượng TTTT xuất hiện trong phát ngôn dạng cấu tạo đơn tiết Ví dụ: há, hà, nhen, nghen, hôn, hông…; TTTT kết
hợp (tổ hợp, phối kết): là hiện tượng cuối phát ngôn các yếu tố kết hợp với nhau tạo
thành các tổ hợp TTTT gồm hai hoặc hơn hai thành tố Ví dụ: mèn ơi, chớ bộ, thấy
mồ,…Kết quả cụ thể như sau:
- Có 40 TTTT đơn xuất hiện trong giao tiếp của người NB, trong đó có: 19
TTTT toàn dân được người NB dùng là à, ạ, cơ, chắc, chớ, chứ, đã, đây, đấy, đi, mà,
nào, nhé, nhỉ, hả /há/ha, thôi, vậy, với, ư và 21 TTTT đơn tiêu biểu cho PNNB là: cà,
chi, chớ, coi, đa, hà, há, he, hè, hen, hén, hôn, hông, mợi, nè, nhen, nghe, nghen, lận, ơi, ta Trong 40 TTTT đơn nêu trên, có hai dạng biến thể: a) các biến thể
phương ngữ, tạo thành cặp là: hen/hén; hôn/hông; nghen/nghe, nhen; he/hè và b) biến thể đều là yếu tố toàn dân: chớ/chứ; hả /há, ha
- Có 47 TTTT tổ hợp được dùng cuối phát ngôn, trong đó có: 13 TTTT tổ hợp
toàn dân là: chắc à, cho mà, cơ mà, cơ đấy, đi mà, nào hả, thôi à, vậy đi, vậy hả, vậy
mà, vậy thôi, với nhé; 34 TTTT tổ hợp PNNB là: à nha, chi dzậy, chớ/chứ gì, chớ
sao, đó hả, đó mà, đó nha, à nhen, hông đây, hông hả, hông hà, hông nè, hông ta, nữa chớ, nữa đó, nữa hả, nữa hen, rồi đa, rồi nghen, rồi hen, rồi hà, lận nè, rồi
há, sao nè, sao há, thôi nghen, thôi nghe, dzậy đó, nè mợi, lận mợi, dzậy nghen, mèn ơi, chớ bộ, thấy mồ
Như vậy, TTTT được người NB dùng cuối phát ngôn có số lượng rất phong
phú (87 đơn vị) với hai loại cấu tạo, cấu tạo đơn (40 từ, 45,98%) và cấu tạo tổ hợp (47 đơn vị, 54,02%), gồm cả TTTT toàn dân và TTTT phương ngữ, trong đó TTTT phương ngữ có số lượng và tỉ lệ gần gấp đôi TTTT toàn dân (55 đơn vị chiếm
63,21% so với 32 đơn vị, chiếm 36,78%)
2.2 Ngữ nghĩa của tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nam Bộ
2.2.1 Các TTTT đơn được dùng trong giao tiếp của người Nam Bộ
Trong 8531 cuộc thoại của người NB đã điều tra được, đối chiếu TTTT cuối
phát ngôn trong giao tiếp của người NB với các TTTT cuối phát ngôn trong tiếng Việt toàn dân, chúng tôi phân ra tiểu nhóm: 1) TTTT trùng với từ trong tiếng Việt toàn dân; 2) TTTT toàn dân được dùng trong phương ngữ có sự khác biệt ít nhiều về nghĩa; 3) TTTT là biến thể về âm và nghĩa - những TTTT tiêu biểu cho PNNB
2.2.1.1 Các tiểu từ tình thái đơn toàn dân dùng ở Nam Bộ
a) Nhóm các tiểu từ tình thái đơn trùng với tiếng Việt toàn dân
Khảo sát phát ngôn của người NB, chúng tôi thấy xuất hiện 19 TTTT có âm và
nghĩa như trong tiếng Việt toàn dân là: à, ạ, chắc, cho, chứ, cơ, đã, đây, đấy, đi, mà,
nào, nhé, nhỉ, hả, thôi, vậy, với, ư
b) Nhóm các TTTT đơn toàn dân dùng trong giao tiếp của người Nam Bộ có
sự khác biệt ít nhiều về nghĩa và cách dùng